1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp thúc đẩy sự hình thành và phát triển quỹ đầu tư chứng khoán tại việt nam

98 229 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 590 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, đây cũng là điểm bất lợi cho quỹ, vì cơ cấu vốn không ổn định, cho nên quỹ thường xuyên phải duy trì một tỷ lệ khá lớn những tài sản có tính thanh khoản cao như các trái phiếu

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Việt nam đang chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thịtrưòng có sự điều tiết của Nhà nước Trải qua hơn 10 năm thực hiện côngcuộc đổi mới, đất nước đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên mọilĩnh vực của đời sống xã hội Về kinh tế, nhịp độ tăng trưởng bình quânGDP đạt 7% Đời sống vật chất tinh thần của phần lớn nhân dân được cảithiện Tình hình chính trị ổn định, quốc phòng và an ninh được cũng cố.Quan hệ đối ngoại được phát triển mạnh mẽ, Việt Nam đã tham gia tíchcực vào đời sống cộng đồng quốc tế Đại hội Đảng VIII - 1996 nhận định:Nước ta đã ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội và bắt đầu chuyểnsang một giai đoạn mới, giai đoạn thực hiện công cuộc công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước với mục tiêu đến năm 2020, Việt nam cơ bản trởthành nước công nghiệp

Để thực hiện mục tiêu đó Đảng và Nhà nước đề ra chính sách nhằmtiếp tục đổi mới cơ chế quản lý kinh tế trong đó có việc tạo lập đồng bộ cácyếu tố của thị trường, đặc biệt là thị trường vốn và từng bước hình thành thịtrường chứng khoán ở Việt Nam Ngày 20 tháng 7 năm 2000, Trung tâmgiao dịch chứng khoán đầu tiên đã đi vào hoạt động tại Thành Phố Hồ ChíMinh, tạo một kênh huy động và phân phối vốn dài hạn cho nền kinh tế.Thị trường chứng khoán muốn hoạt động hiệu quả cần phải có đầy đủcác yếu tố của thị trường, trong đó các "định chế tài chính vệ tinh" đóng vaitrò hết sức quan trọng Quỹ đầu tư, một trung gian tài chính phi ngân hàng,trên thị trường chứng khoán vừa đóng vai trò là tổ chức phát hành, vừađóng vai trò là tổ chức đầu tư chuyên nghiệp, sẽ hướng cho các hoạt độnggiao dịch chứng khoán diễn ra đều đặn, do đó hổ trợ tích cực cho việc hìnhthành và phát triển thị trường chứng khoán tại Việt Nam

Chính vì vậy việc nghiên cứu qũy đầu tư chứng khoán hiện nay là mộtviệc làm cần thiết nhằm phát huy vai trò của nó trên thị trường chứngkhoán

Trên cơ sở đó tôi chọn đề tài " Giải pháp thúc đẩy sự hình thành và phát triển quỹ đầu tư chứng khoán tại Việt Nam "

Trang 2

Luận văn gồm 3 chương :

Chương 1: Quỹ đầu tư chứng khoán trong nền kinh tế thị thường Chương 2: Thực trạng hoạt động của các quỹ đầu tư tại Việt Nam.

Chương 3 : Giải pháp thúc đẩy sự hình thành và phát triển quỹ đầu tư chứng khoán tại Việt Nam.

TRONG KHUÔN KHỔ LUẬN VĂN TÔI HY VỌNG CÓ THỂ ĐÓNG GÓP MỘT PHẦN NÀO HIỂU BIẾT CỦA MÌNH VÀO VIỆC NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN CŨNG NHƯ THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN.

Trang 3

CHƯƠNG 1

QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

1.1 TỔNG QUAN VỀ QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN

1.1.1 Khái niệm và phân loại quỹ đầu tư chứng khoán

1.1.1.1 Khái niệm quỹ đầu tư chứng khoán

Ba mươi năm trước, khái niệm về quỹ đầu tư chứng khoán (sau đâygọi tắt là quỹ đầu tư ) còn khá mới mẻ Tại Mỹ, vào thập kỷ 70, các quỹđầu tư bắt đầu phát triển nhanh chóng do những ưu điểm của chúng

Quỹ đầu tư chứng khoán hay công ty đầu tư là những trung gian tàichính thu nhận vốn của nhiều nhà đầu tư bằng cách bán cho họ cổ phần vàdùng số tiền thu được này để mua chứng khoán

Như vậy quỹ đầu tư là một "phương thức đầu tư tập thể", là một cấutrúc tài chính dùng để huy động và quản lý tiền của các nhà đầu tư Nhữngnhà đầu tư dành việc kiểm soát tiền của mình cho các nhà quản lý chuyênnghiệp và những nhà quản lý này sẽ trực tiếp đầu tư Ban đầu, họ chỉ đầu tưduy nhất vào các cổ phiếu nhưng nay nhiều quỹ chuyên môn hoá sâu cáccông cụ vay nợ, nhiều quỹ còn chuyên môn hoá sâu hơn, chỉ đầu tư duynhất vào những ngành công nghiệp đặc thù như kỹ thuật cao, năng lượng

1.1.1.2 Phân loại quỹ đầu tư chứng khoán

Cơ cấu tổ chức và nguyên tắc điều hành chung của tất cả các quĩ đầu

tư trên thế giới đều có thể đưa về một trong hai mô hình, mô hình tín thác

và mô hình công ty Nhưng ở mỗi quốc gia, có thể có nhiều loại quỹ khácnhau theo từng đặc thù và định hướng hoạt động của chúng

- Căn cứ vào tính chất góp vốn, quỹ đầu tư được chia thành 2 loại: quỹđầu tư đóng và quỹ đầu tư mở

+ Quỹ đầu tư đóng:

Đây là quỹ đầu tư thường chỉ tạo vốn qua một lần bán chứng khoáncho công chúng Quỹ đầu tư dạng đóng có thể phát hành cổ phiếu thường,

cổ phiếu ưu đãi Quỹ không được phát hành thêm bất kỳ một loại cổ phiếu

Trang 4

nào để huy động thêm vốn và cũng không mua lại các cổ phiếu đã pháthành, nhà đầu tư không được phép rút vốn bằng cách bán lại chứng chỉ quỹđầu tư cho chính quỹ đầu tư Tuy nhiên, chính việc cấm rút vốn này làmcho cấu trúc của quỹ rất chặt chẽ, nên các chứng chỉ quỹ đầu tư đóngthường được niêm yết giao dịch trên Sở giao dịch chứng khoán Vì vậyngười đầu tư có thể rút vốn bằng cách bán lại các chứng chỉ quỹ đầu tư trên

sở giao dịch chứng khoán

Với cơ cấu vốn ổn định nên quỹ đầu tư dạng đóng có điều kiện đầu tưvào các dự án lớn và các chứng khoán có tính thanh khoản thấp Cũngchính vì lý do này nên các chứng chỉ đầu tư của quỹ có giá cả thường thấphơn giá trị thực của nó và thời gian thu hồi vốn lâu hơn

+ Quỹ đầu tư dạng mở:

Là loại quỹ đầu tư trong đó người tham gia góp vốn được phép bán lạicác chứng chỉ đầu tư cho bản thân quỹ để thu hồi vốn Quỹ có nghĩa vụphải mua lại các chứng chỉ này theo giá dựa trên cơ sở tính toán giá trịdanh mục đầu tư của quỹ tại thời điểm mua lại Quỹ đầu tư dạng mở luônphát hành thêm cổ phiếu mới các cổ phiếu của quỹ được bán trực tiếp chocông chúng không qua thị trường chứng khoán Muốn mua cổ phiếu quỹđầu tư dạng mở, người đầu tư không phải qua tư vấn hoặc môi giới, khôngphải trả tiền hoa hồng mà có thể viết thư hoặc điện thoại trực tiếp cho quỹ

Do cấu trúc hoạt động của quỹ có tính chất "mở" nên rất thuận tiệncho người đầu tư trong việc rút vốn vào bất cứ lúc nào nếu họ thấy hoạtđộng của quỹ không hiệu quả Tuy nhiên, đây cũng là điểm bất lợi cho quỹ,

vì cơ cấu vốn không ổn định, cho nên quỹ thường xuyên phải duy trì một tỷ

lệ khá lớn những tài sản có tính thanh khoản cao như các trái phiếu chínhphủ hoặc cổ phiếu được niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán, chứ ít cókhả năng đầu tư vào các dự án lớn có tiềm năng và những dự án có lợinhuận lớn nhưng có độ rủi ro cao

Sự khác nhau giữa quỹ đầu tư dạng đóng và quỹ đầu tư dạng mở đượcthể hiện trong bảng sau:

Trang 5

Bảng 1.1 Sự khác biệt giữa quỹ đầu tư chứng khoán dạng đóng

và quỹ đầu tư chứng khoán dạng mở

3 Nhà phát hành mua lại Có mua lại Không mua lại

4 Nơi các cổ phiếu được

giao dịch

Cổ phiếu được mua trực tiếp từ Qũy; nhà bảo lãnh phát hành,hoặc nhà kinh doanh, môi giới chứng khoán

Cổ phiếu được giao dịch trên thị trường chứng khoán và phi tập trung.

5 Mối quan hệ giữa người

mua với giá trị tài sản

Cổ phiếu được xác định bằng cung và cầu Giá có thể vượt quá giá trị tài sản thuần hoặc thấphơn giá trị tài sản thuần.

6 Các chi phí Lệ phí bán được cộng

thêm vào giá trị tài sản thuần Bât cứ phí tổn mua lại nào phải được công bố

rõ ràng tỏng bản cáo bạch

Hoa hồng được trả cho nhà trung gian khi giao dịch đã thực hiện Sự tăng giá và giảm giá được tính trên cơ sở vốn gốc giao dịch được thực hiện.

- Căn cứ vào số lượng người tham gia, có thể phân thành quỹ đầu tư

tư nhân và quỹ đầu tư tập thể

+ Quỹ đầu tư tư nhân

Được tổ chức dưới hình thức quỹ do một số tổ chức, cá nhân góp vốn

và thuê công ty quản lý quỹ quản lý nhằm mục đích đầu tư vốn của mìnhmột cách có lợi nhất và đảm bảo quản lý chặt chẽ vốn đầu tư

Phương thức huy động vốn do những người sáng lập đóng góp theohình thức chung phần

Phạm vi đầu tư: Xuất phát từ nguồn vốn huy động ở một số ít tổ chức

và cá nhân có quan hệ với nhau, nên các quỹ này có thể đầu tư vào các dự

Trang 6

án dài hạn, có tiềm năng phát triển cao và chấp nhận được mức độ rủi rolớn Các quỹ này thường đầu tư vào chứng khoán của các công ty ít danhtiếng và chưa được niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán.

Khi công ty phát triển đến một mức độ nhất định thì họ có thể thu hồivốn đầu tư của mình bằng cách bán lại phần vốn góp, hay đưa công ty raniêm yết trên sở giao dịch chứng khoán để bán các chứng khoán mà họđang nắm giữ

+ Quỹ đầu tư tập thể:

Là loại hình quỹ đầu tư mà có số người tham gia góp vốn lớn hơn rấtnhiều so với quỹ đầu tư tư nhân và các chứng chỉ góp vốn của người đầu tưđược mua bán rộng rãi trên thị trường

Phạm vi đầu tư:

Ở loại hình này, do số lượng người góp vốn rất nhiều nên tạo ra khốilượng vốn lớn, quỹ có điều kiện thuận lợi trong việc đa dạng hoá tài sảngiảm bớt rủi ro cũng như trong việc đầu tư vào các dự án cần lượng vốnđầu tư lớn

Phần đông những người góp vốn không có kiến thức chuyên sâu vềlĩnh vực đầu tư, nên cấu trúc tổ chức của quỹ đầu tư tập thể khá chặt chẽ,

và cũng được phân loại ra các nhóm quỹ đầu tư khác nhau

- Căn cứ vào tính chất của các tài sản tài chính, quỹ đầu tư được chiathành quỹ cổ phiếu, quỹ trái phiếu và quỹ hỗn hợp

+ Quỹ cổ phiếu:

Danh mục đầu tư của quỹ này hầu hết là cổ phiếu thường nhằm mụcđích thu lãi cổ tức và giá trị vốn gốc gia tăng do giá trị của công ty tăng.Tuỳ theo mục đích đầu tư mà quỹ cổ phiếu có thể chỉ nhằm vào những loại

cổ phiếu thượng hạng có chất lượng cao, rủi ro thấp, hoặc nhằm vào những

cổ phiếu của các công ty có mức tăng trưởng nhanh Những cổ phiếu nàytuy có mức độ rủi ro cao hơn nhưng lại cho thu nhập cổ tức lớn

+ Quỹ trái phiếu:

Quỹ này thuần tuý đầu tư vào các trái phiếu chính phủ, tín phiếu khobạc và các trái phiếu công ty Do các trái phiếu luôn cho mức thu nhập cố

Trang 7

định nên thu nhập của người đầu tư vào quỹ này rất ổn định và an toàn.Cũng có loại quỹ trái phiếu chỉ đầu tư vào các công cụ trái phiếu đượcmiễn thuế.

+ Quỹ hỗn hợp:

Đây là loại quỹ duy trì một danh mục đầu tư được cơ cấu hợp lý vớicác loại tài sản khác nhau như cổ phiếu, trái phiếu, cổ phiếu ưu đãi Danhmục các công cụ đầu tư này có kết cấu thời hạn và mức độ rủi ro hợp lý,nhằm đảm bảo mức thu nhập cao song vẫn phòng tránh được rủi ro Danhmục đầu tư của quỹ được thay đổi tuỳ theo diễn biến thị trường

- Căn cứ vào thời hạn của các tài sản tài chính Quỹ đầu tư được chiathành: quỹ đầu tư chứng khoán dài hạn và quỹ đầu tư chứng khoán ngắnhạn

+ Quỹ đầu tư chứng khoán dài hạn:

Đối tượng đầu tư của quỹ này tương đối đa dạng, bao gồm cả đầu tưtrực tiếp vào các công ty, các dự án và đầu tư gián tiếp vào thị trườngchứng khoán Nhìn chung, quỹ này thường có hệ số rủi ro cao, song để đổilại, nó có thể gặt hái được những lợi nhuận lớn hơn nhiều

+ Quỹ đầu tư chứng khoán ngắn hạn:

Loại quỹ này chủ yếu đầu tư vào các công cụ tài chính ngắn hạn (thờihạn dưới 1 năm) trên thị trường tiền tệ, nên còn được gọi là quỹ thị trườngtiền tệ Mục tiêu đầu tư điển hình của những quỹ này thường là thươngphiếu và chứng chỉ tiền gửi cũng như một số chứng khoán ngắn hạn khác.Quỹ này có ưu điểm là độ an toàn cao, khả năng hoán đổi ra tiền mặtnhanh, các chi phí giao dịch thực hiện không lớn

- Căn cứ vào lĩnh vực đầu tư, các quỹ đầu tư được chia làm 3 loại: quỹđầu tư ngành, quỹ đầu tư đô thị và quỹ tăng trưởng

+ Quỹ đầu tư ngành:

Các quỹ này đầu tư phần lớn tài sản vào một ngành công nghệ nào đónhư viễn thông, năng lượng hay vận tải tuân thủ theo đúng mục tiêu đầu

tư ghi trong bản cáo bạch chào bán cổ phiếu của quỹ

+ Quỹ đầu tư đô thị:

Trang 8

Các quỹ này tập trung huy động vốn cho các dự án phát triển cơ sở hạtầng của một số địa phương.

+ Quỹ tăng trưởng

Là quỹ chuyên đầu tư vào các dự án mới có hàm lượng công nghệcao, có khả năng phát triển tốt hay cổ phiếu của các doanh nghiệp vừa vànhỏ, có tiềm năng tăng trưởng trong dài hạn

- Căn cứ vào vũng lãnh thổ, quỹ đầu tư được chia làm 4 loại:

+ Quỹ đầu tư quốc gia cho phép đầu tư riêng một quốc gia Có quốcgia hạn chế các nhà đầu tư cá thể không phải là công dân nước họ Các quỹđầu tư quốc gia có thể thu hút vốn đầu tư nước ngoài để đầu tư trong nước.+ Quỹ đầu tư khu vực:

Các quỹ này tập trung ở các khu vực chủ yếu là Châu Âu, châu Mỹ LaTinh, Đông Bắc Á, Đông Nam Á và vành đai Thái Bình Dương Các quỹnày được lập ra để đầu tư vào vùng có lợi nhuận cao và xu hướng phát triểntốt

+ Quỹ đầu tư quốc tế:

Chủ yếu đầu tư vào các thị trường cổ phiếu, trái phiếu nước ngoàinhằm hướng tới việc phân tán các rủi ro

+ Quỹ đầu tư toàn cầu:

Các quỹ này đầu tư này trên cả thị trường nội địa và nước ngoài Tỷ lệđầu tư vào thị trường trong nước sẽ thay đổi tuỳ theo lợi tức so sánh với cácnước ngoài

1.1.2 Đặc điểm của quỹ đầu tư chứng khoán

Quỹ đầu tư chứng khoán là một mô hình có nét đặc thù khác với cácđịnh chế tài chính trung gian khác, tuy nó cũng là một loại doanh nghiệpđược xếp vào loại tài chính - ngân hàng và thuộc nhóm các định chế trunggian phi ngân hàng

Thứ nhất, quỹ đầu tư là loại trung gian tài chính chuyên môn hóatrong lĩnh vực đầu tư hay nói cách khác, nó là doanh nghiệp chuyên kinh

Trang 9

doanh vốn trung và dài hạn dưới hình thức đầu tư trung và dài hạn, nó đóngvai trò gạch nối giữa cung và cầu vốn.

Thứ hai, ở các nước phát triển, quỹ đầu tư thường được thành lập dướidạng một công ty cổ phần phát hành cổ phiếu rộng rãi ra công chúng, thuhút mọi nguồn tiết kiệm trong dân chúng Tuy nhiên, thay vì được sử dụng

để mua máy móc, thiết bị hoặc thuê công nhân sản xuất ra sản phẩm hànghoá Nguồn vốn tập trung này của quỹ đầu tư được dùng để góp vốn liêndoanh, mua cổ phần hoặc mua trái phiếu của các công ty khác Theo môhình này, quỹ đầu tư chính là người sở hữu vốn của nhiều doanh nghiệpthuộc các thành phần kinh tế khác nhau và cũng vì tính chất như vậy, quỹđầu tư có thể sở hữu nhiều công ty khác nhau và chi phối các đơn vị thuộcmình bằng các công cụ thị trường tài chính và kỹ năng quản trị

Ngoài hai đặc điểm trên đây, quỹ đầu tư còn được phân biệt với cácloại quỹ khác bởi mục tiêu của nó Mục tiêu của quỹ đầu tư là kinh doanh,

là lợi nhuận, tuân thủ những nguyên tắc hạch toán chứ không giống nhưmột số quỹ được thiết lập theo mục tiêu riêng lẻ, quỹ phúc lợi, quỹ bảo thọ,quỹ hỗ trợ tài năng được hình thành nhằm theo đuổi các mục tiêu xã hộikhác nhau

1.1.3 Vai trò của quỹ đầu tư chứng khoán trong nền kinh tế thị trường

Các quỹ đầu tư không những là một kênh dẫn vốn trong nền kinh tế

mà còn mang lại một phương thức hiệu quả và kinh tế đối với việc đầu tư.Thứ nhất, là một trung gian tài chính, quỹ đầu tư có vai trò chuyểnvốn gián tiếp từ người tiết kiệm sang người đầu tư

Hình 1.2 Những dòng vốn đi qua hệ thống tài chính

Những người

tiết kiệm

Những nh à đầu tư

Các thị trường

t i chínhà Vốn

Vốn

Vốn

Vốn

Vốn

Trang 10

Trong nền kinh tế, khu vực tiết kiệm và khu vực đầu tư không phải lúcnào cũng đến được với nhau Thông qua thị trường tài chính, các nguồnvốn nhàn rỗi được đưa vào sử dụng, qua đó giúp nâng cao năng suất vàhiệu quả của toàn bộ nền kinh tế Quỹ đầu tư chứng khoán, với tư cách làmột trung gian tài chính trên thị trường tài chính, thu hút vốn nhàn rỗi bằngviệc phát hành, bán chứng chỉ quỹ và đầu tư vào các doanh nghiệp hay các

dự án có tiềm năng Như vậy quỹ đã làm "cầu nối" giữa các tổ chức, cánhân có vốn với các nhà doanh nghiệp có ý tưởng kinh doanh, cùng hợp tácvới nhau, cùng nhau tìm kiếm các cơ hội kinh doanh có lợi nhất

Thứ hai, các quỹ đầu tư mang lại một phương thức kinh doanh hiệuquả và kinh tế đối với việc đầu tư

Trước hết, các quỹ đầu tư mang lại lợi ích cho cả người đầu tư vàngười nhận đầu tư

Trong giai đoạn đầu phát triển của thị trường tài chính , các nhà đầu tưthường có xu hướng tự đầu tư nhưng khi thị trường phát triển lên mức độcao hơn thì các nhà đầu tư cảm thấy không đủ kiến thức, kinh nghiệm vàthời gian để trực tiếp hoạt động trên thị trường tài chính, do đó họ tìm đếnnhững tổ chức đầu tư chuyên nghiệp để uỷ thác số tiền đầu tư của mình.Các quỹ đầu tư đem lại cho nhà đầu tư các lợi ích sau:

- Đa dạng hoá danh mục đầu tư , phân tán được rủi ro

Với một số tiền ít ỏi, nhà đầu tư muốn phân tán rủi ro sẽ rất khó khăn

do gặp phải vấn đề về giá trị của các chứng khoán đầu tư hay độ lớn củacác dự án Các khoản đầu tư được thiết kế nhằm cho phép hàng ngàn nhàđầu tư nhỏ góp tiền vào quỹ với tư cách là cổ đông, sẽ giúp mỗi người dùchỉ có ít vốn vẫn được tham gia chung vào tất cả các dự án đầu tư của quỹ,như vậy sẽ phân tán được rủi ro song vẫn thu được lợi nhuận

- Quản lý chuyên nghiệp trong việc đầu tư:

Các quỹ đầu tư có một đội ngũ cán bộ quản lý có trình độ chuyênmôn, có khả năng phân tích và chuyên sâu vào các lĩnh vực đầu tư do đó

có ưu thế hơn hẳn so với các nhà đầu tư đơn lẻ, không chuyên

- Chi phí giao dịch, nghiên cứu thấp:

Trang 11

Việc đầu tư thông qua quỹ đầu tư sẽ tạo điều kiện tiết kiệm được cácchi phí tính trên từng đồng vốn đầu tư so với đầu tư riêng lẻ của từng cánhân, bởi lẽ những người quản lý quỹ chuyên nghiệp có lợi thế trong việctiếp cận các dự án đầu tư và thường được hưởng các ưu đãi về chi phí giaodịch.

- Tính thanh khoản cho các tài sản của nhà đầu tư :

Các quỹ đầu tư tạo cơ hội chuyển đổi lĩnh vực đầu tư hay dự án nào

đó bằng việc mua lại cổ phần của công ty hay dự án người đó tham gia.Việc này sẽ khuyến khích động cơ đầu tư vì khi cần các nhà đầu tư vẫn cóthể dễ dàng chuyển đổi các khoản đầu tư của họ vào các nhu cầu khác Đặcbiệt, những chứng chỉ của quỹ đầu tư kết thúc mở có thể hoán chuyển ratiền mặt bất cứ lúc nào, tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư khi có cácquyết định đầu tư thay thế Tính thanh khoản của các chứng chỉ đầu tư sẽđược hỗ trợ nếu có thêm một thị trường chứng khoán phát triển

Bên cạnh lợi ích của nhà đầu tư, bản thân các doanh nghiệp sử dụngvốn cũng có những lợi ích nhất định

- Các doanh nghiệp sẽ có nhiều khả năng thu hút được nguồn vốn vớichi phí phấp hơn khi vay qua hệ thống ngân hàng

- Việc đầu tư vốn vào doanh nghiệp thông qua các quỹ đầu tư thường

có giới hạn nhất định, nên các doanh nghiệp vẫn đảm bảo tự chủ trong hoạtđộng kinh doanh mà không bị chi phối như các cổ đông lớn của doanhnghiệp

- Các quỹ đầu tư không chỉ thuần tuý là nơi cung cấp vốn cho cácdoanh nghiệp, mà còn là nơi cung cấp các thông tin tin cậy và là nơi đánhgiá hiệu quả các dự án, qua đó giúp cho doanh nghiệp đánh giá được tínhkhả thi của các dự án đầu tư

- Các dự án có nhiều rủi ro, có tiềm năng phát triển cao của doanhnghiệp có cơ hội được thực hiện: Do việc đánh giá và phân tích đã trởthành chuyên nghiệp đối với quỹ, cộng với nguồn vốn dài hạn sẽ giúp cácquỹ có khả năng trợ giúp cho các dự án trong những ngành công nghiệp mới,các ngành kỹ thuật cao, với mức độ rủi ro lớn nhưng đi kèm theo cũng rấtnhiều triển vọng

Trang 12

Bên cạnh các lợi ích mà quỹ mang lại cho cả người đầu tư và ngườinhận đầu tư như đã đề cập ở trên, các quỹ đầu tư còn đóng vai trò rất quantrọng trong việc hình thành và phát triển thị trường chứng khoán Trongquá trình hoạt động, quỹ đầu tư sẽ vừa tạo ra các chứng khoán, vừa tạo ranhu cầu giao dịch chứng khoán và hướng cho họ hoạt động chứng khoándiễn ra đều đặn, trên cơ sở góp phần điều tiết và bình ổn thị trường chứngkhoán.

1.1.4 Cấu trúc của quỹ đầu tư chứng khoán

Các bộ phận thiết lập nên cấu trúc của qũy đầu tư bao gồm công tyquản lý quỹ, ngân hàng tín thác, chứng chỉ quỹ đầu tư và nhà đầu tư

- Công ty quản lý quỹ:

Là một tổ chức chuyên nghiệp trong công tác quản lý đầu tư, có tưcách pháp nhân, có giấy phép hành nghề do Uỷ ban chứng khoán quốc giacấp

Hoạt động chính của công ty quản lý quỹ bao gồm:

- Thành lập và giải thể quỹ đầu tư

- Lựa chọn phương án đầu tư và tiến hành việc đầu tư mang lại lợinhuận tối đa cho người đầu tư vào quỹ Ngoài ra, công ty quản lý quỹ đầu

tư còn tiến hành một số hoạt động vì quyền lợi của nhà đầu tư như:

- Xác định giá trị tài sản của quỹ và giá trị của mỗi chứng chỉ quỹ

- Xác định lợi nhuận và chỉ dẫn việc phân phối lợi nhuận cho người đầutư

- Công bố thông tin chi tiết về giao dịch của quỹ, công việc chínhtrong năm hoạt động và những yếu tố để xác định giá phát hành và giá mualại chứng chỉ

Là một công ty hoạt động chuyên môn nên nguồn thu chủ yếu của nó

là phí Thông thường phí quản lý được tính cho dịch vụ này từ 0,5% - 2%giá trị tài sản quản lý trong một năm Tính như vậy nhưng không có nghĩalợi nhuận của công ty là giới hạn, nó tuỳ thuộc vào uy tín của công ty vàmột số quỹ đứng ra thuê nó quản lý Trong hợp đồng thuê quản lý bao giờcũng có những điều khoản về trích thưởng mang tính khích lệ sự hoạt động

Trang 13

có hiệu quả của nó trong công tác quản lý Khoản thưởng được trích từ tàisản của quỹ nếu đạt được một mức lợi nhuận nào đó trên mức yêu cầu.Khoản thưởng này được tính bằng một tỷ lệ phần trăm của số thu nhậpvượt mức yêu cầu đó.

Tuy nhiên, không có một chuẩn mục nào có thể trói buộc tính hiệuquả trong hoạt động của công ty quản lý quỹ nên cần thiết phải có thêmmột tổ chức, tuỳ thuộc mô hình hoạt động mà tổ chức này là ngân hàng tínthác hay hội đồng quản trị của quỹ Với mục tiêu đó nó sẽ đứng ra xemcông ty quản lý quỹ có hoạt động có đúng theo điều lệ của quỹ và phù hợpvới lợi ích của người đầu tư hay không

- Ngân hàng tín thác:

Là ngân hàng hoạt động hoàn toàn độc lập với công ty quản lý quỹ,không được sở hữu bất kỳ một tài sản nào của quỹ và phải được cấp giấyphép hoạt động lưu giữ chứng khoán do Uỷ ban chứng khoán quốc gia cấp.Ngân hàng giám sát có trách nhiệm chính là bảo quản các tài sản củaquỹ, kiểm tra, giám sát công ty quản lý quỹ nhằm đảm bảo hoạt động củacông ty phù hợp với điều lệ quỹ Đồng thời, ngân hàng tín thác cũng thựchiện việc thu, chi của Quỹ theo chỉ dẫn của công ty quản lý quỹ phù hợpvới các quy định trong điều lệ quỹ

- Chứng chỉ quỹ đầu tư:

Là một loại chứng khoán do công ty quản lý quỹ đại diện cho một quỹđầu tư phát hành, xác nhận quyền hưởng lợi của người đầu tư đối với quỹ.Tuỳ theo tính chất, đặc điểm tổ chức và hoạt động của từng quỹ mànhững người đầu tư sở hữu chứng chỉ quỹ đầu tư có quyền lợi và nghĩa vụkhác nhau Người đầu tư sở hữu chứng chỉ đầu tư dạng mở có quyền bánlại chứng chỉ cho quỹ, nhưng đối với quỹ đầu tư dạng đóng, người đầu tưkhông có quyền được bán chứng chỉ cho quỹ trước thời hạn kết thúc hoạtđộng hay giải thể Tuy nhiên, dù là chứng chỉ quỹ đầu tư dạng đóng hay

mở thì người đầu tư vẫn có thể bán lại chúng trên thị trường chứng khoán

- Người đầu tư:

Trang 14

Người đầu tư vào quỹ, có thể là các tổ chức hoặc các cá nhân, là ngườigóp vốn tạo thành quỹ thông qua việc mua chứng chỉ quỹ đầu tư và đượchưởng lợi nhuận từ các hoạt động đầu tư của quỹ Chính vì vậy, họ còn cóquyền yêu cầu công ty quản lý quỹ, là người nhận sự uỷ thác của họ tiếnhành việc đầu tư, phải thực hiện đúng các quy định trong Điều lệ quỹ Quỹtương tự như mọi công ty khác, người đầu tư không được phép trực tiếpthực hiện quyền và nghĩa vụ đối với các tài sản của quỹ.

Quyền của những người đầu tư được thể hiện rõ nhất trong Đại hộinhững người đầu tư Tại đại hội, người đầu tư có đủ các quyền của nhữngngười sở hữu quỹ, quyền sửa đổi, bổ sung điều lệ, quyền thay đổi công tyquản lý quỹ, quyền thay đổi ngân hàng giám sát và quyền giải thể quỹ

- Nhà quản lý hành chính:

Dịch vụ quản lý hành chính có thể do một bên đối tác của quỹ cungcấp Vai trò này thường do công ty tư vấn đầu tư hoặc do một bên thứ bakhác thực hiện Dịch vụ quản lý hành chính bao gồm việc giám sát hoạtđộng của những công ty cung cấp dịch vụ cho quỹ, đảm bảo hoạt động củaquỹ tuân thủ đúng những quy định của luật pháp Nhà quản lý hành chínhchịu trách nhiệm cung cấp những dịch vụ liên quan tới văn phòng, nhân sự,trang thiết bị, các dịch vụ kế toán, giúp quỹ thiết lập và duy trì những thủtục pháp luật và các biện pháp kiểm soát nội bộ Thông thường, đây chính

là người chịu trách nhiệm chuẩn bị và đệ trình các báo thuế, báo cáo cổđông và báo cáo gửi lên UBCK

- Công ty lưu ký

Công ty lưu ký có nhiệm vụ quản lý danh mục đầu tư của các quỹtương hỗ đầu tư Các ngân hàng thường thực hiện dịch vụ lưu ký cho cácquỹ tương hỗ Một hợp đồng lưu ký giữa ngân hàng và quỹ tương hỗ

Trang 15

thường phức tạp hơn các hợp đồng lưu ký thông thường rất nhiều Chỉ khinào nhận được các lệnh hợp thức của các viên chức quản lý quỹ thì ngânhàng lưu ký mới được thực hiện việc chuyển giao chứng khoán hoặc tiềnthuộc sở hữu của quỹ

- Đại lý chuyển giao

Đại lý chuyển giao có nhiệm vụ duy trì sổ sách kế toán liên quan đếntài khoản các cổ đông của quỹ, những sổ sách này phản ánh các số dư tàikhoản, các giao dịch mua và bán lại cổ phiếu cho quỹ của nhà đầu tư Đặcbiệt, đại lý chuyển giao có nhiệm vụ phân phối cổ tức cho các cổ đông.Chính vì vậy mà công việc của họ là tính toán cổ tức, thực hiện việc chi trả

cổ tức và duy trì các báo cáo về chi trả cổ tức Họ có nhiệm vụ chuẩn bị vàgửi các báo cáo kế toán định kỳ, các thông báo về mức thuế và các thôngbáo khác cho các cổ đông

Sơ đồ dưới đây có thể cho thấy cấu trúc của một quỹ đầu tư điển hìnhcũng như những nhà cung cấp dịch vụ chủ yếu đối với quỹ

Hình 1.3 Cấu trúc của một quỹ đầu tư chứng khoán

Hội đồng giám đốcHội đồng tín thác

Các luật sư Quỹ đầu tư Nhà tư vấn đầu tư

Nhà quản lý hành chính

1.1.5 Hình thức tổ chức của quỹ đầu tư chứng khoán

Trên thế giới,các quỹ đầu tư chứng khoán thường được tổ chức theo 1trong 2 mô hình: Mô hình tín thác, mô hình công ty

1.1.5.1 Mô hình tín thác

Trong mô hình này, quỹ đầu tư là một pháp nhân không đầy đủ, nó chỉ

có một khối lượng vốn nhất định do các nhà đầu tư đóng góp để sử dụngdịch vụ quản lý chuyên nghiệp Tại Mỹ, loại quỹ này có tên gọi là Multual

Trang 16

Fund, trong khi đó ở Anh, loại quỹ này thường có tên gọi phổ biến là UnitTrust.

Ngân hàng tín thác trong mô hình này vừa đóng vai trò là người bảoquản, thanh toán bù trừ và lưu giữ tài sản của người đầu tư, vừa thực hiệnchức năng giám sát hoạt động của công ty quản lý quỹ Những nguyên tắcgiám sát thông qua kiểm tra việc ra các quyết định đầu tư có đúng theo điều

lệ của quỹ, có phù hợp với lợi ích của người đầu tư hay không

Công ty quản lý quỹ ở đây chỉ còn làm chức năng đánh giá lựa chọn,cân đối trong quản lý, ra các quyết định hướng dẫn cho ngân hàng giám sátbảo quản, mua bán chứng khoán, các tài sản khác bằng tiền của nhà đầu tư.Mối quan hệ tương tác giữa công ty quản lý quỹ, ngân hàng giám sát,cùng quỹ đầu tư và người đầu tư được thể hiện bằng sơ đồ sau:

Hình 1.4 Mô hình tổ chức quỹ đầu tư chứng khoán dạng tín thác

Với cơ cấu và chức năng của từng bộ phận như vậy, quỹ đầu tư theo

mô hình tín thác có những ưu, nhược điểm sau:

- Ưu điểm:

Công ty

quản lý quỹ

Ngân h ng à giám sát

Quỹ đầu tư

Người

đầu tư

Người đầu tư Người đầu tư

Trang 17

+ Các thành phần tham gia kinh doanh chỉ gồm những nhà chuyênmôn nên việc bàn bạc để đi đến quyết định đầu tư thường nhanh chóng.+ Các nhà đầu tư không can thiệp trực tiếp vào hoạt động kinh doanhcủa công ty quản lý quỹ nên công ty sẽ chủ động hơn, có thể đầu tư vào các

dự án dài hạn có tiềm năng cao

+ Ngân hàng giám sát do có liên hệ chặt chẽ với công ty quản lý quỹnên sẽ nắm vững kế hoạch kinh doanh của quỹ, tạo điều kiện thuận lợi choviệc xây dựng kế hoạch kinh doanh của mình, nâng cao hiệu quả sử dụngvốn trong ngân hàng

+ Mô hình tín thác cũng giúp tránh được những mâu thuẫn giữa hộiđồng quan trị của quỹ và công ty quản lý quỹ rất dễ phát sinh trong quátrình điều hành hoạt động của quỹ

+ Cơ cấu tổ chức gọn nhẹ dễ làm giảm đáng kể chi phí cho quản lý

- Nhược điểm:

+ Mô hình đầu tư được thiết lập thông qua hợp đồng giữa nhà đầu tưvới công ty quản lý quỹ nên tính thanh khoản của các chứng chỉ đầu tưthấp

+ Do nguyên tắc tổ chức chưa thiết lập toàn bộ là những người làmdịch vụ nên họ luôn có xu hướng đặt mục tiêu an toàn lên cao để đảm bảo

uy tín Do đó lợi nhuận đem lại thường không cao, không hấp dẫn nhà đầu

tư để mở rộng qui mô

+ Với một lượng vốn nhất định, việc đa dạng hoá tài sản trở nên khókhăn, chỉ thuận tiện cho đầu tư vào các dự án

Mô hình quỹ đầu tư tổ chức dưới dạng tín thác thường được sử dụng ởcác thị trường chứng khoán mới nổi đặc biệt là các thị trường chứng khoánđang phát triển ở châu Á

1.1.5.2 Mô hình công ty

Quỹ đầu tư trong mô hình này là một pháp nhân đầy đủ, quỹ được tổchức như một công ty cổ phần Những nhà đầu tư góp vốn vào quỹ trởthành những cổ đông, các cổ đông có quyền bầu và tham gia vào Hội đồngquản trị căn cứ theo số vốn góp

Trang 18

Hội đồng quản trị là cơ quan đại diện cho các cổ đông, đứng ra kiểmtra, giám sát các hoạt động từ lựa chọn phương án đến tiến hành đầu tư.Công ty quản lý quỹ được hội đồng quản trị ký hợp đồng thuê và thựchiện chức năng quản lý thuần tuý

Công ty quản lý sẽ được nhận phí dịch vụ cho các hoạt động được uỷthác đầu tư Trong quá trình lựa chọn phương án đầu tư, trước khi đi đếnkết luận đều phải có sự thống nhất thông qua trong hội đồng quản trị

Ngân hàng bảo quản giám sát chỉ giữ vai trò bảo quản an toàn, nhận

và giao các chứng khoán hay tài sản của quỹ trong các phiên giao dịch,không tham gia vào công tác quản lý quỹ

Mối quan hệ giữa quỹ đầu tư, công ty quản lý quỹ, hội đồng quản trị,ngân hàng bảo quản và là nhà đầu tư được thể hiện bằng sơ đồ sau:

Hình 1.5 Mô hình tổ chức quỹ đầu tư chứng khoán dạng công ty

Với cấu trúc như vậy, mô hình quỹ đầu tư dạng công ty có những ưu,nhược điểm sau:

Quỹ đầu tư

Người

đầu tư

Người đầu tư

Người đầu tư Hội đồng quản trị

Trang 19

+ Do hội đủ các thành phần đại diện cho từng quyền lợi tham gia côngtác quản lý nên họ có thể đánh giá, cân nhắc giữa giá trị đầu tư với mức độrủi ro, đưa ra các quyết định mang tính năng động cao, Cùng với ưu điểmnày, quỹ thường đem lại lợi nhuận cao hơn mô hình tín thác.

+ Quỹ trong mô hình này là một pháp nhân đầy đủ nên việc tiến hànhhuy động vốn từ các thành phần kinh tế thuận lợi hơn rất nhiều so với môhình tín thác Nếu huy động được vốn, nó sẽ có thêm lợi nhuận nhờ quy

mô, việc đa dạng hoá danh mục đầu tư trở nên dễ dàng

- Nhược điểm:

+ Việc nắm quyền kiểm soát là mối đe doạ thường trực gây biến độngtrong tổ chức, thường gặp ở công ty cổ phần Quá trình tranh giành quyềnlực có thể làm cho hoạt động kinh doanh kém hiệu quả

+ Cơ cấu tổ chức cồng kềnh nên các quyết định kinh doanh ngắn hạn(đặc biệt trong kinh doanh chứng khoán) sẽ gặp nhiều khó khăn Mặt khác,chi phí cho quản lý sẽ trở thành gánh nặng cho việc lựa chọn môi trường đầutư

+ Vai trò của công ty quản lý, ngân hàng bảo quản giám sát bị giảmsút có thể dẫn tới hiệu quả kinh doanh bị giảm sút

Mô hình quỹ đầu tư tổ chức dưới dạng công ty thường được sử dụng ởcác nước có thị trường chứng khoán phát triển như Tây Âu và Bắc Mỹ.Tóm lại, hai mô hình trên phục vụ cho những nhu cầu đầu tư khácnhau Mô hình dạng tín thác phù hợp với những nhà đầu tư không muốnmạo hiểm đầu tư trực tiếp, họ có một lượng tiền nhàn rỗi dài hạn, mongmuốn tìm kiếm những khoản lợi nhuận cao hơn mức lãi suất ngân hàng vớimột mức rủi ro có thể chấp nhận được Ngược lại mô hình dạng công tytương ứng với những tổ chức, cá nhân nắm giữ trong tay một lượng tài sảnlớn đi cùng với kiến thức về chiến lược đầu tư, được lợi nhuận cao hơn.Trong nền kinh tế thị trường hai mô hình song song cùng tồn tại, nhượcđIểm của mô hình này sẽ được giải quyết ở mô hình kia và ngược lại, cácnhà đầu tư - tuỳ thuộc vào nhu cầu đầu tư của mình mà lựa chọn việc thamgia vào quỹ đầu tư dạng tín thác hay dạng công ty

Trang 20

1.2 HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN

1.2.1 Các nguyên tắc cơ bản cho hoạt động của một quỹ đầu tư chứng khoán.

- Nguyên tắc huy động vốn:

Các loại chứng khoán được phép phát hành: quỹ đầu tư chỉ được phépphát hành cổ phiếu hay các chứng chỉ tham gia chia phần, chứng chỉ này cóquyền và nghĩa vụ tương tự như cổ phiếu, chỉ trong trường hợp mô hình tínthác thì quyền này sẽ bị mất đi Nói chung, các quỹ đầu tư không đượcphép phát hành trái phiếu hay sử dụng vốn vay để tài trợ cho mục đích đầu

tư, quỹ chỉ có thể vay vốn ngắn hạn để trang trải một số khoản chi cầnthiết, tạm thời khi quỹ chưa có khả năng thu hồi vốn

Việc quảng cáo thu hút vốn: theo qui định, các quĩ được phép quảngcáo để thu hút những người tham gia góp phần đầu tư nhưng phải tuân thủđúng nguyên tắc Phải nói rõ mục đích đầu tư của quỹ, không được phépcam kết chắc chắn về việc đảm bảo lợi nhuận thu được khi đầu tư

- Nguyên tắc tiến hành, hạn chế những khuyết tật trong cấu trúc vốn:Phạm vi đầu tư của các quỹ thường rất rộng, mặc dù chủ yếu các quỹthường đầu tư vào những tài sản có tính thanh khoản cao như chứng khoán,song đi đôi với tính thanh khoản là thu nhập thấp, nên các quỹ còn có thểđầu tư vào rất nhiều lĩnh vưc khác như bất động sản, các công trình cơ sở

hạ tầng Thông qua danh mục đầu tư này, quỹ cũng đa dạng hoá hoạt độngcủa mình, hạn chế được rủi ro, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, đảm bảo antoàn cho nhà đầu tư

Đối với các quỹ có cơ cấu nguồn vốn không vững chắc như quỹ đầu

tư tập thể, quỹ mở mục tiêu an toàn được coi trọng hơn mục tiêu sinh lời.Một bộ phận lớn tài sản có thể đầu tư vào trái phiếu chính phủ, cổ phiếucủa các công ty lớn đã được niêm yết trên thị trường chứng khoán, bộ phậncòn lại có thể đầu tư vào khu vực mạo hiểm như bất động sản, các doanhnghiệp chưa được niêm yết nhằm thu lợi nhuận Đặc biệt với trường hợpquỹ đầu tư dạng mở, do tính chất cơ cấu nguồn vốn rất lỏng lẻo nên quỹ chỉđầu tư vào các tài sản có tính thanh khoản rất cao

Trang 21

Một quỹ đầu tư muốn thực hiện tốt mục tiêu bảo toàn vốn và thu lợinhuận cao phải luôn biết phân tích, đánh giá tình hình và năng động trongđầu tư nhằm đa dạng hoá các lĩnh vực hoạt động Khi điều kiện thị trườngthuận lợi, các quỹ thường đầu tư vào các ngành có khả năng tăng trưởngcao, các doanh nghiệp có tiềm năng lớn, còn khi điều kiện thị trường khôngthuận lợi, để đảm bảo an toàn, các quỹ lại tăng cường đầu tư vào các chứngkhoán an toàn như trái phiếu chính phủ hay các chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn.Đồng thời, các quỹ đầu tư còn có thể đầu tư vào rất nhiều doanh nghiệp ở cácngành nghề khác nhau hay đầu tư vào các dự án có tính khả thi theo địnhhướng của Chính phủ.

- Nguyên tắc bảo quản tài sản và giám sát hoạt động của quỹ:

Việc bảo quản tài sản của quỹ phải được giao cho một ngân hàng bảoquản hay ngân hàng tín thác tuỳ theo mô hình, kiểm soát nhằm bảo vệnhững quyền lợi chính đáng của người đầu tư Ngân hàng phải đảm bảorằng các tài sản không bị các nhà quản lý lợi dụng để thu lợi cho riêngmình

Việc giám sát, tuỳ theo mô hình, được giao cho ngân hàng hay hộiđồng quản trị Trong quá trình giám sát, người giám sát không có quyềnquyết định hoàn toàn mà thực hiện theo nguyên tắc cùng bàn bạc và kếtthúc bằng biểu quyết, riêng trong mô hình giám sát bằng hội đồng quản trị,các vấn đề không liên quan đến chuyên môn, hội đồng quản trị có quyềnquyết định một mình

- Nguyên tắc định giá, phát hành và mua lại chứng chỉ:

Khi nhà đầu tư tiến hành hay hay thu hồi vốn của họ từ một quỹ mở,nguyên tắc tính giá phải được dựa trên cơ sở cân bằng về quyền lợi cho mọiđối tượng, giữa những người hiện còn nắm giữ với những người mua hayrút vốn Nguyên tắc này cần phải được phản ánh trong việc các qui định vềxác định giá trị tài sản quỹ khi mua bán các chứng chỉ ví dụ như trongtrường hợp quỹ mở, quỹ chủ yếu đầu tư vào các chứng khoán được niêmyết trên thị trường chứng khoán nên giá trị tài sản của quỹ sẽ được xác địnhtheo giá của chứng khoán tại đúng thời điểm đó trên thị trường và tuân thủđúng các qui định của cơ quan quản lý thị trường chứng khoán Sau khi xác

Trang 22

định xong, giá trị tài sản của quỹ sẽ được chia cho số cổ phiếu hoặc chứngchỉ đầu tư hiện đang lưu hành để xác định giá trị của một cổ phiếu haychứng chỉ này Giá bán được tính bằng giá trị vừa tính cộng thêm một sốchi phí; tương tự, giá mua được tính sau khi đã trừ đi một số chi phí.

Đối với quỹ đầu tư dạng đóng hoặc các mô hình tương tự quỹ đóng,quá trình thiết lập nên giá mua bán các chứng chỉ không phụ thuộc vào bất

cứ một qui định nào Việc định giá hoàn toàn do thị trường quyết định theonguyên tắc cung cầu, thông qua đấu giá trên thị trường chứng khoán

- Nguyên tắc cung cấp thông tin cho nhà đầu tư:

Nguyên tắc này không chỉ liên quan đến vấn đề bảo vệ nhà đầu tư theoqui định của cơ quan quản lý Nhà nước mà còn liên quan đến hoạt độngMarketing nhằm thu hút vốn đầu tư của quỹ Việc cung cấp thông tin chonhà đầu tư nhằm giúp người đầu tư đánh giá đúng thực trạng các khoản đầu

tư, khả năng chuyên môn của những người quản lý quỹ, qua đó giúp họđánh giá rủi ro và lợi nhuận Khi cung cấp thông tin, các quỹ đầu tư sẽ phảituân thủ theo đúng chế độ kế toán, mẫu biểu do cơ quan quản lý nhà nướcqui định để thống nhất hoạt động công bố thông tin, tạo ra tính chất nhấtquán và dễ hiểu cho người đọc

- Nguyên tắc ngăn ngừa tình trạng mua bán nội gián

Nguyên tắc này nghiêm cấm tất cả các giao dịch nội bộ, các hoạt độngmua bán không công khai và các hành động lừa dối khác Những người cóliên quan tới giao dịch nội bộ là những nhà quản lý nắm giữ từ 5% chứngchỉ ban đầu của một quỹ, các cá nhân có quan hệ hoặc có các thông tin nội

bộ liên quan tới quỹ Nhìn chung, luật điều chỉnh các hoạt động của quỹtrên thế giới đều có những quy định cụ thể để ngăn chặn hiện tượng này.Bất cứ cá nhân, tổ chức nào sở hữu từ 5% chứng chỉ của một quỹ phải báocáo ngay cho sở giao dịch trong vòng 24 giờ kể từ thời điểm giao dịch đượcthực hiện Thông tin này được thông báo chính thức ngay cho các đơn vịquản lý điều hành quỹ Kể từ thời điểm đó, mọi hoạt động mua bán củanhững người này sẽ bị theo dõi

Trang 23

Trên đây là toàn bộ những nguyên tắc cơ bản cho hoạt động của mộtquỹ đầu tư Ngoài ra còn có các nguyên tắc hỗ trợ cho quỹ hoạt động được

an toàn, hiệu quả như nguyên tắc trả thù lao cho bộ máy quản lý, chế độ đãingộ nhân viên, chế độ khuyến khích nâng cao trình độ học vấn

1.2.2 Hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán

Các quỹ đầu tư chứng khoán thu nhận vốn của nhiều nhà đầu tư bằngcách bán cho họ cổ phần và dùng số tiền thu được này để mua chứngkhoán

Việc điều hành hoạt động của một quỹ đầu tư chứng khoán được thựchiện qua công ty quản lý quỹ Công ty quản lý quỹ sẽ lựa chọn phương ánđầu tư và tiến hành việc đầu tư mang lại lợi nhuận cho người đầu tư vàoquỹ Ngân hàng tín thác hay hội đồng quản trị quỹ sẽ giám sát các hoạtđộng của công ty quản lý quỹ sao cho nó đem lại hiệu quả cao nhất Ngânhàng này hoàn toàn độc lập với công ty quản lý quỹ và không sở hữu bất kỳmột tài sản nào của quỹ 0

Chi phí của một quỹ hình thành chủ yếu từ các chi phí hoạt động baogồm các chi phí liên quan đến việc đầu tư, trả cho nhà quản lý đầu tư vàcho ngân hàng tín thác thường từ 0,5% - 2% giá trị tài sản quản lý trongmột năm Nhà quản lý sẽ được trả các khoản phí theo định kỳ, thôngthường là từng quý trong năm cho tới khi mãn hạn hợp đồng Các khoảnphí này tính theo ngày quản lý, vào cuối mỗi kỳ quản lý nó được cộng dồn

để thanh toán Tổng các khoản phí trong mỗi kỳ không được vượt quá mộtmức giá trị, tuỳ theo từng loại quỹ và quy định của từng hợp đồng mà mứcnày là một con số xác định Nếu giá trị tổng vượt quá mức quy định, khoảntiền này sẽ được chuyển sang một mục riêng đặt dưới sự phân phối theomột điều khoản trong hợp đồng này và có thể coi là khoản thưởng trongcông tác quản lý do khối lượng giao dịch gia tăng trong thời kỳ hoạt động Chi phí nêu trên được tính theo giá trị tài sản thuần của quỹ (giá trị tàisản thuần của quỹ = Giá trị các khoản đầu tư - Các khoản nợ của qũy) vàđược chia thành 365 ngày trong năm Mức phí giới hạn còn được xác địnhdựa trên khối lượng vốn quản lý ví dụ như quy định của Hàn Quốc, các quỹ

có mức vốn lớn hơn 20 triệu USD thì mức phí không được vượt quá 0,2%

Trang 24

giá trị quỹ Ngoài ra, còn có các chi phí khác như các chi phí trả cho luật

sư, công ty kiểm toán, nhà môi giới

Doanh thu của một quỹ bắt nguồn từ các khoản đầu tư và các tài sảncủa quỹ Thông thường vào cuối mỗi quý và cuối năm tài chính, doanh thu

sẽ được cộng dồn lại rồi trừ đi các chi phí phát sinh để có được lợi nhuận

1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán

1.2.3.1 Yếu tố kinh tế xã hội

Đây là nền tảng đảm bảo cho hoạt động của các quỹ đầu tư chứngkhoán Sự tăng trưởng của nền kinh tế vĩ mô cũng như sự ổn định xã hội cóquan hệ mật thiết tới thị trường chứng khoán nói chung cũng như các quỹđầu tư nói r iêng Khi các chính sách kinh tế của Nhà nước tạo ra một môitrường đầu tư thuận lợi, ít rủi ro, đồng thời kiềm chế được lạm phát, ổnđịnh được tỷ giá đồng nội tệ thì sẽ khuyến khích các nhà đầu tư bỏ vốn,trên cơ sở đó các quỹ đầu tư chứng khoán hoạt động mới có hiệu quả.Ngược lại, khi nền kinh tế đi vào tình trạng trì trệ, các yếu tố xã hội mất ổnđịnh sẽ dẫn tới một môi trường đầu tư chứa đựng nhiều rủi ro Lợi nhuận từviệc đầu tư chứng khoán sẽ sụt giảm, các nhà đầu tư rời bỏ thị trường vàkéo theo là sự thu hẹp hoạt động của các quỹ đầu tư chứng khoán

Nhìn chung yếu tố kinh tế - xã hội đóng vai trò quan trọng hàng đầu,quyết định tới hoạt động của các quỹ đầu tư chứng khoán

1.2.3.2 Yếu tố pháp lý

Các quỹ đầu tư chứng khoán muốn đi vào hoạt động phải có môitrường pháp lý làm cơ sở, nền tảng, đồng thời môi trường pháp lý cũng làcông cụ nhằm hướng cho hoạt động của các quỹ diễn ra một cách lànhmạnh, có hiệu quả và ngày càng phát triển

Do hoạt động của các quỹ đầu tư chứng khoán liên quan đến nhiềulĩnh vực của đời sống kinh tế nên nó chịu sự chi phối của nhiều bộ luật cóliên quan : luật Doanh nghiệp, luật Đầu tư, luật Chứng khoán Chính vìvậy chỉ cần một sự thiếu đồng bộ hay chồng chéo giữa các văn bản pháp lýnày sẽ cản trở sự phát triển của quỹ đầu tư Mặt khác, khi môi trường pháp

Trang 25

lý thuận lợi, nhiều chính sách ưu đãi đầu tư cũng như việc giảm bớt nhữngthủ tục hành chính rườm rà, các bộ luật không còn phù hợp với tình hìnhmới sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các quỹ đầu tư có cơ hội để phát triển,tìm kiếm những dự án khả thi và thu hút được các nhà đầu tư cá nhân thamgia

Yếu tố pháp lý còn quy định những điều kiện mà các quỹ đầu tưchứng khoán được phép kinh doanh và không được phép kinh doanh.Những điều kiện này nhằm hướng cho hoạt động của các quỹ phù hợp vớiluật pháp, bảo vệ các nhà đầu tư Tại một số nước, các điều kiện này là khánghiêm ngặt, khiến cho các quỹ phải hoạt động trong một hành lang pháp

lý hẹp, song ở một số nước khác các quỹ đầu tư có thể phải chịu ít các điềukiện hơn

1.2.3.3 Yếu tố kỹ thuật

Sự thành công hay thất bại của một quỹ đầu tư chứng khoán không chỉphụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài như tình hình kinh tế hay luật pháp màcòn phụ thuộc phần lớn vào các yếu tố bên trong của quỹ, đó là đội ngũ cán

bộ, chuyên gia điều hành quỹ Có thể nói đây là yếu tố quan trọng nhất.Một quỹ đầu tư chứng khoán được điều hành bởi các quản trị viên xuấtsắc , có kiến thức đầy đủ để quản lý , phân tích và kinh doanh chứng khoán,

am hiểu luật pháp sẽ là động lực để quỹ đạt tới những cơ hội tăng trưởngcao Đặc biệt, trong thời đại ngày nay khi các yếu tố của thị trường biến đổinhanh chóng, các thông tin tài chính được cập nhật liên tục và đòi hỏi phảiđược xử lý một cách chính xác thì yêu cầu về con người ngày càng cao.Các quỹ đầu tư đều nhận ra rằng chỉ có một đội ngũ các nhà đầu tư chuyênnghiệp mới có thể đảm bảo cho hoạt động của nó diễn ra suôn sẻ Tại cácnước có thị trường chứng khoán phát triển, yêu cầu đối với nhà đầu tưchuyên nghiệp rất khắt khe Các tiêu chuẩn về bằng cấp, năng lực, kinhnghiệm luôn luôn được đặt ra như là các điều kiện tối thiểu

1.2.3.4 Yếu tố tâm lý

Tổ chức các quỹ đầu tư chứng khoán là để thu hút nguồn vốn tiết kiệm

và để dành của dân chúng vào quá trình đầu tư Yếu tố tâm lý đòi hỏi cácquỹ đầu tư chứng khoán phải có tính thu hút

Trang 26

Tính thu hút của một quỹ được thể hiện ở mức độ an toàn và khả năngsinh lời của quỹ đó Khi đầu tư vào một quỹ, các nhà đầu tư cá nhân luônquan tâm đến độ an toàn của khoản đầu tư cũng như tính lỏng của nó Mộtquỹ đầu tư chứng khoán có cấu trúc mở sẽ tăng tính thanh khoản cho cáctài sản đầu tư , do đó thu hút được nhiều nhà đầu tư Khả năng sinh lờicũng là một nhân tố quan trọng thu hút các nhà đầu tư Các quỹ đầu tưchứng khoán có tỷ lệ sinh lời hàng năm cao , đạt mức tăng trưởng tốt sẽluôn là nơi các nhà đầu tư yên tâm bỏ vốn

Tâm lý của công chúng đầu tư cũng ảnh hưởng lớn tới hoạt động củacác quỹ đầu tư chứng khoán Khi hiểu biết của dân chúng về chứng khoán

ở mức độ cao, tâm lý và thói quen đầu tư qua quỹ đã trở nên phổ biến thìhoạt động của các quỹ đầu tư chứng khoán rất suôn sẻ Nhưng khi tâm lýcủa công chúng còn e dè, cầm chừng thì các quỹ đầu tư khó thu hút đượcvốn để thực hiện việc tài trợ của mình

1.3 CÁC QUI ĐỊNH QUẢN LÝ QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN

Là một trung gian tài chính, các quỹ đầu tư có những qui định riêng về

tổ chức và hoạt động Ở mỗi quốc gia, các qui định này có sự khác nhautuỳ theo điều kiện, hoàn cảnh của mỗi nước Ví dụ tại Mỹ, các quỹ chịu sựquản lý của Uỷ ban chứng khoán và thị trường chứng khoán Mỹ theo cácqui định tại luật về công ty đầu tư ban hành năm 1940 Tuy nhiên, nhìnchung, luật về quản lý quỹ đầu tư đều quy định mang tính chất thông lệsau:

Trang 27

- Người đầu tư góp vốn tạo thành quỹ đầu tư và được hưởng lợi từviệc đầu tư của quỹ đầu tư.

1.3.2 Công ty quản lý quỹ:

Công ty tiến hành hoạt động quản lý quỹ đầu tư phải có giấy phéphoạt động do một tổ chức chuyên môn cấp (thông thường là Uỷ ban chứngkhoán) và chỉ được phép kinh doanh theo giấy phép

Công ty xin phép hoạt động quản lý quỹ phải đáp ứng các yêu cầusau:

- Điều kiện về vốn:

Phải có một mức vốn điều lệ tối thiểu được qui định theo luật ở mỗi quốcgia Ở Malaysia là 1 triệu USD, Hàn Quốc là 30 triệu USD, Việt Nam là 5 tỷVND

- Điều kiện về nhân sự:

Có đội ngũ nhân viên nghiệp vụ được đào tạo về nghiệp vụ chứngkhoán Thông thường những người này phải đạt đến một độ tuổi nhất định

và đáp ứng được các tiêu chuẩn về chuyên môn cũng như đạo đức

- Điều kiệnvề cơ sở vật chất, kỹ thuật:

Phải có cơ sở vật chất, kỹ thuật đảm bảo phục vụ hoạt động quản lýquỹ

Những hoạt động của công ty quản lý quỹ gồm:

- Thành lập, giải thể quỹ

- Lựa chọn và thực hiện đầu tư vốn của quỹ

- Xác định giá trị tài sản của quỹ và giá trị của mỗi chứng chỉ

- Xác định lợi nhuận của quỹ và chỉ dẫn ngân hàng giám sát thựchiệnphân phối lợi nhuận cho người đầu tư

- Công bố các thông tin chi tiết về giao dịch, công việc chính trongnăm hoạt động và những yếu tố để xác định giá phát hành và giá mua lạichứng chỉ trên các phương tiện thông tin quy định trong Điều lệ quỹ

- Tiến hành các hoạt động khác vì quyền lợi của người đầu tư

Trang 28

Chi phí và phương thức thanh toán các khoản phí cho công ty quản lýquỹ

Công ty quản lý quỹ được hưởng các khoản phí và thường qui địnhtrong điều lệ quỹ và được hoàn trả các chi phí liên quan đến việc thành lập

và đầu tư của quỹ Các khoản phí, thưởng và chi phí này được trích từ tàisản của quỹ trả cho công ty quản lý Nhà quản lý sẽ được trả các khoản phítheo định kỳ, thông thường là từng quí trong năm cho tới khi mãn hạn hợpđồng Các khoản phí này tính theo ngày quản lý, vào cuối mỗi kỳ quản lý,

nó được cộng dồn để thanh toán Tổng các khoản phí trong mỗi kỳ khôngđược vượt quá một mức giá trị, tuỳ theo từng loại quỹ và qui định của từnghợp đồng mà mức này là một con số xác định Nếu giá trị tổng vượt quámức qui định, khoản tiền này sẽ được chuyển sang một mục riêng đặt dưới

sự phân phối theo một điều khoản chuyển sang một mục riêng đặt dưới sựphân phối theo một điều khoản cũng tồn tại trong hợp đồng này và có thểhiểu đây là khoản thưởng cho công tác quản lý do khối lượng giao dịch giatăng trong thời kỳ hoạt động

Các chi phí được tính theo giá trị tài sản thuần của quỹ và được chiathành 365 ngày trong năm Mức phí giới hạn còn được xác định dựa trênkhối lượng vốn quản lý ví dụ như Qui định của Hàn Quốc, các quỹ có mứcvốn lớn hơn 20 triệu USD thì mức phí không được vượt quá 0,2% giá trị.Tuy nhiên, không có một giới hạn cụ thể nào áp đặt lên cơ cấu các loạiphí khuyến khích vì đi cùng với phí khuyến khích là những vấn đề đền bùthiệt hại do nhà quản lý gây nên Thông thường, luật pháp ở các nước chỉyêu cầu phải đề cập vấn đề này trong hợp đồng chứ không chi tiết thành quiđịnh

Bên cạnh đó khi giao dịch mua bán các tài sản cho Quỹ, công ty quản

lý quỹ, thành viên hội đồng quản trị công ty quản lý quỹ, người điều hànhcông ty quản lý quỹ không được nhận bất kỳ một lợi ích nào cho chính mìnhhoặc cho một người thứ ba ngoài những khoản phí và thưởng qui định trongđiều lệ quỹ

Ngoài ra, một số các qui định mà công ty quản lý quỹ phải có nghĩa

vụ tuân theo là:

Trang 29

- Công ty quản lý quỹ chỉ được đầu tư vốn của Quỹ vào chứng khoánhoặc vào tài sản khác phù hợp với điều lệ quỹ và qui định của pháp luật.

- Công ty quản lý quỹ không được phép dùng vốn và tài sản của mộtquỹ để đầu tư quá một mức nào đó (tuỳ theo luật pháp mỗi nước) vào tổnggiá trị chứng khoán đang lưu hành của một tổ chức phát hành hoặc mộtcông ty

- Công ty quản lý quỹ không được phép dùng vốn và tài sản của Quỹ

để cho vay và bảo lãnh cho bất kỳ khoảng vay nào và không được phép vay

để tài trợ cho hoạt động của quỹ, trừ trường hợp vay ngắn hạn để trang trảicác chi phí cần thiết

- Công ty quản lý quỹ không được phép dùng vốn và tài sản của mộtQuỹ để đầu tư trực tiếp vào bất động sản quá một mức nào đó trên giá trịtài sản của Quỹ

- Công ty quản lý quỹ không được phép dùng vốn của một quỹ để đầu

tư vào một quỹ khác hoặc mua tài sản của một Quỹ khác mà mình quản lýnhằm tăng hay giảm giá trị của Quỹ này

- Đối với Quỹ mở, công ty quản lý Quỹ phải thường xuyên duy trì tỷ

lệ tối thiểu tài sản lưu loạt (là phần tài sản của quỹ bao gồm tiền mặt và cáctài sản khác có khả năng chuyển thành tiền mặt trong thời gian ngắn) ghitrong Điều lệ Quỹ

- Các thành viên hội đồng quản trị công ty quản lý quỹ, những ngườiđiều hành quỹ không được phép là khách hàng mua hoặc bán tài sản củaQuỹ cũng như là cổ đông của ngân hàng giám sát

1.3.3 Ngân hàng giám sát:

Ngân hàng giám sát do công ty quản lý quỹ lựa chọn cho từng Quỹ.Ngân hàng giám sát phải đáp ứng các điều kiện sau:

- Đã được cấp giấy phép thành lập và hoạt động

- Là ngân hàng hoàn toàn độc lập với công ty quản lý quỹ

- Không được sở hữu bất kỳ tài sản nào của quỹ

Ngân hàng giám sát có trách nhiệm:

Trang 30

- Tách biệt tài sản của Quỹ với các tài sản khác.

- Kiểm tra, giám sát, đảm bảo việc quản lý Quỹ phù hợp với pháp luật

và Điều lệ Quỹ, bảo vệ quyền lợi của người đầu tư

- Thực hiện các quyền lợi thu, chi của Quỹ theo đúng hướng dẫn củaCông ty quản lý Quỹ

- Xác nhận các báo cáo do công ty quản lý Quỹ lập liên quan tới tàisản và hoạt động của Quỹ Chi phí và phương thức thanh toán và các khoảnphí cho ngân hàng tín thác

Ngân hàng giám sát khi thực hiện nhiệm vụ được hưởng các khoảnphí qui định trong Điều lệ Quỹ, ngoài ra, không được nhận bất cứ mộtkhoản tiền nào cho chính mình hoặc người thứ ba Về phương pháp tínhcũng như phương thức thanh toán cho ngân hàng tín thác các khoản phícũng tương tự như công ty quản lý quỹ, chỉ khác là ngân hàng có thêmnghiệp vụ thanh toán bù trừ, bảo quản lưu giữ các tài sản của quỹ nên họđược hưởng thêm phí của nghiệp vụ này Nếu ngân hàng giám sát kiêmluôn nghiệp vụ bảo lãnh phát hành thì họ cũng sẽ nhận được khoản phí pháthành như các ngân hàng bảo lãnh Phí phát hành sẽ được thanh toán rải đềutrong một tài khoá

1.3.4 Người đầu tư:

Người đầu tư là tổ chức hay cá nhân góp vốn lập Quỹ thông qua việcmưa chứng chỉ quỹ đầu tư Người đầu tư có quyền:

- Hưởng lợi từ hoạt động đầu tư của Quỹ

- Yêu cầu công ty quản lý Quỹ thực hiện đúng Điều lệ Quỹ

Bên cạnh đó, người đầu tư không được phép

- Trực tiếp thực hiện các quyền và nghĩa vụ đối với các tài sản trongdanh mục đầu tư của Quỹ

- Yêu cầu công ty quản lý quỹ, ngân hàng giám sát trình sổ sách hoặcthư từ giao dịch, ngoại trừ tại Đại hội những người đầu tư

Tại Đại hội những người đầu tư, người đầu tư có quyền:

- Bầu chủ toạ đại hội

Trang 31

- Quyết định các vấn đề quan trọng liên quan đến tổ chức và hoạt độngcủa Quỹ.

- Sửa đổi, bổ sung Điều lệ Quỹ

- Thay đổi công ty quản lý Quỹ

- Thay đổi ngân hàng giám sát

- Giải thể Quỹ

1.3.5 Chế độ báo cáo:

Ngoài việc chấp hành chế độ kế toán, tài chính theo các quy định phápluật hiện hành, công ty quản lý Quỹ phải tuân thủ chế độ báo cáo, theo đó,báo cáo hàng năm của công ty gồm các nội dung sau:

- Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáolưu chuyển tiền tệ của công ty quản lý Quỹ có xác nhận của kiểm toán

- Danh sách cổ đông của công ty quản lý Quỹ và tỷ lệ sở hữu của mỗi cổđông

- Bảng cân đối kế toán tổng hợp của các quỹ do công ty quản lý

- Tên, tuổi, trình độ người lãnh đạo của công ty quản lý Quỹ

- Những quyết định quan trọng về tổ chức và hoạt động trong năm

Kể từ ngày kết thúc năm tài khoá, công ty quản lý quỹ phải gửi Uỷban chứng khoán Quốc gia báo cáo hàng năm của Quỹ có xác nhận củangân hàng giám sát và sau khi được Uỷ ban chứng khoán Quốc gia chấpthuận, công ty quản lý Quỹ phải công bố báo cáo hàng năm của Quỹ trêncác phương tiện thông tin quy định trong điều lệ Quỹ Báo cáo hàng nămcủa Quỹ gồm các nội dung sau:

- Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáolưu chuyển tiền tệ của Quỹ có xác nhận của kiểm toán

- Báo cáo chi tiết tài sản của quỹ tính theo giá thị trường

- Lợi nhuận và phân phối lợi nhuận của Quỹ

- Báo cáo chi tiết chi phí Quỹ phải trả trong năm

Trang 32

- Số lượng chứng chỉ quỹ đầu tư đã phát hành và mua lại trong năm tàichính, số lượng chứng chỉ Quỹ đầu tư đang lưu hành tại thời điểm kết thúcnăm tài chính.

- Giá trị của mỗi chứng chỉ đầu tư đang lưu hành tại thời điểm kết thúcnăm tài chính

- Những hoạt động giao dịch cho Quỹ do công ty quản lý quỹ tiếnhành trong năm tài chính

1.3.6 Nội dung của điều lệ Quỹ:

Điều lệ Quỹ phải được xây dựng một cách hoàn hảo, tập hợp đầy đủcác quyền lợi, nghĩa vụ của tất cả các thành phần tham gia, vừa phải tuânthủ những điều khoản pháp luật đã qui định, làm cơ sở và chuẩn mực choquá trình tiến hành thực hiện

- Tên gọi của Quỹ và các thành phần tham gia

Phải nêu tên của Quỹ, các thành phần tham gia công tác quản lý giámsát với địa chỉ đăng ký chính thức, trụ sở và một bản đánh giá sơ bộ về quátrình hoạt động để khẳng định khả năng của mình trong các chuyên môn

- Mục tiêu và chính sách đầu tư của Quỹ:

- Mỗi quỹ khi thành lập đều phải có trước mục tiêu và chính sách đầu

tư làm cơ sở cho quá trình quản lý giám sát Đồng thời việc phân định nàygiúp cơ quan quản lý kinh doanh cấp đăng ký và thuận lợi cho việc kiểmsoát

Thực tế, có rất nhiều mục tiêu chính sách kinh doanh khác nhau nêntồn tại rất nhiều loại quỹ khác nhau nhưng nói chung mô hình quỹ đầu tưchứng khoán chỉ đầu tư gián tiếp nên tài sản của Quỹ nắm giữ chủ yếu làcác chứng khoán Các quỹ sẽ đầu tư vào các loại chứng khoán khác nhau

Ví dụ mục tiêu của một quỹ là tăng trưởng thì lĩnh vực đầu tư của quỹ sẽ làchứng khoán của các công ty vừa và nhỏ, nếu mục tiêu là thu nhập, quĩ sẽnắm giữ chứngkhoán của các công ty lớn; quỹ cổ phiếu chuyên đầu tư vào

cổ phiếu, quỹ trái phiếu chỉ đầu tư vào trái phiếu

Sau khi trình bày rõ mục tiêu và chính sách đầu tư trong điều lệ, Quỹphải xác định ngay những hạn chế ở lĩnh vực đầu tư để các cơ quan quản lý

Trang 33

giám sát và khi ký hợp đồng sẽ phải giải trình những biện pháp xử lý củamình.

- Những rủi ro có khả năng gặp phải:

Tất cả những rủi ro của Quỹ phải được trình bày cụ thể trong Điều lệQuỹ Khi các nhà đầu tư mua chứng chỉ của Quỹ phải chấp nhận các rủi ronày Rủi ro được phân thành nhiều loại để nhà đầu tư có thể đánh giá trướckhi đi tới quyết định của mình Thông thường, rủi ro được phân thành 2 nhómchính:

+ Rủi ro chính trị:

Thường được nhấn mạnh ở các quỹ có ý định đầu tư ra nước ngoài.Các yếu tố về hệ thống chính trị của quốc gia, hình thức tổ chức nhà nước,nguy cơ biến động chính trị, nguy cơ chiến tranh, cơ cấu lãnh đạo, khảnăng hoà nhập với cộng đồng quốc tế sẽ được nghiên cứu

+ Rủi ro kinh tế: Đề cập tới môi trường đầu tư, mức sống và phân phốithu nhập, các điều kiện thị trường, cơ cấu kinh tế và tăng trưởng, tình trạngtài chính đối ngoại, nợ nước ngoài và dự trữ ngoại tệ

Toàn bộ việc đánh giá các rủi ro trong điều lệ quỹ thường do những

tổ chức chuyên nghiệp tiến hành, các tổ chức này có đủ uy tín để xếp hạngrủi ro cho các hệ thống của cả một quốc gia

Sau khi cung cấp đầy đủ các thông tin theo chuẩn mực trong Điều lệQuỹ, các nhà đầu tư có thêm những cơ sở lựa chọn trong việc quyết định đầutư

- Phương pháp xác định giá trị tài sản của Quỹ:

Giá trị tài sản của Quỹ khi thiết lập được tính bằng số tiền thu đượckhi phát hành các chứng chỉ theo mệnh giá Số tiền thu được phải chuyểnngay cho người bảo quản Tổng số tiền thu sẽ được qui đổi theo một đồngtiền mạnh với tỷ giá xác định theo tỷ giá hiện hành Nếu quĩ đã đi vào hoạtđộng, thì giá trị tài sản hiện thời của quỹ sẽ được tính theo công thức:

Giá trị tài sản quỹ = Giá trị các khoản đầu tư - Các khoản nợ của QuỹTrong đó:

Giá trị các khoản đầu tư: - Tiền mặt

Trang 34

- Các loại chứng khoán

- Các tài sản khácCác khoản nợ của quỹ:

- Các khoản phí, thưởng trả cho công ty quản lý Quỹ

- Các khoản phí, thường trả cho ngân hàng tín thác

- Các khoản thuế chưa trả và những nghĩa vụ nợ

Các loại chứng khoán bao gồm các chứng khoán đã được niêm yếttrên sở giao dịch, được tính theo giá thị trường hiện hành và các chứngkhoán chưa được đưa vào sở giao dịch, được tính theo báo cáo tài chính vềtình hình hoạt động gần nhất của đơn vị phát hành (bảng tổng kết tài sản).Thời điểm tính giá trị tài sản quỹ tuỳ thuộc vào loại hình quỹ Nếu quỹđóng, xác định theo định kỳ; quỹ mở xác định giá trị hàng ngày vì nó làm

cơ sở để mua bán các chứng chỉ của quỹ

- Chính sách và phương thức phân phối lợi nhuận của Quỹ: Các loạihình quỹ khác nhau có phương thức phân phối lợi nhuận khác nhau, xuấtphát từ mục tiêu đầu tư, nhu cầu đầu tư và việc này được cụ thể trong hợpđồng tín thác

Nếu mục tiêu của Quỹ là dài hạn thì các khoản lợi nhuận sẽ khôngđược phân phối mà sẽ được tái đầu vào cuối mỗi năm, nhà đầu tư chỉ có thểnhận biết qua sự thay đổi về giá chứng chỉ Nếu mục tiêu của Quỹ là ngắnhạn, Quỹ có thể chia lợi nhuận cho các nhà đầu tư hàng năm bằng mộttrong hai phương thức:

+ Chia bằng tiền mặt

+ Chia bằng việc tăng thêm số lượng chứng chỉ theo tỉ lệ hiện thời của họ

- Các khoản phí, thưởng cho công ty quản lý Quỹ:

Các khoản phí quản lý hàng năm được tính trên cơ sở giá trị tài sảnquản lý trong năm tài chính Mức chi phí giao động 1%-2% năm, tỉ lệ nàyphụ thuộc chủ yếu vào chính sách đầu tư của Quỹ

Thưởng cho Công ty quản lý quỹ chỉ trong trường hợp công ty quản lýtốt các khoản đầu tư và lợi nhuận đem lại cao hơn một mức ấn định ở hợpđồng tín thác Mức thưởng chỉ được tính trên phần lợi nhuận phụ trội với

Trang 35

một tỷ lệ xác định Ngoài ra, quỹ phải trả một số khoản phí khác như trảcho các luật sư, công ty kiểm toán chi phí giao dịch công ty quản lý quỹkhông phải trả mà quĩ phải thanh toán như hoa hồng mới giơí.

- Các khoản phí phải trả cho ngân hàng tín thác:

Các khoản phí phải trả cho ngân hàng tín thác để bù đắp những chi phíkhi thực hiện nhiệm vụ của mình Các khoản phí này được chia làm hailoại: Phí giám sát bảo quản và phí giao dịch trên tài sản của Quĩ Thôngthường, các khoản này bình quân dao động từ 0,08%-0,1% giá trị tài sảnQuĩ

- Thời điểm quyết toán tài chính hàng năm của Quĩ

Điều lệ Quĩ phải qui định cụ thể làm chuẩn mực cho ngân hàng tínthác và công ty quản lý Quĩ thực hiện

- Nội dung thông tin và phương tiện công bố thông tin liên quan tớiquỹ

Do đặc điểm từng Quĩ mà việc qui định sử dụng những phương tiệnthông tin khác nhau Đối với quỹ tư nhân việc công bố thông tin được tiếnhành qua thư hoặc fax, quĩ đầu tư tập thể thường công bố thông quaphương tiện thông tin đại chúng như báo, đài Những công bố này có ýnghĩa quan trọng cho các nhà đầu tư trong việc nắm bắt các hoạt động củaQuĩ, làm căn cứ xác định, đánh giá các khoản đầu tư của mình Ngoài ra,thông tin của Qũi còn có thể được tìm hiểu trực tiếp tại trụ sở, văn phòng,chi nhánh của Quĩ Trong điều lệ Quĩ phải qui định cụ thể các phương tiệnthông tin sẽ sử dụng

- Thời gian hoạt động của Quĩ:

Thời hạn hoạt động phải được xác định cụ thể để đăng ký với chínhquyền địa phương nơi Quĩ đóng trụ sở và cơ quan quản lý đã cấp giấy phéphoạt động cho Quĩ Thời gian hoạt động của Quĩ còn là cơ sở cho thời hạncủa hợp đồng tín thác

- Việc giải thể của Quĩ

Quĩ có thể đi tới chỗ giải thể vì những lí do sau:

Trang 36

- Hết thời hạn hoạt động của Quĩ mà không có bất cứ ý kiến nào củacác bên về việc kéo dài thời hạn hoạt động.

- Do phía ngân hàng tín thác thông báo:

+ Nhà quản lý đi đến chỗ phá sản hoặc giải thế

+ Có những bằng chứng cụ thể về sự yếu kém năng lực của nhà quản

lý Sau một thời hạn nhất định đã thông báo cho tất cả các bên, nhà quản lý

và người được uỷ thác đều không tìm được công ty quản lý thay thế phùhợp với các điều khoản trong điều lệ thì quỹ sẽ chính thức giải thể Nếu nhàquản lý thấy nhận định của phía người được uỷ thác là không đủ căn cứkinh tế thì vấn đề này sẽ được đưa ra xem xét trong một hội đồng độc lập.+ Người được uỷ thác đánh giá sự tồn tại của quỹ là hoàn toàn bất lợitrong điều kiện hiện tại, bằng một bản báo cáo phân tích chi tiết khẳng địnhtheo quan điểm của mình

+ Người được uỷ thác không thể tiếp tục công việc của mình màkhông tìm được người thay thế

- Giải thể do phía nhà quản lý thông báo:

+ Nhà quản lý đánh giá quĩ hoạt động không còn hiệu quả nữa vớimục tiêu đề ra, nếu tiếp tục có thể gánh chịu những hậu quả xấu Trong mộtthời gian dài giá trị tài sản quỹ không thay đổi hoặc giảm xuống ở mứcdưới 50%

+ Nhà quản lý không có khả năng tiếp tục công việc của mình vàkhông tìm được người thay thế

Tất cả các bên khi yêu cầu giải thể quĩ đều phải thông báo việc giảithể trước một thời hạn nhất định, trong thời gian đó vẫn phải tiếp tục côngviệc của mình Khi có quyết định chính thức kết thúc, người được uỷ thácphải làm những công việc sau:

+ Trả tất cả các khoản nợ, phí, thuế của quĩ tính cho tới ngày giải thể.+ Xác định giá trị tài sản hiện hành của quĩ và niêm phong lại

Trang 37

Nếu giá trị còn lại nhỏ hơn một mức được coi là không đáng kể (mứcnày cũng phải được qui định ngay trong điều lệ, ở Mĩ là 10%) thì ngườiđược uỷ thác có quyền giữ lại, không phân chia cho những người góp vốn.Các khoản phí giải thể, toà án và các khoản thanh toán khác do người được

uỷ thác chịu trách nhiệm cuối cùng và chỉ trong phạm vi tài sản của quĩ.-Các điều khoản khác do Uỷ ban chứng khoán quốc gia qui định

Sau khi điều lệ quĩ được thông qua, mọi sửa đổi, bổ xung điều lệ quĩphải được tiến hành tuần tự theo từng bước:

+ Bước thứ nhất, thành lập một hội đồng với đầy đủ các thành phầnđại diện cho quyền lợi của tất cả các bên thamgia

+ Bước thứ hai, đệ trình lên uỷ ban chứng khoán và phải được uỷ banchứng khoán chấp thuận

Công ty quản lý quĩ là người chịu trách nhiệm phải công bố những sửađổi, bổ sung này trên thông tin đại chúng ít nhất ba lần

1.3.7 Nội dung bản cáo bạch phát hành

Khi quĩ đầu tư muốn phát hành chứng chỉ ra công chúng để thu hútvốn phải lập một bản thông báo Nội dung của bản thông báo gồm các nộidung đã có trong hợp đồng tín thác và một số thông tin cụ thể về việc pháthành chứng chỉ đầu tư Các thông tin này phải được nêu lên một cách cụ thể

rõ ràng vì phục vụ cho những nhà đầu tư là người không có chuyên môn tronglĩnh vực này

Đối với mô hình công ty, các uỷ viên hội đồng quản trị là người đứng

ra chịu trách nhiệm chung và cá nhân đối với độ tin cậy của các thông tintrong bản cáo bạch này và xác nhận: sau những tiến hành điều tra cần thiết,bằng những kiến thức của mình họ tin rằng sẽ không có thông tin nào đượcthông báo có thể gây sai lệch cho lựa chọn của nhà đầu tư

Đối với mô hình tín thác, người chịu trách nhiệm về độ tin cậy của cácthông tin này thuộc về công ty quản lý quỹ

Thông tin khái quát về quĩ, người được uỷ thác, nhà quản lý.

Trang 38

- Tên, địa chỉ của trụ sở làm việc theo đăng ký, ngày tháng thành lậpquĩ và những mục tiêu đặt ra đối với quĩ.

- Tên, địa chỉ của ngân hàng tín thác, người sẽ được cử ra làm đại diện

uỷ quyền với trình độ năng lực trong quá trình công tác trên cương vị đó

- Tên, địa chỉ trụ sở của công ty quản lý quĩ, giới thiệu qua về quátrình hoạt động và năng lực quản lý của các nhà lãnh đạo công ty Các quĩtrước đây và hiện thời công ty đang tiến hành quản lý, những thông tin vềmức độ thực hiện các mục tiêu do điều lệ quĩ đã đề ra, thành công, thất bạivới những đánh giá trên khía cạnh quản lý

- Tên, địa chỉ trụ sở của công ty kiểm toán được chỉ định tham giatrong hợp đồng tín thác, trình độ và năng lực chuyên môn của những kiểmtoán viên chịu trách nhiệm trực tiếp công việc naỳ

- Những điều khoản hoặc một bản tóm lược đầy đủ các điều khoảntrong điều lệ quĩ

Những thông tin được qui định đối với quĩ đã hoạt động và phát hành không phải là lần đầu.

Thông tin về các chứng chỉ đã được niêm yết, được tham gia mua bántrên thị trường chứng khoán gồm:

+ Điều kiện phát hành và cách thức phân phối chứng chỉ của nhữnglần phát hành trước

+ Khối lượng phát hành và giá trị thu thuần được tính cho tới thờiđiểm hiện tại

+ Giá phát hành, giáo chào bán và mệnh giá của từng loại chứng chỉ.+ Các phương thức thanh toán theo giá phát hành và giá chào bán+ Thời hạn phát hành, thời gian công bố của người đặt mua

+ Tên của các đại lý phát hành

+ Biểu đồ thông tin về giá cả của các chứng chỉ đã phát hành cho tớithời điểm hiện tại, tốc độ trao đổi chứng chỉ ở quĩ nếu là quĩ mở

Trang 39

Thông tin về vốn của quĩ

+ Tổng lượng vốn được phép phát hành (được phép huy động củaquĩ) Nếu có qui định về tài sản, vật thế chấp đảm bảo phải nộp vào ngânhàng rồi mới được phép phát hành

+ Cơ cấu vốn, hiệu quả sử dụng vốn của các lần phát hành trước Nếu

có những biến động trong cơ cấu phải thông tin chi tiết về những biến động

đó, đi kèm với thông báo này là báo cáo của nhân viên kiểm toán chịu tráchnhiệm xác nhận và phải ghi đầy đủ những căn cứ để đưa ra xác nhận

+ Tổng giá trị các khoản nợ hiện thời quỹ chưa thanh toán, lý do và cơcấu các khoản nợ Phân loại các khoản nợ theo thời hạn hoặc nghĩa vụthanh toán với hướng giải quyết vấn đề này

+ Thông tin chi tiết về bất kỳ vụ tranh chấp, kiện tụng nào có tầmquan trọng vật chất hoặc có liên quan trực tiếp đến tài sản của quĩ mà chưađược giải quyết, chưa có hướng giải quyết

Thông tin về phát hành và quản lý phát hành

+ Số lượng chứng chỉ phát hành đợt này với quĩ đóng hoặc giới hạn sốlượng chứng chỉ phát hành tối đa với quĩ mở Xác định lượng vốn tối thiểucho mục tiêu đầu tư làm căn cứ cho số lượng phát hành

+ Thông tin về phương thức xác định giá bán chứng chỉ đầu tư Đốivới việc phát hành lần đầu thường không khó khăn nhưng từ lần thứ hai trở

đi phải quan tâm, công bằng tránh gây xung đột quyền lợi giữa nhữngngười góp vốn Trong việc xác định giá bán khi phát hành người muathường phải chịu một khoản phí gọi là phí bán Phí bán này là khoản trảcho đại lý bán, tuy nhiên có những quĩ không thu phí bán nhằm thu hút cácnhà đầu tư

+ Thông tin về thời hạn phân phối dự kiến của đợt phát hành

+ Phương thức phân phối chứng chỉ đầu tư Thông thường nó đượcthông qua một đại lý phát hành như Công ty chứng khoán hoặc do chínhcông ty quản lý quĩ trực tiếp đứng ra phân phối Khi sử dụng đại lý phát

Trang 40

hành không phải là công ty quản lý quĩ phải nêu rõ tên, địa chỉ trụ sở chínhcũng như các chi nhánh sẽ sử dụng trong đợt phát hành, ngoài ra kèm theomột bản giới thiệu về trình độ năng lực và trách nhiệm của người đại lý ởlãnh vực này Trong thông báo phải nêu rõ cách thức phân bổ chứng chỉtrong trường hợp số lượng đăng ký mua vượt quá số lượng phát hành, trongtrường hợp số lượng mua thấp hơn số lượng phát hành và các biện phápgiải quyết các vấn đề đó.

+ Trong trường hợp sử dụng nghiệp vụ bảo lãnh phát hành phải nêutóm lược các điều khoản ghi trong hợp đồng bảo lãnh

+ Thông báo các thủ tục, cách thức đăng ký đặt mua chứng chỉ đầu tư

Những qui định về thuế áp dụng cho quỹ.

Nêu cụ thể những khoản thuế mà nhà đầu tư sẽ phải trả, những khoảnthuế được miễn giảm và cách thức thanh toán những khoản thuế đó Thực

tế ở các nước trên thế giới có một số quĩ được miễn thuế xét theo mục tiêuđầu tư của quĩ Ví dụ mục tiêu của quĩ là đầu tư vào chứng khoán chínhphủ, các công trình quốc gia ngay cả khi đầu tư vào ngành mà ngành đóđang được nhà nước khuyến khích phát triển Nhìn chung các qui định vềthuế áp dụng cho quĩ thường không nhiều vì loại hình đầu tư thông qua quĩ

là đầu tư gián tiếp nên lợi nhuận của quĩ đã một lần chịu thuế Hơn nữa,

mô hình quĩ đầu tư là loại hình đầu tư thúc đẩy các ngành có nhiều tiềmnăng phát triển, phương thức quản lý và huy động có nhiều thế mạnh nêncác quốc gia thường khuyến khích bằng hình thức miễn thuế

Ngoài ra còn những nội dung thông tin khác trong bản cáo bạch tuỳtheo Uỷ ban chứng khoán của từng quốc gia qui định

Ngoài bản cáo bạch cung cấp thông tin trước khi phát hành cho cácnhà đầu tư mới và đã đầu tư quĩ tín thác phải ấn hành một cuốn sách giớithiệu, một báo cáo bán niên (trong vòng 2 tháng từ khi kết thúc một thờikỳ) và một báo cáo được kiểm toán viên hàng năm (trong vòng 4 tháng kể

từ khi kết thúc một thời kỳ) với báo cáo đầy đủ của kiểm toán viên đượccông bố kèm theo

Ngày đăng: 27/10/2018, 10:46

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w