1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu việc làm của lao động nông thôn ở thành phố cần thơ tt

24 162 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 669,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 1 Đánh giá thực trạng đào tạo nghề và việc làm của lao động nông thôn trong lĩnh vực nông nghiệp, làm thuê trong nông nghiệp và phi nông nghiệp trên địa bàn thàn

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ - -

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Chuyên ngành: Kinh tế Nông nghiệp

Mã số: 9620115

PHẠM ĐỨC THUẦN

ĐÁNH GIÁ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NHU CẦU

VIỆC LÀM CỦA LAO ĐỘNG NÔNG THÔN

Ở THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Cần Thơ, 2018

Trang 2

CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Người hướng dẫn: PGS.TS Dương Ngọc Thành

Luận án được bảo vệ trước hội đồng chấm luận án tiến sĩ cấp trường Họp tại: Hội trường … , Trường Đại học Cần Thơ)

Vào lúc … giờ … ngày … tháng … năm …

Phản biện 1: ………

Phản biện 2: ………

Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:

Trung tâm Học liệu, Trường Đại học Cần Thơ

Thư viện Quốc gia Việt Nam

Trang 3

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ

1 Xác định những thuận lợi và khó khăn - cơ hộ và thử thách của lao động trong việc làm và học nghề của thành phố Cần Thơ, Số 47-5+6/2012, Tạp chí Quản

lý kinh tế (CEM), Bộ kế hoạch và Đầu tư, trang 3-18

2 Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tìm việc làm của người lao động nông thôn trên địa bàn thành phố Cần Thơ, Tạp chí Khoa học Số 36c (2015) trường Đại học Cần Thơ, trang 97-104

3 Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia đào tạo nghề của lao động nông thôn trên địa bàn thành phố Cần Thơ, Tạp chí Khoa học Số 40d (2015), trường Đại học Cần Thơ, trang 83-91

4 Chương 3: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, lao động và việc làm nông thôn”, Sách:

“Lao động việc làm và đào tạo nghề nông thôn vùng đồng bằng sông Cửu Long (thực trạng và định hướng)”, Nhà xuất bản trường Đại học Cần Thơ, trang 36-60

5 Chương 7: Kinh nghiệm và định hướng giải pháp đào tạo nghề, giải quyết việc làm trong tiến trình công nghiệp hóa và đô thị hóa, Sách: “Lao động việc làm

và đào tạo nghề nông thôn vùng đồng bằng sông Cửu Long (thực trạng và định hướng)”, Nhà xuất bản Đại học Cần Thơ, trang 131-160

Trang 4

Chương 1 GIỚI THIỆU 1.1 Lý do chọn đề tài

Lao động và việc làm luôn là một trong những vấn đề bức xúc có tính toàn cầu,

là mối quan tâm của toàn thể nhân loại nói chung và mỗi quốc gia nói riêng Đối với mỗi quốc gia, giải quyết việc làm là giải pháp căn bản để ổn định chính trị và phát triển kinh tế Cùng với sự tăng dân số và quá trình đô thị hóa ngày càng cao nên đã dẫn đến tình trạng đất nông nghiệp bình quân trên đầu người giảm xuống, xảy ra tình trạng đất chật người đông, thiếu việc làm là một điều tất yếu; thực trạng này đã và đang là rào cản ảnh hưởng đến tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương

và quốc gia Thực trạng nguồn lực lao động của thành phố trong thời gian qua của người lao động chưa đáp ứng nhu cầu tuyển dụng lao động của doanh nghiệp, nhu cầu tuyển dụng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật có xu hướng tăng, sự chênh lệch

về nhu cầu tuyển dụng theo giới tính giữa nam và nữ, giữa khu vực thành thị và nông thôn

Vấn đề giải quyết việc làm cho lao động các vùng nông thôn nói riêng và lao động của toàn thành phố nói chung đang là vấn đề cấp thiết đặt ra cho chính quyền của mỗi địa phương ở từng cấp của thành phố Áp lực lao động và việc làm ngày càng tăng, nhu cầu việc làm cho lao động nông thôn đang là vấn đề thời sự Hiện tại chưa

có nghiên cứu cụ thể nào về vấn đề việc làm của người lao động nông thôn tại vùng

đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), và từ thực trạng trên đề tài: “Đánh giá các nhân

tố ảnh hưởng đến nhu cầu việc làm của lao động nông thôn ở thành phố Cần Thơ”

được lựa chọn nghiên cứu

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu việc làm của lao động nông thôn nhằm đề xuất các giải pháp đáp ứng nhu cầu việc làm cho lao động nông thôn, góp phần tạo thêm thu nhập cho lao động nông thôn trong thời gian tới phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

(1) Đánh giá thực trạng đào tạo nghề và việc làm của lao động nông thôn (trong lĩnh vực nông nghiệp, làm thuê trong nông nghiệp và phi nông nghiệp) trên địa bàn thành phố Cần Thơ;

(2) Xác định và đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu việc làm của người lao động nông thôn (trong lĩnh vực nông nghiệp, làm thuê trong nông nghiệp và phi nông nghiệp) trên địa bàn thành phố Cần Thơ;

(3) Đề xuất các giải pháp đáp ứng nhu cầu việc làm cho lao động nông thôn trong thời gian tới

1.3 Phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Nội dung nghiên cứu

(1) Mô tả tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về nhu cầu việc làm để làm cơ sở lý thuyết

Trang 5

(2) Trên cơ sở lý thuyết, luận án xây dựng mô hình nghiên cứu để phân tích, đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu việc làm của bản thân người lao động ở thành phố Cần Thơ

(3) Luận án mô tả thực trạng và kết quả đào tạo nghề và việc làm của lao động nông thôn (trong lĩnh vực nông nghiệp, làm thuê trong nông nghiệp và phi nông nghiệp) trên địa bàn thành phố Cần Thơ;

(4) Luận án xác định các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu việc làm của bản thân người lao động ở thành phố Cần Thơ Qua kết quả phân tích để đề xuất các giải pháp giải pháp nào cần được thực hiện nhằm góp phần giúp người lao động nông thôn đáp ứng nhu cầu việc làm trong thời gian tới

1.3.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của luận án này là nhu cầu việc làm của bản thân người lao động được hình thành trong khu vực nông thôn và theo từng đối tượng lao động nông thôn trên địa bàn thành phố Cần Thơ Đối tượng khảo sát của luận án (lao động nông nghiệp, lao động làm thuê trong nông nghiệp và lao động phi nông nghiệp)

là những người lao động trong độ tuổi lao động tại khu vực nông thôn, các đối tượng

này tham gia lao động và làm việc trong khu vực nông thôn

1.3.3 Phạm vi không gian và thời gian

- Về thời gian: thu thập số liệu thứ cấp từ năm 2013 đến 2016 và số liệu sơ cấp năm 2015-2016

- Về không gian: địa bàn nghiên cứu của đề tài tại các huyện Phong Điền, Thới Lai, Cờ Đỏ và Vĩnh Thạnh trong khu vực nông thôn, những huyện này có những đặc trưng về sản xuất nông nghiệp và nguồn lao động nông thôn chiếm khoảng 68,1% trên tổng số lao động nông thôn trong độ tuổi lao động của thành phố Cần Thơ

Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU THAM KHẢO 2.1 Các khái niệm

2.1.1 Khái niệm về nhu cầu việc làm

Nhu cầu việc làm là những khả năng của bản thân người lao động để thích nghi với điều kiện môi trường làm việc nhằm thỏa mãn theo mong muốn có việc làm hoặc tìm kiếm công việc cho bản thân người lao động

2.1.2 Khái niệm về nhóm đối tượng nghiên cứu

On-Farm là người lao động nông thôn có đất đai nông nghiệp và làm việc, sản xuất trên đất đai của họ (gọi tắt là làm nông nghiệp)

Off-Farm là người lao động nông thôn làm việc trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, không trực tiếp sản xuất nông nghiệp trên đất của chính họ, mà họ làm thuê, sản xuất nông nghiệp trên đất của người khác (gọi tắt là làm thuê trong nông nghiệp)

Non-Farm là người lao động nông thôn làm việc trong lĩnh vực phi nông nghiệp (như: công nghiệp, xây dựng, dịch vụ, thương mại), các ngành nghề không trực tiếp sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp (gọi tắt là phi nông nghiệp)

Trang 6

2.2 Các nghiên cứu về đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu các lý thuyết về hành vi gia đình của Howard N Barnum (1978), cung ứng lao động của Orazio Attanasio (2004), lý thuyết nông dân ghét rủi ro của Frank Ellis (1993), các lý thuyết tạo việc làm cho người lao động củaTrần Xuân Cầu

và Mai Quốc Khánh (2008), lựa chọn bộ ba - làm việc kiếm tiền, làm việc ở nhà và nghỉ ngơi của Tạ Đức Khánh (2009)

2.3 Về các mô hình nghiên cứu tìm việc làm

Kế thừa các nghiên cứu: Wayne Howard, Michael Swidinsky (2000) về cung lao động ở Canada; Bamlaku A Alemu, E-A Nuppenau and H Boland (2008) về nông

hộ trong các khu nông nghiệp ở Etiopia; Junior Davis (2006) đa dạng hóa công việc

và các hoạt động có lợi khác của nông dân nông thôn; Tăng Minh Trí (2016), Lê Nguyễn Đoan Khôi (2014), Trương Minh Đức (2011), Hoàng Thị Hồng Lộc và Nguyễn Quốc Nghi (2014) về nhu cầu việc làm của người lao động cũng cần có động lực dựa trên phân tích các biến nhân tố có ảnh hưởng đến nhu cầu việc làm của bản thân người lao động

Nghiên cứu phân tích của Hồ Thị Diệu Ánh (2015) đã chỉ ra các yếu tố tác động đến quá trình tự tạo việc làm của lao động nông thôn, trong đó phân tích các nhóm yếu

tố và từng yếu tố ảnh hưởng đến tự tạo việc làm của lao động nông thôn

2.4 Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu

Cách tiếp cận về đối tượng của luận án là nhu cầu việc làm của lao động nông thôn, hay nói cách khác là nhu cầu của bản thân người lao động Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây chỉ tập trung phân tích về nhu cầu việc làm của bản thân lao động nông thôn, cơ hội tìm kiếm việc làm của người lao động nông thôn, cũng như nội dung xây dựng giải pháp giải quyết việc làm cho lao động nông thôn có nhu cầu việc làm

Về việc làm: việc nghiên cứu về đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho lao

động nông thôn của các tác giả nêu trên, cho thấy trình độ học vấn đã ảnh hưởng phần nào đến việc lựa chọn nghề nghiệp của người lao động Nếu lao động có trình độ học vấn càng cao thì sẽ có nhiều cơ hội lựa chọn nghề nghiệp của mình, chương trình đào tạo nghề cho lao động có vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực lao động trong thời kỳ đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ như hiện nay Việc đào tạo nghề không đáp ứng nhu cầu thực tế của việc làm thì không đảm bảo chất lượng công việc được tốt và người lao động rất khó khăn trong vấn đề tìm việc làm sau khi được đào tạo; để lao động tìm được công việc phù hợp với khả năng của mình, lao động cần nhiều kênh thông tin tìm việc làm

Tuy nhiên, lao động nông thôn là không thường xuyên tiếp cận các thông tin

về tuyển dụng, không tham gia các hoạt động tư vấn việc làm, chưa mạnh dạn tự tìm kiếm việc làm cho bản thân, do hạn chế tay nghề và khả năng giao tiếp kém Bên cạnh

đó, nhu cầu việc làm của người lao động nông thôn đang là hiện trạng thực tế cần được nghiên cứu, tìm hiểu những nhân tố ảnh hưởng nhu cầu việc làm cho lao động nông thôn và trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp giải quyết việc làm cho lao động nông thôn được tốt hơn và hiệu quả trong giai đoạn phát triển của thành phố Cần Thơ

Khung nghiên cứu: các mô hình nghiên cứu được kế thừa chưa đi sâu vào

nghiên cứu nhu cầu việc làm của người lao động nông thôn, chưa phân định rõ nhân

tố từ bên ngoài, nhân tố về khả năng của bản thân người lao động ảnh hưởng đến nhu

Trang 7

cầu việc làm của người lao động nông thôn Từ đó, tổng hợp nghiên cứu về nhóm nhân

tố và nhân tố có ảnh hưởng đến nhu cầu việc làm của người lao động nông thôn trên địa bàn thành phố Cần Thơ để xây dựng khung nghiên cứu, với 07 nhóm nhân tố

Về mô hình nghiên cứu nhân tố: kế thừa việc xây dựng các nhóm nhân tố tại

mục (i) của khung nghiên cứu và các nghiên cứu về mô hình nhân tố đã được nêu của các tác giả nghiên cứu trước đây; đặc biệt về mô hình nghiên cứu của Hồ Thị Diệu Ánh (2015) thì kết quả có 03 nhóm các yếu tố ảnh hưởng đến tự tạo việc làm của lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Nghệ An, để làm cơ sở tiếp cận, kế thừa và xây dựng

mô hình phân tích cho luận án

Về mô hình nghiên cứu hồi quy: với kết quả phân tích của các nghiên cứu về

mô hình hồi quy đã phân tích, trong đó các nhân tố có hưởng đến đào tạo nghề, việc làm của lao động nông thôn, như: độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn, số nhân khẩu, thu nhập,… làm cơ sở kế thừa và xây dựng cho phương pháp phân tích của luận án Trong đó, phương pháp tiếp cận nghiên cứu của Hồ Thị Diệu Ánh (2015) phân tích hồi quy Binary Logistic sử dụng biến phụ thuộc dạng nhị phân để ước lượng các xác suất sự kiện xảy ra với những thông tin của biến độc lập có được (0= không tự tạo việc làm; 1= tự tạo việc làm phi nông nghiệp)

Vì vậy, nghiên cứu của luận án đi sâu phân tích về nhu cầu việc làm lao động nông thôn (ý muốn của bản thân người lao động) theo từng đối tượng lao động nông nghiệp, lao động làm thuê trong nông nghiệp, lao động phi nông nghiệp), là một luận

án bổ sung thêm cho các nghiên cứu trước, gồm các nôi dung sau:

(1) Nghiên cứu năng lực, đào tạo nghề, việc làm của lao động nông thôn (trong lĩnh vực nông nghiệp, thuê nông nghiệp và phi nông nghiệp);

(2) Nghiên cứu các nhân tố độc lập ảnh hưởng đến nhu cầu việc làm của người lao động nông thôn (trong lĩnh vực nông nghiệp, thuê nông nghiệp và phi nông nghiệp);

(3) Tập trung các giải pháp đáp ứng nhu cầu việc làm cho lao động nông thôn trong thời gian tới

Chương 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Phương pháp tiếp cận

Cách tiếp cận của luận án là kế thừa nghiên cứu mô hình về khung nghiên cứu

ở Chương 2, để các nhân tố có ảnh hưởng đến nhu cầu việc làm của lao động nông thôn; cũng là luận cứ khoa học để xây dựng cácnhân tố phù hợp cho nội dung trong khung nghiên cứu của luận án, làm cơ sở để đề xuất giải pháp đáp ứng nhu cầu lao động nông thôn trong thời gian tới

Để có đáp ứng được nhu cầu của công việc cần tìm kiếm, đòi hỏi người lao động phải có năng lực, trình độ, sức khỏe,… và khi đã có môi trường làm việc, thì người lao động xem xét các điều kiện, cập nhật thông tin để phát triển nghề nghiệp, tạo thu nhập cao hơn, an toàn hơn Cho nên việc kế thừa mô hình nghiên cứu đã nêu trong Chương 2 về Tổng quan tài liệu tham khảo và kết hợp với các mục tiêu nghiên cứu đặt ra của luận án, khung nghiên cứu của luận ánđược khái quát trên cơ sở lý

Trang 8

thuyết, lý luận về lao động việc làm và thu thập thông tin để phân tích những nhân tố tác động của nhu cầu việc làm của lao động nông thôn

3.2 Khung nghiên cứu

Với việc thực hiện khung nghiên cứu này (Hình 3.1), luận án tập trung nghiên cứu về những nhân tố bên trong của người lao động nông thôn có ảnh hưởng như thế nào đến nhu cầu việc làm của bản thân; song song đó, phân tích các nhân tố bên ngoài

có ảnh hưởng đến việc tìm kiếm việc làm đáp ứng nhu cầu của người lao động nông thôn trên địa bàn thành phố Cần Thơ

Hình 3.1: Khung lý thuyết nghiên cứu của đề tài

Nguồn: Tác giả tổng hợp và đề xuất

1 Nhóm Sự thay đổi điều kiện kinh tế - xã hội

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

- Chuyển dịch cơ cấu lao động

- Đầu tư vào giáo dục

2 Nhóm Doanh nghiệp

- Doanh nghiệp tuyển dụng lao động

- Mức lương trả cho người lao động

- Hiệu quả của các Chương trình đào tạo nghề

3 Nhóm Chính sách của địa phương

- Đào tạo nghề

- Việc làm

- Vay vốn

- Thông tin việc làm

4 Nhóm Điều kiện làm việc

- Nơi làm việc

- Đất sản xuất

- An toàn lao động

NHÂN TỐ BÊN TRONG

NHÂN TỐ BÊN NGOÀI

Trang 9

Nghiên cứu của luận án đi sâu phân tích về nhu cầu việc làm lao động nông thôn (ý muốn của bản thân người lao động) theo từng đối tượng lao động nông nghiệp, lao động làm thuê trong nông nghiệp, lao động phi nông nghiệp), là một luận án bổ sung thêm cho các nghiên cứu trước, gồm các nôi dung sau: (i) Nghiên cứu năng lực, đào tạo nghề, việc làm của lao động nông thôn (trong lĩnh vực nông nghiệp, thuê nông nghiệp và phi nông nghiệp); (ii) Nghiên cứu các nhân tố độc lập ảnh hưởng đến nhu cầu việc làm của người lao động nông thôn (trong lĩnh vực nông nghiệp, thuê nông nghiệp và phi nông nghiệp); (iii) Tậptrung các giảipháp đáp ứng nhu cầu việc làm cho lao động nông thôn trong thời gian tới

3.5 Phương pháp thu thập dữ liệu

- Thu thập số liệu thứ cấp về đào tạo nghề, việc làm, chính sách tổng hợp từ các

Sở, ngành, địa phương, các tài liệu nghiên cứu đã công bố

- Thu thập số liệu sơ cấp phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên, số quan sát được

xác định theo công thức N=5*m (trong đó: N là kích thước số quan sát tối thiểu; m: là

tổng số biến quan sát) của J.F., Anderson, R.E., Tatham, R.L., Black, W.C (1998) Tổng số quan sát 530, trong đó lao động nông nghiệp là 210 quan sát, lao động làm thuê trong nông nghiệp là 110 quan sát, lao động phi nông nghiệp là 210 quan sát

3.6 Phương pháp phân tích dữ liệu

3.6.1 Phân tích sự hài lòng về nhu cầu việc làm của bản thân người lao động nông thôn

Phương pháp tiếp cận: cách tiếp cận của luận án là vận dụng lý thuyết mô hình phân tích nhân tố khám phá (Exploratory Factor Analysis, EFA) để đo lường các nhân

tố có ảnh hưởng đến nhu cầu việc làm của lao động nông thôn Từ nghiên cứu Hồ Thị Diệu Ánh (2015) về tự tạo việc làm của lao động nông thôn chịu sự ảnh hưởng lớn các yếu tố thuộc về gia đình, các mối quan hệ của gia đình với các hộ khác, với hàng xóm với cộng đồng dân cư là những ảnh hưởng tác động đến khả năng khởi nghiệp trong lĩnh vực phi nông nghiệp của người lao động nông thôn, sử dụng thang đo như sau: không quan trọng, quan trọng, trung bình, quan trọng nhiều, rất quan trọng, để làm cơ

sở vận dụng nghiên cứu, phân tích, đánh giá các nhân tố có ảnh hưởng đến nhu cầu việc làm; cũng là cơ sở sở khoa học để phân tích nhân tố nào có tác động đến nhu cầu việc làm của lao động nông thôn, làm luận cứ để đề xuất giải pháp đáp ứng nhu cầu lao động nông thôn trong thời gian tới

Trên cơ sở đó, mô hình nghiên cứu phân tích sử dụng phương pháp phân tích

hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha bằng thang đo Likert theo lý thuyết về thang đo của

A H Maslow (1932), với 5 cấp độ để ý kiến về sự hài lòng của bản thân lao động nông thôn đến nhu cầu việc làm: 1= Rất không đồng ý; 2= Không đồng ý; 3= Ít đồng ý; 4= Đồng ý; 5= Rất đồng ý

3.6.2 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu việc làm của lao động nông thôn

Đối với cách tiếp cận về mô hình phân tích hồi quy để đo lường các nhân tố có nhu cầu việc làm theo mô hình của theo Wayne Howard, Michael Swidinsky (2000),

để đo lường các nhân tố có ảnh hưởng đến nhu cầu việc làm của lao động nông thôn được sử dụng mô hình phân tích của nông hộ trong các khu nông nghiệp ở Etiopia của Bamlaku A Alemu, E-A Nuppenau and H Boland (2008) gồm 05 biến độc lập chính

Trang 10

và 15 biến độc lập phụ; Richard J Smith and Richard W Blundell (1986) yếu tố thu nhập của hộ gia đình tác động đến việc làm; Agnes C Rola and Ian Coxhead (2003), David Stifel (2010) phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc làm của lao động nông thôn trong lĩnh vực nông nghiệp và phi nông nghiệp; trong phương pháp tiếp cận nghiên cứu của Hồ Thị Diệu Ánh (2015) phân tích hồi quy Binary Logistic sử dụng biến phụ thuộc dạng nhị phân để ước lượng các xác suất sự kiện xảy ra (0= không tự tạo việc làm; 1= tự tạo việc làm phi nông nghiệp) và với những thông tin của biến độc lập có được 13 biến độc lập)

ổn định- không muốn chuyển đổi)

Mô hình hồi quy lý thuyết tổng quát có dạng

Ln ( Pi

1 − Pi) = Ln [

P(Y = 1)P(Y = 0)] α0+ ∑ βi Xi + ∑ γj Dj + ui

là loại kiểm định độc lập

Kiểm định chi bình phương (χ2- Chi-square) phù hợp khi hai yếu tố nghiên cứu

là biến định tính hay định lượng rời rạc

Giả thuyết trong kiểm định có nội dung như sau:

H0: không có mối quan hệ giữa các biến (độc lập)

H1: có mối quan hệ giữa các biến (phụ thuộc)

Trang 11

Giá trị kiểm định Chi Bình phương (χ2- Chi-square) trong kết quả phân tích sẽ cung cấp mức ý nghĩa của kiểm định (P - Value) Nếu mức ý nghĩa nhỏ hơn hoặc bằng (mức ý nghĩa phân tích ban đầu = 0,05) thì kiểm định hoàn toàn có ý nghĩa hay nói cách khác bác bỏ giả thuyết H0, nghĩa là các biến có mối liên hệ với nhau Ngược lại thì các biến không có mối liên hệ với nhau

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4.1 Thực trạng đào tạo nghề của người lao động nông thôn

Số liệu khảo sát dựa trên người lao động tham gia học nghề và được cấp chứng chỉ nghề do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp, cho thấy có 61,7% lao động nông thôn được đào tạo nghề, phần lớn trình độ của người lao động nông thôn khu vực nông thôn thấp, chủ yếu là tiểu học, rất ít người lao động có trình độ trung cấp và cao đẳng Tuy nhiên, cũng có một số khó khăn khi người lao động khi tham gia đào tạo nghề: sau học nghề không xin được việc làm, hạn chế đối tượng tham gia đào tạo nghề, ngành nghề đào tạo không phù hợp, chất lượng dạy nghề thấp, học lý thuyết nhiều, ít thực hành, học phí lớp học cao

Nguyên nhân đào tạo nghề cho lao động nông thôn không hiệu quả chiếm khoảng 22,7%: (1) đối với đối tượng lao động nông nghiệp cho rằng nguyên nhân chủ yếu là do đào tạo nghề chưa thật sự đáp ứng nhu cầu của địa phương, thời gian đào tạo chưa phù hợp, lý thuyết nhiều, chênh lệch giữa lý thuyết học và thực tiển ngoài xã hội, trình độ tiếp thu đối với một số người còn chậm, các lớp dài hạn người nghèo không tham gia học được; (2) đối với đối tượng lao động làm thuê trong nông nghiệp cho rằng chủ yếu là không tìm được việc làm sau học nghề; (3) đối với đối tượng lao động phi nông nghiệp cho rằng chủ yếu là do cơ sở đào tạo thiếu trang thiết bị thực hành, nặng về lý thuyết, thời gian đào tạo nghề không phù hợp, không tìm được việc làm sau học nghề

Bên cạnh đó, chính quyền địa phương chưa có khảo sát về nhu cầu lao động trên địa bàn và khả năng đáp ứng của người lao động nông thôn; công tác đào tạo nghề của địa phương còn mang tính phụ động (đào tạo theo chỉ tiêu kế hoạch), số lượng người và trình độ của lao động nông thôn không phù hợp (đưa vào danh sách đào tạo cho đủ số lượng người, không sắp xếp trình độ theo từng lớp cụ thể), thông tin đào tạo nghề tại địa phương chưa rộng rãi (chỉ thông báo trân bảng thông tin của xã, phường)

4.2 Thực trạng việc làm của người lao động nông thôn

Theo số liệu khảo sát về tình trạng việc làm, ở nông thôn tỷ lệ người lao động

có việc làm là 49,79% Phần lớn người lao động nông nghiệp với nghề nghiệp chủ yếu

là nghề nông, đang có một việc làm ổn định, do có kinh nghiệm làm việc là nghề nông, tạo được nguồn thu cho bản thân và gia đình, họ tham gia sản xuất theo truyền thống của gia đình, khi có thời gian nông nhàn họ mới chuyển sang một số ngành nghề theo khả năng của họ

Về nghề nghiệp của người lao động nông thôn làm thuê trong nông nghiệp chiếm tỷ lệ thấp, nghề nghiệp của người lao động thuê nông nghiệp có nghề nghiệp cũng là nghề nông thì họ đang dự định thay đổi việc làm, đang tìm việc, chờ việc làm mới do công việc làm thuê mang tính chất thời vụ, với thời gian nông nhàn hoặc không

có đất sản xuất người lao động tìm kiếm việc làm khác để tăng thêm thu nhập;

Trang 12

Về người lao động phi nông nghiệp thì trong đó ngành nghề dịch vụ tại khu vực phi nông nghiệp chủ yếu là hộ khá giả (buôn bán phân bón, kinh doanh nhỏ lẻ tại nơi

cư ngụ) hoặc các ngành nghề dịch vụ có liên quan đến nông - thủy sản, kế đến một tỷ

lệ không nhỏ làm nội trợ, một số ít làm thuê nghề phi nông nghiệp (cán bộ, dịch vụ, mua bán nhỏ,…), người lao động đi làm phi nông nghiệp mong muốn thay đổi việc làm khác để có nguồn thu nhập tốt hơn nơi làm việc cũ

4.3 Thực trạng nhu cầu việc làm của người lao động nông thôn

Với nhu cầu cải thiện thu nhập của bản thân nói riêng và tác động nhiều nhất đến thu nhập là do quá trình đô thị hóa, thì người lao động tự thân vận động, tìm kiếm thêm việc làm hoặc chuyển đổi việc làm hiện tại để đảm bảo nhu cầu của bản thân và gia đình

Nhóm lao động nông nghiệp, lao động có nhu cầu cải thiện thu nhập trên mảnh đất của mình thì cần thêm nhiều các về kỹ thuật như: nhân giống cây trồng (cây ăn trái, lúa) và vật nuôi (bò, heo), kỹ thuật nuôi thủy sản (tôm càng xanh, cá), bảo quản nông sản (cây ăn trái, hoa màu) sau thu hoạch, kỹ thuật trồng rau màu theo hướng an toàn; bảo vệ thực vật đối với cây ăn trái Công việc của lao động nông nghiệp tham gia trực tiếp sản xuất nông nghiệp với 40,1%, đây là lao động chính ở gia đình, chủ yếu chăn nuôi, sản xuất lúa là chính, do họ tận dụng từ kinh nghiệm và cập nhật kỹ thuật sản xuất qua các lớp tập huấn của địa phương tổ chức nhằm tạo ra nguồn thu nhập từ sản phẩm trên mảnh đất của mình; bên cạnh đó, do trình độ của người lao động nông nghiệp phần lớn ở trình độ tiểu học và trung học cơ sở, nên họ vẫn tiếp tục

có nhu cầu việc làm từ sản xuất nông nghiệp Với lý do cần có việc làm và có nhu cầu việc làm trong lao động nông nghiệp chủ yếu là thu nhập hiện nay thấp (12,4%), muốn thay đổi cuộc sống (12,0%), cần đa dạng thu nhập cho gia đình (10,3%), muốn sống

và làm việc gần nhà (14,1%)

Với nhóm lao động làm thuê trong nông nghiệp, có nhu cầu việc làm khá cao (chiếm 89,1%), do đối tượng đa phần là ít và không đất canh tác, người lớn tuổi, không

có trình độ, đã quen với công việc làm thuê chân tay Tuy nhiên, trong nhóm hộ này

có nhu cầu việc làm của họ là chuyển sang làm thuê trong nông nghiệp cho các doanh nghiệp, cơ sở làm nông nghiệp có quy mô lớn, có diện tích nhiều, có nhiều điều kiện làm việc đỡ cực nhọc hơn, không cần chuyên môn, được hưởng các quyền lợi nhiều hơn (đóng bảo hiểm y tế, trả thưởng thêm, có thời gian nghỉ phù hợp,…) Đối với nhu cầu việc làm của lao động làm thuê trong nông nghiệp chủ yếu là tận dụng thời gian nhàn rỗi (12,1%), cuộc sống gia đình đang khó khăn (12,4%), cần đa dạng thu nhập cho gia đình (25,3%) Phần lớn lao động làm thuê trong nông nghiệp chủ yếu là lao động tay chân và làm việc theo mùa vụ, do lao động làm thuê trong nông nghiệp ở vùng nông thôn phần lớn là lao động lớn tuổi (nhóm tuổi nhóm tuổi từ 51-60 tuổi chiếm 34,6%), nên họ tiếp tục có nhu cầu việc làm trong việc làm thuê trong nông nghiệp; ngoài ra, do nguồn lao động thanh niên trẻ đi làm việc ở các doanh nghiệp hoặc các khu công nghiệp, nên trong thời gian sản xuất, thu hoạch nông nghiệp rất cần thuê lao động (gặt lúa, phun thuốc, làm đất, bón phân, bơm nước,…) thì sẽ có thu nhập cao mức bình thường và có việc làm suốt trong mùa vụ đó Thu nhập bình quân của nhóm làm thuê nông nghiệp khoảng hơn 2 triệu đồng/ tháng nhưng chủ yếu vào mùa

vụ chính, ngoài mùa vụ thì thu nhập thấp hơn

Còn đối với nhóm lao động phi nông nghiệp có nhu cầu tìm và chuyển đổi việc làm chiếm 87,1% Hiện nay và trong thời gian tới quá trình công nghiệp hóa và đô thị

Ngày đăng: 30/10/2018, 10:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w