Trang trại và kinh tế trang trại Trang trại là loại hình cơ sở sản xuất nông nghiệp của các hộ gia đình nôngdân, hình thành và phát triển chủ yếu trong điều kiện kinh tế thị trường khiph
Trang 1TRIỆU VĂN TUYỂN
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI TẠI ĐỊA BÀN
HUYỆN YÊN SƠN, TỈNH TUYÊN QUANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
THÁI NGUYÊN - 2015
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN ht t p : / / w w w l r c tnu e du v n
Trang 2TRIỆU VĂN TUYỂN
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI TẠI ĐỊA BÀN
HUYỆN YÊN SƠN, TỈNH TUYÊN QUANG Ngành: Phát triển nông thôn
Mã số: 60620116
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Ngươi hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Minh Thọ
THÁI NGUYÊN - 2015
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN ht t p : / / w w w l r c tnu e du v n
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này do chính tôi thực hiện, dưới sự hướng dẫnkhoa học của TS Nguyễn Thị Minh Thọ, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luậnvăn này hoàn toàn trung thực và chưa sử dụng để bảo vệ một công trình khoa họcnào, các thông tin, tài liệu trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc Mọi
sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn Nếu sai tôi hoàntoàn
chịu trách nhiệm
Thái Nguyên,ngày 20 tháng 9 năm 2015
Tác giả luận văn
Triệu Văn Tuyển
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN ht t p : / / w w w l r c tnu e du v n
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Sau 2 năm học tập và nghiên cứu theo chương trình đào tạo thạc sĩ,chuyên ngành Phát triển nông thôn tại trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên - Đạihọc Thái Nguyên Đến nay tôi đã hoàn thành chương trình khoá học và hoàn thiệnbản luận văn tốt nghiệp này Trong quá trình học tập và thực hiện đề tài tôi đãnhận được nhiều sự giúp đỡ quý báu của các tập thể và cá nhân Nhân dịp này tôixin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
- Ban giám hiệu, P h ò n g Đ à o t ạ o , Khoa K T & P T N T c ùng các thầy
cô giáo trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên
- UBND huyện Yên Sơn, Chi cục Thống kê huyện Yên Sơn, Phòng Nôngnghiệp và Phát triển nông thôn huyện Yên Sơn, Phòng Tài nguyên và môi trườnghuyện Yên Sơn và các chủ trang trại nơi tôi trực tiếp điều tra
- Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo - Tiến sĩ NguyễnThị Minh Thọ đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đềtài và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đồng nghiệp đã động viên và giúp
đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành bản luận văn này./
Thái Nguyên, ngày 20 tháng 9 năm 2015
Tác giả luận văn
Triệu Văn Tuyển
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN ht t p : / / w w w l r c tnu e du v n
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN .i
LỜI CẢM ƠN .ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH vii MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài
1 2 Mục tiêu của đề tài 2
3 Những đóng góp mới của luận văn 2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Cơ sở khoa học về phát triển kinh tế trang trại
3 1.1.1 Trang trại và kinh tế trang trại 3
1.1.2 Vai trò và vị trí của kinh tế trang trại 6
1.1.3 Đặc trưng của kinh tế trang trại
7 1.1.4 Phân loại trang trại
8 1.1.5 Tiêu chí công nhận kinh tế trang trại 8
1.1.6 Lý thuyết về phát triển kinh tế trang trại
9 1.1.7 Kinh tế trang trại, một hình thức kinh tế phù hợp trong nền kinh tế thị trường 12
1.1.8 Thị trường đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại
13 1.1.9 Các yếu tố ảnh hưởng khác đến phát triển kinh tế trang trại
17 1.2 Tình hình phát triển trang trại trên thế giới và Việt Nam
19 1.2.1 Tình hình phát triển trang trại trên thế giới
19 1.2.2 Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam 22
Trang 6Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .26
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu .26
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 26
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN ht t p : / / w w w l r c tnu e du v n
Trang 72.2 Các câu hỏi đặt ra đề tài cần giải quyết 262.3 Nội dung nghiên cứu 262.4 Phương pháp nghiên cứu .27
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu .27
2.4.2 Chọn điểm nghiên cứu .28
2.4.3 Xử lý và tổng hợp số liệu 292.4.4 Các phương pháp phân tích 29
2.4.5 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu .29
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu .32
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 323.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 383.1.3 Đánh giá chung về các tác động của điều kiện tự nhiên đối với phát triển kinh
tế - xã hội huyện Yên Sơn nói chung và ảnh hưởng của nó tới hiệu quả phát triểnkinh tế trang trại nói riêng 453.2 Thực trạng về phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn huyện Yên Sơn 48
3.2.1 Khái quát sự hình thành, phát triển và phân loại trang trại ở Yên Sơn 48
3.2.2 Thực trạng về điều kiện sản xuất của các trang trại ở huyện Yên Sơn 533.2.3 Tổ chức hoạt động sản xuất của các trang trại 60
3.3 Đánh giá hiệu quả kinh tế trang trại tại huyện Yên Sơn 623.3.1 Kết quả sản xuất kinh doanh của các trang trại 62
3.3.2 Hiệu quả kinh tế của các trang trại ở Yên Sơn 653.3.3 Những vấn đề rút ra từ nghiên cứu thực trạng hiệu quả kinh tế của cáctrang
trại ở huyện Yên Sơn 753.3.4 Định hướng và mục tiêu phát triển kinh tế trang trại tại huyện Yên Sơn
Trang 83.3.5 Giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế trang trại tại Yên Sơn
80 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 84
1 Kết luận 84
2 Kiến nghị 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
PHỤ LỤC 91
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN ht t p : / / w w w l r c tnu e du v n
Trang 9IC : Chi phí trung gian
KTTT : Kinh tế trang trại
TTCHN : Trang trại trồng cây hàng năm
TTCLN : Trang trại trồng cây lâu năm
TTCNĐGS : Trang trại chăn nuôi đại gia súc
TTCNGS : Trang trại chăn nuôi gia súc
TTKDTH : Trang trại kinh doanh tổng hợp
TTLN : Trang trại lâm nghiệp
TTNTS : Trang trại nuôi trồng thủy sản
VA : Giá trị gia tăng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN ht t p : / / w w w l r c tnu e du v n
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Phương pháp thu thập và phân tích số liệu 27
Bảng 2.2 Phương pháp thu thập và phân tích số liệu 28
Bảng 3.1 Tình hình phân bố và sử dụng đất đai huyện Yên Sơn qua 3 năm 2012 -2014 40
Bảng 3.2 Tổng hợp các chỉ tiêu phát triển KT-XH 42
Bảng 3.3 Tình hình nhân khẩu và lao động của huyện Yên Sơn từ 2012 - 2014 44
Bảng 3.4 Số lượng trang trại chia theo đơn vị xã 49
Bảng 3.5 Cơ cấu trang trại theo hướng kinh doanh chính 51
Bảng 3.6 Cơ cấu trang trại theo quy mô đất đai 52
Bảng 3.7 Cơ cấu trang trại theo vốn đầu tư năm 2014 53
Bảng 3.8 Nguồn gốc đất đai của các trang trại năm 2014 54
Bảng 3.9 Tình hình sử dụng đất đai của các trang trại năm 2014 55
Bảng 3.10 Nhân khẩu và tình hình sử dụng LĐ của trang trại năm 2014 56
Bảng 3.11 Một số thông tin về chủ trang trại ở huyện Yên Sơn năm 2014 58
Bảng 3.12 Vốn và cơ cấu nguồn vốn của các trang trại ở huyện Yên Sơn 59
Bảng 3.13 Cơ cấu thu từ sản xuất của các trang trại tại huyện Yên Sơn 61
Bảng 3.14 Chi phí của trang trại năm 2014 63
Bảng 3.15 Thu nhập hỗn hợp của các trang trại năm 2014 64
Bảng 3.16 Hiệu quả 1 đồng chi phí của các trang trại ở huyện Yên Sơn 66
Bảng 3.17 Hiệu quả trên 1 ha canh tác của các trang trại 67
Bảng 3.18 Hiệu quả kinh tế của các trang trại trồng trọt 69
Bảng 3.19 Hiệu quả kinh tế của các trang trại chăn nuôi 70
Bảng 3.20 Hiệu quả kinh tế của trang trại nuôi trồng thuỷ sản và kinh doanh tổng hợp 71
Bảng 3.21 Giá trị sản phẩm hàng hoá của các trang trại ở Yên Sơn giai đoạn 2012 - 2014 74
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN ht t p : / / w w w l r c tnu e du v n
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Sơ đồ các quan hệ kinh tế trong quá trình hoạt động sản xuất kinh
doanh của trang
trại 4
Hình 1.2 Sơ đồ mối quan hệ ba mặt cơ bản của trang trạ
5 Hình 1.3 Sơ đồ tính hệ thống của trang trại
5 Hình 1.4 Sơ đồ ba yếu tố cơ bản hình thành và phát triển kinh tế trang trại
14 Hình 1.5 Sơ đồ tác động của yếu tố chính sách đến kinh tế trang trại
15 Hình 1.6 Sơ đồ quá trình phát triển của kinh tế nông hộ thành kinh tế trang trại 16
Hình 1.7 Sơ đồ tác động của nền kinh tế thị trường tới kinh tế trang trại
17 Hình 3.1 Bản đồ huyện Yên Sơn 32
Hình 3.2 Biểu đồ cơ cấu đất đai huyện Yên Sơn năm 2014 39
Hình 3.3 Biểu đồ cơ cấu kinh tế huyện trong 2 năm 2012 - 2014 42
Hình 3.4 Biểu đồ cơ cấu trang trại theo hướng kinh doanh chính
51 Hình 3.5 Biểu đồ cơ cấu tổng thu của các trang trại ở huyện Yên Sơn 62
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN ht t p : / / w w w l r c tnu e du v n
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ở Việt Nam kinh tế trang trại (KTTT) đã manh nha từ rất lâu, nhưng chỉtrong khoảng chục năm trở lại đây vai trò của nó mới thực sự được công nhận vàđược quan tâm chú ý, đặc biệt là sau Nghị quyết 03/2000/NQ-CP của Chínhphủ, ban hành ngày 02/02/2000 về KTTT mới thực sự được sự hỗ trợ của Nhànước về cơ chế, chính sách như là hỗ trợ cho các doanh nghiệp thông thườngtrong nền kinh tế thị trường
Trong tiến trình phát triển nông nghiệp, nông thôn hiện nay ở nước ta, sảnxuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa với quy mô ngày càng lớn vàmang tính thâm canh, chuyên canh đang là một yêu cầu tất yêu khách quan ViệtNam gia nhập tổ chức thương mại Quốc tế (WTO) đã tạo ra nhiều cơ hội và tháchthức cho nền kinh tế nói chung và cho nền nông nghiệp nói riêng Thách thức lớnnhất mà nông nghiệp của Việt Nam sẽ phải đối mặt là việc mở cửa cho hànghóa nông sản của các nước trong WTO lưu thông không bị hàng rào thuế quanngăn cản Do đó hàng hóa nông sản của ta sẽ bị cạnh tranh khốc liệt Những sảnphẩm phẩm sản xuất theo kiểu truyền thống, với mô hình tự cung, tự cấp sẽkhông thể cạnh tranh với nông sản ngoại nhập, cho nên cần có những giải pháp
để thúc đẩy sản xuất hàng hóa nông sản Việt Nam KTTT là một loại hình sản xuấthàng hóa nông sản đáp ứng được nhu cầu trong giai đoạn hiện nay Việc nghiêncứu, phát triển KTTT sẽ mang lại một khối lượng sản phẩm nông nghiệpphong phú, sử dụng được nguồn lao động nông nghiệp trong sản xuất hàng hóa
Tuyên Quang là một tỉnh trung du miền núi, có lợi thế về đất đai, lao động,thị trường tiêu thụ thuận tiện Cũng như nhiều địa phương khác KTTT của TuyênQuang được hình thành từ chủ trương chính sách đổi mới kinh tế của Đảng, chínhsách khuyến khích phát triển kinh tế đồi rừng, chương trình khai thác sử dụng đồinúi trọc Chính sách giao đất giao rừng cùng với chính sách đầu tư, hỗ trợ vốn củaNhà nước đã góp phần hình thành nên các trang trại nông lâm nghiệp Những nămgần đây KTTT của Tuyên Quang đã có những bước phát triển mạnh ở hầu hết cáchuyện, thị trong tỉnh
Trang 14Yên Sơn là một huyện, nằm ở phía nam của tỉnh Tuyên Quang, những nămqua KTTT được hình thành, đang có xu hướng phát triển mạnh cả về số lượng vàchất lượng, góp phần khai thác tiềm năng lao động tại chỗ, giải quyết công ăn việclàm, xoá đói giảm nghèo, nâng cao đời sống của người dân địa phương Hàng năm,tại đây cung cấp một lượng nông, lâm sản hàng hoá lớn cho thị trường địa phương
và các vùng lân cận Hình thức này hiện đang mở ra hướng làm ăn mới cho các hộgia đình ở địa phương và đang được khuyến khích phát triển Tuy mới phát triển,nhưng các trang trại ở vùng này đang phải đương đầu với nhiều khó khăn trở ngại
về vốn, về phương hướng sản xuất, về điều kiện tự nhiên và khả năng áp dụng tiến
bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất Từ đó dẫn đến hiệu quả và hiệu quả kinh tếcòn thấp và đầy rủi ro cần phải được giải quyết Xuất phát từ thực tế khách quan
đó, chúng tôi chọn nội dung “Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế trang trại tại địa bàn huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang”, để thực hiện đề
tài luận văn tốt nghiệp chương trình đào tạo thạc sỹ Phát triển nông thôn
2 Mục tiêu của đề tài
2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế trang trại, đề xuất những giải phápkinh tế chủ yếu thúc đẩy phát triển tốt hơn nữa kinh tế trang trại trên địa bànhuyện Yên Sơn góp phần tăng thu nhập và tạo việc làm cho người động trên địabàn huyện
3 Những đóng góp mới của luận văn
Tổng kết những mô hình và đặc điểm kinh tế trang trại của huyện Yên Sơn,góp phần hệ thống hoá lý luận cơ bản về kinh tế trang trại ở Việt Nam
Trang 15tế trang trại ở huyện Yên Sơn trong những năm tới.
Trang 16Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học về phát triển kinh tế trang trại
1.1.1 Trang trại và kinh tế trang trại
Trang trại là loại hình cơ sở sản xuất nông nghiệp của các hộ gia đình nôngdân, hình thành và phát triển chủ yếu trong điều kiện kinh tế thị trường khiphương thức sản xuất tư bản thay thế phương thức sản xuất phong kiến Một sốtác giả khi nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển kinh tế trang trại trênthế giới cho rằng, các trang trại được hình thành từ cơ sở của các hộ tiểu nông saukhi từ bỏ sản xuất tự cung tự cấp khép kín, vươn lên sản xuất hàng hoá đápứng nhu cầu thị trường trong điều kiện cạnh tranh [4] [30]
Kinh tế trang trại là một loại hình kinh tế sản xuất hàng hoá phát triểntrên cơ sở kinh tế hộ nhưng ở quy mô lớn hơn, được đầu tư nhiều hơn về cả vốn
và kỹ thuật, có thể thuê mướn nhân công để sản xuất ra một hoặc vài loại sảnphẩm hàng hoá từ nông nghiệp với khối lượng lớn cho thị trường
Về thực chất "trang trại" và "kinh tế trang trại" là những khái niệm khôngđồng nhất Kinh tế trang trại là tổng thể các yếu tố vật chất của sản xuất và các quan
hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình tồn tại và hoạt động của trang trại, còn trang trại
là nơi kết hợp các yếu tố vật chất của sản xuất và là chủ thể của các quan hệ kinh tế
đó [2] Các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình tồn tại và phát triển của trangtrại có thể tóm lược thành hai nhóm đó là quan hệ giữa trang trại với môi trườngbên ngoài và quan hệ giữa trang trại với môi trường bên trong Quan hệ giữa trangtrại với môi trường bên ngoài bao gồm hai cấp độ, môi trường vĩ vô (cơ chế, chínhsách chung của Nhà nước ) và môi trường vi mô (các đối tác, khách hàng, bạnhàng, đối thủ cạnh tranh ) các quan hệ nội tại bên trong trang trại rất đa dạng vàphức tạp như các quan hệ về đầu tư, phân bổ nguồn lực cho các ngành, các bộphận trong trang trại, các quan hệ lợi ích kinh tế liên quan đến việc phân phối kếtquả làm ra, trong đó lợi ích của chủ trang trại với tư cách là người chủ sở hữu tư liệusản xuất và lợi ích của người lao động làm thuê là rất quan trọng Để tạo ra
Trang 17động lực thúc đẩy kinh tế trang trại phát triển thì các quan hệ về lợi ích phải đượcgiải quyết một cách thoả đáng Các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình tồn tại
và phát triển của trang trại được tóm lược ở sơ đồ 1.1
Hình 1.1 Sơ đồ các quan hệ kinh tế trong quá trình hoạt động
sản xuất kinh doanh của trang trại [2]
Ngoài mặt kinh tế, trang trại còn có thể được nhìn nhận từ mặt xã hội
và môi trường
Về mặt xã hội, trang trại là một tổ chức cơ sở của xã hội, trong đó các mốiquan hệ xã hội đan xen nhau
Về mặt môi trường, trang trại là một không gian sinh thái, trong đó diễn
ra các quan hệ sinh thái đa dạng Không gian sinh thái trang trại có quan hệ chặtchẽ và ảnh hưởng qua lại trực tiếp với hệ sinh thái của vùng Ba mặt trên củatrang trại có mối quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại lẫn nhau Sự kết hợp hàihoà ba mặt này sẽ bảo đảm cho kinh tế trang trại phát triển bền vững và bảo vệtốt môi trường, sử dụng tối ưu các nguồn lực Mối quan hệ ba mặt cơ bản củatrang trại được trình bày ở sơ đồ 1.2
Trang 18Hình 1.2 Sơ đồ mối quan hệ ba mặt cơ bản của trang trại [2]
Trong các mặt kinh tế- xã hội và môi trường của trang trại thì mặt kinh tế làmặt cơ bản chứa đựng những nội dung cốt lõi của trang trại Vì vậy trong nhiềutrường hợp khi nói đến kinh tế trang trại, tức là nói tới mặt kinh tế của trang trại,người ta gọi tắt là trang trại [4]
Theo quan điểm hệ thống có thể thấy trang trại như là một tổ chức kinh tếmang tính hệ thống rõ rệt (xem sơ đồ 1.3) Quá trình hoạt động sản xuất kinh doanhcủa trang trại có quan hệ chặt chẽ với môi trường bên ngoài và trải qua ba côngđoạn đó là đầu vào (inputs); quá trình (process) và đầu ra (outputs)
Hình 1.3 Sơ đồ tính hệ thống của trang trại [2]
Trang 19Có thể nói rằng trang trại là hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp hànghoá dựa trên cơ sở lao động, đất đai, tư liệu sản xuất cơ bản của hộ gia đình, hoàntoàn tự chủ, sản xuất kinh doanh bình đẳng với các tổ chức kinh tế khác, sản phẩmlàm ra chủ yếu là để bán và tạo nguồn thu nhập chính cho gia đình [29].
1.1.2 Vai trò và vị trí của kinh tế trang trại
Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất quan trọng trong nền nôngnghiệp thế giới Ở các nước phát triển, trang trại gia đình có vai trò to lớn vàquyết định trong sản xuất nông nghiệp và tuyệt đại bộ phận nông sản cungcấp cho xã hội được sản xuất ra trong các trang trại gia đình [4] [19]
Ở nước ta, kinh tế trang trại (mà chủ yếu là trang trại gia đình) mặc dù mới
phát triển trong những năm gần đây, song vai trò tích cực và quan trọng củakinh tế trang trại đã thể hiện rõ nét cả về kinh tế cũng như về mặt xã hội và môitrường
Về mặt kinh tế, các trang trại góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, pháttriển các loại cây trồng, vật nuôi có giá trị hàng hoá cao, khắc phục dần tìnhtrạng sản xuất phân tán, manh mún, tạo nên những vùng chuyên môn hoá, tậptrung hàng hoá và thâm canh cao Mặt khác qua thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, trang trại góp phần thúc đẩy phát triển công nghiệp, đặc biệt là công nghiệpchế biến và dịch vụ sản xuất ở nông thôn Do vậy, phát triển kinh tế trang trạigóp phần tích cực thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển của nông nghiệp và kinh
tế nông thôn
Về mặt xã hội, phát triển kinh tế trang trại góp phần quan trọng làm tăng số
hộ giàu trong nông thôn, tạo thêm việc làm và tăng thêm thu nhập cho laođộng Điều này rất có ý nghĩa trong giải quyết vấn đề lao động và việc làm, mộttrong những vấn đề bức xúc của nông nghiệp, nông thôn nước ta hiện nay
Về mặt môi trường, do sản xuất kinh doanh tự chủ và vì lợi ích thiếtthực, lâu dài của mình mà các chủ trang trại luôn có ý thức khai thác hợp lý vàquan tâm bảo vệ các yếu tố môi trường, trước hết là trong phạm vi không giansinh thái trang trại và sau nữa là trong phạm vi từng vùng Các trang trại ởtrung du, miền núi đã góp phần quan trọng vào việc trồng rừng, bảo vệ rừng, phủxanh đất trống đồi trọc và sử dụng hiệu quả tài nguyên đất đai những việc làm
Trang 20đất nước [36].
Trang 211.1.3 Đặc trưng của kinh tế trang trại
Trong điều kiện kinh tế thị trường, trang trại là một đơn vị kinh tế tự chủvới những đặc trưng chủ yếu sau:
- Tư liệu sản xuất mà trước hết là ruộng đất và tiền vốn được tập trungtheo yêu cầu của sản xuất hàng hoá
Sự tập trung ruộng đất và tiền vốn tới một quy mô nhất định theo yêu cầucủa sản xuất hàng hoá là điều kiện tiên quyết cho sự hình thành và tồn tạicủa trang trại [19]
Như vậy có thể thấy rằng, không phải bất kỳ sự tập trung ruộng đất và tiềnvốn nào cũng có thể tới hình thành trang trại mà sự tập trung đó phải đạt tới mộtquy mô nhất định thì mới có thể dẫn tới sự hình thành trang trại [19]
- Sản xuất nông sản phẩm hàng hoá
Trong điều kiện kinh tế thị trường, sản xuất của các trang trại là sản xuấthàng hoá Lúc này các trang trại sản xuất nông sản phẩm chủ yếu là để bán nhằmđem lại thu nhập và lợi nhuận cho chủ trang trại Chính vì vậy, Các Mác đã phânbiệt người chủ trang trại và người tiểu nông ở chỗ: Người chủ trang trại thì bán
ra thị trường toàn bộ sản phẩm làm ra, con người tiểu nông thì tiêu dùng đại bộphận sản phẩm làm ra và mua bán càng ít càng tốt [3]
Như vậy, có thể thấy rằng sản xuất hàng hoá là đặc trưng quan trọng nhất thể
hiện bản chất của kinh tế trang trại trong điều kiện kinh tế thị trường
- Người chủ trang trại có ý chí, có hiểu biết chuyên môn kỹ thuật và có khảnăng nhất định về tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh nông nghiệp
- Các trang trại đều có thuê mướn lao động
Lao động làm việc trong các trang trại chủ yếu là lao động trong gia đình vàmột phần lao động thuê mướn thường xuyên hay thời vụ Lao động chính thường
là chủ trang trại cùng với những người trong gia đình, thường có quan hệ huyếtthống gần gũi (vợ, chồng, cha mẹ, anh em, ) nên tổ chức lao động gọn nhẹ khôngquy định mang tính hành chính, vì vậy quản lý điều hành linh hoạt dễ dàng đemlại hiệu quả lao động cao Lao động thuê ngoài không nhiều, thường cùng ăn,cùng làm với chủ
Trang 22trang trại nên dễ tạo ra sự thông cảm lần nhau trong công việc cũng như trong hưởng thụ thành quả lao động.
Có hai hình thức thuê mướn lao động trong các trang trại, đó là thuêlao động thường xuyên và thuê lao động thời vụ Trong hình thức thuê lao độngthường xuyên, trang trại thuê người lao động làm việc ổn định quanh năm,còn trong hình thức thuê lao động thời vụ, trang trại chỉ thuê người lao độnglàm việc theo thời vụ sản xuất
1.1.4 Phân loại trang trại
1 Các trang trại được xác định theo lĩnh vực sản xuất như sau [6][7][8]:a) Trang trại trồng trọt;
b) Trang trại chăn nuôi;
c) Trang trại lâm nghiệp;
d) Trang trại nuôi trồng thuỷ sản;
đ) Trang trại tổng hợp
2 Trang trại chuyên ngành (trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, nuôi trồngthủy sản) là trang trại có tỷ trọng giá trị sản lượng nông sản hàng hóa của ngànhchiếm trên 50% cơ cấu giá trị sản lượng hàng hóa của trang trại trong năm Trườnghợp không có ngành nào chiếm trên 50% cơ cấu giá trị sản lượng hàng hóa thìđược gọi là trang trại tổng hợp
1.1.5 Tiêu chí công nhận kinh tế trang trại
Cá nhân, hộ gia đình sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủysản đạt tiêu chuẩn kinh tế trang trại phải thỏa mãn điều kiện sau: [7]
1 Đối với cơ sở trồng trọt, nuôi trồng thuỷ sản, sản xuất tổng hợp phải
đạt:
a) Có diện tích trên mức hạn điền, tối
thiểu:
- 3,1 ha đối với vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long;
- 2,1 ha đối với các tỉnh còn lại
b) Giá trị sản lượng hàng hóa đạt 700 triệu
đồng/năm
2 Đối với cơ sở chăn nuôi phải đạt giá trị sản lượng hàng hóa từ 1.000 triệuđồng/năm trở lên;
Trang 233 Đối với cơ sở sản xuất lâm nghiệp phải có diện tích tối thiểu 31 ha và giátrị sản lượng hàng hóa bình quân đạt 500 triệu đồng/năm trở lên.
1.1.6 Lý thuyết về phát triển kinh tế trang trại
- Vấn đề cơ bản của lý thuyết phát triển
Có nhiều quan niệm khác nhau về phát triển Theo Raaman Weitz
"Phát triển là một quá trình thay đổi liên tục làm tăng trưởng mức sống của conngười và phân phối công bằng những thành quả tăng trưởng trong xã hội[40] Ngân hàng thế giới đã đưa ra khái niệm phát triển với ý nghĩa rộng hơn baogồm cả những thuộc tính quan trọng có liên quan đến hệ thống giá trị của conngười, đó là "sự bình đẳng hơn về cơ hội, sự tự do về chính trị và các quyền tự docông dân để củng cố niềm tin trong cuộc sống của con người trong các mốiquan hệ với nhà nước, với cộng đồng"[41][44] Nhìn chung các ý kiến đều nhấttrí cho rằng mục tiêu chung của phát triển là nâng cao các quyền lợi về kinh tế,chính trị, văn hoá, xã hội và quyền tự do công dân của mọi người dân [42][47]
Phát triển kinh tế hiểu một cách chung nhất là một quá trình lớn lên haytăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định Trong đó baogồm cả sự tăng thêm về quy mô sản lượng và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế - xã hội[17][18]
Từ các quan niệm trên ta thấy vấn đề cơ bản nhất của phát triển kinh tếlà: sự tăng thêm về khối lượng sản phẩm, dịch vụ và sự biến đổi tiến bộ về cơcấu kinh tế - xã hội; sự tăng thêm về quy mô sản lượng và tiến bộ về cơ cấu kinh
tế - xã hội là hai mặt có mối quan hệ vừa phụ thuộc vừa độc lập tương đối củalượng và chất Sự phát triển là một quá trình tiến hoá theo thời gian do nhữngnhân tố nội tại của bản thân nền kinh tế quyết định [28]
- Phát triển kinh tế trang trại
Kinh tế trang trại là tổng thể các yếu tố vật chất của trang trại và nhữngmối quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của
Trang 25trại Như vậy có thể hiểu phát triển kinh tế trang trại là quá trình tăng cườngcác yếu tố vật chất của trang trại cả về mặt số lượng và chất lượng, đồngthời là quá trình giải quyết hài hoà hơn các mối quan hệ kinh tế trong quá trìnhhoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại Phát triển kinh tế trang trại phảiđược đặt trong mối quan hệ hài hoà với yếu tố xã hội và bảo vệ môi trường là cơ
sở bảo đảm cho sự phát triển bền vững của kinh tế trang trại
* Tăng cường các yếu tố thể hiện phát triển quy mô bề rộng của trang trại
Kinh tế trang trại phát triển hay không được thể hiện thông qua quy mô sảnxuất kinh doanh của trang trại ngày càng được mở rộng Các yếu tố cơ bảncủa sản xuất được tăng cường cả về số lượng và chất lượng
Thứ nhất là yếu tố đất đai: Sau một thời gian hoạt động kinh doanh quy
mô đất đai của trang trại sẽ được phát triển thêm về mặt diện tích, đồngthời chất lượng các loại đất đai không ngừng được cải thiện, độ màu mỡ củađất đai ngày càng tăng lên
Thứ hai là yếu tố lao động: lao động của trang trại ngày càng tăng lên cả về
số lượng và chất lượng, nó phản ánh sự phát triển ngày càng nhanh của kinh tếtrang trại Trang trại ngày càng sử dụng nhiều lao động hơn với sự đòi hỏi ngàycàng cao hơn về trình độ, kỹ năng và tay nghề của lao động, nhu cầu về lao độngcủa các trang trại ngày càng đa dạng hơn, đòi hỏi tính chuyên nghiệp ngày càng caohơn
Thứ ba là vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh của trang trại: Vốn là yếu tốvật chất hết sức quan trọng cho sản xuất Sau mỗi chu kỳ kinh doanh, trang trại cóvốn tích luỹ nhiều hơn, mức độ đầu tư cho sản xuất ngày càng lớn hơn chứng tỏ
sự phát triển của kinh tế trang trại ngày càng rõ rệt Vốn đầu tư ngày càng lớn thểhiện sức mạnh kinh tế của trang trại Vốn đầu tư được thể hiện dưới hìnhthức là những tài sản như nhà xưởng, máy móc thiết bị, các công trình phục vụsản xuất kinh doanh và các loại tài sản lưu động khác Các yếu tố vật chất nàycàng nhiều
Trang 26và chất lượng càng cao, càng hiện đại thì càng chứng tỏ sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế trang trại.
Thứ tư là trình độ công nghệ và các biện pháp kỹ thuật mới được ứng dụngvào quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại Mức độ đầu tư côngnghệ và trình độ công nghệ được các trang trại đưa vào sử dụng càng cao, các biệnpháp kỹ thuật tiên tiến trong trồng trọt, chăn nuôi, ngành nghề dịch vụ được ápdụng ngày càng nhiều sẽ là những yếu tố có tính quyết định đến năng suất laođộng, năng suất cây trồng, vật nuôi, và trực tiếp ảnh hưởng đến chất lượng sảnphẩm của trang trại, một yếu tố tạo nên sức mạnh cạnh tranh của kinh tế trang trạitrên thương trường
Thứ năm là cách thức tổ chức sản xuất, cơ cấu sản xuất, mức độ chuyênmôn hoá, trình độ sản xuất hàng hoá của trang trại Đây là những yếu tố thểhiện sự tăng cường về mặt chất lượng trong quá trình tăng trưởng và pháttriển kinh tế trang trại
* Nâng cao kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh của trang trại
Năng suất, sản lượng các loại cây trồng, vật nuôi, các loại sản phẩm ngànhnghề, dịch vụ ngày càng tăng lên Giá trị sản lượng, giá trị sản lượng hàng hoá,doanh thu, thu nhập của trang trại là những chỉ tiêu kết quả nói lên sự phát triểncủa kinh tế trang trại
Phát triển kinh tế trang trại là quá trình nâng cao hiệu quả sản xuấtkinh doanh của các trang trại như lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận, mức tích luỹhàng năm của trang trại, mức sống và thu nhập của các thành viên trang trại, tạo
ra ngày càng nhiều việc làm cho xã hội
* Giải quyết hài hoà các lợi ích
Thực hiện nghĩa vụ thuế đối với nhà nước, bảo đảm lợi ích của chủ trangtrại, của người lao động, của cộng đồng, chú trọng đến bảo vệ môi sinh,môi trường, phong tục tập quán, truyền thống, tăng việc làm và những vấn đề kinh
tế xã hội khác trong nông thôn
Trang 27Tóm lại, phát triển kinh tế trang trại là hình thức phát triển nông
nghiệp hàng hoá Phát triển kinh tế trang trại không chỉ tăng về số lượng màcòn tăng cả về chất lượng các trang trại, bảo đảm sự phát triển kinh tế theohướng chuyên môn hoá, ở đó diễn ra sự phân công lao động mạnh mẽ, mang lạihiệu quả kinh tế cao, cũng như bảo đảm việc khai thác và sử dụng nguồn tàinguyên một cách hợp lý và có hiệu quả Phát triển kinh tế trang trại là pháttriển nền nông nghiệp hợp lý, tiên tiến và hiện đại
1.1.7 Kinh tế trang trại, một hình thức kinh tế phù hợp trong nền kinh tế thị
trường
Trong lịch sử phát triển của nông nghiệp các nước trên thế giới cũng như ởnước ta đã tồn tại các hình thức sản xuất nông nghiệp mang tính tập trung đượctiến hành trên một quy mô diện tích ruộng đất đủ lớn nhằm sản xuất ra khốilượng nông sản phẩm lớn hơn so với hình thức sản xuất nông nghiệp truyềnthống, phân tán trên những diện tích ruộng đất nhỏ
Trong các phương thức sản xuất trước chủ nghĩa tư bản, các hình thứcsản xuất nông nghiệp tập trung đã tồn tại ở nhiều nước Thời đế quốc Lã Mã đã cósản xuất nông nghiệp tập trung với lực lượng sản xuất chủ yếu là tù binh và nô lệ
Ở Trung Quốc từ thời Hán đã có hoàng tranh, điền trang, gia trang, ở Việt Nam thời
Lý, Trần có điền trang, thái ấp, các thời Lê, Nguyễn có hình thức đồn điền [2][19]
Những biến đổi có ý nghĩa quyết định dẫn đến sự thay đổi về chất của hìnhthức sản xuất nông nghiệp mang tính tập trung trong phương thức sản xuất
tư bản chủ nghĩa bao gồm:
- Sự biến đổi về mục đích sản xuất: sản xuất chuyển từ tự cung, tự cấp
là chủ yếu sang sản xuất hàng hoá Nông sản phẩm sản xuất ra trước đây chủyếu là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trực tiếp của những người chủ, thì naytrong điều kiện kinh tế thị trường, được sản xuất ra chủ yếu là để bán nhằmtăng thu nhập và lợi nhuận [2]
Trang 28- Sự biến đổi về mặt sở hữu: Nếu như trong các phương thức sản xuấttrước chủ nghĩa tư bản có những hình thức sản xuất nông nghiệp tập trung dựatrên sở hữu Nhà nước, có những hình thức dựa trên sở hữu riêng của mộtngười chủ độc lập, thì nay trong điều kiện kinh tế thị trường hình thức sản xuấtnông nghiệp tập trung về cơ bản là dựa trên quyền sở hữu tư liệu sản xuất (hayquyền sử dụng, nếu là tư liệu sản xuất đi thuê) của một người chủ độc lập.
- Sự thay đổi về cách thức tổ chức sản xuất và kỹ thuật sản xuất
Do mục đích sản xuất hàng hoá nên ở đây sản xuất được tổ chứctheo phương thức tiến bộ hơn với kỹ thuật sản xuất cao hơn hẳn so với sản xuấtnông nghiệp mang tính tập trung trong các phương thức sản xuất trước chủ nghĩa
tư bản
Ngày nay trong điều kiện kinh tế thị trường, ngôn ngữ các nước đều
có những thuật ngữ để chỉ hình thức sản xuất nông nghiệp đều tập trung vớinhững biến đổi cơ bản so với hình thức sản xuất nông nghiệp tập trung trong cácphương thức sản xuất trước chủ nghĩa tư bản như đã nêu ở trên khi chuyểnsang tiếng Việt thường được dịch là "trang trại" hay "nông trại" [4],[13]
"Trang trại" hay "nông trại" theo những tư liệu nước ngoài thì có thể hiểu
đó là những khu đất tương đối lớn, ở đó sản xuất nông nghiệp được tiến hành
có tổ chức dưới sự chỉ huy của một người chủ mà phần đông là chủ gia đìnhnông dân bao gồm cả nông dân lĩnh canh trong giai đoạn nông nghiệp đi sâuvào sản xuất hàng hoá và từng bước gắn liên với kinh tế thị trường
Như vậy có thể thấy rằng trong điều kiện kinh tế thị trường, về bảnchất, "trang trại" hay "nông trại" là thuật ngữ gắn liền với hình thức sản xuất nôngnghiệp mang tính tập trung trên một diện tích ruộng đất đủ lớn nhằm sản xuấtnông sản phẩm hàng hoá với quy mô gia đình là chủ yếu [4],[13],[21]
1.1.8 Thị trường đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại
Thị trường là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán hàng hoá dịch vụgiữa người mua và người bán hay nói một cách ngắn gọn hơn thị trường là nơigặp gỡ giữa cung và cầu [12],[33] Kinh tế thị trường là tổng thể các quan hệ kinh
tế và các chủ thể tham gia trong nền kinh tế thị trường Quan hệ kinh tế đặctrưng nhất
Trang 29đó là quan hệ cung cầu, quan hệ cung cầu thể hiện bản chất, tính quy luật tất yếu
khách quan của kinh tế thị trường
Kinh tế trang trại là một loại hình kinh tế sản xuất hàng hoá phát triểntrên cơ sở kinh tế hộ nhưng ở quy mô lớn hơn, được đầu tư nhiều hơn về cả vốn
và kỹ thuật, có thể thuê mướn nhân công để sản xuất ra một hoặc vài loại sảnphẩm hàng hoá từ nông nghiệp với khối lượng lớn cho thị trường
Quá trình hình thành và phát triển của kinh tế trang trại được quyếtđịnh bởi ba yếu tố cơ bản, đó là:
- Kinh tế nông hộ như là điều kiện tiền đề cho sự hình thành kinh tế trang trại
- Cơ chế chính sách chung của Nhà nước tạo ra định hướng và môi trườngcho sự tồn tại và phát triển của kinh tế trang trại
- Kinh tế thị trường là điều kiện có tính chất quyết định cho sự hình thành
và phát triển kinh tế trang trại, nó là động lực thúc đẩy sự phát triển nhanh chóngcủa kinh tế trang trại.Chúng ta có thể hình dung ba yếu tố cơ bản cho sự hìnhthành và phát triển kinh tế trang trại qua sơ đồ 1.4
Hình 1.4 Sơ đồ ba yếu tố cơ bản hình thành và phát triển kinh tế trang trại [2]
Trang 30Thứ nhất là yếu tố chính sách chung bao gồm các chính sách của Nhà nướctrung ương và chính quyền địa phương với mục đích xác định vai trò, vị trí củakinh tế trang trại trong nền kinh tế của đất nước, những chính sách tạo môitrường và điều kiện thuận lợi cho kinh tế trang trại phát triển.
Các chính sách về đất đai, khoa học kỹ thuật, công nghệ, chính sách tíndụng, chính sách về lao động, chính sách về thị trường, chính sách bảo vệ môitrường và phát triển bền vững kinh tế trang trại là những chính sách hết sứcquan trọng trực tiếp tác động vào quá trình hình thành và phát triển của các trangtrại Sự tác động của các chính sách bao giờ cũng có mặt tích cực và rủi ro do sựnhận thức của con người về các quy luật kinh tế và vận dụng vào những điềukiện cụ thể Yếu tố chính sách trong mối quan hệ đến kinh tế trang trại đượctóm lược ở Hinh 1.5
Hình 1.5 Sơ đồ tác động của yếu tố chính sách đến kinh tế trang trại [2]
Thứ hai là yếu tố kinh tế nông hộ (xem sơ đồ 1.6) Cùng với quá trình pháttriển của nền kinh tế, kinh tế nông hộ ngày càng phát triển Quá trình tích tụ vàtập
Trang 31trung ruộng đất, vốn, lao động, tri thức khoa học kỹ thuật đến một quy mô
nhấtđịnh sẽ hình thành kinh tế trang trại
Hình 1.6 Sơ đồ quá trình phát triển của kinh tế nông hộ
thành kinh tế trang trại [13]
Thứ ba là yếu tố kinh tế thị trường (xem sơ đồ 1.7) Đây là yếu tố có tínhchất quyết định đến sự phát triển của kinh tế trang trại Trang trại sản xuất
và kinh doanh cái gì, sản xuất kinh doanh bằng cách nào và sản phẩm làm ratiêu thụ ở đâu lại phụ thuộc vào việc sản phẩm của các trang trại làm ra có đápứng được nhu cầu thị trường hay không? Rõ ràng kinh tế thị trường tạo ranhững thách thức, những đòi hỏi khắt khe, đồng thời cũng tạo ra những cơ hộiđối với kinh tế trang trại
Trang 32Hình 1.7 Sơ đồ tác động của nền kinh tế thị trường tới kinh tế trang trại [13]
Như vậy kinh tế thị trường là điều kiện tất yếu cho sự hình thành vàphát triển kinh tế trang trại, vì vậy ảnh hưởng tác động của kinh tế thị trườngđối với kinh tế trang trại là rất mạnh mẽ trên tất cả mọi phương diện của thịtrường Kinh tế trang trại phát triển như thế nào rõ ràng phụ thuộc rất lớn vào kinh
tế thị trường như là một điều kiện khách quan, quá trình nhận thức và vận dụngkinh tế thị trường của các chủ trang trại như là một điều kiện chủ quan
1.1.9 Các yếu tố ảnh hưởng khác đến phát triển kinh tế trang trại
1.1.9.1 Sự phát triển của khoa học kỹ thuật
Khoa học kỹ thuật có ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến sự phát triển của kinh tếtrang trại Trong những năm qua nhiều thành tựu khoa học kỹ thuật đã được ápdụng mạnh mẽ và nhanh chóng vào trong nông nghiệp Nhờ sự phát triển của khoahọc kỹ thuật đã tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá như là yếu tố đầu vào cho sảnxuất của các trang trại đó là các loại vật tư, phân bón, giống cây con các loại, máymóc thiết bị Chính những yếu tố đầu vào có chất lượng tốt đã tạo ra một khảnăng to lớn góp phần tăng năng suất, sản lượng và chất lượng của sản phẩm nôngnghiệp
Trang 33Số lượng trang trại ngày càng tăng lên trong đó có nhiều trang trại đã mạnhdạn ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, kinh doanh những loại câytrồng vật nuôi, những loại sản phẩm mới có năng suất và chất lượng cao hơn và
do đó làm tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh của các trang trại một cách rõ rệt
1.1.9.2 Chính sách của nhà nước
Chính sách của Nhà nước là yếu tố quan trọng nhằm tạo điều kiệnthuận lợi cho sự ra đời và phát triển các loại hình sản xuất kinh doanh trong nôngnghiệp, trong đó hình thức kinh tế trang trại được khuyến khích phát triểnmạnh mẽ Thực tế cho thấy các trang trại ở các nước tiên tiến phát triển mạnh
mẽ không chỉ vì trình độ sản xuất kinh doanh của trang trại mà một yếu tố hếtsức quan trọng đó là có sự tác động và hỗ trợ mạnh mẽ của các chính sách tíchcực từ Nhà nước đặc biệt là các chính sách về đất đai, chính sách về đầu tư, chínhsách thuế và các chính sách hỗ trợ khác, ở nước ta trong những năm gần đây nhờnhững chính sách cụ thể của Nhà nước đã góp phần tăng nhanh cả về số lượng vàchất lượng các loại hình kinh tế trang trại Các chủ trang trại đã mạnh dạn đầu tưvào việc hình thành và phát triển kinh tế trang trại với nhiều loại hình trang trạikhác nhau
1.1.9.3 Trình độ chủ trang trại và các điều kiện khác
Việc quản lý sản xuất kinh doanh của kinh tế trang trại trên thực tế làquản lý một doanh nghiệp Vì vậy, chủ trang trại phải có trình độ quản lý, điềuhành sản xuất kinh doanh để đảm bảo cho trang trại hoạt động có hiệuquả Trong nền kinh tế tiểu nông, chỉ cần có những người nông dân, chủ hộcần cù lao động, còn trong kinh tế thị trường lại cần có những chủ trang trạiđồng thời là chủ doanh nghiệp năng động, đủ năng lực điều hành quản lýtrang trại đạt hiệu quả cao [29], [36]
Năng lực quản lý điều hành của chủ trang trại thể hiện ở khả năng về quản
lý tư liệu sản xuất, quản lý lao động, quản lý vốn sản xuất kinh doanh, quản lý điềuhành, xây dựng kế hoạch, quy hoạch sản xuất, tiêu thụ nông sản phẩm
Trang 34Tài liệu thống kê ở các nước trong khu vực cũng cho thấy trình độ học vấnchuyên môn của chủ trang trại tỷ lệ thuận với hiệu quả sản xuất kinh doanh,thu nhập của các trang trại.
1.2 Tình hình phát triển trang trại trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Tình hình phát triển trang trại trên thế giới
Trong lịch sử phát triển KTTT ở các nước đã diễn ra sự biến động về sốlượng và quy mô trang trại, theo quy luật tăng về số lượng trong thời kỳ bắt đầucông nghiệp hóa và giảm dần về số lượng trong thời kỳ hình thành công nghiệphóa, còn quy mô trang trại thì biến động theo chiều hướng ngược lại sựbiến động của số lượng trang trại
1.2.1.1 Kinh tế trang trại ở một số nước công nghiệp phát triển
Cuộc cách mạng công nghiệp đã diễn ra ở châu Âu từ thế kỷ XVIII và ởđây cũng là nơi đầu tiên xuất hiện hình thức tổ chức trang trại trong nôngnghiệp sản xuất hàng hoá thay thế cho hình thức sản xuất tiểu nông của nhữngngười nông dân và hình thức điền trang của các thế lực phong kiến quý tộc
- Vương quốc Anh: Cho rằng nông nghiệp cũng phải xây dựng các xínghiệp lớn như trong công nghiệp Vì vậy từ đầu thế kỷ XIX họ đã thúc đẩy tậptrung ruộng đất để lập các xí nghiệp nông nghiệp quy mô lớn Giữa thế kỷ XIX cáctrang trại gia đình quy mô nhỏ chiếm tỷ lệ cao Cuối thế kỷ XIX loại hình này pháttriển mạnh Năm 1950 nước Anh có 453.000 trang trại, đến năm 1987 giảmxuống
254.000 trang trại Tốc độ giảm bình quân hàng năm là 2,1%
- Pháp: Từ cuối thế kỷ thứ XIX (giai đoạn đầu của công nghiệp hoá), số
trang trại ở Pháp tăng từ 5 triệu lên 5,6 triệu với quy mô về đất đai bìnhquân mỗi trang trại là 11 ha Cuối thế kỷ XX, khi nước Pháp đã có nền côngnghiệp hiện đại, số trang trại giảm xuống còn 980 nghìn, song quy mô củamỗi trang trại đã lớn hơn nhiều so với trước đây, khoảng từ 25 - 30 ha/trangtrại Chỉ với gần 1 triệu trang trại đã sản xuất ra số lượng nông sản thực phẩmgấp 2,2 lần nhu cầu trong nước, tỷ suất hàng hoá về hạt ngũ cốc là 95%, thịt, sữa
là 70-80% và rau quả trên 70%
Trang 35- Mỹ: Tình hình phát triển trang trại ở Mỹ cũng theo xu thế các nướcchâu Âu nhưng chậm hơn 3-4 thập kỷ Năm 1900 số lượng trang trại ở Mỹ là5.737.000 cơ sở, năm 1950 là 2.548.000 cơ sở, năm 1990: 2.140.000 cơ sở.
1.2.1.2 Kinh tế trang trại ở một số nước châu Á
Ở châu Á, nhiều nước thuộc vùng Đông Bắc Á như Nhật Bản, HànQuốc, Đài Loan, đã đi tiên phong trong sự nghiệp công nghiệp hoá đất nước vàcũng chính ở các nước này KTTT đã sớm hình thành và ngày càng phát triển cao
- Nhật Bản năm 1886 có 3,8 triệu trang trại, đến năm 1950 có 6,17 triệutrang trại và đến năm 1995 chỉ còn 4,2 triệu trang trại Số lượng trang trạigiảm bình quân hàng năm là 1,2% Diện tích trang trại bình quân năm 1950 là0,8 ha, năm 1993 là 1,38 ha Tốc độ tăng diện tích bình quân là 1,3%
- Hàn Quốc: Năm 1953 có 2.249.000 trang trại, năm 1979 giảm xuống1.172.000 trang trại Số lượng trang trại giảm bình quân hàng năm 0,7% Diện tíchbình quân của trang trại năm 1953 là 0,86 ha, năm 1979 là 1,2 ha Diện tích bìnhquân trang trại tăng 0,9% hàng năm
- Đài Loan: Trong thời kỳ 1952-1970 (thời kỳ đầu công nghiệp hoá), trang
trại ở Đài Loan cũng phát triển theo quy luật chung đó là số lượng tăng lên liêntục, còn quy mô mỗi trang trại thì nhỏ Khi công nghiệp đã phát triển thì ngược lại,
số lượng trang trại giảm và quy mô diện tích của một trang trại tăng Năm
1952 số lượng trang trại ở Đài Loan là 679.000 trang trại, quy mô 1,29 ha/trangtrại, năm
1960 có 714.000 trang trại với quy mô 1,12 ha/trang trại, năm 1988 có739.000 trang trại với quy mô 1,2 ha/trang trại
- Thái Lan: ở Thái Lan số lượng trang trại và bình quân diện tích mỗi trangtrại đều lớn hơn ở Đài Loan Năm 1963 có 3.214.000 trang trại, diện tích bình quân3,5 ha/trang trại, năm 1988 có 5.245.000 trang trại, diện tích bình quân4,52 ha/trang trại Bình quân sử dụng lao động ở Thái Lan là 3,7 người/trang trại
Sự đóng góp to lớn của các trang trại được thể hiện rõ nhất trong lĩnh vực sảnxuất hàng nông sản, Thái lan đã trở thành một trong những nước xuất khẩutrái cây đứng đầu thế giới và hàng năm xuất khẩu 6 - 7 triệu tấn gạo [13]
Trang 361.2.1.3 Một số nhận xét về tình hình phát triển kinh tế trang trại trên thế giới
Quá trình phát triển trang trại ở hầu hết các nước trên thế giới đều có
xu hướng chung là: thời kỳ đầu công nghiệp hoá, số lượng trang trại nhiều, quy
mô nhỏ Khi công nghiệp phát triển đạt trình độ cao thì số lượng giảm, quy môtăng
- Trang trại là loại hình tổ chức sản xuất nông nghiệp phù hợp gắn liền vớiquá trình công nghiệp hoá từ thấp đến cao KTTT là sự phát triển tất yếu của nềnnông nghiệp trong quá trình công nghiệp hoá
- KTTT là kết quả tất yếu của kinh tế hộ gắn với sản xuất hàng hoá là bướctiến bộ mới về tổ chức sản xuất của nhân loại
- KTTT có thể phát triển với nhiều hình thức đa dạng khác nhau (tư bản tư nhân, cổ phần, liên doanh, uỷ thác ) nhưng trang trại gia đình là loại hình thích
hợp, phổ biến nhất Trên thế giới, trang trại gia đình chiếm khoảng 80- 90% tổng
số trang trại
- Hiệu quả sản xuất - Kinh doanh của trang trại không hoàn toàn phụthuộc vào quy mô đất đai, lao động vì năng suất, chất lượng sản phẩm cònchịu ảnh hưởng rất lớn của việc áp dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ mớicũng như trình độ tổ chức quản lý của chủ trang trại
- Sự phát triển của KTTT gắn liền với công nghiệp hoá, với sự phát triểncủa kinh tế thị trường
- Công nghiệp chế biến và dịch vụ cho trang trại là điều kiện hết sức quantrọng để thúc đẩy trang trại hoạt động có hiệu quả
- Vai trò của Chính phủ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quá trình hìnhthành và phát triển KTTT thông qua các chủ trương, chính sách vĩ mô
Các nước đang phát triển ở châu Á, số lượng trang trại đang có chiềuhướng tăng lên chứ chưa đến thời kỳ giảm, vì các nước này đang trong thời
kỳ thực hiện công nghiệp hóa Như ở Ấn Độ số lượng trang trại tăng từ 44,35triệu (năm 1953) lên 97,720 triệu (năm 1985) Tại Philippin số lượng trang trạităng từ
1,64 triệu (1948) lên 3,42 triệu trang trại (1980)
Trang 371.2.2 Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam
Các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả về KTTT đều khẳng định trangtrại ở nước ta đã xuất hiện nhiều thế kỷ Trải qua trong thời kỳ lịch sử của đấtnước, quá trình hình thành và phát triển của trang trại cũng có sự khác nhau
Lê Trọng (2000) cho rằng: Nhìn lại lịch sử cho thấy trang trại ở nước ta đã
hình thành từ thời nhà Trần, lúc bấy giờ được gọi là điền trang Nhưng theo từ điển tiếng việt thì điền trang là trang trại của quý tộc, thời phong kiến [4], [13].
Đến đời nhà Hậu Lê, Nhà nước chủ trương mở rộng khẩn hoang lập đồn điền Đồn điền cũng đồng nghĩa với trang trại Người nước ngoài gọi là Farm
và cũng được dịch là trang trại, là đồn điền Lực lượng lao động khai hoang lậpđồn điền chủ yếu là phạm nhân, tù binh và một số binh lính đóng đồn ởcác địa phương Đến đời nhà Nguyễn: Từ năm 1802 - 1855 triều đình đã ban hành
25 quyết định về khẩn hoang với hình thức chủ yếu chiêu mộ dân phiêu tán đểkhẩn hoang lập ấp trại hoặc xã Đồng thời, Nhà nước dùng binh lính và tù nhân
bị lưu đầy để khẩn hoang; hoặc giao cho tư nhân chiêu mộ dân khai phá đất
hoang để lập đồn điền - trang trại - phát canh thu tô Năm 1888 Toàn quyền
Đông Dương ra nghị định cho bọn địa chủ thực dân được quyền lập các đồn điền(trang trại)
- Về số lượng: Theo số liệu của Ban kinh tế Trung ương, hiện có 31 tỉnhthành trong cả nước có mô hình KTTT Theo con số thống kê, tính đến1/7/2009 trên phạm vi cả nước có khoảng trên 100 nghìn trang trại, với tổng sốvốn khoảng
58.821.400.000 đồng
Gồm các loại trang trại trồng cây hàng năm (chiếm 35,9%), trang trạitrồng cây lâu năm (27,3%), trang trại nuôi trồng thuỷ sản (27,9%), các trang trạichăn nuôi, trang trại lâm nghiệp, trang trại kinh doanh tổng hợp tỷ lệ còn thấp
Trang 38+ Vùng Tây nguyên từ 2-5 ha còn trên 30 ha chiếm tỷ lệ 12%.
+ Miền Đông Nam bộ phần lớn từ 5-10 ha, còn trên 30 ha chiếm 10%
+ Vùng Đồng Bằng Nam bộ 15-18 ha và trên 30 ha chiếm tỷ lệ lớn 18%
Tuy nhiên ở mỗi vùng vẫn có những trang trại cá biệt có quy mô lớn hàngtrăm ha như một số trang trại ở vùng Tây Nguyên, Hoà Bình, Bình Phước, miềnĐông Nam bộ
- Về lao động: Hầu hết các lao động sử dụng lao động trong gia đình là chủyếu, một số loại hình trang trại do quy mô và tính chất sản xuất phảithường xuyên thuê mướn lao động, hoặc thuê thời vụ để đáp ứng yêu cầu củasản xuất kinh doanh
- Vốn đầu tư: Bình quân vốn đầu tư cho trồng trọt từ 15-50 triệu đồng cho
1 trang trại, nuôi trồng thuỷ sản thì cần từ 50-150 triệu đồng, ở khu vực nam Bộvốn đầu tư thường lớn hơn từ 300 triệu - 1 tỷ đồng
- Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các trang trại:
Bình quân mỗi trang trại có giá trị sản xuất đạt hơn 109 triệu đồng, giá trịsản phẩm hàng hoá đạt gần 82 triệu đồng và thu nhập đạt trên 35 triệu đồng/năm
Khối lượng sản phẩm tuy chưa nhiều nhưng chỉ với một số ít trang trại,bằng những nguồn tài nguyên đất đai, lao động sẵn có, sản xuất có hiệu quả
đã thể hiện xu thế và vai trò vị trí trang trại trong sản xuất nông lâm nghiệp Điềuđặc biệt là tỷ suất hàng hoá các trang trại chiếm tỷ lệ cao, bình quân đạt trên 80%
KTTT ở nước ta mới phát triển, việc thu thập các số liệu và đánh giá về nócòn nhiều hạn chế cho nên chưa thể đánh giá hết tác dụng của nó đối với sựphát triển KT - XH của đất nước Tuy nhiên, chúng ta đều nhận thấy rằng ở nhữngnơi KTTT phát triển thì ở đó bộ mặt nông thôn ngày càng thay đổi theo chiềuhướng tốt, đời sống vật chất, tinh thần của nông dân được nâng cao
Từ thực tế trên có thể rút ra một số kết luận:
- Lịch sử tạo lập trang trại ở nước ta đã có rải rác từ lâu ở nhiều
nơi, nhưng mới chỉ được phát triển “tự phát” từ khi có chủ trương đổi mới về tổ
chức và quản lý nền kinh tế theo tinh thần Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV(12/1986) và được phát triển nhanh, mạnh từ 1993 đến nay
Trang 39- Tốc độ và quy mô phát triển của trang trại theo hướng “tự phát” của cơ
2 ha, phổ biến từ 5-10 ha, hoặc có những trang trại hàng trăm, nghìn
ha
- Trong quá trình phát triển, bên cạnh những kết quả đạt được vẫncòn những tồn tại trong lĩnh vực nhận thức lý luận và thực tiễn cần đượcnghiên cứu, rút ra những bài học cần thiết để có giải pháp phát triển và quản lý tốthơn [19], [23]
1.3 Những bài học rút ra từ nghiên cứu lý luận
Kinh tế trang trại đã bắt đầu phát triển mạnh mẽ từ những năm 1990đến nay, từ khi Đảng và Nhà nước có những chủ trương, biện pháp nhất quántheo hướng tạo điều kiện cho KTTT phát triển Việc thừa nhận chính sáchkinh tế nhiều thành phần khẳng định chính sách khuyến khích sản xuất tiểu thủcông và kinh tế tư bản tư nhân Bằng các chủ trương biện pháp thích hợp Đảng ta
đã khuyến khích kinh tế trang trại phát triển như trước hết là thay đổi các mốiquan hệ kinh tế liên quan đến quyền sử dụng đất đại vì đất đai là yếu tố đầuvào quan trọng nhất cho sản xuất nông nghiệp Giao quyền sử dụng đất cho ngườidân là bước đầu thúc đẩy kinh tế hộ và kinh tế trang trại phát triển Nghị quyết
10 của Bộ Chính trị và nghị quyết hội nghị lần thứ 6 ban chấp hành trungương Đảng khóa VI tháng
3/1989 đã thừa nhận hộ gia đình là kinh tế tự chủ ở nông thôn đồng thời khuyếnkhích kinh tế gia đình, kinh tế cá thể, kinh tế tư nhân trong nông ngư nghiệp
Từ khi bất đầu công nghiệp hóa kinh tế trang trại ở phía Bắc đã hình thành vàphát triển, đến khi trình độ công nghiệp hóa đã ở mức cao KTTT và giữ được vaitrò trong lực lượng sản xuất hàng hóa nông sản, KTTT là loại hình sản xuấtnông nghiệp phù hợp với yêu cầu công nghiệp hóa
Để KTTT tiếp tục phát triển và thực sự vững mạnh cần có một số giải pháp
Trang 40tập trung nhằm hình thành vùng sản xuất tập trung, đáp ứng nhu cầu thị trường.Định hướng phát triển cây trông vật nuôi cho phù hợp vùng quy hoạch Pháthuy thế