1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Giới thiệu các dịch vụ tài chính quản lý rủi ro cho hộ thu nhập thấp ở việt nam

49 604 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giới thiệu Các Dịch Vụ Tài Chính Quản Lý Rủi Ro Cho Hộ Thu Nhập Thấp Ở Việt Nam
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Tài Chính
Thể loại Dự Án
Năm xuất bản 2003 - 2007
Thành phố Việt Nam
Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 847,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giới thiệu các dịch vụ tài chính quản lý rủi ro cho hộ thu nhập thấp ở việt nam

Trang 1

GIỚI THIỆU CÁC DỊCH VỤ TÀI CHÍNH QUẢN LÝ RỦI RO CHO HỘ THU NHẬP THẤP

Ở VIỆT NAM

Dự án “Mở rộng Tài chính vi mô và Bảo hiểm vi mô cho lao động

nữ khu vực phi chính thức” 2003 - 2007

Trang 2

Mục lục

MỤC LỤC 2

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 3

1 TÓM TẮT BÁO CÁO 4

2 CƠ SỞ VÀ LÝ DO NGHIÊN CỨU 8U 2.1 Nghèo đói và bảo trợ xã hội 8

2.2 Tài chính vi mô và quản lý rủi ro 8

2 PHẢN ỨNG CỦA ILO 9

3.1 Mục tiêu và kết quả mong đợi 9

3.2 Cơ cấu quản lý dự án 10

3.3 Phương pháp tiếp cận của Dự án 10

3 NHỮNG DỊCH VỤ TÀI CHÍNH QUẢN LÝ RỦI RO Ở VIỆT NAM 13

3.1 Dịch vụ tài chính quản lý rủi ro là gì? 13

3.2 Nhu cầu về dịch vụ tài chính quản lý rủi ro 13

3.3 Cung cấp dịch vụ tài chính quản lý rủi ro 15

3.4 Tóm tắt những phát hiện 19

4 TYM: “TIẾT KIỆM GIA ĐÌNH” 20

4.1 Tiết kiệm linh hoạt và có kỳ hạn 20

4.2 Sự hài lòng của khách hàng 21

4.3 Công việc và chi phí tăng thêm 23

4.4 Một số phát hiện 23

5 QUỸ HỖ TRỢ PHỤ NỮ NINH PHƯỚC: BẢO HIỂM NHÂN THỌ CÁ NHÂN 25

5.1 Bảo hiểm sinh mạng cá nhân 25

5.2 Kết quả ban đầu và một số điều chỉnh 27

5.4 Khối lượng công việc và chi phí tăng thêm 29

5.5 Phát hiện 30

6 QUỸ ỦY THÁC PHỤ NỮ ĐÔNG TRIỀU: QUỸ TƯƠNG TRỢ 31

6.1 Quỹ Tương trợ 31

6.2 Nghiên cứu thị trường 33

6.3 Nghiên cứu thống kê 34

6.4 Phát hiện 35

7 BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ KHUYẾN NGHỊ 36

7.1 Cơ hội 36

7.2 Một loạt các thách thức 37

8 KẾT LUẬN 40

PHỤ LỤC 41

Phụ lục 1: Các khóa đào tạo do dự án ILO Việt Nam cung cấp 41 Phụ lục 2: Các đặc điểm của dịch vụ tài chính quản lý rủi ro được thử nghiệm 46

Trang 3

Danh mục từ viết tắt

BLĐTB&XH Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội

BTV Ban tư vấn Dự án

CEP Quỹ trợ vốn cho người nghèo tự tạo việc làm

CGAP Nhóm tư vấn hỗ trợ người nghèo nhất

CLTT&GN Chiến lược tổng thể về giảm nghèo và tăng trưởng

ĐPV Điều phối viên dự án quốc gia

KHPTKTXH Kế hoạch Phát triển Kinh tế Xã hội

ILO Tổ chức Lao động Quốc tế

NHCSXH Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam

NHNN&PTNT Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam

QUTPNĐT Quỹ Ủy thác phụ nữ Đông Triều

QHTPNNP Quỹ Hỗ trợ phụ nữ Ninh Phước

TCVM Tài chính vi mô

Trang 4

1 Tóm tắt báo cáo

Cơ sở và lý do nghiên cứu

Thành tựu về giảm nghèo của Việt nam được coi là một trong những thành công nhất trong phát triển kinh tế Trong vòng chưa đến 10 năm, gần 60% hộ gia đình đã thoát khỏi nghèo đói Mặc dù tốc độ tăng trưởng kinh tế chung là rất ấn tượng, nhưng có dấu hiệu rõ ràng cho thấy phát triển ngày càng trở nên ít bình đẳng hơn Một bộ phận không nhỏ dân

cư không thể hưởng lợi từ thành quả phát triển của Việt Nam và nhiều gia đình ở Việt Nam vẫn đang đấu tranh từng ngày để có cái ăn Cơ chế bảo trợ xã hội như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, tiết kiệm và tài chính vi mô linh hoạt chưa phát triển đầy đủ Phần lớn người dân vẫn bị loại ra khỏi các cơ chế này, đặc biệt là người lao động ở khu vực phi chính thức

Không nghi ngờ rằng tài chính vi mô đã đóng góp đáng kể vào giảm nghèo ở Việt Nam trong vòng một thập kỷ qua Một vài tổ chức tài chính vi mô nổi lên ở Việt Nam Gộp chung lại, hiện nay có khoảng trên 400.000 người đang là khách hàng thường xuyên của các tổ chức tài chính vi mô Các tổ chức này, cho đến nay, vẫn chủ yếu tập trung vào cung cấp các món vay nhỏ cho khách hàng Tuy nhiên, không thể loại bỏ tính dễ tổn thương của hộ thu nhập thấp chỉ bởi việc tiếp cận đến vốn vay nhỏ1 Người dân dễ bị tổn thương với một loạt các rủi ro như tử vong, ốm đau, và mất mùa dẫn đến tăng các khoản chi, hoặc giảm đáng kể thu nhập hoặc cả hai Nhất là với những gia đình do phụ nữ làm chủ, nếu gặp phải các cú sốc tài chính không mong muốn thì có thể sẽ phải đối mặt với

Tại Việt Nam, dự án đã chọn lựa hình thức phối hợp với các tổ chức tài chính vi mô để xây dựng và thử nghiệm dịch vụ tài chính quản lý rủi ro để giúp phụ nữ nghèo tự bảo vệ

họ khỏi các cú sốc và áp lực kinh tế Đầu tiên, dự án thực hiện hai nghiên cứu ở một số

1 Craig Churchill, Liệu Tài chính vi mô có phải là ưu tiên cho người nghèo? Hiểu biết về nhu cầu đối với các dịch vụ tài chính quản lý rủi ro, ILO, 2004

Trang 5

tỉnh để một mặt xác định nhu cầu và chiến lược quản lý rủi ro của phụ nữ nghèo và mặt khác xác định các dịch vụ hiện có Kết quả nghiên cứu cho thấy những dấu hiệu của những rủi ro hoặc áp lực kinh tế chủ yếu mà hộ gia đình thường phải đối mặt, cụ thể là bệnh tật, tai nạn, tử vong, chi phí giáo dục, các sự kiện cộng đồng, và cách thức họ thường sử dụng để đối phó với những rủi ro này là vay bạn bè và họ hàng, vay nặng lãi, vay các tổ chức tài chính vi mô hoặc ngân hàng, dùng tiết kiệm, hoặc mua bảo hiểm Các sản phẩm tiết kiệm hiện có của ngân hàng và tổ chức tài chính vi mô không đủ linh hoạt

để được coi là một cơ chế hiệu quả nhằm đối mặt với rủi ro Tiền gửi tối thiểu tại ngân hàng quá cao so với khả năng tiết kiệm của phụ nữ nghèo và mất nhiều thời gian để rút tiết kiệm tại tổ chức tài chính vi mô Hơn nữa, hầu hết các sản phẩm bảo hiểm chính thức chủ yếu hướng vào hộ thu nhập trung bình và cao, và một số ít sáng kiến đưa ra cho khu vực phi chính thức lại không được thiết kế và quản lý một cách chuyên nghiệp và do đó hạn chế tiếp cận

Xây dựng và thử nghiệm các dịch vụ tài chính quản lý rủi ro

Với những phát hiện này, dự án bắt đầu thiết lập quan hệ đối tác với 3 tổ chức tài chính

vi mô để xây dựng và thử nghiệm sản phẩm tài chính quản lý rủi ro:

• Tao Yêu Mày (TYM) – “Tiết kiệm gia đình”

T.Y.M là tên viết tắt quốc tế của "Tao Yêu Mày" (hay Quỹ Tình thương), một mô hình

áp dụng theo Ngân hàng Grameen Bank (Bangladesh) với mục đích hỗ trợ phụ nữ nghèo thông qua hoạt động tài chính vi mô TYM bắt đầu hoạt động từ năm 1992 dưới hình thức một dự án của Trung Ương Hội phụ nữ Việt Nam TYM đã phát triển trở thành một Ban đặc biệt với đội ngũ cán bộ chuyên trách nhiệt tình Hiện nay TYM hoạt động tại 10 tỉnh miền Bắc Việt Nam, và phục vụ trên 20.000 phụ nữ

TYM triển khai sản phẩm tiết kiệm linh hoạt với tên gọi “Tiết kiệm gia đình” và thí điểm

ở hai chi nhánh: Mê Linh (tỉnh Vĩnh Phúc) và Sóc Sơn (huyện ngoại thành Hà nội) Sản phẩm tài chính mới này gồm tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn 3 và 6 tháng Thủ tục gửi và rút tiền rất nhanh chóng và đơn giản Cùng với chiến lược marketing hiệu quả, việc tung sản phẩm mới này ngay lập tức mang lại thành công Số người gửi tiết kiệm và số tiền gửi tiết kiệm tăng lên đáng kể và hơn một nửa khách hàng đã được nhận tiền gửi tiết kiệm chỉ trong vòng 48 giờ hoặc trong cùng ngày, trong khi đó thời gian đợi theo thông lệ trước đó là 1 tuần Nói tóm lại, “Tiết kiệm gia đình” đã cải thiện việc tiếp cận của thành viên đến các dịch vụ tiết kiệm phù hợp, cho phép thành viên tiết kiệm theo năng lực, giảm sự phụ thuộc của thành viên vào tín dụng, và tăng thêm thu nhập cho thành viên từ tiền gửi tiết kiệm, và thậm chí thu hút được thêm thành viên mới Sản phẩm này cũng cho phép TYM tăng thêm nguồn vốn để cho vay Tuy vậy, việc giới thiệu sản phẩm cũng mang lại thách thức cho tổ chức như việc quản lý số liệu phức tạp và khối lượng công việc quá tải làm giảm động lực làm việc của cán bộ

• Quỹ hỗ trợ phụ nữ Ninh Phước (QHTPNNP) – Bảo hiểm sinh mạng cá nhân

QHTPNNP được thành lập năm 2001 dưới sự hỗ trợ của ActionAid Việt Nam để nhằm cung cấp dịch vụ tài chính cho phụ nữ nghèo huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận, miền Nam Việt Nam QHTPNNP phục vụ 2.400 phụ nữ tại 4 xã trong huyện, áp dụng phương pháp tiếp cận của Ngân hàng Grameen

Trang 6

QHTPNNP đã lựa chọn giới thiệu sản phẩm bảo hiểm sinh mạng tín dụng nhằm bảo vệ

gia đình của khách hàng và Quỹ trong trường hợp khách hàng chẳng may qua đời, hoặc

bị thương tật, tàn tật vĩnh viễn Quỹ đã chọn cách tiếp cận đại lý - đối tác và thương thảo hợp tác với Bảo Việt – công ty bảo hiểm quốc doanh lớn nhất Sau vài tháng thảo luận, hai bên cùng thống nhất sản phẩm bảo hiểm bằng số tiền khách hàng vay Trong trường hợp khách hàng chằng may qua đời hoặc bị thương tật, tàn tật vĩnh viễn, Bảo Việt sẽ trả toàn bộ số tiền vay cho QHTPNNP, giữ lại phần dư nợ gốc và trả phần chênh lệch cho khách hàng hoặc người thừa kế Với tư cách một đại lý, QHTPNNP bán bảo hiểm cho khách hàng còn Bảo Việt cung cấp sản phẩm và xử lý bồi thường Sản phẩm được triển khai từ tháng 1 năm 2004 và cho thấy một kết quả đầy hứa hẹn Một vài khách hàng đã qua đời và gia đình của họ không phải chịu gánh nặng trả nợ Trong giai đoạn thử nghiệm cũng xuất hiện một vài khó khăn nhưng Bảo Việt và QHTPNNP đã cũng làm việc để có những sửa đổi phù hợp Một trong những bài học kinh nghiệm chính có được qua gia đoạn thí điểm là mối quan hệ đối tác hiệu quả giữa một công ty bảo hiểm và một

tổ chức tài chính vi mô Điều này mở ra cơ hội mới cho cả công ty bảo hiểm và tổ chức tài chính vi mô Các tổ chức tài chính vi mô hỗ trợ khách hàng tự bảo vệ mình và đồng thời bảo đảm tính bền vững của Quỹ Các công ty bảo hiểm gia nhập vào một thị trường

hộ thu nhập thấp rộng lớn ở Việt Nam

• Quỹ Ủy thác của Phụ nữ Đông Triều (QUTPNĐT) – Quỹ tương trợ

QUTPNĐT do Hội Phụ nữ thành lập năm 1997 dưới sự hỗ trợ của ActionAid Việt Nam

Nỗ lực của Quỹ là hỗ trợ hộ nghèo tại 10 xã vùng nông thôn huyện Đông Triều tỉnh Quảng Ninh, miền Bắc Việt Nam Quỹ Ủy thác Phụ nữ Đông Triều phục vụ khoảng 6.000 khách hàng, áp dụng mô hình của Ngân hàng Grameen,

Quỹ Ủy thác Phụ nữ Đông Triều quyết định nâng cấp Quỹ tương trợ vừa được thiết lập, một hình thức bảo hiểm cho phép xóa nợ gốc và khách hàng, và ở một phạm vi nào đó là chồng và con của họ, được hưởng một số trợ cấp trong trường hợp khách hàng chết và bệnh tật Do được thiết kế mà không tiến hành nghiên cứu thị trường hoặc bất kỳ nghiên cứu nào khác trước đó, tính bền vững của sản phẩm ban đầu không được bảo đảm, và tiếp theo đó tính bền vững của Quĩ thậm chí cũng bị đe dọa Với sự hỗ trợ kỹ thuật của ILO, QUTPNĐT thực hiện nghiên cứu thị trường và nghiên cứu định giá bảo hiểm để có những thông tin cần thiết nhằm cải thiện sản phẩm theo hướng bền vững Một mặt, Quỹ Tương trợ được tách thành hai quỹ, đó là quỹ an toàn vốn vay (sinh mạng tín dụng) và quỹ tương trợ (trợ cấp sức khỏe và tử vong) Mặt khác, mức phí và mức trợ cấp cũng được xem xét lại Do vậy, QUTPNĐT đã phát triển các tính năng của sản phẩm nâng cấp, cũng như quy trình quản lý Sản phẩm mới được đưa ra giới thiệu vào tháng 1 năm 2006 Mặc dầu sẽ là khá sớm để có thể kết luận về mô hình thử nghiệm này, nhưng có thể nói

mô hình là một kinh nghiệm quí báu cho QUTPNĐT Giờ đây QUTPNĐT hiểu rằng cung cấp sản phẩm bảo hiểm vi mô tại gia đình là rất phức tạp, không chỉ trong việc định giá, quản lý hành chính và tài chính mà còn liên quan đến năng lực của cán bộ và sự hiểu biết của khách hàng về bảo hiểm

Nâng cao năng lực và hoạch định chính sách

Cùng với hỗ trợ kỹ thuật cho 3 tổ chức đối tác, dự án cũng nâng cao năng lực cho nhiều nhà hoạt động thực tiễn trong lĩnh vực tài chính vi mô ở Việt Nam thông qua hàng loạt các khóa học về thông lệ tài chính vi mô tốt nhất và dịch vụ tài chính quản lý rủi ro Bên cạnh đó, để củng cố tác động của dự án, việc hoạch định chính sách cũng được hỗ trợ

Trang 7

thông qua các cuộc hội thảo chia sẻ kiến thức tại, các bài viết, thăm quan học tập, bài phóng sự trên TV v.v

Bài học kinh nghiệm

Bài học kinh nghiệm thu được từ dự án là rất đa dạng Có thể thấy hàng loạt các cơ hội

và thách thức đối với các tổ chức tài chính vi mô Về cơ hội, trước hết có thể kể những bằng chứng ban đầu chứng tỏ hộ thu nhập thấp cần các dịch vụ tài chính quản lý rủi ro để giảm tính dễ bị tổn thương và họ sẵn sàng trả phí cho các dịch vụ này Thứ hai là một chiến lược quốc gia khuyến khích các cơ chế sáng tạo nhằm mở rộng bảo trợ xã hội ở khu vực phi chính thức Thứ ba là một khung pháp l ý mở rộng cánh cửa cho các tổ chức tài chính vi mô phát triển hơn nữa Và cuối cùng là khả năng thiết lập quan hệ đối tác đầy hứa hẹn với các công ty bảo hiểm

Cung cấp dịch vụ tài chính quản lý rủi ro cũng mang lại rất nhiều thách thức cho các tổ chức tài chính vi mô Những thách thức lớn nhất liên quan đến năng lực của cán bộ, hệ thống thông tin quản l ý, thiết kế và định giá sản phẩm, tìm kiếm đối tác phù hợp để cung cấp dịch vụ, và sự hiểu biết của khách hàng về bảo hiểm

Trang 8

2 Cơ sở và lý do nghiên cứu

2.1 Nghèo đói và bảo trợ xã hội

Báo cáo của Việt Nam về Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ do Bộ Kế hoạch và Đầu tư xuất bản tháng 8 năm 2005 chỉ ra rằng thành tựu giảm nghèo của Việt Nam là một trong những câu chuyện thành công lớn nhất trong phát triển kinh tế Năm 1993, 58% dân số sống trong nghèo đói Năm 1998, tỷ lệ này giảm xuống 37% và 24,1% năm 20042 Con

số này cho thấy trong vòng chưa đến 10 năm, gần 60% hộ nghèo đã thoát khỏi tình trang nghèo đói

Mặc dù tốc độ tăng trưởng kinh tế chung là rất ấn tượng, nhưng có dấu hiệu cho thấy phát triển kinh tế đang trở nên bất bình đẳng Một tỷ lệ đáng kể người dân không được hưởng lợi từ những thành quả phát triển của Việt Nam do một số các nhân tố trong đó có

sự cô lập và thiếu sự tiếp cận đến các nguồn lực kinh tế

Cứ bốn hộ gia đình Việt Nam thì có một hộ vẫn phải vật lộn từng ngày để sống qua ngày Những hộ này thường phải kết hợp thu nhập ít ỏi từ nông nghiệp với thu nhập từ kinh tế

hộ gia đình Họ thiếu nguồn lực tài chính để đầu tư phù hợp và gặp khó khăn lớn do các chi phí không lường trước được Phần lớn những cú sốc mà họ thường phải đối mặt là

ốm đau, bệnh tật, mất mùa hoặc thất bại trong đầu tư (chẳng hạn như gia súc chết) và thiên tai

Bên cạnh đó, ở Việt Nam các cơ chế bảo trợ xã hội vẫn chưa phát triển đầy đủ và hầu hết người dân, đặc biệt là người lao động ở khu vực phi chính thức, người di cư ra khu vực thành thị, người dân tộc thiểu số, và các nhóm dễ bị tổn thương khác, vẫn bị loại khỏi các

cơ chế này Hộ nghèo chủ yếu phải phụ thuộc vào các cơ chế phi chính thức hiện có ở cộng đồng như mạng lưới gia đình hay xã hội, người cho vay nặng lãi để đối mặt với những rủi ro hàng ngày

2.2 Tài chính vi mô và quản lý rủi ro

Không nghi ngờ rằng tài chính vi mô đã góp phần vào giảm nghèo đói ở Việt Nam trong một thập kỷ gần đây Tài chính vi mô giải quyết hai thách thức quan trọng và có liên quan với nhau trong việc giảm nghèo Thông qua vốn vay nhỏ, tài chính vi mô sẽ giúp người dân phát triển sinh kế và tăng thu nhập Thông qua dịch vụ tiết kiệm và bảo hiểm

vi mô, tài chính vi mô sẽ giúp hộ nghèo quản lý những rủi ro thường ngày và do dó, giảm khả năng dễ bị tổn thương

Trong những năm gần đây, ở Việt Nam một số các tổ chức tài chính vi mô mới xuất hiện Tổng cộng, trên 400.000 người hiện đã trở thành khách hàng thường xuyên của các tổ chức tài chính vi mô Tuy nhiên các tổ chức tài chính vi mô này cho đến nay mới chủ yếu tập trung vào cung cấp món vay nhỏ cho khách hàng Việc phát triển các sản phẩm tài chính quản lý rủi ro như tiết kiệm, bảo hiểm vi mô hoặc món vay khẩn cấp, là những sản phẩm rất cần thiết để bảo vệ hộ nghèo không bị tổn thương, chưa được thực hiện nhiều

2 Báo cáo Phát triển Việt Nam 2003 và GSO 2005

Trang 9

3 Hành động của ILO

3.1 Mục tiêu và kết quả mong đợi

Với mong muốn giải quyết những vấn đề nghèo đói và tính dễ bị tổn thương cao của hộ nghèo, Văn phòng ILO Việt Nam phối hợp với Vụ Bảo trợ Xã hội, Bộ Lao động, Thương Binh và Xã hội (BLĐTB&XH) đã khởi xướng dự án “Mở rộng tài chính vi mô và Bảo hiểm vi mô cho lao động nữ ở khu vực phi chính thức” từ tháng 5 năm 2003

Dự án này là một phần của chương trình liên khu vực được Chính phủ Pháp tài trợ, với mục đích phát triển các sáng kiến đa dạng nhằm mở rộng bảo trợ xã hội và giảm tính dễ

bị tổn thương cho các nhóm bị lề hóa Các nước khác tham gia vào dự án là Burkina Faso

và Ethiopia Bài học kinh nghiệm từ ba nước tham gia dự kiến sẽ đóng góp cho những cuộc thảo luận ở trong nước và quốc tế về giảm nghèo và mở rộng bảo trợ xã hội Từ năm 2006, dự án ở Việt Nam được nhận được thêm hỗ trợ tài chính của Quỹ Ford và Tổ chức Công giáo Hà Lan về Viện trợ và Hỗ trợ phát triển (CORDAID)

Mục tiêu phát triển chung của dự án tại Việt Nam là đánh giá và thúc đẩy sự đóng góp đầy tiềm năng của tài chính vi mô và bảo trợ xã hội vào giảm nghèo cho lao động nữ ở khu vực phi chính thức và gia đình của họ thông qua các hoạt động thử nghiệm ở cấp địa phương

Mục tiêu trước mắt của dự án gồm:

• Nâng cao kiến thức, hiểu biết và năng lực của các tổ chức, nhất là ở địa phương,

để cung cấp các dịch vụ tài chính và bảo hiểm vi mô phù hợp, nhạy bén theo nhu cầu, cho phụ nữ nghèo một cách bền vững

• Nâng cao hiểu biết của các nhà hoạch định chính sách Xóa đói Giảm nghèo (HEPR) về khả năng và nhu cầu của các nhóm hưởng lợi mục tiêu trong vùng thí điểm dự án nhằm giải quyết tốt hơn nhu cầu bảo trợ xã hội của người dân địa phương

Tác động mong đợi của dự án bao gồm:

• Tăng thêm sự hiểu biết về nhu cầu của phụ nữ nghèo về dịch vụ tài chính quản lý rủi ro ở cấp hộ gia đình

• Xây dựng và phối hợp với tổ chức tài chính vi mô thí điểm ít nhất 2 sản phẩm tài chính quản lý rủi ro nhằm rút ngắn khoảng cách giữa cung và cầu về dịch vụ này

• Nâng cao năng lực kỹ thuật của các nhà hoạt động thực tiễn trong lĩnh vực tài chính vi mô

• Hỗ trợ xây dựng chính sách thông qua các hội thảo, thăm quan học tập, soạn thảo

và chia sẻ các báo cáo chính sách và tài liệu kỹ thuật

Trang 10

3.2 Cơ cấu quản lý dự án

Dự án do ILO phối hợp với Vụ Bảo trợ Xã hội, BLĐTB&XH thực hiện

Dự án được thực hiện thông qua văn phòng dự án tại Hà Nội Văn phòng dự án hoạt động dưới sự giám sát chung của Điều phối viên dự án cấp quốc gia (ĐPV), người chịu trách nhiệm lập kế hoạch, thực hiện, giám sát và báo cáo (cả tài chính và phi tài chính) các hoạt động dự án Hỗ trợ cho ĐPV là một chuyên gia nước ngoài và một cán bộ hành chính

Trong suốt dự án, chuyên gia về tài chính vi mô của Văn phòng khu vực Đông Á ở Bangkok (Thái lan) và Chương trình Tài chính Xã hội ILO ở Geneva (Thụy sỹ) hỗ trợ về mặt kỹ thuật cho dự án Hỗ trợ này là tài nguyên kỹ thuật cho những đầu vào kỹ thuật cụ thể về lĩnh vực tài chính vi mô, bảo hiểm vi mô và tiết kiệm vi mô Dự án cũng phối hợp chặt chẽ với Trung tâm đào tạo quốc tế của ILO ở Turin (Italy) để cung cấp một số khóa học về tài chính vi mô và bảo hiểm vi mô

Bên cạnh đó, ngay từ đầu, dự án đã thành lập một Ban Cố vấn Dự án (BCV), với thành phần gồm đại diện của Vụ Bảo trợ Xã hội và Vụ Bảo hiểm Xã hội của BLĐTB&XH, Đại

sứ quán Pháp tại Việt Nam và Văn phòng ILO tại Việt Nam BCV họp một hoặc hai lần một năm để xem xét tiến độ thực hiện các hoạt động, hướng dẫn về kỹ thuật cho nhóm

dự án, và bảo đảm rằng dự án phù hợp với Chiến lược tăng trưởng và giảm nghèo (CLTT&GN) của Việt Nam

3.3 Phương pháp tiếp cận của Dự án

Để nâng cao năng lực cung cấp của các nhà cung cấp dịch vụ tài chính vi mô đối với dịch

vụ tài chính quản lý rủi ro cho phụ nữ nghèo ở khu vực phi chính thức, ILO đã thực hiện các hoạt động sau:

• Đánh giá nhu cầu và khả năng cung cấp dịch vụ tài chính quản lý rủi ro

Trong giai đoạn một, dự án đã thực hiện 2 nghiên cứu để xác định ra nhu cầu và chiến lược quản lý rủi ro của phụ nữ nghèo và các dịch vụ hiện có ở các tỉnh miền Bắc Việt Nam Những nghiên cứu này không tham vọng đại diện cho cả nước, mà đúng hơn là chỉ làm nổi bật khoảng cách giữa cung và cầu về dịch vụ tài chính quản lý rủi ro ở một số tỉnh ở Việt Nam Kết quả của nghiên cứu gợi ý một số sản phẩm tài chính cần thiết phải phát triển nhất cùng với các tổ chức tài chính vi mô

• Phát triển sản phẩm và thí điểm thực hiện

Giai đoạn hai của dự án tập trung vào việc xác định những tổ chức tài chính vi mô quan tâm đến phát triển dịch vụ tài chính quản lý rủi ro cho khách hàng của mình Có ba tổ chức được lựa chọn để thực hiện các sản phẩm tài chính sau:

Tổ chức tài chính vi mô Sản phẩm thừ nghiệm

1 TYM

(Các tỉnh phía Bắc)

Tiết kiệm linh hoạt

4 Quỹ Hỗ trợ phụ nữ Ninh Phước Bảo hiểm sinh mạng cá nhân

5 Quỹ Ủy thác của phụ nữ Đông Triều

(tỉnh Quảng Ninh)

Quỹ tương trợ (một dạng bảo hiểm)

Trang 11

Nhóm dự án ILO đã giới thiệu “Bộ công cụ lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá giai đoạn thí điểm” của MicroSave Africa cho các tổ chức tài chính vi mô đối tác Cuốn cẩm nang này đã được dịch sang tiếng Việt Hơn nữa, nhóm dự án cũng hỗ trợ thường xuyên về mặt kỹ thuật cho các đối tác theo 10 bước của qui trình thực hiện thí điểm như sau 1) Thành lập nhóm thực hiện thí điểm

2) Xây dựng khuôn mẫu thí điểm

3) Xác định mục tiêu thí điểm

4) Chuẩn bị hệ thống

5) Mô hình dự báo tài chính

6) Tư liệu hóa sản phẩm: định nghĩa và quy trình

7) Đào tạo cán bộ có liên quan

8) Xây dựng tài liệu marketing cho khách hàng

9) Bắt đầu thực hiện thí điểm

10) Tiếp tục giám sát, đánh giá và điều chỉnh lại thí điểm dự án

• Nâng cao năng lực

Để nâng cao năng lực cho các đối tác, ILO đã tổ chức một loạt các khóa học:

» Phát triến sản phẩm mới (ILO)

» Thực hiện Bảo hiểm thành công cho các tổ chức Tài chinh vi mô (ILO)

» Phân tích tài chính (CGAP3)

» Nghiên cứu thị trường cho Tài chính vi mô (MicroSave Africa)

» Thực hiện tài chính vi mô thành công: Quản lý để nâng cao thành tích (ILO)

Để nâng cao tác động của các khóa đào tạo, ILO mời các nhà thực hành tài chính vi mô cùng tham gia vào khóa đào tạo Tổng cộng có trên 100 nhà hoạt động tài chính vi mô (cùng với một số nhà hoạch định chính sách) đã tham gia vào khóa đào tạo Chương trình chi tiết của khóa đào tạo được trình bày trong phần phụ lục

• Hỗ trợ xây dựng chính sách

ILO đẩy mạnh tầm ảnh hưởng của mình qua một loạt các hoạt động hướng tới nâng cao nhận thức cho những người thực hành và hoạch định chính sách không những về dịch vụ tài chính quản lý rủi ro, mà còn về thông lệ tài chính vi mô tốt nhất:

» Tham quan tổ chức tài chính vi mô ở Philippines (tháng 6 năm 2004)

» Tham gia hội thảo quốc tế về Tài chính vi mô ở Paris (tháng 6 năm 2005), do Đại

sứ quán Pháp tại Việt Nam đồng tài trợ (Hà Nội)

» Phóng sự về Tài chính vi mô: “Một cách thoát nghèo”, được chiếu trên đài truyền hình quốc gia (tháng 7 năm 2005)

» Bài viết thảo luận “Hướng tới một khu vực tài chính vi mô bền vững ở Việt Nam: Vấn đề và Thách thức” (tháng 12 năm 2005)

» 2 hội thảo chia sẻ kiến thức về thí điểm thực hiện dịch vụ tài chính quản lý rủi ro trong lĩnh vực tài chính vi mô (tháng 11 năm 2003 và tháng 12 năm 2005)

3 CGAP: Nhóm hỗ trợ người nghèo nhất, CGAP là hiệp hội các tổ chức tài trợ đa phương và song phương thúc đẩy thông lệ thực tiễn tốt nhất về tài chính vi mô

Trang 12

Báo cáo này không có tham vọng trình bày tất cả những hoạt động thực hiện trong thời gian của dự án Thay vào dó, báo cáo sẽ tập trung vào các dịch vụ tài chính quản lý rủi ro hiện có ở Việt Nam như những cơ chế sáng tạo để hộ nghèo ứng phó với rủi ro và áp lực kinh tế tốt hơn Do đó, trước hết, báo cáo sẽ xem xét lại kết quả của các nghiên cứu về dịch vụ quản lý rủi ro, nêu bật những bài học kinh nghiệm thu được từ việc phối hợp với

tổ chức tài chính vi mô thực hiện thí điểm một số sản phẩm

Trang 13

4 Những dịch vụ tài chính quản lý rủi ro ở Việt Nam 4.1 Dịch vụ tài chính quản lý rủi ro là gì?

Nhiều tổ chức tài chính vi mô đã nhận ra rằng không thể xóa bỏ tính dễ bị tổn thương của các hộ thu nhập thấp chỉ bằng việc tiếp cận vốn vay nhỏ4 Người dân dễ bị tổn thương bởi rất nhiều rủi ro khác nhau như tử vong, ốm đau bệnh tật và mùa màng thất bát Những rủi ro này sẽ làm tăng chi phí, hoặc làm giảm thu nhập hoặc cả hai Đặc biệt, những hộ gia đình do phụ nữ làm chủ hộ khi gặp phải các cú sốc về tài chính sẽ phải sống nhiều năm trong nợ nần và túng quẫn Dịch vụ tài chính quản lý rủi ro là những dịch

vụ được thiết kế giúp người dân đối mặt với những cú sốc này

Có ba loại sản phẩm tài chính quản lý rủi ro5: tài khoản tiết kiệm linh hoạt giúp khách hàng có thể rút tiền để giảm áp lực kinh tế; cho vay khẩn cấp; và bảo hiểm vi mô với phạm vi bảo hiểm gồm các trường hợp chết, ốm đau, thương tật và tàn tật, trộm cắp và có thể là hạn hán hoặc thiên tai

Tùy từng hoàn cảnh kinh tế xã hội cũng như sở thích cá nhân, mỗi người sẽ có nhu cầu

về dịch vụ tài chính quản lý rủi ro khác nhau Tiết kiệm linh hoạt có thuận lợi là nó có thể bảo vệ người dân trước mọi cú sốc tài chính Bảo hiểm vi mô nhằm vào các rủi ro cụ thể, nhưng thông qua cơ chế chia sẻ rủi ro, nó có thể bảo vệ người dân trước những mất mát tài chính lớn mà họ không đủ khả năng bù đắp bằng khoản tiết kiệm của mình Các khoản vay khẩn cấp có thể giúp những đối tượng không có bảo hiểm hay tiết kiệm, nhưng nó sẽ để lại khỏan nợ nần mà người vay phải trả

4.2 Nhu cầu về dịch vụ tài chính quản lý rủi ro

Năm 2003, Dự án của ILO đã thực hiện một nghiên cứu về nhu cầu dịch vụ tài chính quản lý rủi ro trên 312 phụ nữ nghèo ở nông thôn Việt Nam Mục đích nghiên cứu là phân tích những rủi ro mà phụ nữ nghèo phải đối mặt và cách họ giải quyết rủi ro đó So sánh những rủi ro mà phụ nữ nghèo phải đối mặt và chiến lược đối phó, nghiên cứu đã chỉ ra sự mất cân đối có thể được bù đắp thông qua dịch vụ tài chính quản lý rủi ro Theo nghiên cứu trên, nguyên nhân chính dẫn đến áp lực kinh tế cho phụ nữ là (theo thứ

4 Craig Churchill, Liệu Bảo hiểm vi mô có là ưu tiên cho người nghèo? Hiểu biết về nhu cầu cho các dịch

vụ tài chính quản lý rủi ro, ILO, 2004

5 Đã dẫn

6 Nhu cầu đối với dịch vụ tài chính quản lý rủi ro của phụ nữ nghèo ở nông thôn Việt nam, ILO, 2003

Trang 14

• Tín dụng

Vay nợ là một trong những chiến lược phổ biến nhất để ứng phó với rủi ro và áp lực kinh

tế 82% phụ nữ không phải là khách hàng khi được phỏng vấn cho biết họ bị mắc các khoản nợ nần trước đây Gần một nửa khoản vay (44%) được dùng cho mục đích sản xuất Các khoản vay này cũng dược dùng cho các nhu cầu tiêu dùng khác nhau, ví dụ để chuẩn bị cho Tết âm lịch (10%), chi trả các chi phí y tế (9%), giáo dục (8%), nhà cửa (8%), và lương thực, thực phẩm, bao gồm cả gạo (7%) Các nguồn vay có thể từ họ hàng

và bạn bè, những người cho vay nặng lãi ở địa phương, tổ chức tài chính vi mô (TCVM), Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (NHNN&PTNT) và Ngân hàng chính sách xã hội (NHCSXH)

Vay họ hàng hoặc bạn bè là chiến lược ứng phó phổ biến nhất khi họ phải đối mặt với ốm đau, bệnh tật, tai nạn, và một số rủi ro có tính chu kỳ Vấn đề là phụ nữ nghèo thường không có những người bạn giàu có để có thể cho họ vay tiền Gần 20% phụ nữ được phỏng vấn cho biết họ thường xuyên hay rất thường xuyên phải vay tiền từ những người cho vay nặng lãi Hạn chế lớn nhất của hình thức này là chi phí vay: những người cho vay nặng lãi thường đòi mức lãi suất rất cao (thông thường khoảng 2%/tháng, tuy nhiên, đối với những món vay ngắn hạn, lãi suất sẽ từ 6% đến 15%/tháng)

Trong số mẫu nghiên cứu, vay từ các tổ chức tài chính vi mô là cách phổ biến, bởi hầu hết số phụ nữ được phỏng vấn (71%) là khách hàng của tổ chức TCVM Nhưng hầu hết món vay của tổ chức TCVM đều cho mục đích kinh doanh và theo định nghĩa không thể

sử dụng cho mục đích tiêu dùng Khách hàng khi đã có một món vay cho mục đích kinh doanh sẽ không được vay món thứ hai cho cùng mục đích, nếu họ chưa trả xong món vay thứ nhất Vì vậy các khoản vay này không thể được coi là giải pháp tốt để ứng phó với rủi ro Một vài tổ chức phát triển “sản phẩm vay đa mục đích” theo đó khách hàng vay song song cùng với món vay thông thường với mục đích kinh doanh Khoản vay đặc biệt này thường có giá trị thấp hơn và thời hạn ngắn hơn (so với món vay cho mục đích kinh doanh) Khách hàng có thể sử dụng vào bất kỳ mục đích nào, kinh doanh hoặc tiêu dùng Tuy nhiên, khách hàng thường phải chờ ít nhất 1 đến 2 tuần để nhận được khoản vay Vì vậy, nói chung, các món vay của các tổ chức TCVM cũng không phải là giải pháp tối ưu trong trường hợp khách hàng cần tiền khẩn cấp

Cuối cùng, vay nợ từ các ngân hàng chính thức không phải là cách làm phổ biến trong trường hợp khẩn cấp Những người được hỏi đều phàn nàn về việc thủ tục phức tạp và thời gian chờ đợi quá lâu

• Tiết kiệm

Trên 90% phụ nữ được phỏng vấn nói rằng họ có tiết kiệm theo hình thức này hoặc hình thức khác 54% số người trả lời có tiết kiệm cho biết họ giữ tiền mặt tại nhà 38% tham gia vào dây hụi họ 26% ít nhất tiết kiệm một phần bằng vật nuôi hoặc bằng gạo và 13%

số khác là bằng đồ trang sức Phần đông phụ nữ tham gia tiết kiệm tự nguyện tại các tổ chức tài chính vi mô Hầu hết họ đều hài lòng vì mức tiền gửi linh hoạt (từ 1.000 đồng (0,06 USD), nói chung là phù hợp với khả năng tiết kiệm của họ và có thể gửi tại thôn làng Tuy nhiên, một hạn chế của dịch vụ tiết kiệm này là mọi người thường phải thông báo với tổ chức TCVM ít nhất 2 tuần trước khi rút tiền Trong trường hợp khẩn cấp, khoảng thời gian chờ đợi này có thể là một bất lợi

Trang 15

Có lẽ phát hiện thú vị nhất là chỉ có 3,5% người trả lời gửi tiết kiệm ở ngân hàng hoặc tiết kiệm bưu điện Lý do chính người dân không gửi tiết kiệm tại các tổ chức tài chính chính thức là vì thủ tục phức tạp và số tiền gửi tiết kiệm tối thiểu thường quá cao so với khả năng tiết kiệm của họ (khoảng 100.000 VND/6 USD7) Bên cạnh đó, người dân không muốn phải đi một quãng đường dài để đến ngân hàng hay bưu điện, trong khi những tổ chức này chỉ làm việc vào đúng thời gian mà họ cũng phải làm việc

• Bảo hiểm

Mặc dù các cuộc phỏng vấn theo cấu trúc chỉ ra rằng khoảng 60% người được hỏi đã sử dụng bảo hiểm, nhưng bảo hiểm lại không được coi là chiến lược quản lý rủi ro thường xuyên Trên thực tế, phần lớn hợp đồng bảo hiểm là bảo hiểm học đường Cha mẹ mua bảo hiểm cho con cái mình căn cứ vào lời khuyên của nhà trường, nhưng họ không hiểu biết đầy đủ về lợi ích của bảo hiểm Điều đó lý giải phần nào tại sao trong số 23% số người mua bảo hiểm đã từng gặp rủi ro thì chỉ có 14% nhận được tiền chi trả quyền lợi bảo hiểm 9% còn lại không được chi trả bảo hiểm là do thủ tục phức tạp hoặc họ không biết ở đâu và làm thế nào để yêu cầu bảo hiểm chi trả

Trong khi ốm đau là rủi ro thường xuyên và nghiêm trọng nhất mà phụ nữ ở nông thôn thường phải đối mặt, thì chỉ 26% số người được hỏi trả lời rằng họ cần bảo hiểm y tế Có một số lý giải cho hiện tượng này Người dân có thể coi bảo hiểm y tế là cái gì đó mà họ không bao giờ có khả năng chi trả Hoặc mối quan tâm của họ đến bảo hiểm y tế bị triệt tiêu do chất lượng chăm sóc sức khỏe đôi lúc còn kém

Hơn 10% số phụ nữ được phỏng vấn bày tỏ sự quan tâm đến bảo hiểm sinh mạng Tuy nhiên, bảo hiểm sinh mạng chỉ được xem như một hình thức tiết kiệm chứ không phải là một chiến lược tài chính để ứng phó với tử vong Do hầu hết phụ nữ tham gia phỏng vấn

là nông dân nên sự quan tâm của họ đến bảo hiểm cho vật nuôi và mùa màng là rất quan trọng

4.3 Cung cấp dịch vụ tài chính quản lý rủi ro

Dự án đã thực hiện một nghiên cứu về cung cấp dịch vụ tài chính quản lý rủi ro tại Việt Nam Mục đích của nghiên cứu là có được một đánh giá tổng quan về các dịch vụ tài chính quản lý rủi ro khác nhau hiện có ở Việt Nam bao gồm bảo hiểm, tiết kiệm linh hoạt

và cho vay khẩn cấp của cả khu vực chính thức và phi chính thức

• Tiết kiệm

Nghiên cứu này đã khẳng định các tổ chức tài chính chính thức vẫn chưa đáp ứng nhu cầu tiết kiệm linh hoạt của người nghèo ở nông thôn Các ngân hàng tư nhân, hoặc ngân hàng thương mại của nhà nước hầu hết chỉ tập trung vào nhóm dân cư có thu nhập trung bình-cao và vẫn chưa quan tâm đến các hộ gia đình có thu nhập thấp với khả năng tiết kiệm còn hạn chế Chẳng hạn, NHNN&PTNT, một ngân hàng thương mại của nhà nước với mạng lưới chi nhánh rộng nhất yêu cầu khoản tiết kiệm tối thiểu là 100.000 đồng (6 đôla Mỹ)

7 Tỉ giá sử dụng trong báo cáo này là 1 USD = 15.827 VND

Trang 16

Các tổ chức bán chính thức như tổ chức tài chính vi mô và các chương trình khác của Hội phụ nữ đã rất thành công trong việc cung cấp sản phẩm tiết kiệm cho hộ thu nhập thấp Tuy vậy, các sản phẩm tiết kiệm này thường là tiết kiệm bắt buộc Một số ít các sản phẩm tiết kiệm tự nguyện hiện có lại thiếu tính linh hoạt vì khách hàng không thực sự lựa chọn số tiền gửi và thường mất nhiều thời gian (đến 15 ngày) mới có thể tiếp cận được Nhiều tổ chức tài chính chính thức cung cấp sản phẩm tiền gửi không kỳ hạn Vì vậy các sản phẩm này không thực sự phù hợp với nhu cầu của hộ gia đình có thu nhập thấp và đặc biệt khi họ gặp rủi ro và cần tiền gấp

Bảng 1: Sản phẩm tiết kiệm tự nguyện của các tổ chức tài chính vi mô ở Việt Nam

Tiền gửi tối đa: 200.000 đ (13 USD) Tiền gửi tối thiểu: 1.000 đ (0,06 USD)

Lãi trả cho số dư tiết kiệm tối thiểu 100.000 đ (6 USD)

Người vay hoặc không vay đều có thể tham gia

Yêu cầu báo trước khi muốn rút tiền Quỹ TYM Tiết kiệm không kỳ hạn Tiền gửi tối đa: 100.000 VND (6

USD) Phải là thành viên Yêu cầu báo trước khi muốn rút tiền Quĩ do AAV Việt

• Bảo hiểm

Khu vực nhà nước

- Bảo hiểm xã hội bắt buộc và tự nguyện

Năm 1995, Chính phủ Việt Nam ban hành các quy định pháp lý điều chỉnh các đơn vị trong khu vực nhà nước và tư nhân có trên 10 lao động Phạm vi bảo hiểm xã hội hiện nay được mở rộng cho tất cả các doanh nghiệp tư nhân có đăng ký Quyền lợi mà người lao động được hưởng khi tham gia vào bảo hiểm xã hội bao gồm:

• Lương hưu

• Bồi thường tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp

Trang 17

- Bảo hiểm y tế bắt buộc và tự nguyện

Bảo hiểm y tế Việt Nam được Chính phủ thành lập từ năm 1995, và đến nay khoảng 13% dân số đã tham gia bảo hiểm Bảo hiểm y tế gồm cả tự nguyện và bắt buộc thuộc Bộ y tế Chủ sử dụng lao động đóng 2% và người lao động đóng 1% Bảo hiểm y tế tự nguyện được cung cấp thông qua mua thẻ bảo hiểm có giá trị trong vòng 1 năm Tuy nhiên, chương trình bảo hiểm y tế tự nguyện đang gặp phải đối mặt với nhiều vấn đề nghiêm trọng đe dọa tính bền vững và tiếp cận như mức phí cao, thiếu lòng tin, thủ tục hành chính quá phức tạp và rủi ro về đạo đức và lựa chọn ngược

Bên cạnh đó, chính phủ cấp bảo hiểm y tế miễn phí cho hộ nghèo theo chương trình Mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo và giờ đây là cho tất cả trẻ em dưới 6 tuổi Chăm sóc y tế cơ bản là miễn phí cho người nghèo theo chương trình này nhưng bệnh nhân vẫn thường phải trả thêm các chi phí điều trị và thuốc men

- Các chương trình hỗ trợ xã hội khác

Các chương trình hỗ trợ xã hội khác cũng hỗ trợ về tài chính cho những nhóm mục tiêu

dễ bị tổn thương (thương binh, cựu chiến binh, cứu trợ cho gia đình chịu ảnh hưởng của thiên tai…) Các chương trình này (hỗ trợ và cứu trợ) không được xem là bảo hiểm Khu vực tư nhân

- Bảo hiểm sinh mạng

Các công ty bảo hiểm trong vài năm gần đây cũng đã đa dạng hóa sản phẩm bảo hiểm của họ rất nhiều Tuy nhiên, đại đa số công ty bảo hiểm sinh mạng vẫn hướng đến thị trường thu nhập trung bình và cao Do đó, mức phí bảo hiểm thấp nhất không phù hợp với hộ nghèo Hơn nữa, mảng thị trường của các hộ thu nhập trung bình và cao hiện nay vẫn chưa được khai thác hết nên các công ty bảo hiểm ít có động cơ để hướng đến hộ thu nhập thấp

- Bảo hiểm phi sinh mạng

Bảo Việt chiếm thị phần cao nhất (40,5%) thị trường bảo hiểm phi sinh mạng, tiếp theo

là Bảo Minh (28,2%) Trong số những công ty bảo hiểm, rất ít công ty đưa ra sản phẩm phi sinh mạng phù hợp với khả năng của hộ thu nhập thấp

Trang 18

Bảo Việt có rất nhiều sản phẩm bảo hiểm y tế và tai nạn cá nhân bao gồm bảo hiểm toàn diện cho trẻ em, bảo hiểm tai nạn cá nhân, bảo hiểm khi nằm viện, phẫu thuật, và bảo hiểm tai nạn cá nhân toàn diện Tuy nhiên, mặc dù các sản phẩm này được thiết kế cho phù hợp với nhu cầu của hộ gia đình thu nhập thấp, việc tiếp thị sản phẩm còn kém và hầu hết hộ dân biết về sản phẩm rất ít

Bảo hiểm tài sản là hình thức bảo hiểm trong trường hợp bị mất hoặc thiệt hại đối với tài sản, ví dụ bảo hiểm cháy, nổ, rủi ro kỹ thuật, mùa màng và gia súc Một số sản phẩm rất hữu ích cho hộ thu nhập thấp là bảo hiểm vật nuôi và mùa màng

Trong vài chục năm trở lại đây, Bảo Việt đã cố gắng cung cấp bảo hiểm mùa vụ nhưng đều thất bại Lý do là vì tập hợp đối tượng chia sẻ rủi ro không đủ lớn để tính toán mức phí bảo hiểm một cách chính xác Groupama, một công ty bảo hiểm Pháp đã thử nghiệm sản phẩm bảo hiểm vật nuôi ở Cần Thơ Tuy nhiên, do gặp nhiều khó khăn, Groupama quyết định đa dạng hóa các sản phẩm để mở rộng tập hợp đối tượng chia sẻ rủi ro

Sáng kiến bảo hiểm ở khu vực phi chính thức và bán chính thức

Như đã đề cập ở phần trên, bảo hiểm xã hội Việt Nam hầu hết phục vụ khu vực chính thức, trong khi các công ty bảo hiểm tư nhân tập trung vào bộ phận dân cư có thu nhập trung bình và cao Do đó, một số tổ chức đã phát triển các chương trình bảo hiểm lựa chọn để phục vụ nhu cầu của hộ gia đình có thu nhập thấp

Bảng 1 trình bày những sáng kiến bảo hiểm của khu vực bán chính thức có mặt ở Việt Nam năm 2003

Bảng 2: Sáng kiến bảo hiểm ở khu vực bán chính thức (2003)

Nhà cung cấp Địa điểm Loại sản phẩm

Hội người cao

tuổi

Cả nước (khảo sát ở Nghệ An, Nam Định)

Quỹ Tương trợ

Hỗ trợ trong trường hợp tử vong, ốm đau và sự kiện xã hội

Phí hội viên (10.000 đồng đến 70.000 đồng) + phí bảo hiểm hàng năm (1.000 đồng đến 5.000 đồng) Hội phụ nữ (với

sự hỗ trợ của

ActionAid Viet

Nam)

Sơn La, Quảng Ninh,

Hà Tĩnh

Quỹ Tương trợ

Hỗ trợ tài chính trong trường hợp tử vong (200.000 đồng) và ốm đau (20.000 đồng, tối đa là hai lần 1 năm) Phí bảo hiểm: 500 đồng, hai tuần 1 lần

TYM Huyện nông

thôn ở khu vực phía Bắc

Quỹ Tương trợ Chi trả khi thành viên qua đời (500.000 đồng) và dư nợ còn lại, chồng/con qua đời (200.000 đồng) và ốm nặng (200.000 đồng, chỉ trả 1 lần)

Phí bảo hiểm: 200 đồng một tuần GRET Vĩnh Phúc Bảo hiểm vật nuôi tại cộng đồng

Bảo hiểm 4 loại bệnh cho lợn Tiếp cận dịch vụ tư vấn thú ý Hội Nông dân Nghệ An Quỹ Bảo hiểm xã hội tự nguyện của nông dân

Chi trả lương hưu và tử vong Mức phí tối thiểu: 20.000 đồng một tháng Trợ cấp: dựa vào bảo hiểm xã hội và một số trợ cấp khác

Trang 19

Một số tổ chức đã triển khai sản phẩm bảo hiểm cho các thành viên trong gia đình Tuy nhiên, do thiếu chuyên môn cụ thể trong lĩnh vực bảo hiểm, nên một số chương trình bảo hiểm này có thể gặp khó khăn Mặc dù vậy, những sáng kiến này đã chứng minh rằng sản phẩm bảo hiểm được thiết kế cho hộ gia đình có thu nhập thấp có thể phát triển được

4.4 Tóm tắt những phát hiện

Hai nghiên cứu đã cung cấp dấu hiệu chi tiết về nhu cầu quản lý rủi ro và chiến lược của

hộ nghèo, và về những dịch vụ hiện có ở Việt Nam Một số phát hiện chính bao gồm:

• Rủi ro chính hay áp lực kinh tế chính mà phụ nữ nghèo thường phải đối mặt trong cuộc sống thường ngày là ốm đau, tai nạn, tử vong, học phí, và các sự kiện xã hội (Tết âm lịch)

• Chiến lược ứng phó những cú sốc này phổ biến là đi vay của họ hàng và bạn bè, vay nặng lãi, vay của tổ chức tài chính vi mô và ngân hàng, hay sử dụng tiền tiết kiệm hoặc bán tài sản, hay mua bảo hiểm

• Những sản phẩm tiết kiệm hiện có tại ngân hàng hay tại các tổ chức tài chính vi

mô không đủ linh hoạt để được coi là một cơ chế ứng phó rủi ro hiệu quả Tiền gửi tối thiểu tại ngân hàng quá cao so với khả năng tiết kiệm của phụ nữ nghèo và thời gian chờ để rút tiền tiết kiệm tại các tổ chức tài chính vi mô là quá dài

• Sản phẩm bảo hiểm thông thường chủ yếu hướng tới hộ thu nhập trung bình và cao

• Chính sách bảo hiểm của Chính phủ thuộc Chiến lược tăng trưởng và giảm nghèo bộc lộ một số yếu điểm có tác động dài hạn đến hộ thu nhập thấp

• Một số ít sáng kiến bảo hiểm triển khai cho khu vực phi chính thức vẫn được thiết

kế và quản lý chuyên nghiệp, và vẫn còn hạn chế trong việc tiếp cận

Những phần tiếp theo sẽ xem xét lại những dịch vụ tài chính quản lý rủi ro đã được triển khai và thử nghiệm ở ba tổ chức tài chính vi mô

Trang 20

5 TYM: “Tiết kiệm gia đình”

T.Y.M là tên gọi viết tắt của "Tao Yêu Mày" (hay Quỹ Tình thương), một hình thức áp dụng theo Ngân hàng Grameen (Bangladesh) với mục đích hỗ trợ phụ nữ nghèo thông qua hoạt động tài chính vi mô TYM bắt đầu hoạt động từ tháng 8 năm 1992 theo Quyết định số 563 của Chính phủ Bắt đầu từ một dự án của Trung Ương Hội Phụ nữ Việt Nam, TYM đã trở thành một Ban riêng biệt với đội ngũ cán bộ chuyên trách và ngân sách riêng

Sản phẩm của TYM bao gồm vốn vay, tiết kiệm, và quỹ tương trợ (một hình thức bảo hiểm vi mô cung cấp một số trợ cấp cho khách hàng trong trường hợp ốm nặng hoặc tử vong) Đến tháng 12 năm 2007, TYM đã hình thành 15 chi nhánh tại 7 tỉnh với số thành viên là 19.691, tổng dư nợ đạt 39 tỷ đồng (2,46 triệu USD), tỷ lệ hoàn trả đạt 99,99% và tổng dư nợ tiết kiệm đạt 18 tỷ đồng (1,13 triệu USD)

5.1 Tiết kiệm linh hoạt và có thời hạn

Hầu hết tiết kiệm của TYM là tiết kiệm bắt buộc TYM cũng huy động tiết kiệm tự nguyện ở tất cả các chi nhánh, tuy nhiên sản phẩm này cũng chưa phát triển nhiều vì mức

độ linh hoạt chưa cao Thành viên muốn tham gia tiết kiệm tự nguyện phải xác định trước số tiền mà họ định gửi hàng tuần Tiếp đó, thành viên phải gửi số tiền này hằng tuần trong suốt thời gian tham gia TYM cho phép khách hàng thay đổi số tiền gửi tự nguyện đều đặn hằng tuần nhưng phải thông báo trước một tuần Thời gian chờ đợi để rút được tiền có thể đến 2 tuần, bởi vì tiền do cán bộ giải ngân mang tới các buổi họp cụm hai tuần một lần

Tư cách pháp nhân của TYM như một Ban của Hội phụ nữ Việt Nam đã hạn chế Quỹ trong việc cho vay thương mại Nhu cầu vốn vay là một trong những lý do chính khiến TYM muốn sản phẩm tiết kiệm trở nên hấp dẫn hơn Sau khi tham dự khóa học về dịch

vụ tài chính quản lý rủi ro và phát triển sản phẩm do ILO tổ chức vào tháng 11 năm

2003, TYM quyết định triển khai sản phẩm tiết kiệm tự nguyện linh hoạt và yêu cầu ILO

Sản phẩm tiết kiệm gia đình gồm:

(a) tiền gửi không kỳ hạn, với mức lãi suất là 0,3%/tháng, mức gửi tối thiểu là

1.000 đồng (0,06 USD) và không có mức trần Khách hàng có thể quyết định gửi bao nhiêu tiền, và bao lâu gửi một lần Khi số dư tiền gửi đạt mức tối thiểu quy định, tài khoản sẽ được chuyển thành tiết kiệm có kỳ hạn theo yêu cầu của khách hàng

(b) tiền gửi có kỳ hạn 3 tháng, với mức lãi suất là 0,55%/tháng, với số tiền gửi tối

thiểu là 300.000 đồng (19 USD);

Trang 21

(c) tiền gửi có kỳ hạn 6 tháng, với mức lãi suất là 0,6%/tháng và số tiền gửi tối

thiểu tương tự là 300.000 đồng (19 USD)

Việc gửi và rút tiền phải được thực hiện tại cụm hoặc trực tiếp tại chi nhánh

Việc triển khai chương trình tiết kiệm mới được gắn với một chiến lược marketing TYM

tổ chức rút thăm may mắn cho người gửi tiền và phát tờ rơi in màu giải thích về lợi ích

của chương trình “Tiết kiệm gia đình” cho khách hàng

Chiến lược marketing đã rất thành công và “Tiết kiệm gia đình” ngay lập tức đã thu hút

một lượng lớn tiền gửi Bảng 3 cho thấy kết quả của “Tiết kiệm gia đình” ở chi nhánh Mê

Linh và Sóc Sơn sau những tháng đầu tiên

Bảng 3: “Tiết kiệm gia đình” tại hai chi nhánh, tháng 7/2004 - tháng 5/2005

Số dư tiết kiệm (VND) 502.076.000 1.017.406.000

Bảng này cho thấy trong số các khách hàng, số người gửi tiền tiết kiệm tăng lên đáng kể

và sản phẩm “Tiết kiệm gia đình” đã tăng thêm nguồn vốn cho vay của TYM

Điều đáng lưu ý là thời gian rút tiền đã giảm đáng kể so với trước khi thực hiện thí điểm

Trên một nửa khách hàng đã nhận được tiền chỉ trong vòng 48 giờ hoặc trong cùng ngày

so với thời gian chờ đợi thông thường trước đây là 1 tuần

5.2 Sự hài lòng của khách hàng

Thảo luận nhóm tập trung và với khách hàng cá nhân do ILO tiến hành tháng 10 năm

2005 cho thấy khách hàng rất hài lòng Khách hàng rất háo hức gửi tiết kiệm có kỳ hạn

và cũng rất vui khi sản phẩm linh hoạt hơn Hiện nay, khách hàng có thể gửi tiền tùy theo

số tiền thực tế có được mà họ tiết kiệm được mỗi tuần Họ rất hài lòng với khả năng rút

được tiền tại chi nhánh trong trường hợp khẩn cấp

Tất cả khách hàng của TYM là phụ nữ Những phụ nữ tham gia vào thảo luận nhóm tập

trung đều nói rằng nam giới cũng đóng góp như phụ nữ khi tham gia tiết kiệm gia đình

Trang 22

và quyết định rút tiền luôn được thảo luận giữa hai người Các chị phụ nữ không muốn nam giới cũng được vay vốn vì lo ngại vấn đề hoàn trả Tuy vậy, họ sẽ rất hài lòng nếu TYM có thể cho nam giới tham gia tiết kiệm Họ thấy rằng nhất là nam giới đơn thân và góa phụ cần được có cơ hội tham gia chương trình tiết kiệm

Một số gia đình có tài khoản tiết kiệm tại tài khoản ngân hàng Hiện tại, ngân hàng chào mức lãi suất 0,25%/tháng cho tiền gửi không kỳ hạn và 0,6%/tháng cho tiền gửi có kỳ hạn8 Một số gia đình gửi tiết kiệm tại ngân hàng trước đó đã chuyển sang gửi tại TYM khi TYM bắt đầu cung cấp sản phẩm tiết kiệm có kỳ hạn Các thành viên cho rằng thủ tục và giấy tờ của ngân hàng quá phức tạp Ngân hàng không cho phép gửi ít một như TYM Khách hàng rất hài lòng với sự thân thiện và tính chuyên nghiệp của cán bộ TYM

Họ cho rằng tham gia tiết kiệm với TYM cũng an toàn như tiết kiệm tại ngân hàng

Nói chung, khách hàng hiểu về các điều khoản và điều kiện của các sản phẩm tiết kiệm khác nhau Trong buổi thảo luận nhóm tập trung tháng 10 năm 2005, chỉ có duy nhất một khách hàng không biết chắc về việc liệu có thể rút tiết kiệm có kỳ hạn trước hay không Một số lượng nhỏ khách hàng ở chi nhánh Mê Linh ngừng vay vốn Những khách hàng này đã tích lũy được một số tiền tiết kiệm tự nguyện đủ lớn và không cần đến tín dụng nữa Mặc dù, số lượng người không vay vốn nữa là rất nhỏ, đây vẫn là một dấu hiệu đáng mừng cho thấy “Tiết kiệm gia đình” đã hỗ trợ người dân gây dựng tài sản

Nghiên cứu điển hình 1: Chị Xuân tiết kiệm cho con trai đi học

Chị Nguyễn Thị Xuân là người thôn Hoàng Kim, cách Hà nội 40 km Chị là thành viên của TYM từ năm 2002 Chị đã lập gia đình và có 3 người con, 24 tuổi, 20 tuổi và 18 tuổi,

cả ba đều đang còn đi học Nông nghiệp là nguồn thu nhập chính cho cả gia đình Gia đình chị cũng chăn nuôi thêm gia súc Chồng của chị Xuân là lao động thời vụ trong ngành xây dựng

Từ khi TYM bắt đầu cung cấp tiết kiệm linh hoạt từ đầu năm 2005, chị Xuân đã tham gia gửi tiền với số tiền đa dạng tùy vào thu nhập hàng tuần Hầu hết mỗi tuần chị tiết kiệm 10.000 đồng (0,6 USD) hoặc 20.000 đồng (1,2 USD) Đôi lúc, chẳng hạn sau khi bán lợn, chị có thể gửi khoản tiền lên đến 500.000 đồng (32 USD) Sau vài tháng, chị Xuân đã có thể gửi tiết kiệm 6 tháng với lãi suất là 0,6%/tháng Đến nay, số tiền tiết kiệm của chị đã

là 1.400.000 đồng (88 USD) Chị Xuân chưa bao giờ rút tiền và hy vọng rằng sẽ tích lũy

đủ tiền để cho con trai út đi học Đại học Chị Xuân không vay tiền từ TYM nữa bởi chị không có nhu cầu

Tựu chung lại, từ góc độ khách hàng, “Tiết kiệm gia đình” :

- cải thiện tiếp cận của thành viên đến các dịch vụ tiết kiệm phù hợp

- cho phép thành viên tiết kiệm theo khả năng

- giảm sự phụ thuộc của thành viên vào tín dụng

- tăng thu nhập của thành viên từ tiết kiệm

- thu hút thành viên mới

8 NHNN&PTNT, tháng 11/2005

Trang 23

5.3 Công việc và chi phí tăng thêm

Thách thức lớn nhất trong giai đoạn thí điểm là TYM đã đánh giá thấp khối lượng công việc mà “Tiết kiệm gia đình” mang lại cho cán bộ của tổ chức TYM không có hệ thống thông tin quản lý phù hợp và phải sử dụng bảng tính Excel Sản phẩm “Tiết kiệm gia đình” đã mang tới khối lượng công việc nặng nề và không thể thực hiện được với các file Excel Vấn đề quản lý dữ liệu không dễ dàng trở nên trầm trọng hơn khi kết quả tài chính của sản phẩm mới hoàn toàn vượt xa dự báo Nghiên cứu thị trường do TYM thực hiện trước khi thực hiện thí điểm chưa đủ toàn diện Và kết quả là, cán bộ cho vay phải làm ngoài giờ thêm rất nhiều Tại chi nhánh Mê Linh, cán bộ ước tính rằng họ phải dành một nửa thời gian cho sản phẩm tiết kiệm linh hoạt Mặc dù cán bộ chi nhánh cũng thấy được nhu cầu đối với sản phẩm tiết kiệm linh hoạt, họ có xu hướng giảm động cơ làm việc bởi khối lượng công việc quá nặng Cũng cần lưu ý rằng tất cả cán bộ của TYM đều nhận lương theo bậc lương của nhà nước, tức là tương đối thấp, và TYM không có những khuyến khích thêm về tài chính cho sản phẩm thí điểm Cuối cùng, nhìn chung, TYM ước tính rằng chi phí để hoạt động sản phẩm “Tiết kiệm gia đình” là 10% số dư tiết kiệm

tự nguyện trung bình (650 đô la Mỹ một năm cho hai chi nhánh)

Với những thách thức mà cả hai chi nhánh đều gặp phải như trên, TYM đã quyết định tạm ngừng sản phẩm tiết kiệm có kỳ hạn, còn sản phẩm tiết kiệm không kỳ hạn vẫn giữ nguyên Điều này đã khiến những khách hàng rất thích sản phẩm tiết kiệm có kỳ hạn cảm thấy không hài lòng Trong giai đoạn từ tháng 5 năm 2005 đến tháng 9 năm 2005, số người gửi tiết kiệm tự nguyện giảm từ 1528 xuống 1374

Để vượt qua những thách thức trên và với sự hỗ trợ của một lập trình viên máy tính, TYM đã thiết kế một phần mềm đơn giản để quản lý số liệu tốt hơn Khi sản phẩm này đi vào hoạt động, TYM sẽ xem xét việc triển khai lại sản phẩm tiết kiệm có kỳ hạn và nhân rộng “Tiết kiệm gia đình” tại các chi nhánh khác

5.4 Một số phát hiện

• Nhìn chung, dự án thí điểm này là một kinh nghiệm học tập tốt cho TYM

• TYM đã xây dựng và thực hiện sản phẩm thí điểm một cách có hệ thống, tuân thủ các bước của quy trình một cách cẩn thận Cơ chế cung cấp với sự hỗ trợ của ILO

đã nâng cao năng lực quản lý của TYM

• “Tiết kiệm gia đình” đáp ứng nhu cầu của khách hàng về tiết kiệm linh hoạt và có thời hạn và rõ ràng khách hàng đã tỏ ra hài lòng

• “Tiết kiệm gia đình” cho phép khách hàng gây dựng tài sản, và giảm sự phụ thuộc vào các khoản vay và tính dễ tổn thương

• Việc chú trọng đến nghiên cứu thị trường và đánh giá năng lực của cán bộ trong giai đoạn chuẩn bị có thể sẽ giảm bớt những thách thức mà TYM phải đối mặt trong giai đoạn thực hiện thí điểm

• Việc quản lý dữ liệu tiết kiệm linh hoạt là phức tạp Phần mềm EXCEL tỏ ra không bền vững Cần phải có một hệ thống thông tin quản lý (MIS) thích hợp

• Khi hệ thống thông tin quản lý mới được đưa vào hoạt động, TYM nên nhân rộng sản phẩm tiết kiệm linh hoạt cho các chi nhánh khác Sẽ cần một số hỗ trợ kỹ thuật để đảm bảo việc triển khai được suôn sẻ

Trang 24

• TYM nên thảo luận khả năng cho phép nam giới mở tài khoản tiết kiệm tại TYM, đồng thời cũng xem xét khối lượng công việc tăng thêm mà cán bộ của TYM phải đảm đương khi có thêm sản phẩm này Thảo luận này có lẽ nên bắt đầu khi TYM đăng ký chính thức theo Nghị định 28 mới về Hoạt động và Tổ chức của các TCTCVM9

Hỗ trợ của ILO cho TYM

- Hỗ trợ kỹ thuật trong suốt thời gian thí điểm

- Các khóa đào tạo về phát triển sản phẩm, bảo hiểm vi mô, nghiên cứu thị trường và quản lý tài chính vi mô

- Thiết kế phần mềm mới cho cấu phần tiết kiệm

- Nghiên cứu định giá bảo hiểm (cho Quỹ tương trợ của TYM)

- Thăm quan học tập đến các TCTCVM tại Philippines

- Đánh giá giai đoạn thí điểm và đề xuất khuyến nghị

- Hỗ trợ tài chính trực tiếp là 14.500 USD cho thực hiện thí điểm

9 Xem Mục 8.1: thảo luận về khuôn khổ pháp lý mới Để có thêm thông tin, xem trong Tài liệu làm việc của ILO “Hướng tới ngành Tài chính vi mô bền vững ở Việt Nam: Những vấn đề và thách thức”

Ngày đăng: 19/10/2012, 14:32

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Sản phẩm tiết kiệm tự nguyện của các tổ chức tài chính vi mô ở Việt Nam - Giới thiệu các dịch vụ tài chính quản lý rủi ro cho hộ thu nhập thấp ở việt nam
Bảng 1 Sản phẩm tiết kiệm tự nguyện của các tổ chức tài chính vi mô ở Việt Nam (Trang 16)
Bảng 2: Sáng kiến bảo hiểm ở khu vực bán chính thức (2003) - Giới thiệu các dịch vụ tài chính quản lý rủi ro cho hộ thu nhập thấp ở việt nam
Bảng 2 Sáng kiến bảo hiểm ở khu vực bán chính thức (2003) (Trang 18)
Bảng 3: “Tiết kiệm gia đình” tại hai chi nhánh, tháng 7/2004 - tháng 5/2005 - Giới thiệu các dịch vụ tài chính quản lý rủi ro cho hộ thu nhập thấp ở việt nam
Bảng 3 “Tiết kiệm gia đình” tại hai chi nhánh, tháng 7/2004 - tháng 5/2005 (Trang 21)
Bảng 4: Phí bảo hiểm, tiền hoa hồng, và tiền chi trả bảo hiểm Tháng 1–Tháng 9/2005 - Giới thiệu các dịch vụ tài chính quản lý rủi ro cho hộ thu nhập thấp ở việt nam
Bảng 4 Phí bảo hiểm, tiền hoa hồng, và tiền chi trả bảo hiểm Tháng 1–Tháng 9/2005 (Trang 29)
Bảng dưới đây thể hiện số tiền phí bảo hiểm đã trả cho Bảo Việt, số tiền hoa hồng Bảo - Giới thiệu các dịch vụ tài chính quản lý rủi ro cho hộ thu nhập thấp ở việt nam
Bảng d ưới đây thể hiện số tiền phí bảo hiểm đã trả cho Bảo Việt, số tiền hoa hồng Bảo (Trang 29)
Bảng 7: Kết quả hoạt động năm đầu tiên của Quĩ tương trợ huyện Đông Triều - Giới thiệu các dịch vụ tài chính quản lý rủi ro cho hộ thu nhập thấp ở việt nam
Bảng 7 Kết quả hoạt động năm đầu tiên của Quĩ tương trợ huyện Đông Triều (Trang 32)
Bảng 6: Trợ cấp của Quỹ Tương trợ Đông Triều - Giới thiệu các dịch vụ tài chính quản lý rủi ro cho hộ thu nhập thấp ở việt nam
Bảng 6 Trợ cấp của Quỹ Tương trợ Đông Triều (Trang 32)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w