1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về dịch vụ kiểm toán ở Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn

87 137 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 504 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI NÓI ĐẦU 1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài Dịch vụ kiểm toán là một hoạt động đặc trưng của kinh tế thị trường. Chủ trương đa dạng hoá các loại hình sở hữu và đa phương hoá đầu tư đã đặt ra những đòi hỏi cấp thiết về dịch vụ kiểm toán. Cho đến nay, trên thế giới đã có hàng trăm ngàn tổ chức kiểm toán độc lập hoạt động trong lĩnh vực kiểm toán và tư vấn tài chính. Đây là các tổ chức kinh doanh dịch vụ kiểm toán và tư vấn theo yêu cầu của khách hàng. Ở Việt Nam, trước năm 1976 đã có DNKT độc lập của nước ngoài và các giám định viên kế toán hành nghề độc lập ở các tỉnh và thành phố phía Nam. Tuy nhiên sự hiện diện chính thức của kiểm toán độc lập Việt Nam được đánh dấu bằng sự ra đời của Công ty Kiểm toán Việt Nam (VACO) và Công ty Dịch vụ kế toán, kiểm toán và tư vấn tài chính (AASC) vào ngày 13/5/1991(do Bộ Tài chính thành lập). Theo Công văn số 521/VACPA ngày 21/11/2008 của Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam có gần 160 DNKT độc lập với 5.000 nhân viên, cung cấp 20 loại dịch vụ khác nhau cho đến nay Việt Nam đã có 218 DNKT độc lập với 7.000 nhân viên và cung cấp rất nhiều các dịch vụ trên cả nước như Kiểm toán, thuế, tư vấn tài chính…. Sự ra đời của các DNKT độc lập đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong việc cung cấp dịch vụ kiểm toán, tư vấn cho những người quan tâm trong cơ chế kinh tế mới. Việc thị trường chứng khoán Việt Nam hình thành và phát triển nhanh chóng, yêu cầu phải minh bạch hoá thông tin tài chính của các doanh nghiệp khi niêm yết lên sàn, khi đăng ký trở thành công ty đại chúng càng đòi hỏi vai trò của các DNKT độc lập phải chuyên nghiệp theo chuẩn quốc tế. Sự kiện Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đã ảnh hưởng tích cực đến thị trường cung cấp dịch vụ kiểm toán trong nước. Với cam kết mở cửa thị trường, thị trường dịch vụ kiểm toán Việt Nam hứa hẹn sẽ phát triển nhanh, mạnh và đi cùng với đó là sự cạnh tranh quyết liệt không chỉ giữa các DNKT trong nước mà giữa cả các DNKT trong nước với các DNKT nước ngoài với nhau. Thực tế cho thấy, sự hình thành và phát triển một thị trường dịch vụ kiểm toán không chỉ đòi hỏi ở sự đồng thuận chuẩn mực chuyên môn và năng lực chuyên gia kiểm toán mà còn phụ thuộc rất nhiều vào việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về kiểm toán. Vì lẽ đó, cần phải nghiên cứu pháp luật điều chỉnh thị trường dịch vụ kiểm toán để tạo lập một thị trường cạnh tranh lành mạnh đa dạng về sản phẩm; và từ đó, đưa ra một số biện pháp kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật kiểm toán, phát triển thị trường dịch vụ kiểm toán Việt Nam theo hướng đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Các công trình nghiên cứu về kiểm toán độc lập từ trước đến nay hầu hết đều tập trung nghiên cứu ở góc độ nghiệp vụ kiểm toán, nhằm xây dựng và hoàn thiện các quy trình kiểm toán, nghiệp vụ kiểm toán. Một vài công trình nghiên cứu đề cập đến khía cạnh pháp lý của dịch vụ kiểm toán và hoạt động cung cấp dịch vụ kiểm toán như: - Bài viết của Thạc sĩ Nguyễn Thị Hồng Thuý trên Tạp chí Công nghiệp số tháng 5 năm 2005: “Một số vấn đề về kiểm soát chất lượng hoạt động của kiểm toán độc lập ở Việt Nam”. Bài viết đã đưa ra được những giải pháp thực hiện từ phía công ty kiểm toán và từ phía Nhà nước nhằm nâng cao chất lượng hoạt động cung cấp dịch vụ kiểm toán. - Kỷ yếu Hội thảo ACCA (Hiệp hội kế toán công chứng Anh - Việt Nam) ngày 25/9/2007 của Hội kế toán và Kiểm toán Việt Nam: “Giải pháp đưa kế toán và kiểm toán Việt Nam ngang tầm khu vực và quốc tế” đã giới thiệu những đặc điểm riêng của hoạt động kiểm toán độc lập ở Việt Nam và phân tích những khó khăn, thách thức đối với kiểm toán Việt Nam, đồng thời đưa ra được một số biện pháp nhằm phát triển dịch vụ kiểm toán ở Việt Nam. - Bài viết của Tiến sĩ Trần Thị Giang Tân, giảng viên Đại học Kinh tế thành phố Hồ CHí Minh trên Tạp chí Kế toán số tháng 9/2008 (10/9/2008): “Đạo đức nghề nghiệp từ lý luận đến thực tiễn” đã phân tích, đánh giá vai trò của các chuẩn mực kiểm toán, đặc biệt là chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, từ đó đưa ra giải pháp xây dựng một cơ chế để giám sát việc tuân thủ đạo đức nghề nghiệp cũng như xử lý các vi phạm đạo đức nghề nghiệp thông qua tham khảo kinh nghiệm của các quốc gia khác. Có thể khẳng định đề tài: “Pháp luật về dịch vụ kiểm toán ở Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn” là một đề tài đã từng được nghiên cứu xong đề tài này sẽ đi sâu và cập nhật những nội dung mới nhất, đồng thời không trùng lặp cách tiếp cận với các công trình khoa học đã được công bố trước đây. 3. Phạm vi nghiên cứu Luận văn nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về hệ thống pháp luật về dịch vụ kiểm toán của Việt Nam; chủ yếu đi sâu nghiên cứu những quy định pháp lý về hoạt động cung cấp dịch vụ kiểm toán, về DNKT độc lập cũng như các dịch vụ kiểm toán mà nó cung cấp, đồng thời có tham khảo pháp luật về kiểm toán độc lập của một số nước trên thế giới. 4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích của đề tài là nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về pháp luật về dịch vụ kiểm toán; đánh giá được những ưu điểm, tồn tại, nguyên nhân của tồn tại trong xây dựng và thi hành pháp luật về dịch vụ kiểm toán ở Việt Nam; trên cơ sở đánh giá, phân tích đưa ra phương hướng, giải pháp góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về dịch vụ kiểm toán. Để đạt mục đích trên, luận văn đặt ra và giải quyết các nhiệm vụ sau: - Làm rõ bản chất của dịch vụ kiểm toán; vai trò của pháp luật về dịch vụ kiểm toán đối với nền kinh tế thị trường. - Chỉ rõ những điểm hạn chế, bất cập trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành về dịch vụ kiểm toán. - Đưa ra một số giải pháp hoàn thiện và đảm bảo thực thi có hiệu quả pháp luật về dịch vụ kiểm toán ở Việt Nam. 5. Phương pháp nghiên cứu Đề tài nghiên cứu được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong phát triển các dịch vụ thương mại. Đồng thời, quá trình nghiên cứu đề tài còn sử dụng một số phương pháp cụ thể như: phương pháp nghiên cứu tổng hợp, phân tích, khảo sát, thống kê, hệ thống hoá, mô hình hoá, so sánh… 6. Cơ cấu luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương: - Chương 1: Một số vấn đề lý luận về dịch vụ kiểm toán và pháp luật về dịch vụ kiểm toán. - Chương 2: Thực trạng pháp luật về dịch vụ kiểm toán ở Việt Nam. - Chương 3: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện và đảm bảo thực thi có hiệu quả pháp luật về dịch vụ kiểm toán ở Việt Nam.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI -

LUẬN VĂN THẠC SĨ

PHÁP LUẬT VỀ DỊCH VỤ KIỂM TOÁN Ở

VIỆT NAM - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận văn này là công trình nghiên cứu khoa họcđộc lập của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và cónguồn gốc rõ ràng

Tác giả luận văn

Trịnh Minh Huân

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Luận văn được thực hiện tại Khoa Sau đại học – Viện Đại học mở HàNội Để hoàn thành được luận văn này tôi đã nhận được sự động viên, giúp đỡcủa rất nhiều cá nhân và tập thể

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Đồng Ngọc Ba

đã hướng dẫn tôi thực hiện luận văn của mình

Xin được cùng bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy, cô giáo đãgiảng dạy cho chương trình Cao học Luật kinh tế Khóa 2013-2015, nhữngngười đã đem lại cho tôi những kiến thức vô cùng có ích trong những nămhọc vừa qua

Tôi cũng xin gửi lời cám ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, lãnh đạoKhoa Sau đại học - Viện Đại học mở Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi chotôi trong quá trình học tập

Cuối cùng tôi xin gửi lời cám ơn đến gia đình, bạn bè, những người

đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện đềtài luận văn của mình

Tác giả luận văn

Trịnh Minh Huân

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG BIỂU

LỜI NÓI ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ KIỂM TOÁN VÀ PHÁP LUẬT VỀ DỊCH VỤ KIỂM TOÁN 5

1.1 Khái quát về dịch vụ kiểm toán 5

1.1.1 Khái niệm dịch vụ kiểm toán 5

1.1.2 Phân biệt dịch vụ kiểm toán với hoạt động kiểm toán 7

1.1.3 Phân biệt hoạt động kiểm toán độc lập với hoạt động kiểm toán nhà nước và hoạt động kiểm toán nội bộ 8

1.1.4 Sự cần thiết và quá trình hình thành kiểm toán độc lập ở Việt Nam 12

1.1.5 Vai trò của dịch vụ kiểm toán đối với việc hình thành thị trường dịch vụ thương mại ở Việt Nam 16

1.2 Khái quát pháp luật về dịch vụ kiểm toán ở Việt Nam 18

1.2.1 Khái niệm và vai trò của pháp luật về dịch vụ kiểm toán 18

1.2.2 Những nội dung cơ bản của pháp luật về dịch vụ kiểm toán 21

1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự điều chỉnh pháp luật về dịch vụ kiểm toán 22

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ DỊCH VỤ KIỂM TOÁN Ở VIỆT NAM 27

2.1 Nội dung của pháp luật hiện hành về dịch vụ kiểm toán 27

2.1.1 Các quy định về doanh nghiệp kiểm toán 27

2.1.2 Các quy định về kiểm toán viên và tổ chức nghề nghiệp kiểm toán 31

2.1.3 Các quy định về báo cáo kiểm toán, hợp đồng dịch vụ kiểm toán 39

Trang 5

2.2 Thực trạng thi hành pháp luật về dịch vụ kiểm toán ở Việt Nam 45

2.2.1 Những thành công trong thi hành pháp luật về dịch vụ kiểm toán 45

2.2.2 Những vướng mắc, bất cập và nguyên nhân trong thực thi pháp luật về dịch vụ kiểm toán 52

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ ĐẢM BẢO THỰC THI CÓ HIỆU QUẢ PHÁP LUẬT VỀ DỊCH VỤ KIỂM TOÁN Ở VIỆT NAM 64

3.1 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về dịch vụ kiểm toán 64

3.2 Một số giải pháp đảm bảo thực thi có hiệu quả pháp luật về dịch vụ kiểm toán ở Việt Nam 71

3.2.1 Nâng cao năng lực doanh nghiệp kiểm toán 71

3.2.2 Đổi mới chương trình, nội dung, phương thức và nâng cao chất lượng đào tạo, đạo đức hành nghề của kiểm toán viên 73

3.2.3 Tăng cường vai trò và chất lượng hoạt động của tổ chức nghề nghiệp 76

KẾT LUẬN 78

TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Tổng hợp các thông tin chủ yếu 46Bảng 2.2: Một số công ty là thành viên của các hãng kiểm toán quốc tế 49

Trang 7

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Dịch vụ kiểm toán là một hoạt động đặc trưng của kinh tế thị trường.Chủ trương đa dạng hoá các loại hình sở hữu và đa phương hoá đầu tư đã đặt

ra những đòi hỏi cấp thiết về dịch vụ kiểm toán

Cho đến nay, trên thế giới đã có hàng trăm ngàn tổ chức kiểm toán độclập hoạt động trong lĩnh vực kiểm toán và tư vấn tài chính Đây là các tổ chứckinh doanh dịch vụ kiểm toán và tư vấn theo yêu cầu của khách hàng Ở ViệtNam, trước năm 1976 đã có DNKT độc lập của nước ngoài và các giám địnhviên kế toán hành nghề độc lập ở các tỉnh và thành phố phía Nam Tuy nhiên

sự hiện diện chính thức của kiểm toán độc lập Việt Nam được đánh dấu bằng

sự ra đời của Công ty Kiểm toán Việt Nam (VACO) và Công ty Dịch vụ kếtoán, kiểm toán và tư vấn tài chính (AASC) vào ngày 13/5/1991(do Bộ Tàichính thành lập) Theo Công văn số 521/VACPA ngày 21/11/2008 của HộiKiểm toán viên hành nghề Việt Nam có gần 160 DNKT độc lập với 5.000nhân viên, cung cấp 20 loại dịch vụ khác nhau cho đến nay Việt Nam đã có

218 DNKT độc lập với 7.000 nhân viên và cung cấp rất nhiều các dịch vụ trên

cả nước như Kiểm toán, thuế, tư vấn tài chính…

Sự ra đời của các DNKT độc lập đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọngtrong việc cung cấp dịch vụ kiểm toán, tư vấn cho những người quan tâmtrong cơ chế kinh tế mới Việc thị trường chứng khoán Việt Nam hình thành

và phát triển nhanh chóng, yêu cầu phải minh bạch hoá thông tin tài chính củacác doanh nghiệp khi niêm yết lên sàn, khi đăng ký trở thành công ty đạichúng càng đòi hỏi vai trò của các DNKT độc lập phải chuyên nghiệp theochuẩn quốc tế Sự kiện Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức

Trang 8

Thương mại thế giới (WTO) đã ảnh hưởng tích cực đến thị trường cung cấpdịch vụ kiểm toán trong nước Với cam kết mở cửa thị trường, thị trường dịch

vụ kiểm toán Việt Nam hứa hẹn sẽ phát triển nhanh, mạnh và đi cùng với đó

là sự cạnh tranh quyết liệt không chỉ giữa các DNKT trong nước mà giữa cảcác DNKT trong nước với các DNKT nước ngoài với nhau

Thực tế cho thấy, sự hình thành và phát triển một thị trường dịch vụkiểm toán không chỉ đòi hỏi ở sự đồng thuận chuẩn mực chuyên môn và nănglực chuyên gia kiểm toán mà còn phụ thuộc rất nhiều vào việc hoàn thiện hệthống pháp luật về kiểm toán Vì lẽ đó, cần phải nghiên cứu pháp luật điềuchỉnh thị trường dịch vụ kiểm toán để tạo lập một thị trường cạnh tranh lànhmạnh đa dạng về sản phẩm; và từ đó, đưa ra một số biện pháp kiến nghị nhằmhoàn thiện hệ thống pháp luật kiểm toán, phát triển thị trường dịch vụ kiểmtoán Việt Nam theo hướng đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Các công trình nghiên cứu về kiểm toán độc lập từ trước đến nay hầu hếtđều tập trung nghiên cứu ở góc độ nghiệp vụ kiểm toán, nhằm xây dựng vàhoàn thiện các quy trình kiểm toán, nghiệp vụ kiểm toán Một vài công trìnhnghiên cứu đề cập đến khía cạnh pháp lý của dịch vụ kiểm toán và hoạt độngcung cấp dịch vụ kiểm toán như:

- Bài viết của Thạc sĩ Nguyễn Thị Hồng Thuý trên Tạp chí Công nghiệp

số tháng 5 năm 2005: “Một số vấn đề về kiểm soát chất lượng hoạt động củakiểm toán độc lập ở Việt Nam” Bài viết đã đưa ra được những giải pháp thựchiện từ phía công ty kiểm toán và từ phía Nhà nước nhằm nâng cao chấtlượng hoạt động cung cấp dịch vụ kiểm toán

- Kỷ yếu Hội thảo ACCA (Hiệp hội kế toán công chứng Anh - ViệtNam) ngày 25/9/2007 của Hội kế toán và Kiểm toán Việt Nam: “Giải pháp

Trang 9

đưa kế toán và kiểm toán Việt Nam ngang tầm khu vực và quốc tế” đã giớithiệu những đặc điểm riêng của hoạt động kiểm toán độc lập ở Việt Nam

và phân tích những khó khăn, thách thức đối với kiểm toán Việt Nam, đồngthời đưa ra được một số biện pháp nhằm phát triển dịch vụ kiểm toán ởViệt Nam

- Bài viết của Tiến sĩ Trần Thị Giang Tân, giảng viên Đại học Kinh tếthành phố Hồ CHí Minh trên Tạp chí Kế toán số tháng 9/2008 (10/9/2008):

“Đạo đức nghề nghiệp từ lý luận đến thực tiễn” đã phân tích, đánh giá vai tròcủa các chuẩn mực kiểm toán, đặc biệt là chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, từ

đó đưa ra giải pháp xây dựng một cơ chế để giám sát việc tuân thủ đạo đứcnghề nghiệp cũng như xử lý các vi phạm đạo đức nghề nghiệp thông qua thamkhảo kinh nghiệm của các quốc gia khác

Có thể khẳng định đề tài: “Pháp luật về dịch vụ kiểm toán ở Việt Nam

-Những vấn đề lý luận và thực tiễn” là một đề tài đã từng được nghiên cứu

xong đề tài này sẽ đi sâu và cập nhật những nội dung mới nhất, đồng thờikhông trùng lặp cách tiếp cận với các công trình khoa học đã được công bốtrước đây

3 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về hệ thống phápluật về dịch vụ kiểm toán của Việt Nam; chủ yếu đi sâu nghiên cứu nhữngquy định pháp lý về hoạt động cung cấp dịch vụ kiểm toán, về DNKT độc lậpcũng như các dịch vụ kiểm toán mà nó cung cấp, đồng thời có tham khảopháp luật về kiểm toán độc lập của một số nước trên thế giới

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của đề tài là nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn vềpháp luật về dịch vụ kiểm toán; đánh giá được những ưu điểm, tồn tại, nguyên

Trang 10

nhân của tồn tại trong xây dựng và thi hành pháp luật về dịch vụ kiểm toán ởViệt Nam; trên cơ sở đánh giá, phân tích đưa ra phương hướng, giải pháp gópphần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về dịch vụ kiểm toán.

Để đạt mục đích trên, luận văn đặt ra và giải quyết các nhiệm vụ sau:

- Làm rõ bản chất của dịch vụ kiểm toán; vai trò của pháp luật về dịch vụkiểm toán đối với nền kinh tế thị trường

- Chỉ rõ những điểm hạn chế, bất cập trong hệ thống pháp luật Việt Namhiện hành về dịch vụ kiểm toán

- Đưa ra một số giải pháp hoàn thiện và đảm bảo thực thi có hiệu quảpháp luật về dịch vụ kiểm toán ở Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận củachủ nghĩa Mác-Lênin về phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, quanđiểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong phát triển các dịch vụ thươngmại Đồng thời, quá trình nghiên cứu đề tài còn sử dụng một số phương pháp

cụ thể như: phương pháp nghiên cứu tổng hợp, phân tích, khảo sát, thống kê,

hệ thống hoá, mô hình hoá, so sánh…

6 Cơ cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungcủa luận văn gồm 3 chương:

- Chương 1: Một số vấn đề lý luận về dịch vụ kiểm toán và pháp luật về dịch vụ kiểm toán

- Chương 2: Thực trạng pháp luật về dịch vụ kiểm toán ở Việt Nam

- Chương 3: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện và đảm bảo thực thi cóhiệu quả pháp luật về dịch vụ kiểm toán ở Việt Nam

Trang 11

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ KIỂM TOÁN VÀ

PHÁP LUẬT VỀ DỊCH VỤ KIỂM TOÁN

1.1 Khái quát về dịch vụ kiểm toán

1.1.1 Khái niệm dịch vụ kiểm toán

Khái niệm kiểm toán đã xuất hiện khá lâu đời nhưng cho đến nay vẫncòn có những cách hiểu khác nhau, đôi khi chưa có sự đồng nhất: Vương

quốc Anh đã đưa ra khái niệm: “Kiểm toán là sự kiểm tra độc lập và là sự

bày tỏ ý kiến về những bản khai tài chính của một xí nghiệp do một kiểm toán viên được bổ nhiệm để thực hiện những công việc đó theo đúng với bất kỳ nghĩa vụ pháp định có liên quan”[1, tr.30]; Với khái niệm này, các

nhà khoa học ở Anh quan niệm kiểm toán là sự kiểm tra độc lập và bày tỏ ýkiến về bản khai tài chính của kiểm toán viên theo nghĩa vụ pháp định Hoa

Kỳ lại quan niệm: “Kiểm toán là một quá trình mà qua đó một người độc

lập, có nghiệp vụ tập hợp và đánh giá rõ ràng về một thông tin có thể lượng hoá có liên quan đến một thực thể kinh tế riêng biệt nhằm mục đích xác định và báo cáo mức độ phù hợp giữa thông tin có thể lượng hoá với những tiêu chuẩn đã được thiết lập” [1, tr.30-31]; các nhà khoa học về

kiểm toán Hoa Kỳ cũng khẳng định sự kiểm tra độc lập của kiểm toán viên,tuy nhiên nhấn mạnh hơn đến khía cạnh chuyên môn tức là các kiểm toán

viên không chỉ độc lập mà phải “có nghiệp vụ”; khái niệm của Hoa Kỳ

cũng nhấn mạnh đến sự phù hợp giữa thông tin với các tiêu chuẩn đã đượcthiết lập Còn các nhà kinh tế nước Cộng hoà Pháp lại quan niệm rằng:

“Kiểm toán là việc nghiên cứu và kiểm tra các tài khoản niên độ của một

Trang 12

hành để khẳng định rằng những tài khoản đó phản ánh đúng tình hình tài chính thực tế không che dấu sự gian lận và chúng được trình bày theo mẫu chính thức của luật định” [1, tr.31].

Theo định nghĩa của Liên đoàn quốc tế các nhà kế toán (International

Federation of Accountants –IFAC) thì “ Kiểm toán là việc các kiểm toán viên

độc lập kiểm tra và trình bày ý kiến của mình về các bản báo cáo tài chính”.

Trong giáo trình kiểm toán của các tác giả Alvin A.Rens và JamesK.Loebbecker đã định nghĩa: Kiểm toán là quá trình các chuyên gia độc lập

và có thẩm quyền thu thập và đánh giá các bằng chứng về các thông tin có thểđịnh lượng được của một đơn vị cụ thể nhằm mục đích xác nhận và báo cáo

về mức độ phù hợp giữa các thông tin này với các chuẩn mực đã được thiếtlập; Định nghĩa khác nêu: Kiểm toán là thủ pháp xem xét và kiểm tra mộtcách khách quan về từng khoản mục bao gồm việc thẩm tra những thông tinđặc trưng được xác định bởi kiểm toán viên hoặc thiết lập bởi thực hànhchung Nói tổng quát, mục đích của kiểm toán là trình bày ý kiến hoặc đi đếnkết luận về cái được kiểm toán (Auditing - Theory & Practice của JohnDunn, University of Strathclyde, Glasgow nhà xuất bản Prentice Hall)

Ở Việt Nam, Nghị định số 105/2004/NĐ-CP ngày 30/3/2004 về kiểmtoán độc lập của Chính phủ có nêu: “Kiểm toán độc lập là việc kiểm tra vàxác nhận của KTV và DNKT về tính trung thực và hợp lý của các tài liệu, sốliệu kế toán và báo cáo tài chính (BCTC) của các doanh nghiệp, tổ chức (gọichung là đơn vị được kiểm toán) khi có yêu cầu của các đơn vị này”; còn LuậtKiểm toán độc số 67/2011/QH12 giải thích “Kiểm toán độc lập là việc kiểmtoán viên hành nghề, doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểmtoán nước ngoài tại Việt Nam kiểm tra, đưa ra ý kiến độc lập của mình về báocáo tài chính và công việc kiểm toán khác theo hợp đồng kiểm toán” Như

Trang 13

vậy có thể thấy kiểm toán là một hoạt động nghề nghiệp, là một loại dịch vụtrong nền kinh tế.

Dịch vụ kiểm toán là một trong những loại hình của thương mại dịch vụ

Có thể hiểu dịch vụ kiểm toán là việc cung ứng các hoạt động kiểm tra và thểhiện ý kiến bằng văn bản của KTV chuyên nghiệp thuộc các DNKT về tínhtrung thực, đúng đắn và hợp lý của các tài liệu, số liệu kế toán và báo cáo tàichính của các doanh nghiệp, tổ chức theo yêu cầu của chính các khách hàngnày đã thỏa thuận trong hợp đồng kiểm toán (HĐKT) Đây là loại dịch vụ cóthu phí dịch vụ được pháp luật thừa nhận và quản lý chặt chẽ; là loại dịch vụ

có chất lượng cao, có giá trị pháp lý nhất định và không được phép có sảnphẩm sai hỏng và thiếu độ tin cậy Tính độc lập, tính khách quan, nhữngbằng chứng pháp lý, phẩm chất nghề nghiệp và yêu cầu kiểm soát chất lượngdịch vụ là các đặc điểm nổi bật của loại hình dịch vụ này Khái niệm dịch vụkiểm toán được cụ thể hóa trong khoản 1 Điều 40 Luật Kiểm toán độc lậpsố: 67/2011/QH12: “Phạm vi hoạt động của doanh nghiệp kiểm toán, chinhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt nam được thực hiện cácdịch vụ: 1) Các dịch vụ kiểm toán, gồm kiểm toán báo cáo tài chính, kiểmtoán hoạt động, kiểm toán tuân thủ, kiểm toán báo cáo quyết toán dự án hoànthành, kiểm toán báo cáo tài chính vì mục đích thuế và công việc kiểm toánkhác; 2) Dịch vụ soát xét báo cáo tài chính, thông tin tài chính và dịch vụđảm bảo khác

1.1.2 Phân biệt dịch vụ kiểm toán với hoạt động kiểm toán

Hoạt động kiểm toán là một hoạt động khoa học, thể hiện ở các điểm sau:

Thứ nhất, đây là hoạt động độc lập, có chức năng cơ bản xác minh,

thuyết phục để tạo niềm tin cho những người quan tâm vào những kết luậnkiểm toán cho dù những kết luận này có thể hướng vào các mục tiêu cụ thể

Trang 14

khác nhau như tính trung thực của thông tin, tính quy tắc trong việc thực hiệncác nghiệp vụ, tính hiệu quả hay tính hiệu năng của hoạt động;

Thứ hai, đối tượng của hoạt động kiểm toán là thực trạng hoạt động tài

chính thể hiện qua các bảng khai tài chính của một thực thể kinh tế;

Thứ ba, khách thể của hoạt động kiểm toán là một thực thể kinh tế;

Thứ tư, chủ thể của hoạt động kiểm toán là những kiểm toán viên (KTV)

độc lập, có nghiệp vụ;

Thứ năm, phương pháp riêng của hoạt động kiểm toán bao gồm những

phương pháp kiểm toán chứng từ (cân đối, đối chiếu logics, diễn giải thôngtin, quy nạp nguồn thông tin ) và phương pháp kiểm toán ngoài chứng từ(điều tra, quan sát, kiểm kê, thử nghiệm )

Như vậy có thể thấy hoạt động kiểm toán là một hoạt động chuyên sâu,một khoa học chuyên ngành Còn dịch vụ kiểm toán là một loại hình củathương mại dịch vụ, được cung ứng theo yêu cầu của khách hàng nhằm mụcđích thu phí dịch vụ

1.1.3 Phân biệt hoạt động kiểm toán độc lập với hoạt động kiểm toán nhà nước và hoạt động kiểm toán nội bộ

Mối quan hệ giữa các chủ thể kiểm toán phản ánh bản chất của các loạihình kiểm toán, nó thể hiện địa vị pháp lý của các KTV trong nền kinh tế vàtrong quá trình kiểm toán Sự khác biệt này dẫn đến quyền hạn, trách nhiệm,phạm vị hoạt động của KTV cũng như những đóng góp khác nhau đối với nềnkinh tế Trong thực tiễn, tuỳ thuộc vào hệ thống tổ chức và chủ thể kiểm toán

mà kiểm toán được phân thành kiểm toán nhà nước (KTNN), kiểm toán độclập và kiểm toán nội bộ Đặc điểm của hoạt động kiểm toán độc lập bao gồmnhững thuộc tính riêng phản ánh bản chất của hoạt động kiểm toán độc lậpvới những loại hình kiểm toán khác

Trang 15

Thứ nhất, hoạt động kiểm toán độc lập thực chất là thực hiện một hợp

đồng dịch vụ trên cơ sở tự nguyện và theo thỏa thuận giữa DNKT đơn vịđược kiểm toán (khách hàng) Hợp đồng dịch vụ này thể hiện bằng thư mờikiểm toán và sự đồng ý kiểm toán; kết quả của hoạt động kiểm toán độc lập làcác kiến nghị trong BCKT hoàn toàn mang tính chất khuyến nghị không bắtbuộc thực hiện với đơn vị được kiểm toán Đây là tiêu chí cơ bản và quantrọng để phân biệt sự khác nhau giữa hoạt động kiểm toán độc lập với KTNN.Nếu kiểm toán độc lập là hoạt động dịch vụ và có thu phí thì KTNN là côngviệc kiểm toán do cơ quan KTNN tiến hành theo luật định và không thu phíkiểm toán, tiến hành dịch vụ kiểm toán phục vụ nhu cầu về quản lý và hoạchđịnh chính sách Hoạt động KTNN được thực hiện trên cơ sở của một quyếtđịnh kiểm toán; quyết định này mang tính hành chính của cơ quan nhà nước

có thẩm quyền (cơ quan KTNN) và quyết định này có giá trị bắt buộc tuân thủđối với đơn vị được kiểm toán Về BCKT, báo cáo của KTNN cũng đòi hỏitính giải trình cao hơn Còn đối với hoạt động kiểm toán nội bộ thì kiểm toánnội bộ là một bộ phận của đơn vị được kiểm toán, thực hiện kiểm tra và báocáo trực tiếp theo yêu cầu của cấp cao nhất của đơn vị (như Thủ trưởng đơn

vị, Hội đồng quản trị, Ban giám đốc ) hoặc theo đúng quy chế về cơ cấu tổchức cũng như hoạt động của đơn vị được kiểm toán Như vậy, có thể thấy vềtính độc lập thì kiểm toán nội bộ không cao so với kiểm toán độc lập

Thứ hai, chủ thể thực hiện kiểm toán trong hoạt động kiểm toán độc lập

là các KTV độc lập thuộc các tổ chức kiểm toán chuyên nghiệp (DNKT) tiếnhành Các KTV độc lập này là đội ngũ hành nghề chuyên nghiệp (đã đăng kýhành nghề tại một DNKT được thành lập và hoạt động theo quy định củapháp luật), có đạo đức, có kỹ năng nghề nghiệp và phải đạt được những tiêuchuẩn nhất định về bằng cấp và kinh nghiệm theo quy định về kiểm toán độc

Trang 16

lập Còn chủ thể tiến hành kiểm toán trong hoạt động KTNN là các KTV của

cơ quan KTNN Theo quy định tại Điều 27 Luật KTNN: “KTV nhà nước làcông chức nhà nước được bổ nhiệm vào ngạch KTV để thực hiện nhiệm vụkiểm toán” và cơ quan KTNN là một tổ chức kiểm tra tài chính công cao nhấttrong bộ máy quản lý của nhà nước; trong khi đó, theo Điều 16 của LuậtKiểm toán độc lập số thì “cán bộ, công chức, viên chức” là một trong nhữngtiêu chí về những người không được đăng ký hành nghề kiểm toán độc lập.Đây chính là đặc điểm quan trọng nhất để phân biệt giữa hoạt động kiểm toánđộc lập và hoạt động KTNN về chủ thể tiến hành Theo Chuẩn mực kiểm toánquốc tế số 610 thì “Kiểm toán nội bộ là bộ phận kiểm soát trong đơn vị, thựchiện kiểm tra vì lợi ích của đơn vị này”, như vậy kiểm toán nội bộ là do cácKTV nội bộ của đơn vị tiến hành theo yêu cầu của Giám đốc doanh nghiệphoặc thủ trưởng đơn vị

Thứ ba, về đơn vị được kiểm toán Đơn vị được kiểm toán của kiểm

toán độc lập là tất cả các doanh nghiệp, các tổ chức có nhu cầu được cungcấp dịch vụ kiểm toán, ngoài ra còn có các đơn vị bắt buộc và các đơn vịphải được DNKT kiểm toán BCTC hàng năm, gồm các đối tượng quy địnhtại khoản 1 và khoản 2 Điều 37 Luật Kiểm toán độc lập Còn đơn vị đượckiểm toán của hoạt động KTNN là những tổ chức, đơn vị sử dụng vốn vàkinh phí của nhà nước quy định trong Điều 55 Luật KTNN đã được Quốchội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 9thông qua ngày 24 tháng 6 năm 2015 Đơn vị được kiểm toán trong hoạtđộng kiểm toán nội bộ chính là đơn vị có bộ phận kiểm toán nội bộ đó.Như vậy, có thể thấy các đơn vị được kiểm toán trong kiểm toán độc lập đadạng, phong phú hơn so với của hoạt động KTNN cũng như của hoạt độngkiểm toán nội bộ

Trang 17

Thứ tư, về phạm vi kiểm toán Điều 40 Luật Kiểm toán độc lập quy định

phạm vi hoạt động kiểm toán độc lập bao gồm kiểm toán BCTC, kiểm toánbáo cáo quyết toán dự án hoàn thành, kiểm toán báo cáo tài chính vì mục đíchthuế, kiểm toán hoạt động, kiểm toán tuân thủ hay tiến hành các dịch vụ tưvấn tài chính - kinh tế khác theo yêu cầu của khách hàng được quy định rõràng trong HĐKT Tuy nhiên, phạm vi của hoạt động kiểm toán độc lập phụthuộc vào yêu cầu của đơn vị được kiểm toán và bị áp đặt trong HĐKT cũngnhư phụ thuộc vào việc thực hiện trách nhiệm của đơn vị được kiểm toánđến đâu trong cung cấp thông tin, tài liệu phục vụ cho việc kiểm toán, trongphối hợp tạo điều kiện thuận lợi cho KTV thực hiện kiểm toán Mặc dùvậy, phạm vi của hoạt động kiểm toán độc lập vẫn rộng hơn phạm vi củahoạt động KTNN và của kiểm toán nội bộ Điều này thể hiện ở chỗ, hoạtđộng KTNN được thực hiện thường xuyên hàng năm theo chương trình, kếhoạch kiểm toán đã được chấp thuận, đối với những đơn vị phải chịu kiểmtoán theo quy định của pháp luật với mục đích xem xét việc chấp hành cácchính sách luật lệ và các chế độ của Nhà nước và đánh giá sự hữu hiệu, hiệuquả hoạt động tại các đơn vị sử dụng vốn và kinh phí của nhà nước; vềBCKT, báo cáo của KTNN cũng đòi hỏi có tính giải trình cao hơn Còn vềphạm vi của kiểm toán nội bộ thì có sự biến động, tùy thuộc vào quy mô, cơcấu tổ chức của doanh nghiệp cũng như theo yêu cầu của các nhà quản lýđơn vị, thường hạn hẹp trong lĩnh vực sau: 1) Rà soát lại hệ thống kế toán vàcác quy chế kiểm soát nội bộ có liên quan, giám sát sự hoạt động của các hệthống này cũng như góp phần hoàn thiện chúng; 2) Kiểm tra lại các thông tintác nghiệp và thông tin tài chính bao gồm việc soát xét lại các phương tiện

đã sử dụng để xác định, tính toán phân loại và báo cáo những thông tin này,thẩm định cụ thể các khoản cá biệt (kiểm tra chi tiết các nghiệp vụ, các số dư

Trang 18

tài khoản ); 3) Kiểm tra tính hiệu lực, tính kinh tế và hiệu quả của các hoạtđộng trong đơn vị

Tóm lại, kiểm toán độc lập, KTNN và kiểm toán nội bộ tuy có sự khácnhau nhưng mục đích của chúng vẫn là đưa ra ý kiến nhận xét một cách độclập, khách quan về đối tượng kiểm toán; chúng đều không làm tăng thêm cácthông tin kinh tế mà chỉ đảm bảo từ nguồn độc lập, hợp lý rằng các thông tinkinh tế đó đã được lập có dựa trên các nguyên tắc, chuẩn mực đã được thiếtlập và có trình bày một cách trung thực, hợp lý hay không

1.1.4 Sự cần thiết và quá trình hình thành kiểm toán độc lập ở Việt Nam

Về quá trình hình thành kiểm toán có thể thấy dạng thức của kiểm toán có

từ trước 500 năm trước công nguyên ở thành Athens-Hy Lạp Xuất hiện và pháttriển cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, hoạt động kiểm toán đãtrở thành nhu cầu tất yếu đối với hoạt động kinh doanh và nâng cao chất lượngcủa các doanh nghiệp Do vậy một vấn đề đặt ra là nhu cầu về kiểm toán xuấtphát từ các yêu cầu pháp lý bắt buộc hay nhu cầu về kiểm toán là tất yếu, là sảnphẩm của nền kinh tế thị trường

Thực tế các quy định pháp lý yêu cầu các doanh nghiệp phải được kiểmtoán đã dẫn đến sự hiểu nhầm rằng cơ sở hay sự cần thiết của hoạt động kiểmtoán trong nền kinh tế là do các quy định pháp lý Cụ thể trong Luật đầu tưnước ngoài tại Việt Nam quy định “Báo cáo tài chính hằng năm của các xínghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải được một tổ chức kiểm toán hợp pháp

ở Việt Nam kiểm tra, xác nhận trước khi nộp cho SCCI (Ủy ban Nhà nước vềhợp tác xã và đầu tư, nay là Bộ Kế hoạch và đầu tư) và cơ quan thuế”; hoặctheo hướng dẫn tại Thông tư số 73TC/TCDN ngày 12/11/1996 cũng quy định:BCTC của doanh nghiệp phải được kiểm toán độc lập hoặc kiểm toán nội bộxác nhận trước khi công bố Hoặc theo quy định của Ủy ban Chứng khoán

Trang 19

Nhà nước thì BCTC của các doanh nghiệp đăng ký tại thị trường chứng khoánphải được kiểm toán xác nhận, đối với doanh nghiệp cổ phần hóa, bán, khoán,cho thuê cũng phải có kiểm toán xác nhận BCTC Ở các nước có nền kinh tếphát triển, nhiều ý kiến cũng cho rằng kiểm toán tồn tại là do các quy địnhpháp lý bắt buộc Tuy nhiên, ở Mỹ đã có nhiều công trình khảo sát cho thấykiểm toán tồn tại độc lập và có trước các quy định pháp lý yêu cầu các BCTCcủa doanh nghiệp phải được kiểm toán xác nhận Năm 1899 ở Mỹ có 183 Kếtoán viên công chứng ở thành phố New York và 71 kế toán viên công chứng ởthành phố Chicago hành nghề và chủ yếu là hoạt động kiểm toán; năm 1926

có tới 82% các doanh nghiệp tham gia thị trường chứng khoán New York cóBCTC được kiểm toán và tỷ lệ này tăng lên 94% trước khi Luật chứng khoáncủa Mỹ quy định việc lập và có xác nhận của kiểm toán vào BCTC vào năm

1934 Hoặc những năm 80 của thế kỷ XX, có tới 80% khách hàng của Công

ty Price Waterhouse (1 trong 8 công ty hàng đầu thế giới khi đó) là các

khách hàng không đăng ký trên thị trường chứng khoán (Nguồn: Aditing –

Wanda A Wallce, Tiến sĩ, Kế toán viên công chứng (CPA) CMA, CIA giáo

sư trường đại học Texas A&M) Không chỉ ở Mỹ mà ở các nước kinh tế thị

trường phát triển khác, quan điểm cho rằng sự tồn tại của kiểm toán là độclập với các quy định pháp lý và nhu cầu về kiểm toán xuất phát từ yêu cầucủa nền kinh tế cũng chiếm ưu thế Các ý kiến của các nhà kinh tế đềuthống nhất rằng nhu cầu kiểm toán xuất hiện từ khi có sự phân tách giữaquyền sở hữu và quyền quản lý, khai thác kinh doanh các tài sản, tiền vốn

Từ những hình thức đơn giản khi các thương nhân giao các tài sản củamình cho người khác quản kinh doanh đến các hình thức phức tạp, hoànthiện hơn, đó là hình thái các công ty cổ phần trong đó, các cổ đông khôngtrực tiếp quản lý điều hành hoạt động công ty mà do một nhóm các nhà

Trang 20

quản lý đại diện thực hiện chức năng quản lý kinh doanh có trả thù lao Dùdưới hình thức nào thì có rất nhiều lý do dẫn đến khả năng BCTC do nhữngngười này lập nên và đệ trình lên chủ sở hữu có thể sẽ không phản ánhtrung thực về tình hình tài và kết quả kinh doanh hoặc ít nhất là thiếu kháchquan Mặt khác, thực tế hầu như và không thể mọi chủ sở hữu đều có điềukiện và khả năng để soát xét các sổ sách kế toán và BCTC của công ty.Điều này tạo ra nhu cầu cần có các KTV kiểm tra và báo cáo lại một cáchđộc lập khách quan về tình hình tài chính của họ, đồng thời các chủ sở hữutin tưởng rằng với kiểm toán các hành vi gian lận hoặc thiếu trung thực củacác nhà quản lý sẽ không có cơ hội thực hiện, do đó kiểm toán là cần thiết

và được xem như là một sự bảo đảm Đây chính là lý do cho sự ra đời vàphát triển của kiểm toán Như vậy, về mặt lịch sử thì hoạt động kiểm toántồn tại, có trước các quy định pháp lý về kiểm toán

Ở Việt Nam, trước năm 1975 đã có văn phòng hoạt động độc lập vớicác kế toán viên công chứng hoặc các giám định viên kế toán và cả vănphòng kiểm soát quốc tế như SGV, Arthur Andersen kiểm toán của cáccông ty kiểm toán quốc tế hoạt động ở Sài Gòn Sau khi đất nước thốngnhất, hoạt động kiểm toán của các văn phòng này không còn thích hợp vớinền kinh tế kế hoạch hóa tập trung lúc bấy giờ Trong nền kinh tế kế hoạchhóa tập trung bao cấp, các hoạt động kinh tế được chỉ đạo thống nhất, địnhsẵn Cùng với chế độ sở hữu tập thể đã dẫn tới vệc xác định quyền lợi,trách nhiệm, quyền hạn của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp cùng các cấplãnh đạo khác không rõ ràng Việc kiểm tra các thông tin kinh tế ở thời kỳnày mang tính tuân thủ là chủ yếu và việc kiểm tra được thực hiện bởi các

cơ quan chức năng (thuế, tài chính, cơ quan chủ quản…) Các thông tin này

là cơ sở để đánh giá mức độ hoàn thành kế hoạch và xây dựng kế hoạch

Trang 21

cho giai đoạn tiếp theo Mặt khác với cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóatập trung thì không thể tồn tại một doanh nghiệp hoặc tổ chức kinh tế nàođược xem là độc lập để thực hiện đầy đủ chức năng kiểm toán Do vậy vàothời kì này không xuất hiện nhu cầu về kiểm toán Chuyển đổi sang nềnkinh tế thị trường, các loại hình doanh nghiệp theo các hình thức sở hữukhác nhau được thành lập và phát triển mạnh đóng vai trò và có ý nghĩaquan trọng trong sự phát triển nền kinh tế, đồng thời các doanh nghiệp nhànước chuyển sang cơ chế hạch toán kinh doanh độc lập Vì vậy kiểm toánđộc lập mới được hình thành từ sau khi chuyển đổi cơ chế kinh tế Với chủchương đa dạng hoá các loại hình sở hữu đa phương hoá các loại hình đầu

tư đã đặt ra những đòi hỏi của kiểm toán độc lập Ngày 13/5/1991 theo giấyphép số 957/PPLT của Thủ tướng Chính phủ, Bộ tài chính đã ký quyết địnhthành lập hai công ty: Công ty kiểm toán Việt Nam với tên giao dịch làVACO (QĐ 165-TC/QĐ/TCCB) và công ty dịch vụ kế toán Việt Nam vớitên giao dịch là ASC (QĐ164-TC/QĐ/TCCB) sau này đổi tên thành Công

ty dịch vụ tư vấn tài chính, kế toán, kiểm toán-AASC (quyết định 639-TC/QĐ/TCCB ngày 14/9/1993).Với cương vị là công ty đầu ngành, VACO vàAASC đã có nhiều đóng góp không chỉ trong việc phát triển công ty, mởrộng đại bàn kiểm toán mà cả trong việc cộng tác với công ty và tổ chứcnước ngài để phát triển sự nghiệp kiểm toán Việt Nam Cũng trong năm

1991, còn có công ty Ernst and Young là công ty kiểm toán nước ngoài đầutiên được Nhà nước Việt Nam cho chấp nhận lập văn phòng hoạt động tạiViệt Nam

Tóm lại, sự xuất hiện kiểm toán ở Việt Nam là tất yếu khách quan, hoạtđộng kiểm toán độc lập thực sự cần thiết trong nền kinh tế thị trường và là nhucầu của nền kinh tế

Trang 22

1.1.5 Vai trò của dịch vụ kiểm toán đối với việc hình thành thị trường dịch vụ thương mại ở Việt Nam

Từ khi chuyển đổi cơ chế kinh tế, thực hiện chủ trương đa phương hoácác hình thức đầu tư, đa dạng hoá các thành phần kinh tế, Nhà nước khôngcòn là chủ sở hữu duy nhất Từ đó, sự can thiệp trực tiếp của Nhà nước bằng

kế hoạch, bằng kiểm tra trực tiếp… không thể thực hiện với các thành phầnkinh tế ngoài quốc doanh, kể cả với nhà đầu tư nước ngoài, thậm chí với cácdoanh nghiệp nhà nước Cách thức can thiệp của Nhà nước cũng không thểnhư cũ được nữa Mặt khác, các nhà đầu tư, khách hàng, người lao động…cũng cần có niềm tin vào tài liệu kế toán trong khi họ không có đủ đội ngũchuyên gia về kế toán, kiểm toán đông đảo như Nhà nước Đồng thời, nhữngnhà kinh doanh trong cơ chế thị trường cũng cần thông tin và để tránh rủi rothường có Như vậy, người quan tâm đến thông tin kế toán không chỉ có Nhànước mà còn tất cả các nhà đầu tư, những nhà quản lý, những khách hàng vàngười lao động ; đặc biệt là các thông tin tài chính của doanh nghiệp khôngchỉ dùng để báo cáo cho các cơ quan quản lý nhà nước để kiểm tra và xétduyệt mà nay các thông tin này được nhiều đối tượng khác quan tâm, khaithác sử dụng cho các quyết định kinh tế Vì vậy, công tác kiểm tra cũng cầnđược thực hiện rộng rãi, đa dạng song thật khoa học, khách quan, trung thực,

đủ sức thuyết phục và có giá trị pháp lý để tạo niềm tin cho người quan tâm.Kiểm toán làm tăng mức độ tin cậy đối với các thông tin tài chính, góp phần làmlành mạnh hóa các quan hệ kinh tế Trong điều kiện đó, kiểm toán độc lập đã pháthuy vai trò của nó và một thị trường cung cấp các loại hình dịch vụ kiểm toánhình thành phát triển là một bộ phận tất yếu của nền kinh tế thị trường hiện đại

Trong cơ chế kinh tế thị trường mở cửa và hội nhập, ngoài vai trò làcông cụ quản lý kinh tế - tài chính và cung cấp thông tin tin cậy, hữu ích phục

Trang 23

vụ cho các quyết định quản lý và kinh doanh, kiểm toán độc lập đã và đangđược thừa nhận là một dịch vụ không thể thiếu của một nền kinh tế mở Dịch

vụ kiểm toán đã trở thành một dịch vụ dịch vụ hỗ trợ quản lý kinh doanh quan trọng trong từng phạm vi quốc gia, trong khu vực và thế giới, là một bộphận cần thiết và quan trọng không thể thiếu trong đời sống các hoạt độngkinh tế Luật pháp của Việt Nam và của nhiều nước đã thừa nhận và có những quyđịnh mang tính pháp lý về hành nghề kiểm toán và cung cấp dịch vụ kiểm toán.Thị trường dịch vụ kiểm toán Việt Nam hình thành sau khi Chính phủban hành Nghị định 07/1994/NĐ-CP về Quy chế kiểm toán độc lập trong nềnkinh tế quốc dân với sự góp mặt của 6 doanh nghiệp KTNN (trong đó có 5doanh nghiệp trực thuộc Bộ tài chính và 1 doanh nghiệp trực thuộc UBNDthành phố Hồ Chí Minh) và những DNKT hàng đầu thế giới như KPMG,Price Waterhouse Cooper… Giai đoạn sau này, thị trường cung cấp dịch vụkiểm toán độc lập của Việt Nam đã tăng đáng kể số lượng DNKT hoạt độngdưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, và doanhnghiệp tư nhân Nhưng khi nền kinh tế Việt Nam mở cửa mạnh mẽ, nhiều tổchức tài chính nước ngoài, đặc biệt là Ngân hàng Thế giới (WB) và Ngânhàng Phát triển Châu Á (ADB) cho rằng, Việt Nam không nên để tồn tại môhình doanh nghiệp KTNN vì sẽ làm giảm ý nghĩa độc lập trong kiểm toán.Chính vì vậy, hiện nay tại Việt Nam Luật Kiểm toán độc lập quy định chỉ có

-4 loại hình doanh nghiệp cung cấp dịch vụ kiểm toán độc lập là công ty tráchnhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty hợp danh, doanh nghiệp tưnhân và doanh nghiệp hoạt động theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.Một vấn đề khác liên quan đến sự hình thành và phát triển thị trường dịch vụkiểm toán là việc Việt Nam phải thực hiện các cam kết quốc tế về mở cửa thịtrường dịch vụ nói chung và thị trường dịch vụ kiểm toán nói riêng Như vậy,

Trang 24

sẽ có các công ty dịch vụ kiểm toán của nước ngoài được phép thành lập vàhoạt động ở Việt Nam Đi kèm với đó, các DNKT Việt Nam sẽ được phéphoạt động ở nước ngoài với tư cách là nhà đầu tư Việt Nam đầu tư ra nướcngoài Các KTV có chứng chỉ hành nghề, đủ điều kiện hành nghề sẽ được phéphành nghề và cung cấp dịch vụ không chỉ trong nước mà cả ở nước ngoài.Như vậy, một thị trường dịch vụ kiểm toán thống nhất đã và đang hìnhthành trong khu vực và trên thế giới Đó là một thực tế, một yêu cầu mới, một

cơ hội mới cho sự phát triển và nhất thể hoá nghề kiểm toán trong phạm vinhiều quốc gia khác nhau Thị trường dịch vụ kiểm toán thống nhất đòi hỏiphải có sự chuẩn bị ở tất cả các nước thành viên về khung khổ pháp lý, về

sự hài hoà các chuẩn mực kiểm toán (CMKT), thu hẹp khoảng cách của sựkhác biệt, sự phối hợp và thống nhất của chương trình, nội dung đào tạo,huấn luyện; thi cử và đánh giá chất lượng kiểm toán viên, chất lượng dịchvụ; về sự thừa nhận lẫn nhau các chứng chỉ hành nghề quốc gia… Điều đócần đến những động thái nhất định từ bản thân các tổ chức, cá nhân hànhnghề, từ phía các tổ chức nghề nghiệp nhưng càng cần có nhiều việc phảilàm hơn từ phía các cơ quan nhà nước thực hiện ở tầm quốc gia Hội nhậpkinh tế quốc tế mang lại nhiều lợi ích dài hạn, nhưng cũng đặt ra không ítthách thức đối với ngành thương mại dịch vụ kiểm toán Việt Nam ViệtNam cần có những bước đi thích hợp, chuẩn bị đón đầu và theo kịp những cơhội và thách thức này

1.2 Khái quát pháp luật về dịch vụ kiểm toán ở Việt Nam

1.2.1 Khái niệm và vai trò của pháp luật về dịch vụ kiểm toán

Cũng như các hoạt động dịch vụ khác, hoạt động cung cấp dịch vụ kiểm toánchỉ có thể phát triển và đạt chất lượng cao trong khuôn khổ pháp lý đầy đủ, đồng

bộ Khuôn khổ pháp lý của hoạt động cung cấp dịch vụ kiểm toán bao gồm:

Trang 25

(1) Những quy định mang tính pháp lý: là những quy định bắt buộc của

Nhà nước được quy định trong các Luật, hoặc văn bản pháp quy (Nghị định,Thông tư, ) Những quy định mang tính pháp lý đảm bảo sự thống nhất trongviệc thực hiện công tác kế toán ở các đơn vị, mặt khác tạo ra một khung khổpháp lý để Nhà nước quản lý thống nhất việc thực hiện công tác kiểm toántrong toàn bộ quốc gia Tính độc lập, nguyên tắc cơ bản nhất của kiểm toánđộc lập chỉ được đảm bảo khi cơ chế pháp luật được đảm bảo

Ở Việt Nam, từ khi ra đời Từ khi ra đời 5/1991 đến 2011, KTĐL hoạtđộng theo các Nghị định của Chính phủ và các văn bản hướng dẫn của Bộ Tàichính Năm 2011, Quốc hội công bố Luật Kiểm toán độc lập có hiệu lực từ01/01/2012, đến nay (7/2014), Chính phủ và Bộ Tài chính đã ban hành gầnnhư đầy đủ, đồng bộ hệ thống văn bản pháp luật về KTĐL, gồm: 02 Nghịđịnh (NĐ 17/2012/NĐ-CP, NĐ105/2013/NĐ-CP) và 07 Thông tư (TT 129-2012/TT-BTC, 150-2012/TT-BTC, 202-2012/TT-BTC, 203-2012/TT-BTC,214-2012/TT-BTC, 78-2013/TT-BTC và 183-2013/TT-BTC) đã quy định vàhướng dẫn gần như tất cả các mặt hoạt động từ quản lý Nhà nước đến phươngpháp nghiệp vụ, kỹ thuật kiểm toán và các dịch vụ đảm bảo có liên quan Tuynhiên đến nay, thời gian có hiệu lực của văn bản chưa đủ dài để tuân thủ đầy

đủ các văn bản và đánh giá tác động của pháp luật tới thực tế hoạt động kiểmtoán độc lập, nhất là chất lượng dịch vụ cung cấp Ngoài các văn bản phápluật chuyên ngành, pháp luật điều chỉnh lĩnh vực dịch vụ kiểm toán còn cónhững văn bản pháp luật chung như Bộ luật Dân sự và Bộ luật Tố tụng dân

sự, Luật Thương mại, Luật doanh nghiệp, Luật phá sản… điều chỉnh các quyđịnh về HĐKT, về việc thành lập, hoạt động, chấm dứt hoạt động của cácDNKT, cũng như các tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện HĐKT,hoạt động của DNKT

Trang 26

(2) Những quy định mang tính mực thước: hay còn gọi là chuẩn mực Đó

là các nguyên tắc căn bản của kiểm toán, quy trình nghiệp vụ của các cuộckiểm toán, hệ thống phương pháp chuyên môn nghiệp vụ kiểm toán Theo tàiliệu thuật ngữ kế toán - kiểm toán của IFAC thì: “CMKT là những văn kiện mô

tả các nguyên tắc cơ bản về nghiệp vụ và xử lý các mối quan hệ phát sinh trongquá trình kiểm toán mà trong quá trình hành nghề các KTV buộc phải tuântheo” Các CMKT là yêu cầu tất yếu của hoạt động kiểm toán độc lập, mang lạiniềm tin và yên tâm cho những người sử dụng thông tin tài chính và là cơ sởthực hiện công việc kiểm toán và đo lường, đánh giá công việc của KTV

Ở nhiều nước trên thế giới, việc nghiên cứu và ban hành các chuẩn mực

và quy tắc kế toán do các tổ chức, hiệp hội nghề nghiệp ban hành Việt Nam

đã trở thành thành viên của Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC) Đối với cácnước thành viên của IFAC và một số nước khác chưa phải là thành viên củaIFAC cũng chấp nhận và coi những nguyên tắc chỉ đạo kiểm toán quốc tế doIFAC ban hành làm các văn bản pháp quy về kiểm toán của quốc gia mình ỞViệt Nam, Bộ Tài chính có trách nhiệm soạn thảo và ban hành các CMKT vàđến nay đã ban hành được 38 CMKT độc lập, đặc biệt là đã ban hành đượcChuẩn mực đạo đức nghề nghiệp Các CMKT này đã cụ thể hóa các nguyêntắc, phương pháp, thủ tục thực hiện trong quá trình kiểm toán dựa trên Chuẩnmực quốc tế Các CMKT được ban hành đã thể hiện một bước phát triểnmạnh trong hoạt động kiểm toán, đã tạo ra hành lang pháp lý thuận lợi hơncho hoạt động kiểm toán độc lập, là cơ sở cho KTV chuyên nghiệp và DNKTkiểm tra đánh giá các thông tin tài chính một cách trung thực, khoa học vàkhách quan CMKT còn là cơ sở cho việc chỉ đạo giám sát, kiểm tra và đánhgiá chất lượng dịch vụ kiểm toán, là cơ sở cho việc đào tạo, huấn luyện và thituyển KTV

Trang 27

Kiểm toán độc lập là hoạt động dịch vụ được pháp luật bảo hộ Việc tuânthủ các nguyên tắc, CMKT và pháp luật của Nhà nước là các cơ sở pháp lý củahoạt động kiểm toán trong quá trình hành nghề Nếu pháp luật về dịch vụ kiểmtoán được xây dựng đồng bộ, phù hợp với trình độ phát triển của nền kinh tế,đáp ứng được những yêu cầu khách quan của nền kinh tế thị trường sẽ tạo điềukiện thu hút đầu tư trong và ngoài nuớc vào đầu tư phát triển thị trường dịch vụkiểm toán, tạo ra một thị trường tài chính minh bạch, lành mạnh; bên cạnh đócòn thu hút đuợc hàng ngàn nguời lao động có trình độ cao vào làm việc tronglĩnh vực này, tạo ra một thị trường sức lao động chất lượng có sức cạnh tranhmạnh.

1.2.2 Những nội dung cơ bản của pháp luật về dịch vụ kiểm toán

Pháp luật về dịch vụ kiểm toán giữ một vai trò quan trọng trong hệ thống cácquy định pháp luật về kiểm tra, kiểm soát kinh tế - tài chính Pháp luật về dịch vụkiểm toán bao gồm các quy định pháp luật thống nhất ở những nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất, pháp luật về dịch vụ kiểm toán phải thể hiện được các nguyên

tắc hoạt động của kiểm toán độc lập, bao gồm: 1) Tuân thủ pháp luật, chuẩnmực kiểm toán; 2) Chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động nghềnghiệp và kết quả kiểm toán; 3)Bảo đảm tính độc lập về chuyên môn, nghiệp

vụ, lợi ích và tính trung thực, đúng pháp luật, khác quan của hoạt động kiểmtoán độc lập; 4) Bảo mật các thông tin của đơn vị được kiểm toán

Thứ hai, các quy định chủ thể tham gia trong quan hệ dịch vụ kiểm toán:

người thực hiện công việc kiểm toán (KTV, DNKT) và các đơn vị kinh tế cóthông tin cần kiểm toán (đơn vị được kiểm toán): 1) Các quy định pháp lý vềKTV phải luôn thể hiện được các nội dung về tiêu chuẩn KTV, điều kiệnhành nghề, các trường hợp không được đăng ký hành nghề và nhất là địa vịpháp lý của KTV, đặc biệt là trách nhiệm, phạm vi hoạt động của KTV trong

Trang 28

khi thực hiện kiểm toán; 2) Các quy định pháp lý về DNKT bao gồm các quyđịnh về việc thành lập, hoạt động, chấm dứt hoạt động của DNKT; cơ cấu, tổchức hoạt động; địa vị pháp lý của DNKT trong nền kinh tế và trong quá trìnhkiểm toán, nhất là xác định rõ quyền và trách nhiệm của doanh nghiệp; 3) Cácquy định pháp lý về đơn vị cần kiểm toán gồm các quy định về quyền, tráchnhiệm khi tham gia ký HĐKT, các trường hợp kiểm toán bắt buộc

Thứ ba, các quy định về quản lý nhà nước đối với hoạt động kiểm toán

bao gồm: nội dung quản lý nhà nước; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơquan quản lý nhà nước

Thứ tư, các quy định khác liên quan đến hoạt động kiểm toán độc lập như

các quy định về CMKT, BCKT, HĐKT, các loại dịch vụ kiểm toán…

Như vậy, nhìn chung, các quy định của pháp luật về dịch vụ kiểm toánquy định nhằm thống nhất quản lý hoạt động kiểm toán độc lập, bảo vệ lợi íchcủa cộng đồng và quyền lợi hợp pháp của nhà đầu tư, đảm bảo cung cấpthông tin kinh tế, tài chính trung thực, hợp lý, công khai, đáp ứng yêu cầuquản lý của cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và cá nhân

1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự điều chỉnh pháp luật về dịch vụ kiểm toán

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự điều chỉnh pháp luật về dịch vụ kiểmtoán, có thể tổng hợp các yếu tố này thành 2 nhóm chủ yếu là nhóm các yếu

tố bên ngoài và nhóm các yếu tố bên trong

1.2.3.1 Nhóm các yếu tố bên ngoài: bao gồm nhu cầu của nền kinh tế và

và cơ chế của nền kinh tế.

Thứ nhất, thực tế cho thấy không có sản phẩm dịch vụ nào cung cấp cho

thị trường lại không nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của nền kinh tế Do vậy ởbất cứ trình độ nào thì hệ thống pháp luật về dịch vụ kiểm toán cũng bị chi

Trang 29

phối, ràng buộc bởi hoàn cảnh, điều kiện và nhu cầu nhất định của nền kinh

tế Ảnh hưởng của nhu cầu của nền kinh tế đối với pháp luật về dịch vụ kiểmtoán thể hiện qua đòi hỏi của thị trường Ở những thị trường khác nhau cónhững đòi hỏi về dịch kiểm toán khác nhau và đối tượng kiểm toán khác nhaunên sự điều chỉnh của pháp luật về dịch vụ kiểm toán cũng khác nhau Cónhững đối tượng cần kiểm toán bởi theo quy định của nhà nước phải kiểmtoán, có đối tượng cần kiểm toán do yêu cầu quản lý của bản thân họ hay doyêu cầu của bên thứ ba, đối tác kinh doanh… Mặc dù kiểm toán cho đốitượng nào đi chăng nữa thì công việc kiểm toán cũng phải tuân theo phápluật và các chuẩn mực nghề nghiệp Tuy nhiên các điều kiện riêng của từngđối tượng này là không giống nhau, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoàikhác với doanh nghiệp nhà nước và khác với công ty cổ phần… Luật phápđiều chỉnh đối với các đối tượng này không giống nhau, hệ thống quản lý,kiểm sát của các đối tượng này cũng rất khác nhau và mục đích sử dụngkiểm toán cũng không thống nhất Thực tế không thể đánh giá hoặc so sánhdịch vụ kiểm toán ở Việt Nam với dịch vụ kiểm toán ở các nuớc phát triểnnhư Anh, Mỹ, Pháp… bởi hệ thống lý luận về kiểm toán, hệ thống quy trình

kỹ thuật nghiệp vụ của Việt Nam vẫn khác nhiều so với các nước đó Điềunày thực sự ảnh hưởng đến các quy định điều chỉnh quan hệ dịch vụ kiểmtoán của pháp luật Trong bối cảnh toàn cầu hóa, thị trường dịch vụ kiểmtoán được mở cửa thì yêu cầu đặt ra ở đây là phải có sự thu hẹp khoảng cáchcủa sự khác biệt về khung khổ pháp lý, và như vậy sẽ có những tác độngkhông nhỏ tới các quy định của pháp luật điều chỉnh sao cho phù hợp với khuvực và quốc tế

Thứ hai, đó là về cơ chế quản lý kinh tế Bất cứ hoạt động kinh tế nào,

dưới chế độ nào đều chịu tác động, chi phối bởi cơ chế quản lý kinh tế nhất

Trang 30

định Do đó, hoạt động dịch vụ kiểm toán cũng bị chi phối bởi cơ chế quản lýkinh tế và sự điều chỉnh của pháp luật về dịch vụ kiểm toán cũng bị ảnhhưởng thể hiện qua mục tiêu kinh tế và các chính sách kinh tế Mục tiêu pháttriển kinh tế có thể làm thay đổi lớn đến nhu cầu về kiểm toán kéo theo nhữngảnh hưởng đến pháp luật về dịch vụ kiểm toán, đặc biệt là về phạm vi điềuchỉnh Ví dụ chủ trương cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước hoặc quy địnhkhi công bố BCTC phải được kiểm toán xác nhận đã tạo ra thị trường lớn vềnhu cầu kiểm toán; hoặc định hướng phát triển dịch vụ kiểm toán của ĐảngCộng sản Việt Nam cũng tạo nhiều cơ hội cho sự phát triển của hoạt độngnày, từ đó yêu cầu hoàn thiện pháp luật về dịch vụ kiểm toán cho phù hợp vớithực tiễn ngày càng được đòi hỏi ở trình độ cao hơn Chính sách kinh tế cũng

có tác động rõ nét đến pháp luật về dịch vụ kiểm toán Trên cơ sở xác địnhmục tiêu phát triển kiểm toán, Nhà nước đã có hàng loạt các biện pháp đảmbảo cho sự phát triển như việc đầu tư nghiên cứu các chuẩn mực kiểm toán,

kế toán, và quan trọng nhất là xây dựng được một hành lang pháp lý an toàn,đầy đủ cho hoạt động dịch vụ kiểm toán tồn tại, phát triển Hoặc chính sáchkhuyến khích DNKT quốc tế kết hợp cùng các DNKT trong nước kiểm toáncác khách hàng là doanh nghiệp nhà nước, dự án đã tạo cho sự trao đổi họchỏi kinh nghiệm cùng nâng cao chất lượng dịch vụ kiểm toán Đây là những

nỗ lực lớn nhằm phát triển hoạt động kiểm toán Bên cạnh đó có những chínhsách nếu không được quan tâm kịp thời sẽ gây ra những ảnh hưởng không tốttới việc xây dựng và thực thi pháp luật về dịch vụ kiểm toán, làm cho phápluật về dịch vụ kiểm toán không phù hợp với thực tiễn, cản trở những ý tưởng

và hành vi kinh doanh chính đáng mang lại lợi ích cho người lao động và cảcộng đồng, làm gia tăng tình trạng vi phạm pháp luật Ví dụ việc quy định vềkhung giá phí kiểm toán hoặc cơ chế tiền lương của các KTV trong các

Trang 31

DNKT là doanh nghiệp nhà nước làm ảnh hưởng lớn đến quyền lợi của ngườilao động, doanh thu của đơn vị kiểm toán, từ đó dẫn việc áp dụng các quyđịnh pháp luật về dịch vụ kiểm toán khó khăn.

1.2.3.2 Nhóm các yếu tố bên trong: bao gồm yếu tố con người và công nghệ của quá trình kiểm toán.

Con người luôn là nhân tố quan trọng và mang tính quyết định trong cáchoạt động kinh tế xã hội Công việc kiểm toán độc lập do KTV chuyên nghiệpthực hiện, lao động của KTV (bao gồm cả các cấp quản lý) là yếu tố chính, cơbản nhất tạo nên giá trị dịch vụ, vì vậy năng lực cũng như chất lượng của độingũ KTV đều có thể ảnh hưởng tới sự điều chỉnh pháp luật về dịch vụ kiểmtoán Nếu KTV có trình độ nghiệp vụ cao, tư chất đạo đức tốt, hiểu biết phápluật thì các quy định của pháp luật sẽ thông thoáng, cởi mở và tất nhiên làtrình độ phát triển, tư duy lập pháp cũng ở mức độ cao hơn, phức tạp hơn.Ngược lại, nếu với đội ngũ KTV chưa phát triển thì các quy định của phápluật sẽ phải quy định thêm nhiều chế tài để hạn chế và ngăn ngừa các vi phạmcũng như quy định pháp luật phải chặt chẽ để tạo hành lang pháp lý cho hoạtđộng kiểm toán phát triển Bên cạnh đó, các quy định của pháp luật về dịch

vụ kiểm toán nếu phù hợp trình độ của đội ngũ KTV thì việc áp dụng cũngnhư thực thi các quy định của pháp luật sẽ dễ dàng hơn

Công nghệ của quá trình kiểm toán chính là yếu tố kỹ thuật Để cụ thểhóa các chuẩn mực chuyên môn, các DNKT thiết kế riêng cho mình hệ thốngcác quy trình kỹ thuật, các bước và phương pháp thu thập bằng chứng kiểmtoán, để dựa vào đó kiểm toán viên tiến hành thực hiện công việc được giao

Hệ thống các yếu tố kỹ thuật này sẽ đảm bảo cho các KTV thực hiện côngviệc một cách khoa học, thu thập được đầy đủ các bằng chứng kiểm toánthích hợp với chi phí và thời gian hợp lý, hạn chế thấp nhất rủi ro kiểm toán

Trang 32

Trong hệ thống các yếu tố kỹ thuật có thể kể đến sự hỗ trợ của các phần mềmmáy tính được các chuyên gia thiết lập, áp dụng cho một số các thủ tục kiểmtoán như giúp các KTV có được số liệu phân tích, đánh giá hoặc đưa ra kếtquả lựa chọn phương pháp chọn mẫu,…, và các ứng dụng khác; điều kiệnphương tiện làm việc như máy tính, fax, mạng máy tính nội bộ, phương tiệnliên lạc cũng như đi lại… Công nghệ của quá trình kiểm toán phát triển thìchất lượng dịch vụ kiểm toán càng được đảm bảo, do đó các quy định phápluật về dịch vụ kiểm toán về BCKT sẽ phải đặt ra nhiều yêu cầu cao hơn,cũng như quy định trách nhiệm của KTV đối với sản phẩm của mình sẽ phảicao hơn, hay quy định về mức phí kiểm toán (trường hợp có quy định mứckhung giá phí) sẽ phải thay đổi cho phù hợp với chi phí bỏ ra Điều này chứng

tỏ công nghệ của quá trình kiểm toán cũng có những tác động nhất định đếnquy định của pháp luật về dịch vụ kiểm toán, đòi hỏi pháp luật phải phù hợpvới trình độ phát triển công nghệ của quá trình kiểm toán

Trang 33

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ DỊCH VỤ

KIỂM TOÁN Ở VIỆT NAM

2.1 Nội dung của pháp luật hiện hành về dịch vụ kiểm toán

2.1.1 Các quy định về doanh nghiệp kiểm toán

Hiện nay, theo quy định tại Điều 20 Luật kiểm toán độc lập số 67/2011/QH12, ở Việt Nam các loại hình được kinh doanh dịch vụ kiểm toán gồm có:Công ty TNHH hai thành viên trở lên; Công ty hợp danh; Doanh nghiệp tưnhân; Chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài Như vậy, các loại hìnhdoanh nghiệp đã được mở rộng hơn so với Nghị định 105/2004/NĐ-CP (Nghịđịnh 105 chỉ bao gồm: Công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân và doanhnghiệp theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam) cho phù hợp với hình thức

tổ chức của các tổ chức kiểm toán độc lập ở các nước trên thế giới và quyđịnh của pháp luật đầu tư cũng như xu hướng kinh doanh hiện nay

Về điều kiện để thành lập doanh nghiệp hành nghề kiểm toán cơ quannhà nước đã quản lý chặt chẽ, yêu cầu cao hơn nhằm nâng cao chất lượngnghiệp vụ, quy mô hoạt động, tính chịu trách nhiệm của doanh nghiệp kiểmtoán Nếu như theo quy định tại Điều 23 NĐ 105/2004/NĐ-CP thì DNKT chỉđược thành lập khi có ít nhất 3 KTV có Chứng chỉ hành nghề kiểm toán trởlên làm việc trọn thời gian cho doanh nghiệp thì tại Điều 21 Luật Kiểm toánđộc lập đã quy định điều kiện thành lập doanh nghiệp cung cấp dịch vụ kiểmtoán độc lập được thành lập phải có ít nhất 5 KTV hành nghề Trong từng lĩnhvực, ngoài việc tuân thủ các quy định chung về hoạt động kiểm toán, còn cónhững quy định riêng về các loại doanh nghiệp được phép kiểm toán tại

Trang 34

khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 21 Luật kiểm toán độc lập số 67/2011/QH12.Trong lĩnh vực ngân hàng, theo Điều 11 Thông tư số 39/2011/TT-NHNNngày 15/12/2011 điều kiện để các DNKT được kiểm toán các tổ chức tín dụng

là đã thành lập và có thời gian hoạt động kiểm toán tại Việt Nam tối thiểu 03năm; có vốn chủ sở hữu, vốn được cấp từ 10 tỷ đồng trở lên; có số lượngkiểm toán viên hành nghề từ 10 người trở lên đồng thời có ít nhất 05 kiểmtoán viên hành nghề tham gia kiểm toán một ngân hàng, tổ chức tín dụng phingân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài Trong đó, phải có ít nhất 03kiểm toán viên hành nghề có từ 02 năm kinh nghiệm kiểm toán trong lĩnh vựctài chính, ngân hàng trở lên và một số điều kiện khác trong Điều luật Với quyđịnh các tiêu chuẩn, điều kiện chặt chẽ do tính chất của quá trình kiểm toán

tổ chức tín dụng rất phức tạp như vậy thì các DNKT của Việt Nam đáp ứngđược là rất ít Vì thực tế các DNKT thường chỉ có 03 đến 05 KTV với vốnđiều lệ bình quân từ 1 đến 1,5 tỷ đồng (“Đương đầu với cám dỗ” - GSVương Đình Huệ, Tổng Kiểm toán Nhà nước, Tuổi trẻ cuối tuần, ngày15/9/2008) Điều này yêu cầu các DNKT Việt Nam phải có chiến lược pháttriển nâng tầm chất lượng và quy mô của công ty để có thế đáp ứng các tiêuchuẩn luật định Đối với việc kiểm toán các công ty, doanh nghiệp tham giathị trường chứng khoán, DNKT cũng phải đạt được các tiêu chuẩn về vốnđiều lệ và số KTV hành nghề theo Điều 6 Thông tư số 183/2013/TT-BTCngày 04/12/2013, đó là: Có vốn điều lệ hoặc vốn được cấp (đối với chinhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam) từ 4 tỷ đồng trởlên và phải thường xuyên duy trì vốn chủ sở hữu trên bảng cân đối kế toánkhông thấp hơn 4 tỷ đồng Từ kỳ chấp thuận cho năm 2016, số vốn nêu trên

là 6 tỷ đồng trở lên Có số lượng kiểm toán viên hành nghề từ 07 người trở

Trang 35

lên, trong đó có Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc, có đủ các tiêu chuẩn quyđịnh tại Điều 8 của Thông tư này Từ kỳ chấp thuận cho năm 2016, có sốlượng kiểm toán viên hành nghề từ 10 người trở lên và có thời gian hoạtđộng kiểm toán tại Việt Nam tối thiểu là 36 tháng tính từ ngày được cơquan có thẩm quyền xác nhận danh sách đăng ký hành nghề kiểm toán lầnđầu hoặc từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch

vụ kiểm toán lần đầu đến ngày nộp hồ sơ đăng ký thực hiện kiểm toán, đãphát hành báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính cho tối thiểu 150 kháchhàng tính từ ngày 01/01 của năm nộp hồ sơ đến ngày nộp hồ sơ đăng kýthực hiện kiểm toán Từ kỳ chấp thuận cho năm 2016, số lượng khách hàngtối thiểu này là 300 khách hàng

Về cơ cấu tổ chức trong các DNKT ở các nước phát triển thường theo hệthống cấp bậc về chuyên môn bao gồm các chủ phần hùn (Partner) gồm cácchủ phần hùn có vốn góp trong công ty và chủ phần hùn không có vốn góp -

họ đều là những người có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao nhất, tiếp đến làcấp điều hành viên cao cấp (Senior Manager hoặc Principal), tiếp đó là cáccấp quản lý, KTV và trợ lý KTV Mức độ chi tiết trong các cấp bậc trongdoanh nghiệp phụ thuộc vào quy mô và cách thức tổ chức quản lý của từngdoanh nghiệp Trong DNKT thường có nhiều các hoạt động dịch vụ và ở mỗiloại dịch vụ đều phân theo các cấp bậc tương ứng Còn các DNKT ở ViệtNam có cơ cấu tổ chức theo Luật kiểm toán độc lập số 67/2011/QH12 vàNghị định số 17/2012/NĐ-CP hướng dẫn về tiêu chuẩn, điều kiện thành lập

và hoạt đối với DNKT:

- Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên kiểm toán:thành viên của công ty có thể là cá nhân hoặc tổ chức (nếu là tổ chức phải cử

Trang 36

một người làm đại diện cho tổ chức vào Hội đồng thành viên) Người đại diệncủa thành viên là tổ chức phải là kiểm toán viên và phải đăng ký hành nghềtại doanh nghiệp kiểm toán đó với tư cách cá nhân.

- Đối với công ty hợp danh kiểm toán: có thành viên hợp danh và thànhviên góp vốn Số lượng thành viên hợp danh ít nhất là 02 người và cả hai đềuphải có Chứng chỉ kiểm toán viên, một trong hai thành viên hợp danh phải làGiám đốc (hoặc Tổng Giám đốc).Thành viên hợp danh phải là cá nhân, thànhviên góp vốn có thể là tổ chức hoặc cá nhân Kiểm toán viên hành nghề khôngđược đồng thời là thành viên góp vốn của hai doanh nghiệp kiểm toán trở lên

- Đối với doanh nghiệp tư nhân kiểm toán: Chủ doanh nghiệp tư nhânkiểm toán phải làm Giám đốc (hoặc Tổng Giám đốc)

Pháp luật về kiểm toán của Việt Nam cũng quy định các thành viên đượcphép tự do chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho người không phải làthành viên nếu đạt được các tiêu chuẩn điều kiện như phẩm chất, đạo đức,nghề nghiệp có tham gia góp vốn, có Chứng chỉ hành nghề; và các quy định liênquan đến tư cách trở thành thành viên hợp danh trong một số trường hợp cụ thể

Về nghĩa vụ của doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểmtoán nước ngoài tại Việt Nam được quy định tại Điều 29 Luật Kiểm toán độclập nêu rõ: Chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước khách hàng về kết quảkiểm toán theo hợp đồng kiểm toán đã giao kết và chịu trách nhiệm với người

sử dụng kết quả kiểm toán của đơn vị được kiểm toán tại ngày ký báo cáokiểm toán (Có lợi ích liên quan trực tiếp đến kết quả kiểm toán của đơn vịđược kiểm toán tại ngày ký báo cáo kiểm toán; Có hiểu biết một cách hợp lý

về báo cáo tài chính và cơ sở lập báo cáo tài chính là các chuẩn mực kế toán,chế độ kế toán và các quy định khác của pháp luật có liên quan; Đã sử dụng

Trang 37

một cách thận trọng thông tin trên báo cáo tài chính đã kiểm toán) Bồithường thiệt hại cho khách hàng, đơn vị được kiểm toán trên cơ sở hợp đồngkiểm toán và theo quy định của pháp luật Ngoài ra, để tạo nguồn chi trả bồithường thiệt hại do lỗi của DNKT gây ra cho khách hàng và người sử dụngkết quả kiểm toán, pháp luật kiểm toán cũng quy định DNKT bắt buộc phảimua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho KTV hoặc lập Quỹ dự phòng rủi

ro nghề nghiệp tại khoản 5 Điều 29 Luật Kiểm toán độc lập số67/2011/QH12

Có thể đánh giá về cơ bản các quy định pháp luật của Việt Nam vềDNKT đã thích ứng với chuẩn mực và thông lệ quốc tế

2.1.2 Các quy định về kiểm toán viên và tổ chức nghề nghiệp kiểm toán

2.1.2.1 Các quy định về kiểm toán viên

Công việc kiểm toán độc lập do KTV chuyên nghiệp thực hiện Nhữngngười sử dụng kết quả kiểm toán tin tưởng và bổ nhiệm KTV bởi tính chấthành nghề độc lập của KTV và khả năng về chuyên môn nghiệp vụ cũng như

tư chất đạo đức chính trực, khách quan trong công việc của họ Để hành nghềkiểm toán, KTV cần đảm bảo các yêu cầu:

Thứ nhất, yêu cầu về tính độc lập, khách quan Yêu cầu này được xem

như là điều kiện cần để đạt được mực tiêu của hoạt động kiểm toán, độc lập

là nguyên tắc hành nghề cơ bản của KTV Kết quả kiểm toán sẽ không cógiá trị khi những người sử dụng kết quả kiểm toán tin rằng cuộc kiểm toánthiếu tính độc lập cho dù cuộc kiểm toán được thực hiện bởi những người

có trình độ cao đến đâu Khoản 1 Điều 18 Luật Kiểm toán số67/2011/QH12 quy định khi hành nghề tại doanh nghiệp kiểm toán, kiểmtoán viên phải “Tuân thủ nguyên tắc hoạt động kiểm toán độc lập”; khoản 7

Trang 38

Điều 18 Luật kiểm toán độc lập yêu cầu tính độc lập đòi hỏi sự trung thực

và trách nhiệm của KTV đối với người sử dụng kết quả kiểm toán “Thựchiện kiểm toán, soát xét hồ sơ kiểm toán hoặc ký báo cáo kiểm toán và chịutrách nhiệm về báo cáo kiểm toán và hoạt động của mình” Bên cạnh đóĐiều 16 Nghị định số 17/2012/NĐ-CP quy định “Kiểm toán viên hànhnghề không được ký báo cáo kiểm toán cho một đơn vị được kiểm toán quá

ba (03) năm liên tục” Như vậy không chỉ yêu cầu về tính độc lập mà Luậtkiểm toán còn cho thấy phải có sự khách quan, sự khách quan này khôngđược lặp lại không quá 03 lần liên tục Đồng thời KTV không bị ràng buộctrong việc tiếp xúc với các tài liệu và báo cáo của doanh nghiệp “Yêu cầuđơn vị được kiểm toán cung cấp đầy đủ, kịp thời tài lệu kế toán và giảitrình các vấn đề có liên quan đến nội dung kiểm toán; yêu cầu kiểm kê tàisản, đối chiếu công nợ của đơn vị được kiểm toán liên quan đến nội dungkiểm toán, kiểm tra toàn bộ hồ sơ, tài liệu có liên quan đến hoạt động kinh

tế, tài chính của đơn vị được kiểm toán ở trong và ngoài đơn vị trong quátrình thực hiện kiểm toán” (khoản 3 Điều 17 Luật kiểm toán số67/2011/QH12) Mọi câu hỏi về tình hình kinh doanh hoặc các xử lý kếtoán trong các giao dịch của doanh nghiệp cần được trả lời đầy đủ và đảmbảo rằng KTV không bị hạn chế trong việc thu thập các bằng chứng kiểmtoán Nhưng để tránh việc các KTV lạm dụng quyền này, pháp luật còn quyđịnh trách nhiệm của KTV: “Kiểm toán viên hành nghề, doanh nghiệpkiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Namkhông được tiết lộ thông tin về hồ sơ kiểm toán, trừ trường hợp được kháchhàng đơn vị được kiểm toán chấp thuận hoặc theo quy định của pháp luật”(khoản 1 Điều 43 Luật Kiểm toán độc lập số 67/2011/QH12); “không được

Trang 39

sử dụng thông tin về hồ sơ kiểm toán, khách hàng, đơn vị được kiểm toán

để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợppháp của cơ quan, tổ chức cá nhân” (khoản 2 Điều 43 Luật Kiểm toán độclập số 67/2011/QH12) Trong quá trình kiểm toán, KTV phải thực sựkhông bị chi phối hoặc tác động bởi bất kỳ lợi ích vật chất hoặc tinh thầnnào làm ảnh hưởng đến sự trung thực, khách quan và độc lập nghề nghiệpcủa mình, vì vậy tại Điều 13 Luật Kiểm toán độc lập đã quy định nhữnghành vi nghiêm cấm đối với KTV hành nghề: “a) Mua nhận biếu tặng, nắmgiữ cổ phiếu hoặc phần vốn góp của đơn vị được kiểm toán không phânbiệt số lượng; b) Mua bán trái phiếu hoặc tài sản khác của đơn vị đượckiểm toán có ảnh hưởng đến tính độc lập theo quy định của chuẩn mực đạođước nghề nghiệp kế toán, kiểm toán; c) Nhận hoặc đòi hỏi bất kỳ mộtkhoản tiền, lợi ích nào khác từ đơn vị được kiểm toán ngoài khoản phí dịch

vụ và chi phí đã thỏa thuận trong hợp đồng đã giao kết; d) Sách nhiễu, lừadối khách hàng, đơn vị được kiểm toán Và để đảm bảo yêu cầu về tính độclập của KTV, ngoài mặt chủ quan về tư chất đạo đức của KTV cần duy trì

và đảm bảo tính độc lập trong quá trình kiểm toán, pháp luật yêu cầu cácKTV không được thực hiện kiểm toán cho các khách hàng mà KTV cóquan hệ gia đình ruột thịt là người trong bộ máy quản lý, điều hành trongđơn vị được kiểm toán hoặc bản thân KTV có quyền lợi về mặt kinh tế.Yêu cầu này được thể hiện tại khoản 2, khoản 3, khoản 4, khoản 5, khoản

6, khoản 7 Điều 19 Luật Kiểm toán độc lập số 67/2011/QH12: “Kiểm toánviên hành nghề không được thực hiện kiểm toán trong các trường hợp: làngười giữ chức vụ quản lý, điều hành, thành viên ban kiểm soát hoặc kếtoán trưởng của đơn vị được kiểm toán; trong thời gian hai năm, kể từ thời

Trang 40

điểm thôi giữ chức vụ quản lý, điều hành, thành viên ban kiểm soát, kếtoán trưởng của đơn vị được kiểm toán; là người đang thực hiện hoặc đãthực hiện trong năm trước liền kề công việc ghi sổ kế toán, lập báo cáo tàichính hoặc thực hiện kiểm toán nội bộ cho đơn vị được kiểm toán; có bố,

mẹ, vợ, chồng, con, anh, chị, em ruột là người có lợi ích tài chính trực tiếphoặc gián tiếp đáng kể trong đơn vị được kiểm toán theo quy định củachuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán, hoặc là người giữ chức

vụ quản lý, điều hành, thành viên ban kiểm soát, kế toán trưởng của đơn vịđược kiểm toán” Trong chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp cũng đòi hỏiKTV không được nhận làm kiểm toán cho các đơn vị mà mình có quan hệkinh tế hoặc quyền lợi kinh tế như góp vốn, cho vay, hoặc vay vốn từkhách hàng, hoặc là cổ đông chi phối của khách hàng, hoặc có ký hợp đồnggia công, dịch vụ, đại lý tiêu thụ hàng hóa và chuẩn mực đạo đức cũng yêucầu KTV hành nghề không được vừa làm dịch vụ kế toán (như ghi sổ kếtoán, lập BCTC, kiểm toán nội bộ, định giá tài sản, tư vấn quản lý, tư vấn

tài chính, thuế) vừa làm dịch vụ kiểm toán cho cùng một khách hàng.

Thứ hai, yêu cầu về phẩm chất đạo đức chính là đảm bảo “có năng lực

hành vi dân sự đầy đủ; có phẩm chất đạo đức tốt, có ý thức trách nhiệm, liêmkhiết, trung thực, khách quan” (điểm a, điểm b khoản 1 Điều 14 Luật Kiểmtoán độc lập) Trong lĩnh vực dịch vụ kiểm toán, sản phẩm của hoạt động nàykhông có khuôn mẫu định sẵn và phụ thuộc vào tính chủ quan của KTV Vìvậy, điều quan trọng là KTV phải luôn duy trì được tính độc lập, khách quankhi tiến hành công việc cũng như khi xem xét, đánh giá các bằng chứng kiểmtoán làm cơ sở để đưa ra ý kiến về BCTC KTV phải là người có lương tâmnghề nghiệp, luôn làm việc với sự thận trọng cao nhất với tinh thần làm

Ngày đăng: 29/10/2018, 03:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
17. Vụ Chế độ kế toán và kiểm toán-Bộ Tài chính (2007), Một số tình hình về hoạt động của các công ty kiểm toán độc lập năm 2006 (Tài liệu dùng cho cuộc họp thường niên Giám đốc các công ty kiểm toán ngày 5- 6/4/2007) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số tình hìnhvề hoạt động của các công ty kiểm toán độc lập năm 2006 (
Tác giả: Vụ Chế độ kế toán và kiểm toán-Bộ Tài chính
Năm: 2007
18. Bùi Văn Mai-Phó Chủ tịch kiêm TTK VACPA (2015), “Lợi ích của Kiểm toán độc lập vai trò và trách nhiệm của các bên”, kiemtoanavico.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lợi ích của Kiểmtoán độc lập vai trò và trách nhiệm của các bên”
Tác giả: Bùi Văn Mai-Phó Chủ tịch kiêm TTK VACPA
Năm: 2015
19. TS. Phan Thanh Hải, “Nghiên cứu về khái niệm kiểm toán qua các giáo trình phổ biến hiện nay”, kketoan.duytan.edu.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu về khái niệm kiểm toán qua các giáotrình phổ biến hiện nay”
20. “Kiểm toán vẫn chưa độc lập”, Tapchiketoan.com, ngày 01/9/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm toán vẫn chưa độc lập”, "Tapchiketoan.com
21. Hà Thị Ngọc Hà (2008), “Cập nhật hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam phù hợp với chuẩn mực kiểm toán quốc tế và lộ trình chuyển giao cho VACPA”, Tạp chí Nghiên cứu khoa học Kiểm toán, (7) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cập nhật hệ thống chuẩn mực kiểm toán ViệtNam phù hợp với chuẩn mực kiểm toán quốc tế và lộ trình chuyển giaocho VACPA”, "Tạp chí Nghiên cứu khoa học Kiểm toán
Tác giả: Hà Thị Ngọc Hà
Năm: 2008
22. Vương Đình Huệ (2008), “Đương đầu với cám dỗ”, Tuổi trẻ cuối tuần, ngày 15/9/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đương đầu với cám dỗ”, "Tuổi trẻ cuối tuần
Tác giả: Vương Đình Huệ
Năm: 2008
23. Bùi Văn Mai (2006), “Hoạt động kiểm toán độc lập góp phần thúc đẩy tiến trình mở cửa, hội nhập quốc tế”, Tạp chí kiểm toán Nhà nước, (12) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động kiểm toán độc lập góp phần thúc đẩytiến trình mở cửa, hội nhập quốc tế”, "Tạp chí kiểm toán Nhà nước
Tác giả: Bùi Văn Mai
Năm: 2006
24. Bùi Văn Mai (2007), “Xây dựng và ban hành Luật kiểm toán độc lập”, Tạp chí kiểm toán, (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và ban hành Luật kiểm toán độc lập”
Tác giả: Bùi Văn Mai
Năm: 2007
25. Nguyễn Quang Quynh, Ngô Trí Tuệ, Tô Văn Nhật (2005), Giáo trình Lý thuyết kiểm toán, Nxb Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lýthuyết kiểm toán
Tác giả: Nguyễn Quang Quynh, Ngô Trí Tuệ, Tô Văn Nhật
Nhà XB: Nxb Tài chính
Năm: 2005
26. Đặng Văn Thanh (2007), “Giải pháp đưa kế toán và kiểm toán Việt Nam ngang tầm khu vực và quốc tế”, Kỷ yếu Hội thảo ACCA-Hiệp hội kế toán công chứng Anh-Việt Nam, ngày 25/9/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp đưa kế toán và kiểm toán Việt Namngang tầm khu vực và quốc tế”, "Kỷ yếu Hội thảo ACCA-Hiệp hội kế toáncông chứng Anh-Việt Nam
Tác giả: Đặng Văn Thanh
Năm: 2007
27. Trần Thị Giang Tân (2008), “Đạo đức nghề nghiệp từ lý luận đến thực tiễn”, Tạp chí kế toán, (9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo đức nghề nghiệp từ lý luận đến thựctiễn”, "Tạp chí kế toán
Tác giả: Trần Thị Giang Tân
Năm: 2008
28. Nguyễn Thị Hồng Thúy (2005), “Một số vấn đề về kiểm soát chất lượng hoạt động của kiểm toán độc lập ở Việt Nam”, Tạp chí Công nghiệp, (5), tr.44-49 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về kiểm soát chất lượnghoạt động của kiểm toán độc lập ở Việt Nam”, "Tạp chí Công nghiệp
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Thúy
Năm: 2005
29. Đoàn Ánh Tuyết (2006), Tổ chức và hoạt động của kiểm toán Nhà nước theo pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sỹ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức và hoạt động của kiểm toán Nhà nướctheo pháp luật Việt Nam
Tác giả: Đoàn Ánh Tuyết
Năm: 2006
30. “Sự cần thiết và quá trình hình thành kiểm toán độc lập ở Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự cần thiết và quá trình hình thành kiểm toán độc lập ở Việt Nam
2. Nghị định số 17/2012/NĐ-CP ngày 13/3/2012 về việc Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Kiểm toán độc lập Khác
4. Nghị định 105/2013/NĐ-CP ngày 16/9/2013 về việc Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán độc lập Khác
5. Thông tư số 129/2012/TT-BTC ngày 9/8/2012 về việc Quy định thi và cấp chứng chỉ kiểm toán viên và Chứng chỉ hành nghề kế toán Khác
6. Thông tư số 150/2012/TT-BTC về việc hướng dẫn cập nhật kiến thức hàng năm cho kiểm toán viên đăng ký hành nghề kiểm toán Khác
7. Thông tư số 202/2012/TT-BTC ngày 19/11/2012 về việc hướng dẫn về đăng ký, quản lý và công khai danh sách kiểm toán viên hành nghề kiểm toán Khác
8. Thông tư số 203/2012/TT-BTC ngày 19/11/2012 về việc trình tự, thủ tục cấp, quản lý, sử dụng Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w