1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

sáng kiến kinh nghiệm giúp học sinh học tốt phân môn LTVC lơp 2

23 207 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 140 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trật tự các khái niệm được đưa ra, “liều lượng” kiến thức và phương pháp của giờ học Luyện từ và câu đều bị chi phối bởi quan điểmnày.Nguyên tắc giao tiếp hay cũng chính là sự vận dụng n

Trang 1

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1 Lý do chọn đề tài:

Đổi mới giáo dục là một thử thách đối với giáo viên tiểu học, chúng tacần phải thay đổi quan niệm, điều chỉnh các phương pháp dạy học cho phùhợp để đạt được hiệu quả giáo dục cao nhất, thực hiện thành công mục tiêugiáo dục của nội dung sách giáo khoa mới Công việc thực sự không đơngiản chút nào Đối với phân môn Luyện từ và câu cũng vậy là một phân mônmới đối với các em học sinh lớp 2 đã có một số bậc phụ huynh nói với tôirằng “Phân môn Luyện từ và câu khó quá, tôi dạy mãi mà cháu không hiểu”

Là một giáo viên đã dạy nhiều năm ở lớp 2 khi dạy phân môn Luyện từ vàcâu tôi cũng nhận thấy nội dung chương trình phân môn này tương đối khóđối với nhận thức của các em Bởi vì các em còn hạn chế về vốn sống, vốnhiểu biết về Tiếng Việt Làm thế nào để nâng cao chất lượng phân môn này

đó là điều tôi băn khoăn trăn trở Tôi nghĩ rằng nếu đòi hỏi tất cả các em họctốt trong ngày một ngày hai là điều không thể thực hiện ngay được Đúngnhư nhà giáo dục J A Komes đã từng nói: “Mọi điều đều phải tiến hànhtheo một trình tự liên tục sao cho tất cả những điều có hôm nay phải củng cốcái hôm qua và mở ra con đường cho ngày mai” Chính vì những lí do trên

tôi quyết định chọn nghiên cứu đề tài: “ Một số biện pháp góp phần giúp học sinh học tốt phân môn Luyện từ và câu lớp 2”

4 Phương pháp nghiên cứu

+ Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý thuyết: tham khảo tài liệu,thông tin đại chúng…

+ Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Trang 2

- Phương pháp quan sát: Quan sát việc học tập của các em trên lớp và

ở nha

- Phương pháp đàm thoại: Trao đổi với đồng nghiệp, học sinh, phụhuynh để tìm ra nguyên nhân và nêu phương án khắc phục

- Phương pháp điều tra : Điều tra kết quả học tập năm trước

Ngoài ra còn sử dụng phương pháp hỗ trợ: Phân tích sản phẩm hoạtđộng

5 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

- Phân môn Luyện từ và câu lớp 2

II NỘI DUNG

1 Cơ sở lí luận

Xuất phát từ thực tiễn của công cuộc đổi mới đất nước cần có những con

người lao động năng động sáng tạo, sẵn sàng thích ứng với điều kiện đổimới đang diễn ra hàng ngày Trong khi đó cách dạy truyền thống như hiệnnay mặc dù có đổi mới song chất lượng vẫn còn thấp so với yêu cầu thực tế

Vì vậy cùng với việc đổi mới nội dung chương trình thì đổi mới phươngpháp dạy học trong mỗi tiết học có một vị trí hết sức quan trọng và cần thiết,đây là việc làm thiết thực góp phần nâng cao chất lượng dạy học cũng nhưthực hiện được mục tiêu giáo dục mà Đảng và nhà nước, ngành đề ra

nói riêng, giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn hoạt động của học sinh,mọi học sinh đều hoạt động học tập để phát triển năng lực cá nhân Giáoviên tổ chức hướng dẫn học sinh huy động vốn hiểu biết và kinh nghiệm củabản thân để học sinh chiếm lĩnh tri thức rồi vận dụng các tri thức đó vàothực hành Tạo cho học sinh thói quen tự giác, chủ động, không dập khuônmáy móc, biết tự đánh giá và đánh giá kết quả của mình, của bạn Đặc biệt làgiúp học sinh có niềm tin, niềm vui trong học tập Đồng thời tạo điều kiện

để học sinh phát huy năng lực sở trường của mình, biết áp dụng kiến thứcmới trong bài học vào thực tế dời sống xã hội

chương trình tiểu học Bởi vậy giáo viên phải tổ chức hướng dẫn học sinhhoạt động dưới sự trợ giúp của dụng cụ, đồ dùng học tập để từng học sinh

Trang 3

hoặc từng nhóm học sinh phát hiện và chiếm lĩnh nội dung học tập rồi thựchành vận dụng nội dung đó

2 Cơ sở thực tiễn:

a, Về phía giáo viên

Trong thực tế giảng dạy mà đặc biệt là qua những lần thao giảng ởtrường của bản thân tôi nhận thấy: Các hình thức tổ chức hoạt động họctập trong giờ học LT&C còn đơn điệu Một số giáo viên tổ chức dạy theo

vở bài tập từ đầu đến cuối Tức là hướng dẫn học sinh lần lượt làm cácbài tập ở vở theo trình tự và hình thức như nhau ( chủ yếu là làm việc cánhân)

- Cũng có nhiều giáo viên đã biết thay đổi các hình thức cá nhân, nhóm,lớp cho các bài tập trong một tiết dạy nhưng nhìn chung việc vận dụngchưa đem lại hiệu quả cao

- Đối với dạy LTVC nhiều GV chưa tạo cho HS sự chủ động, tích cực

trong việc huy động các kiến thức và kinh nghiệm sử dụng tiếng mẹ đẻ vàoviệc chiếm lĩnh kiến thức mới của bài học khiến giờ học trở nên nặng nề Sở

dĩ có tình trạng trên là do bản thân cũng như một vài đồng chí giáo viênchưa thấy hết ý nghĩa, tầm quan trọng của giờ học Luyện từ và câu

b, Về phía học sinh

Các em học sinh lớp 2 đa số có vốn sống còn ít, vốn hiểu biết vềTiếng Việt còn rất sơ sài, chưa định rõ trong giao tiếp, viết câu còn cụt lủnhoặc câu có thể có đủ ý nhưng chưa có hình ảnh Các từ ngữ được dùng vềnghĩa còn chưa rõ ràng Việc trình bày, diễn đạt ý của các em có mức độ rất

sơ lược Mặt khác, do thực tế học sinh mới được làm quen với phân mônLuyện từ và câu ở lớp 2 nên học sinh còn nhiều bỡ ngỡ, chưa có phươngpháp học tập bộ môn một cách khoa học và hợp lý

- Khảo sát đầu năm học 2016-2017

Tổng số học sinh Hoàn thành tốt Hoàn thành Chưa hoàn thành

Trang 4

3 Một số biện pháp góp phần giúp học sinh học tốt phân môn Luyện từ và câu lớp 2

3 1 Nắm vững các nguyên tắc dạy học Luyện từ và câu

Để dạy Luyện từ và câu một cách có mục đích, có kế hoạch, có hiệuquả cần nắm vững một số nguyên tắc sau:

3.1.1 Nguyên tắc giao tiếp

Việc thay tên gọi hai phân môn “Từ ngữ”, “Ngữ pháp” của chươngtrình Tiếng Việt cũ bằng “Luyện từ và câu” ở chương trình Tiếng Việt mớikhông chỉ đơn thuần là việc đổi tên mà là sự phản ánh quan điểm giao tiếptrong dạy học Luyện từ và câu Nó đòi hỏi việc dạy học từ, câu nằm trongquỹ đạo dạy tiếng như một công cụ giao tiếp, nhằm thực hiện mục tiêu củachương trình Tiếng Việt Tiểu học mới: “hình thành và phát triển ở học sinh

kĩ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trongcác môi trường hoạt động của lứa tuổi” Quan điểm giao tiếp chi phối nộidung chương trình môn Tiếng Việt nói chung cũng như phân môn Luyện từ

và câu nói riêng Trật tự các khái niệm được đưa ra, “liều lượng” kiến thức

và phương pháp của giờ học Luyện từ và câu đều bị chi phối bởi quan điểmnày.Nguyên tắc giao tiếp (hay cũng chính là sự vận dụng nguyên tắc thựchành của lí luận dạy học vào dạy học tiếng mẹ đẻ nên còn gọi là nguyên tắcthực hành) trong dạy học Luyện từ và câu không chỉ được thể hiện trênphương diện nội dung mà cả ở phương pháp dạy học.Về phương pháp dạyhọc, trước hết, các kĩ năng tiếng Việt phải được hình thành và phát triểnthông qua hệ thống bài tập mang tính tình huống phù hợp với những tìnhhuống giao tiếp tự nhiên Chính vì vậy, trong SGK Tiếng Việt Tiểu học,phần thực hành nhiều, dung lượng lí thuyết ít và khái niệm được hình thành

ở phần lí thuyết cũng ở dạng đơn giản nhất Như vậy, nguyên tắc giao tiếptrong dạy Luyện từ và câu đòi hỏi học sinh phải tiến hành hoạt động ngônngữ thường xuyên Đó là việc yêu cầu thực hiện những bài tập miệng, bàiviết trình bày ý nghĩ, tình cảm, đọc, ứng dụng tri thức lí thuyết vào bài tập,vào việc giải quyết các nhiệm vụ cụ thể của ngữ pháp, tập đọc, chính tả, tậplàm văn Quán triệt nguyên tắc giao tiếp trong dạy Luyện từ và câu chính làviệc hướng đến xây dựng nội dung dạy học dưới hình thức các bài tập Luyện

từ và câu Để hướng dẫn học Luyện từ và câu, thầy giáo phải tạo ra hệ thốngnhiệm vụ và hệ thống câu hỏi nhằm dẫn dắt HS thực hiện

Trang 5

Và nguồn cơ bản của dạy từ cần được xem là kinh nghiệm sống của cánhân HS và những quan sát thiên nhiên, con người, xã hội của các em.Việclàm giàu vốn từ, dạy từ phải gắn với đời sống, gắn với việc làm giàu nhữngbiểu tượng tư duy, bằng con đường quan sát trực tiếp và thông qua nhữngmẫu lời nói Phải thiết lập được quan hệ đúng đắn giữa hình ảnh bằng lời (từngữ) với những biểu tượng của trẻ em về đối tượng Mọi quy luật cấu trúc vàhoạt động của từ và câu chỉ được rút ra trên cơ sở nghiên cứu lời nói sinhđộng, những kinh nghiệm lời nói và kinh nghiệm sống đã được bổ sung Cácbài tập Luyện từ và câu phải được xây dựng dựa trên kinh nghiệm ngôn ngữcủa HS.Việc dạy học Luyện từ và câu phải bảo đảm sự thống nhất giữa líthuyết ngữ pháp và thực hành ngữ pháp với mục đích phát triển các kĩ nănggiao tiếp ngôn ngữ: việc phân tích từ, câu không có mục đích tự thân mà làphương tiện để nhận diện các phương tiện ngữ pháp, nắm chức năng củachúng, từ đó sử dụng chúng trong lời nói Chương trình hướng đến gắn líthuyết với thực hành Trên quan điểm thực hành, các tác giả SGK đã chọnnhững giải pháp ngôn ngữ có nhiều lợi thế nhất trong sử dụng tiếng mẹ đẻ.Đối chiếu nội dung từng khái niệm ngữ pháp được dạy ở Tiểu học với cáckhái niệm được trình bày trong các giáo trình Việt ngữ học, ta thấy rằng nộidung những khái niệm ở Tiểu học như từ, câu đều được đưa ra ở dạng đơngiản nhất.

Chương trình nặng về thực hành nên bên cạnh hệ thống khái niệmđược trình bày một cách đơn giản lại rất chú trọng dạy hệ thống quy tắc ngữpháp Quy tắc ngữ pháp là những điều phải tuân theo để tạo nên những đơn

vị ngữ pháp cụ thể nhằm thực hiện nhiệm vụ giao tiếp (nói, viết) nào đó Hệthống quy tắc ngữ pháp giúp HS chuyển từ nhận thức sang hành động Ví

dụ, liên quan đến các khái niệm câu có các quy tắc chính tả, dấu chấmcâu,viết hoa chữ cái đầu câu, quy tắc nói, đọc: nói, đọc hết câu phải nghỉhơi,đọc đúng giọng điệu phù hợp với các kiểu câu chia theo mục đích nói.Liên quan đến danh từ riêng có quy tắc viết hoa tên riêng

3.1.2 Nguyên tắc tích hợp

Không có vốn từ phong phú, không hiểu nghĩa và đặc điểm ngữ phápcủa từ thì không thể đặt câu đúng, đồng thời, nếu không nắm vững quy tắcđặt câu thì dù có vốn từ phong phú, dù nắm chắc nghĩa của từ vẫn khôngtrình bày được ý kiến của mình một cách đúng đắn, mạch lạc, rõ ràng Vì

Trang 6

vậy luyện từ và luyện câu không thể tách rời Bên cạnh đó, các bộ phận củachương trình Luyện từ và câu như từ, cấu tạo từ, từ loại, câu, các thành phầncâu,các kiểu câu và liên kết câu cũng phải được nghiên cứu trong sự gắn bóthống nhất Mặt khác, ta đã biết lượng từ, mẫu câu và các câu nói cụ thể HSthu nhận được trong giờ Luyện từ và câu là rất nhỏ so với lượng từ, mẫu câuthu nhận được trong các giờ học khác, trong các hoạt động ngoài giờ họccũng như rất nhỏ so với vốn từ, vốn câu cần có của các em Do đó không thểdạy từ và câu bó hẹp trong tiết Luyện từ và câu mà cần đề ra nguyên tắc tíchhợp trong dạy từ, câu Nguyên tắc này đòi hỏi việc dạy Luyện từ và câu phảiđược tiến hành mọi nơi, mọi lúc ngoài giờ học, trong tất cả các môn học,trong tất cả các giờ học khác của các phân môn Tiếng Việt Không phải chỉtrong giờ học Tiếng Việt mà trong tất cả các hoạt động khác và trong các giờhọc khác, giáo viên cần chú ý điều chỉnh kịp thời những cách hiểu từ sai lạc,những cách nói, viết câu không đúng ngữ pháp của HS, kịp thời loại ra khỏivốn từ tích cực của HS những từ ngữ không văn hoá.Tất cả các môn học vàcác phân môn Tiếng Việt đều có vai trò to lớn trong việc luyện từ và câu.Chúng mở rộng sự hiểu biết về thế giới, con người, góp phần làm giàu vốn

từ và khả năng diễn đạt tình cảm, tư tưởng của HS Để nắm bất kì môn họcnào: Toán, Tự nhiên - Xã hội, Đạo đức , HS phải nắm vốn từ và mẫu câutối thiểu của môn học đó Chúng sẽ bổ sung cho vốn tiếng mẹ đẻ của HS.Người giáo viên khi dạy tất cả các môn học đều phải có ý thức gắn với dạy

từ và câu Trên lớp cũng như khi hướng dẫn các hoạt động khác cho HS:tham quan, hoạt động tập thể, ngoại khoá v.v , giáo viên cần dạy HS pháthiện ra các từ mới, tìm hiểu nghĩa và cách sử dụng chúng trong câu, đoạn.Việc hoàn thiện những từ này sẽ được tiếp tục trong giờ Luyện từ và câu

3.1.3 Nguyên tắc trực quan

Những hình ảnh cảm tính, những biểu tượng của trẻ em về thế giớixung quanh là một tổ hợp cần thiết cho bất kì việc dạy học nào Quan điểmnày là cơ sở của nguyên tắc trực quan Nguyên tắc trực quan được xây dựngcòn dựa vào sự thống nhất giữa trừu tượng và cụ thể trong ngữ pháp Đặcđiểm của việc vận dụng nguyên tắc trực quan trong dạy từ là ở chỗ: từ là một

tổ hợp kích thích nghe, nhìn, vận động, cấu âm Một quy luật tâm lí là càng

có nhiều cơ quan cảm giác tham gia vào việc tiếp nhận đối tượng (hiệntượng) thì càng ghi nhớ một cách chắc chắn đối tượng ấy, có nghĩa là càng

Trang 7

ghi nhớ cả từ mà nó biểu thị, do đó, khi giải nghĩa từ, trong phạm vi có thể,cần sử dụng các phương tiện tác động lên các giác quan Thực hiện nguyêntắc trực quan trong việc dạy nghĩa từ là cần làm sao trong giải nghĩa, việctiếp nhận của HS không phiến diện mà hình thành trên cơ sở của sự tác độngqua lại của những cảm giác khác nhau: nghe, nhìn, phát âm, viết Giai đoạnđầu, khi giới thiệu cho HS một từ mới, một mặt cần phải đồng thời tác độngbằng cả kích thích vật thật và bằng lời Mặt khác HS cần nghe, nhìn, phát âm

và viết từ mới, đồng thời phải để HS nói thành tiếng hoặc nói thầm điều các

em quan sát được Giáo viên cần giúp các em biểu thị thành lời, thành từ ngữtất cả những gì đã quan sát Vì vậy, quán triệt nguyên tắc trực quan, ở mộtkhía cạnh nào đó cũng đồng thời đã tuân thủ nguyên tắc thực hành Đốitượng nghiên cứu của Luyện từ và câu là từ ngữ, câu, thành phần câu v.v

Do đó, bên cạnh biểu bảng, sơ đồ, vật thật, tranh vẽ như người ta vẫnthường quan niệm về đồ dùng trực quan trong giờ học, trực quan trong giờdạy Luyện từ và câu còn được hiểu là sử dụng những ngữ liệu (lời nói) trựcquan - những bài văn, những câu, những từ

Ngoài các nguyên tắc chung, trong dạy học Luyện từ và câu còn có nhữngnguyên tắc đặc thù Đó là nguyên tắc bảo đảm tính hệ thống của từ, câutrong dạy học Luyện từ và câu và nguyên tắc bảo đảm tính thống nhất giữanội dung và hình thức ngữ pháp trong dạy học Luyện từ và câu

3.1.4 Nguyên tắc bảo đảm tính hệ thống của từ, câu trong dạy học Luyện

từ và câu

Những thành tựu nghiên cứu trong Ngôn ngữ học về bản chất nghĩacủa từ,cấu tạo từ, các lớp từ, bản chất cấu tạo của câu, các kiểu câu, liên kếtcâu là cơ sở để dạy các bài lí thuyết về từ, câu Chúng ta cần nắm được vàcho học sinh từng bước làm quen với các khái niệm nghĩa của từ, tính nhiềunghĩa,đồng nghĩa, trái nghĩa, cấu tạo câu, các kiểu câu Mặt khác, dựa vàokiến thức từ vựng học, người ta đã xác lập những nguyên tắc để dạy từ theoquan điểm thực hành, hay nói cách khác, làm giàu vốn từ cho học sinh Dạy

từ nhất thiết phải tính đến đặc điểm của từ như một đơn vị ngôn ngữ: quan

hệ trực tiếp của từ với thế giới bên ngoài Việc dạy từ cần phải trình bày như

là việc thiết lập quan hệ giữa từ và các yếu tố của hiện thực, quan hệ giữa từvới một lớp sự vật cùng loại được biểu thị bởi từ Đó là hai mặt hình thức vànội dung của tín hiệu từ Hai mặt này gắn chặt với nhau, tác động lẫn nhau

Trang 8

Phải làm cho học sinh nắm vững hai mặt này và mối tương quan giữa chúng.Học sinh vừa phải thiết lập được mối quan hệ của các từ với sự vật, một lớp

sự vật, mặt khác lại phải phải tách được ý nghĩa từ vựng của từ khỏi vậtđược từ gọi tên Đồng thời dạy từ nhất thiết phải tính đến những quan hệ ýnghĩa của từ với những từ khác bao quanh trong các phong cách chức năngkhác nhau (tính đến khả năng kết hợp của từ) Chính vì vậy, đặc điểm của từtrong hệ thống ngôn ngữ là cơ sở để xây dựng các bài tập từ ngữ Sự hiểubiết về nghĩa từ, đặc điểm của từ trong hệ thống sẽ giúp cho nhà sư phạmxác lập được mục đích, nội dung cũng như kĩ thuật xây dựng từng bài tập từngữ cụ thể Giá trị của từ trong hệ thống sẽ là chỗ dựa để xem xét, đánh giátính khoa học cũng như hiệu quả của một bài tập từ ngữ.Từ đặc điểm tính hệthống của ngôn ngữ, trong dạy học Luyện từ và câu,ngoài các nguyên tắcchung, người ta còn đề xuất một nguyên tắc dạy học có tính chất đặc thù, đó

là nguyên tắc “Bảo đảm tính hệ thống của từ trong dạy học từ ngữ (luyệntừ)” Nguyên tắc này đòi hỏi việc “luyện từ” phải tính đến đặc điểm của từtrong hệ thống ngôn ngữ Như vậy, trong sự tương ứng với những đặc điểm

đã nêu của từ, khi dạy từ cần phải:

- Đối chiếu từ với hiện thực (vật thật hoặc vật thay thế) trong việc giải

nghĩa từ (nguyên tắc ngoài ngôn ngữ)

- Đặt từ trong hệ thống của nó để xem xét, nghĩa là đặt từ trong các lớp

từ, trong các mối quan hệ đồng nghĩa, gần nghĩa, trái nghĩa, đồng âm, cùngchủ đề v.v (nguyên tắc hệ hình)

- Đặt từ trong mối quan hệ với những từ khác xung quanh nó trong

văn bản với mục đích làm rõ khả năng kết hợp của từ (nguyên tắc cú đoạn)

- Chỉ ra việc sử dụng từ trong một phong cách xã hội (nguyên tắc chức

Trang 9

3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính thống nhất giữa nội dung và hình thức ngữ pháp trong dạy học Luyện từ và câu

Khái niệm ngữ pháp mang tính trừu tượng và khái quát cao Dạy họcphải chỉ ra được nội dung của khái niệm - ý nghĩa, chức năng, lí do tồn tạicủa khái niệm trong hệ thống, bởi vì đó là bản chất của khái niệm, lẽ sốngcòn của nó Nhưng nội dung ngữ pháp bao giờ cũng trừu tượng, nhất là đốivới học sinh nhỏ Ví dụ, những cách nói “danh từ chỉ sự vật, hiện tượng”,

“từ có nghĩa, tiếng có thể không có nghĩa”, v.v… rất khó nắm bắt, nhậndạng Đây là nguyên nhân gây ra những khó khăn của học sinh nhỏ trongquá trình hình thành khái niệm Để nắm bắt khái niệm ngữ pháp, cần có trình

độ tư duy lôgic nhất định Quá trình hình thành khái niệm cũng đồng thời làquá trình học sinh nắm những thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp, sosánh, khái quát hoá, trừu tượng hoá và cụ thể hoá Hiệu quả của việc hìnhthành khái niệm phụ thuộc vào trình độ phát triển của hoạt động trừu tượngcủa tư duy Những học sinh gặp khó khăn trong việc tách ý nghĩa ngữ phápcủa từ ra khỏi ý nghĩa từ vựng của nó, không đối chiếu được từ và tập hợpchúng trong một nhóm theo những dấu hiệu ngữ pháp bản chất sẽ gặp khókhăn trong việc hình thành khái niệm và sẽ bị mắc lỗi Để giảm bớt nhữngkhó khăn trên, đầu tiên chỉ để học sinh nhận ra những dấu hiệu dễ nhận, đậpvào trực quan của các em, lần sau sẽ hướng vào những dấu hiệu mới, dầndần mở ra toàn bộ nội dung khái niệm Mặt khác, trong dạy học Luyện từ vàcâu, lúc nào cũng phải xác lập mối quan hệ giữa ý nghĩa và hình thức ngữpháp, phải luôn giúp học sinh nhận ra ý nghĩa và các dấu hiệu hình thức củahiện tượng ngữ pháp được nghiên cứu và chức năng của nó trong lời nói.Mỗi nội dung ý nghĩa đều có một hình thức tương ứng, nghĩa là nội dungđược cố định lại trong một hình thức nhất định và hình thức này có thể nắmbắt được Khái niệm được lĩnh hội trong sự thống nhất của nội dung và hìnhthức mới chắc chắn Ví dụ, làm cho học sinh ý thức được danh từ là toàn bộcác từ chỉ người, vật, sự vật, có dấu hiệu hình thức trả lời được cho câu hỏi

“Ai”, “Cái gì”, thường làm chủ ngữ trong câu đơn hai thành phần; động từ là

từ chỉ hoạt động, trả lời cho câu hỏi: “Làm gì”, thường làm vị ngữ trong câuđơn hai thành phần; tính từ là toàn bộ các từ chỉ tính chất của sự vật, trả lờicho câu hỏi “Như thế nào”; hình thức cấu tạo của từ và ý nghĩa của chúng,hình thức và ý nghĩa của câu, hình thức và chức năng của các kiểu câu Cầntriệt để sử dụng các câu hỏi để phát hiện ra các dấu hiệu hình thức của hiện

Trang 10

tượng nghiên cứu, ví dụ câu hỏi xác định thành phần câu, câu hỏi xác định

từ loại

3.2 Đa dạng hoá các hình thức tổ chức dạy học

- Việc dạy học đối với mỗi bài học là trách nhiệm của mỗi giáo viên, vìvậy chính giáo viên là người quyết định cho việc lựa chọn phương pháp dạyhọc thích hợp và đặc biệt vận dụng các thành tố tích cực của Vnen cho từngbài học, sao cho tương tác giữa thầy và trò trong quá trình lĩnh hội tri thứccủa trò đạt hiệu quả cao nhất Kinh nghiệm cho thấy, trong một bàigiảng thành công không bao giờ chỉ dùng một phương pháp mà phảiphối hợp nhiều phương pháp, cả thành tố tích cực của Vnen và phươngpháp truyền thống một cách hợp lý Mỗi giáo viên phải nắm chắc cácphương pháp đặc trưng dạy phân môn Luyện từ và câu Lựa chọn phươngpháp thích hợp để bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau

Ví dụ : Luyện từ và câu

Bài : MRVT: Từ ngữ về sông biển

Đặt và trả lời câu hỏi : Vì sao ?

Dạy học bài mới :

Bài 1: Tìm các từ ngữ có tiếng biển :

M : tàu biển , biển cả

- GV tổ chức cho HS chơi trò chơi tiếp sức ( chia lớp làm 2đội , mỗi đội gồm 4 em, chơi trong 4 phút)

Đội A : Tìm từ có tiếng biển đứng sau.

Đội B : Tìm từ có tiếng biển đứng trước.

Trang 11

- Tàu biển, sóng biển, nước biển, cá biển, tôm biển , cua biển, rong biển….

- Biển cả, biển khơi, biển xanh, biển lớn….

Bài 2: Tìm từ ngữ trong ngoặc đơn hợp với mỗi nghĩa sau:

( suối , sông , hồ )

a) Dòng nước chảy tương đối lớn , trên đó thuyền bè đi lại được

b) Dòng nước chảy tự nhiên ở đồi núi

c) Nơi đất trũng chứa nước, tương đối rộng và sâu, ở trong đất liền

Bài 3 : Đặt câu hỏi cho phần in đậm trong câu sau:

Không được bơi ở đoạn sông này vì có nước xoáy.

- 1HS đọc yêu cầu.

- Gv hướng dẫn cách đặt câu hỏi.

- HS làm bài theo nhóm ( 4 - 6 em ) trong vòng 4 phút.

- Đại diện nhóm trình bày.

- GV nhận xét , chốt câu đúng và ghi bảng.

- HS đọc lại câu đúng.

Kết quả: Vì sao không được bơi ở đoạn sông này?

Bài 4: Dựa theo cách giải thích trong truyện Sơn Tinh , Thủy Tinh

trả lời các câu hỏi sau:

a) Vì sao Sơn Tinh lấy được Mị Nương?

Ngày đăng: 28/10/2018, 22:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w