1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn đánh giá thể chất sinh viên 19 22 tuổi tại thành phố hồ chí minh

243 191 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 243
Dung lượng 1,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trang Tóm tắt đề tài gồm tiếng Việt và tiếng Anh Mục lục Danh sách các chữ viết tắt Danh sách bảng Danh sách biểu đồ và hình vẽ PHẦN MỞ ĐẦU CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở lý lu

Trang 1

BÁO CÁO NGHIỆM THU

CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: TS NGUYỄN ANH TUẤN

Trang 2

TÓM TẮT NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Đảng ta khẳng định con người vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển của xã hội “Chiến lược con người” là một trong những chiến lược quan trọng của Đảng và nhà nước ta

Sinh viên các trường đại học, cao đẳng là lực lượng lao động trí thức trong tương lai gần của đất nước Lực lượng này đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước Trình độ phát triển thể chất của đối tựợng này không chỉ là vấn đề nòi giống mà còn là vấn đề chăm lo bồi dưỡng một lực lượng lao động quan trọng Vì vậy trong nhiều năm qua, chăm lo chuẩn bị thể chất cho toàn dân nói chung và cho đối tượng này nói riêng là một trong những mối quan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta Sự quan tâm đó thể hiện trên chủ trương đường lối và cả trên các biện pháp thực tế Chuẩn bị thể chất cho đối tượng này là trách nhiệm của toàn xã hội, trong đó hai ngành thể dục thể thao và Giáo dục đào tạo đóng vai trò trực tiếp quan trọng

Để góp phần phát triển nguồn nhân lực quan trọng này, đề tài nghiên cứu đã cung cấp những thông tin về thực trạng thể chất và xây dựng một hệ thống tiêu chuẩn đánh giá thể chất cho sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh Tiêu chuẩn đánh giá thể chất cho sinh viên là căn cứ quan trọng sẽ định hướng cho sinh viên trong việc rèn luyện thể chất

Trang 3

SUMMARY OF RESEARCH CONTENT

Our Vietnamese Communist Party asserts that human is both target and motive to develop society "Human strategy" is one of the important strategies of our party

Students are going to be the intellectual labour forces of country They play an important role in the cause of national industrialization and modernization The physical development level of own themselves is not only a lineage matter but also care and cultivation for an important labour force So for years, our party and government in physical question had arrangement and care to peoples in general and to students in particular It’s one of our national party’s concerns that show their policies and practical methods Physical arrangement for students is the task of the whole society Specially, sport branch and training-education branch are two units that have important role directly

This important human resource development is contributed by studied theme that provides information about physical realities and makes a standard system to evaluate physical students in Ho Chi Minh City Criteria for evaluating the physical students is an important base to guide students in physical exercise process

MUÏC LUÏC

Trang 4

Trang

Tóm tắt đề tài (gồm tiếng Việt và tiếng Anh)

Mục lục

Danh sách các chữ viết tắt

Danh sách bảng

Danh sách biểu đồ và hình vẽ

PHẦN MỞ ĐẦU

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở lý luận về giáo dục thể chất cho sinh viên

1.1.1 Các khái niệm

1.1.2 Quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác

giáo dục thể chất trong trường học

1.1.3 Tình hình sức khỏe, thể chất sinh viên nước ta

1.1.4 Các yếu tố xác định thể chất của sinh viên tại TP HCM

1.2 Đặc điểm sinh lý và phát triển thể chất lứa tuổi 19 – 22

1.2.1 Đặc điểm giải phẩu sinh lý lứa tuổi 19 – 22

1.2.2 Đặc điểm phát triển tố chất thể lực lứa tuổi 19 – 22

1.3 Các công trình nghiên cứu về tiêu chuẩn đánh giá thể chất của

học sinh, sinh viên các trường đại học và cao đẳng

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU

2.1 Phương pháp nghiên cứu

2.1.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu

2.1.2 Phương pháp phỏng vấn, tọa đàm

2.1.3 Phương pháp kiểm tra chức năng

2.1.4 Phương pháp nhân trắc học

2.1.5 Phương pháp kiểm tra sư phạm

2.1.6 Phương pháp xây dựng tiêu chuẩn đánh giá thể chất sinh viên

2.1.7 Phương pháp toán học thống kê

2.2 Tổ chức nghiên cứu:

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.2.2 Địa điểm nghiên cứu

2.2.3 Kế hoạch nghiên cứu

2.2.4 Đơn vị phối hợp nghiên cứu

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Trang 5

3.1 Nội dung 1: Đánh giá thực trạng thể chất của sinh viên (19 – 22 tuổi) tại Thành phố Hồ Chí Minh

3.1.1 Xác định các chỉ tiêu đánh giá thể chất sinh viên (19 – 22 tuổi) tại Thành phố Hồ Chí Minh

3.1.2 Đánh giá thực trạng thể chất sinh viên (19 – 22 tuổi) tại Thành phố Hồ Chí Minh

3.2 Nội dung 2: Nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn đánh giá thể chất cho sinh viên (19 – 22 tuổi) tại TP Hồ Chí Minh

3.2.1 Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá theo thang điểm (thang điểm C)

3.2.2 Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá theo phân loại

3.2.3 So sánh các thang điểm, thang phân loại đánh giá thể chất sinh viên TP Hồ Chí Minh

3.2.4 So sánh thang điểm đánh giá thể lực sinh viên thành phố với thang điểm đánh giá thể lực của Bộ giáo dục và đào tạo

3.2.5 Hướng dẫn sử dụng thang điểm, thang phân loại đánh giá thể chất sinh viên TP Hồ Chí Minh

3.2.6 Ứng dụng tiêu chuẩn đánh giá thể chất sinh viên TP.Hồ Chí Minh

3.2.7 Kiểm định hệ thống tiêu chuẩn đánh giá thể chất cho sinh

viên (19 – 22 tuổi) tại TP Hồ Chí Minh

CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BCH TW Ban chấp hành Trung ương

BGD&ĐT Bộ giáo dục và Đào tạo

Trang 6

CĐSP Cao đẳng Sư phạm

ĐHSP Đại học Sư phạm

GDTC Giáo dục thể chất

HSSHVN Hằng số sinh học người Việt Nam

Nxb Nhà xuất bản

TDTT Thể dục thể thao

TCSV Thể chất sinh viên

THCN Trung học chuyên nghiệp

TP HCM Thành phố Hồ Chí Minh

[12] Tài liệu tham khảo số 12

DANH SÁCH BẢNG

1.1 Phân phối chương trình theo các nội dung chương trình qui định

1.2 Phân loại mối quan hệ về thể hình của bố mẹ với con cái (nhi

đồng, thiếu niên)

1.3 Độ di truyền một số tố chất thể lực

Trang 7

2.1 Đánh giá chỉ số công năng tim

2.2 Đánh giá chỉ số BMI

2.3

Số lượng sinh viên các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn

thành phố Hồ Chí Minh tham gia kiểm tra thể chất ở lần thứ

nhất

2.4

Số lượng sinh viên các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn

thành phố Hồ Chí Minh tham gia kiểm tra thể chất ở lần thứ

hai

2.5

Số lượng sinh viên các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn TP

HCM tham gia kiểm tra thể chất phân theo nhóm ở lần kiểm tra

thứ nhất

2.6

Số lượng sinh viên các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn TP

HCM tham gia kiểm tra thể chất phân theo nhóm ở lần kiểm tra

thứ hai

3.1

So sánh kết quả hai lần phỏng vấn các chỉ tiêu hình thái và

chức năng đánh giá thể chất sinh viên 19 – 22 tuổi tại TP Hồ

Chí Minh

3.2 So sánh kết quả hai lần phỏng vấn các chỉ tiêu thể lực đánh giá thể chất sinh viên 19 – 22 tuổi tại TP Hồ Chí Minh

3.3

So sánh giá trị trung bình các chỉ tiêu đánh giá thể chất của

nam sinh viên 19 tuổi với HSSHVN lứa tuổi 19 (thời điểm

năm 2001)

3.4

So sánh giá trị trung bình các chỉ tiêu đánh giá thể chất của

nữ sinh viên 19 tuổi với HSSHVN lứa tuổi 19 (thời điểm năm

2001)

3.5

So sánh giá trị trung bình các chỉ tiêu đánh giá thể chất của

nam sinh viên 20 tuổi với HSSHVN lứa tuổi 20 (thời điểm

năm 2001)

3.6

So sánh giá trị trung bình các chỉ tiêu đánh giá thể chất của

nữ sinh viên 20 tuổi với HSSHVN lứa tuổi 20 (thời điểm năm

2001)

3.7

So sánh giá trị trung bình các chỉ tiêu đánh giá thể chất của

nam sinh viên 21 tuổi với HSSHVN lứa tuổi 21 (thời điểm

năm 2001)

Trang 8

3.8

So sánh giá trị trung bình các chỉ tiêu đánh giá thể chất của

nữ sinh viên 21 tuổi với HSSHVN lứa tuổi 21 (thời điểm năm

2001)

3.9

So sánh giá trị trung bình các chỉ tiêu đánh giá thể chất của

nam sinh viên 22 tuổi với HSSHVN lứa tuổi 22 (thời điểm

năm 2001)

3.10

So sánh giá trị trung bình các chỉ tiêu đánh giá thể chất của nữ

sinh viên 22 tuổi với HSSHVN lứa tuổi 22 (thời điểm năm

2001)

3.11 So sánh giá trị trung bình các chỉ tiêu đánh giá thể chất của nam sinh viên TP Hồ Chí Minh giữa hai lứa tuổi 19 và 20

3.12 So sánh giá trị trung bình các chỉ tiêu đánh giá thể chất của

nữ sinh viên TP Hồ Chí Minh giữa hai lứa tuổi 19 và 20

3.13 So sánh giá trị trung bình các chỉ tiêu đánh giá thể chất của

nam sinh viên TP Hồ Chí Minh giữa hai lứa tuổi 19 và 21

3.14 So sánh giá trị trung bình các chỉ tiêu đánh giá thể chất của nữ sinh viên TP Hồ Chí Minh giữa hai lứa tuổi 19 và 21

3.15 So sánh giá trị trung bình các chỉ tiêu đánh giá thể chất của nam sinh viên TP Hồ Chí Minh giữa hai lứa tuổi 19 và 22

3.16 So sánh giá trị trung bình các chỉ tiêu đánh giá thể chất của nữ sinh viên TP Hồ Chí Minh giữa hai lứa tuổi 19 và 22

3.17 So sánh giá trị trung bình các chỉ tiêu đánh giá thể chất của nam sinh viên TP Hồ Chí Minh giữa hai lứa tuổi 20 và 21

3.18 So sánh giá trị trung bình các chỉ tiêu đánh giá thể chất của nữ sinh viên TP Hồ Chí Minh giữa hai lứa tuổi 20 và 21

3.19 So sánh giá trị trung bình các chỉ tiêu đánh giá thể chất của nam sinh viên TP Hồ Chí Minh giữa hai lứa tuổi 20 và 22

3.20 So sánh giá trị trung bình các chỉ tiêu đánh giá thể chất của nữ sinh viên TP Hồ Chí Minh giữa hai lứa tuổi 20 và 22

3.21 So sánh giá trị trung bình các chỉ tiêu đánh giá thể chất của nam sinh viên TP Hồ Chí Minh giữa hai lứa tuổi 21 và 22

3.22 So sánh giá trị trung bình các chỉ tiêu đánh giá thể chất của nữ sinh viên TP Hồ Chí Minh giữa hai lứa tuổi 21 và 22

Trang 9

3.23

Tổng hợp kết quả so sánh giá trị trung bình các chỉ tiêu đánh

giá thể chất sinh viên TP Hồ Chí Minh giữa các lứa tuổi với

nhau

3.24 So sánh giá trị trung bình các chỉ tiêu đánh giá thể chất của nam sinh viên TP.Hồ Chí Minh giưã hai nhóm I và II.

3.25 So sánh giá trị trung bình các chỉ tiêu đánh giá thể chất của nữ sinh viên TP.Hồ Chí Minh giưã hai nhóm I và II.

3.26 So sánh giá trị trung bình các chỉ tiêu đánh giá thể chất của

nam sinh viên TP.Hồ Chí Minh giưã hai nhóm I và III.

3.27 So sánh giá trị trung bình các chỉ tiêu đánh giá thể chất của

nữ sinh viên TP.Hồ Chí Minh giưã hai nhóm I và III.

3.28 So sánh giá trị trung bình các chỉ tiêu đánh giá thể chất của nam sinh viên TP.Hồ Chí Minh giưã hai nhóm II và III.

3.29 So sánh giá trị trung bình các chỉ tiêu đánh giá thể chất của nữ sinh viên TP.Hồ Chí Minh giưã hai nhóm II và III.

3.30

Tổng hợp kết quả so sánh giá trị trung bình các chỉ tiêu đánh

giá thể chất sinh viên TP Hồ Chí Minh giữa các nhóm với

nhau

3.31 Động thái phát triển thể chất của nam sinh viên TP Hồ Chí Minh từ 19 – 22 tuổi

3.32 Độ chênh lệch tương đối các chỉ tiêu đánh giá thể chất nam sinh viên TP Hồ Chí Minh từ 19 – 22 tuổi

3.33 Động thái phát triển thể chất của nữ sinh viên TP Hồ Chí Minh từ 19 – 22 tuổi

3.34 Độ chênh lệch tương đối các chỉ tiêu đánh giá thể chất nữ sinh viên TP Hồ Chí Minh từ 19 – 22 tuổi

3.35 Tổng hợp các chỉ tiêu thể chất của nam sinh viên TP Hồ Chí

Minh

3.36 Tổng hợp các chỉ tiêu thể chất của nữ sinh viên TP Hồ Chí Minh

3.37 Chiều cao của người Việt Nam (trưởng thành) qua các giai đoạn

3.38 Cân nặng của người Việt Nam (trưởng thành) qua các giai đoạn

3.39 So sánh giá trị trung bình các chỉ tiêu hình thái của sinh viên

Trang 10

TP Hồ Chí Minh với thanh niên Quảng Tây (Trung Quốc) -

1995

3.40 So sánh giá trị trung bình một số chỉ tiêu thể lực của sinh

viên TP Hồ Chí Minh với thanh niên Singapore – 19 tuổi

3.41 So sánh giá trị trung bình một số chỉ tiêu thể lực của sinh viên TP Hồ Chí Minh với thanh niên Nhật Bản 20 – 24 tuổi

3.42 Thang điểm các chỉ tiêu đánh giá thể chất nam sinh viên nhóm I theo từng lứa tuổi

3.43 Thang điểm các chỉ tiêu đánh giá thể chất nữ sinh viên nhóm I theo từng lứa tuổi

3.44 Thang điểm các chỉ tiêu đánh giá thể chất nam sinh viên nhóm

II theo từng lứa tuổi

3.45 Thang điểm các chỉ tiêu đánh giá thể chất nữ sinh viên nhóm

II theo từng lứa tuổi

3.46 Thang điểm các chỉ tiêu đánh giá thể chất nam sinh viên nhóm III theo từng lứa tuổi

3.47 Thang điểm các chỉ tiêu đánh giá thể chất nữ sinh viên nhóm III theo từng lứa tuổi

3.48 Thang điểm các chỉ tiêu đánh giá thể chất nam sinh viên TP Hồ Chí Minh theo nhóm

3.49 Thang điểm các chỉ tiêu đánh giá thể chất nữ sinh viên TP Hồ

Chí Minh theo nhóm

3.50 Phân loại các chỉ tiêu đánh giá thể chất nam sinh viên nhóm I

theo từng lứa tuổi

3.51 Phân loại các chỉ tiêu đánh giá thể chất nữ sinh viên nhóm I theo từng lứa tuổi

3.52 Phân loại các chỉ tiêu đánh giá thể chất nam sinh viên nhóm II theo từng lứa tuổi

3.53 Phân loại các chỉ tiêu đánh giá thể chất nữ sinh viên nhóm II theo từng lứa tuổi

3.54 Phân loại các chỉ tiêu đánh giá thể chất nam sinh viên nhóm III theo từng lứa tuổi

3.55 Phân loại các chỉ tiêu đánh giá thể chất nữ sinh viên nhóm III

theo từng lứa tuổi

Trang 11

3.56 Phân loại các chỉ tiêu đánh giá thể chất nam sinh viên TP Hồ

Chí Minh theo nhóm

3.57 Phân loại các chỉ tiêu đánh giá thể chất nữ sinh viên TP Hồ

Chí Minh theo nhóm

3.58 Kết quả so sánh các thang điểm đánh giá thể chất sinh viên theo từng nhóm

3.59 Tổng hợp thang điểm phân loại đánh giá thể lực của nam sinh viên Thành phố và của Bộ giáo dục và Đào tạo (20 tuổi)

3.60 Tổng hợp thang điểm phân loại đánh giá thể lực của nữ sinh viên Thành phố và của Bộ giáo dục và Đào tạo (20 tuổi)

3.61 Kiểm nghiệm thang điểm đánh giá thể chất nam sinh viên 19 – 22 tuổi tại TP Hồ Chí Minh qua hai lần kiểm tra

3.62 Kiểm nghiệm thang điểm đánh giá thể chất nữ sinh viên 19 – 22 tuổi tại TP Hồ Chí Minh qua hai lần kiểm tra

Trang 12

Biểu đồ 3.9a Động thái phát triển thể chất nam sinh viên TP Hồ Chí

Minh

Biểu đồ 3.9b Động thái phát triển thể chất nam sinh viên TP Hồ Chí

Minh

Trang 13

Biểu đồ 3.10a Động thái phát triển thể chất nữ sinh viên TP Hồ Chí

Minh

Trang 14

Biểu đồ 3.10b Động thái phát triển thể chất nữ sinh viên TP Hồ Chí

Minh

PHIẾU ĐĂNG KÝ

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KH-CN

Tên đề tài: “Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá thể chất sinh viên 19 – 22 tuổi tại Thành phố Hồ Chí

Minh”

Mã số:

Cơ quan chủ trì: Trường Đại học Sư phạm Thể dục thể thao Thành phố Hồ Chí Minh

Địa chỉ: số 639 Nguyễn Trãi – Phường 11 – Quận 5 – TP.HCM

Điện thoại: 8.555.432 - Fax : 8.556.846

Trang 15

Tổng chi phí thực chi: 195.000 x 1000 đ

Trong đó: - Từ ngân sách Nhà nước: 195.000 x 1000 đ

- Kinh phí của Bộ/Tỉnh: 00 x 1000 đ

- Vay tín dụng: 00 x 1000 đ

- Vốn tự có: 00 x 1000 đ

- Thu hồi: 00 x 1000 đ

Thời gian nghiên cứu:

Thời gian bắt đầu:

Thời gian kết thúc

Tháng 12/2006 đến 12/2008

12 / 2006 12/ 2008

Tên cán bộ phối hợp nghiên cứu:

- ThS Tăng Hữu Phong – Hội sinh viên Việt Nam TP.HCM

- ThS Cao Viết Ninh – Hội thể thao Đại học TP.HCM

- ThS Nguyễn Quang Vinh – Trường Đại học Sư phạm TDTT TP.HCM

- ThS Trịnh Thanh Bình – Trường Đại học Sư phạm TDTT TP.HCM

- ThS Nguyễn Phước Toàn – Trường Đại học Sư phạm TDTT TP.HCM

- CN Nguyễn Phước Thọ – Trường Đại học Sư phạm TDTT TP.HCM

- CN Nguyễn Đắc Thịnh – Trường Đại học Sư phạm TDTT TP.HCM

Số đăng ký đề tài:

A Phổ biến rộng rãi : X

B Phổ biến hạn chế

C Bảo mật

Tóm tắt kết quả nghiên cứu:

1 Các chỉ tiêu đánh giá thể chất sinh viên tại TP Hồ Chí Minh là:

• Về hình thái: Chiều cao đứng (cm), Cân nặng (kg), Chỉ số BMI

• Về chức năng: Test công năng tim (HW)

• Về thể lực: Chạy 30m tốc độ cao (giây), Bật xa tại chỗ (cm), Nằm sấp chống đẩy trong

30 giây (lần), Đứng dẻo gập thân (cm), Chạy con thoi 4 x 10m (giây), Chạy 5 phút tùy sức (m)

Cung cấp những thông tin về thực trạng thể chất sinh viên từ 19 – 22 tuổi tại TP Hồ Chí Minh là:

Trang 16

Thực trạng thể chất sinh viên TP Hồ Chí Minh tốt hơn HSSHVN cùng độ tuổi và giới tính

ở hầu hết các lứa tuổi về chiều cao đứng, cân nặng, chỉ số BMI, chức năng tim, sức mạnh chân,

khéo léo, độ dẻo và sức bền chung; tương đương các chỉ tiêu ở nam (độ dẻo – 19 tuổi, chiều cao

đứng – 20 tuổi và cân nặng – 21 và 22 tuổi), nữ (sức bền – 19 tuổi, cân nặng – 20 tuổi và chiều

cao đứng – 22 tuổi); kém hơn ở các chỉ tiêu ở nam (chiều cao đứng – 19 tuổi, độ dẻo – 20 tuổi,

sức bền chung – 19 và 20 tuổi, BMI và chức năng tim – 21 và 22 tuổi), nữ (độ dẻo – 19 tuổi, BMI

– 19, 21 và 22 tuổi, chức năng tim – 21 và 22 tuổi, cân nặng và khéo léo 10m – 22 tuổi)

Thực trạng thể chất sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh so với một số nước cho thấy: chiều cao đứng và cân nặng ở nam và nữ đều kém hơn thanh niên Quảng Tây (Trung Quốc) – 1995; chỉ số BMI xếp loại bình thường theo phân loại của tổ chức Y tế thế giới; chỉ tiêu công năng tim

(HW) xếp loại kém theo bảng phân loại của Ruffier; sức mạnh chân kém hơn thanh niên Singapore – 19 tuổi, còn ở tố chất khéo léo thì tốt hơn ở nam và kém hơn ở nữ; sức mạnh chân và sức bền của sinh viên TP Hồ Chí Minh đều kém hơn thanh niên Nhật Bản 20 – 24 tuổi

2 Đã xây dựng được tiêu chuẩn đánh giá thể chất sinh viên từ 19 – 22 tuổi tại TP Hồ Chí

Minh gồm: bảng điểm, bảng phân loại và công thức tính tổng điểm Qua kiểm định tiêu chuẩn cho thấy, thang điểm và thang phân loại đủ độ tin cậy để đánh giá thể chất sinh viên từ 19 – 22 tuổi tại TP Hồ Chí Minh

Kiến nghị về quy mô và đối tượng áp dụng kết quả nghiên cứu:

Áp dụng hệ thống đánh giá đã được xây dựng trong đề tài làm chuẩn để đánh giá đo lường trình độ thể chất của sinh viên từ 19 – 22 tuổi tại TP Hồ Chí Minh

Chức vụ Chủ nhiệm đề tài Cơ quan

chủ trì đề tài Đánh giá chính thức Chủ tịch Hội đồng quản lý đề tài Cơ quan Họ và tên Nguyễn Anh Tuấn Huỳnh Trọng Khải Phạm Quang Bản Phan Minh Tân Học vị Tiến sĩ Tiến sĩ Tiến sĩ PGS Tiến sĩ

Ký tên

Đóng dấu

PHẦN MỞ ĐẦU

Trang 17

1 Tên đề tài:

“Nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn đánh giá thể chất cho sinh viên 19 –

22 tuổi tại Thành phố Hồ Chí Minh”

Chủ nhiệm đề tài: TS Nguyễn Anh Tuấn

Cơ quan chủ trì: Trường Đại học Sư phạm Thể dục thể thao Thành phố

Hồ Chí Minh

Thời gian thực hiện: 18 tháng (12/2006 – 05/2008) theo hợp đồng số:

324/HĐ – SKHCN ký ngày 27/12/2006

Kinh phí được duyệt: 195.000.000đ

Kinh phí đã cấp: 120.000.000đ theo TB số: 274/TBKHCN ngày 18/12/2006

Nội dung 1: Nghiên cứu đánh giá thực trạng thể chất của sinh viên (19

– 22 tuổi) tại Thành phố Hồ Chí Minh

Nội dung 2: Nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn đánh giá thể chất cho sinh viên (19 – 22 tuổi) tại Thành phố Hồ Chí Minh

- Xây dựng hệ thống nội dung và tiêu chuẩn đánh giá thể chất cho sinh viên (19 – 22 tuổi) tại Thành phố Hồ Chí Minh

- Kiểm định tính hợp lý của hệ thống tiêu chuẩn đánh giá thể chất cho sinh viên (19 – 22 tuổi) tại Thành phố Hồ Chí Minh vừa nghiên cứu trên

Trang 18

4 Sản phẩm của đề tài:

4.1 Các chỉ tiêu đánh giá thể chất sinh viên tại TP Hồ Chí Minh là:

• Về hình thái: Chiều cao đứng (cm), Cân nặng (kg), Chỉ số BMI

• Về chức năng: Test công năng tim (HW)

• Về thể lực: Chạy 30m tốc độ cao (giây), Bật xa tại chỗ (cm), Nằm sấp chống đẩy trong 30 giây (lần), Đứng dẻo gập thân (cm), Chạy con thoi 4 x 10m (giây), Chạy 5 phút tùy sức (m)

Cung cấp những thông tin về thực trạng thể chất sinh viên từ 19 – 22 tuổi tại TP Hồ Chí Minh là:

Thực trạng thể chất sinh viên TP Hồ Chí Minh tốt hơn HSSHVN cùng

độ tuổi và giới tính ở hầu hết các lứa tuổi về chiều cao đứng, cân nặng, chỉ số BMI, chức năng tim, sức mạnh chân, khéo léo, độ dẻo và sức bền chung;

tương đương các chỉ tiêu ở nam (độ dẻo – 19 tuổi, chiều cao đứng – 20 tuổi và cân nặng – 21 và 22 tuổi), nữ (sức bền – 19 tuổi, cân nặng – 20 tuổi và chiều

cao đứng – 22 tuổi); kém hơn ở các chỉ tiêu ở nam (chiều cao đứng – 19 tuổi,

độ dẻo – 20 tuổi, sức bền chung – 19 và 20 tuổi, BMI và chức năng tim – 21

và 22 tuổi), nữ (độ dẻo – 19 tuổi, BMI – 19, 21 và 22 tuổi, chức năng tim – 21

và 22 tuổi, cân nặng và khéo léo 10m – 22 tuổi)

Thực trạng thể chất sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh so với một số nước cho thấy: chiều cao đứng và cân nặng ở nam và nữ đều kém hơn thanh niên Quảng Tây (Trung Quốc) – 1995; chỉ số BMI xếp loại bình thường theo phân loại của tổ chức Y tế thế giới; chỉ tiêu công năng tim (HW) xếp loại kém

theo bảng phân loại của Ruffier; sức mạnh chân kém hơn thanh niên Singapore – 19 tuổi, còn ở tố chất khéo léo thì tốt hơn ở nam và kém hơn ở

Trang 19

nữ; sức mạnh chân và sức bền của sinh viên TP Hồ Chí Minh đều kém hơn

thanh niên Nhật Bản 20 – 24 tuổi

4.2 Đã xây dựng được tiêu chuẩn đánh giá thể chất sinh viên từ 19 – 22

tuổi tại TP Hồ Chí Minh gồm: bảng điểm, bảng phân loại và công thức tính tổng điểm Qua kiểm định tiêu chuẩn cho thấy, thang điểm và thang phân loại đủ độ tin cậy để đánh giá thể chất sinh viên từ 19 – 22 tuổi tại TP Hồ Chí Minh

Trang 20

“Con người sẽ không bao giờ thỏa mãn với những cái mà thiên nhiên ban cho mình Sự can thiệp tích cực sẽ là cần thiết, con người đã thay đổi được giống các động vật và thực vật thì cũng sẽ thay đổi được chính bản thân mình để làm cho nó hài hòa hơn” (ILIAMETNHICOP)

Con người là động lực của sự nghiệp xây dựng Chủ nghiã xã hội, là chủ thể của mọi sự sáng tạo, chủ thể của mọi của cải vật chất và văn hóa, chủ thể để xây dựng một xã hội công bằng, nhân ái Như vậy con người cần được phát triển toàn diện, phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần và trong sáng về đạo đức [40]

Sức khỏe là tài sản quý giá nhất của mỗi cá nhân, xã hội, vì đó chính là hành trang để đi vào cuộc sống Chăm sóc và nâng cao sức khỏe là trách nhiệm, là nghĩa vụ của mỗi người dân và toàn xã hội, vì thế đây là vấn đề quan trọng trong chiến lược xây dựng và phát huy nhân tố con người ở nước ta Sức khỏe là tiền đề để con người phát triển trí tuệ, tiếp thu kiến thức, kỹ năng kỹ xảo vận động trong cuộc sống Nhân loại đã bước vào thế kỷ XXI, một thiên niên kỷ mới, trong đó nền kinh tế tri thức là chủ đạo, những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang được ứng dụng một cách triệt để vào tất cả các lĩnh vực của đời sống Vì vậy vai trò sức khỏe của con người lại càng quan trọng Hòa cùng với xu thế chung của thời đại, Việt Nam đã và đang bước vào thời kỳ mới, sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước đặt ra những yêu cầu gay gắt về phát triển nguồn nhân lực Toàn Đảng, toàn dân ta đang ra sức bắt tay vào công cuộc xây dựng đất nước để nhanh chóng hòa nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới Để làm được điều đó hơn bao giờ hết cần phải có những con người khỏe mạnh, phát triển

Trang 21

toàn diện về thể chất và tinh thần Nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của việc phát triển thể chất trong sự nghiệp xây dựng con người mới Xã hội chủ nghĩa, Nghị quyết Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ II khóa VIII nêu rõ: “Muốn tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa thắng lợi phải phát triển giáo dục, đào tạo, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh chóng và bền vững” [46]

Đảng ta khẳng định con người vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển của xã hội “Chiến lược con người” là một trong những chiến lược quan trọng của Đảng và nhà nước ta Nhận thức đó có ý nghĩa quan trọng về lý luận và thực tiễn thể hiện tính nhân bản trong chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước ta Sự phát triển kinh tế đặt con người vào vị trí trung tâm Thống nhất tăng trưởng kinh tế với công bằng và tiến bộ xã hội Mục tiêu của chính sách xã hội thống nhất với mục tiêu phát triển kinh tế đều nhằm phát huy sức mạnh nhân tố con người và vì con người Đảng ta đã khẳng định: “Nguồn nhân lực lớn nhất, quý báu nhất của chúng ta là tiềm lực con người Việt Nam” [50]

Để thực hiện được mục tiêu đề ra Đảng và Nhà nước ta luôn đặc biệt quan tâm chăm sóc sức khỏe nhân dân nhằm phát triển chất lượng nguồn nhân lực Bằng những chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước cùng với sự đi lên của nền kinh tế đất nước, thể lực và tầm vóc người Việt Nam có những bước phát triển khá trong những năm gần đây Tuy nhiên, so với các tiêu chuẩn của quốc tế, thể lực và tầm vóc người Việt Nam còn thua kém nhiều nước trong khu vực Tình trạng này nếu chậm khắc phục sẽ ảnh hưởng đến sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 22

Sinh viên các trường đại học, cao đẳng là lực lượng lao động trí thức trong tương lai gần của đất nước Lực lượng này đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước Trình độ phát triển thể chất của đối tựơng này không chỉ là vấn đề nòi giống mà còn là vấn đề chăm lo bồi dưỡng một lực lượng lao động quan trọng Vì vậy trong nhiều năm qua, chăm lo chuẩn bị thể chất cho toàn dân nói chung và cho đối tượng này nói riêng là một trong những mối quan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta Sự quan tâm đó thể hiện trên chủ trương đường lối và cả trên các biện pháp thực tế Chuẩn bị thể chất cho đối tượng này là trách nhiệm của toàn xã hội, trong đó hai ngành thể dục thể thao và Giáo dục đào tạo đóng vai trò trực tiếp quan trọng

Điều có ý nghĩa quan trọng đối với sự chuẩn bị thể chất cho bất kỳ đối tượng nào là có đầy đủ thông tin về thực trạng thể chất của đối tượng đó Vì đó chính là cơ sở khoa học của mọi biện pháp tác động nhằm phát triển thể chất Do tính chất và tầm quan trọng nêu trên, sau ngày thống nhất đất nước (1975) ở nước ta các nhà khoa học đã có một số công trình nghiên cứu với mục đích thu thập những thông tin về thực trạng thể chất, sức khỏe và thể lực cho sinh viên như: Vũ Đức Thu và cộng sự năm 1989 – lê Văn Lẫm, Vũ Đức Thu, Nguyễn Trọng hải, Vũ Bích Huệ, Nguyễn Thái Sinh, Đỗ Vĩnh và cộng sự Năm 2000 - 2002, trong chương trình điều tra thể chất người Việt Nam từ 6 đến 60 tuổi của Viện khoa học thể dục thể thao vấn đề này đã được nghiên cứu một cách khá quy mô Tuy nhiên, với quy mô quốc gia nên nghiên cứu này không đi sâu phân tích từng vùng, từng đối tượng, trong đó có đối tượng

Trang 23

mà chúng tôi quan tâm là sinh viên các trường đại học, cao đẳng khu vực Thành phố Hồ Chí Minh

Để góp phần phát triển nguồn nhân lực quan trọng này, chúng ta cần có một hệ thống tiêu chuẩn đánh giá về trí lực, tâm lực và thể lực Do đó, tiêu chuẩn đánh giá thể chất cho sinh viên là căn cứ quan trọng sẽ định hướng cho sinh viên trong việc rèn luyện thể chất Hiện nay ở Thành phố Hồ Chí Minh chưa có một hệ thống tiêu chuẩn đánh giá thể chất cho sinh viên các trường đại học và cao đẳng Từ đó, việc xác định các nội dung và xây dựng tiêu chuẩn đánh giá một cách khoa học phù hợp với tình hình thực tế ở Thành phố Hồ Chí Minh là rất quan trọng và cần thiết Với tầm quan trọng trên chúng tôi thực hiện đề tài:

“Nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn đánh giá thể chất cho sinh viên 19 –

22 tuổi tại Thành phố Hồ Chí Minh”

Mục tiêu nghiên cứu nhằm phát hiện và cung cấp những thông tin về

thực trạng thể chất đồng thời xây dựng tiêu chuẩn đánh giá thể chất cho sinh

viên (19 – 22 tuổi) tại Thành phố Hồ Chí Minh

Để thực hiện mục tiêu trên đề tài giải quyết hai nội dung sau:

Nội dung 1: Đánh giá thực trạng thể chất của sinh viên (19 – 22 tuổi) tại

Thành phố Hồ Chí Minh

Nội dung 2: Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá thể chất cho sinh viên (19 –

22 tuổi) tại Thành phố Hồ Chí Minh

- Xây dựng hệ thống nội dung và tiêu chuẩn đánh giá thể chất cho sinh viên (19 – 22 tuổi) tại Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 24

- Kiểm định tính hợp lý của hệ thống tiêu chuẩn đánh giá thể chất cho sinh viên (19 – 22 tuổi) tại Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 25

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC THỂ CHẤT CHO SINH VIÊN

1.1.1 Các khái niệm

Thể chất

Theo Nôvicốp A.Đ, Matveep L.P: “Thể chất là thuật ngữ chỉ chất lượng của cơ thể con người Đó là những đặc trưng về hình thái và chức năng của cơ thể được thay đổi và phát triển theo từng giai đoạn và các thời kỳ kế tiếp nhau theo qui luật sinh học Thể chất được hình thành và phát triển đo bẩm sinh di truyền và những điều kiện sống tác động” [47, tr 10], [59, tr 28]

Theo Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn: “Thể chất chỉ chất lượng thân thể con người Đó là những đặc trưng tương đối ổn định về hình thái và chức năng của cơ thể được hình thành và phát triển do bẩm sinh di truyền và điều kiện sống (bao gồm cả giáo dục, rèn luyện)” [60, tr 18] Các tác giả cho rằng: thể chất bao gồm hình thái (thể hình), chức năng và năng lực vận động

Hình thái là cấu trúc, hình dáng bên ngoài của cơ thể Trong Thể dục thể thao có khoảng 50 chỉ số hình thái được nghiên cứu (những chỉ số hình thái thông dụng như: chiều cao đứng, chiều cao ngồi, cân nặng, vòng ngực, vòng đùi, vòng bụng, vòng cánh tay…)

Chức năng là khả năng hoạt động của các hệ thống, cơ quan trong cơ thể: thần kinh, tuần hoàn, hô hấp, vận động …

Năng lực vận động bao gồm thể lực và các kỹ năng vận động cơ bản như đi, chạy, nhảy…

Phát triển thể chất

Trang 26

Theo Nôvicốp A.Đ, Matveep L.P: “Phát triển thể chất của con người là quá trình biến đổi các tính chất hình thái và chức năng tự nhiên của cơ thể con người trong suốt cả cuộc sống cá nhân của nó” [48, tr 4]

Phát triển thể chất biểu hiện qua các chỉ số hình thái như: kích thước trong không gian và trọng lượng cơ thể, còn sự phát triển về chức năng thể hiện ở sự biến đổi các khả năng chức phận của cơ thể theo các thời kỳ và các giai đoạn phát triển theo lứa tuổi của nó, sự biến đổi này thể hiện qua các tố chất thể lực như: Sức nhanh, sức mạnh, sức bền, khéo léo, mềm dẻo Sự biến đổi năng lực hoạt động của hệ hô hấp, hệ tuần hoàn, hệ bài tiết, hệ thần kinh, tâm lý và ý chí phát triển thể chất tuân theo các quy luật tự nhiên, trong các quy luật đó có quy luật tác động lẫn nhau của các xu hướng phát triển di truyền và các xu hướng bị điều kiện sống tác động; quy luật xác định lẫn nhau của các biến đổi cấu trúc và chức năng; các thời kỳ theo lứa tuổi phát triển từ từ và thay thế nhau (các thời kỳ phát triển nhanh được thay thế bằng các thời kỳ ổn định tương đối về cấu trúc và chức năng, sau đó đến các thời kỳ biến đổi sút kém)

Tuy nhiên theo Matveep L.P phát triển thể chất của con người còn phụ thuộc vào các điều kiện sống và hoạt động của con người (điều kiện phân phối và sử dụng sản phẩm vật chất, giáo dục, lao động, sinh hoạt …) và do đó sự “phát triển thể chất của con người là do xã hội tác động và tác động ở mức độ quyết định” [48, tr 296]

Tổng hợp quan điểm của nhiều tác giả cho thấy, phát triển thể chất của con người là quá trình biến đổi các yếu tố thể chất và tinh thần, quá trình này diễn ra trong suốt cuộc đời của một cá thể theo hai giai đoạn cơ bản là giai

Trang 27

đoạn phát triển thuận chiều (dương tính) và phát triển ngược chiều (âm tính hay giai đoạn suy thoái), phát triển thể chất phụ thuộc vào tổng hòa các yếu tố tự nhiên và xã hội

Phát triển thể chất là một quá trình diễn ra liên tục trong suốt cuộc đời một cá thể Những biến đổi về hình thái, chức năng và tố chất vận động là những yếu tố cơ bản để đánh giá sự phát triển thể chất Phát triển thể chất là một quá trình chịu sự tác động của tổng hợp các yếu tố tự nhiên – xã hội Các yếu tố xã hội đóng vai trò tác động trực tiếp và quyết định sự phát triển thể chất của cơ thể con người [12, tr 217]

Từ những luận điểm trên rõ ràng, phát triển thể chất chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố và có thể ghép chúng vào các nhóm Nói cách khác, phát triển thể chất có thể nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau như: Tự nhiên (bẩm sinh và di truyền, điều kiện địa lý, khí hậu, thời tiết), xã hội (điều kiện kinh tế, giáo dục, giáo dục thể chất, lao động, vệ sinh, sinh hoạt ) Các chỉ tiêu nghiên cứu để đánh giá phát triển thể chất cũng rất đa dạng như: các chỉ tiêu về hình thái (chiều cao đứng, cân nặng, chỉ số BMI, chỉ số Quetelet), các chỉ tiêu chức năng (công năng tim, dung tích sống, Test tepping), các chỉ tiêu về tố chất vận động (bật xa tại chỗ, chạy 30m XPC, dẻo gập thân, chạy con thoi 4 x 10m, chạy 5 phút tùy sức )

Giáo dục thể chất

Thuật ngữ giáo dục thể chất có từ lâu trong ngôn ngữ nhiều nước Ở nước ta, do bắt nguồn từ gốc Hán – Việt nên cũng có người gọi tắt giáo dục thể chất là thể dục theo nghĩa tương đối hẹp Vì theo nghĩa rộng của từ Hán – Việt cũ, thể dục còn có nghĩa là thể dục thể thao

Trang 28

Thông thường, người ta coi giáo dục thể chất là một bộ phận của thể dục thể thao Nhưng chính xác hơn, đó còn là một trong những hình thức hoạt động cơ bản có định hướng rõ của thể dục thể thao trong xã hội, một quá trình có tổ chức truyền thụ và tiếp thu những giá trị của thể dục thể thao trong hệ thống giáo dục – giáo dưỡng chung (chủ yếu trong nhà trường) [34, 28]

Theo Nguyễn Toán và Phạm Danh Tốn: “Giáo dục thể chất là một loại hình giáo dục mà nội dung chuyên biệt là dạy học vận động (động tác) và phát triển có chủ định các tố chất vận động của con người” [60, tr 22] Từ quan niệm trên ta có thể coi phát triển thể chất là một phần hệ quả của giáo dục thể chất Quá trình phát triển thể chất có thể chỉ là bẩm sinh tự nhiên (sự phát triển thể chất tự nhiên của trẻ khi đang lớn) hoặc còn có thêm tác động có chủ đích, hợp lý của giáo dục thể chất mang lại

Giáo dưỡng thể chất

Theo P.Ph.Lexgaphơtơ (1837 – 1909), nhà bác học Nga nổi tiếng, nhà

sư phạm, nhà hoạt động xã hội, người sáng lập học thuyết giáo dưỡng thể chất, bản chất của giáo dưỡng thể chất là làm sao để học, tách riêng các cử động ra và so sánh chúng với nhau, điều khiển có ý thức các cử động đó và thích nghi với các trở ngại, đồng thời khắc phục các trở ngại đó sao cho khéo léo và kiên trì nhất [42, tr 30], [21, tr 45]

Hoàn thiện thể chất

Theo Aulic: “Hoàn thiện thể chất là tổng hợp các ý niệm về phát triển thể chất cân đối ở mức độ hợp lý và về trình độ huấn luyện thể lực toàn diện của con người” [1, tr 44]

Sức khỏe

Trang 29

Theo tổ chức y tế thế giới (WHO), sức khỏe được hiểu là trạng thái hài hòa về thể chất, tinh thần xã hội, mà không chỉ nghĩa là không có bệnh hay thương tật, cho phép mỗi người thích ứng nhanh chóng với các biến đổi của môi trường, giữ được lâu dài khả năng lao động và lao động có kết quả [11, tr 82]

Thể lực

Thể lực là sức lực của cơ thể, biểu hiện qua các tố chất thể lực Tố chất thể lực là những mặt riêng biệt về khả năng vận động của con người Bao gồm: nhanh, mạnh, bền, khéo léo và mềm dẻo Tố chất thể lực thường được thể hiện trong khi làm động tác và phụ thuộc vào cấu trúc của động tác Ngoài

ra, việc thể hiện các tố chất còn phụ thuộc trạng thái người tập và điều kiện thực hiện

Các tố chất như sức mạnh, sức nhanh, sức bền và mềm dẻo là những yếu tố mang tính năng lượng (vì phụ thuộc chủ yếu vào việc cung cấp năng lượng) còn khả năng phối hợp vận động (khéo léo) là một yếu tố mang tính thần kinh – cơ (vì chủ yếu liên quan đến sự điều khiển của hệ thần kinh – cơ) Hai thuật ngữ tố chất thể lực và tố chất vận động tương đồng về nghĩa vì cùng phản ảnh những nhân tố, những mặt tương đối khác nhau của thể lực con người Tuy nhiên, khi nói tố chất vận động là muốn nhấn mạnh mặt điều khiển động tác của hệ thần kinh trung ương Khi nói tố chất thể lực là muốn nhấn mạnh đến đặc trưng sinh học của cơ thể

Trình độ thể lực là mức độ phát triển của các tố chất của con người Đó là sự tích lũy của những biến đổi thích nghi về mặt sinh học (chức năng và hình thái) diễn ra trong cơ thể dưới tác động của tập luyện và biểu hiện ở năng lực

Trang 30

hoạt động cao hay thấp Những biến đổi này diễn ra theo hai hướng có liên quan đến nhau Một là, sự tăng cường các khả năng chức phận và năng lực hoạt động tiềm tàng của các cơ quan trong cơ thể trên cơ sở những biến đối về cấu trúc và sinh hoá Hai là, sự hoàn thiện khả năng điều hòa hoạt động của các cơ quan và các hệ thống thần kinh trung ương [66, tr 37]

Thể lực được phân biệt thành thể lực chung và thể lực chuyên môn Thể lực chung không mang tính chuyên môn hoá và là nền tảng để phát triển thể lực chuyên môn

Trình độ thể lực chung là năng lực tổng hòa mức độ của các tố chất thể lực Trong việc nghiên cứu đánh giá trình độ thể lực chung các nhà khoa học thường sử dụng các test đánh giá mức độ phát triển các tố chất vận động Các test được dùng để đánh giá thể lực chung rất đa dạng, đặc điểm chung là kỹ thuật thực hiện dễ

1.1.2 Quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác giáo dục thể chất trong trường học

Sự nghiệp thể dục thể thao chăm lo sức khỏe cho nhân dân ở nước ta được xây dựng và phát triển trong chế độ mới hơn 60 năm qua Được Đảng, Nhà nước và Chủ Tịch Hồ Chí Minh quan tâm lãnh đạo, chăm sóc và đầu tư phát triển, thể dục thể thao chăm lo sức khỏe cho nhân dân là một bộ phận quan trọng của sự nghiệp cách mạng và ngày càng trở thành phong trào quần chúng sâu rộng

Ngay từ năm 1941 trong chương trình cứu nước của Mặt trận Việt Minh, Đảng ta đã nêu rõ: “Cần phải khuyến khích và giúp đỡ nền thể dục thể thao quốc dân, làm cho nòi giống càng thêm khỏe mạnh” [68, tr 3]

Trang 31

Ngay sau khi mới giành được độc lập (2/9/1945) nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, trong lúc chính quyền non trẻ còn đứng trước muôn vàn khó khăn, đất nước phải chống giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm, Đảng và Nhà nước ta đã thấy được vai trò và tầm quan trọng của việc rèn luyện sức khỏe cho mọi người dân trong việc xây dựng một đất nước Việt Nam mới tự lực, tự cường Chính quyền nhân dân đã xây dựng cơ quan chuyên trách lãnh đạo phong trào thể dục thể thao và chăm lo sức khỏe cho nhân dân Ngày 30/1/1946 Nha thể dục Trung ương trực thuộc Bộ Thanh niên được thành lập Thể dục thể thao từng bước được phổ cập, việc nghiên cứu cơ sở lý luận phương pháp giáo dục thể chất nhằm tăng cường sức khỏe nâng cao trình độ thể lực cho thanh niên được bắt đầu

Hệ thống giáo dục thể chất đối với học sinh – sinh viên ở nước ta được hình thành trên cơ sở những quan điểm đúng đắn của Đảng và Nhà nước về công tác giáo dục thể chất Chúng ta cùng khái quát lại tư tưởng Hồ Chí Minh và các văn kiện của Đảng, Nhà nước bàn về giáo dục thể chất nhân dân, giáo dục thể chất trong trường học

Hồ Chủ Tịch là người đầu tiên phát triển những quan điểm Thể dục Lời lẽ của Người rất ngắn gọn, dễ hiểu, nhưng khái quát cả quan điểm, chủ trương, đường lối, phương châm đặt nền tảng cho lý luận và thực tiễn cho công tác TDTT của nước nhà thích hợp với mọi đối tượng

Ngày 26/3/1946 Bác Hồ có bài viết vận động toàn dân tập thể dục, trong đó có ghi rõ: “Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khỏe mới thành công Mỗi một người dân yếu ớt tức là làm cho cả nước yếu ớt một phần Một người dân mạnh khỏe, tức là góp phần làm cho

Trang 32

cả nước mạnh khỏe” Vì vậy, Bác khuyên: “Luyện tập thể dục, bồi bổ sức khỏe là bổn phận của mỗi người dân yêu nước” [50, tr 8]

Ngày 27/3/1946 Hồ Chủ Tịch ký sắc lệnh thành lập Nha Thanh niên và Thể dục (Ngày thể thao Việt Nam), đến nay trên 60 năm trôi qua, đất nước hoàn toàn độc lập, thống nhất và có nhiều thay đổi, cả nước đang ra sức thực hiện công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa, vì vậy giáo dục thể chất cho nhân dân càng có vai trò quan trọng Đến nay “Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển thể chất cho thế hệ trẻ Việt Nam có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn sâu sắc Tư tưởng này của người đã và đang ảnh hưởng to lớn trong việc chăm sóc, bồi dưỡng thanh thiếu nhi về mọi mặt nói chung và phát triển thể chất nâng cao thể lực nói riêng” [50, tr 9]

Trong từng giai đoạn cách mạng, theo yêu cầu nhiệm vụ và tình hình cụ thể, Đảng luôn có những chỉ thị, nghị quyết lãnh đạo kịp thời, đề ra những chủ trương nhằm đẩy mạnh phong trào TDTT chăm lo sức khỏe cho nhân dân Hàng loạt các chỉ thị về công tác TDTT được Đảng ban hành như Chỉ thị 106/CT-TƯ ngày 2/10/1958, Chỉ thị 181/CT-TƯ ngày 31/01/1960, Chỉ thị 180/CT-TƯ ngày 26/8/1970 và chỉ thị 227/CT-TƯ ngày 18/11/1975 đều nhấn mạnh đến vai trò TDTT như một công tác cách mạng, trong đó nhiệm vụ chủ yếu là chăm sóc sực khỏe, tăng cường thể chất cho nhân dân, nhất là thanh thiếu niên, học sinh – sinh viên

Trong Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ VIII (khóa III) tháng 06/1991 có ghi rõ “Bắt đầu đưa việc dạy thể dục và một số môn thể thao cần thiết vào chương trình học tập của các trường phổ thông chuyên nghiệp và các trường đại học” [46]

Trang 33

Nghị quyết Đại hội Đảng VI (1986) ghi rõ: “Mở rộng và nâng cao chất lượng phong trào TDTT quần chúng, từng bước đưa việc rèn luyện thân thể thành thói quen hằng ngày của đông đảo nhân dân trước hết là thế hệ trẻ Nâng cao chất lượng giáo dục thể chất trong các trường học [70]

Trong Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần VII (1991) có ghi: “Đảng và Nhà nước phải chăm lo hơn nữa phát triển thể dục thể thao nhằm

góp phần tăng cường sức khỏe của nhân dân ” [71]

Trong Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần VIII (1996) có ghi: “Sự cường tráng về thể chất là nhu cầu của bản thân con người, đồng thời là vốn quý để tạo ra tài sản trí tuệ và vật chất cho xã hội Chăm lo cho con người về thể chất là trách nhiệm của toàn xã hội, của tất cả các cấp, các ngành, các đoàn thể” [72]

Về mặt nhà nước trên cơ sở các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, đều có ban hành các văn bản pháp quy về công tác TDTT trong từng thời kỳ Đặc biệt, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành chỉ thị 48/TTg-VG, trong đó phân tích cặn kẻ tình hình công tác giáo dục thể chất cho học sinh – sinh viên, nguyên nhân của các mặt thiếu sót trong thực hiện công tác này và đề ra các biện pháp lớn, nhằm đẩy mạnh việc giữ gìn và nâng cao sức khỏe cho học sinh – sinh viên

Sau 20 năm thực hiện chỉ thị 227/CT-TƯ ngày 18/11/1975, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra chỉ thị 36/CT-TƯ ngày 24/03/1994 nhấn mạnh “… thực hiện giáo dục thể chất trong tất cả các trường học, làm cho việc tập luyện TDTT trở thành nếp sống hằng ngày của hầu hết học sinh, sinh viên, thanh niên, chiến sĩ, các lực lượng vũ trang, cán bộ, công nhân viên chức và một bộ

Trang 34

phận nhân dân” Gần đây, Thường vụ Bộ Chính trị (Khóa VIII) đã ra thông tư

03 về tăng cường lãnh dạo công tác TDTT, một lần nữa nhắc nhở thực hiện tốt công tác giáo dục thể chất

Luật giáo dục quy định: “Nhà nước coi trọng thể dục thể thao trường học, nhằm phát triển và hoàn thiện thể chất cho tầng lớp thanh thiếu niên, nhi đồng Giáo dục thể chất là nội dung bắt buộc đối với học sinh, sinh viên, được thực hiện trong hệ thống giáo dục quốc dân, từ mầm non đến đại học” [68]

Chương III, Pháp lệnh thể dục thể thao quy định: “Thể dục thể thao trường học bao gồm giáo dục thể chất và hoạt động ngoại khóa cho người học Giáo dục thể chất trong trường học là chế độ giáo dục thể chất bắt buộc, nhằm nâng cao sức khỏe, phát triển thể chất, góp phần hình thành và bồi dưỡng nhân cách, đáp ứng yêu cầu giáo dục toàn diện cho người học Nhà nước khuyến khích thể dục thể thao ngoại khóa trong nhà trường” [25]

Ngày 7/3/1996 Thủ Tướng chính phủ ra chỉ thị 113/TTg về việc xây dựng và quy hoạch phát triển ngành thể dục thể thao, về giáo dục thể chất trường học có đoạn viết: “Bộ giáo dục đào tạo cần coi trọng việc giáo dục thể chất trong nhà trường, cải tiến nội dung giảng dạy thể dục thể thao nội khóa, ngoại khóa, quy định về tiêu chuẩn rèn luyện thên thể cho học sinh các cấp học, các quy chế bắt buộc đối với nhà trường” [68, tr 22]

Bộ giáo dục và đào tạo, cơ quan quản lý Nhà nước về giáo dục, trên tinh thần các Nghị quyết, chỉ thị của Đảng và Nhà nước về công tác giáo dục thể chất trong trường học đã kịp thời ban hành các văn bản để thi hành như trong quy chế giáo dục thể chất và thể thao trường học có viết “Cải tiến chương trình giảng dạy, tiêu chuẩn rèn luyện thân thể, đào tạo giáo viên thể

Trang 35

dục thể thao cho trường học các cấp, tạo những điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất để thực hiện chế độ giáo dục thể chất bắt buộc ở tất cả các trường học” [3]

Bộ Giáo dục và Đào tạo ra Thông tư số 11/TT-GD-ĐT ngày 01/08/1994, hướng dẫn thực hiện chỉ thị 36/CT-TƯ về công tác TDTT trong giai đoạn mới đối với ngành mình và đã chỉ rõ:” cải tiến tiêu chuẩn rèn luyện thân thể và nội dung chương trình giảng dạy TDTT cho học sinh – sinh viên Đào tạo và bồi dưỡng giáo viên TDTT cho trường học các cấp – Tạo những điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất và kinh phí để thực hiện việc dạy và học thể dục bắt buộc ở tất cả các trường học ”[3]

Ngoài ra, Bộ Giáo dục và Đào tạo và Tổng cục TDTT đã có Thông tư số 04/93/GD-ĐT/TDDD ngày 17/04/1993 về việc đẩy mạnh và nâng cao chất lượng giáo dục thể chất cho học sinh – sinh viên đã nêu: “Trong quá trình phát triển và đào tạo, giáo dục thể chất là nội dung, biện pháp quan trọng góp phần đào tạo thanh thiếu niên Việt Nam phát triển hài hòa về trí tuệ, thể chất, tinh thần và đạo đức; đồng thời xây dựng nhà trường thành những cơ sở phong trào TDTT quần chúng của học sinh – sinh viên” [2]

Tóm lại, Bác Hồ, Đảng và Nhà nước ta coi sức khỏe của nhân dân nhất là của thanh thiếu niên là tài sản của đất nước, do vậy chăm lo sức khỏe của mọi người dân là trách nhiệm chung của các cấp ủy đảng, các cấp chính quyền, của toàn xã hội

Chăm lo con người về thể chất là trách nhiệm của toàn xã hội nói chung, của ngành TDTT nói riêng Đó cũng chính là mục tiêu cơ bản, quan trọng nhất của giáo dục TDTT ở nước ta [30]

Trang 36

1.1.3 Tình hình sức khỏe, thể chất sinh viên nước ta

Chăm lo cho thế hệ trẻ về mọi mặt, là trách nhiệm của toàn xã hội, nhằm đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực tương lai cho đất nước Sự chăm lo về nhiều mặt, trong đó có mặt quan trọng và tất yếu là chăm lo về sức khỏe và thể lực, bởi vì sự cường tráng về thể chất, không những là nhu cầu của bản thân con người, mà còn là vốn quý để tạo ra những tài sản vật chất và tinh thần cho xã hội [11], [41]

Ý thức được điều này, các nước tiên tiến trên thế giới, đặc biệt là các nước có nền công nghiệp phát triển, vấn đề giáo dục thể chất toàn dân được Nhà nước đặc biệt quan tâm Ở nước ta cũng vậy, Nhà nước đưa vấn đề giáo dục thể chất là quốc sách và duy trì giáo dục thể chất đại học bắt buộc đối với sinh viên

Theo tài liệu của các nhà chuyên môn, hiện nay sức khỏe, thể chất của sinh viên trong các trường Đại học đã khá hơn nhiều so với các kết quả điều tra trước nay [39, tr 8] Điều này được chứng minh qua các công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước như sau:

- Theo nhóm tác giả Lê Văn Lẫm, Vũ Đức Thu, Nguyễn Trọng Hải và Vũ Bích Huệ, trong cuốn “Thực trạng phát triển thể chất của học sinh, sinh viên trước thềm thế kỷ XXI” đã nhận xét: sinh viên nước ta đến năm 1998, ở lứa tuổi 18 – 22, có chiều cao ở nam là 165.16cm, ở nữ là 154.81cm So với năm 1996, của các tác giả trong cuốn “Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, thì chiều cao của sinh viên cùng lứa tuổi ở nam là 163.97cm – 164.97cm, ở nữ sinh viên là 153.2cm – 153.8cm [39]

Trang 37

- Theo nhóm tác giả Hoàng Công Dân, Dương Nghiệp Chí trong bài viết: “Thực trạng thể chất người Việt Nam từ 6 -60 tuổi ở đầu thế kỷ 21” qua điều tra thể chất người Việt Nam trên phạm vi toàn quốc nhóm tác giả nhận định: chỉ số phát triển chiều cao, cân nặng của người Việt Nam từ 6 – 60 tuổi, nếu so sánh những số liệu với HSSHVN năm 1975 thì, sau hơn 25 năm; nam

20 tuổi trung bình cao lên được 6cm, nặng lên được 8 kg (năm 2001 chiều cao trung bình 165.14 ± 5.62cm, cân nặng 53.19 ± 6.02 kg; năm 1975 chiều cao

159 cm, cân nặng 45 kg) [20, tr 39 -41] So sánh với các số liệu của Bộ Y Tế khi nghiên cứu giá trị sinh học người Việt Nam bình thường thập kỷ 90 của thế kỷ 20 thì chiều cao nam tuổi 20 – 24 là 163.72cm, chiều cao của nữ là 153 cm

Chỉ số công năng tim (liên quan đến chức năng tim mạch), chỉ số Quetelet, BMI ở mọi lứa tuổi của ta so với chuan quốc tế đều chỉ xếp vào loại dưới trung bình và trung bình [20, tr 41]

Kết quả đánh giá phát triển các chỉ tiêu tố chất thể lực cho thấy sinh viên hiện nay trình độ thể lực chung tốt hơn trước đây: Nằm sấp co duỗi tay ở nữ sinh viên (1998), đạt từ 8 – 13 lần, cao hơn hẳn năm 1993; lúc đó nữ sinh viên chỉ đạt từ 4 – 7 lần [39]

Theo Nghiêm Xuân Thúc (1998), Đánh giá thực trạng thể lực sinh viên trường Đại học Bách khoa Hà Nội theo tiêu chuẩn rèn luyện thân thể của Bộ giáo dục và đào tạo đã đưa ra kết luận: số sinh viên dạt tiêu chuẩn đánh giá sức mạnh rất cao: bật xa ở nam đạt 92%, nữ đạt 91.1%, ở nam co tay xà đơn đạt 72.5%; nằm sấp co duỗi tay nữ đạt 70%

Qua các số liệu trên cho thấy, thể chất của sinh viên nước ta gần đây có sự gia tăng so với các năm trước Điều này, đã phản ánh thực tế đời sống kinh

Trang 38

tế ổn định và các điều kiện được cải thiện của đất nước và quá trình giáo dục thể chất đúng hướng ở trong các trường Đại học, cao đẳng Tuy vậy, người Việt Nam vốn đã thấp bé lại trãi qua nhiều năm chiến tranh, do đó thể chất dù có gia tăng trong những năm gần đây, thì vẫn thấp hơn các nước trong khu vực cùng lứa tuổi

Tóm lại: Từ việc phân tích, so sánh tình hình sức khỏe, thể chất của sinh viên nước ta, chúng tôi rút ra nhận xét sau:

- Sức khỏe, thể chất của sinh viên nước ta tuy có tiến bộ hơn trước, song vẫn ở mức thấp, chưa đạt yêu cầu đặt ra, đặt biệt trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay

- Năng lực thể lực của sinh viên ở dạng tiềm ẩn, chưa có biện pháp thích hợp để phát huy sự nỗ lực thể chất, nhằm nâng cao trình độ thể lực chung cho họ

1.1.4 Các yếu tố xác định thể chất của sinh viên tại TP Hồ Chí Minh

Từ khái niệm ở mục 1.1.1 cho thấy: thể chất của sinh viên TP Hồ Chí Minh là một khái niệm đa nhân tố, được cấu thành bởi nhiều yếu tố trong mối quan hệ thống nhất với nhau Cấu trúc này phụ thuộc vào đặc điểm phát triển thể chất của từng cá thể Đó là một quá trình hình thành, biến đổi tuần tự theo qui luật trong cuộc đời của từng người về hình thái, chức năng và cả những tố chất thể lực và năng lực vận động [29]

Từ quan điểm tra cho thấy thể chất của sinh viên được xác định bằng ba yếu tố cơ bản: Hình thái, chức năng sinh lý và chức năng vận động

Trang 39

Yếu tố hình thái:Hình thái phản ánh cấu trúc cơ thể, được xác định bởi trình độ phát triển, những giá trị tuyệt đối về nhân trắc và tỷ lệ của những chỉ số đó [51, tr 21]

Mặt khác, khả năng vận động của con người phụ thuộc vào đặc điểm về thể hình:

Chiều cao và khối lượng cơ thể

Tỷ lệ của cơ thể – tỷ lệ các kích thước từng phần của cơ thể (mình, chân, tay)

Đặc điểm về cấu trúc

Các tỷ lệ và kích thước cơ thể ở mọi người cơ bản là khác nhau, không bằng nhau cả về khả năng vận động Ở cùng một trình độ thể lực, những người có khối lượng cơ thể lớn sẽ có sức mạnh cơ lớn hơn Trong khi đó sức mạnh cơ tương đối (tính trên 1 kg khối lượng cơ thể) giảm đi khi các kích thước cơ thể tăng lên Khi đi độ dài bước và tần số bước phụ thuộc nhiều vào kích thước cơ thể, mà trước hết là vào độ dài chân [69, tr 147 – 148]

Các chỉ tiêu hình thái chịu sự chi phối của nhiều gien Yếu tố môi trường cũng có ảnh hưởng, nhưng chủ yếu là yếu tố di truyền quyết định, tùy mức độ có khác nhau ở từng chỉ tiêu và từng giới tính Trong các chỉ tiêu thể hình, diện tích phổi, vòng ngực, vòng cánh tay, vòng đùi và trọng lượng cơ thể có độ di truyền thấp chịu ảnh hưởng nhiều của môi trường, các chỉ số khác đều có độ di truyền cao [14, tr 10]

Chỉ tiêu chiều cao có độ di truyền rất cao (nam 75%, nữ 92%), độ di truyền phụ thuộc vào chủng tộc, gia tộc Điều đó, cho thấy ngoài yếu tố rèn luyện mỗi người còn được thừa hưởng một phần thể lực nhờ di truyền từ thế

Trang 40

hệ trước đó Ở một chừng mực nhất định, yếu tố hình thái đặc trưng, phù hợp cho từng tố chất thể lực phát triển Hình thái phát triển cân đối, cho phép các tố chất thể lực phát triển đồng đều Ngược lại, hình thái cơ thể phát triển sai lệch sẽ dẫn đến tố chất thể lực phát triển không đồng đều, không cân đối Dễ dàng nhận thấy dạng hình thái phát triển mạnh phía thân trên, tạo ưu thế cho hai tay và vai; dạng hình thái phát triển mạnh phía thân dưới, tạo ưu thế cho hai chân Ở độ tuổi đang phát triển, chỉ tiêu chiều cao thường tỷ lệ thuận với cân nặng và một số chỉ tiêu về tố chất thể lực khác

Cân nặng là chỉ tiêu có độ di truyền thấp (nam 68%, nữ 42%) Cân nặng phản ánh mức độ phát triển các tổ chức trong cơ thể, trong đó trọng lượng cơ bắp giữ vai trò chủ đạo

Yếu tố chức năng sinh lý:

Các yếu tố chức năng sinh lý qui định khả năng hoạt động thể lực của

cơ thể Nguyễn Ngọc Cừ cho rằng: “ .khả năng hoạt động thể lực là biểu hiện tập trung của năng lực hoạt động của tất cả các cơ quan trong cơ thể con người, phản ánh khả năng thích nghi của các cơ quan trong cơ thể với lượng vận động” [15, tr 19] Khả năng chức phận của các cơ quan trong cơ thể là năng lực tiềm ẩn của mỗi con người, được phát triển, hoàn thiện nhờ quá trình giáo dục, rèn luyện và bộc lộ ra bên ngoài bằng tố chất thể lực và năng lực vận động

Lưu Quang Hiệp cho rằng: “Những biến đổi thích nghi diễn ra bên trong

cơ thể, dưới tác động của lượng vận động, nhờ hoàn thiện sự điều khiển và phối hợp vận động giữa các hệ chức năng, trên cơ sở biến đổi sâu sắc về cấu trúc, chức phận và sinh hóa bên trong cơ thể” [28, tr 146] Mức độ thích nghi

Ngày đăng: 28/10/2018, 23:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w