Về phương diện khoa học: luận văn làm rõ quá trình phát triển kinh tế - xãhội của huyện Quảng Trạch thời kỳ đổi mới giai đoạn từ 1986 - 2014, nêu bậtnhững chủ trương của Đảng bộ cùng với
Trang 2SỰ CHUYỂN BIẾN KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN
QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH
(1986 – 2014)
Chuyên ngành: Lịch Sử Việt Nam
Mã số: 60.22.03.13
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH LỊCH SỬ VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: T.S Ngô Xuân Trường
Học viên thực hiện: Phạm Văn Tuyên
Trang 3Lịch Sử, phòng Đào tạo sau đại học - trường Đại học Đà Lạt đã truyền đạt những kiếnthức, kỹ năng học tập và nghiên cứu khoa học cho tôi trong suốt khóa học.
Xin chân thành cảm ơn đến trung tâm lưu trữ Đảng bộ tỉnh Quảng Bình, ủyban nhân dân tỉnh Quảng Bình, ủy ban nhân dân huyện Quảng Trạch, ủy ban nhândân Thị xã Ba Đồn, chi cục thống kê thị xã Ba Đồn đã tạo điều kiện cho tôi trongviệc thu thập và nghiên cứu các tài liệu liên quan đến đề tài
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Ngô Xuân Trường đãtận tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đãkhích lệ, hỗ trợ tôi trong suốt quá trình học tập
Do hạn chế về nguồn tư liệu cũng như những kỹ năng nghiên cứu khoa họccủa bản thân, nên không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự góp ýcủa Thầy Cô và bạn bè, đồng nghiệp để bổ sung và hoàn thiện luận văn này
Xin chân thành cảm ơn
Trang 4TS Ngô Xuân Trường Các số liệu, tài liệu được nêu ra trong luận văn là trungthực, đảm bảo tính khách quan, khoa học, Các tài liệu tham khảo có nguồn gốc xuất
xứ rõ ràng
Đà Lạt, ngày 12 tháng 12 năm 2016
Người cam đoan
Phạm Văn Tuyên
Trang 61 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 6
6 Bố cục đề tài 6
CHƯƠNG I KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI HUYỆN QUẢNG TRẠCH TRƯỚC NĂM 1986 7
1.1 Điều kiện tự nhiên 7
1.1.1 Vị trí địa lý 7
1.1.2 Địa hình 7
1.1.3 Đất đai 8
1.1.4 Khí hậu 8
1.1.5 Thủy văn 8
1.1.6 Rừng và hệ động thực vật 9
1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 9
1.2.1 Đặc điểm kinh tế 9
1.2.2 Đặc điểm xã hội 10
1.3 Khái quát về tình hình hình xã hội huyện Quảng Trạch giai đoạn 1975 -1985 12
1.3.1 Khái quát về tình hình kinh tế huyện Quảng Trạch giai đoạn 1975 - 1985 12
1.3.2 Khái quát về tình hình xã hội huyện Quảng Trạch giai đoạn 1975 - 1985 16
CHƯƠNG II QUÁ TRÌNH CHUYỂN BIẾN KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN QUẢNG TRẠCH TỪ 1986 - 2014 19
2.1 Tình hình kinh tế - xã hội huyện Quảng Trạch giai đoạn 1986 - 1996 19
2.1.1 Bối cảnh lịch sử và quá trình hình thành đường lối đổi mới 19
Trang 72.1.3 Kinh tế huyện Quảng Trạch từ 1986 - 1996 25
2.1.4 Xã hội 33
2.1.5 Nhận xét chung về sự chuyển biến kinh tế - xã hội huyện Quảng Trạch giai đoạn 1986 - 1996 36
2.2 Tình hình kinh tế - xã hội huyện Quảng Trạch giai đoạn 1996 - 2014 37
2.2.1 Kinh tế 37
2.2.2 Xã hội 63
2.2.3 Nhận xét chung về sự chuyển biến kinh tế - xã hội huyện Quảng Trạch giai đoạn 1996 - 2014 79
CHƯƠNG III ĐÁNH GIÁ CHUNG, NGUYÊN NHÂN, BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ TRIỂN VỌNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN QUẢNG TRẠCH THỜI GIAN TỚI 82
3.1 Đánh giá chung về quá trình chuyển biến kinh tế - xã hội huyện Quảng Trạch từ 1986 - 2014 82
3.1.1 Thành tựu 82
3.1.2 Hạn chế 85
3.2 Nguyên nhân 87
3.2.1 Nguyên nhân của thành tựu 87
3.2.2 Nguyên nhân của hạn chế 89
3.3 Bài học kinh nghiệm 90
3.4 Triển vọng phát triển kinh tế - xã hội huyện Quảng Trạch trong thời gian tới
96
KẾT LUẬN 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
PHỤ LỤC 109
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước là một trong những thắng lợi tolớn của cách mạng Việt Nam vào cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI Đất nước ta thoátkhỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, bước đầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đã cónhững bước đi vững chắc trong chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ lên chủnghĩa xã hội Nền kinh tế tăng trưởng nhanh, ổn định, đời sống của nhân dân đượccải thiện Việt Nam đã phá được thế bao vây cấm vận của các thế lực thù địch, tăngcường mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động hội nhập quốc tế, vị thế của Việt Namtrên trường quốc tế được nâng cao, giữ vững ổn định chính trị, củng cố quốc phòng,
an ninh Những thành tựu mang ý nghĩa to lớn đó là nhờ vào đường lối đổi mới doĐảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo
Cùng chuyển mình với đất nước, huyện Quảng Trạch đã nắm bắt thời cơthuận lợi, khắc phục mọi khó khăn, thách thức, từng bước thực hiện đường lối đổimới trên tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội
Huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình là nơi có bề dày lịch sử và văn hóa lâuđời, có vị trí chiến lược quan trọng đối với Quảng Bình nói riêng và cả nước nóichung Trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, đặc biệt trong cuộc kháng chiếnchống Mỹ (1954 - 1975), Quảng Trạch đã gắn với nhiều chiến công góp phần giảiphóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc Trải qua hai cuộc chiến tranh ác liệt và nhữngchuyển biến về kinh tế - xã hội của đất nước, Quảng Trạch vẫn mang trong mìnhtinh thần chịu thương chịu khó vượt lên hoàn cảnh để hoàn thành các chỉ tiêu vềkinh tế - xã hội, góp phần nâng cao đời sống kinh tế xã hội của toàn huyện
Trong sự nghiệp đổi mới, Đảng bộ huyện Quảng Trạch đã phát huy truyềnthống năng động, sáng tạo, dám nghĩ dám làm của người dân Sau 28 năm đổi mới,kinh tế - xã hội của huyện đạt được nhiều thành tựu to lớn: kinh tế tăng trưởngnhanh, ổn định, cơ cấu kinh tế có nhiều chuyển biến tích cực, bộ mặt của huyện cónhiều thay đổi; đời sống của nhân dân không ngừng được nâng cao; an ninh chínhtrị; trật tự an toàn xã hội được giữ vững; vai trò lãnh đạo của Đảng bộ được củng
cố, tăng cường, đáp ứng nhu cầu phát triển xã hội cả bề rộng lẫn chiều sâu Thành
Trang 10tựu đó góp phần không nhỏ vào sự phát triển của huyện, vào chủ trương phát triểnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của đất nước Do đó, tìm hiểu vànghiên cứu sự chuyển biến tình hình kinh tế - xã hội huyện Quảng Trạch trong thời
kỳ đổi mới 1986 - 2014, rất có ý nghĩa về mặt khoa học và thực tiễn
Về phương diện khoa học: luận văn làm rõ quá trình phát triển kinh tế - xãhội của huyện Quảng Trạch thời kỳ đổi mới giai đoạn từ 1986 - 2014, nêu bậtnhững chủ trương của Đảng bộ cùng với sự lao động sáng tạo của nhân dân huyện
đã thực hiện nhằm đạt được những mục tiêu chung của đất nước Trên cơ sở đó,luận văn góp phần tìm hiểu rõ hơn những vấn đề lý luận và thực tiễn về đường lốiđổi mới của Đảng, về việc hiện thực hóa đường lối đó vào hoàn cảnh cụ thể ở huyệnQuảng Trạch; đồng thời thấy được những thành công và tồn tại của nền kinh tế - xãhội huyện Quảng Trạch trong gần 30 năm đổi mới
Về phương diện thực tiễn: luận văn chỉ ra những tồn tại, hạn chế, cùng vớinhững kiến nghị, giải pháp về quá trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn huyệncho hiện nay và tương lai, góp phần giúp Đảng bộ và chính quyền huyện tham khảo
để đề ra những giải pháp xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp
Mặt khác, luận văn cung cấp một số tư liệu phục vụ cho việc nghiên cứu, biênsoạn lịch sử Đảng bộ huyện Quảng Trạch mới Luận văn còn là một tài liệu giúp chogiáo viên các cấp học ở thị xã Ba Đồn và huyện Quảng Trạch hiện nay tham khảo, vậndụng trong những tiết học về lịch sử địa phương Đồng thời, góp phần củng cố thêmniềm tin của nhân dân vào sự nghiệp đổi mới do Đảng lãnh đạo cũng như giáo dụctruyền thống yêu quê hương, đất nước cho thế hệ trẻ ở địa phương
Với những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Sự chuyển biến kinh tế - xã hội ở huyện Quảng Trạch tỉnh Quảng Bình (1986 – 2014)” làm đề tài luận văn
Thạc sĩ, chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Từ trước đến nay vấn đề kinh tế - xã hội cả nước nói chung, ở các địaphương nói riêng, không chỉ được các nhà lãnh đạo mà cả các nhà nghiên cứu khoahọc tự nhiên và khoa học xã hội quan tâm
Trang 11Ngoài các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc, Đảng bộ tỉnh, Đảng bộ huyệncùng các chủ trương của Đảng, còn có các cuốn sách khảo cứu như:
Văn kiện Nghị quyết của Đảng, nhất là văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lầnthứ VI, VII, VIII, IX, X, XI Trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX cónêu lên hai nội dung rất quan trọng, mang tính chất định hướng cho sự phát triển là
“chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010” và “phương hướng nhiệm vụ, kếhoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2001 - 2005” của Ban chấp hành trung ươngĐảng do nhà xuất bản Sự thật - Hà Nội xuất bản năm 1991
Ngoài ra, còn có nhiều công trình của các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nướcviết về vấn đề đổi mới như:
Trường Chinh (1987), Đổi mới là đòi hỏi bức thiết của đất nước và thời đại
Nxb Sự thật, Hà Nội đã nêu lên yêu cầu cấp thiết về vấn đề đổi mới đối với sự pháttriển của đất nước Trong tác phẩm này, tác giả cũng nêu lên đường lối đổi mới phùhợp với tình hình thực tiễn của đất nước và định hướng xã hội chủ nghĩa
Cuốn sách con đường công nghiệp hóa,hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Việt Nam của Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương, Bộ Nông nghiệp và phát triển
nông thôn (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002) đã giới thiệu khái quát về quátrình hình thành và phát triển quan điểm của Đảng về công nghiệp hóa, hiện đại hóanông nghiệp nông thôn và những vấn đề đặt ra trong quá trình thực hiện, phươngphướng và giải pháp, đồng thời nêu một số bài học kinh nghiệm của một số điểmsáng trong phát triển kinh tế
PGS TS Nguyễn Trọng Phúc trong cuốn Một số kinh nghiệm của Đảng cộng sản Việt Nam trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp đổi mới (Nxb Chính trị Quốc
gia Hà Nội, 2000), đã tổng kết một số chủ trương của Đảng và những thành tựu tiêubiểu mà chúng ta đã đạt được, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm của Đảngtrong lãnh đạo
Bên cạnh đó là những thông tin trên các trang web,, tờ thời báo kinh tế ViệtNam, tạp chí Lịch sử Đảng, tạp chí Cộng sản, báo Nhân dân và một số tạp chí liênquan
Trang 12Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài ở tỉnh Quảng Bình có cáccông trình tiêu biểu sau:
Nguyễn Khắc Thái (2014), Lịch sử Quảng Bình, Nxb Chính trị - Hành
chính Công trình đề cập đến lịch sử hình thành và phát triển cũng như sự chuyểnbiến về kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Bình qua các thời kỳ
T.S Lại Vĩnh Cẩm (2004), Luận cứ phục vụ định hướng phát triển kinh tế
-xã hội khu vực miền Tây Quảng Bình, sở Khoa học công nghệ Quảng Bình Đây là
một đề tài khoa học phục vụ cho việc định hướng chiến lược phát triển kinh tế - xãhội khu vực miền Tây Quảng Bình Đề tàiđề cập đến một số vấn đề về kinh tế - xãhội của huyện Quảng Trạch, tuy nhiên chỉ ở mức độ cơ bản
Nhìn chung đây là những công trình có đề cập đến các vấn đề kinh tế - xã hộicủa huyện Quảng Trạch Đây là nguồn tài liệu có giá trị tham khảo và nguồn tư liệuquý để thực hiện đề tài
Về kinh tế - xã hội huyện Quảng Trạch, các văn kiện Đại hội Đảng bộ huyệnlần thứ XIV đến XXIII và một số tài liệu khác đã đề cập đến
Các báo cáo hàng năm, báo cáo trong những nhiệm kỳ đại hội về tình hìnhkinh tế - xã hội của huyện Quảng Trạch từ năm 1986 đến năm 2014 của Tỉnh ủy,UBND tỉnh Quảng Bình và huyện Quảng Trạch
Hệ thống niên giám thống kê của cục Thống kê tỉnh Bình Trị Thiên (1976 1989), tỉnh Quảng Bình (1997 - 2014) và phòng Thống kê huyện Quảng Trạch đãphản ánh tình hình kinh tế xã hội hàng năm Tuy nhiên những công trình này chỉmang tính chất thống kê
-Nhìn chung, những công trình trên đây ở những khía cạnh khác nhau đã đềcập đến vấn đề kinh tế - xã hội của huyện Quảng Trạch nói riêng Song cho đến naychưa có một công trình nào đi sâu nghiên cứu về sự chuyển biến kinh tế - xã hội củahuyện Quảng Trạch trong thời kỳ đổi mới từ 1986 - 2014 Tuy nhiên, những côngtrình trên đã giúp cho chúng tôi phương hướng tiếp cận để tiếp tục đi sâu nghiêncứu vấn đề mà chúng tôi đặt ra
Trang 133 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu chính của đề tài là tìm hiểu quá trình chuyển biến cácmặt về kinh tế - xã hội huyện Quảng Trạch từ năm 1986 đến năm 2014 Qua đó nêuđược những thành tựu, hạn chế của quá trình này, đồng thời, chỉ ra được nhữngnguyên nhân của những thành tựu, hạn chế Từ đó rút ra một số bài học kinhnghiệm và những triển vọng của sự phát triển kinh tế - xã hội huyện Quảng Trạchtrong những năm sắp tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu về sự chuyển biến kinh tế - xã hội huyệnQuảng Trạch giai đoạn 1986 - 2014, trong đó xác định nội dung nghiên cứu cụ thểbao gồm:
Tình hình kinh tế - xã hội Quảng Trạch trước khi tiến hành đổi mới Nhữngchủ trương và biện pháp của Đảng bộ và chính quyền huyện để phát triển kinh tế -
xã hội trong thời kỳ đổi mới Những nhân tố tác động đến sự chuyển biến kinh tế
-xã hội của huyện Quảng Trạch
Những chuyển biến kinh tế của huyện Quảng Trạch trong những năm đổimới trên các bình diện: nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp, dịch
vụ, tài chính
Dưới sự tác động của chuyển biến kinh tế dẫn tới những thay đổi về mặt xãhội như: sự biến động về dân cư, lao động và việc làm, mức thu nhập và đời sốngnhân dân, tình hình văn hóa, giáo dục, y tế
Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi thời gian: Mốc mở đầu nghiên cứu là 1986, là năm bắt đầu công
cuộc đổi mới đất nước Mốc kết thúc là năm 2014 - huyện Quảng Trạch tách rathành hai đơn vị hành chính gồm thị xã Ba Đồn và huyện Quảng Trạch
Phạm vi không gian: Luận văn nghiên cứu các vấn đề kinh tế - xã hội trong
địa bàn huyện Quảng Trạch trước khi chia tách
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận: Việc nghiên cứu đề tài trước hết dựa trên cơ sở lý luận và
Trang 14phương pháp của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, luận văn coi đó
là những căn cứ lý luận định hướng tư tưởng cơ bản cho việc tiếp cận, nhìn nhậnđáng giá các vấn đề
5.2 Phương pháp nghiên cứu: Đề tài thuộc chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
nên chúng tôi sử dụng hai phương pháp chủ yếu là phương pháp lịch sử và phươngpháp logic Kết hợp vận dụng các phương pháp liên ngành như phân tích, tổng hợp,
so sánh, đối chiếu, thống kê, phỏng vấn để làm sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu
Quá trình điền dã giúp chúng tôi thẩm định lại những báo cáo, đánh giá từnhiều nguồn khác nhau để đưa ra một kết luận hợp lý nhất, sát thực như nó đã diễn
ra và phát hiện thêm những vân đề mới nhằm hoàn thiện lại hệ thống những cứ liệcho bài viết
6 Bố cục đề tài
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung củaLuận văn được chia thành ba chương:
Chương 1: Khái quát về điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế xã hội huyện
Quảng Trạch trước năm 1986
Chương 2: Quá trình chuyển biến kinh tế xã hội huyện Quảng Trạch từ 1986 - 2014 Chương 3: Đánh giá chung, nguyên nhân, bài học kinh nghiệm và triển vọng
phát triển kinh tế xã hội huyện Quảng Trạch thời gian tới
Trang 15CHƯƠNG I KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ
HỘI HUYỆN QUẢNG TRẠCH TRƯỚC NĂM 1986 1.1 Điều kiện tự nhiên
Nằm trong khu vực Bắc Trung Bộ, Quảng Trạch ở vị trí trung độ của cả nước(trung điểm cách Hà Nội 500km, cách thành phố Đà Nẵng 300km, cách thành phố
Hồ Chí Minh 1200km), là nơi giao thoa đặc thù lãnh thổ miền Bắc và miền Nam nên
dễ hòa nhập, tiếp thu những tiến bộ kinh tế, khoa học kĩ thuật; nơi mà các tuyếnđường giao thông quan trọng của Quốc gia xuyên suốt chiều dài tỉnh (Quốc lộ 1A,Quốc lộ 12A, đường sắt Bắc Nam), là đầu mối giao lưu của hai miền Nam - Bắc
Là huyện có lợi thế về phát triển nông nghiệp và công nghiệp dịch vụ, lại gầncác trung tâm kinh tế của vùng và đất nước, gần cửa khẩu quốc tế và cảng biển lớn
Đó là lợi thế để huyện Quảng Trạch phát triển kinh tế đa ngành nghề
1.1.2 Địa hình
Quảng Trạch là một huyện đồng bằng nhưng có cả đồi núi và biển, phía tây
và phía bắc là vùng đồi núi thuộc dãy Trường Sơn ăn lan ra sát biển; ở giữa là đồngbằng nhưng bị chia cắt bởi các con sông và những cồn cát nội địa với diện tích tậptrung hơn 1500 ha; đồng bằng ven biển có các đụn cát kéo dài, địa hình ngiêng theohướng tây bắc - đông nam
Trang 16Trong tổng diện tích 613 km2 có trên 10.000 ha đất nông nghiệp, 29.000 hađất lâm nghiệp, 3.000 ha đất chuyên dùng, 11.225 ha đất chưa sử dụng (Trong đó có
600 ha đất bãi bồi, 10.000 ha đất đồi núi có khả năng khai thác để trồng cây lâmnghiệp, đặc biệt có khoảng 1.500 ha đất đồi có độ phù sa độ mùn dày dưới 1 mét, cókhả năng trồng cây công nghiệp, cây ăn quả cho năng suất cao)
Mùa khô từ tháng 4 đến tháng 8 với nhiệt độ trung bình 24 - 250C, ba tháng
có nhiệt độ cao nhất là các tháng 6, 7, 8 Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối lên đến 40,60Ctháng 7 năm 1998, nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối là 7,60C tháng 12 năm 1975
Nhiệt độ trung bình năm của Quảng Trạch tăng dần từ Bắc vào Nam, từ Tâysang Đông Cân bằng bức xạ đạt 70 - 80 kcal/cm2 Số giờ nắng bình quân nămkhoảng 1.700 - 2.000 giờ
1.1.5 Thủy văn
Huyện Quảng Trạch có đường bờ biển dài 32,4 km, vùng đặc quyền kinh tếkhoảng 6.584 km2, là huyện giàu tài nguyên biển Dọc bờ biển có hai cửa sôngchính là sông Gianh và sông Roòn, có vịnh nước sâu Hòn La với nhiều lợi thế đểphát triển vận tải biển, công nghiệp đóng tàu và các dịch vụ phục vụ cho nghề biển.Ngư trường Quảng Trạch rộng hàng trăm hải lý có nguồn hải sản phong phú, trong
Trang 17đó có nhiều hải sản giá trị cao như tôm hùm, mực nang, mực ống ; các loại cángon như cá chim, thu, đồng thời bờ biển còn có nhiều điểm thích hợp phát triểnnghề nuôi hải sản nước mặn, nước lợ.
Ngoài ra, nhờ sự kiến tạo của thiên nhiên và thời gian, vùng đất Quảng Trạch
có nhiều cảnh quan đẹp như: khu vực Vũng Chùa - Đảo Yến, khu Hoành Sơn Quan,đền Công chúa Liễu Hạnh là điều kiện phát triển các loại hình du lịch sinh thái, vănhóa
1.1.6 Rừng và hệ động thực vật
Quảng Trạch có 29.000 ha đất lâm nghiệp với tổng diện tích rừng khoảng8.500 ha với trữ lượng khoảng 648.000 m3 gỗ, trong đó có khoảng 3.000 ha rừng táisinh hơn 10 năm, có những khu rừng tái sinh như ở Quảng Lưu đã tạo được mộtkhu rừng tái sinh rộng lớn, có thảm thực vật phong phú, nhiều động vật hoang dãđược bảo tồn đang tái sinh nhanh chóng Toàn huyện có hơn 4.000 ha thông nhựađang được giữ gìn, bảo quản và thu hoạch mỗi năm có trên 750 tấn nhựa thông Đặcbiệt các vùng rừng đầu nguồn của các hồ đập thuỷ lợi được bảo vệ an toàn vànghiêm ngặt Từ đó có chiều hướng tạo ra nhiều cảnh quan, mở ra các chương trình
du lịch sinh thái phong phú, đầy triển vọng trong tương lai Huyện có bờ biển dài32,4 km, có hệ thống hồ đập sông ngòi, mặt nước, bờ sông, bãi biển khá rộng lớn,tạo nên nguồn lợi tự nhiên khá phong phú
1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
1.2.1 Đặc điểm kinh tế
Với tổng diện tích 61.388,50 ha với tiềm năng đất đai, nhân dân cần cù lao
động, giàu kinh nghiệm trong sản xuất, Quảng Trạch có điều kiện phát triển nôngnghiệp trong đó lúa là cây lương thực chính Ở đây điều kiện tự nhiên khá thuận lợicho việc thâm canh tăng vụ, vừa có thể gieo trông lúa nước, vừa trồng các loại raumàu, ngô, khoai, đậu, lạc, phát triển chăn nuôi Ngoài việc trồng cây lương thực và
rau màu, Quảng Trạch có hàng trăm hécta mặt nước có khả năng nuôi và đánh bắt
thủy sản, tạo thành một nguồn thu nhập quan trọng trong kinh tế gia đình Sản xuấtnông nghiệp tuy còn khó khăn, phụ thuộc vào thiên nhiên nhưng từ xưa tới nay
Trang 18Quảng Trạch vẫn được coi là một trong những vựa lúa của tỉnh Quảng Bình.
Bên cạnh sản xuất nông nghiệp, Quảng Trạch cũng có nhiều nghề thủ côngđáng chú ý là nghề làm nón lá ở Quảng Thọ, Quảng Thuận, nghề mây tre đan ởQuảng Văn, Quảng Lộc, nghề rèn ở Quảng Hòa những nghề thủ công này đã gópphần làm cho kinh tế Quảng Trạch thêm đa dạng
Quảng Trạch có đường quốc lộ 1A, quốc lộ 12A và tuyến đường sắt Bắc Nam đi qua nên rất thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế và phát triển thương mại,dịch vụ với các trung tâm kinh tế lớn của cả nước Đặc biệt ở Quảng Trạch có cácnhà máy sản xuất xi măng, vật liệu xây dựng dựa trên việc khai thác các núi đá vôi.Đồng thời Quảng Trạch cũng có hệ thống vận tải bằng đường thủy tiêu biểu là cảngbiển Hòn La đã phục vụ tối đa cho nhu cầu vận chuyển hàng hóa trên địa bàn cũngnhư các khu công nghiệp lân cận nhất là khu công nghiệp Vũng Áng ở Hà Tĩnh
-Trong những năm qua, cùng với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế củatỉnh và cả nước, các ngành kinh tế của huyện đã có những bước phát triển đáng kể ởhầu hết các ngành, các lĩnh vực từ nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản đến côngnghiệp, xây dựng cơ bản, tiểu thủ công nghiệp và thương mại dịch vụ, đặc biệt lànhóm ngành công nghiệp đã tạo đà cho quá trình hòa chung công cuộc công nghiệphóa - hiện đại hóa của đất nước Đồng thời phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tếcũng tạo cơ sở cho sự phát triển các lĩnh vực xã hội như giáo dục, y tế, văn hóa cải thiện đáng kể đời sống người dân trên địa bàn
1.2.2 Đặc điểm xã hội
Quảng Trạch có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời, từ thời Hùng Vươngthuộc bộ Việt Thường Cùng với sự phát triển đầy biến động của nước nhà, QuảngTrạch đã trải qua nhiều tên gọi khác nhau, năm Minh Mạng thứ 18, vùng đất nàyđược đặt tên là Phủ Quảng Trạch gồm có 5 tổng và 93 làng, tên gọi này tồn tại đếntháng 8 năm 1945 Sau Cách mạng Tháng 8 năm 1945, huyện Quảng Trạch đượcchia làm 8 xã Với sự phát triển, thay đổi của đất nước, qua các chặng dường lịch
sử, trước khi chia tách Quảng Trạch có 33 xã và 1 thị trấn
Năm 2012, dân số của huyện Quảng Trạch có 210.738 người trên tổng diện
Trang 19tích 613 km2 với mật độ dân số vào khoảng 339 người/km2 Tuy nhiên, trong nhữngngày đầu khai hoang lập huyện, Quảng Trạch mới chỉ có khoảng 2.389 người Họđến đây từ nhiều miền quê, có nhiều dòng họ và thuộc nhiều thành phần xã hội khácnhau nhưng lại cùng chung một mục đích: khai khẩn đất hoang, biến nơi đây thànhnhững vùng đất phì nhiêu để xây dựng một cuộc sống mới Họ là những người dânthông minh, sáng tạo, dũng cảm, biết chịu đựng gian khổ, bất khuất, kiên cườngchống chọi lại với thiên nhiên khắc nghiệt để khai hoang Điều này góp phần làmnên tính cách của người dân Quảng Trạch hiện nay Ở Quảng Trạch không có mộtlàng, xã nào không có sự du nhập, sự đan xen cư dân của các huyện, các tỉnh khácđến Vì vậy, Quảng Trạch có bản sắc văn hóa đa dạng nhưng chưa được định hìnhbền vững và rõ nét Tuy vậy, vì yêu cầu cuộc sống đòi hỏi phải gắn bó với nhau đểchống chọi với thiên nhiên, đấu tranh chống áp bức, bất công xã hội nên đã sớmhình thành truyền thống đoàn kết của cư dân huyện Quảng Trạch
Nhìn chung lực lượng lao động chủ yếu tham gia vào lĩnh vực nông nghiệp
và tiểu thủ công nghiệp, bên cạnh đó còn có một bộ phận không nhỏ người lao động
ở một số xã tham gia vào lĩnh vực ngư nghiệp, nuôi trồng thủy hải sản
Ngay trong những ngày đầu khai phá, bên cạnh đồng bào lương giáo thìnhững đồng bào công giáo cũng có mặt ở đây rất sớm Chính trong những điều kiệnlao động khó khăn, vất vả ban đầu mà tinh thần đoàn kết của những đồng bào nơiđây ngày càng được củng cố Hiện nay, Quảng Trạch có 1 tôn giáo chính đó là Cônggiáo Đồng bào theo đạo Công giáo chiếm khoảng 27% dân số, cả huyện có 21 nhàthờ Ở đây, đồng bào theo Công giáo đang sống theo phương châm tốt đời đẹp đạo,phúc âm giữa lòng dân tộc, góp phần quan trọng trong cuộc cuộc bảo vệ và xâydựng quê hương Do có truyền thống đoàn kết ngay từ trong những ngày đầu tiênnên người dân ở đây ít có sự phân biệt về tôn giáo, dù kẻ địch có lợi dụng, phá hoạithì tinh thần đoàn kết của nhân dân vẫn được đề cao
Với vị trí địa lý đặc biệt, nơi giao thoa của hai nền văn hóa Đại Việt - Chăm
Pa, dân cư Quảng Trạch có nền văn hóa đa sắc diện, mang tính đặc trưng riêng.Cùng với những miền đất khác trong tỉnh, huyện Quảng Trạch là địa phương có bề
Trang 20dày văn hóa đáng kể Nằm trong hệ thống văn hóa nông nghiệp nói chung, ngườidân Quảng Trạch theo tín ngưỡng đa thần Họ thờ cúng tổ tiên, ông bà, đồng thờicũng tôn thờ thành hoàng, thần linh những vị có công đức với làng, với dân Các tậptục lễ hội ở đây phong phú đa dạng nhưng rất quy cũ, thể hiện sự nề nếp và có tácdụng cố kết cộng đồng.
1.3 Khái quát về tình hình hình - xã hội huyện Quảng Trạch giai đoạn
Giá cả thị trường không ổn định, ngân sách bội chi lớn Bình quân lươngthực đầu người đạt thấp “năm 1985 là 240 kg/người, chỉ đáp ứng 80% nhu cầu khuvực ở nông thôn, 75% nhu cầu xã hội”[70, tr 7] Hàng năm, tỉnh phải viện trợ lươngthực với khối lượng lớn để cân đối phần thiếu hụt Hầu hết vật tư kỹ thuật, trangthiết bị sản xuất, xây dựng, hàng hóa phục vụ sinh hoạt đều phụ thuộc bên ngoài,nhất là các sản phẩm công nghiệp phục vụ may mặc, đi lại, học tập… Hệ thống giaothông vận tải, thông tin liên lạc chậm khắc phục sửa chữa, bị chia cắt Các côngtrình phục vụ giáo dục, y tế, văn hóa bị xuống cấp nghiêm trọng, có những côngtrình văn hóa bị phá hủy hoàn toàn Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân bịgiảm sút, nhiều mặt xã hội không ổn định
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV (12/1977), Đại hộiđại biểu Đảng bộ tỉnh Bình Trị Thiên lần thứ nhất (19 - 23/5/1977) đã quyết định
“tập trung sản xuất lương thực, thực phẩm đề làm trọn nhiệm vụ hậu cần tại chỗ cho
Trang 21công nghiệp phát triển và cải tạo đời sống nhân dân”[13, tr 23].
Xuất phát từ đường lối kinh tế của Đảng, Nghị quyết 23, 24 (1977) củaTrung ương và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh, Đảng bộ huyện Quảng Trạch đãxác định 4 thế mạnh để phát triển kinh tế của huyện là: lương thực, vật liệu xâydựng, cây công nghiệp và chăn nuôi
Trên cơ sở phân tích mặt mạnh, mặt yếu của huyện, Đại hội đại biểu huyệnQuảng Trạch lần thứ XIII đã khẳng định:
Ra sức phát triển sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp, công nghiệp và thủ côngnghiệp một cách toàn diện, ổn định và đảm bảo đời sống nhân dân Tích cực thâmcanh cây trồng và chăn nuôi phát triển ngành giao thông, thủy lợi Củng cố, hoànthiện quan hệ sản xuất, ra sức cải tiến quản lý kinh tế, quản lý xã hội, lưu thôngphân phối, tăng cường xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, bảo vệ an ninh, sẵn sàngchiến đấu chống quân xâm lược, bảo vệ Tổ quốc.[4, tr 32]
Về nông nghiệp, thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ XIII, huyệntập trung phát triển theo hướng thâm canh, tăng vụ đi đôi với tổ chức lại sản xuất,đẩy mạnh khai hoang, cải tiến kĩ thuật canh tác Với ý chí tự lực tự cường, vượt quamọi khó khăn trước mắt, năm 1977 huyện đã thu được kết quả “tổng sản lượnglương thực năm 1977 đạt 22.000 tấn, năm 1979 đạt 26.676 tấn”[5, Tr 24]
Ngày 13 tháng 1 năm 1981, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 100
-CT/TW về “Cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm
và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp (gọi tắt là “Khoán 100”)” [19, tr.3].Quán triệt Chỉ thị số 100 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Huyện ủy đã lãnh đạonhân dân trong huyện nêu cao lòng yêu nước, phát huy ý thức tự lực, tự cường đểvượt qua mọi khó khăn giành các mục tiêu về kinh tế - xã hội đã đề ra
Đến tháng 7 năm 1981, toàn huyện có 35 hợp tác xã thực hiện khoán sảnphẩm đến nhóm và người lao động Chỉ thị số 100 “đã thúc đẩy sản xuất phát triển,củng cố được một bước công tác quản lý, quần chúng tin tưởng phấn khởi, ba lợiích được đảm bảo, quyền làm chủ tập thể của xã viên được tôn trọng và phát huymột cách thiết thực" [15, tr 28] Những tín hiệu bước đầu trong thực hiện Chỉ thị
Trang 22100 và tiến hành đổi mới cục bộ trên các mặt sản xuất công nghiệp, phân phối vàlưu thông theo tinh thần chỉ đạo của tỉnh trên địa bàn Quảng Bình nói chung vàhuyện Quảng Trạch nói riêng cho thấy đổi mới kinh tế là xu thế khách quan đáp ứngyêu cầu thực tiễn và quy luật phát triển đi lên chủ nghĩa xã hội đối với cách mạngViệt Nam
Với việc thực hiện cơ chế khoán sản phẩm, nông dân phấn khởi hăng hái laođộng sản xuất, bộ máy quản lý được cải tiến gọn nhẹ, hiệu quả sản xuất tăng lên rõrệt Sản xuất lương thực có những bước tiến bộ đáng kể, diện tích ngày càng mởrộng, nhất là trong “vụ đông xuân năm 1982 diện tích gieo trồng lên đến 350 ha lànăm có diện tích sản xuất cao nhất, góp phần nâng sản lượng lương thực cả năm củatoàn huyện đạt 2,8 vạn tấn” [15, tr 32]
Nguyên nhân dẫn đến sản lượng lương thực tăng bắt nguồn từ việc diện tíchgieo trồng được mở rộng ở một số xã, trong thời gian này huyện cũng đã thực hiệnnhiều chính sách nhằm khuyến khích người dân tập trung phát triển sản xuất, như
mở rộng hệ thống kênh mương, áp dụng một số loại giống mới năng suất cao,
Trong chăn nuôi cũng có bước phát triển, “đàn lợn năm 1978 có 38.000 contăng 19,7% so với năm 1977”[5, tr 14], tuy vậy quy mô chăn nuôi vẫn còn nhỏ lẻchưa mang lại hiệu quả cao
Thực hiện đổi mới về cơ chế quản lý kinh tế qua việc triển khai thực hiệnNghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 6 (khóa IV) tháng 8/1979, Nghị quyết số26-NQ/TW ngày 23/6/1980 của Bộ Chính trị về Cải tiến công tác phân phối, lưuthông (tài chính, tiền tệ, giá cả, tiền lương, thương nghiệp và quản lý thị trường).Huyện Quảng Trạch đã chủ động thực hiện phân phối và điều tiết lưu thông hànghóa, tạo điều kiện cho việc phân phối và lưu thông hàng hóa trở nên thuận lợi hơn.Nhờ vậy, tình hình cung ứng lương thực thực phẩm bớt gay gắt Thị trường hànghóa trở nên sôi động hơn
Trong lĩnh vực công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, huyện đã thực hiện nhiềubiện pháp, cách thức tổ chức sản xuất của các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh
và đề ra chủ trương cụ thể, hình thức tổ chức đối với các thành phần kinh tế Trên
Trang 23tinh thần đó, nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế phát triểnnhanh chóng, đặc biệt đã khơi dậy các ngành nghề truyền thống của nhân dân vàcác thành phần kinh tế, nhất là kinh tế cá thể, kinh tế gia đình được khuyến khích.
Hệ thống thương nghiệp với chợ làng, chợ phiên vốn đóng vai trò quan trọngtrong việc giao lưu, trao đổi hàng hóa của người dân thời kỳ trước vẫn tiếp tục giữ
vị trí quan trọng trong quá trình trao đổi và buôn bán hàng hóa giữa các địa phương.Trong giai đoạn này, bên cạnh hệ thống thương nghiệp truyền thống tiếp tục tồn tại
và phát triển nhiều loại hình khác như hợp tác xã mua bán, tín dụng đang ngày càngđược củng cố, tổ chức và nâng cao khả năng quản lý, phục vụ tốt hơn cho sản xuấtcũng như phân phối lưu thông, đáp ứng nhu yếu phẩm của đời sống nhân dân
Lĩnh vực giao thông vận tải và thông tin liên lạc, sau ngày giải phóng cáctuyến đường từng bước được khôi phục Tuyến đường bộ được liên thông, nối liềncác xã trong huyện và các huyện khác trong tỉnh Giao thông thuận tiện chính làđiều kiện để thúc đẩy sản xuất và buôn bán phát triển Trong những năm 1975 -
1985, trên cơ sở tiềm năng và thế mạnh về hệ thống giao thông, huyện Quảng Trạch
đã khai thác có hiệu quả các phương tiện vận tải hiện có, phát triển lực lượng vậntải đường bộ, đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hóa, đi lại của nhân dân
Cùng với ngành giao thông, hệ thống thông tin liên lạc cũng được chú trọngphát triển, mạng lưới thông tin liên lạc được mở rộng, phục vụ các nơi trọng điểmsản xuất, vùng kinh tế mới bảo đảm thông tin liên lạc thường xuyên, thông suốt,nhanh chóng, bí mật, an toàn từ xã lên huyện và từ huyện về cơ sở nhất là những lúcthời tiết xấu
Bên cạnh những kết quả đạt được, nhìn chung kinh tế huyện Quảng Trạchtrong giai đoạn này vẫn còn nhiều hạn chế nên chưa khai thác hết được những thếmạnh của huyện Sản xuất phát triển chậm, năng suất thấp, chưa đáp ứng yêu cầucủa đời sống và sẵn sàng chiến đấu; tinh thần làm chủ tập thể của nhân dân lao độngchưa được phát huy mạnh mẽ, còn nhiều hiện tượng tiêu cực trong xã hội Trongnông nghiệp chưa chuyển mạnh vào thâm canh nhất là phân, giống, thời vụ đềukém Năng suất thấp, mở rộng diện tích sản xuất chưa đi đôi với thâm canh, tăng vụ,
Trang 24chưa coi trọng phân bổ lao động trong nông nghiệp Công tác quản lý kinh tế và khuvực quốc doanh tập thể và kinh tế phụ gia đình còn nhiều khuyết điểm, làm cho sảnxuất phát triển chậm
Việc tổ chức lại sản xuất, xây dựng huyện còn yếu Việc củng cố và tăngcường công tác quản lý kinh tế trong các hợp tác xã và xí nghiệp quốc doanh nhìnchung còn yếu kém về nhiều mặt, nhất là xây dựng và thực hiện kế hoạch sản xuất,quản lý và sử dụng lao động, vật tư, tiền vốn và phân phối sản phẩm còn lúng túng
và có nơi còn tùy tiện Vì vậy, sản xuất chậm phát triển, năng suất lao động thấp, giáthành cao và một số nơi bị lỗ vốn, diện trung bình và yếu kém còn trên 50% Cáccấp, các ngành chưa nhận thức đầy đủ về ứng dụng khoa học kĩ thuật là then chốtnên việc ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn kém
1.3.2 Khái quát về tình hình xã hội huyện Quảng Trạch giai đoạn 1975 - 1985
* Giáo dục
Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước nên giáo dục tiếp tục phát triển, cóchuyển biến về chất lượng giáo dục toàn diện, phát huy được những kinh nghiệm,điển hình là phong trào dạy tốt - học tốt, duy trì và giữ vững chất lượng học tập quacác năm học Phong trào bổ túc văn hóa phát triển mạnh, nhất là trong hai năm
1980, 1981 “Toàn huyện đã phổ cập cấp I cho 100%, cấp II cho 60% số xã, thị trấnbao gồm các đối tượng cán bộ, đảng viên, đoàn viên thanh niên”[5, tr 38] Khối mẫugiáo đã thu hút trên 50% số cháu đến lớp Sự nghiệp nuôi dạy trẻ có nhiều tiến bộ,hàng năm thu nhận gần 4000 cháu vào nhà trẻ
Trang 25* Văn hóa văn nghệ, an ninh quốc phòng
Phong trào thể dục thể thao, rèn luyện thân thể được chú ý, nhất là trong cáctrường học, xí nghiệp, cơ quan và lực lượng vũ trang được nâng lên Hoạt động vănhóa thông tin đã tích cực bám sát nhiệm vụ chính trị, kịp thời tuyên truyền các chủtrương, chính sách của Đảng và Nhà nước, tuyên truyền gương người tốt, việc tốtđấu tranh phê phán các hiện tượng tiêu cực, góp phần khích lệ, động viên phongtrào cách mạng trong quần chúng
Công tác an ninh quốc phòng được quan tâm, mạng lưới an ninh tại địaphương được xây dựng làm cho người dân nhận thức rõ về chính trị, tin tưởng vàochủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Đồng thời xây dựng lựclượng dân quân tại chỗ theo chủ trương của Đảng với phương châm: bình là dân,chiến là lính Vì thế, công tác quốc phòng được chuẩn bị chu đáo, sẵn sàng đối phóvới mọi tình huống
Công tác thương binh xã hội có nhiều cố gắng trong tạo việc làm giúp đỡ cácđối tượng chính sách, giải quyết kịp thời các chế độ, làm tốt công tác toàn dân chămsóc, giáo dục, đỡ đầu con liệt sỹ; thúc đẩy phong trào thi đua xây dựng nếp sốngvăn minh, gia đình văn hóa mới, làm cho các đối tượng hiểu rõ hơn tình hình đấtnước tự giác tham gia sản xuất, công tác, giảm bớt hiện tượng tiêu cực
Nhìn chung, sau ngày đất nước thống nhất, đặc biệt là từ sau khi thành lậptỉnh Bình Trị Thiên, huyện Quảng Trạch đã tranh thủ mọi thời cơ, huy động mọinguồn lực để khôi phục kinh tế, ổn định đời sống, từng bước vượt qua thời kỳ suythoái kinh tế để bước sang giai đoạn phát triển mới
Các lĩnh vực văn hóa, xã hội được quan tâm đầu tư phát triển Nhiều thiếtchế văn hóa xã hội từng bước xây dựng, tạo môi trường văn hóa lành mạnh trongnhân dân, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa cộng đồng, đặc biệt là thế hệ trẻ Cuốinăm 1985 huyện Quảng Trạch cơ bản giải quyết được những vấn đề then chốt trongđời sống xã hội như an ninh lương thực, bước đầu khai thác được nguồn lực địaphương cho đầu tư phát triển theo hướng nâng cao hiệu quả thực tế của sản xuất,huy động mọi khả năng có thể để thực hiện 3 chương trình kinh tế lớn cho tỉnh Bình
Trang 26Trị Thiên là: Lương thực – thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu Nhữngthành tựu về kinh tế - xã hội đã có những tác động rất lớn trong tiến trình chuyểnnền kinh tế Quảng Trạch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa có tác động rấtlớn trong việc hình thành, phát triển và xây dựng hệ thống đô thị, góp phần nângcao mọi mặt đời sống của nhân dân trong toàn huyện.
Trang 27CHƯƠNG II QUÁ TRÌNH CHUYỂN BIẾN KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN QUẢNG TRẠCH TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2014
2.1 Tình hình kinh tế - xã hội huyện Quảng Trạch giai đoạn 1986 - 1996
2.1.1 Bối cảnh lịch sử và quá trình hình thành đường lối đổi mới
Bối cảnh lịch sử
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, mở ra một giai đoạnlịch sử mới cho sự phát triển của đất nước Non sông thu về một mối, cả nước cùngthực hiện một số nhiệm vụ chính trị là hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phụckinh tế, xây dựng và phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa Tuynhiên, bên cạnh những thuận lợi do thắng lợi vĩ đại của cuộc chiến tranh giải phóngmang lại thì những biến động trong xu thế chính trị thế giới và những khó khăn mớinảy sinh sau chiến tranh đã đặt đất nước ra trước những thử thách hết sức gay gắt
Về tình hình quốc tế, trong những năm đầu thập niên 70 của thế kỷ XX, trênthế giới đã diễn ra những biến đổi to lớn Cuộc khủng hoảng năng lượng năm 1973
đã dẫn đến khủng hoảng kinh tế, chính trị ở nhiều nước Để đối phó với cuộc khủnghoảng, nhiều nước đã tiến hành cơ cấu lại nền kinh tế, sử dụng những thành quả củacuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại để vượt qua khó khăn
Trong khi đó, các nước xã hội chủ nghĩa lại cho rằng quan hệ sản xuất xã hộichủ nghĩa không chịu tác động của cuộc khủng hoảng chung của thế giới, nên chậm
đề ra chính sách sửa đổi và đã lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng
Cuối những năm 70 của thế kỷ XX, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lầnthứ hai phát triển mạnh mẽ và tác động trực tiếp đến tất cả các quốc gia Toàn cầuhóa trở thành cơ hội đối với các nước phát triển, đồng thời cũng đặt ra nhiều tháchthức đối với các nước đang phát triển Để thoát khỏi khủng hoảng các nước xã hộichủ nghĩa đã tiến hành cải cách và mở cửa nền kinh tế Ở một số nước, quá trìnhtiến hành cải cách nền kinh tế nhằm thoát ra khỏi khủng hoảng nhưng không kiênđịnh lập trường xã hội chủ nghĩa đã kéo theo sự sụp đổ của hệ thống chính trị vàcuối cùng dẫn đến sự tan rã của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước
Trang 28Đông Âu Trong khi đó, các nước xã hội chủ nghĩa ở Châu Á cũng có những biếnđộng về chính sách kinh tế xã hội khiến cho mối liên kết cộng đồng trong hệ thốngcác nước xã hội chủ nghĩa trước đây không còn chặt chẽ và thống nhất Điều đó đãcảnh tỉnh và tác động rất lớn đến việc lựa chọn con đường phát triển của Việt Nam.
Tình hình trong nước, với Đại thắng mùa xuân năm 1975, đất nước thốngnhất cả nước tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa Từ năm 1975 đến 1986, bêncạnh những thuận lợi đất nước ta gặp không ít khó khăn thách thức Tư tưởng chủquan, nóng vội, muốn tiến nhanh, tiến mạnh lên chủ nghĩa xã hội , việc bố trí cơ cấukinh tế không phù hợp, cộng với những khuyết điểm của mô hình kế hoạch hóa, tậptrung quan liêu bao cấp bộc lộ ngày càng rõ, làm cho tình hình kinh tế xã hội rơivào tình trạng trì trệ, khủng hoảng Nền kinh tế nước ta mất cân đối nghiêm trọng,trong đó các thành phần kinh tế quốc doanh và tập thể sản xuất thua lỗ Thu nhập quốcdoanh chưa đảm bảo được tiêu dùng xã hội, lương thực và các mặt hàng tiêu dùng đềuthiếu, Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến những khó khăn thách thức trên
là do chúng ta mắc phải “sai lầm nghiêm trọng và kéo dài về chủ trương, chính sáchlớn, sai lầm về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện”[28, tr 57]
Chính vì vậy, vấn đề cấp bách đặt ra cho nước ta lúc này là tìm ra đường lối đổimới về mặt lý luận cũng như thực tiễn để đưa nền kinh tế xã hội từng bước đi lên
Quá trình hình thành đường lối đổi mới
Từ năm 1979 đến năm 1985 đã diễn ra một chuỗi đột phá tìm tòi đổi mới liêntục và có hệ thống nhằm giải quyết những khó khăn trước mắt của mô hình kinh tếtập trung quan liêu, bao cấp Sau khi thực hiện thống nhất về mặt Nhà nước, Đại hộilần thứ IV của Đảng đã quyết định những vấn đề quan trọng trong việc củng cố hệthống chính trị lãnh đạo đất nước bước vào giai đoạn hàn gắn vết thương chiếntranh, khôi phục kinh tế, đưa cả nước phát triển theo con đường chủ nghĩa xã hội.Ngày 20 - 9 - 1979, Hội nghị Trung ương 6 khóa IV của Đảng đã ban hành Nghịquyết số 20-NQ/TW “về tình hình nhiệm vụ cấp bách” có ý nghĩa đặt cơ sở bướcđầu cho quá trình đổi mới của nước ta Hội nghị đã đề ra những biện pháp nhằmkhắc phục những yếu kém trong quản lý kinh tế, phá bỏ những rào cản, mở đường
Trang 29cho sản xuất phát triển Trọng tâm là “lấy việc sản xuất làm tiêu chuẩn cao nhất đểđánh giá tính chính xác của chính sách Sửa đổi cách phân chia, ăn chia trong nội
bộ hợp tác xã nông nghiệp, đảm bảo nguyên tắc phân phối lao động” [39, tr 34].Những chủ trương đó bước đầu tạo ra sự phấn khởi, ở một số địa phương đã vậndụng nhằm tháo gỡ vướng mắc trong nền kinh tế Việc mạnh dạn đổi mới ở một sốđịa phương bước đầu đã thu được kết quả trong việc lưu thông hàng hóa, tuy nhiênvẫn còn rất nhiều vấn đề thực tiễn đặt ra đòi hỏi sự điều chỉnh trong chính sáchchung của Đảng và Nhà nước
Ngày 13-1-1981, Ban Bí thư ra Chỉ thị 100-CT/TW “về cải tiến công táckhoán” mở rộng hình thức khoán đến nhóm và người lao động trong hợp rác xãnông nghiệp, nhằm “phát huy quyền làm chủ và tính tính cực trong sản xuất mỗingười, mỗi gia đình, khuyến khích hơn nữa lợi ích thiết thân của người lao động,làm cho người lao động thực sự gắn bó với sản xuất” [25, tr 74] Chỉ thị 100 bướcđầu đã tạo ra một động lực mới trong sản xuất nông nghiệp
Trên lĩnh vực công thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước, từ năm 1979,Hội nghị Trung ương 6 (Khóa IV) đã ra nghị quyết về “phát triển công nghiệp tiêudùng và công nghiệp địa phương”, đưa ra nhiều giải pháp mở cửa nền kinh tế hànghóa nhiều thành phần Đối với các hình thức kinh tế tiểu thủ, tiểu thương, hộ cá thểđược tự do sản xuất và buôn bán trên thị trường, hàng tiêu dùng thông thường ngoàiphạm vi Nhà nước thống nhất quản lý thu mua và phân phối
Trên lĩnh vực phân phối - lưu thông, ngày 23-6-1980, Bộ Chính trị ra Nghịquyết 26-NQ/TW “về cải tiến công tác phân phối, lưu thông”, đề ra "mục tiêu cảitiến công tác phân phối, lưu thông trong những năm tới là: ổn định tài chính, lưuthông tiền tệ và thị trường; phân phối hợp lý sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân”[10, tr 9]
Như vậy, đến đầu những năm 1980, việc khởi đầu cho những đột phá về kinh
tế đã tạo ra hiệu quả, cải thiện tình hình quản lý điều hành, kích thích sản xuất kinhdoanh phát triển
Từ ngày 27 đến 31 - 3 -1982, Đại hội V của Đảng họp tại thủ đô Hà Nội
Trang 30Trên cơ sở đánh giá khách quan những thành tựu và hạn chế, Đại hội đã đề ra một
số chủ trương như:
Trong 5 năm 1981 - 1985, cần tập trung sức phát triển mạnh nông nghiệp, coinông nghiệp là mặt trận hàng đầu, đưa nông nghiệp một bước lên sản xuất lớn xã hộichủ nghĩa, ra sức đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng và tiếp tục xây dựng một số ngànhcông nghiệp nặng quan trong; kết hợp nông nghiệp, công nghiệp hàng tiêu dùng vàcông nghiệp nặng trong một cơ cấu công - nông nghiệp hợp lý [26, tr 23-24]
Sau Đại hội V, Ban chấp hành Trung ương Đảng đã tiến hành 11 Hội nghịTrung ương, trong đó có 8 Hội nghị bàn về kinh tế Đặc biệt, tháng 12-1984, Hộinghị lần thứ 7 (Khóa V) của Đảng khẳng định việc trước tiên cần làm là “xóa bỏchế độ quan liêu bao cấp, chuyển hẳn sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa,thực hiện mục tiêu ổn định tình hình kinh tế- xã hội đất nước”[31, tr 14]
Như vậy từ năm 1979 đến trước Đại hội VI (12-1986), công cuộc thửnghiệm, tìm tòi về cách làm ăn mới đã diễn ra sôi nổi ở một số địa phương đã gặthái được những thành công bước đầu nhưng cũng vấp phải không ít khó khăn Đâychính là quá trình chuẩn bị điều kiện, tiền đề và những yếu tố cần thiết cho sự ra đờiđường lối đổi mới toàn diện đất nước mà Đại hội VI là mốc mở đầu
2.1.2 Những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, tỉnh Quảng Bình và huyện Quảng Trạch
Trước những biến động tình hình quốc tế và trong nước, để phù hợp với xuthế phát triển mới của thế giới và khắc phục tình trạng suy thoái đang diễn ra trầmtrọng trong nước Tháng 12-1986, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảngđược tiến hành, mở đầu sự nghiệp đổi mới của đất nước Đại hội chủ trương thựchiện công cuộc đổi mới đất nước một cách toàn diện, trọng tâm là đổi mới kinh tế
Đại hội xác định: “Nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát của những nămcòn lại của chặng đường đầu tiên là ổn định mọi mặt tình hình kinh tế- xã hội, tiếptục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủnghĩa trong chặng đường tiếp theo”[28, tr 31] Đại hội đặt ra yêu cầu tập trung sứcthực hiện cho được ba chương trình kinh tế: lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng
Trang 31và hàng xuất khẩu.
Dưới ánh sáng của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Đại hội Đảng bộ tỉnhBình Trị Thiên lần thứ IV (10/1986) đã đề ra phương hướng với mục tiêu “phát triểnmạnh mẽ vững chắc toàn diện nông nghiệp, ra sức phát triển vai trò của côngnghiệp Củng cố và không ngừng hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội”[22, tr 42]
Quán triệt Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI và Nghị quyếtĐại hội Đại biểu tỉnh Bình Trị Thiên lần thứ IV, Đại hội Đảng bộ huyện QuảngTrạch lần thứ XVII (9/1986) đã đề ra chủ trương phát triển kinh tế - xã hội củahuyện Quảng Trạch trong giai đoạn 1986 - 1990 là:
Sớm ổn định tình hình kinh tế- xã hội, đẩy mạnh sản xuất, mở rộng lưu thôngphân phối, đưa nền kinh tế đi vào phát triển năng động đúng hướng vững chắc Phấnđấu đến năm 1990, tự cân đối lương thực, bảo đảm tốt những nhu cầu về học tập, chữabệnh cho người dân Củng cố quan hệ sản xã hội chủ nghĩa và hoàn thiện một bướcvững chắc trong các hợp tác xã nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp [5, tr 37]
Trên cơ sở chủ trương đường lối đề ra, Đảng bộ và nhân dân huyện QuảngTrạch quyết tâm thực hiện công cuộc xây dựng và phát triển kinh - tế xã hội tronggiai đoạn đổi mới
Sau 5 năm thực hiện sự nghiệp đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa đấtnước ta bước đầu đã đạt được những thành tựu có ý nghĩa quan trọng Tuy nhiên,kinh tế tăng trưởng vẫn chậm, nhiều vấn đề xã hội chưa được giải quyết, đời sốngnhân dân vẫn còn gặp nhiều khó khăn
Bước vào những năm đầu thập niên 90, tình hình quốc tế diễn biến phức tạp,
sự sụp đổ của các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô đã tác động khôngnhỏ tới nước ta, bên cạnh đó Mĩ duy trì chính sách cấm vận, ngăn cản các nước, các
tổ chức quốc tế thiết lập quan hệ ngoại giao với nước ta
Trước những khó khăn và thách thức đó, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứVII của Đảng (1991) đã kịp thời xác định mục tiêu kinh tế - xã hội trong 5 năm
1991 - 1995 là: “đẩy lùi và kiểm soát được nạn lạm phát, ổn định, phát triển và nângcao hiệu quả sản xuất xã hội, ổn định và cải thiện từng bước đời sống nhân dân, bắt
Trang 32đầu có tích lũy từ nội bộ nền kinh tế [38, tr 56-57] ”
Căn cứ vào thực tiễn của huyện trong những năm qua, Đại hội Đảng bộhuyện Quảng Trạch lần thứ XVIII đã đề ra chủ trương phát triển kinh tế là: đổi mới
và phát triển kinh tế, an ninh quốc phòng, giáo dục và văn hóa văn nghệ, chăm sócbảo vệ sức khỏe cho nhân dân, kế hoạch hóa dân số và gia đình Đại hội đã định ranhững biện pháp, giải pháp cụ thể để hoàn thành những mục tiêu đề ra
Về kinh tế: từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế, điều chỉnh chính sách đầu tưnhằm đẩy nhanh quá trình phát triển nông nghiệp, tăng tỷ trọng thương mại, dịch vụ.Tiếp tục tổ chức, sắp xếp nâng cao hiệu quả của các doanh nghiệp làm ăn có lãi, kiênquyết giải thể hoặc chuyển hình thức sở hữu các đơn vị làm ăn thua lỗ kéo dài Bằngcác hình thức huy động vốn để tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng, củng cố giao thông
Về văn hóa xã hội: chú trọng chăm lo đến các vấn đề xã hội, phát triển vănhóa, y tế, đổi mới tổ chức và hoạt động của các đoàn thể, tăng cường đấu tranhchống nạn tham nhũng, tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác
Để tiếp tục thực hiện công cuộc đổi mới, xây dựng thành công chủ nghĩa xãhội, Đại hội lần thứ VIII của Đảng (6/1996) đã xác định:
Tiếp tục nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc,đẩy mạnh CNH, HĐH và xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vậtchất - kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao Đến năm 2020,
ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp Đại hội đề rahướng phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH trong nhữngnăm còn lại của thập kỷ 90 Trong đó, đặc biệt coi trọng CNH, HĐH nông nghiệp vànông thôn; nâng cấp, cải tạo, mở rộng và xây dựng mới có trọng điểm kết cấu hạ tầngkinh tế; xây dựng có chọn lọc một số cơ sở công nghiệp nặng trọng yếu và hết sức cấpthiết; mở rộng thương nghiệp, du lịch, dịch vụ[30, tr 41]
Thực hiện Nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, Đại hộiĐảng bộ tỉnh Quảng Bình lần thứ XII, Đảng bộ huyện Quảng Trạch đã đề ra nhữngchủ trương phát triển kinh tế - xã hội của huyện trong những năm tới:
Trang 33Đẩy mạnh phát triển sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân, phát triển sựnghiệp giáo dục, văn hóa, y tế, giảm tỷ lệ tăng dân số, đẩy lùi tệ nạn xã hội.
“Khuyến khích mọi người phát triển kinh tế, đầu tư mở rộng ngành nghề tăng thunhập, giải quyết việc làm, phấn đấu giảm phần lớn hộ nghèo, mỗi năm giảm 8 đến10%”[67, tr 69]
Đẩy mạnh xây dựng cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng ở địa phương, tạo điềukiện thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo mô hình: tiểu thủ công nghiệp - côngnghiệp - thương nghiệp dịch vụ buôn bán - nông nghiệp, ứng dụng công nghệ mớisản xuất Tăng cường củng cố an ninh quốc phòng giữ vững an ninh chính trị, trật tự
an toàn xã hội
Như vậy, nhìn lại quá trình phát triển đường lối đổi mới của Đảng và Nhànước, có thể thấy rằng đường lối đổi mới là kết quả của một quá trình tìm tòi, thửnghiệm và được bổ sung, phát triển trong suốt thời kỳ dài; đó là quá trình đổi mới từthấp đến cao, từ đổi mới bộ phận, từng mặt đến đổi mới toàn diện với mốc đánh dấu
là Đại hội VI của Đảng (12/1986) Đường lối đổi mới đó đã được nhân dân cả nướcnói chung và nhân dân huyện Quảng Trạch nói riêng đón nhận, hưởng ứng và vậndụng một cách sáng tạo vào từng hoàn cảnh cụ thể của địa phương
2.1.3 Kinh tế huyện Quảng Trạch từ 1986 - 1996
Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) đất nước ta phát triển theo conđường xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới, tình hình kinh tế - xã hội huyện QuảngTrạch mới có từng bước cải thiện Mặc dù những khó khăn gay gắt trên nhiều mặt
từ giai đoạn đất nước rơi vào khủng hoảng kinh tế nhưng ngay từ khi có đường lốiđổi mới, Đảng bộ và nhân dân huyện Quảng Trạch đã từng bước đổi mới tư duy vềkinh tế, tổ chức sắp xếp lại sản xuất, phân công lại lao động trong từng cơ sở, phấnđấu dưa nền kinh tế vượt qua những thử thách và đã có những bước chuyển biến rõrệt Quán triệt Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ IV (khóaVI) và Nghị quyết tỉnh ủy Bình Trị Thiên lần thứ 2 ngày 31/1/1987 (khóa IV),huyện Quảng Trạch đã huy động mọi nguồn lực tổ chức thực hiện có hiệu quả 3chương trình kinh tế lớn, góp phần tháo dỡ dần những khó khăn, ách tắc trong sản
Trang 34xuất kinh doanh, trong đời sống của cán bộ và nhân dân Đây là điều kiện quantrọng để triển khai thực hiện công cuộc đổi mới ở huyện Quảng Trạch
2.1.3.1 Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ
Thực hiện chủ trương đổi mới kinh tế của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VI đề ra, huyện Quảng Trạch đã đẩy mạnh sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp,tập trung mở rộng đầu tư theo chiều sâu và nâng cao hiệu quả sản xuất Nhờ vậy,tình hình sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp có bước chuyển biến tích cực,công nghiệp quốc doanh được mở rộng và sản xuất có hiệu quả hơn Lực lượng sảnxuất phát triển, giá trị tài sản cố định tăng lên nhiều lần, hầu hết các hợp tác xã đều
tự vươn lên để khắc phục khó khăn, nên sản xuất phát triển năng suất lao độngkhông ngừng tăng lên Nhờ thực hiện chính sách đổi mới, các hợp tác xã đã nhạybén vận dụng phù hợp với cơ chế thị trường gắn với tiêu thụ sản phẩm
Trong 3 năm đầu thực hiện công cuộc đổi mới (1986 - 1989), sản xuất côngnghiệp và tiểu thủ công nghiệp có nhiều chuyển biến tích cực “Giá trị tổng sảnlượng lương thực thực hiện đạt 258 triệu đồng, bằng 125% năm 1985 Riêng côngnghiệp và tiểu thủ công nghiệp huyện quản lý đạt 96% kế hoạch bằng 103% nămtrước” [51, tr 22-23] Năm 1989 là năm bắt đầu thực hiện sản xuất kinh doanh theo
cơ chế mới, nhiều xí nghiệp, công ty, hợp tác xã đã chủ động giải quyết khó khăn,ách tắc và đã duy trì tiến độ sản xuất, đảm bảo dần những yêu cầu cho xã hội về cácmặt hàng tiêu dùng thiết yếu Điểm đáng chú ý nhất là Nghị quyết 16 của Bộ Chínhtrị ngày 18/8/1988 về đổi mới chính sách và cơ chế quản lý đối với cơ sở sản xuấtthuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh được thực hiện ngày càng có hiệuquả, có những khởi sắc trong sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp Một sốmặt hàng như đồ mộc xuất khẩu, đá ốp lát, gạch hoa, dụng cụ gò hàn phát triển,xuất hiện những nhân tố mới có hướng đi đúng “Năm 1989, giá trị tổng sản lượngcông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp do huyện quản lý thực hiện được 81.379.000đồng, tăng 1,5% so với năm 1988”[51, tr.14-15]
Sau khi tái lập tỉnh, Quảng Trạch trở lại với vị thế là đơn vị hành chính phíabắc của tỉnh Quảng Bình Nhận thức đúng vị trí của mình, ủy ban nhân dân huyện đã
Trang 35tiến hành tổ chức sắp xếp lại nền kinh tế công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đa dạng,khai thác được tiềm năng của các ngành và cơ sở thuộc các thành phần kinh tế trênđịa bàn, đầu tư phát triển sản xuất “Giá trị sản lượng công nghiệp, thủ công nghiệptrong 3 năm (1991 - 1993) tăng bình quân hàng năm 10,2%”[53, tr 18] Từ năm 1991
- 1993, nền kinh tế huyện đã tăng bình quân là 5,6% Giá trị công nghiệp và thủ côngnghiệp do huyện quản lý chiếm 41,8% tổng giá trị công nghiệp trên địa bàn
Năm 1995, giá trị sản lượng công nghiệp trên địa bàn là 42 tỷ đồng, chiếm30% giá trị tổng sản lượng toàn huyện, bình quân hàng năm tăng 13% Từ 1991-1993, nền kinh tế bước đầu chuyển dịch theo hướng tích cực, phát triển nhiềuthành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước Các lĩnhvực từng bước tạo ra nền sản xuất hàng hóa phục vụ cho tiêu dùng và xuất khẩu.Nguồn lực sản xuất được huy động tốt hơn, cơ sở vật chất kỹ thuật được tăng thêm
Bộ mặt huyện thay đổi nhanh chóng, các công trình được xây dựng với quy mô lớn
và khang trang hơn
Năm 1996, sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn huyệnphát triển theo hướng nhiều thành phần kinh tế như: công nghiệp quốc doanh, côngnghiệp ngoài quốc doanh, tiểu thủ công nghiệp tư nhân và hộ cá thể Phần lớn cácđơn vị đã chủ động trong sản xuất kinh doanh, tổ chức lại sản xuất, đổi mới côngnghệ, đa dạng hóa sản phẩm
Thương mại, dịch vụ năm 1986 cũng có bước chuyển biến mới “Giá trị hànghóa mua vào 320 triệu đồng, hàng mua tại địa phương chiếm 15% Mua lương thựcđạt 1600 tấn, hải sản 350 tấn Doanh số bán ra đạt 389 triệu đồng, bán lẻ chiếm57%”[70, tr 9] Thu ngân sách vượt kế hoạch Giá trị hàng thủ công nghiệp tăng10%, hàng thủy sản tăng 23% so với năm 1985 Giá trị xuất khẩu ngày càng tănglên với nhiều loại hàng hóa phong phú bình quân tăng 10% Năm 1989, nhiệm vụxuất khẩu được xem là ngành mũi nhọn, các ngành, các cơ sở sản xuất đã đầu tưvốn cho sản xuất và thu gom các mặt hàng phục vụ cho xuất khẩu
Năm 1991, hoạt động thương nghiệp và dịch vụ đã bắt đầu được đa dạnghóa, không khí giao thương nhộn nhịp trở lại Từ năm 1996, các ngành thương mại -
Trang 36du lịch - dịch vụ dần dần có thế mạnh, chiếm khoảng 40% tỷ trọng kinh tế củahuyện Các lĩnh vực lưu thông hàng hóa, phục vụ sản xuất tiêu dùng, du lịch vàquản lý thị trường đều có những chuyển biến tích cực Mạng lưới thương nghiệp ởcác vùng dân cư, các chợ được sắp xếp, bố trí lại một cách hợp lý, thu hút đượcnhiều thành phần kinh tế tham gia.
2.1.3.2 Nông – lâm – ngư nghiệp
Thực tế của nền kinh tế nước ta cho thấy, nông nghiệp có vai trò cực kỳ quantrọng đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Trong kháng chiến chống xâmlược trước đây cũng như trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, mặc dù còn những vấpváp sai lầm trong tổ chức chỉ đạo kinh tế nói chung và đối với nông nghiệp nóiriêng, song Đảng và Nhà nước ta luôn có những chủ trương, chính sách mới đối vớinông nghiệp nông thôn, nông dân
Quán triệt tinh thần chỉ đạo của Trung ương và căn cứ vào thực tế địaphương, Đảng bộ tỉnh Quảng Bình đã đề ra phương hướng phát triển kinh tế nôngnghiệp trong giai đoạn 1986-1990 là thực sự tôn trọng và phát huy quyền làm chủtập thể của nhân dân các dân tộc trong tỉnh, nêu cao tình thần tự lực, tự cường, chủđộng sáng tạo, khai thác tốt các tiềm năng lao động, đất đai, ngành nghề, cơ sở vậtchất kỹ thuật Tập trung sự lãnh đạo, chỉ đạo sự phát triển nông nghiệp toàn diện,khẳng định nông nghiệp là mặt trận hàng đầu Phát triển mạnh công nghiệp, tiểu thủcông nghiệp và các ngành nghề kinh tế khác để phục vụ đắc lực nông nghiệp, sớmhình thành cơ cấu công - nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Trước hết giải quyết vữngchắc vấn đề lương thực thực phẩm
Thực hiện và triển khai có hiệu quả những chủ trương mang tính chất đổimới của Đảng theo tinh thần Nghị quyết Đại hội VI (tháng 12/1986) và phươnghướng nhiệm vụ phát triển nông nghiệp của Tỉnh uỷ Quảng Bình được trình bàythông qua Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VII (tháng 10/1986) Đảng bộhuyện Quảng Trạch đã xác định rõ phương hướng của huyện trong thời kỳ này là
“Tập trung mọi khả năng vào nhiệm vụ hàng đầu là phát triển nông nghiệp toàndiện, vừa ra sức thâm canh lúa vừa mở rộng sản xuất màu để có đủ lương thực đảm
Trang 37bảo nhu cầu ăn của nhân dân và một phần dự trữ”
Sản xuất nông nghiệp đã chuyển hướng tích cực trong thực hiện khoán sảnphẩm đến nhóm và người lao động Thực hiện cơ chế “khoán 10” trong nông nghiệp
đã góp phần giải phóng các nguồn lực trên địa bàn huyện, mở rộng các hình thứclao động, tăng diện tích, tăng năng suất và sản lượng, giúp cho huyện từng bướcgiải quyết được vấn đề lương thực, thực phẩm “Sản lượng lương thực năm 1986đạt 11.200 tấn, tăng hơn 1200 tấn so với năm 1984 Năng suất lúa bình quân cả nămđạt 5,6 tấn/ha”[70, tr 8] Diện tích cây xuất khẩu chiếm 9,6 tổng diện tích, kinh tếvườn và kinh tế gia đình phát triển mạnh Để tăng nhanh sản lượng lương thực,
“năm 1989 đã đưa diện tích gieo trồng thực hiện 6.359 ha, đạt 110% kế hoạch, sovới năm 1988 tăng 19% đưa năng suất lúa bình quân từ 20 - 30 tạ/ha một vụ”[74, tr.14] Nhiều hợp tác xã đầu tư kỹ thuật, thâm canh, thay đổi giống, thực hiện “khoán10” tạo động lực thúc đẩy tăng thêm sản phẩm, tăng thu nhập
Từ năm 1990, lãnh đạo huyện tập trung chỉ đạo thực hiện đường lối đổi mới
cơ chế quản lý HTX theo Nghị quyết 10-NQ/TW về đổi mới quản lý kinh tế nôngnghiệp ngày 5 – 4 - 1988 của Bộ Chính trị Việc vận dụng cơ chế “khoán 10” đãmang lại hiệu quả trực tiếp trong sản xuất, giá trị sản lượng nông nghiệp tăng bìnhquân hàng năm là 5% “Sản lượng lương thực năm 1992 đạt 13.327 tấn, năng suấtlúa tăng từ 30,2 tạ/ha Đông Xuân năm 1991 lên 32 tạ/ha Đông Xuân 1993”[77, tr.8] Giá trị sản phẩm hàng hóa trên 1 ha gieo trồng từ 10 triệu đồng/ha năm 1992 lên
15 triệu đồng/ha năm 1995 “Tổng đàn gia súc, gia cầm tăng bình quân 9% đưa giátrị chăn nuôi chiếm 42,5% trong tổng giá trị sản lượng nông nghiệp”[77, tr 9] Trong năm 1991, huyện tập trung chỉ đạo các xã vận động bà con nông dânthực hiện cấp 1 hoá giống lúa có năng suất cao đưa vào sản xuất, đồng thời thựchiện những biện pháp thâm canh, tăng vụ, chú trọng phát triển gia súc gia cầm, tăngdiện tích các loại cây công nghiệp ngắn ngày nâng cao năng suất, tận dụng quỹ đất
và cải tạo đất Đồng thời huyện còn tiến hành các biện pháp khuyến nông như làmthuỷ lợi, cung ứng vật tư, giống, vốn, bảo vệ thực vật nhằm huy động một cách cóhiệu quả năng lực trình độ sản xuất thâm canh của nông dân Cố gắng hạn chếnhững ảnh hưởng của thời tiết gây ra để mở rộng diện tích, nâng cao năng suất và
Trang 38chất lượng cây trồng, phấn đấu hoàn thành mọi chỉ tiêu về sản xuất nông nghiệp.
Bảng 2.1 Diện tích và năng suất lúa giai đoạn 1991-1995
Tổng diện tích gieo trồng 17.480 ha 18.112 ha 18.324 ha 18.527 ha 18.793 haNăng suất lúa bình quân 25 tạ/ha 27,2 tạ/ha 28,7 tạ/ha 29 tạ/ha 33 tạ/ha
[5, tr 18]
Thành công lớn nhất trong những năm 1991-1994 là việc chuyển dịch hệthống cây trồng cũng như cơ cấu ngành trồng trọt, phá dần thế độc canh cây lúa bằngcách tăng vụ và đổi mới cơ cấu mùa vụ, tăng diện tích gieo trồng nhằm sử dụngruộng đất có hiệu quả và phát triển kinh tế đa dạng
Tỷ trọng diện tích cây lương thực đang có xu hướng giảm dần, tăng tỷ trọngdiện tích cây công nghiệp ngắn ngày, cây thực phẩm và cây ăn quả Diện tích câylương thực năm 1991 chiếm 88% tổng diện tích trồng trọt, năm 1994 giảm xuốngcòn 83,3%
Do tỷ trọng diện tích thay đổi, nên tỷ trọng giá trị sản lượng ngành trồngtrọt cũng có sự thay đổi Tổng giá trị sản lượng cây lương thực năm 1991 chiếm73,4%, năm 1994 giảm xuống 71,3% Tương ứng như vậy cây công nghiệp ngắnngày từ 17,6% tăng lên 18,2%, cây thực phẩm từ 7,5% tăng lên 8,7%, cây ăn quả từ1,5% lên 1,8% [52, tr.9]
Ngành chăn nuôi giai đoạn 1986 – 1996 cũng có những sự chuyển biến sovới giai đoạn trước năm 1986 Đối với đàn trâu bò kể từ khi thực hiện khoán 10, đàntrâu bò của hợp tác xã nông nghiệp đã được hoá giá bán cho các xã viên, do yêu cầuchủ động về sức kéo, thời vụ khẩn trương, các hộ nông nghiệp đã bỏ vốn mua thêmtrâu, bò Ngoài ra do ruộng đất manh mún theo từng thửa ruộng và các hộ nôngnghiệp có khả năng làm đất bằng sức người nhưng chủ yếu diện tích làm đất trongtoàn huyện giai đoạn này vẫn do trâu bò cày kéo Chính vì vậy đàn trâu bò được chămsóc tốt hơn và số lượng tăng lên nhiều so với giai đoạn trước Tổng đàn trâu bò năm
1986 toàn huyện có 16.113 con thì đến năm 1988 đàn trâu, bò tăng lên 21.474 con.Giai đoạn này việc chăn nuôi trâu bò của huyện Quảng Trạch vẫn chủ yếu để lấy sứckéo chưa có hướng chăn nuôi để lấy thịt và sữa cung cấp cho thị trường
Trang 39Bảng 2.2 Tổng số trâu bò của huyện Quảng Trạch từ năm 1986-1995
Đvt: con
Tổng số đàn trâu bò 16113 20611 21474 21697 21578 21080 21358 22564 23184 24063
[5, tr 19]Đàn lợn và gia trên địa bàn huyện tăng nhanh về số lượng, nhiều hộ gia đình
đã nuôi với số lượng lớn nhằm phát triển theo hướng kinh doanh Cùng với sự giatăng về số lượng đàn lợn thì sản lượng thịt xuất chuồng và đàn lợn nái tăng lên.Tính trung bình năm 1995 mỗi con lợn xuất chuồng đạt 90kg Sự gia tăng về sốlượng đàn lợn và sản lượng thịt khá nhanh so với sự tăng trưởng trong sản xuấtlương thực
Cùng với sự tăng trưởng và phát triển của đàn trâu bò, đàn lợn thì đàn giacầm của huyện Quảng Trạch cũng phát triển tương đối khá và số lượng đàn gia cầmtăng lên hàng năm Do yêu cầu về thực phẩm của thị trường trong huyện và trên địabàn tỉnh, cùng với sự tích cực đầu tư vốn của các hộ gia đình và được sự hướng dẫncủa cán bộ thú y nên chăn nuôi gia cầm phát triển khá đều qua các năm, nhất là sựphát triển đàn gà công nghiệp ở các xã
Nhìn chung trong giai đoạn này chăn nuôi vẫn chưa trở thành ngành sản xuấtchính Số lượng các hộ chăn nuôi gia súc, gia cầm với số lượng lớn và số vốn đầu tư caotrong toàn huyện chưa nhiều Chăn nuôi vẫn còn mang tính chất tận dụng là chính
Về lâm nghiệp huyện Quảng Trạch có diện tích gò đồi rộng lớn ở phía bắcchưa được khai thác hiệu quả Sau khi có cơ chế quản lý mới, huyện đã lập và triểnkhai dự án phát triển kinh tế gò đồi phía bắc và đã thu được những kết quả khảquan Nhiều mô hình kinh tế trang trại đã xuất hiện, trở thành hình mẫu phát triểnkinh tế hộ, kinh tế hợp tác và dịch vụ nông nghiệp Từ năm 1986 đến năm 1995dưới sự lãnh đạo của Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Bình và Uỷ ban nhân dân huyệnQuảng Trạch đã chỉ đạo hạt kiểm lâm huyện cùng chính quyền các xã có rừng, giaokhoán đất rừng cho các hộ gia đình, cá nhân vào mục đích lâm nghiệp với diện tích
là 320,78ha năm 1998
Trang 40Ngành khai thác, chế biến, nuôi trồng thủy sản có những chuyển biến tíchcực từ việc đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật đến tổ chức quản lý, điềuhành đánh bắt, nuôi trồng thủy hải sản “Sản lượng đánh bắt hải sản đạt 100% kếhoạch, tăng 50 tấn hải sản so với năm 1985 Sản phẩm chế biến đạt trên 60% sảnlượng đánh bắt”[69, tr 34] Diện tích muối đưa vào sản xuất tăng thêm 22 ha nângsản lượng muối thực hiện 3260 tấn đạt 115% kế hoạch Hợp tác xã muối CảnhDương đạt 130% và 7 năm liền vượt mức kế hoạch sản xuất và giao nộp sản phẩmnghĩa vụ “Ngành ngư nghiệp huyện trong năm 1989 đã thu được 1320 tấn cá, tômđạt 83,2% kế hoạch Thu mua hải sản xuất khẩu so với năm trước tăng hơn130%”[74, tr 11].
Giai đoạn 1991 - 1993, sản lượng thủy sản tăng hàng năm từ 8 - 10% Thủysản được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn của huyện Toàn huyện đã cải tạođược 67 ao, hồ nuôi tôm của xuất khẩu tăng gấp 3 lần năm 1991 Chế biến hải sảnđược chú trọng, nghề làm muối được duy trì ổn định “Sản lượng đánh bắt tăng4,7%/năm Năm 1995 đạt 3200 tấn, hải sản xuất khẩu chiếm 27% giá trị hàng năm.Năm 1995 còn đưa 130 ha mặt nước mặn, lợ nuôi tôm, cua, tăng 6 lần so với năm1992”[52, tr 37] Huy động mọi nguồn lực để đổi mới thiết bị, ngư cụ, áp dụng tiến
bộ khoa học kỹ thuật tạo năng suất cao trong đánh bắt và nuôi trồng thủy sản Năm
1996 có 335 tàu thuyền cơ giới với công suất 10.776 CV
Như vậy, nhờ thực hiện đường lối, cơ chế mới nên Quảng Trạch đã bước đầugặt hái được một số thành tựu Điều này chứng minh sự đúng đắn về đường lối doĐảng đề ra Đồng thời, cũng nhờ sự chỉ đạo trực tiếp của Tỉnh ủy và Ủy ban nhândân Tỉnh vào đặc điểm tình hình của địa phương, tinh thần tự lực, tự cường củanhân dân đã làm cho đời sống của nhân dân cải thiện rõ rệt Huyện Quảng Trạch đãvượt qua những khó khăn thử thách, mang lại những bước chuyển biến tích cựctrong kinh tế “Nhịp độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm tăng 7,8% Cácdoanh nghiệp nhà nước từng bước được tăng cường đổi mới công nghệ thiết bị,kinh tế tập thể được chuyển đổi đa dạng, các hợp tác xã làm ăn ngày càng có lãi”[5,
tr 89] Thế và lực của huyện ngày càng được phát huy