1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống cúc và biện pháp kỹ thuật sản xuất hoa cúc có triển vọng tại thành phố lai châu tỉnh lai châu

121 149 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 6,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ trồng đến sinh trưởng, phát triển của giống cúc Vàng Đài Loan .... Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của số giờ chiếu sáng quang gián đoạn CSQGĐ đến s

Trang 1

TRẦN XUÂN TRƯỜNG

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH

TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ GIỐNG CÚC VÀ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT SẢN XUẤT HOA CÚC CÓ TRIỂN VỌNG TẠI THÀNH PHỐ LAI CHÂU - TỈNH LAI CHÂU

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG

Trang 2

TRẦN XUÂN TRƯỜNG

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH

TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ GIỐNG CÚC VÀ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT SẢN XUẤT HOA CÚC CÓ TRIỂN VỌNG TẠI THÀNH PHỐ LAI CHÂU - TỈNH LAI CHÂU

Ngành: Khoa học cây trồng

Mã số: 60.62.01.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THÚY HÀ

THÁI NGUYÊN - 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi.Các số liệu,kết quả nghiên cứu trong bản luận văn này là trung thực và chưa được ai công bốtrong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ

rõ nguồn gốc

Lai Châu,tháng10 năm 2015

Tác giả luận văn

Trần Xuân Trường

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành công trình nghiên cứu này, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp

đỡ của nhà trường, hợp tác xã sản xuất Nông nghiệp chất lượng cao và của các thầy

cô giáo, các đồng chí, đồng nghiệp

Nhân dịp hoàn thành luận văn, tôi chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến

TS Nguyễn Thuý Hà, người hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôithực hiện đề tài và hoàn thành bản luận văn tốt nghiệp

Cũng nhân dịp này, tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn tới Hợp tác xã sản xuấtNông nghiệp chất lượng cao đã tạo điều kiện để tôi hoàn thành các thí nghiệm

Tôi cũng trân trọng gửi lời cảm ơn tới các thầy giáo, cô giáo - Trường Đạihọc Nông lâm Thái Nguyên và các đồng chí, đồng nghiệp đã tạo điều kiện, giúp đỡ,hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu để có thể hoàn thành luậnvăn này

Lai Châu,tháng10 năm 2015

Tác giả luận văn

Trần Xuân Trường

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC .iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU vii

DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH ix

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích, yêu cầu đề tài 2

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn đề tài 3

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

1.1.1 Cơ sở khoa học của nghiên cứu giống 4

1.1.2 Cơ sở xác định thời vụ trồng 5

1.1.3 Cơ sở xác định ánh sáng 5

1.1.4 Cơ sở xác định phân bón qua lá 6

1.2 Tình hình sản xuất, phát triển hoa cây cảnh trên thế giới và Việt Nam

6 1.2.1 Tình hình sản xuất và phát triển hoa cây cảnh trên thế giới 6

1.2.2 Tình hình sản xuất và phát triển hoa cây cảnh ở Việt Nam 8

1.3 Kết quả nghiên cứu về hoa cúc trên thế giới và Việt Nam 10

1.3.1 Một số giống hoa cúc được trồng phổ biến ở Việt Nam 10

1.3.2 Nghiên cứu về nhân giống 13

1.3.3 Nghiên cứu về thời vụ 14

1.3.4 Nghiên cứu về dinh dưỡng qua lá 15

1.3.5 Nghiên cứu về chất kích thích sinh trưởng 18

1.3.6 Nghiên cứu về ánh sáng 19

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 21

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 21

Trang 6

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 22

2.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 22

2.2.1 Nội dung 22

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu 22

2.2.3 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 24

2.2.4 Các biện pháp kỹ thuật áp dụng 27

2.2.5 Phương pháp xử lý số liệu 28

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29

3.1 Kết quả nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và chất lượng hoa của một số giống hoa cúc 29

3.1.1 Khả năng sống sau trồng của các giống hoa cúc 29

3.1.2 Đặc điểm thực vật học các giống cúc thí nghiệm 29

3.1.3 Các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của các giống cúc thí nghiệm 31

3.1.4 Khả năng sinh trưởng các giống cúc thí nghiệm 33

3.1.5 Năng suất, chất lượng hoa các giống cúc thí nghiệm 40

3.1.6 Ảnh hưởng của giống đến tình hình sâu hại hoa cúc 41

3.1.7 Ảnh hưởng của giống đến tình hình bệnh hại hoa cúc 43

3.1.8 Hiệu quả kinh tế các giống cúc thí nghiệm 44

3.2 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ trồng đến sinh trưởng, phát triển của giống cúc Vàng Đài Loan 45

3.2.1 Đặc điểm sinh trưởng, phát triển, nở hoa giống cúc Vàng Đài Loan 45

3.2.2 Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến tỷ lệ nở hoa, chất lượng hoa giống cúc vàng Đài Loan 46

3.2.3 Ảnh hưởng của thời vụ đến tình hình sâu hại giống cúc Vàng Đài Loan

48 3.2.4 Ảnh hưởng của thời vụ đến tình hình bệnh hại giống cúc Vàng Đài Loan 49

3.2.5 Hiệu quả kinh tế giống cúc Vàng Đài Loan trồng ở các thời vụ 49

3.3 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của số giờ chiếu sáng quang gián đoạn (CSQGĐ) đến sinh trưởng và phát triển giống cúc Vàng Đài Loan 50

3.3.1 Tỷ lệ sống của giống cúc Vàng Đài Loan tại các công thức thí nghiệm 50

3.3.2 Ảnh hưởng của số giờ CSQGĐ đến động thái tăng trưởng chiều cao giống cúc vàng Đài Loan 50

Trang 7

3.3.3 Ảnh hưởng của số giờ CSQGĐ đến động thái ra lá giống cúc Vàng Đài Loan

53

3.3.4 Ảnh hưởng của số giờ CSQGĐ đến các giai đoạn sinh trưởng phát triển giống cúc vàng Đài Loan 56

3.3.5 Ảnh hưởng của số giờ CSQGĐ đến năng suất, chất lượng hoa giống cúc Vàng Đài Loan 57

3.3.6 Ảnh hưởng của số giờ CSQGĐ đến tình hình sâu hại giống cúc Vàng Đài Loan 58

3.3.7 Ảnh hưởng của số giờ CSQGĐ đến tình hình bệnh hại giống cúc Vàng Đài Loan 60

3.3.8 Hiệu quả kinh tế của việc sử dụng CSQGĐ lên giống cúc Vàng Đài Loan 60

3.4 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón lá đến khả năng sinh trưởng, phát triển giống cúc Vàng Đài Loan 61

3.4.1 Tỷ lệ sống giống cúc Vàng Đài Loan trong thí nghiệm 61

3.4.2 Ảnh hưởng của phân bón qua lá đến động thái tăng trưởng chiều cao cây giống cúc Vàng Đài Loan 62

3.4.3 Ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến động thái ra lá giống cúc Vàng Đài Loan 64

3.4.4 Ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến các giai đoạn sinh trưởng, phát triển giống cúc Vàng Đài Loan 67

3.4.5 Ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến năng suất, chất lượng hoa giống cúc Vàng Đài Loan 68

3.4.6 Ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến tình hình sâu hại giống cúc Vàng Đài Loan 70

3.4.7 Ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến tình hình bệnh hại giống cúc Vàng Đài Loan 71

3.4.8 Hiệu quả kinh tế của phân bón lá trên giống cúc Vàng Đài Loan 72

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 73

TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

MỘT SỐ HÌNH ẢNH CỦA ĐỀ TÀI 78

PHỤ LỤC 79

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

Bảng 3.1: Khả năng sống sau trồng của các giống thí nghiệm 29

Bảng 3.2: Một số đặc trưng hình thái thân lá các giống cúc thí nghiệm 30

Bảng 3.3: Các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của các giống cúc thí nghiệm

32 Bảng 3.4: Ảnh hưởng của giống đến động thái tăng trưởng chiều cao 34

Bảng 3.5: Ảnh hưởng của giống đến động thái ra lá của các giống 36

Bảng 3.6: Ảnh hưởng của giống đến một số đặc điểm hình thái cây 39

Bảng 3.7: Năng suất, chất lượng hoa các giống cúc thí nghiệm 40

Bảng 3.8: Ảnh hưởng của giống đến tình hình sâu hại hoa cúc 42

Bảng 3.9: Ảnh hưởng của giống đến tình hình bệnh hại hoa cúc 43

Bảng 3.10: Hiệu quả kinh tế các giống cúc thí nghiệm 44

Bảng 3.11: Đặc điểm sinh trưởng, phát triển và nở hoa giống cúc Vàng Đài Loan 45

Bảng 3.12: Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến tỷ lệ nở hoa, chất lượng hoa giống cúc vàng Đài Loan 47

Bảng 3.13: Ảnh hưởng của thời vụ đến tình hình sâu hại giống cúc Vàng Đài Loan 48

Bảng 3.14: Ảnh hưởng của thời vụ đến tình hình bệnh hại giống cúc Vàng Đài Loan 49

Bảng 3.15: Hiệu quả kinh tế giống cúc Vàng Đài loan trồng ở các thời vụ 49

Bảng 3.16: Tỷ lệ sống giống cúc Vàng Đài Loan tại các công thức 50

Bảng 3.17: Ảnh hưởng của số giờ CSQGĐ đến động thái tăng trưởng chiều cao giống cúc Vàng Đài Loan 51

Bảng 3.18: Ảnh hưởng của số giờ CSQGĐ đến động thái ra lá giống cúc Vàng Đài Loan 54

Bảng 3.19: Ảnh hưởng của số giờ CSQGĐ đến các giai đoạn sinh trưởng phát triển giống cúc Vàng Đài Loan 56

Bảng 3.20: Ảnh hưởng của số giờ CSQGĐ đến năng suất, chất lượng hoa giống cúc vàng Đài Loan 57

Trang 11

Bảng 3.22: Ảnh hưởng của số giờ CSQGĐ đến bệnh hại giống cúc Vàng

Đài Loan 60Bảng 3.23: Hiệu quả kinh tế của CSQGĐ lên giống cúc Vàng Đài Loan 61Bảng 3.24: Tỷ lệ sống giống cúc Vàng Đài Loan trong thí nghiệm 61Bảng 3.25: Ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến động thái tăng trưởng

chiều cao cây giống cúc vàng Đài Loan 62Bảng 3.26: Ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến động thái ra lá giống

cúc vàng Đài Loan 65Bảng 3.27: Ảnh hưởng của các phân bón lá đến các giai đoạn sinh trưởng,

phát triển giống cúc Vàng Đài Loan 67Bảng 3.28: Ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến năng suất, chất lượng

hoa giống cúc Vàng Đài Loan 69Bảng 3.29: Ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến tình hình sâu hại giống

cúc Vàng Đài Loan 71Bảng 3.30: Hiệu quả kinh tế của phân bón lá trên giống cúc vàng Đài Loan 72

Trang 12

DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH

Hình 3.1: Ảnh hưởng của giống đến động thái tăng trưởng chiều cao 34Hình 3.2: Ảnh hưởng của giống đến động thái ra lá 37Hình 3.3: Ảnh hưởng của số giờ chiếu sáng quang gián đoạn đến động thái

tăng trưởng chiều cao cây giống cúc Vàng Đài Loan 52Hình 3.4: Ảnh hưởng của CSQGĐ đến động thái ra lá giống cúc Vàng Đài Loan 54

Hình 3.5: Ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến động thái tăng trưởng

chiều cao cây giống cúc vàng Đài Loan 63Hình 3.6: Ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến động thái ra lá giống cúc

Vàng Đài Loan 65

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hoa là cây trồng đóng vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp và đờisống của con người Khi chất lượng cuộc sống được nâng lên thì nhu cầu sử dụnghoa cũng tăng theo Hoa đang được lựa chọn để biểu trưng của động lực và cảm xúc(Cao Thị Thanh, 2007) [18], các sản phẩm từ hoa là món ăn tinh thần quan trọngtrong đời sống con người, nó còn là sản phẩm đặc biệt không thể thiếu trong các dịptết, lễ hội, hội nghị,… Như vậy, hoa không chỉ đem lại giá trị tinh thần cho người sửdụng thưởng thức mà còn đem lại giá trị kinh tế cao cho người sản xuất

Hoa cúc là cây trồng được du nhập vào nước ta từ khoảng thế kỷ XV, ngườiViệt Nam coi hoa cúc là biểu tượng của sự thanh cao, là một trong những loài hoa

mộc được xếp vào hàng tứ quý “tùng, trúc, cúc, mai” Hoa cúc còn được liệt kê vào

loại hoa cao quý, tượng trưng cho người quân tử, tượng trưng cho 4 mùa tứ quý:

“Đua chen Thu Cúc, Xuân Đào Lựu phun lửa Hạ, Mai chào gió Đông”

Lai Châu là tỉnh địa đầu biên giới phía Bắc, có điều kiện tự nhiên về đất đai,khí hậu,… cơ bản thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cây hoa cúc Hiệnnay, đời sống ngày càng được nâng cao, nhu cầu thẩm mỹ ngày càng lớn, vì vậycùng với sự phát triển kinh tế của tỉnh, nhu cầu hoa ở đây trong những năm tới cũngngày một tăng cao Đây là điều kiện thuận lợi, là tiền đề để phát triển, mở rộng sảnxuất hoa, cây cảnh trên địa bàn Hiện tại, khu vực xung quanh thành phố Lai Châu

đã hình thành nhiều mô hình trang trại sản xuất hoa, cây cảnh; từng bước đã hìnhthành một số vùng sản xuất hoa, cây cảnh mang tính chuyên canh tập trung Tuynhiên sản xuất hoa còn gặp nhiều khó khăn như đất đai phân tán nhỏ lẻ, nguồn laođộng dồi dào, nhưng số lao động có hiểu biết về hoa, cây cảnh còn ít, cơ sở hạ tầngyếu kém, ngoài những khó khăn trên thì vấn đề về kỹ thuật trong sản xuất hoa, câycảnh cũng là một trong những khó khăn không nhỏ Người dân còn sản xuất theophương pháp truyền thống, dựa vào kinh nghiệm là chính, ít áp dụng các biện pháp

Trang 14

suất, chất lượng hoa vẫn còn thấp, mẫu mã chưa được đẹp và hấp dẫn, chủng loại vàhình dáng hoa chưa phong phú nên chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường trong vàngoài nước.

Từ khi chia tách, tái thành lập tỉnh mới năm 2004 đến nay, tỉnh đã triển khaitrồng thử nghiệm một số loài hoa, kết quả cho thấy rằng, các giống hoa cơ bảnphù hợp với điều kiện sinh thái của địa phương, đặc biệt là hoa cúc bông to, màusắc đẹp, hoa tươi lâu và mang lại hiệu quả kinh tế khá cao Do đó tỉnh có kế hoạch

mở rộng diện tích trồng hoa cúc ở những vùng có điều kiện sinh thái phù hợp

Tuy nhiên, hoa cúc là giống cây trồng mới trồng ở địa phương, các biệnpháp kỹ thuật trồng, chăm sóc phù hợp với điều kiện tự nhiên tại đây chưađược nghiên cứu một cách hệ thống và đầy đủ Chính vì vậy, chúng tôi triển khai

đề tài: “Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống cúc và

biện pháp kỹ thuật sản xuất hoa cúc có triển vọng tại thành phố Lai Châu - tỉnh Lai Châu”.

2 Mục đích, yêu cầu đề tài

2.1 Mục đích

- Xác định khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống hoa cúc để tìm

ra giống cúc có năng suất, chất lượng tốt, màu sắc đẹp phù hợp với thị hiếu ngườitiêu dùng và thích nghi với điều kiện sinh thái tại thành phố Lai Châu - tỉnh LaiChâu

- Xác định được biện pháp kỹ thuật thích hợp để nâng cao năng suất, chấtlượng hoa và tăng hiệu quả kinh tế sản xuất hoa cúc tại thành phố Lai Châu - tỉnhLai Châu

2.2 Yêu cầu

- Nghiên cứu các giống cúc có năng suất, chất lượng tốt, màu sắc đẹp phùhợp với thị hiếu người tiêu dùng và thích nghi với điều kiện sinh thái tại thành phốLai Châu - tỉnh Lai Châu

- Nghiên cứu thời vụ trồng thích hợp cho sinh trưởng, phát triển của giốnghoa cúc có triển vọng tại thành phố Lai Châu - tỉnh Lai Châu

- Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian chiếu sáng quang gián đoạn thích hợp

Trang 16

- Nghiên cứu nồng độ phân bón lá thích hợp cho sinh trưởng, phát triển củagiống hoa cúc có triển vọng tại thành phố Lai Châu - tỉnh Lai Châu.

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học

- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp dữ liệu khoa học có giá trị về đặcđiểm hình thái, sinh trưởng, phát triển, năng suất, chất lượng các giống hoa cúc thínghiệm, từ đó tìm ra được giống hoa thích hợp trồng tại thành phố Lai Châu - tỉnhLai Châu

- Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học để xác định ảnh hưởngcủa các biện pháp kỹ thuật trồng đến sinh trưởng, phát triển, năng suất, chất lượnghoa cúc

- Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu tham khảo trong nghiên cứu hoanói chung và hoa cúc nói riêng

3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

- Bổ sung một số giống hoa mới vào cơ cấu chủng loại hoa phục vụ sản xuấthoa tại thành phố Lai Châu - tỉnh Lai Châu

- Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học cho việc xây dựng quytrình trồng, chăm sóc cho giống hoa cúc

Trang 17

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

1.1.1 Cơ sở khoa học của nghiên cứu giống

Hiện nay, cây hoa cúc được trồng ở rất nhiều nước trên thế giới như Italy, HàLan, Nhật Bản, Đức, Pháp, Việt Nam,… Chúng có nguồn gốc từ Trung Quốc, NhậtBản và một số nước châu Âu (Nguyễn Xuân Linh, 2000) [11]

Theo Đào Thanh Vân và Đặng Thị Tố Nga (2007) [27] hoa cúc được trồng ởTrung Quốc cách đây 3000 năm, có nguồn gốc từ một số loài hoang dại thuộc loại

cúc (Dendranthema), trải qua quá trình trồng trọt, lai tạo và chọn lọc từ những biến

dị để trở thành những giống cúc ngày nay

Hoa cúc được du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ 15, đến đầu thế kỷ 19 đã hìnhthành một số vùng chuyên nhỏ cung cấp cho nhân dân Hiện nay cúc được trồngphổ biến ở khắp nước ta, nó có mặt ở mọi nơi, từ vùng núi cao cho đến đồng bằng,

từ nông thôn cho đến thành thị

Theo Võ Văn Chi, Dương Đức Tiến (1978) [3] cây hoa cúc có tên khoa học

là Chrysanthemum sp, trong phân loại thực vật cây hoa cúc được xếp vào lớp hai lá mầm (Dicotyledonec), phân lớp cúc (asterydae), bộ cúc (asterales), họ cúc (asteraceae), phân họ giống hoa cúc (asteroideae), chi Chrysanthemum.

Ở Việt Nam hiện nay chi Chrysanthemum có 75 giống với 200 loài, còn trên thế giới chi Chrysanthemum có 1.000 giống với 20.000 loài Trong số này có 4 loài thường được sử dụng làm cảnh và chơi hoa nhiều nhất là C morifolium, C.

maximum, C coronarium, C.indicum.

Từ những nghiên cứu về nguồn gốc, đặc điểm của hoa cúc, hiện nay có rấtnhiều giống hoa cúc được nghiên cứu, chọn lọc và đưa vào sản xuất Việc nghiêncứu, chọn tạo và khảo nghiệm các giống hoa cúc không chỉ đáp ứng yêu cầu tìm ragiống cúc phù hợp với từng vùng khí hậu, tạo ra các sản phẩm đặc trưng về các loạihoa cúc, mà nó còn khai thác triệt để các lợi thế, tiềm năng thế mạnh của từng vùng,giúp cho việc khu vực hóa thành các vùng sản xuất tập trung, từ đó sản xuất đáp

Trang 18

1.1.2 Cơ sở xác định thời vụ trồng

Hoa cúc là cây trồng ngày ngắn, sự sinh trưởng và phát triển của cây chịu tácđộng rất lớn dưới tác dụng đồng thời của ánh sáng (quang chu kỳ) và nhiệt độ Câyhoa cúc dưới tác động của ánh sáng ngày dài sẽ không thể ra hoa được, hoặc những

nụ mới được phân hoá thành cũng dừng lại tạo thành hình đầu lá liễu Chỉ trongđiều kiện tác động của ánh sáng ngày ngắn thì cây hoa cúc mới có thể phân hoámầm hoa, sau đó tạo thành hoa Các giống cúc khác nhau lúc phân hóa mầm hoacũng yêu cầu độ dài chiếu sáng khác nhau, do vậy trong sản xuất cần hiểu rõ cácphản ứng của các giống cúc với độ dài chiếu sáng trong ngày để xác định thời vụtrồng cho phù hợp, cũng như có các biện pháp kỹ thuật tác động phù hợp như: chiếusáng bổ sung hay che bớt ánh sáng, ngắt ngọn,… để trồng sớm hoặc muộn hơn thời

vụ chính đại trà, hay để điều khiển cho hoa ra và đúng các dịp lễ tết, hội hè

1.1.3 Cơ sở xác định ánh sáng

Nếu trồng vào vụ Thu - Đông cần phải tính đến việc chiếu sáng bổ sung, tăngthêm độ dài chiếu sáng trong ngày để đảm bảo nhu cầu sinh trưởng, sinh dưỡng vàphát triển của cây Theo báo cáo khoa học của Viện Nghiên cứu Rau quả, ở các tỉnhmiền Bắc nếu trồng cúc vào vụ Đông cần phải chiếu sáng bổ sung mới thỏa mãnđược nhu cầu sinh trưởng sinh dưỡng của cây

Đa số các giống cúc đều phản ứng với ánh sáng ngày ngắn, chịu sự tác độngcủa quang chu kỳ ngày ngắn, trong việc phân hóa mầm hoa, tức là chúng chỉ phânhóa mầm hoa ở một điều kiện thời gian chiếu sáng ngắn nhất định trong ngày Nắmđược đặc tính này Nguyễn Quang Thạch và Đặng Văn Đông đã đề ra phương phápđiều chỉnh sự ra hoa của hoa cúc vào thời điểm thích hợp bằng cách che bớt ánhsáng hoặc kéo dài thời gian chiếu sáng trong ngày hoặc sử dụng quang gián đoạn(chiếu ánh sáng nhân tạo trong thời gian ngắn vào lúc nửa đêm)

Mục đích của chiếu sáng quang gián đoạn là giảm thời gian tối của mỗi ngàychứ không phải kéo dài thời gian chiếu sáng liên tục Vì vậy, nếu chiếu sáng thựchiện vào lúc nửa đêm để chia cắt thời gian chiếu sáng tối liên tục thành 2 giai đoạntối, đồng thời cũng để tăng số giờ chiếu sáng thì hiệu quả cao hơn nhiều

Trang 19

1.1.4 Cơ sở xác định phân bón qua lá

Cây trồng thường hấp thụ phân bón nhờ lông hút của bộ rễ và phụ thuộc vàonhiều yếu tố như đất đai, nước, giống, thời tiết, côn trùng, vi sinh vật, Song từ lâucác nhà khoa học đã chứng minh được rằng ngoài hút chất dinh dưỡng từ đất câytrồng còn hút các chất dinh dưỡng ở dạng khí như CO2, O2, SO2,… từ bầu khíquyển qua lỗ khí khổng (Nguyễn Hạc Thúy, 2001) [23] Bằng phương pháp đồng vịphóng xạ các nhà khoa học đã phát hiện ra, ngoài bộ phận lá các bộ phận khác nhưthân, cành, hoa, quả đều có khả năng hấp thu chất dinh dưỡng

Với việc thực hiện nhiều thực nghiệm khác nhau các nhà khoa học đã pháthiện việc phun các chất dinh dưỡng dạng hòa tan vào trong lá, chúng thâm nhập vào

cơ thể cây xanh qua lỗ khí khổng cả ngày lẫn đêm

Cơ chế đóng mở khí khổng không chỉ có liên quan chặt chẽ đến kích thướcdài rộng của lỗ, liên quan đến ánh sáng, ẩm độ không khí, nhiệt độ, độ ẩm đất, cácchất dinh dưỡng và sức sống của cây, mà còn liên quan chặt chẽ giữa axit abxixic,

pH dịch bào và ion kali Lỗ khí khổng có kích thước dài 7 - 40 µm, rộng 2 - 12 µmnvới số lượng khá lớn, nếu bón phân qua lá vào thời điểm khí khổng mở rộng hoàntoàn thì đạt hiệu quả cao

Nắm được các đặc điểm này, hiện nay đã có nhiều công trình khoa họcnghiên cứu về các loại chất dinh dưỡng qua lá phục vụ sản xuất Những công trìnhnghiên cứu này đã góp phần tăng tối đa lợi nhuận cho người sản xuất thông qua việc

sử dụng phân bón qua lá hiệu quả, giảm thất thoát phân bón trong sản xuất, giúp câycây khoẻ hơn, chịu được sâu bệnh, không làm tác động xấu đến đất như rửa trôi,làm chua đất như khi bón nhiều và liên tục phân bón hoá học vào đất

1.2 Tình hình sản xuất, phát triển hoa cây cảnh trên thế giới và Việt Nam

1.2.1 Tình hình sản xuất và phát triển hoa cây cảnh trên thế giới

Sản xuất hoa, cây cảnh là ngành sản xuất kinh doanh mang lại lợi nhuận caocho nền kinh tế các nước trồng hoa, cây cảnh trên thế giới Do vậy, diện tích trồnghoa ngày càng được mở rộng và tăng lên ở nhiều nước trên thế giới như: TrungQuốc, Đức, Mỹ, Ấn Độ, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Hà Lan, Pháp, Anh, Úc,Kenya, Colombia, …

Trang 20

Theo thống kê của Hiệp hội Hoa Trung Quốc, nước này đã sản xuất gần 9 tỉcành hoa tươi mỗi năm Với diện tích trồng hoa đạt 636.000 ha, chiếm 1/3 diện tíchtrồng hoa trên toàn thế giới, đã đưa Trung Quốc trở thành nước sản xuất hoa lớnnhất thế giới trong khi cách đây 20 năm, công nghiệp sản xuất hoa tươi gần nhưkhông tồn tại ở nước này.

Ngày nay sản xuất hoa trên thế giới đang phát triển một cách mạnh mẽ và trởthành một ngành thương mại cao Sản xuất hoa mang lại lợi ích to lớn cho nền kinh

tế các nước trồng hoa, trong đó có các nước châu Á Diện tích trồng hoa trên thếgiới ngày càng được mở rộng và không ngừng tăng lên Ba nước sản xuất hoa lớnnhất chiếm 50% sản lượng hoa thế giới là Nhật Bản, Hà Lan, Mỹ

Hà Lan là cường quốc của các loài hoa trên thế giới với kim ngạch xuất khẩuhoa hàng năm luôn đứng ở mức cao so với các nước trong khu vực Liên minh châu

Âu (EU), không chỉ trồng hoa tươi xuất khẩu, mà còn nhập khẩu một lượng lớn hoatươi từ các nước khác để xuất khẩu Sản phẩm hoa nhập từ các nước đang phát triểnvào EU thông qua Hà Lan không phải chịu thuế nhập khẩu nên đã tạo điều kiệnthuận lợi cho các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam thâm nhập thị trườngchâu Âu

Ở các nước châu Á, châu Phi và châu Mỹ ngành sản xuất hoa cây cảnh ngàycàng được phát triển mạnh Ở châu Phi, Kenya là nước trồng nhiều hoa nhất với diệntích 2.180 ha Nam Phi và Zimbabwe có diện tích trồng hoa khoảng 1.100 ha.Hướng sản xuất hoa, cây cảnh hiện nay của các nước trồng hoa trên thế giới làtăng năng suất, giảm chi phí, hạ giá thành, nhưng vẫn đảm bảo hoa đẹp, tươi, chấtlượng cao và luôn thay đổi mẫu mã để phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của ngườitiêu dùng

Theo số liệu thống kê của tổ chức thương mại thế giới (WTO), sản lượng hoaxuất khẩu chiếm khoảng 13,362 tỷ USD vào năm 2006, trong số đó hoa cắt cành là6,12 tỷ USD, hoa trồng chậu là 5,79 tỷ USD, sử dụng lá để trang trí là 893 triệuUSD và các loại hoa khác là 559 triệu USD Nhìn chung hoa cắt hay hoa trồngchậu trên thế giới được tiêu thụ với một số lượng rất lớn, ngày càng yêu cầu cao vềchất lượng để phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau như sử dụng cho tiêu dùng,

Trang 22

Theo số liệu tổng hợp của Jan Plasmeijer và Chumi Yanai (2012) [33] giá trịxuất khẩu hoa, cây cảnh năm 2011 của các nước trên thế giới đạt 10,486 tỷ euro,trong đó hoa và cây cảnh 5,243 tỷ euro, hoa cắt cành đạt 3,204 tỷ euro và hoa trồngchậu là 2,039 tỷ euro Các nước có giá trị xuất khẩu lớn như Đức, Hà Lan, Anh,Pháp, Italy, Bỉ, Nga,…

1.2.2 Tình hình sản xuất và phát triển hoa cây cảnh ở Việt Nam

Nghề sản xuất hoa và cây cảnh ở Việt Nam có từ lâu đời, nhưng chỉ đượccông nhận là một ngành kinh tế có giá trị hàng hoá từ những năm 80 của thế kỷtrước Cũng giống như trên thế giới, ngành kinh tế này có tốc độ phát triển khánhanh ở nhiều địa phương

Hiện nay, nhiều chủng loại hoa cúc đã được trồng phổ biến ở khắp nước ta.Một số vùng sản xuất chính là Hà Nội, Hải Phòng, Sa Pa - Lào Cai, Mộc Châu -Sơn La, Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Lâm Đồng, trong đó Đà Lạt là nơi lýtưởng cho việc sinh trưởng và phát triển của hầu hết các loại hoa cúc Đà Lạt có đấtđai phù hợp, khí hậu thuận lợi, người dân có truyền thống trồng hoa, nên một sốcông ty nước ngoài đã lập doanh nghiệp hoặc liên doanh để sản xuất hoa, riêng tỉnhLâm Đồng đã có 4 công ty như Nhật Bản, Thái Lan ở Bảo Lộc; Đài Loan ở DiLinh; Chánh Đài Lâm ở Đức Trọng và Hasfarm ở Đà Lạt với 100% vốn nước ngoàichuyên trồng hoa cắt, đặc biệt là hoa cúc chùm trong nhà kính, nhà che,… đây lànơi cung cấp 60% sản lượng hoa cho thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Bắcchủ yếu là Hà Nội, Hải Phòng, …

Theo số liệu thống kê và điều tra tổng hợp của Viện Nghiên cứu Rau quảTrung ương năm 2014 [1], diện tích trồng hoa cây cảnh tăng với tốc độ nhanh, từdiện tích chỉ có 3.500 ha năm 1994 đã tăng lên 17.300 ha vào năm 2013 và đạt19.400 ha vào năm 2014, đưa tổng giá trị sản xuất năm 2014 đạt 6.790 tỷ đồng, giátrị thu nhập trung bình của nghề sản xuất hoa cây cảnh đạt 350 triệu đồng/ha/năm.Như vậy, so với năm 1994, diện tích trồng hoa, cây cảnh năm 2014 đã tăng 5,5 lần,giá trị sản lượng tăng 38 lần và mức tăng giá trị thu nhập/ha là 6,8 lần Tốc độ tăngtrưởng này là rất cao so với các ngành nông nghiệp khác Để có những kết quả đột

Trang 23

phá này, theo các chuyên gia của Viện Nghiên cứu Rau quả Trung ương, đó là sựđóng góp của nhân tố xã hội chiếm khoảng 40%; sự đầu tư của Nhà nước về cơ sở

hạ tầng và cơ chế chính sách chiếm 15%; sự nỗ lực của người dân 25% và do kếtquả đóng góp của khoa học 20%

Hiện nay, thành phố Hồ Chí Minh vẫn là thị trường tiêu thụ hoa lớn nhất củaViệt Nam và cũng là vùng sản xuất hoa trọng điểm Diện tích sản xuất hoa, cây cảnhtrên địa bàn thành phố năm 2013 đạt 2.090 ha, tập trung ở một số quận huyện nhưBình Chánh, Củ Chi, Quận 12, Thủ Đức, Hóc Môn,… giá trị sản xuất đạt khoảng1.138 tỷ đồng Để có được kết quả này thành phố đã thực hiện tốt một số giải phápnhư nghiên cứu, lập quy hoạch phát triển hoa, cây cảnh trên địa bàn thành phố đếnnăm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; Tăng cường công tác ứng dụng công nghệ sinhhọc; Tập trung chuyển giao kỹ thuật thông qua xây dựng các mô hình về hoa, câycảnh; Giải quyết kịp thời chính sách hỗ trợ sản xuất và tiêu thụ hoa, cây cảnh,

Cùng với thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội cũng là nơi sản xuất và tiêu thụhoa hàng đầu ở Việt Nam Diện tích trồng hoa năm 2012 của thành phố đạt 2.650 hatại các huyện Từ Liêm, Mê Linh, Hồ Tây, Đan Phượng, Thường Tín,… Trung bìnhhàng năm sản xuất hoa, cây cảnh đã cung ứng cho thị trường từ 1.000 - 1.100 triệucành hoa, 0,8 - 1,0 triệu chậu hoa và 1 - 1,2 triệu cây cảnh các loại Về tiêu thụ sảnphẩm, trên 85% sản lượng hoa, cây cảnh của Hà Nội được tiêu thụ trên địa bànThành phố và khoảng 10 - 12% được đưa đi tiêu thụ tại các tỉnh Giá trị thu nhậptrung bình 1 ha trồng hoa, cây cảnh ở Hà Nội năm 2012 đạt khoảng 260 triệu đồng/ha/năm Tại các vùng chuyên canh, có trình độ kỹ thuật và kinh nghiệm sản xuất(Từ Liêm, Mê Linh, Tây Hồ) hiệu quả của sản xuất hoa, cây cảnh khá cao, trungbình thu nhập khoảng 300 triệu đồng/ha/năm Một số diện tích hoa Hồng chất lượngcao đạt doanh thu đến 1.000 - 1.200 triệu đồng/ha/năm Trên địa bàn Hà Nội hiệnnay đã có một số cơ sở, công ty tư nhân đang hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩuhoa như: Công ty trách nhiệm hữu hạn cây cảnh Trường Xuân chuyên kinh doanhcây cảnh, nhập khẩu hoa lan từ Đài Loan, Trung Quốc; Công ty trách nhiệm hữuhạn Anh Trí chuyên kinh doanh nhập khẩu hoa từ Đài Loan, Trung Quốc; Công

Trang 24

ty trách nhiệm hữu hạn Florama Việt Nam chuyên kinh doanh và nhập khẩu hoalan; Công ty hoa Nhiệt Đới, Công ty hoa Linh Dương; Vườn Hoàng Lan, Điềunày cho chúng ta thấy ý nghĩa quan trọng của việc xuất khẩu hoa sang các nước, mở

ra một triển vọng mới cho việc xây dựng các vùng sản xuất hoa với chất lượng cao

Đà Lạt cũng là vùng sản xuất hoa trọng điểm của Việt Nam, diện tích trồnghoa của Đà Lạt tăng nhanh sau 10 năm, từ 87 ha năm 1995 đã tăng lên 425 ha vàonăm 2005 Điều này đã tạo cho Đà Lạt có bước nhảy vọt về sản lượng hoa cắt cànhtrong giai đoạn này, tăng từ 26 triệu cành năm 1995 lên 308 triệu cành vào năm

2005 Ngày nay, Đà Lạt đã hình thành nhiều khu vực chuyên canh hoa như khu vựcchuyên canh hoa cúc tại Thái Phiên; khu vực chuyên canh hoa hồng tại Vạn Thành,Nguyên Tử Lực; khu vực chuyên canh hoa lay ơn tại Xuân Thành,…

Như vậy, việc sản xuất và phát triển hoa ở nước ta đã có bước phát triểnmạnh mẽ bên cạnh những điều kiện thuận lợi, song cũng gặp phải không ít khókhăn như: Các giống hoa mang bản quyền Việt Nam chưa nhiều, sản xuất còn manhmún, diện tích hoa áp dụng công nghệ cao chưa nhiều, sự liên kết giữa các cơ quankhoa học, doanh nghiệp và người dân chưa cao, từ đó dẫn đến sức cạnh tranh sảnphẩm hoa của Việt Nam chưa cao trên thị trường quốc tế Ngoài ra việc sản xuất tảnmạn, thiếu quy hoạch; liên doanh, liên kết còn thiếu và yếu, trình độ kỹ thuật sảnxuất còn nhiều hạn chế; thương mại hóa và quảng bá sản phẩm chưa được chútrọng, trong khi phải cạnh tranh với các nước có ngành hoa, cây cảnh phát triểntrong khu vực cũng là những khó khăn thách thức mà ngành sản xuất hoa của ViệtNam phải vượt qua

1.3 Kết quả nghiên cứu về hoa cúc trên thế giới và Việt Nam

1.3.1 Một số giống hoa cúc được trồng phổ biến ở Việt Nam

1.3.1.1 Những giống địa phương

(1) Cúc vàng hè Đà Lạt: Cây cao 40 - 50 cm, thân mảnh và cong, đường kính

hoa 4 - 5 cm Cánh ngắn mềm, màu vàng tươi, phiến lá to, màu xanh vàng Chịunóng tốt, thời gian sinh trưởng 3 - 4 tháng

(2) Cúc họa mi: Cây cao 45 - 55 cm, khả năng phân cành mạnh, hoa đơn nhỏ

đường kính 3 - 4 cm, cánh dài mềm, màu trắng Khả năng chịu rét kém, thời giansinh trưởng dài tới 5 - 6 tháng

Trang 25

(3) Cúc chi Đà Lạt: Cây cao 40 - 50 cm, cây bụi thân nhỏ cong, phiến lá to

mỏng, màu xanh nhạt, hoa đơn nhỏ đường kính 2 - 2,5 cm cánh vòng ngoài có màutrắng, giữa có màu vàng nhạt Thời gian sinh trưởng 3 - 4 tháng

(4) Cúc chi thơm trắng: Dạng cây bò lan, cành mềm, lá nhỏ màu xanh đậm,

hoa nhiều chỉ to bằng cúc áo, đường kính khoảng 1 - 1,5 cm có màu trắng, mùithơm nhẹ, thường dùng để ướp chè, nấu rượu cúc

(5) Cúc chi thơm vàng: Hình dạng giống chi thơm trắng nhưng có màu vàng

đậm mùi thơm hắc Trong sản xuất thường để cho cây sinh trưởng phát triển tựnhiên, thích hợp cho việc trồng chậu, trồng bồn hơn là để cắm bình

(6) Cúc đại đoá vàng: Còn gọi là Hoàng Long Chảo, cây cao 60 - 80 cm, thân

yếu phải có cọc đỡ, dạng hoa kép to, đường kính 8 - 10 cm, cánh dày xếp khôngchặt, khả năng chịu rét kém nhưng chịu hạn tốt, thời gian sinh trưởng dài từ 5 - 6tháng

(7) Cúc đỏ Ấn Độ: Cây cao 40 - 60 cm, thân bụi, lá tròn to màu xanh đậm,

hoa kép nhỏ đường kính 3 - 4 cm, màu đỏ sẫm, cánh hoa ngắn đều và rất đứng.Thường để trồng chậu, chịu rét tốt

(8) Cúc tím hoa cà: Cây cao 50 - 60 cm, thân cong, đốt dài, hoa có màu tím

nhạt, đường kính hoa 6 - 8 cm, cánh dài mềm cuốn ra phía ngoài Khả năng chịu rétcao

(9) Cúc vàng tàu: Cây cao 50 - 60 cm, lá to dài màu xanh nhạt, hoa kép có

màu vàng nghệ, đường kính 6 - 8 cm

(10) Cúc gấm (cúc mâm xôi): Dạng cây bụi cao khoảng 30 - 40 cm, khả năng

phân cành rất mạnh tạo thành một thế hình hơi tròn trông xa giống như mâm xôi.Trong sản xuất thường bấm ngọn và cành phụ nhiều lần để tạo cho cây có đườngkính tán lớn nhất rất thích hợp cho trang trí khuôn viên, vườn hoa, nhà cửa Hoa képnhỏ khoảng 2 - 3 cm, có màu vàng pha nâu, giống này thường trồng sớm và khảnăng chịu rét kém, có thời gian sinh trưởng dài

(11) Cúc kim tử nhung: Cây cao 50 - 60 cm, thân cứng, lá to dài, răng cưa

sâu, có màu xanh đậm, hoa kép to đường kính 8 - 10 cm, hoa có màu vàng nghệ pha

Trang 27

1.3.1.2 Những giống cúc mới nhập nội

(1) Cúc CN 93: Là giống cúc trắng Giống được nhập nội, chọn lọc và đưa ra

sản xuất từ Trung tâm Hoa cây cảnh - Viện Di truyền nông nghiệp Đây là giống cógiá trị kinh tế cao, thân mập thẳng, lá xanh to, hoa kép to có đường kính 10 - 12 cmcánh dày xếp sít chặt nhau, hoa bền thời gian cắm lọ trên 2 tuần Thời gian sinhtrưởng ngắn, có thể trồng được nhiều vụ trong năm Năm 1996 giống này đã đượccông nhận là giống quốc gia Hiện nay giống phát triển rất rộng rãi ở khắp các tỉnh

(2) Cúc CN 97: Là giống cúc được nhập nội, chọn lọc và đưa ra sản xuất từ

Trung tâm Hoa cây cảnh - Viện Di truyền nông nghiệp Cây cao 55 - 65 cm, thân tomập, lá xanh dày, hoa kép màu trắng sữa, cánh dày đều, xếp rất chặt, đường kínhhoa 10 - 12 cm, khả năng chịu rét tốt

(3) Cúc CN 98: Là giống cúc được nhập nội, chọn lọc và đưa ra sản xuất từ

Trung tâm Hoa cây cảnh - Viện Di truyền nông nghiệp Giống cúc CN 98 có cácđặc điểm giống như cúc CN 93 Cây cao thẳng từ 60 - 70 cm, hoa to bền mầu vàngchanh, thời gian sinh trưởng ngắn từ 2,5 - 3 tháng, chịu nóng tốt Giống cúc CN 98

đã được hội đồng khoa học Bộ Nông nghiệp và PTNT cho phép khu vực hoá năm

1998 Hiện đang phát triển rộng trong sản xuất

(4) Cúc tím hè: Cây cao 60 - 65 cm, thân thẳng mập, lá thuôn dài, răng cưa

sâu, hoa to có đường kính hoa 8 - 10 cm, có mầu sẫm

(5) Cúc vàng Đài Loan: Cây cao 60 - 70 cm, lá xanh dày, hoa kép to có nhiều

tầng xếp rất chặt, đường kính hoa 10 - 12 cm Tuổi thọ của hoa dài, hoa có màuvàng nghệ Thời gian sinh trưởng từ 5 - 6 tháng, khả năng chịu rét trung bình

(6) Cúc tím xoáy: Cây cao 60 - 65 cm, thân thẳng mảnh, lá to xanh, hoa kép,

các cánh hoa ngắn đều xếp xoáy vào phía trong nhụy, có màu tím, khả năng chịu rét

rất tốt (7) Cúc tím Hà Lan: Cây cao 45 - 50 cm, phiến lá dày màu xanh đậm, đường

kính hoa 5 - 6 cm, có màu tím hồng

(8) Cúc đỏ tiết dê: Cây cao 45 - 55 cm, thân mập khỏe, phiến lá to, răng cưa

sâu, hoa kép, cánh mềm đều sếp sít nhau, đướng kính hoa 8 - 10 cm, có màu đỏ sẫmrất lâu tàn

Trang 28

(9) Cúc tím sen: Có nguồn gốc từ Hà Lan, thân mập thẳng, lá to màu xanh

đậm, dạng hoa kép, đường kính hoa từ 8 - 10 cm có màu tím sen, khả năng chịu rétrất tốt

(10) Cúc xanh: Có nguồn gốc từ Pháp Cây cao 50 - 60 cm Thân yếu và

cong Lá xanh vàng Hoa kép, có màu xanh lục Cánh nhỏ, dài và xoắn lại, trông xanhư cuộn len bị rối Đường kính hoa 6 - 7 cm Có thể để 1 cành hay nhiều cành trêncây

(11) Tập đoàn cúc chi: Có nguồn gốc từ Singapore Gồm rất nhiều dòng

giống đa dạng với màu sắc khác nhau (trắng, tím, vàng, hồng, đỏ, cánh sen… hoặccác màu pha lẫn nhau) Đặc điểm chung là thân bụi, cánh mành và yếu, lá thưa màuxanh nhạt, thân cao 40 - 70 cm Hoa đơn hoặc hoa kép, đường kính hoa từ 2 - 5 cm.Trồng vào vụ Thu Đông Những giống cúc này thường trồng thưa không bẻ nhánh,tỉa nụ con, cho cây sinh trưởng phát triển tự nhiên để thu được nhiều cành hoa trêncây

1.3.2 Nghiên cứu về nhân giống

Có nhiều phương pháp nhân giống cúc, tuy nhiên phương pháp nhân giốngbằng hình thức nuôi cấy mô được các tác giả trên thế giới và trong nước nghiên cứunhiều nhất

Jordan và Reimann Philipp (1983) [34] đã nghiên cứu sự di truyền đặc điểm

có sắc tố Anthocyanin ở cây nguyên sinh và Carotene của sắc lạp ở các tế bào cành

hoa của C.morifolium Ramat bằng sự phân tích di truyền ở đời sau của các phép lai.

Kết quả cho thấy sự có mặt của một gen A quy định sự hình thành Anthocyanintrong khi gen I khống chế sự sản xuất Carotene Hoa màu vàng được hình thànhtrong sự vắng mặt của cả 2 gen A và I, trong khi hoa màu trắng là do vắng mặt gen

A Sự có mặt của cả gen A và gen I cho ra hoa màu hồng

Theo Kennth và Toress (1990) [31] đã nuôi cấy mô thành công từ đoạn thân

và lá của giống cúc màu tím trên môi trường MS Tỷ lệ hình thành chồi đạt 100%

và trung bình các cây được nuôi cấy mô sau 3 - 4 tháng đã ra hoa

Khi nghiên cứu về thành phần môi trường dinh dưỡng tác động đến sự phát

Trang 30

không có rễ bất định, còn trong môi trường từ 0,1 - 0,3mg/l Indolebutyric acid thìhình thành 1 - 2 chồi và có rễ bất định (Lunegent và Wardly, 1990) [32].

Theo Vũ Văn Khuê (2009) [9] với phương pháp nuôi cấy mô thì vật liệuđưa vào nuôi cấy là đoạn thân mang mắt ngủ, chất khử trùng thích hợp nhất là

H2O2 30% trong 12 phút cho tỷ lệ mẫu sống 60% Môi trường khởi động là MS +1,0 mg/1 BAP Giai đoạn nhân nhanh sử dụng phương pháp vi nhân giống cắtđoạn, trên môi trường MS + 0,5 mg/1 BAP + 15%ND cho hệ số nhân 7,66 lần.Môi trường ra rễ là MS + 0,25mg/l αNAA, sau 2 tuần tỷ lệ ra rễ đạt 100%, rễnhiều, bộ rễ tốt, đạt tiêu chuẩn ra ngôi sau 2 tuần Ở vườn ươm, giá thể trấu huncho chất lượng cây con tốt và tỷ lệ cây xuất vườn cao nhất so với giâm bằng cát vàđất phù sa

1.3.3 Nghiên cứu về thời vụ

Nguyễn Xuân Linh (2000) [9] qua nghiên cứu và đánh giá một số giống địaphương và nhập nội cho thấy các loại cúc này đều có thể trồng được vào các thời vụkhác nhau như vụ Hè Thu, Thu Đông và Đông Xuân, vì vậy cho phép chúng ta cóthể sản xuất hoa cúc quanh năm Tuy nhiên cần xác định đúng thời điểm trồng chophù hợp với đặc điểm của các giống hoa

Theo Nguyễn Thị Kim Lý (2002) [12] sơ bộ đánh giá vụ Thu Đông là vụchính cho hầu hết các giống cúc ra hoa với chất lượng cao nhất trong năm Nếunhững giống trồng ở vụ Hè Thu có thời gian sinh trưởng dài từ 5 - 7 tháng, thì sang

vụ này sẽ rút ngắn còn 3,5 - 4,5 tháng Những giống ít phân cành, thân mập khỏe rấtthích hợp với việc để 1 bông trên cây là CN97, vàng Đài Loan, tím xoáy,…

Do đặc điểm của cúc là cây ngày ngắn, phản ứng khá chặt với nhiệt độ vàánh sáng, nên ở điều kiện tự nhiên mỗi giống chỉ trồng trong một thời vụ nhất định.Đối với cúc Singapo trồng tại thành phố Thái Nguyên thì Đặng Thị Tố Nga (1999)[13] cho rằng giống cúc chi nhị tím thích hợp với vụ Thu - Đông, thời vụ tốt nhất là

từ tháng 7, để thu hoạch vào 20/11 thì nên trồng vào 15/7

Theo Đặng Văn Đông (2000) [4] thời vụ trồng cúc Singapo đầu đỏ ở Hà Nội

là từ 15/7 - 15/11, tốt nhất trong tháng 9, nếu trồng sớm hay muộn hơn thì năng suấthoa sẽ giảm

Trang 31

Còn theo Nguyễn Thị Kim Lý (2002) [12] nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụđến sự ra hoa của một số giống cúc thu hoạch vào dịp lễ, tết, thu hoạch kết quả:giống CN97 trồng tháng 5 - 7 để thu hoạch hoa vào dịp 20/11; vàng Đài Loan trồng10/10 để thu hoạch dịp Tết; Tím Xoáy trồng 9/12 để thu hoạch 8/3.

Thời vụ trồng hoa cúc Vàng Thược Dược để thu hoạch vào dịp 20/11 làtrồng từ 10 - 20/8, để thu hoạch vào dịp tết Nguyên đán là trồng vào 22/11 (ĐặngThị Tố Nga, 2012) [14]

1.3.4 Nghiên cứu về dinh dưỡng qua lá

Việc sử dụng phân bón thông thường cây hấp thụ nhờ lông hút của bộ rễ vàphụ thuộc vào nhiều yếu tố: đất, nước, giống, thời tiết, côn trùng, vi sinh vật… Mặtkhác chi phí phân bón trong nông nghiệp chiếm đến 30 - 50% Trong lúc đó, mụcđích của người sản xuất không chỉ nhằm đạt năng suất tối đa mà còn tìm lợi nhuậncao nhất Cho nên con người phải tìm đến những biện pháp bón phân đạt hiệu quảcao nhất, tiết kiệm nhất, hiệu suất cao nhất Phân bón qua lá là biện pháp rất quantrọng trong những biện pháp đó

Theo đề tài nghiên cứu khoa học về Nghiên cứu sản xuất phân bón của nhóm

nghiên cứu Nguyễn Huy Phiêu và Cộng sự tại Viện Thổ nhưỡng nông hoá thì câycối không những hấp thụ chất dinh dưỡng qua rễ mà còn hấp thụ qua lá, trong khidiện tích lá của cây lại gấp hàng chục lần diện tích mà rễ cây ăn tới

Theo số liệu đã được công bố, hiệu suất sử dụng chất dinh dưỡng qua lá đạttới 95% Ở Philippin dùng phân bón lá cho tăng năng suất lúa 1,5 lần so với dùngphân bón gốc qua rễ và gấp 3,3 lần khi không bón phân

Khi dùng phân bón lá cây lúa khoẻ hơn, cứng cáp hơn, chịu được sâu bệnh,không làm chua đất như khi bón nhiều và liên tục phân bón hoá học vào đất Hạtthóc cũng nặng thêm và chắc hơn, tỷ lệ gạo gãy không đáng kể, làm cho gạo củaPhilippin phù hợp với thị trường quốc tế

Dùng phân bón lá, lượng bón chỉ tốn bằng 1/4 so với phân bón qua đất

Ở nước ta, từ những năn 80, Viện Hoá học Công nghiệp đã tiến hành táchchiết axit humic từ than bùn để điều chế một số loại Humat dùng làm chất kích

Trang 32

thích sinh trưởng phun cho cây trồng Kết quả là đã được thị trường chấp nhận Tuynhiên, trình độ khoa học kỹ thuật ngày một cao, khách hàng yêu cầu bổ sung thêmcác chất dinh dưỡng đa vi lượng, chất lượng của sản phẩm đưa ra thị trường phảingày một nâng cao Nhu cầu đó hoàn toàn phù hợp với những kết quả nghiên cứucủa nhiều nước tiên tiến.

Người ta đã xác định thời kỳ cây lớn cần nhiều các nguyên tố Ca, K và N.Khi tạo hoa, trái, củ lại cần nhiều nguyên tố P, N, nguyên tố trung lượng và vi lượng

Những kết quả nghiên cứu tác dụng của Humat đã cho thấy hiệu quả về cảitạo tính chất vật lý của đất, làm thay đổi tính chất hoá học của đất và hiệu quả sinhhọc - kích thích sinh trưởng cây trồng

Trung tâm Hoa cây cảnh - Viện Di truyền nông nghiệp đã sử dụng kích phát

tố của Công ty Thiên Nông với liều lượng 1 g thuốc pha trong 1 lít dung dịch sạchrồi nhúng phần gốc của cành vào khoảng 30 phút, sau đó đem phần dung dịch thuốccòn lại pha thêm 5 g phân bón lá và phun lại trên cành giâm, cứ 3 - 5 ngày phundung dịch này 1 lần, có thể đảm bảo từ 80 - 90% số cây ra rễ với thời gian rút ngắnhơn so với đối chứng từ 2 - 4 ngày, phương pháp này được áp dụng cho việc nhângiống cúc vào mùa hè để đạt hiệu quả cao

Theo Hoàng Ngọc Thuận (2005) [21], lượng phân bón cho 1 sào bắc bộ là:

500 - 1.000 kg phân chuồng + 10 kg ure + 17 kg supe lân + 20 kg Kali sunlfat +phân bón lá phức hữu cơ Ponior khoảng 500 ml (dùng phun 3 lần, tưới 1 lần) Trong

đó, lượng phân dùng bón lót: toàn bộ lượng phân chuồng và phân lân + 4 kg ure + 4

kg kali Lượng phân bón còn lại dùng để bón thúc Có thể dùng phân chuồng phaloãng tưới thúc thêm cho cây sau trồng 15 - 20 ngày và 30 - 45 ngày Hoặc cũng cóthể thay thế bón thúc hoặc bón thúc bổ sung thời kỳ khủng hoảng dinh dưỡng(chuẩn bị phân hoá mầm hoa) bằng phân bón lá, phân phức hữu cơ sẽ làm tăng năngsuất, chất lượng hoa

Phan Thị Thu Trang (2003) [25] đã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của chế

độ phun phân bón lá phức hữu cơ Pomior đến sinh trưởng phát triển của giống cúcvàng Đà Lạt và đưa ra kết luận: phân Pomior có thể sử dụng để bón thúc cho cây

Trang 33

hoa cúc mà không cần phải bón thêm phân khoáng, với nồng độ dung dịch đã pha là0,4% và phun 10 ngày/lần sẽ cho năng suất và chất lượng hoa cao hơn khi sử dụng phân khoáng để bón thúc.

Hoàng Ngọc Thuận (2005) [22] đã tiến hành thí nghiệm so sánh việc bónthúc 2 loại phân bón NPK Sông Gianh và phân bón qua lá Pomior ở 4 nồng độ khácnhau (từ 0,2 - 0,5%) cho hoa cúc đồng tiền, tác giả cũng đưa ra kết luận: tất cả cáccông thức có bón phân Pomior, phun định kỳ 5 ngày/lần đều cho khả năng sinhtrưởng và năng suất cao hơn công thức đối chứng: bón phân thúc bằng NPK SôngGianh, trong đó, phun Pomior nồng độ 0,4% đã làm tăng năng suất và chất lượnghoa cúc đồng tiền rất rõ rệt, thể hiện tỷ lệ hoa loại 1 đạt cao hơn so với các côngthức khác

Theo Hoàng Thị Thái Hoà, Đỗ Đình Thục (2010) [7] khi nghiên cứu ảnhhưởng của một số loại phân bón lá đến sinh trưởng và phát triển của cây hoa cúc chivàng Đà Lạt tại thành phố Huế đã đưa ra kết luận phân cá có tác dụng tốt nhất cho

sự ra nụ Phân diệp lục tố có tác dụng tốt nhất trong việc nâng cao tỷ lệ nụ nở thànhhoa nên cho hiệu quả về số hoa cao nhất Phân diệp lục tố có tác dụng tốt nhất trongviệc giữ độ bền hoa và độ bền màu hoa Phân cá có tác dụng tốt nhất trong việc tăngđường kính hoa Diệp lục tố là loại phân cho hiệu quả kinh tế cao nhất, tiếp đó làphân Growmore

Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón lá P.M-6, PSB, YoGenNo2, Đầu trâu 702 trên cúc vàng Đài Loan và hoa Đồng tiền F125, Nguyễn HảiTiến (2006) [24] đã đưa ra kết luận các loại phân bón lá đều ảnh hưởng tốt đến quátrình sinh trưởng, phát triển và hiệu quả sản xuất của cây hoa cúc Nhưng các loạiphân bón lá khác nhau có ảnh hưởng ở mức độ khác nhau lên các giống hoa nghiêncứu Phân bón lá tác động làm tăng chiều cao cây, số lá trên cây, tăng năng suất,chất lượng hoa, tăng số hoa loại 1, giảm tỷ lệ sâu bệnh hại và tăng hiệu quả kinh tế

Theo Nguyễn Ngọc Tân (2011) [16] khi nghiên cứu các loại phân bón lá trêncúc Vàng Đài Loan đã đưa ra kết luận sử dụng phân bón lá Sông Gianh trên cây cúcVàng Đài Loan đã làm tăng năng suất, chất lượng và cho hiệu quả kinh tế cao nhất

Trang 34

1.3.5 Nghiên cứu về chất kích thích sinh trưởng

Theo Danai và Tongmai (1995) [30] khi đánh giá về ảnh hưởng của phânbón lá, mật độ khoảng cách và các giai đoạn thu hoạch hoa đã cho thấy chiều caocây giảm với khoảng cách cây, nhưng lại làm tăng chiều rộng và chiều dài lá Việcbón phân qua lá đã làm tăng số lượng lá/cây, mức bón phân là 150 ppm N-K (đạm-kali) đã làm tăng độ bền hoa

Theo Sanjaya L (1992) [36] khi nghiên cứu ảnh hưởng của 6 công thức xử

lý chất điều tiết sinh trưởng là IBA (axit indol butyric), IAA (axit indol axetic),NAA (Naphyl axetic axit), Biorota, Rootonef và đối chứng không xử lý đã chỉ raIBA là có hiệu quả cao nhất trong việc nâng cao số lượng rễ cũng như chiều dài rễ

Theo Nguyễn Mạnh Khải, Nguyễn Quang Thạch (1999) [8], việc sử dụngchất kích thích sinh trưởng GA3 nồng độ 50 ppm có tác dụng rõ rệt đến sự sinhtrưởng và phát triển của cúc vàng Đài Loan Trong đó, GA3 tác động mạnh ở giaiđoạn sinh trưởng sinh dưỡng, làm tăng chiều cao cây và rút ngắn thời gian nở hoa

và GA3 cũng có ảnh hưởng tốt đến sinh trưởng phát triển của cúc CN93 trong vụĐông, làm tăng tỷ lệ nở hoa và chiều cao cây, mang lại hiệu quả kinh tế cao

Hoàng Minh Tấn và Nguyễn Quang Thạch (1993) [17] đã nghiên cứu để câycúc hè có thể ra hoa vào mùa đông bằng xử lý GA3 nồng độ 20 - 25 ppm phun vàođỉnh sinh trưởng và GA3 ở nồng độ 10 - 50 ppm có thể làm tăng chiều cao cây hoacúc hoặc sử dụng Chlor cholin chlorid (CCC) 0,25 - 1% có tác dụng ức chế chiềucao của cúc trồng chậu Ngoài ra để loại bỏ tác động xấu của Etylen tác nhân gâygià hóa ở hoa có thể dùng AgNO3, muối Clo của các kim loại nặng như Titan,Niken và một số chất có tác dụng đối kháng với Etylen như Axin, GA3 vàXytokinin có thể ngăn cản quá trình này Sử dụng dung dịch có Saccaroza và cácchất kể trên để cắm hoa trong thời gian từ 6 - 8 giờ trước khi bảo quản lạnh có tácdụng giữ màu xanh của lá và cành rất tốt Có thể sử dụng dung dịch 50g/l Sucrose +600mg/l AgNO3 hoặc 50g/l Sucrose + 200 mg/l HQS (8-Hydroxy quinoiline sulphate) và 50 g/l Sucrose + 4 mg/l Physan đều có tác dụng kéo dài độ bền hoa cắt

Trang 35

Nguyễn Ngọc Tân (2011) [16] khi nghiên cứu các chế phẩm Atonik 1,8D,Thiên nông và GA3 50T trên giống cúc Vàng Đài Loan đã đưa ra kết luận sử dụngchất kích thích sinh trưởng làm tăng năng suất và chất lượng hoa, trong đó GA3 -50T có tác dụng làm tăng năng suất, chất lượng và cho hiệu quả kinh tế cao hơn sovới 2 chế phẩm cùng thí nghiệm.

Lê Thị Bích Thu và cộng sự (2005) [20] khi nghiên cứu quy trình bảo quảnhoa cúc đã đưa ra kết luận: Dùng dung dịch bao gồm axit citric 400 ppm + đườngsaccaroza 2% + 8-HQS 200ppm, STS (Silver thiosunphate) 0,1 ppm để cắm hoa cúcbảo quản lạnh sẽ làm tăng chất lượng và độ bền hoa cắt sau bảo quản từ 5 - 10 ngày

tỏ trong cây tồn tại một chất nào đó có cực đại hấp thụ ánh sáng 660nm và 730nmkiểm tra sự ra hoa của cây và các hiện tượng quang cảm ứng khác đó chính làphytocrom (P) tồn tại dưới 2 dạng biến đổi thuận nghịch

Theo Posl, K., (1991) [35] việc trồng cúc vào vụ Đông đặc biệt là vụ Đông Xuân cần phải tính đến việc chiếu sáng bổ sung, tăng thêm độ dài chiếu sáng trongngày để đảm bảo nhu cầu sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực của cây.Còn những giống cúc mùa đông muốn trồng sang mùa hè ngoài việc chọn nhữnggiống có thời gian sinh trưởng ngắn thì cần phải che bớt ánh tăng để tăng thời giantối tạo điều kiện cho cúc ra hoa

Trang 36

-Nguyễn Quang Thạch và Đặng Văn Đông (2002) [19] hoa cúc được trồngvào vụ Hè-Thu ở điều kiện miền Bắc Việt Nam, sau ngày hạ chí với thời gian chiếusáng trong ngày ngắn dần, khi đến một độ dài chiếu sáng nhất định, cúc bắt đầuphân hóa mầm hoa Lúc này thời gian chiếu sáng trong ngày tiếp tục ngắn thêm, nụhoa sẽ phát dục bình thường và đến cuối mùa Thu, đầu mùa Đông hoa sẽ nở.

Theo kết quả nghiên cứu của Đặng Văn Đông và cộng sự (2000) [5] đã tiếnhành thí nghiệm cho cúc CN93 trồng vào vụ Đông ở 3 mức độ chiếu sáng quanggián đoạn khác nhau: 2 giờ, 3 giờ, 4 giờ để so sánh với không xử lý và xử lý ánhsáng liên tục và cả đêm Kết quả cho thấy, thời gian trồng đến nở hoa của các côngthức đối chứng 60 ngày, còn các công thức xử lý thời gian sinh trưởng chỉ có 43 -

45 ngày Tỷ lệ nở hoa ở các công thức đối chứng thấp 65%, trong khi tỷ lệ nở hoa ở các công thức quang gián đoạn cao hơn 23 - 25%

Theo Đặng Thị Tố Nga (2012) [14], khi nghiên cứu một số biện pháp kỹthuật phát triển hoa cúc tại thành phố Thái Nguyên đã kết luận: Chiếu sáng bổ sungcho cúc vàng Thược Dược 4 giờ/đêm, từ 22 giờ đêm đến 02 giờ sáng cho chấtlượng hoa tốt, có hiệu quả kinh tế cao

Trong một thời gian ngắn chúng ta đã có khá nhiều kết quả nghiên cứu vềcây hoa cúc ở các lĩnh vực khác nhau Tuy nhiên những kết quả này còn nhiều hạnchế, chưa đáp ứng được yêu cầu của sản xuất Mặt khác, ở Việt Nam hiện nay có rấtnhiều giống cúc khác nhau, được du nhập từ nhiều vùng trên thế giới vì vậy việctiếp tục nghiên cứu chuyên sâu về đặc tính của từng giống cũng như các biện pháp

kỹ thuật tác động nhằm nâng cao năng suất, phẩm chất hoa là một nhiệm vụ hết sứccấp thiết để từ đó xây dựng quy trình phù hợp nhất, giúp người sản xuất đầu tư mộtcách có hiệu quả

Trang 37

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Gồm 5 giống hoa cúc được trồng ở tỉnh Lai Châu

+ Giống cúc Vàng Đài Loan

+ Giống cúc Vàng Pha Lê

+ Giống cúc Trắng Đông

+ Giống cúc Chi Vàng

+ Giống cúc Pháo Hoa

- Gồm 3 loại phân bón lá

+ Phân bón lá Sông Gianh tổng hợp

Đặc điểm: Hàm lượng đa lượng N:10%, P2O5:4,4%, K2O:2,8%; hàm lượngtrung - vi lượng B:1,0mg/l, Zn:2,5mg/l, Fe:2,8mg/l, Mn:1,7mg/l; Glucoza, Plioxen,Oligo; Chitosan Chất kích thích sinh trưởng, khoáng vi lượng

Công dụng: Cung cấp dinh dưỡng nhanh cho cây trồng; Kích thích quanghợp, khỏe cây, mướt lá, ra hoa, …

+ Phân bón lá Yogen No2

Đặc điểm: Hàm lượng đa lượng N:30%, P2O5:10%, K2O:10%, Trung - vilượng: 2.760ppm Và các phụ gia đặc biệt khác

Công dụng: Giúp cây sinh trưởng tốt, đâm chồi khỏe, đẻ nhánh mạnh, tán lárộng, xanh mượt, cây lớn nhanh, tăng khả năng quang hợp, tăng sức đề kháng sâubệnh và thời tiết khắc nghiệt

+ Phân bón lá Đầu Trâu 501

Đặc điểm: Hàm lượng đa lượng N:30%, P2O5:15%, K2O:10%; hàm lượng vilượng Mg, Ca, B, Zn, Cu, Fe, Mn, Mo; chất điều hòa sinh trưởng GA3, αNAA,bNOA

Công dụng: Tăng khả năng ra lá, đâm chồi mới, thân lá phát triển nhanh,

Trang 39

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.2.1 Thí nghiệm 1: Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và chất lượng của một số giống hoa cúc

Thí nghiệm gồm 5 công thức, mỗi công thức nhắc lại 3 lần, được bố trí theokiểu khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD) [17] Diện tích ô thí nghiệm 5 m2

- Công thức thí nghiệm:

+ Công thức 1: Vàng Đài Loan

+ Công thức 2: Vàng Pha Lê

Thời điểm trồng: Ngày 12/8/2014

2.2.2.2 Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ trồng đến sinh trưởng, phát triển của giống hoa cúc Vàng Đài Loan

Thí nghiệm gồm 3 công thức, mỗi công thức nhắc lại 3 lần, được bố trí theokiểu khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD) [17] Diện tích ô thí nghiệm 5 m2

Trang 40

+ Công thức 1: Đối chứng (không xử lý chiếu sáng).

+ Công thức 2: Chiếu sáng quang gián đoạn 2 giờ (từ 22h - 0h)

+ Công thức 3: Chiếu sáng quang gián đoạn 3 giờ (từ 22h - 1h)

+ Công thức 4: Chiếu sáng quang gián đoạn 4 giờ (từ 22h - 2h)

- Sơ đồ bố trí thí nghiệm

Thời điểm trồng: Ngày 20/12/2014

Phương pháp xử lý ngay sau khi trồng bắt đầu xử lý chiếu sáng quang gián đoạn bằng cách lắp hệ thống bóng điện 100W Mật độ 20 bóng/100m2, độ cao bóng0,8-1,0 m so với ngọn cúc Thời gian xử lý chiếu sáng quang gián đoạn kéo dài 30 ngày liên tục

Thí nghiệm sử dụng rơ le điện tự bật, tắt, có các chế độ đặt giờ theo ý muốn Các ô thí nghiệm được ngăn cách ánh sáng bằng lớp vải đen

Ngày đăng: 27/10/2018, 21:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Nguyễn Thị Kim Lý (2002), Nghiên cứu, tuyển chọn và nhân giống cây hoa cúc trên vùng đất trồng hoa ở Hà Nội, Luận án tiến sỹ, Viện khoa học kỹ thuật Việt Nam, tr.01-171 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu, tuyển chọn và nhân giống cây hoacúc trên vùng đất trồng hoa ở Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Lý
Năm: 2002
13. Đặng Thị Tố Nga (1999), Điều tra tình hình sản xuất hoa và nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật sản xuất hoa ở thành phố Thái Nguyên, Luận văn thạc sĩ khoa học Nông nghiệp, tr.15-94 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra tình hình sản xuất hoa và nghiên cứu mộtsố biện pháp kỹ thuật sản xuất hoa ở thành phố Thái Nguyên
Tác giả: Đặng Thị Tố Nga
Năm: 1999
14. Đặng Thị Tố Nga (2012), Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật phát triển hoa cúc tại thành phố Thái Nguyên, Luận án tiến sỹ, Trường đại học Nông lâm Thái Nguyên, tr.01-150 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật phát triểnhoa cúc tại thành phố Thái Nguyên
Tác giả: Đặng Thị Tố Nga
Năm: 2012
15. Đỗ Ngọc Oanh, Hoàng Văn Phụ, Nguyễn Thế Hùng, Hoàng Thị Bích Thảo (2004), Giáo trình phương pháp thí nghiệm đồng ruộng, Nxb Nông nghiệp Hà Nội, tr.30-32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình phương pháp thí nghiệm đồng ruộng
Tác giả: Đỗ Ngọc Oanh, Hoàng Văn Phụ, Nguyễn Thế Hùng, Hoàng Thị Bích Thảo
Nhà XB: Nxb Nông nghiệpHà Nội
Năm: 2004
16. Nguyễn Ngọc Tân (2011), Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất, chất lượng của hoa cúc Đài loan tại phường Túc Duyên thành phố Thái Nguyên, Luận văn thạc sĩ nông nghiệp, Trường đại học Nông lâm Thái Nguyên, tr.01-95 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nâng caonăng suất, chất lượng của hoa cúc Đài loan tại phường Túc Duyên thànhphố Thái Nguyên
Tác giả: Nguyễn Ngọc Tân
Năm: 2011
17. Hoàng Minh Tấn, Nguyễn Quang Thạch (1993), “Chất điều hoà sinh trưởng đối với cây trồng”, NXB Nông nghiệp Hà Nội, tr.63-66 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất điều hoà sinh trưởngđối với cây trồng”, "NXB Nông nghiệp Hà Nội
Tác giả: Hoàng Minh Tấn, Nguyễn Quang Thạch
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội"
Năm: 1993
18. Cao Thị Thanh (2007), Phân tích tình hình sản xuất và tiêu thu hoa cấp độ nông hộ tại thành phố Đà Lạt, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, tr.01-69 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích tình hình sản xuất và tiêu thu hoa cấp độnông hộ tại thành phố Đà Lạt
Tác giả: Cao Thị Thanh
Năm: 2007
19. Nguyễn Quang Thạch, Đặng Văn Đông (2002), “Cây hoa cúc và kỹ thuật trồng”, NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây hoa cúc và kỹ thuậttrồng”
Tác giả: Nguyễn Quang Thạch, Đặng Văn Đông
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2002
20. Lê Thị Bích Thu và Cs, (2005), “Nghiên cứu quy trình bảo quản hoa cúc”, Tạp chí khoa học - công nghệ của Bộ Nông nghiệp và PTNT, Nxb LĐXH, Hà Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu quy trình bảo quản hoa cúc”,"Tạp chí khoa học - công nghệ của Bộ Nông nghiệp và PTNT
Tác giả: Lê Thị Bích Thu và Cs
Nhà XB: Nxb LĐXH
Năm: 2005
22. Hoàng Ngọc Thuận (2005), Nghiên cứu ứng dụng phân bón lá Pomior trong kỹ thuật nâng cao năng xuất và chất lượng sản phẩm một số loại cây trồng nông nghiệp, Báo cáo nghiệm thu đề tài nghiên cứu khoa học, Hà Nội 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ứng dụng phân bón lá Pomior trongkỹ thuật nâng cao năng xuất và chất lượng sản phẩm một số loại cây trồngnông nghiệp
Tác giả: Hoàng Ngọc Thuận
Năm: 2005
23. Nguyễn Hạc Thúy (2001), Cẩm nang sử dụng chất dinh dưỡng cây trồng và phân bón cho năng suất cao, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang sử dụng chất dinh dưỡng cây trồng vàphân bón cho năng suất cao
Tác giả: Nguyễn Hạc Thúy
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2001
24. Nguyễn Hải Tiến (2006), Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến sinh trưởng, phát triển và hiệu quả sản xuất của cây hoa cúc, giống vàng Đài loan và cây hoa đồng tiền, giống F125, Luận văn thạc sĩ nông nghiệp, Trường đại học Nông nghiệp 1, tr.01-73 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón láđến sinh trưởng, phát triển và hiệu quả sản xuất của cây hoa cúc, giống vàngĐài loan và cây hoa đồng tiền, giống F125
Tác giả: Nguyễn Hải Tiến
Năm: 2006
25. Phan Thị Thu Trang (2003), Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất và phẩm chất một số giống cúc trong vụ Xuân - Hè tại Hà Nội, Báo cáo tốt nghiệp, Đại học Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nâng caonăng suất và phẩm chất một số giống cúc trong vụ Xuân - Hè tại Hà Nội
Tác giả: Phan Thị Thu Trang
Năm: 2003
26. Nguyễn Thị Hòa Vân (2009), Bước đầu nghiên cứu chuyển gen kháng sâu Cryiac và cây hoa đồng tiền, Luận văn thạc sĩ nông nghiệp, Trường đại học Nông nghiệp 1, tr.01-71 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu nghiên cứu chuyển gen kháng sâuCryiac và cây hoa đồng tiền
Tác giả: Nguyễn Thị Hòa Vân
Năm: 2009
27. Đào Thanh Vân, Đặng Thị Tố Nga (2007), “Giáo trình cây hoa”, NXB Nông nghiệp Hà Nội, tr.56-70.Tài liệu nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình cây hoa”, "NXB Nôngnghiệp Hà Nội
Tác giả: Đào Thanh Vân, Đặng Thị Tố Nga
Nhà XB: NXB Nôngnghiệp Hà Nội"
Năm: 2007
28. Asman, S.M., (1992), Effects of light quantity and quality during development on the morpology and stomatal physiology of Commelina communis, Ocologia (92), pg.88-195 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effects of light quantity and quality duringdevelopment on the morpology and stomatal physiology of Commelinacommunis
Tác giả: Asman, S.M
Năm: 1992
29. Cockshull, K.E và Hughes, A.P., (1981), The effect of light intensity at different tages on flowr initiation and development of Chrysanthemum morifolium, Ann. Bot., pg.915-926 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The effect of light intensity atdifferent tages on flowr initiation and development of Chrysanthemummorifolium
Tác giả: Cockshull, K.E và Hughes, A.P
Năm: 1981
30. Danai. B and Tongmai. P (1995), The effect of fertilizer, density and harvesting duration on the growth, development and storage life of the Chrysanthemum, Journal of Agriculture, Bangkok, Thailand, 9(3), pg.196-203 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The effect of fertilizer, density andharvesting duration on the growth, development and storage life of theChrysanthemum
Tác giả: Danai. B and Tongmai. P
Năm: 1995
33. Jan Plasmeijer and Chumi Yanai (2012), Cut flowers and ornamental plants market news service, Issue No. M02, of 3 February 2012, pg26-33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cut flowers and ornamental plantsmarket news service
Tác giả: Jan Plasmeijer and Chumi Yanai
Năm: 2012
34. Jordan. C and Reimanm - Philipp. R (1983), Investigation into the type and degree of polyploidy in C.morifolium by genetical analysis of two flower coulor characters, Zeitschrift fur Pflanzenzuchtung, 91:2, pg.111-122 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Investigation into the type anddegree of polyploidy in C.morifolium by genetical analysis of two flowercoulor characters
Tác giả: Jordan. C and Reimanm - Philipp. R
Năm: 1983

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w