Danh sách các bài dịch song ngữ Bằng cách nào mà con người suy nghĩ khác biệt Các quan điểm về ngôn ngữ Cuộc đời và sự nghiệp của Marie Curie Khả năng nhận thức ở trẻ nhỏ Lịch sử loài rù
Trang 1Tuyển tập các bài đọc song ngữ
Trang 2Danh sách các bài dịch song ngữ
Bằng cách nào mà con người suy nghĩ khác biệt
Các quan điểm về ngôn ngữ
Cuộc đời và sự nghiệp của Marie Curie
Khả năng nhận thức ở trẻ nhỏ
Lịch sử loài rùa
Lý thuyết thông tin - Ý tưởng lớn
Người phát minh ra thuốc nhuộm tổng hợp
Nổ lực tìm kiếm nền văn minh ngoài trái đất
Sự phát triển của viện bảo tàng
Trẻ em với các vấn đề về thính giác
Sự đi qua của Sao Kim
Trang 3
Link to test online this book:
http://ieltsonlinetests.com/9/catalogue/cambridge-ielts-9-with-answers
Trang 4
Cách sử dụng tài liệu này
1 Tích cực tra cứu và ghi chép từ mới
Các từ vựng được xuất hiện thường xuyên và có ý nghĩa nhất định với từng chủ đề trong cuốn sách này đều rất có khả năng nằm trong đề thi thật trong khoảng thời gian sắp tới vì chúng thuộc top chủ đề phổ biến theo xu hướng Do vậy các bạn nên chịu khó tra từ cách dùng của chúng, thống kê các từ này vào một quyển sổ nhỏ, thỉnh thoảng giở ra ôn tập, đọc đi đọc lại hằng ngày thì càng tốt
Mỗi một passage Reading nên ghi chú được ít nhất từ 7 đến 10 từ, nằm lòng chúng rồi tầm khoảng 1, 2 tuần sau dở sách ra đọc lại, mục đích để xem mình có nhớ từ không, có hiểu bài đọc hơn và nắm thông tin nhiều hơn không, check luôn tốc độ đọc hiểu so với trước thì ra sao,… Cách học này tương đối mất thời gian nhưng lại khá hiệu quả Các bạn có thể thử xem
2 Làm lại ít nhất 2 lần
Hãy làm lại bài đọc bạn đã làm sau khoảng 2 tháng để đảm bảo nội dung sơ lược và các từ vựng cần nhớ cho chủ đề đó có thật sự nằm trong đầu của bạn chưa Nếu bạn bị miss chỗ nào hay làm sai thì hãy coi đó là một lần ôn tập lại bài học nhé Cách học này để định ra sự chắc chắn về độ thẩm thấu kiến thức của bạn
3 Tạo môi trường học tập
Chọn thời điểm bạn thoải mái nhất để học kĩ năng IELTS Reading nha Đặc biệt chú ý là phải trong bầu không khí tĩnh lặng, không ồn ào để hiệu suất làm việc của bạn cao nhất mà đồngthời lại không gây ra sự nhàm chán vì đây là kĩ năng rất “dễ mộng du”
Trang 5
Bằng cách nào mà con người suy nghĩ khác biệt
Trong thập kỷ qua các nhà khoa học đã tạo nên một cuộc cách mạng khi nghiên cứu về
bộ não con người
In the last decade a revolution has occurred In the way that scientists think about the brain
Ngày nay chúng ta biết rằng các quyết định mà con người đưa ra có thể được truy đến tận gốc mẫu tế bào thần kinh mà kích hoạt chúng trong những phần cụ thể của não
We now know that the decisions humans make can be traced to the firing patterns of neurons in specific parts of the brain
Những khám phá này đã dẫn đến một lĩnh vực được gọi là “kinh tế thần kinh học”, trong đó nghiên cứu bí mật của bộ não để thành công trong một môi trường kinh tế luôn đòi hỏi sự sáng tạo và khả năng làm những điều khác biệt với đối thủ cạnh tranh
These discoveries have led to the field known as neuroeconomics, which studies the brain's secrets to success in an economic environment that demands innovation and being able to do things differently from competitors
Một bộ não có thể làm điều này (tức có khả năng nghĩ sáng tạo) được gọi là bộ não có “tính bài trừ thần tượng”
A brain that can do this is an iconoclastic one
Tóm lại, một người bài trừ thần tượng (iconoclast) là một người làm một cái gì đó mà những người khác nói không thể thực hiện được
Briefly, an iconoclast is a person who does something that others say can't be done
Trang 6Định nghĩa này ngụ ý rằng những người iconoclast khác với người khác nhưng chính xác hơn
là do bộ não của họ khác người thường ở ba đặc điểm là: nhận thức, phản ứng sợ hãi, và trí thông minh xã hội
This definition implies that iconoclasts are different from other people, but more precisely, it is their brains that are different in three distinct ways: perception, fear response, and social
intelligence
Mỗi một trong ba chức năng sử dụng một mạch khác nhau trong não
Each of these three functions utilizes a different circuit in the brain
Người phản đối có thể cho rằng não không có liên quan, mà suy nghĩ về bản chất là một trường hợp của tính cách hơn chức năng của não
Naysayers might suggest that the brain is irrelevant, that thinking in an original, even
revolutionary, way is more a matter of personality than brain function
Nhưng lĩnh vực kinh tế thần kinh học được sinh ra để giúp chúng ta nhận thức rằng các hoạt động thể chất của não sẽ hạn chế cách chúng ta đưa ra quyết định
But the field of neuroeconomics was born out of the realization that the physical workings of the brain place limitations on the way we make decisions
Bằng cách hiểu những khó khăn này, chúng ta sẽ hiểu lý do tại sao một số người lại suy nghĩ
và có lối sống khác với người khác
By understanding these constraints, we begin to understand why some people march to a different drumbeat
Nguyên nhân đầu tiên là do não có năng lượng rất hạn chế
The first thing to realize is that the brain suffers from limited resources
Trang 7Não có một lượng năng lượng cố định tương đương một bóng đèn 40 watt, vì vậy não được tiến hoá để làm việc một cách hiệu quả nhất có thể
It has a fixed energy budget, about the same as a 40 watt light bulb, so it has evolved to work
as efficiently as possible
Đây là lý do vì sao đa số chúng ta bị cản trở sáng tạo (do phải dùng quá nhiều năng lượng khi sáng tạo)
This is where most people are impeded from being an iconoclast
Ví dụ, khi đối đầu với các thông tin truyền từ mắt, não sẽ giải thích thông tin này một cách nhanh nhất có thể
For example, when confronted with information streaming from the eyes, the brain will interpret this information in the quickest way possible
Vì vậy, nó sẽ dựa trên cả kinh nghiệm quá khứ và bất kỳ nguồn thông tin khác, chẳng hạn như những gì người khác nói, để xem xét chuyện gì đang xảy ra mà mắt nhìn thấy
Thus it will draw on both past experience and any other source of information, such as what other people say, to make sense of what it is seeing
Điều này lúc nào cũng xảy ra như vậy
This happens all the time
Não có các phím tắt có khả năng làm việc rất tốt mà hầu như chúng tôi không biết về điều này The brain takes shortcuts that work so well we are hardly ever aware of them
Chúng ta nghĩ rằng nhận thức của chúng ta về thế giới là có thật, nhưng chúng chỉ là âm thanh sinh học và điện tử
Trang 8We think our perceptions of the world are real, but they are only biological and electrical
More than the physical reality of photons or sound waves, perception is a product of the brain
Nhận thức là trung tâm của sáng tạo
Perception is central to iconoclasm
“Những người có tư duy sáng tạo" thường thấy những điều khác biệt so với những người khác Iconoclasts see things differently to other people
Bộ não của họ không rơi vào “cạm bẫy hiệu quả” giống như não người trung bình
Their brains do not fall into efficiency pitfalls as much as the average person's brain
“Những người có tư duy sáng tạo" có thể do bẩm sinh hay qua quá trình tự học mà họ luôn tìm cách để làm việc sao cho hiệu quả để không làm phiền mọi người
Iconoclasts, either because they were born that way or through learning, have found ways to work around the perceptual shortcuts that plague most people
Về bản chất, nhận thức không phải là cái gì đó liên quan đến não
Trang 9Perception is not something that is hardwired into the brain
Nó là một quá trình ham học hỏi không ngừng để thay đổi
It is a learned process, which is both a curse and an opportunity for change
Não phải đối mặt với các vấn đề cơ bản là làm thế nào diễn giải các kích thích vật lý do các giác quan mang lại
The brain faces the fundamental problem of interpreting physical stimuli from the senses
Tất cả mọi thứ não nhìn thấy, nghe thấy, hay chạm được có nhiều cách diễn giải khác nhau Everything the brain sees, hears, or touches has multiple interpretations
Và cuối cùng phần diễn giải mà não chọn đơn giản là phần tốt nhất mà nó biết
The one that is ultimately chosen is simply the brain's best theory
Về mặt kỹ thuật, những giả định trên là có cơ sở khi dựa vào thống kê các nhà khoa học cho rằng khả năng một diễn giải được chọn phần lớn là do ảnh hưởng nặng nề bởi kinh nghiệm quá khứ của não, và điều này rất quan trọng được xem là tiềm năng của những người có tố chất sáng tạo như cách nhiều người thường nói
In technical terms, these conjectures have their basis in the statistical likelihood of one
interpretation over another and are heavily influenced by past experience and, importantly for potential iconoclasts, what other people say
Cách tốt nhất để nghĩ khác với mọi người là bắt não phải xử lý những điều chưa bao giờ gặp phải trước đây
The best way to see things differently to other people is to bombard the brain with things it has never encountered before
Trang 10Những thứ mới mẻ trên sẽ kích thích quá trình nhận thức từ các chuỗi kinh nghiệm quá khứ ở não và buộc não phải xử lý theo cách thức mới
Novelty releases the perceptual process from the chains of past experience and forces the brain
to make new judgments
“Những người có tư duy sáng tạo" thành công đều sẵn sàng tiếp xúc với những thứ mới mẻ và khác nhau
Successful iconoclasts have an extraordinary willingness to be exposed to what is fresh and different
Quan sát những người này cho thấy họ hưởng ứng cái mới lạ trong khi hầu hết mọi người tránh chúng
Observation of iconoclasts shows that they embrace novelty while most people avoid things that are different
Tuy nhiên vấn đề là những thứ mới lạ thường có xu hướng kích hoạt hệ thống sợ hãi của não The problem with novelty, however, is that it tends to trigger the brain's fear system
Sợ hãi là một trở ngại lớn để chúng suy nghĩ sáng tạo và ngăn cản những người bình thường làm điều này
Fear is a major impediment to thinking like an iconoclast and stops the average person in his tracks
Có rất nhiều loại sợ hãi, nhưng hai loại sợ hãi mà hay cản trở tư duy sáng tạo và làm chúng ta cảm thấy khó khăn khi đối phó là nỗi sợ hãi sự không chắc chắn và nỗi sợ bị cộng đồng chế giễu
Trang 11There are many types of fear, but the two that inhibit iconoclastic thinking and people generally find difficult to deal with are fear of uncertainty and fear of public ridicule
Điều này dường như là những ám ảnh rất bình thường
These may seem like trivial phobias
Nhưng nỗi sợ nói trước công chúng mà hầu hết chúng ta thỉnh thoảng phải làm thì chiếm tới một phần ba dân số
But fear of public speaking, which everyone must do from time to time, afflicts one-third of the population
Điều này làm cho nó quá phổ biến nên nó được coi là một rối loạn tâm thần
This makes it too common to be considered a mental disorder
Nó chỉ đơn giản là một biến thể thông thường của bản chất con người mà một người có tư duy sáng tạo có thể kiểm soát được
It is simply a common variant of human nature, one which iconoclasts do not let inhibit their reactions
Cuối cùng, để có suy nghĩ sáng tạo thành công thì mỗi cá nhân cần phải bán ý tưởng của mình cho người khác (tức phải chia sẻ ý tưởng)
Finally, to be successful iconoclasts, individuals must sell their ideas to other people
Đây chính là nguồn gốc của trí thông minh xã hội
This is where social intelligence comes in
Trang 12Thông minh xã hội là khả năng hiểu và quản lý con người trong môi trường doanh nghiệp Social intelligence is the ability to understand and manage people in a business setting
rong thập kỷ qua đã có sự bùng nổ về nhận thức của chúng ta về “trí thông minh xã hội” và làm thế nào não có thể hoạt động khi làm việc nhóm để đưa ra quyết định
In the last decade there has been an explosion of knowledge about the social brain and how the brain works when groups coordinate decision making
Khoa học thần kinh đã tiết lộ rằng các mạch trong não chịu trách nhiệm cho các chức năng như hiểu người khác nghĩ gì, sự đồng cảm, sự công bằng, và bản sắc xã hội
Neuroscience has revealed which brain circuits are responsible for functions like understanding what other people think, empathy, fairness, and social identity
Những vùng não này đóng vai trò quan trọng trong việc thuyết phục người khác
These brain regions play key roles in whether people convince others of their ideas
Nhận thức cũng rất quan trọng trong hiểu biết xã hội
Perception is important in social cognition too
Nhận thức ai đó nhiệt tình hay là người có danh vọng có giúp chúng ta thoả hiệp tốt hơn
The perception of someone's enthusiasm,or reputation, can make or break a deal
Việc hiểu nhận thức trở có mối quan hệ chặt chẽ với việc ra quyết định trong xã hội như thế nào cho thấy lý do tại sao những người có tư duy sáng tạo thành công rất hiếm
Understanding how perception becomes intertwined with social decision making shows why successful iconoclasts are so rare
Trang 13Họ có thể tạo ra những cơ hội mới trong mọi lĩnh vực từ nghệ thuật, công nghệ cho đến kinh doanh
Iconoclasts create new opportunities in every area from artistic expression to technology to business
Họ luôn mang lại sự sáng tạo và đổi mới không ngừng mà chúng ta không dễ dàng thực hiện được
They supply creativity and innovation not easily accomplished by committees
Quy định không quan trọng đối với họ
Rules aren't important to them
Họ luôn phải đối mặt với sự xa lánh và thất bại, nhưng họ cũng có thể là một tài sản lớn cho bất
kỳ tổ chức nào
Iconoclasts face alienation and failure, but can also be a major asset to any organization
Do đó muốn thành công trong bất kỳ lĩnh vực nào thì việc tìm hiểu những người có tư duy sáng tạo này làm việc ra sao là rất quan trọng
It is crucial for success in any field to understand how the iconoclastic mind works
Link:
http://cep.com.vn/mot-nha-than-kinh-hoctiet-lo-bang-cach-nao-ma-con-nguoi-suy-nghia-khac-biet-4163.html
Practice more at: http://mini-ielts.com/283/reading/a-neuroscientist-reveals-how-to-think-differently
Trang 14
Các quan điểm về ngôn ngữ
It is not easy to be systematic and objective about language study
Không dễ dàng gì để có tính hệ thống và khách quan khi nghiên cứu về ngôn ngữ
Popular linguistic debate regularly deteriorates into invective and polemic
Các cuộc tranh luận về ngôn ngữ thường xuyên trở nên xấu đi và biến thành các cuộc tranh cãi
Language belongs to everyone, so most people feel they have a right to hold an opinion about it
Ngôn ngữ thuộc về tất cả mọi người, vì vậy hầu hết mọi người cảm thấy họ có quyền
có ý kiến về nó
And when opinions differ, emotions can run high
Và khi quan điểm khác nhau, cảm xúc có thể trở nên cao trào
Arguments can start as easily over minor points of usage as over major policies of linguistic education
Các cuộc tranh luận có thể bắt đầu một cách dễ dàng từ các điểm nhỏ của cách sử dụng đến là các chính sách của giáo dục liên quan đến ngôn ngữ
Language, moreover, is a very public behaviour, so it is easy for different usages to be noted and criticised
Hơn nữa, ngôn ngữ là một hành vi rất công khai, vì vậy các cách sử dụng khác nhau rất dễ dàng bị ghi nhận và chỉ trích
No part of society or social behaviour is exempt: linguistic factors influence how we judge personality, intelligence, social status, educational standards, job aptitude, and many other areas of identity and social survival
Không có nhóm nào của xã hội hoặc hành vi xã hội nào được miễn trừ: các yếu tố ngôn ngữ ảnh hưởng đến cách chúng ta đánh giá tính cách, trí tuệ, địa vị xã hội, tiêu chuẩn
Trang 15giáo dục, năng lực làm việc và nhiều lĩnh vực khác về nhận dạng và sự tồn tại của xã hội
As a result, it is easy to hurt, and to be hurt, when language use is unfeelingly attacked
Do đó, thật dễ gây tổn thương ai đó và bị tổn thương, khi việc sử dụng ngôn ngữ bị công kích mà thiếu đi sự cảm thông
In its most general sense, prescriptivism is the view that one variety of language has an inherently higher value than others, and that this ought to be imposed on the whole of the speech community
Theo nghĩa chung nhất, thuyết quy nạp là quan điểm cho rằng một loại ngôn ngữ vốn
đã có giá trị cao hơn những ngôn ngữ khác, và điều này nên được áp đặt trên toàn bộ cộng đồng sử dụng ngôn ngữ
The view is propounded especially in relation to grammar and vocabulary, and
frequently with reference to pronunciation
Quan điểm được đề xuất đặc biệt liên quan đến ngữ pháp và từ vựng, và thường xuyên
có liên quan đến cách phát âm
The variety which is favoured, in this account, is usually a version of the 'standard' written language, especially as encountered in literature, or in the formal spoken
language which most closely reflects this style
Đây thường là phiên bản của ngôn ngữ viết 'chuẩn mực', đặc biệt thường bắt gặp trong văn học, hoặc trong ngôn ngữ nói trang trọng phản ánh rõ nhất phong cách này
Trang 16Adherents to this variety are said to speak or write 'correctly'; deviations from it are said
to be 'incorrect! All the main languages have been studied prescriptively, especially in the 18th century approach to the writing of grammars and dictionaries
Người theo chủ nghĩa này thường bị cho là nói hoặc viết 'một cách chính xác'; những gì sai lệch khỏi những chuẩn mực đó bị cho là 'sai! Tất cả các ngôn ngữ chính đã được nghiên cứu theo phong tục tập quán, đặc biệt trong cách tiếp cận ở thế kỷ 18 đối với việc viết văn phạm và từ điển
The aims of these early grammarians were threefold: (a) they wanted to codify the principles of their languages, to show that there was a system beneath the apparent chaos of usage, (b) they wanted a means of settling disputes over usage, and (c) they wanted to point out what they felt to be common errors, in order to 'improve' the
language
Mục tiêu của những nhà ngữ pháp ban đầu bao gồm (a) họ muốn mã hóa các nguyên tắc ngôn ngữ của họ, cho thấy có một hệ thống bên dưới sự hỗn loạn hiển nhiên của việc sử dụng, (b) họ muốn một phương tiện giải quyết các tranh chấp về sử dụng, và (C) họ muốn chỉ ra những gì họ cảm thấy là lỗi phổ biến, để "cải thiện" ngôn ngữ
The authoritarian nature of the approach is best characterised by its reliance on ‘rules'
Trang 17In this early period, there were no half-measures: usage was either right or wrong, and it was the task of the grammarian not simply to record alternatives, but to pronounce judgement upon them
Trong giai đoạn đầu, không có biện pháp thỏa hiệp nào: cách sử dụng là đúng hay sai,
và nó là nhiệm vụ của nhà ngữ pháp không chỉ đơn giản là để ghi lại các lựa chọn thay thế, mà còn để thông báo sự phán đoán dựa trên đó
These attitudes are still with US, and they motivate a widespread concern that linguistic standards should be maintained
Những thái độ này vẫn còn ở Hoa Kỳ, và họ khuyến khích mối quan tâm rộng rãi rằng các tiêu chuẩn ngôn ngữ cần phải được duy trì
Nevertheless, there is an alternative point of view that is concerned less with standards than with the facts of linguistic usage
Tuy nhiên, có một quan điểm thay thế khác ít quan tâm đến các tiêu chuẩn hơn so với thực tế sử dụng ngôn ngữ
This approach is summarised in the statement that it is the task of the grammarian to describe, not prescribe to record the facts of linguistic diversity, and not to attempt the impossible tasks of evaluating language variation or halting language change
Cách tiếp cận này được tóm tắt trong tuyên bố rằng nó là nhiệm vụ của nhà ngữ pháp
là mô tả, chứ không phải ghi rõ các sự kiện về sự đa dạng ngôn ngữ, và không phải là
cố gắng thực hiện các nhiệm vụ bất khả thi trong việc đánh giá sự biến đổi ngôn ngữ hoặc ngăn chặn sự thay đổi ngôn ngữ
In the second half of the 18th century, we already find advocates of this view, such as Joseph Priestiey, whose Rudiments of English Grammar (1761) insists that 'the custom
Trang 18of speaking is the original and only just standard of any language! Linguistic issues, it is argued, cannot be solved by logic and legislation
Trong nửa cuối của thế kỷ 18, chúng ta đã tìm thấy những người ủng hộ quan điểm này, như Joseph Priestiey, Nguyên lý cơ bản Ngữ pháp tiếng Anh (1761) của ông nhấn mạnh rằng "thói quen nói là nguyên bản và là chuẩn mực của bất kỳ ngôn ngữ nào! Các vấn đề ngôn ngữ học, được lập luận rằng, nó không thể giải quyết chỉ theo logic và luật pháp
And this view has become the tenet of the modern linguistic approach to grammatical analysis
Và quan điểm này đã trở thành nguyên lý của cách tiếp cận ngôn ngữ hiện đại đối với phân tích ngữ pháp
In our own time, the opposition between 'descriptivists' and 'prescriptivists' has often become extreme, with both sides painting unreal pictures of the other
Trong thời đại của chúng ta, sự đối lập giữa "những người theo chủ nghĩa mô tả" và
"những người theo chủ nghĩa đề cao sự nguyên tắc" thường trở nên cực đoan, cả hai bên phản ánh hình ảnh không chân thực của đối phương
Descriptive grammarians have been presented as people who do not care about
standards, because of the way they see all forms of usage as equally valid
Các nhà ngữ pháp mô tả đã được trình bày như những người không quan tâm đến các tiêu chuẩn, bởi vì cách mà họ nhìn nhận tất cả các hình thức sử dụng đều có giá trị như nhau
Prescriptive grammarians have been presented as blind adherents to a historical
tradition
Trang 19Những nhà ngữ pháp có quy tắc đã được trình bày như những người tuân theo truyền thống lịch sử một cách mù quáng
The opposition has even been presented in quasi-political terms - of radical liberalism
vs elitist conservatism
Sự đối lập thậm chí còn được trình bày trong các thuật ngữ gần như mang tính chính trị
- về chủ nghĩa tự do căn bản và chủ nghĩa bảo thủ tinh nhuệ
Dịch bởi Trang Ivy
Source: http://mini-ielts.com/288/reading/attitudes-to-language
Trang 20
Cuộc đời và sự nghiệp của Marie Curie
Marie Curie is probably the most famous woman scientist who has ever lived
Marie Curie có lẽ là nữ khoa học nổi tiếng nhất đã từng sống
Born Marie Sklodowska in Poland in 1867, she is famous for her work radioactivity, and twice a winner of the Nobel Prize
Marie Sklodowska sinh ra tại Ba Lan năm 1867, cô ấy nổi tiếng trên lĩnh vực phóng xạ, và hai lần là người chiến thắng trong giải Nobel
With her husband, Pierre Curie, and Henri Becquerel, she was awarded the 1903 Nobel Prize for Physics, and was the sole winner of the 1911 Nobel Prize for Chemistry
Cùng với chồng cô ấy, Pierre Curie, và Henri Becquerel, cô ấy được trao giải Nobel về Vật lý năm 1903, và sau đó là người duy nhất chiến thắng trong giải Nobel Hóa học năm 1911
She was the first woman to win a Nobel Prize
Cô ấy là người phụ nữ đầu tiên giành giải Nobel
From childhood, Marie was remarkable for prodigious memory, at the age of 16 won a gold medal on completion of her secondary education
Từ thuở niên thiếu, Marie đã đáng chú ý bởi trí nhớ siêu phàm, ở tuổi 16 cô đạt huy chương vàng sau khi hoàn thành bậc trung học cơ sở
Because her father lost in saving through bad investment, then she had to work as a teacher Bởi vì cha cô ấy đã mất tiền tiết kiệm trong một vụ đầu tư thua lỗ, sau đó cô đã phải đi dạy
From her earnings she was able to finance her sister Bronia’s medical studies in Paris, on the understanding that Bonia would, in turn, later help her to get an education
Từ thu nhập của mình, cô đã có khả năng tài trợ cho các nghiên cứu y khoa chị Bronia của cô ở Paris, với thỏa thuận rằng sau này tới lượt Bronia sẽ giúp cô đi học đại học
In 1891 this promise was fulfilled and Maria went to Paris and began to study at the Sorbonne (the University of Paris)
Năm 1891 lời hứa này được thực hiện, và Marie đến Paris và bắt đầu việc học tại Sorbonne (Một đại học của Paris)
Trang 21She often worked far into the night and lived on little more than bread and butter and tea
Cô ấy thường xuyên làm việc xa vào ban đầu và sống chỉ với một chút bánh mì, bơ, và trà
She came first in the examination in the physical sciences in 1893, and in 1894 was placed second in the examination in the mathematical sciences
Cô ấy đứng đầu trong kì thi vào khoa vật lí năm 1893, và xếp ở vị trí thứ 2 trong kì thi vào khoa toán
It was not until the spring of that year that she was introduced to Pierre Curie
Điều đó đã không còn cho đến khi cô được giới thiệu cho Pierre Curie vào mùa xuân năm đó
Their marriage in 1895 marked the start of a partnership that was soon to achieve results of world significance
Lễ thành hôn của họ năm 1895 đã đánh dấu việc bắt đầu hợp tác mà nhanh chóng dẫn đến kết quả có ý nghĩa với thế giới
Following Henri Becquerel’s discovery in 1895 of a new phenomenon, which Marie later called
‘radioactivity’, Marie Currie decided to find out if the radioactivity discovered in uranium was to
be found in other elements
Sau phát hiện của Henri Becquerel’t năm 1895 của một hiện tượng mới, mà sau đó Marie gọi là
‘phóng xạ’, Marie Currie đã quyết định tìm xem hiện tượng phóng xạ được khám phá trong uranium có tìm được các nguyên tố khác không
She discovered that this was true for thorium
Cô ấy đã khám phá ra đó chính là thorium
Turning her attention to minerals, she found her interest drawn to pitchblende, a mineral whose radioactivity, superior to that of pure uranium, can be explained only by presence in the ore of small quantities of unknown subtance of very high activity
Sự chuyển hướng chú ý của cô ấy tới các loại khoáng, cô đã tìm thấy sự quyến rũ thú vị từ các khoáng chất uranit, loại khoáng phóng xạ, vượt trội hơn uranium nguyên chất, có thể được giải thích chỉ bởi sự có mặt trong quặng với một lượng nhỏ chất chưa được biết và khả năng hoạt động rất mạnh
Pierre Curie joined her in the work that she had undertaken to resolve this problem, and that led
to the discovery of the new elements, polonium and radium
Pierre Curie đã tham gia cùng cô trong công việc cô đảm nhận để giải quyết lại vấn đề này, và điều đó dẫn đến sự khám phá ra nguyên tố mới, polonium và radium
Trang 22While Pierre Curie devoted himself chiefly to the physical study of the new radiations, Marie Curie struggled to obtain pure radium in the metallic state
Trong khi Pierre Curie đã cống hiến phần lớn bản thân cho việc nghiên cứu vật lý về bức xạ mới, thì Marie Curie đã đấu tranh để giành được radium nguyên chất trong trọng thái kim loại
This was achieved with the help of the chemist André-Louis Debierne, one of Pierre Curie’s pupils
Điều này đã đạt được với sự giúp đỡ của nhà hóa học André-Louis Debierne, một trong những học sinh của Pierre Curie
Based on the results of this research, Marie Curie received her Doctorate of Science, and in
1903 Marie and Pierre shared with Becquerel the Nobel Prize for Physics for the discovery of radioactivity
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu này, Marie Curie đã nhận được bằng tiến sĩ khoa học, và năm
1903 Marie và Pierre đã chia sẻ giải thưởng Nobel vật lý với Becquerel cho khám phá ra tính phóng xạ
The births of Marie’s two daughters, Irène and Eve, in 1894 and 1904 failed to interrupt her scientific work
Sự ra đời của hai người con gái là Irène và Eve, năm 1894 và 1904 đã không làm gián đoạn công việc nghiên cứu của cô
She was appointed lecturer in physics at the École Normale Supérieure for girls in the Sèvres, France (1900), and introduced a method of teaching based on experimental demonstrations
Cô đã được bổ nhiệm làm giảng viên vật lý tại trường nữ sinh École Normale Supérieure tại Sèvres, Pháp (năm 1900), và giới thiệu một phương pháp giảng dạy dựa trên các sự chứng minh thực nghiệm
In Demember 1904 she was appointed chief assitant in the laboratory directed by Pierre Curie Tháng 12 năm 1904 cô đã được bổ nhiệm làm trợ lý trưởng tại phòng thí nghiệm được điều khiển bởi Pierre Curie
The sudden death of her husband in 1906 was a bitter blow to Marie Curie, but was also a turning point in her career: henceforth she was to devote all her energy to completing alone the scientific work that they had undertaken
Trang 23Cái chết đột ngột của chồng cô năm 1906 là một một đòn cay đắng cho Marie Curie, nhưng cũng là một bước ngoặt trong sự nghiệp của cô: từ đó cô đã cống hiến tất cả năng lượng của mình để một mình hoàn thành công việc khoa học mà họ đã thực hiện
On May 13, 1906, she was appointed to the Professorship that had been left vacant on the husband’s death, becoming the first woman to teach at the Sorbonne
Ngày 13 tháng 5 năm 1906, cô ấy được đề cử giữ chức Giáo sư, chức vụ mà đã bị bỏ trống từ cái chết của chồng cô để trở thành người phụ nữ đầu tiên dạy tại Sornonne
In 1911 she was awarded the Nobel Prize for Chemistry for the isolation of a pure form of
radium
Năm 1911 cô đã giành giải Nobel về Hóa học cho việc cô lập dạng tinh khiết của radium
During World War I, Marie Curie, with the help of her daughter Irène, devoted herself to
development of the use of X-radiography, including the mobile units which came to be known as
‘Little Curie’, used fo the treatment of wounded soldiers
Trong chiến tranh thế giới thứ nhất, Marie Curie, với sự giúp đỡ cả con gái Irène, đã hiến dâng bản thân mình cho sự phát triển của việc sử dụng tia X- chụp X quang, bao gồm cả các đơn vị điện thoại di động mà đã được biết đến như "Little curie ', được sử dụng để điều trị lính bị thương
In 1918 the Radium Institute, whose staff Irene had joined, began to operate in earnest, and became center of physics and chemistry
Năm 1918, Viện Radium, mà nhân viên Irène đã tham gia, bắt đầu hoạt động một cách nghiêm túc, và trở thành một trung tâm vật lý hạt nhân và hóa học
Marie Curie, now at the highest point of her fame and, from 1922, a member of the Academy of Medicine, researched the chemistry of radioactive subtances and their medical applications Marie Curie, bây giờ tại điểm cao nhất của danh tiếng của mình, từ năm 1922, và là một thành viên của Viện Hàn lâm Y học, chuyên nghiên cứu hóa học các chất phóng xạ và các ứng dụng
y học của chúng
In 1921, accompanied by her two daughters, Marie Curie made a triumphant jouney to the United States to raise funds for research on radium
Năm 1921, cùng với hai cô con gái, Marie Curie làm nên một cuộc hành trình thắng lợi đến Hoa
Kỳ để gây quỹ cho nghiên cứu về radium
Women there presented her with a gram of radium for her campaign
Trang 24Những người phụ nữ ở đó đã tặng cô một gram radium cho chiến dịch của mình
Marie also gave lectures in Belgium, Brazil, Spain and Czechoslovakia and, in addition, had the satisfaction of seeing the development of the Curie Foundation in Paris, and the inauguration in
1932 in Warsaw of the Radium Institute, where her sister Bronia became director
Marie cũng đã thuyết trình tại Bỉ, Brazil, Tây Ban Nha và Tiệp Khắc, ngoài ra, và đã cô cũng hài lòng khi nhìn thấy sự phát triển của các tổ chức Curie Foundation tại Paris, và lễ nhậm chức vào năm 1932 tại Warsaw của Viện Radium, nơi chị gái cô Bronia trở thành giám đốc
One of Marie Curie’s outstanding achievements was to have understood the need to
accumulate intense radioactive sources, not only to treat illness but also to maintain an
abundant supply for research
Một trong những thành tựu đáng chú ý của Marie Curie là đã hiểu rõ sự cần thiết phải tích lũy các nguồn phóng xạ cường độ cao, không chỉ để điều trị bệnh mà còn để duy trì một nguồn cung cấp dồi dào cho nghiên cứu
The existence in Paris at the Radium Institute of a stock of 1,5 grams of radium made a decisive contribution to the success of the experiments undertaken in the years around 1930
Sự tồn tại ở Paris tại Viện Radium của một kho dự trữ là 1,5 gram radium đã góp phần quyết định cho sự thành công của các thí nghiệm được thực hiện trong các năm 1930
This work prepared the way for discovery of the neutron by Sir James Chadwick and, above all, for discovery in 1934 by Irene and Frederic Joliot – Curie of artificial radioactivity
Sự nghiệp này đã chuẩn bị con đường cho việc khám phá ra neutron của Sir James Chadwick
và, trên tất cả, cho những khám phá vào năm 1934 bởi Irène và Frédéric Joliot-Curie về phóng
xạ nhân tạo
A few months after this discovery, Marie Curie died as a result of leukaemia caused by
exposure to radiation
Một vài tháng sau khám phá này, Marie Curie đã qua đời bởi kết quả của bệnh bạch cầu gây ra
do phơi nhiễm với bức xạ
She had often carried test tubes containing radioactive isotopes in her pocket, remarking on the pretty blue-green light they gave off
Cô thường mang ống nghiệm chứa các đồng vị phóng xạ trong túi của mình, chú ý về ánh sáng màu xanh-màu xanh lá cây khá đẹp mà chúng tạo ra
Trang 25Her contribution to physics had been immense, not only in her own work, the importance of which had been demonstrated by her two Nobel Prizes, but because of her influence on
subsequent generations of nuclear physictists and chemists
Đóng góp của cô tới nền vật lí là rất to lớn, không chỉ trong công việc, tầm quan trọng của nó đã được chứng minh bởi hai giải Nobel của cô, nhưng bởi ảnh hưởng của cô trên các thế hệ tiếp theo của các nhà vật lý hạt nhân và hóa học
Trang 26Khả năng nhận thức ở trẻ nhỏ
Ở trẻ nhỏ, ý thức về bản thân được phát triển theo từng cấp độ khác nhau
A sense of self develops in young children by degrees
Quá trình trên có được hiểu dễ dàng hơn khi chúng xem xét bản thân với vai trò chủ thể
và với vai trò khách thể
The process can usefully be thought of in terms of the gradual emergence of two
somewhat separate features: the self as a subject, and the self as an object
Vào năm 1892, William James đã đưa ra khái niệm phân biệt này và những người đương thời của ông như Charles Cooley đã thêm vài ý kiến để tiếp tục tranh luận về vấn đề trên
William James introduced the distinction in 1892, and contemporaries of his, such as Charles Cooley, added to the developing debate
Kể từ đó các nhà tâm lý học đã tiếp tục xây dựng dựa trên lý thuyết này
Ever since then psychologists have continued building on the theory
Theo James, bước đầu tiên để một đứa trẻ có thể tự nhận biết là khả năng nhận thức sự tồn tại của mình
According to James, a child's first step on the road to self-understanding can be seen as the recognition that he or she exists
Đây là một khía cạnh của bản thân mà ông tự đặt tên là “bản thân với vai trò chủ thể” và ông đã nghiên cứu nó với nhiều yếu tố khác nhau
Trang 27This is an aspect of the self that he labelled 'self-as-subject', and he gave it various elements
Chúng bao gồm việc nhận thức về các các cơ quan của chính mình như năng lượng để hoạt động và nhận thức về tính khác biệt của mình với người khác
These included an awareness of one's own agency (for example: one's power to act), and an awareness of one's distinctiveness from other people
Những tính năng này dần dần sẽ giúp trẻ khám phá thế giới xung quang và tương tác với những người chăm sóc chúng
These features gradually emerge as infants explore their world and interact with caregivers
Năm 1902 Cooley cho rằng khả năng tự xem mình là chủ thể chủ yếu có liên quan chủ yếu đến khả năng thể hiện quyền lực
Cooley (1902) suggested that a sense of the self-as-subject was primarily concerned with being able to exercise power
Ông đề cho rằng các ví dụ sớm nhất của việc này là khi trẻ cố găng kiểm soát các vật thể vật lý như đồ chơi hay tay chân của chính mình
He proposed that the earliest examples of this are an infant's attempts to control physical
objects, such as toys or his or her own limbs
Tiếp theo đó là các nỗ lực để ảnh hưởng đến hành vi của người khác
This is followed by attempts to affect the behaviour of other people
Ví dụ, trẻ hiểu rằng để phản ứng lại ai đó thì chúng sẽ khóc hay cười
For example, infants learn that when they cry or smile someone responds to them
Trang 28Một nguồn thông tin mạnh mẽ khác để trẻ có thể tác động đến thế giới xung quanh chúng là khi trẻ bắt chước người khác
Another powerful source of information for infants about the effects they can have on the world around them is provided when others mimic them
Nhiều bậc phụ huynh đã dành rất nhiều thời gian, đặc biệt là trong những tháng đầu để bắt chước các âm thanh và biểu hiện của con họ
Many parents spend a lot of time, particularly in the early months, copying their infant's
vocalizations and expressions
Ngoài ra, trẻ nhỏ rất thích soi gương, nơi chúng có thể xem các cử động của mình hoạt động ra sao
In addition, young children enjoy looking in mirrors, where the movements they can see are dependent upon their own movements
Việc này không phải để nói là trẻ có thể nhận ra các phản xạ được hình ảnh của mình vì đó là một sự phát triển về sau này
This is not to say that infants recognize the reflection as their own image (a later development)
Tuy nhiên, năm 1979 Lewis và Brooks-Gunn cho rằng, từ những cử chỉ tình cờ mà bọn trẻ thấy được trên gương chứng tỏ trẻ ngày càng nhận biết nhiều hơn, giúp chúng nhận thức rằng chúng khác biệt với những người chung quanh
However, Lewis and Brooks-Gunn (1979) suggest that infants' developing understanding that the movements they see in the mirror are contingent on their own, leads to a growing
awareness that they are distinct from other people
Đó là vì bọn trẻ biết là chỉ có mình mới có thể thay đổi hình ảnh phản chiếu trong gương
Trang 29This is because they, and only they, can change the reflection in the mirror
Hiểu được điều này sẽ giúp bọn trẻ có được những nhân tố tích cực để tiếp tục phát triển các
kỹ năng khi chơi với những đứa trẻ khác
This understanding that children gain of themselves as active agents continues to develop in their attempts to co-operate with others in play
Dunn (1988) chỉ ra rằng các mối quan hệ và tương tác hàng ngày như vậy sẽ giúp trẻ hình thành nhận thức bản thân
Dunn (1988) points out that it is in such day-to-day relationships and interactions that the child's understanding of his or herself emerges
Tuy nhiên các điều tra thực nghiệm về việc xem mình như chủ thể ở trẻ nhỏ rất ít do các nhà nghiên cứu gặp nhiều khó khăn về giao tiếp, thậm chí ngay cả khi trẻ nhỏ có thể phản ánh kinh nghiệm của mình, chúng cũng không thể diễn tả một cách trực tiếp được
Empirical investigations of the self-as-subject in young children are, however, rather scarce because of difficulties of communication: even if young infants can reflect on their experience, they certainly cannot express this aspect of the self directly
Khi trẻ đã có được một mức độ tự nhận thức nhất định thì chúng bắt đầu tự đặt bản thân mình trong hầu hết các hoạt động và điều này đóng một vai trò quan trọng trong việc định nghĩa 'bản thân mình' là duy nhất
Once children have acquired a certain level of self-awareness, they begin to place themselves
in a whole series of categories, which together play such an important part in defining them uniquely as 'themselves'
Bước thứ hai này trong việc phát triển khả năng tự nhận thức được James gọi “xem mình như khách thể"
Trang 30This second step in the development of a full sense of self is what James called the
'self-as-object'
Việc cá nhân trẻ được nhiều người để ý chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi các yếu tố xã hội, vì việc này được tạo thành từ các vai trò xã hội như sinh viên, anh em, đồng nghiệp và các đặc tính thừa hưởng từ việc so sánh hay tương tác với người khác như sự tin cậy, nhút nhát, khả năng thể thao
This has been seen by many to be the aspect of the self which is most influenced by social elements, since it is made up of social roles (such as student, brother, colleague) and
characteristics which derive their meaning from comparison or interaction with other people (such as trustworthiness, shyness, sporting ability)
Cooley và các nhà nghiên cứu khác cho rằng giữa sự hiểu biết của một người với sự hiểu biết của người khác có mối quan hệ rất gần gũi
Cooley and other researchers suggested a close connection between a person's own
understanding of their identity and other people's understanding of it
Cooley tin rằng chúng ta nên xây dựng khả năng nhận thức từ các phản ứng của người khác đối với chúng ta, và từ cách nhìn của chúng ta khi tin tưởng người khác
Cooley believed that people build up their sense of identity from the reactions of others to them, and from the view they believe others have of them
Ông Cooley gọi việc xem bản thân dưới dạng khách thể là “tự soi gương", vì chúng ta tự thấy bản thân mình khi chúng ta được phản ánh ở những người khác
He called the self-as-object the 'looking-glass self', since people come to see themselves as they are reflected in others
Trang 31Mead (1934) thậm chí còn đi xa hơn, và cho rằng bản thân với thế giới xã hội gắn bó chặt chẽ ràng buộc với nhau: 'Bản thân là một cấu trúc cần thiết của xã hội, và nó phát sinh khi chúng ta
có kinh nghiệm xã hội vì nó là không thể tự phát sinh ngoài kinh nghiệm xã hội được’'
Mead (1934) went even further, and saw the self and the social world as inextricably bound together: 'The self is essentially a social structure, and it arises in social experience, it is
impossible to conceive of a self arising outside of social experience
Lewis và Brooks-Gunn lập luận rằng cột mốc phát triển quan trọng là khi trẻ bắt đầu nhận ra bản thân mình một cách trực quan mà không cần phải quan sát các cử động của mình một cách tình cờ
Lewis and Brooks-Gunn argued that an important developmental milestone is reached when children become able to recognize themselves visually without the support of seeing contingent movement
Nhận thức này xảy ra khoảng lúc trẻ được 2 tuổi
This recognition occurs around their second birthday
Trong một thí nghiệm, Lewis và Brooks-Gunn (1979) đã thấm một ít bột màu đỏ trên mũi của trẻ khi chúng chơi ở phía trước của một tấm gương, và sau đó quan sát mức độ thường xuyên khi trẻ chạm vào mũi
In one experiment, Lewis and Brooks-Gunn (1979) dabbed some red powder on the noses of children who were playing in front of a mirror, and then observed how often they touched their noses
Các nhà tâm lý học lý luận rằng nếu trẻ biết những gì chúng thường thấy thì chúng sẽ ngạc nhiên bởi các nhãn dán màu đỏ bất thường và trẻ sẽ chạm vào nó
The psychologists reasoned that if the children knew what they usually looked like, they would
be surprised by the unusual red mark and would start touching it
Trang 32Mặt khác, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng trẻ em từ 15 đến 18 tháng thường không thể nhận ra chính mình trừ khi xuất hiện các dấu hiệu khác như các cử động mà chúng thấy trước gương
On the other hand, they found that children of 15 to 18 months are generally not able to
recognize themselves unless other cues such as movement are present
Cuối cùng, có lẽ các biểu hiện dễ nhận biết nhất về việc tự nhận thức ở trẻ em thường phổ biến
In a longitudinal study of groups of three or four children, Bronson (1975) found that the intensity
of the frustration and anger in their disagreements increased sharply between the ages of 1 and
2 years
Thông thường, những bất đồng của trẻ xuất hiện khi chúng tranh giành đồ chơi với nhau và trẻ
có vẻ muốn tranh chấp để được quyền sở hữu đồ chơi đó hơn là muốn chơi với nó (tư duy sở hữu xuất hiện)
Often, the children's disagreements involved a struggle over a toy that none of them had played with before or after the tug-of-war: the children seemed to be disputing ownership rather than wanting to play with it
Mặc dù việc này có thể ít được ghi nhận ở các xã hội khác nhưng sự liên kết giữa ý nghĩa của 'bản thân' và 'sở hữu' là một đặc tính đáng chú ý của trẻ em ở các xã hội phương Tây
Although it may be less marked in other societies, the link between the sense of 'self' and of 'ownership' is a notable feature of childhood in Western societies
Practice more at: http://mini-ielts.com/296/reading/young-childrens-sense-of-identity
Trang 33Lịch sử loài rùa
If you go back far enough, everything lived in the sea
Nếu bạn quay trở lại quá khứ đủ lâu thì bạn sẽ thấy tất cả mọi thứ đều sống dưới biển
At various points in evolutionary history, enterprising individuals within many different animal groups moved out onto the land, sometimes even to the most parched deserts, taking their own private seawater with them in blood and cellular fluids
Tại các thời điểm khác nhau trong lịch sử tiến hóa, các cá thể mạnh dạn trong các nhóm động vật khác nhau đã di chuyển lên đất liền, thậm chí lên các vùng sa mạc khô cằn nhất, mang theo nước biển riêng của mình trong máu và các chất lỏng tế bào
In addition to the reptiles, birds, mammals and insects which we see all around us, other groups that have succeeded out of water include scorpions, snails, crustaceans such as woodlice and land crabs, millipedes and centipedes, spiders and various worms
Ngoài các loài bò sát, chim, động vật có vú và côn trùng mà chúng ta thấy xung quanh thì các nhóm khác đã thành công khi thoát khỏi môi trường nước bao gồm bọ cạp, ốc sên, động vật
Trang 34giáp xác như loài mối và cua đất, động vật nhiều chân và rết, nhện và các loài sâu bọ khác nhau
And we mustn’t forget the plants, without whose prior invasion of the land none of the other migrations could have happened
Và chúng ta đừng quên thực vật mà nếu không có chúng thì không có loài nào có thể di cư lên đất liền được
Moving from water to land involved a major redesign of every aspect of life, including breathing and reproduction
Di chuyển từ môi trường nước sang môi trường đất liền có liên quan rất lớn đến việc thiết kế lại
ất cả các khía cạnh của cuộc sống, bao gồm cả việc thở và sinh sản
Nevertheless, a good number of thoroughgoing land animals later turned around, abandoned their hard-earned terrestrial re-tooling, and returned to the water again
Tuy nhiên, về sau một số lượng lớn các động vật sống trên cạn triệt để đã quay trở lại môi trường nước khi chúng bỏ rơi các nơi khó kiếm sống trên đất liền
Seals have only gone part way back
Hải cẩu là loài duy nhất quay trở về môi trường nước một phần
They show us what the intermediates might have been like, on the way to extreme cases such
as whales and dugongs
Chúng cho chúng ta thấy những loài sinh vật trung gian sẽ như thế nào trên đường phát triển thành các trường hợp cá biệt như loài cá voi hay cá nược
Whales (including the small whales we call dolphins) and dugongs, with their close cousins the manatees, ceased to be land creatures altogether and reverted to the full marine habits of their remote ancestors
Cá voi (bao gồm cả những con cá voi nhỏ mà chúng ta gọi là cá heo) và cá nược, với người anh em họ gần gũi với lợn biển, không còn là những sinh vật trên cạn hoàn toàn và đã trở lại thói quen dưới biển đầy đủ giống như tổ tiên xa của chúng
Trang 35They don’t even come ashore to breed
Chúng thậm chí không lên bờ để sinh sản
They do, however, still breathe air, having never developed anything equivalent to the gills of their earlier marine incarnation
Tuy nhiên chúng vẫn hít thở không khí và không phát triển thêm bất cứ thứ gì tương đương với mang như các thế hệ tổ tiên sống dưới biển của chúng
Turtles went back to the sea a very long time ago and, like all vertebrate returnees to the water, they breathe air
Loài rùa đã trở lại biển từ rất lâu rồi và giống như tất cả những loài trở về biển có xương sống, chúng cũng hít thở không khí
However, they are, in one respect, less fully given back to the water than whales or dugongs, for turtles still lay their eggs on beaches
Tuy nhiên, ở một khía cạnh, loài rùa ít trở lại nước hơn cá voi hay loài cá nược nên chúng vẫn còn đẻ trứng trên các bãi biển
There is evidence that all modern turtles are descended from a terrestrial ancestor which lived before most of the dinosaurs
Có bằng chứng cho thấy là tất cả các loài rùa hiện nay có nguồn gốc từ một loài tổ tiên sống trên đất liền trước khi loài khủng long xuất hiện
There are two key fossils called Proganochelys quenstedti and Palaeochersis talampayensis dating from early dinosaur times, which appear to be close to the ancestry of all modem turtles and tortoises
Có hai hóa thạch phím gọi là Proganochelys quenstedti và Palaeochersis talampayensis có niên đại từ thời khủng long đầu tiên dường như được xem là gần với tổ tiên của tất cả các loài rùa hiện đại
You might wonder how we can tell whether fossil animals lived on land or in water, especially if only fragments are found
Trang 36Bạn có thể tự hỏi làm thế nào chúng ta có thể biết được là các động vật hóa thạch này sống trên cạn hay dưới nước, đặc biệt là nếu chỉ tìm thấy được mảnh vỡ của chúng
Sometimes it’s obvious
Đôi khi đó là hiển nhiên
Ichthyosaurs were reptilian contemporaries of the dinosaurs, with fins and streamlined bodies Thằn lằn cá là loài cùng thời bò sát với loài khủng long, có vây và các cơ quan sắp xếp hợp lý
The fossils look like dolphins and they surely lived like dolphins, in the water
Các hóa thạch được tìm thấy trông giống như cá heo và chắc chắn chúng đã sống như cá heo khi sống dưới nước
With turtles it is a little less obvious
Với rùa thì điều này ít rõ ràng hơn
One way to tell is by measuring the bones of their forelimbs
Một cách nào để biết điều đó là đo xương chi trước của chúng
Walter Joyce and Jacques Gauthier, at Yale University, obtained three measurements in these particular bones of 71 species of living turtles and tortoises
Walter Joyce và Jacques Gauthier, tại Đại học Yale, đã thực hiện ba loại đo khác nhau trong các xương đặc biệt của 71 loài rùa sống
They used a kind of triangular graph paper to plot the three measurements against one another
Họ đã sử dụng một loại giấy hình tam giác đo ba thông số
All the land tortoise species formed a tight cluster of points in the upper part of the triangle; all the water turtles cluster in the lower part of the triangular graph
Trang 37Tất cả các loài rùa trên đất liền hình thành một cụm chặt chẽ ở các điểm trong phần trên của tam giác; tất cả các loài rùa dưới nước tập trung tại phần dưới của biểu đồ hình tam giác
There was no overlap, except when they added some species that spend time both in water and
The next step was to determine where the fossils fell
Bước tiếp theo là xác định nơi các hóa thạch được tìm thấy
The bones of P quenstedti and JR talampayensis leave us in no doubt
Các xương của loài P quenstedti và JR talampayensis lại làm cho chúng ta sáng tỏ
Their points on the graph are right in the thick of the dry cluster
Các điểm của chúng trên đồ thị nằm đúng trong phần dày của cụm khô
Both these fossils were dry-land tortoises
Cả hai hóa thạch này là rùa đất liền
They come from the era before our turtles returned to the water
Chúng có từ thời đại trước khi loài rùa của chúng ta trở về môi trường nước
Trang 38You might think, therefore, that modern land tortoises have probably stayed on land ever since those early terrestrial times, as most mammals did after a few of them went back to the sea
Do đó bạn có thể nghĩ rằng rằng loài rùa đất liền hiện nay đã có thể ở lại trên đất liền kể từ những lần lên đất liền đầu tiên như hầu hết các động vật có vú đã làm sau khi một vài trong số chúng đã trở lại biển
But apparently not
Nhưng dường như không
If you draw out the family tree of all modern turtles and tortoises, nearly all the branches are aquatic
Nếu bạn vẽ ra cây gia phả của tất cả các loài rùa hiện nay thì gần như tất cả các nhánh của chúng đều ở dưới nước
Today’s land tortoises constitute a single branch, deeply nested among branches consisting of aquatic turtles
Rùa đất liền ngày nay là nhánh duy nhất, lồng nhau giữa các nhánh bao gồm rùa dưới nước
This suggests that modern land tortoises have not stayed on land continuously since the time of
P quenstedti and P talampayensis
Điều này cho thấy rằng loài rùa đất liền hiện nay đã không còn ở lại trên đất liên tục kể từ thời điểm loài P quenstedti và P talampayensis
Rather, their ancestors were among those who went back to the water, and they then
re-emerged back onto the land in (relatively) more recent times
Thay vào đó, tổ tiên của chúng là một trong số những loài trở lại môi trường nước, và sau đó chúng lại nổi lên trở lại đất liền trong thời gian (tương đối) gần đây
Tortoises therefore represent a remarkable double return
Do đó loài rùa đại diện cho một sự trở lại đáng chú ý gấp đôi
Trang 39In common with all mammals, reptiles and birds, their remote ancestors were marine fish and before that various more or less worm-like creatures stretching back, still in the sea, to the primeval bacteria
Trong các động vật có vú phổ biển thì loài bò sát và các loài chim có tổ tiên xa là loài cá biển và trước đó tổ tiên chúng là những sinh vật giống sâu lúc còn ở dưới biển, cho đến các loài vi khuẩn nguyên sinh
Later ancestors lived on land and stayed there for a very large number of generations
Sau đó các loài tổ tiên này lên sống trên đất liền và ở lại đó với một số lượng rất lớn các thế hệ
Later ancestors still evolved back into the water and became sea turtles
Các tổ tiên sau đó vẫn tiến hoá ngược trở lại vào môi trường nước và trở thành loài rùa biển
And finally they returned yet again to the land as tortoises, some of which now live in the driest
Trang 40Lý thuyết thông tin - Ý tưởng lớn
Information theory lies at the heart of everything-from DVD players and genetic code of DNA to the physics of universe at its most fundamental
Lý thuyết thông tin nằm ở trong tim của mọi vật từ đầu đĩa DVD và mã di truyền ADN tới các vật thể đơn giản nhất trong vũ trụ
It has been central to the development of the science of communication, which enables data to be sent electronically and has therefore had a major impact on our life
Nó đã là trung tâm của sự phát triển của khoa học truyền thông, cho phép dữ liệu được gửi bằng điện tử và do đó có tác động to lớn đến cuộc sống của chúng ta
In April 2002 an event took place which demonstrated one of the many applications of information theory
Vào tháng 4 năm 2002, 1 sự kiện đã tổ chức chứng minh một trong nhiều ứng dụng của
lý thuyết thông tin
The space probe, Voyager I, launched in 1977, had sent back spectacular images of
Jupiter and Santurn and then soared out of Solar System on one-way mission to the stars