1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bảo đảm nghĩa vụ trong hợp đồng dân sự

39 207 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 219,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng với nền kinh tế quốc tế thì các giao dịch dân sự, thương mại được xem như một công cụ hữu ích để giúp cho các chủ thể tìm kiếm được lợi ích của mình. Tuy nhiên, “Thương trường là chiến trường” và tiềm ẩn rất nhiều những rủi ro làm tổn hại lợi ích của các bên chủ thể. Một nền kinh tế năng động luôn đi đôi với rủi ro và không phải bất cứ ai tham gia giao dịch dân sự đều có thiện chí trong việc thực hiện nghiêm chỉnh các nghĩa vụ của mình. Quản lý rủi ro là một trong những việc tối quan trọng đối với các chủ thể. Có nhiều phương thức để quản lý rủi ro và việc áp dụng biện pháp bảo đảm để thực hiện nghĩa vụ là một trong những phương thức để quản lý những rủi ro đó. Để tạo được thế chủ động cho người có quyền trong các quan hệ nghĩa vụ được hưởng quyền dân sự, pháp luật cho phép các bên có thể thỏa thuận đặt ra các biện pháp bảo đảm việc giao kết hợp đồng, cũng như việc thực hiện nghĩa vụ. Thông qua các biện pháp này người có quyền có thể chủ động tiến hành các hành vi của mình tác động trực tiếp đến tài sản của phía bên kia nhằm làm thỏa mãn quyền lợi của mình khi đến thời hạn mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đó. Giao dịch bảo đảm là một thiết chế ra đời khá sớm ở nhiều quốc gia có hệ thống pháp luật phát triển trên thế giới. Kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới cho thấy thiết chế này được xây dựng đã tạo ra một hành lang pháp lý an toàn cho các hợp đồng dân sự nói chung và sự phát triển của nền kinh tế nói riêng, góp phần không nhỏ vào sự ổn định của các quan hệ dân sự, kinh tế, tránh các tranh chấp phát sinh từ việc không thực hiện hoặc có thực hiện nhưng không đủ của bên có nghĩa vụ. Việc xác lập các giao dịch bảo đảm luôn hướng tới mục tiêu bảo vệ quyền lợi của các bên tham gia giao dịch, đặc biệt là quyền lợi của bên có quyền trong giao dịch này. Áp dụng biện pháp bảo đảm, bên có quyền không chỉ có quyền theo hợp đồng buộc bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ, mà còn có quyền xử lý tài sản mà bên có nghĩa vụ dùng để bảo đảm.

Trang 1

NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ

VỀ CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN

NGHĨA VỤ TRONG HỢP ĐỒNG DÂN SỰ

Môn: Báo cáo ngoại khóa Giảng viên: Luật sư Lượng Văn Hồng

Năm 2017

Trang 2

CHƯƠNG 1 LÝ LsUẬN CHUNG 1

1 Cơ sở lý luận: 1

1.1 Bảo đảm nghĩa vụ trong hợp đồng dân sự là gì? 1

1.2 Đặc điểm của các biện pháp bảo đảm: 1

1.3 Tại sao phải bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng dân sự? 2

2 Quy định hiện hành: 3

2.1 Quy định chung về các biện pháp bảo đảm: 3

2.2 Các biện pháp đảm bảo thực hiện nghĩa vụ cụ thể: 8

3 Sự chuyển biến của pháp luật về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng dân sự từ 2005 đến nay 18

3.1 Biện pháp bảo đảm: 18

3.2 Phạm vi bảo đảm thực hiện nghĩa vụ: 19

3.3 Tài sản bảo đảm : 19

3.4 Xử lý tài sản bảo đảm: 20

3.5 Cơ chế làm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba của biện pháp bảo đảm: 21

CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM 22

1 Vụ việc thứ nhất: 22

2 Vụ việc thứ hai: 24

3 Vụ việc thứ ba: 25

4 Vụ việc thứ tư: 27

CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT 29

Trang 3

sâu rộng với nền kinh tế quốc tế thì các giao dịch dân sự, thương mại được xemnhư một công cụ hữu ích để giúp cho các chủ thể tìm kiếm được lợi ích củamình Tuy nhiên, “Thương trường là chiến trường” và tiềm ẩn rất nhiều nhữngrủi ro làm tổn hại lợi ích của các bên chủ thể Một nền kinh tế năng động luôn

đi đôi với rủi ro và không phải bất cứ ai tham gia giao dịch dân sự đều có thiệnchí trong việc thực hiện nghiêm chỉnh các nghĩa vụ của mình Quản lý rủi ro làmột trong những việc tối quan trọng đối với các chủ thể Có nhiều phương thức

để quản lý rủi ro và việc áp dụng biện pháp bảo đảm để thực hiện nghĩa vụ làmột trong những phương thức để quản lý những rủi ro đó

Để tạo được thế chủ động cho người có quyền trong các quan hệ nghĩa

vụ được hưởng quyền dân sự, pháp luật cho phép các bên có thể thỏa thuận đặt

ra các biện pháp bảo đảm việc giao kết hợp đồng, cũng như việc thực hiệnnghĩa vụ Thông qua các biện pháp này người có quyền có thể chủ động tiếnhành các hành vi của mình tác động trực tiếp đến tài sản của phía bên kia nhằmlàm thỏa mãn quyền lợi của mình khi đến thời hạn mà bên có nghĩa vụ khôngthực hiện hoặc không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đó

Giao dịch bảo đảm là một thiết chế ra đời khá sớm ở nhiều quốc gia có

hệ thống pháp luật phát triển trên thế giới Kinh nghiệm của nhiều nước trênthế giới cho thấy thiết chế này được xây dựng đã tạo ra một hành lang pháp lý

an toàn cho các hợp đồng dân sự nói chung và sự phát triển của nền kinh tế nóiriêng, góp phần không nhỏ vào sự ổn định của các quan hệ dân sự, kinh tế,tránh các tranh chấp phát sinh từ việc không thực hiện hoặc có thực hiện nhưngkhông đủ của bên có nghĩa vụ Việc xác lập các giao dịch bảo đảm luôn hướngtới mục tiêu bảo vệ quyền lợi của các bên tham gia giao dịch, đặc biệt là quyềnlợi của bên có quyền trong giao dịch này Áp dụng biện pháp bảo đảm, bên cóquyền không chỉ có quyền theo hợp đồng buộc bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa

vụ, mà còn có quyền xử lý tài sản mà bên có nghĩa vụ dùng để bảo đảm

Trang 4

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG

1 Cơ sở lý luận:

1.1 Bảo đảm nghĩa vụ trong hợp đồng dân sự là gì?

Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng dân sự cho phép các chủ thểtrong giao dịch dân sự đặt ra các biện pháp để đảm bảo cho một nghĩa vụ dân sựchính được thực hiện, đồng thời xác định và bảo đảm quyền, nghĩa vụ của cácbên trong các biện pháp đó

Hiểu theo một cách khác, bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là việc thỏathuận giữa các bên nhằm qua đó đặt ra các biện pháp tác động mang tính chất dựphòng để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ, đồng thời ngăn ngừa và khắcphục những hậu quả xấu do việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúngnghĩa vụ gây ra

Hiện nay có 9 biện pháp bảo đảm là cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặtcọc, ký cược, ký quỹ, bảo lưu quyền sở hữu, bảo lãnh, tín chấp, cầm giữ tài sản.Theo đó, có thể phân loại các biện pháp bảo đảm thành ba nhóm: nhóm biện phápbảo đảm được xác lập theo thỏa thuận và có tài sản bảo đảm: cầm cố tài sản, thếchấp tài sản, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lưu quyền sở hữu; nhóm biện pháp bảođảm được xác lập theo thỏa thuận và không có tài sản bảo đảm bao gồm: bảolãnh, tín chấp; nhóm biện pháp bảo đảm được xác lập theo quy định của luật,không dựa trên thỏa thuận: cầm giữ tài sản

1.2 Đặc điểm của các biện pháp bảo đảm:

Phụ thuộc vào nội dung, tính chất của từng quan hệ nghĩa vụ mà mỗi biệnpháp bảo đảm mang một đặc điểm riêng biệt Tuy nhiên, tất cả các biện pháp bảođảm đều có các đặc điểm chung thống nhất

Thứ nhất, các biện pháp bảo đảm mang tính chất bổ sung cho nghĩa vụchính Sự phụ thuộc thể hiện ở chỗ: khi có quan hệ nghĩa vụ chính thì các bên

1

Trang 5

mới cùng nhau thiết lập một biện pháp bảo đảm Nghĩa là việc bảo đảm thực hiệnnghĩa vụ không tồn tại một cách độc lập.

Thứ hai, các biện pháp bảo đảm đều có mục đích nâng cao trách nhiệm củacác bên trong quan hệ nghĩa vụ dân sự Thông thường, khi đặt ra biện pháp bảođảm, các bên hướng tới mục đích nâng cao trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ củangười có nghĩa vụ Ngoài ra, trong nhiều trường hợp, các bên còn hướng tới mụcđích nâng cao trách nhiệm trong giao kết hợp đồng của cả hai bên

Thứ ba, đối tượng của các biện pháp bảo đảm là những lợi ích vật chất Lợiích vật chất là đối tượng của các biện pháp bảo đảm thường là một tài sản Cácđối tượng này phải có đủ các yếu tố mà pháp luật đã yêu cầu đối với một đốitượng của nghĩa vụ dân sự nói chung

Thứ tư, phạm vi bảo đảm của các biện pháp bảo đảm không được vượt quáphạm vi nghĩa vụ đã được xác định trong nội dung của quan hệ nghĩa vụ chính.Nghĩa vụ có thể được bảo đảm một phần hoặc toàn bộ tùy thuộc vào thỏa thuậncủa hai bên

Thứ năm, các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ chỉ được áp dụng khi có sự viphạm nghĩa vụ Cho dù các bên đã đặt ra một biện pháp bảo đảm bên cạnh mộtnghĩa vụ chính nhưng vẫn không cần phải áp dụng biện pháp bảo đảm đó nếunghĩa vụ chính đã được thực hiện một cách đầy đủ

Thứ sáu, các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ được xác lập từ sự thỏathuận giữa các bên Các bên tự thỏa thuận về việc lựa chọn biện pháp bảo đảmnào để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ, đồng thời cách thức và toàn bộ nội dungcủa một biện pháp bảo đảm đều là kết quả của sự thỏa thuận giữa các bên

1.3 Tại sao phải bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng dân sự?

Việc các bên thoả thuận trước về các biện pháp bảo đảm thực hiện hợpđồng hay thực hiện các nghĩa vụ dân sự trước hết nhằm đảm bảo sự an toàn pháp

2

Trang 6

lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên có quyền khi bên kia không thựchiện hợp đồng hoặc thực hiện không đúng hợp đồng (vi phạm hợp đồng), giúp họ

có thể kiểm soát được hậu quả của việc không thực hiện hợp đồng hoặc thực hiệnkhông đúng hợp đồng Mặt khác, thoả thuận về các biện pháp bảo đảm ràng buộctrách nhiệm của các bên trong việc thực hiện hợp đồng sẽ giúp cho bên có nghĩa

vụ nâng cao hơn nữa trách nhiệm của mình trong việc thực hiện các nghĩa vụ củahợp đồng

2 Quy định hiện hành:

2.1 Quy định chung về các biện pháp bảo đảm:

2.1.1 Phạm vi nghĩa vụ được bảo vệ:

Phạm vi bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là phạm vi về nghĩa vụ mà bênbảo đảm cam kết trước bên nhận bảo đảm sẽ bảo đảm việc thực hiện, được quyđịnh tại điều 293 Bộ luật dân sự (BLDS) 2015

Nội dung của nghĩa vụ bao gồm nghĩa vụ gốc, nghĩa vụ trả lãi (nếu có),nghĩa vụ bồi thường thiệt hại (nếu có) Nghĩa vụ được bảo đảm có thể là nghĩa vụhiện tại (là nghĩa vụ mà giao dịch dân sự làm phát sinh nghĩa vụ đó được xác lậptrước hoặc vào thời điểm quan hệ bảo đảm được xác lập), có thể là nghĩa vụ trongtương lai (là nghĩa vụ dân sự mà giao dịch dân sự làm phát sinh nghĩa vụ đóđược xác lập sau khi giao dịch bảo đảm được giao kết), có thể là nghĩa vụ có điềukiện (là nghĩa vụ mà trong đó các bên các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật cóquy định về sự kiện là điều kiện thực hiện nghĩa vụ và chỉ khi sự kiện đó phátsinh thì bên có nghĩa vụ mới phải thực hiện nghĩa vụ đó) Phạm vi này có thể mộtphần hoặc toàn bộ tùy theo thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định khác Nếukhông có thỏa thuận hoặc pháp luật không có quy định khác thì mặc nhiên nghĩa

vụ dân sự được bảo đảm toàn bộ, kể cả nghĩa vụ trả lãi và bồi thường thiệt hại

3

Trang 7

2.1.1.1 Nghĩa vụ hình thành trong tương lai:

Nghĩa vụ hình thành trong tương lai là nghĩa vụ hình thành sau khi các bênxác lập biện pháp bảo đảm Trường hợp bảo đảm nghĩa vụ trong tương lai thìnghĩa vụ được hình thành trong thời hạn bảo đảm là nghĩa vụ được bảo đảm, trừtrường hợp có thỏa thuận khác Việc bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong tương lai

sẽ được áp dụng theo quy định tại điều 294 BLDS 2015

Cũng giống như các loại nghĩa vụ khác, đối với nghĩa vụ hình thành trongtương lai BLDS 2015 quy định theo hướng tôn trọng sự thỏa thuận tích cực củacác bên trong quan hệ dân sự bằng việc đặt quyền thỏa thuận của các bên trướcquy định pháp luật: “…các bên có quyền thỏa thuận cụ thể về phạm vi nghĩa vụđược bảo đảm và thời hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp phápluật có quy định khác” Để tạo thuận lợi cho các bên tham gia giao dịch bảo đảm

và tránh rủi ro cho các bên, khoản 2 của điều luật đã quy định khi nghĩa vụ trongtương lai được hình thành, các bên không phải xác lập lại biện pháp bảo đảm đốivới nghĩa vụ đó

2.1.1.2 Nghĩa vụ có điều kiện

Nghĩa vụ có điều kiện là loại nghĩa vụ do các bên thỏa thuận hoặc pháp luật

có quy định về điều kiện phát sinh hoặc điều kiện hủy bỏ nghĩa vụ.Trường hợpnghĩa vụ hình thành trong tương lai mà phát sinh đúng thời hạn thỏa thuận thìmới được bảo đảm Nếu nghĩa vụ phát sinh sau thời hạn thỏa thuận thì nghĩa vụkhông được bảo đảm

2.1.2 Tài sản bảo đảm:

2.1.2.1 Điều kiện để tài sản đảm bảo thực hiện nghĩa vụ:

Thứ nhất, tài sản bảo đảm vẫn phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm

và chỉ loại trừ hai biện pháp bảo đảm là cầm giữ và bảo lưu quyền sở hữu1 Điều

1 Khoản 1 điều 295 BLDS 2015

4

Trang 8

này được giải thích rằng, khi đưa tài sản trở thành đối tượng của các biện phápbảo đảm phải đảm bảo tài sản đó thuộc sở hữu của bên bảo đảm Quy định nàyloại bỏ phần nào đó rủi ro cho bên nhận bảo đảm

Thứ hai, tài sản có thể được mô tả chung nhưng phải xác định được.2 Vì tàisản bảo đảm có thể là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai nênluật dự liệu quy định tài sản có thể được mô tả chung nhưng phải xác định được

Mô tả chung tức là không thể cụ thể hóa loại tài sản đó, vì thực tế nó chưa hìnhthành hoặc chưa hình thành một cách đồng bộ nhưng phải xác định được – tức là

có cơ chế xử lý chính xác loại tài sản đó khi phát sinh vấn đề xử lý tài sản bảođảm

Thứ ba, giá trị của tài sản bảo đảm có thể lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn giátrị nghĩa vụ được bảo đảm.3 Thông thường giá trị tài sản bảo đảm phải lớn hơngiá trị nghĩa vụ được bảo đảm để khi xử lý tài sản bảo đảm thì số tiền thu được từviệc bán tài sản bảo đảm để thanh toán các nghĩa vụ tài chính khác như chi phíbảo quản, chi phí xử lý tài sản Tuy nhiên các bên có thể thỏa thuận giá trị tài sảnbảo đảm bằng hoặc nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ bảo đảm Trường hợp này nếu tài sản

bị xử lý thì bên nhận bảo đảm có thể chịu thiệt hại khi bên bảo đảm không còn tàisản khác để thanh toán

Thứ tư, tài sản bảo đảm có thể là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thànhtương tương lai.4 BLDS 2015 cho phép tài sản hình thành trong tương lai đượclàm tài sản bảo đảm Tài sản hình thành trong tương lai là tài sản thuộc sở hữucủa bên bảo đảm sau thời điểm nghĩa vụ được xác lập hoặc giao dịch bảo đảmđược giao kết

2 Khoản 2 điều 295 BLDS 2015

3 Khoản 3 điều 295 BLDS 2015

4 Khoản 4 điều 295 BLDS 2015

5

Trang 9

2.1.2.2 Một tài sản dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ

Căn cứ quy định theo điều 296 BLDS 2015 thì một tài sản có thể dùng đểbảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ nếu thỏa mãn các điều kiện: Thứ nhất, có sựđồng ý xác lập bằng văn bản các biện pháp bảo đảm đó từ các chủ thể của nhiềuquan hệ nghĩa vụ; Thứ hai, giá trị tài sản tại thời điểm xác lập giao dịch bảo đảmlớn hơn tổng giá trị các nghĩa vụ được bảo đảm

Thỏa thuận khác của các bên chủ thể: biện pháp bảo đảm chỉ là một trongcác cách thức pháp luật quy định để các chủ thể lựa chọn khi xác lập quan hệnghĩa vụ nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của mình hoặc đơn giản hóa quy trình giảiquyết nếu có tranh chấp Do đó, nếu các bên trong quan hệ nghĩa vụ không thỏathuận hoặc thỏa thuận áp dụng biện pháp bảo đảm có trái nguyên tắc nêu trên thìpháp luật vẫn tôn trọng và đảm bảo thực hiện

Khoản 3 điều này quy định rằng, khi dùng một tài sản để bảo đảm thựchiện nghĩa vụ mà khi phải xử lý tài sản bảo đảm đó do hành vi vi phạm, một trongcác quan hệ nghĩa vụ được bảo đảm, các quan hệ nghĩa vụ còn lại đều được coi là

đã đến hạn và tất cả các bên chủ thể đều được tham gia xử lý tài sản đó Trừtrường hợp có thỏa thuận áp dụng sự thay thế bởi một biện pháp bảo đảm khác từmột tài sản bảo đảm khác

2.1.3 Xử lý tài sản bảo đảm:

2.1.3.1 Các trường hợp xử lí tài sản bảo đảm:

Thứ nhất, đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụkhông thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.5 Nghĩa vụ được phát sinhtrên cơ sở các bên thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định, khi đến hạn thực hiệnnghĩa vụ mà bên có nghĩa vụ thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ sẽgây thiệt hại cho bên có quyền, vì vậy bên có quyền sẽ xử lý tài sản bảo đảm đểthanh toán nghĩa vụ

5 Khoản 1 điều 299 BLDS 2015

6

Trang 10

Thứ hai, bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm trước thờihạn do bên kia vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận hoặc theo quy định của luật.6

Khi xác lập nghĩa vụ các bên có thể thỏa thuận về thực hiện nghĩa vụ, có thỏathuận về điều kiện chấm dứt nghĩa vụ Bên có nghĩa vụ vi phạm điều kiện thỏathuận thì bên có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ trước thờihạn, nếu bên có nghĩa vụ không thực hiện thì bên có quyền xử lý tài sản

Thứ ba, trường hợp khác do các bên thỏa thuận hoặc luật có quy định.7

Ngoài các trường hợp xử lý tài sản trên các bên có quyền xử lý tài sản theo thỏathuận mà không phụ thuộc vào yếu tố vi phạm hoặc thời hạn của nghĩa vụ

2.1.3.2 Phương thức xử lí:

Theo quy định của pháp luật, có ba phương pháp để xử lý tài sản bảo đảm

cơ bản mà các bên trong hợp đồng có thể thỏa thuận đó là: bán tài sản bảo đảm,bên nhận bảo đảm nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiệnnghĩa vụ của bên bảo đảm, bên nhận bảo đảm nhận các khoản tiền hoặc tài sảnkhác từ người thứ ba trong trường hợp thế chấp quyền đòi nợ đối với bên thứ ba.Ngoài ra, các bên hoàn toàn có thể thỏa thuận bất kỳ một phương pháp xử lý tàisản bảo đảm khác

 Bán tài sản bảo đảm

Đây là phương pháp được áp dụng nhiều nhất trên thực tế trong việc xử lýtài sản bảo đảm Việc bán tài sản bảo đảm có thể được tiến hành trên một tronghai cơ sở là bán đấu giá hoặc bán riêng lẻ cho một hoặc một số người mua tài sảnbảo đảm không trên cơ sở đấu giá Tại khoản 1 và khoản 2 điều 58 Nghị định163/2006/NĐ-CP cũng có quy định Theo đó thì phương pháp bán đấu giá chỉ ápdụng trong trường hợp bắt buộc theo quy định của pháp luật hoặc khi các bênkhông có thỏa thuận hay không thỏa thuận được về phương thức xử lý tài sản Vì

6 Khoản 2 điều 299 BLDS 2015

7 Khoản 3 điều 299 BLDS 2015

7

Trang 11

vậy các bên có thể thỏa thuận áp dụng việc bán riêng lẻ trong tất cả các trườnghợp mà pháp luật không bắt buộc phải bán đấu giá.

Đối với bán đấu giá, đây là hoạt động phải được thực hiện theo đúng quyđịnh của pháp luật Hiện nay việc bán đấu giá tài sản bảo đảm phải được thựchiện thông qua một tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp Ngược lại, đối với việcbán riêng lẻ thì giao dịch bảo đảm không có quy định riêng về thủ tục hay mộtyêu cầu cụ thể nào

 Nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ

Phương pháp này có thể được hiểu là việc chuyển quyền sở hữu tài sản bảođảm từ bên bảo đảm sang cho bên nhận bảo đảm để thay thế cho việc thực hiệnnghĩa vụ của bên bảo đảm Điểm khác biệt giữa hai phương pháp bán tài sản bảođảm và nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ là liênquan đến bên nhận chuyển nhượng tài sản bảo đảm Với trường hợp bán tài sảnbảo đảm, bên nhận chuyển nhượng tài sản bảo đảm có thể là bất kỳ tổ chức, cánhân nào Ngược lại đối với trường hợp nhận chính tài sản bảo đảm để thay thếcho việc thực hiện nghĩa vụ thì bên nhận chuyển nhượng tài sản chính là bên nhậnbảo đảm

 Nhận các khoản tiền hoặc tài sản khác liên quan liên quan đến quyền đòi

về bản chất đây là việc chuyển nhượng quyền đòi nợ từ bên bảo đảm sang bênnhận bảo đảm và giá trị của quyền đòi nợ có thể bù trừ với giá trị của nghĩa vụbảo đảm

8

Trang 12

2.2 Các biện pháp đảm bảo thực hiện nghĩa vụ cụ thể:

Hiện nay, BLDS 2015 quy định cụ thể 9 biện pháp bảo đảm thực hiệnnghĩa vụ là: Cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lưuquyền sở hữu, bảo lãnh, tín chấp, cầm giữ tài sản, với tinh thần kế thừa và pháttriển từ BLDS 2005 Với mỗi biện pháp, pháp luật có những quy định riêng biệt

và đảm bảo tính rõ ràng, minh bạch, phù hợp với thực tiễn của Việt Nam, bảo vệđược quyền và lợi ích hợp pháp của các bên từ việc áp dụng các biện pháp bảođảm thực hiện nghĩa vụ

2.2.1 Cầm cố tài sản:

Theo quy định tại điều 309 BLDS 2015 thì “Cầm cố tài sản là việc một bêngiao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia để bảo đảm thực hiện nghĩavụ.” Nếu BLDS 2005 quy định cầm cố tài sản có hiệu lực từ thời điểm chuyểngiao tài sản thì đến BLDS 2015 đã sửa đổi thời điểm có hiệu lực là lúc hợp đồngcầm cố tài sản được giao kết, nếu các bên có thỏa thuận hoặc luật có quy địnhkhác thì thời điểm có hiệu lực sẽ theo thỏa thuận hoặc quy định khác của luật

Một điểm cần lưu ý về hiệu lực của hợp đồng nữa là “hiệu lực đối khángvới người thứ ba” Nội dung quy định này được hiểu là khi xác lập giao dịch bảođảm hợp pháp thì quyền, nghĩa vụ giữa các bên trong giao dịch không chỉ phátsinh đối với các chủ thể trực tiếp tham gia giao dịch đó mà trong những trườnghợp luật định còn phát sinh hiệu lực và có giá trị pháp lý đối với cả người thứ bakhông phải là chủ thể trong giao dịch bảo đảm; thời điểm phát sinh hiệu lực kể từkhi đăng ký biện pháp bảo đảm hoặc bên nhận bảo đảm nắm giữ hoặc chiếm giữtài sản bảo đảm

Tại khoản 2 điều 310 BLDS 2015 có quy định “Trường hợp bất động sản làđối tượng của cầm cố theo quy định của luật thì việc cầm cố bất động sản có hiệulực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký.” Ta có thể thấy, đây làmột điểm mới được thay đổi trong BLDS 2015 so với các luật cũ Quyền và nghĩa

9

Trang 13

vụ của các bên được quy định rõ ràng và cụ thể đảm bảo được quyền và lợi íchchính đáng cho các bên, đáp ứng yêu cầu bảo vệ quyền lợi của các bên khi thamgia hợp đồng cầm cố tài sản.

Khi việc cầm cố tài sản chấm dứt theo quy định của pháp luật hoặc theothỏa thuận của các bên thì tài sản cầm cố, giấy tờ liên quan đến tài sản cầm cốđược trả lại cho bên cầm cố Hoa lợi, lợi tức thu được từ tài sản cầm cố cũngđược trả lại cho bên cầm cố, trừ trường hợp có thoả thuận khác

2.2.2 Thế chấp:

Theo quy định tại điều 317 của BLDS 2015 thì “Thế chấp tài sản là việcmột bên dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ vàkhông giao tài sản cho bên kia” Là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sựthuộc vật quyền, trong đó không có sự chuyển giao tài sản mà chỉ giao các giấy tờchứng minh tình trạng pháp lý của tài sản thế chấp (chuyển giao dưới dạng giấytờ)

Đối tượng của thế chấp tài sản theo quy định của BLDS 2015 là bất độngsản, động sản, quyền sử dụng đất và tài sản hình thành trong tương lai Tại điều

318 BLDS 2015 bổ sung điều khoản loại trừ trong trường hợp thế chấp toàn bộbất động sản, động sản có vật phụ Theo đó, trường hợp thế chấp toàn bộ bất độngsản, động sản có vật phụ thì vật phụ của bất động sản, động sản đó cũng thuộc tàisản thế chấp, trừ trường hợp có thỏa thuận khác; trường hợp thế chấp quyền sửdụng đất mà tài sản gắn liền với đất thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp thì tàisản gắn liền với đất cũng thuộc tài sản thế chấp, trừ trường hợp có thỏa thuậnkhác Quy định này hoàn toàn khác với BLDS 2005, chỉ khi có thỏa thuận tài sảngắn liền với đất mới được xem là tài sản thế chấp.8

8Trịnh Duy Tám (2016), Quy định mới của Bộ luật Dân sự năm 2015 về thế chấp tài sản,

http://vksnd.vinhphuc.gov.vn/UserControls/Publishing/News/BinhLuan/pFormPrint.aspx?UrlListProcess=/ content/tintuc/lists/News&ItemID=30748, truy cập lần cuối ngày 28/12/2017.

10

Trang 14

Việc thế chấp tài sản phải được lập thành văn bản, có thể lập thành văn bảnriêng hoặc ghi trong hợp đồng chính Nội dung của văn bản thế chấp phải phùhợp với hợp đồng chính Văn bản thế chấp phải có công chứng, chứng thực theoquy định của pháp luật.

Ngoài ra, BLDS 2015 còn quy định, bên thế chấp không được bán, thaythế, trao đổi, tặng cho tài sản thế chấp, trừ một số trường hợp luật định Có thếthấy rằng, cầm cố và thế chấp là hai biện pháp bảo đảm bằng tài sản có nhiều nộidung pháp lý giống nhau, nó đều phải có tài sản bảo đảm và đều có một điểm mớiđược quy định trong BLDS 2015 đó là về trường hợp làm phát sinh hiệu lực đốikháng với người thứ ba Mặc dù có một vài điểm giống nhau nhưng trừ một sốquy định liên quan đến đăng kí giao dịch bảo đảm, quyền và nghĩa vụ các bên

2.2.3 Bảo lãnh :

Bảo lãnh được quy định tại khoản 1 điều 335 BLDS 2015: “Bảo lãnh làviệc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sauđây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sauđây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bênđược bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.”

Bảo lãnh xuất hiện thêm một chủ thể thứ ba ngoài bên có quyền và bên cónghĩa vụ, đó là bên bảo lãnh Trong quan hệ bảo lãnh, tính chất bảo đảm được thểhiện thông qua sự cam kết thực hiện nghĩa vụ thay của người thứ ba đối với bên

có quyền Thực chất trong quan hệ bảo lãnh chỉ có giữa hai bên đó là bên bảolãnh và bên nhận bảo lãnh, còn bên được bảo lãnh có thể được biết hoặc khôngbiết việc bảo lãnh này

Bảo lãnh có bản chất là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự cótính chất đối nhân (quan hệ trái quyền): người bảo lãnh cam kết thực hiện nghĩa

vụ thay khi người được bão lãnh thực hiện không đúng hoặc không thực hiện

11

Trang 15

nghĩa vụ Và bảo lãnh là việc có tính dự phòng, nhằm đảm bảo hợp đồng chính,

dễ hiểu nó là một hợp đồng phụ luôn tồn tại cùng với một hợp đồng chính

Dễ dàng nhìn thấy rằng, quy định của pháp luật hiện hành đang có xuhướng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên nhận bảo lãnh cũng như nhữngquy định để đảm bảo nghĩa vụ của bên nhận bảo lãnh thực hiện với bên được bảolãnh Ngoài ra, pháp luật tôn trọng sự thỏa thuận của các bên bằng cách hủy bỏquy định về hình thức bảo lãnh, nhưng cũng chính vì thế mà làm phát sinh nhiềuvấn đề bất cập, chẳng hạn như nếu bảo lãnh bằng lời nói, vậy khi quyền và lợi íchkhông được đảm bảo thì lấy gì để chứng minh, hay là ai sẽ là người đứng ra giảiquyết vấn đề đó?

2.2.4 Bảo lưu quyền sở hữu và cầm giữ tài sản:

Bảo lưu quyền sở hữu và cầm giữ tài sản là hai biện pháp bảo đảm dân sựđược quy định trong BLDS 2015 đã có nhiều sự thay đổi lớn và rõ rệt hơn so vớiBLDS 2005

 Bảo lưu quyền sở hữu

Chỉ đến BLDS 2015, bảo lưu quyền sở hữu mới được quy định rõ rànghơn, vì trong BLDS 2005, biện pháp bảo đảm dân sự này chỉ được quy định như

là một điều khoản trong hợp đồng mua bán tài sản

Tại khoản 1 điều 331 BLDS 2015: “Trong hợp đồng mua bán, quyền sởhữu tài sản có thể được bên bán bảo lưu cho đến khi nghĩa vụ thanh toán đượcthực hiện đầy đủ” Có thể thấy, biện pháp bảo đảm quyền sở hữu này chỉ áp dụngđối với hợp đồng mua bán tài sản Khác với hầu hết các biện pháp bảo đảm cònlại, bảo lưu quyền sở hữu có đặc điểm chỉ chuyển giao quyền sở hữu cho bên muakhi và chỉ khi bên mua đã hoàn thành xong tất cả trách nhiệm thanh toán, trướcthời điểm đó, người bán vẫn sẽ nắm giữ tài sản

12

Trang 16

Về hình thức xác lập, “bảo lưu quyền sở hữu tài sản phải được lập thànhvăn bản riêng hoặc được ghi trong hợp đồng mua bán”9 Đây là quy định mangtính cần thiết, bởi nó có liên quan đến việc chuyển giao quyền tài sản khi thựchiện nghĩa vụ, đảm bảo cho việc thực hiện công việc đã giao kết giữa các bên.Trong trường hợp khi hợp đồng mua bán được xác lập bằng hình thức không phải

là văn bản, nhưng nếu có điều khoản yêu cầu bảo lưu quyền sở hữu thì buộc phảichuyển hình thức hợp đồng sang hình thức bằng văn bản, đây chính là yêu cầu bắtbuộc đối với biện pháp bảo đảm này

Biện pháp bảo đảm quyền sở hữu phải được thực hiện trước khi các bênthực hiện quyền tài sản nhằm đảm bảo quyền lợi và buộc các bên hoàn thànhnghĩa vụ Kể từ thời điểm đăng ký, bảo lưu quyền sở hữu phát sinh hiệu lực đốikháng với bên thứ ba10 Biện pháp bảo lưu này không yêu cầu bắt buộc phải đăng

ký về hình thức, vì đó chỉ là cơ sở phát sinh giá trị đối kháng với bên thứ ba tronggiao dịch

Bảo lưu quyền sở hữu là bao gồm quyền và nghĩa vụ của các bên, khi bênmua không hoàn thành nghĩa vụ thanh toán cho bên bán theo thoả thuận thì bênbán có quyền đòi lại tài sản11 Điều đó yêu cầu người mua phải hoàn thành nghĩa

vụ thanh toán, sau đó bên bán sẽ có nghĩa vụ tiến hành chuyển giao quyền sở hữucho bên mua Trong trường hợp nếu bên mua không hoàn thành nghĩa vụ thanhtoán, đương nhiên bên bán có quyền giữ lại tài sản bảo lưu quyền sở hữu để đảmbảo quyền lợi cho chính mình

Trang 17

của hợp đồng song vụ được chiếm giữ tài sản trong trường hợp bên có nghĩa vụkhông thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ”.

Từ định nghĩa trên, có thể thấy quy định về cầm giữ tài sản áp dụng vớiphạm vi rộng về đối tượng tài sản được cầm giữ, các loại nghĩa vụ phát sinh khithực hiện hợp đồng song vụ Nếu như các biện pháp bảo đảm bảo lãnh, cầm cố,thế chấp được thực hiện khi các bên có thoả thuận thì cầm giữ tài sản là biện phápbảo đảm duy nhất được áp dụng mà không dựa trên sự thoả thuận của các bên liênquan; pháp luật là cơ sở trực tiếp phát sinh quyền cầm giữ tài sản Tài sản đượcxem là đối tượng được cầm giữ, bao gồm tất cả các loại tài sản, kể cả tài sản hìnhthành trong tương lai Nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng song vụ áp dụng với mọiloại nghĩa vụ phát sinh Ngoài quan hệ giữa người cầm giữ tài sản và người đượccầm giữ tài sản, trong hợp đồng đôi khi còn phát sinh quan hệ với chủ thể thứ ba;trong quan hệ này, chủ thể thứ ba sẽ không cần quan tâm đến tài sản thuộc quyền

sở hữu hay quyền sử dụng của bên nào, chỉ cần điều kiện tài sản đó đang là đốitượng của hợp đồng song vụ, thì đó chính là tài sản cầm giữ

Căn cứ làm phát sinh hiệu lực đối kháng với bên thứ ba được xác địnhbằng việc cầm giữ tài sản, nghĩa là quyền cầm giữ tài sản thuộc về bền cầm giữ

để có thể yêu cầu bên còn lại thực hiện quyền của mình Song song với với quyền

là các nghĩa vụ có liên quan đến việc cầm giữ Về quyền, bên cầm giữ có quyềnyêu cầu bên còn lại thực hiện nghĩa vụ thanh toán, nghĩa vụ thực hiện các việctrong hợp đồng,…; về nghĩa vụ, bên cầm giữ có nghĩa vụ giữ gìn, bảo quản tàisản do mình cầm giữ, không được sử dụng sai mục đích của việc cầm giữ tài sản.Điều đó đặt ra một sự cân nhắc cho bên cầm giữ tài sản trước khi thực hiện Vềtrường hợp chấm dứt việc cầm giữ bao gồm: “Bên cầm giữ không còn chiếm giữtài sản trên thực tế, các bên thỏa thuận sử dụng biện pháp bảo đảm khác để thaythế cho cầm giữ, nghĩa vụ đã được thực hiện xong, tài sản cầm giữ không còn,theo thỏa thuận của các bên”.12

12 Điều 350 BLDS 2015

14

Trang 18

Một vấn đề thực tiễn xảy ra, đó là có phải biện pháp cầm giữ tài sản đềuđược áp dụng trong hợp đồng song vụ? Nếu căn cứ theo quy định được địnhnghĩa trong điều 346 BLDS 2015 thì có thể là vậy Nhưng nếu cách hiểu này khi

áp dụng vào thực tế thì có lẽ vẫn chưa thực sự ổn Cụ thể như quy định đối vớihợp đồng dịch vụ: “Hợp đồng dịch vụ là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bêncung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên sử dụng dịch vụ, bên sử dụng dịch

vụ phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ”.13 Trong loại hợp đồng này,bên thực hiên dịch vụ lại không cầm giữ tài sản; như vậy đặt ra câu hỏi, quy địnhcủa pháp luật có nên giới hạn lại phạm vi của các loại hợp đồng nào áp dụng biệnpháp cầm giữ?

Dưới đây là sự so sánh giữa cầm giữ và cầm cố tài sản nhằm nêu bật lên sựkhác nhau giữa hai biện pháp bảo đảm dân sự này:

Giống nhau: đều là biện pháp bảo đảm dân sự của bên có nghĩa vụ đối vớibên có quyền

Khác nhau:

Cầm giữ tài sản Cầm cố tài sản

tài sản trong trường hợpbên có nghĩa vụ khôngthực hiện hoặc thực hiệnkhông đúng nghĩa vụ

Là việc bên cầm cốdùng tài sản của mìnhchuyển sang bên chovay, để đảm bảo thựchiện nghĩa vụ

Thời điểm phát sinh

hiệu lực

Khi đến thời hạn mà bên

có nghĩa vụ không thựchiện hoặc thực hiệnkhông đúng nghĩa vụ

Kể từ thời điểm giaokết, trừ trường hợp cácbên có thoả thuận khác

Quyền sở hữu Có thể không thuộc Thuộc quyền sở hữu của

13 Điều 513 BLDS 2015

15

Trang 19

quyền sở hữu của bên cónghĩa vụ

bên thứ ba

Bên có quyền có thểgiao tài sản được cầmgiữ cho bên thứ ba màkhông cần sự đồng ýcủa bên bị cầm giữ

Các bên phải thoả thuận

Khi biện pháp bảo đảm

chấm dứt

Bên cầm giữ không cóquyền xử lý tài sản,được thu hoa lợi, lợi tức

Xử lý tài sản theo thoảthuận, không đượchưởng hoa lợi, lợi tức

14 Khoản 1 điều 328 BLDS 2015

16

Ngày đăng: 29/10/2018, 10:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w