1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Trách nhiệm xã hội của ngân hàng thương mại cổ phần nam á

91 187 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 1,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

i DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 1 BSCI Sáng kiến đánh giá tuân thủ trách nhiệm xã hội trong kinh doanh 3 CERES Liên minh vì nền kinh tế có trách nhiệm với môi trường 4 CHLB Đức Cộng hòa L

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG HÀ

TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NAM Á

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

HÀ NộI – 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG HÀ

TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NAM Á

Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi là Nguyễn Thị Phương Hà, tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, chưa được công bố trong bất kỳ một công trình nghiên cứu nào Việc sử dụng kết quả, trích dẫn tài liệu của người khác đảm bảo theo đúng các quy định Các nội dung trong trích dẫn và tham khảo các tài liệu, sách báo, thông tin được đăng tải trên các ấn phẩm, tạp chí và website theo danh mục tham khảo của luận văn

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Phương Hà

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài luận văn “Trách nhiệm xã hội của

Ngân hàng Thương mại cổ phần Nam Á” tôi đã nhận được sự hướng dẫn,

hỗ trợ và giúp đỡ quý báu từ các thầy cô giáo Viện Quản trị kinh doanh, trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, các bạn trong lớp K24QTKD3 và tập thể cán bộ nhân viên của Ngân hàng Nam Á nơi tôi đang làm việc

Tôi xin bày tỏ lời biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Hoàng Văn Hải- thầy giáo

đã trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện đề tài này Thầy đã luôn nhiệt tình hướng dẫn, chỉ bảo giúp tôi hoàn thành luận văn

Tôi xin cảm ơn tập thể thầy cô giáo Viện quản trị kinh doanh- trường Đại học kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội đã truyền thụ những kiến thức quý báu cho tôi trong suốt thời gian học tập tại trường

Tôi xin cảm ơn Ban lãnh đạo Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Á

đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện nghiên cứu đề tài này Bên cạnh đó tôi cũng xin cảm ơn tập thể cán bộ nhân viên Ngân hàng Nam Á đã hỗ trợ tôi trong việc đưa ra những câu trả lời khách quan nhất cho bảng khảo sát trong đề tài nghiên cứu của tôi

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè và các bạn lớp K24QTKD3 đã luôn cổ vũ, động viên và khích lệ tôi hoàn thành luận văn này

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i

DANH MỤC BẢNG BIỂU ii

DANH MỤC HÌNH VẼ iii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP 5

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 5

1.1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 5

1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước: 8

1.2 Cơ sở lý luận về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 11

1.2.1 Quá trình hình thành và phát triển khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 11

1.2.2 Sự cần thiết phải thực hiện CSR 14

1.3 Các bộ tiêu chuẩn quốc tế về trách nhiệm xã hội 17

1.3.1 Bộ quy tắc ứng xử BSCI 18

1.3.2 Bộ nguyên tắc CERES 21

1.3.3 Bộ tiêu chuẩn ISO14000 23

1.3.4 Bộ tiêu chuẩn SA8000 25

1.3.5 Bộ tiêu chuẩn ISO26000 27

1.3.6 Thỏa ước toàn cầu 30

1.4 Trách nhiệm xã hội của Ngân hàng 30

CHƯƠNG 2 : PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ THIẾT KẾ LUẬN VĂN 32

2.1 Quy trình nghiên cứu 32

2.2 Phương pháp nghiên cứu 33

2.2.1 Phương pháp thu thập dữ liệu 33

2.2.2 Phương pháp phân tích dữ liệu 34

2.3 Công cụ nghiên cứu 34

Trang 6

CHƯƠNG 3 : THỰC TRẠNG THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ

HỘI TẠI NGÂN HÀNG TMCP NAM Á 40

3.1 Tổng quan về Ngân hàng TMCP Nam Á 40

3.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 40

3.1.2 Sứ mệnh và tầm nhìn của Ngân hàng Nam Á 42

3.1.3 Sơ đồ tổ chức 43

3.1.4 Các thành tích đã đạt được 44

3.2 Phân tích thực trạng nhận thức và thực hiện CSR của Ngân hàng Nam Á 45

3.2.1 Đặc điểm mẫu khảo sát 45

3.2.2 Phân tích nhận thức về trách nhiệm xã hội của cán bộ nhân viên Ngân hàng TMCP Nam Á 48

3.2.3 Phân tích thực tiễn thực hiện CSR của Ngân hàng Nam Á 52

CHƯƠNG 4 : CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI TẠI NGÂN HÀNG TMCP NAM Á 64

4.1 Định hướng phát triển của Ngân hàng Nam Á đến năm 2020: 64

4.1.1 Các căn cứ xây dựng mục tiêu 64

4.1.2 Các mục tiêu cụ thể 64

4.2 Một số đề xuất 66

4.2.1 Đề xuất nâng cao nhận thức về CSR 66

4.2.2 Đề xuất các giải pháp CSR theo chủ đề 68

4.3 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo 71

4.3.1 Một số hạn chế của nghiên cứu 71

4.3.2 Các hướng nghiên cứu tiếp theo 72

KẾT LUẬN 73

TÀI LIỆU THAM KHẢO 74 PHụ LụC

Trang 7

i

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

1 BSCI Sáng kiến đánh giá tuân thủ trách nhiệm xã

hội trong kinh doanh

3 CERES Liên minh vì nền kinh tế có trách nhiệm với

môi trường

4 CHLB Đức Cộng hòa Liên bang Đức

5 CSR Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

6 EMS Hệ thống quản lý môi trường

8 Ngân hàng Nam Á Ngân hàng Thương mại cổ phần Nam Á

10 OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế

11 CSR Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp

12 UNIDO Tổ chức phát triển công nghiệp Liên hợp quốc

Trang 8

ii

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Trang 9

iii

DANH MỤC HÌNH VẼ

3 Hình 3.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nam Á 43

4 Hình 3.2 Cơ cấu mẫu khảo sát theo giới tính 45

5 Hình 3.3 Phân nhóm mẫu khảo sát theo trình độ học vấn 47

Trang 10

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong xu thế toàn cầu hóa, nền kinh tế của Việt Nam đang hòa nhập mạnh mẽ với nền kinh tế thế giới, việc phải tuân thủ các luật, các quy định và quy tắc ứng xử về cạnh tranh quan hệ kinh tế giữa các nước là rất cần thiết và phải được tôn trọng

Để nâng cao sức cạnh tranh của mình, ngoài chất lượng sản phẩm, mặt bằng giá cả ra thì hiện nay các doanh nghiệp trên thế giới còn rất quan tâm đến các vấn đề khác như các cam kết chăm lo đời sống , môi trường làm việc cho nhân viên; bảo vệ và phát triển môi trường xanh, quan tâm đến các hoạt động đóng góp cho xã hội Những cam kết trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) vượt ra khỏi mong muốn gia tăng lợi nhuận, và cho thấy doanh nghiệp đã nhận thức một cách đầy đủ về trách nhiệm của mình tới nhân viên, khách hàng, cộng đồng và môi trường Nhiều doanh nghiệp đã sử dụng CSR như một hướng kinh doanh mới khi nhận ra rằng nó có thể giúp cải thiện các tình hình tài chính, nâng cao động cơ làm việc của các nhân viên, góp phần tạo nên lòng trung thành của khách hàng cùng danh tiếng doanh nghiệp

Trên thế giới, CSR đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của các chính phủ, các tổ chức xã hội, và cả những doanh nghiệp, người tiêu dùng từ những năm 60 của thế kỷ XX và dần trở thành xu hướng mạnh mẽ trong hoạt động của doanh nghiệp Ở Việt Nam vấn đề thực hiện CSR đã được biết đến khá lâu, từ năm 2005 nước ta đã có giải thưởng "CSR hướng tới sự phát triển bền vững" được tổ chức bởi Phòng thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Bộ Công Thương cùng các hiệp hội Da giày, Dệt may tổ chức, nhằm tôn vinh các doanh nghiệp thực hiện tốt công tác CSR trong bổi cảnh hội nhập Năm 2006 đã có 50 doanh

Trang 11

2

nghiệp ngành dệt may và da giày tham dự Tuy nhiên ở Việt Nam việc thực hiện CSR còn nhiều khó khăn, bên cạnh một vài doanh nghiệp thực hiện tốt thì vẫn còn là điều mới mẻ với rát nhiều doanh nghiệp Nhiều những vụ việc

vi phạm CSR đã bị phanh phui và lên án, gây nên sự bức xúc trong cộng đồng và làm giảm lòng tin vào doanh nghiệp Vì vậy các doanh nghiệp cần phải nâng cao và nhận thức sâu sắc về việc thực hiện CSR để nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt

Với vai trò là xương sống của nền kinh kế, lĩnh vực tài chính nói chung, ngành ngân hàng nói riêng đóng một vai trò rất quan trọng trong việc

hỗ trợ nền kinh tế của một đất nước phát triển bền vững, việc thực hiện CSR trong ngành ngân hàng cũng đang rất đựợc quan tâm nghiên cứu và triển khai Cùng với sự phát triển về quy mô doanh nghiệp thì vấn đề CSR của các ngân hàng được xác định là một trong những yếu tố chủ yếu liên quan đến việc theo đuổi mục tiêu xã hội của mình

Không nằm ngoài xu thế chung, mức độ quan tâm về CSR trong ngành ngân hàng ngày càng tăng, các ngân hàng ở Việt Nam đang tăng cường cạnh tranh và đã bắt đầu tham gia các hoạt động CSR một cách nghiêm túc tuy nhiên vẫn chưa có nghiên cứu cụ thể về các hoạt động thực hiện CSR trong ngành ngân hàng với những góc nhìn đa chiều và những đánh giá mức độ ảnh hưởng, hiệu quả thu được khi thực hiện CSR tại các ngân hàng Xuất phát từ bối cảnh của nền kinh tế Việt Nam nói chung và đặc thù hoạt động của ngành ngân hàng Việt Nam nói riêng, tác giả chọn đề tài:”Trách nhiệm xã hội của Ngân hàng Thương mại cổ phần Nam Á” nhằm đánh giá mức độ nhận thức và việc thực hiện CSR tại ngân hàng này

Câu hỏi đặt ra là Ngân hàng Nam Á nên thực hiện CSR như thế nào để đáp ứng được kỳ vọng của các bên liên quan trong thời gian tới?

Trang 12

b Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về CSR

- Đánh giá thực tiễn thực hiện CSR tại Ngân hàng Nam Á

- Đề xuất một số giải pháp thúc đẩy thực hiện CSR tại Ngân hàng Nam Á

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các hoạt động CSR của Ngân hàng

Trang 13

4

4 Những đóng góp của luận văn

Luận văn có những đóng góp chủ yếu như sau:

 Làm rõ thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội của Ngân hàng Nam Á

 Đưa ra các đề xuất nâng cao trách nhiệm xã hội ở Ngân hàng Nam Á dựa vào việc phân tích thực trạng và rút ra các bài học kinh nghiệm từ việc thực hiện trách nhiệm xã hội của ngân hàng Nam Á

 Giúp nhà quản lý Ngân hàng Nam Á có những định hướng về hoạt động kinh doanh song song với thực hiện CSR nhằm đảm bảo cho NH phát triển bền vững

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm có 04 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và thiết kế luận văn

Chương 3: Phân tích thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội tại Ngân hàng TMCP Nam Á

Chương 4: Các giải pháp nâng cao trách nhiệm xã hội tại Ngân hàng TMCP Nam Á

Trang 14

5

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ

TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp đang dần trở thành mối quan tâm chung của quốc tế, của các quốc gia và của đa số các doanh nghiệp trên thế giới Vì vậy, nghiên cứu về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) cũng nhận được sự quan tâm rất lớn của giới học thuật trong hàng chục thập kỉ qua

Có rất nhiều nghiên cứu về CSR nói chung và mối quan hệ giữa việc thực hiện CSR với kết quả hoạt động của doanh nghiệp, với sự trung thành và gắn

bó của người lao động Một số nghiên cứu thì tập trung tìm hiểu mối quan hệ giữa việc thực hiện CSR với giá trị thương hiệu và lòng trung thành của khách hàng Có thể kể đến một số nghiên cứu như sau:

Mathew (2006) bàn về tầm quan trọng của CSR trong doanh nghiệp như: Các quy định kinh doanh toàn cầu mới- sự hiểu biết của công ty về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp, CSR thực hành đáp ứng lý thuyết- quản trị toàn cầu và mạng lưới chính sách công cộng toàn cầu

Collier và Esteban (2007) tìm hiểu mối quan hệ giữa CSR và sự cam kết của nhân viên Hai tác giả này đã tổng hợp và phân tích các kết quả nghiên cứu lý thuyết cũng như nghiên cứu thực nghiệm trước đây về CSR, động lực và

sự cam kết của nhân viên để chỉ ra rằng hiệu quả của các hoạt động CSR phụ thuộc vào mức độ tham gia của nhân viên mà trong khi mức độ tham gia này thì lại chịu ảnh hưởng của các yếu tố hoàn cảnh và nhận thức của NLĐ Theo Collier và Esteban, tất cả các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp xuyên quốc gia phải chịu trách nhiệm về những quy tắc ứng xử đạo đức của

Trang 15

6

họ mà còn phải chịu trách nhiệm về ảnh hưởng của nó gây ra cho các bên liên quan hiện tại và các thế hệ tương lai Vì vậy, CSR muốn được thực thi có hiệu quả thì doanh nghiệp cần thúc đẩy và tạo được sự cam kết của nhân viên Sự cam kết này sẽ rất quan trọng khi doanh nghiệp hoạt động trong các bối cảnh văn hóa khác nhau Ngoài ra, cũng theo hai tác giả này, nếu doanh nghiệp chỉ

có bản tuyên bố sứ mệnh và bộ quy tắc ứng xử thôi thì vẫn chưa đủ mà cần khiến những quy tắc đạo đức đó được ngấm sâu vào văn hóa của doanh nghiệp cũng như ngấm vào tâm trí và trái tim của mọi thành viên trong doanh nghiệp

Ali và cộng sự (2010) nghiên cứu mối quan hệ giữa CSR nội bộ và

sự cam kết với tổ chức trong khu vực ngân hàng của Jordan dựa trên khung

lý thuyết về giao tiếp xã hội (social exchange theory – SET) CSR nội bộ được xác định trong nghiên cứu này bao gồm 5 thành tố: sức khỏe và an toàn nghề nghiệp, nhân quyền, đào tạo và huấn luyện, cân bằng công việc – cuộc sống, sự đa dạng tại nơi làm việc

Kết quả khảo sát hơn 300 nhân viên làm việc trong lĩnh vực ngân hàng tại Jordan đã cho thấy tất cả các thành tố của CSR nội bộ đều có tác động lớn

và tích cực đến sự cam kết về tình cảm và danh nghĩa Như vậy, các hoạt động CSR mà các ngân hàng thực hiện là có ảnh hưởng đến thái độ và sự cam kết của nhân viên làm việc cho ngân hàng Điều này có nghĩa là các nhà quản trị cần chú trọng thực hiện tốt hơn nữa các hoạt động thể hiện CSR nội bộ như đào tạo và phát triển nghề nghiệp, bảo vệ nhân quyền, v.v Ngoài ra, nghiên cứu này cũng chỉ ra các thành tố CSR nội bộ không có mối quan hệ lớn với sự cam kết lâu dài của nhân viên

Ali và cộng sự (2012) tiếp tục nghiên cứu mối quan hệ giữa CSR nội bộ

và sự gắn bó của nhân viên Theo kết quả nghiên cứu này, sự gắn bó của nhân viên bao gồm hai thành tố là sự gắn bó với công việc (job engagement) và sự gắn bó với tổ chức (organizational engagement) Kết quả nghiên cứu thực

Trang 16

7

nghiệm với hơn 336 nhân viên tại các ngân hàng của Jordan đã cho thấy các thành tố của CSR nội bộ đều có mối quan hệ tích cực với sự gắn bó của nhân viên Đáng chú ý là CSR nội bộ có tác động tích cực hơn đến sự gắn bó với tổ chức hơn là sự gắn bó với công việc của nhân viên

Mirvis (2012) tìm hiểu CSR tác động như thế nào đến động lực làm việc, đặc tính và ý nghĩa của mục đích tồn tại của nhân viên Nghiên cứu này

đã chỉ ra có ba cách tiếp cận mà từ đó doanh nghiệp có thể đạt được sự gắn

bó của nhân viên thông qua các hoạt động CSR

Cách tiếp cận đầu tiên được gọi là cách tiếp cận trao đổi, khi đó các chương trình CSR được thực hiện để đáp ứng nhu cầu của những nhân viên muốn tham gia vào những nỗ lực thực hiện CSR của Ngân hàng Đây

là cách tiếp cận gắn liền với hoạt động quản trị nhân sự trong doanh nghiệp

Cách tiếp cận thứ hai là cách tiếp cận quan hệ dựa trên một thỏa thuận tâm lý rằng tổ chức và các nhân viên của nó cùng cam kết thực hiện CSR Khi áp dụng cách tiếp cận này, doanh nghiệp cần xây dựng văn hóa tổ chức có trách nhiệm xã hội tốt

Cách tiếp cận thứ ba là cách tiếp cận phát triển khi doanh nghiệp hướng đến mục tiêu thúc đẩy các nhân viên tham gia đầy đủ hơn vào các hoạt động tạo

ra giá trị lớn hơn cho doanh nghiệp và xã hội Qua cách này các hoạt động CSR cần được mở rộng để lôi kéo sự tham gia của tất cả các nhân viên trong doanh nghiệp và thậm chí cả những bên liên quan chủ yếu khác của Doanh nghiệp Ngoài ra, nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng ngày càng có nhiều nhân viên cho biết

họ muốn tham gia vào các hoạt động CSR của Ngân hàng Đây là một thực tế không chỉ ở những quốc gia phát triển mà thậm chí ở cả những nước đang phát triển như Ấn Độ, Nam Phi và Trung Quốc

Tziner và cộng sự (2011) nghiên cứu về mối quan hệ giữa CSR, sự công bằng của tổ chức và sự hài lòng trong công việc Kết quả nghiên

Trang 17

8

cứu đã cho thấy CSR có mối quan hệ tích cực đến sự công bằng của tổ chức và sự hài lòng trong công việc

1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước:

Ở Việt Nam, vấn đề trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) đã được biết đến từ đầu những năm 90 của thế kỷ XX Kể từ đó đến nay có rất nhiều bài nghiên cứu về CSR Tuy nhiên, những nghiên cứu về CSR chưa mang tính hệ thống Những nghiên cứu về CSR được công bố chính thức trên các tạp chí chuyên ngành hay báo cáo của các tổ chức phi chính phủ, có một số bài viết về CSR cũng được đăng tải trên các tạp chí điện tử, diễn đàn về CSR chưa được hệ thống, và chắt lọc lại thành những bài học cho các doanh nghiệp làm tài liệu tham khảo Các bài viết chủ yếu hướng đến việc làm rõ phạm trù CSR và chỉ ra những lợi ích của CSR đối với doanh nghiệp ở góc độ lý luận

Những công trình nghiên cứu về CSR nội bộ và sự hài lòng của nhân viên còn rất ít Dưới đây là một số công trình nghiên cứu trong nước về CSR:

Nguyễn Đình Cung và Lưu Minh Đức trong bài viết “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp – CSR: một số vấn đề lý luận và yêu cầu đổi mới quản

lý nhà nước đối với CSR ở Việt Nam” cho rằng cần lưu ý đến một số bất cập

mà các doanh nghiệp Việt Nam đang gặp phải khi thực hiện CSR đó là: Thứ nhất là đảm bảo tăng trưởng nhanh đi kèm với tính bền vững của môi trường; Thứ hai là nâng cao ý thức bảo vệ quyền lợi cộng đồng và quyền lợi cá nhân; Thứ ba đó là cần phải có các thiết chế đại diện, trung gian, đó là các tổ chức phi chính phủ, hiệp hội, …để đứng ra bênh vực quyền lợi nhân dân, quyền lợi người tiêu dùng; Thứ tư là nâng cao nhận thức về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp để thực hiện tốt hơn nữa CSR tại mỗi đơn vị, công ty

Nguyễn Ngọc Thắng (2010) tìm hiểu về CSR và sự gắn kết với hoạt

động quản trị nhân sự trong tổ chức Nghiên cứu này đã làm rõ các nhân tố

chính của CSR, xu thế CSR và đưa ra 7 bước nhằm gắn kết công tác quản trị

Trang 18

9

nhân sự (HRM) với CSR Theo tác giả, thực hiện tốt CSR sẽ đem lại những lợi ích to lớn cho doanh nghiệp như tăng doanh số và năng suất lao động, giảm tỷ lệ nhân viên thôi việc, thu hút được đội ngũ lao động có tay nghề cao hay có cơ hội mở rộng thị trường Tuy nhiên, ở Việt Nam, chiến lược CSR còn là một vấn đề tương đối mới mẻ nên các hoạt động quản trị doanh nghiệp chưa thực sự gắn kết được với CSR Trong khi đó, vai trò của các giám đốc nhân sự lại hết sức quan trọng trong việc xác định các lợi ích của NLĐ, lợi ích kinh tế và sau đó là kết hợp hài hòa lợi ích của các nhóm có liên quan nhằm tạo ra một hình ảnh doanh nghiệp tốt hơn trong mắt mọi người Do vậy, tác giả bài báo đề xuất các doanh nghiệp nên tham khảo 7 bước để gắn HRM với CSR gồm:

 Tầm nhìn về phát triển chiến lược CSR

 Xây dựng bảng quy tắc ứng xử nội bộ

 Lồng ghép kế hoạch và tuyển dụng nhân sự với CSR

 Định hướng và lồng ghép các chương trình đào tạo với CSR

 Lồng ghép chế độ lương và thưởng với CSR

 Lồng ghép quản trị sự thay đổi với CSR

 Đo lường và đánh giá các chương trình CSR

Lê Thanh Trúc (2012) nghiên cứu về mối quan hệ giữa CSR và sự hài lòng của nhân viên tại các doanh nghiệp Việt Nam trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Trong nghiên cứu này, tác giả đã áp dụng mô hình CSR của Turker (2009) để kiểm chứng mối quan hệ của 4 thành tố CSR đến sự hài lòng của nhân viên gồm: trách nhiệm đối với nhân viên, trách nhiệm đối với khách hàng, trách nhiệm đối với chính phủ, trách nhiệm đối với xã hội và các đối tượng hữu quan khác Kết quả nghiên cứu đã cho thấy nhận thức của nhân viên về các hoạt động CSR đều có tác động tích cực (dương) đến sự hài lòng của họ, trong đó thành tố trách nhiệm đối với xã hội có tác động mạnh mẽ nhất đến sự hài lòng của nhân viên

Trang 19

Bên cạnh đó, Nguyễn Phương Mai (2014) cũng chỉ ra trong một nghiên cứu khác về CSR là có mối quan hệ thuận chiều giữa việc thực hiện CSR nội

bộ với sự hài lòng trong công việc của người lao động

Trần Thị Hoàng Yến (2016) trong “Nghiên cứu tác động trách nhiệm

xã hội của doanh nghiệp đến kết quả tài chính tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam” cho thấy sự ảnh hưởng tích cực tại các ngân hàng có hoạt động

thực hiện trách nhiệm xã hội tốt Nghiên cứu này giúp các nhà nghiên cứu, nhà hoạch định, các giám đốc điều hành ngân hàng trong quá trình xây dựng, hoạch định và thực thi chiến lược và trách nhiệm xã hội, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững ngành ngân hàng

Tóm lại, các công trình nghiên cứu trước đây đã đề cập đến thực tiễn thực hiện CSR trong một số ngành của Việt Nam cũng như quan tâm đến mối quan hệ giữa CSR với các chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động của doanh nghiệp Tuy nhiên, nghiên cứu về CSR trong ngành ngân hàng dường như có rất ít Do vậy, việc nghiên cứu CSR tại Ngân hàng Nam Á là góp phần bổ

sung các công trình nghiên cứu trong lĩnh vực này

Trang 20

11

1.2 Cơ sở lý luận về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

1.2.1 Quá trình hình thành và phát triển khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp là những nghĩa vụ một doanh nghiệp phải thực hiện đối với xã hội nhằm đạt được nhiều nhất những tác động tích cực và giảm tối thiểu các tác động tiêu cực đối với xã hội Về cơ bản trách nhiệm xã hội bao gồm những nghĩa vụ về kinh tế, pháp lý, đạo đức và nhân văn (Carroll, 1979)

Thuật ngữ CSR xuất hiện chính thức lần đầu tiên năm 1953 trong cuốn

sách “Trách nhiệm xã hội của doanh nhân” (Social Responsibilities of the

Businessmen) của tác giả Howard Rothmann Bowen nhằm mục đích tuyên truyền và kêu gọi người quản lý tài sản không làm tổn hại đến các quyền và lợi ích của người khác, kêu gọi lòng từ thiện nhằm bồi hoàn những thiệt hại

do các doanh nghiệp làm tổn hại cho xã hội (Bowen, 1953)

Từ đó đến nay, thuật ngữ trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đang được hiểu theo nhiều cách khác nhau Một số học giả cho rằng “CSR liên quan đến những quyết định và hành động được thực hiện mà ít nhất cũng vượt trên những lợi ích kinh tế của doanh nghiệp, là những nguyên tắc điều chỉnh mối quan hệ

giữa doanh nghiệp và xã hội” (Davis, 1960, Eells, Walton, 1961)

Năm 1973, Keith Davis đưa ra định nghĩa mới: “CSR là sự quan tâm và phản ứng của doanh nghiệp với các vấn đề vượt ra ngoài việc thỏa mãn những yêu cầu pháp lí, kinh tế, công nghệ”, với khái niệm này ông đã phát triển mô hình với 5 đề xuất, mô tả lý do, cách thức và nghĩa vụ mà doanh nghiệp phải tuân thủ để có các hành động bảo vệ và cải thiện sự phồn thịnh của xã hội cũng như của doanh nghiệp Tuy nhiên mô hình này còn khá mô hồ làm cho các doanh nghiệp khó thực hiện

Theo Sethi (1975), “trách nhiệm xã hội hàm ý nâng hành vi của doanh nghiệp lên một mức phù hợp với các quy phạm, giá trị và kỳ vọng xã hội đang

Trang 21

Hình 1.1: Mô hình kim tự tháp về CSR

(Nguồn: Carroll, 1979)

Theo mô hình của Carroll, CSR thể hiện ở các khía cạnh sau:

Thứ nhất, trách nhiệm kinh tế, thể hiện qua hiệu quả và tăng trưởng, là

điều kiện tiên quyết bởi doanh nghiệp được thành lập trước hết từ động cơ tìm kiếm lợi nhuận của doanh nhân Hơn thế, doanh nghiệp là các tế bào kinh tế căn bản của xã hội Vì vậy, chức năng kinh doanh luôn phải được đặt lên hàng đầu Các trách nhiệm còn lại đều phải dựa trên ý thức trách nhiệm kinh tế của doanh nghiệp

Thứ hai, trách nhiệm tuân thủ pháp luật chính là một phần của bản

“khế ước” giữa doanh nghiệp và xã hội Nhà nước có trách nhiệm “mã hóa” các quy tắc xã hội, đạo đức vào văn bản luật, để doanh nghiệp theo đuổi mục tiêu kinh tế trong khuôn khổ đó một cách công bằng và đáp ứng được các

Trang 22

13

chuẩn mực và giá trị cơ bản mà xã hội mong đợi ở họ Trách nhiệm kinh tế và pháp lý là hai bộ phận cơ bản, không thể thiếu của CSR

Thứ ba, trách nhiệm đạo đức là những quy tắc, giá trị được xã hội

chấp nhận nhưng chưa được “mã hóa” vào văn bản luật Thông thường, luật pháp chỉ có thể đi sau để phản ánh các thay đổi trong các quy tắc ứng xử xã hội vốn luôn mới Hơn nữa, trong đạo đức xã hội luôn tồn tại những khoảng

“xám”, đúng - sai không rõ ràng; mà khi các cuộc tranh luận trong xã hội chưa ngã ngũ, chúng chưa thể được cụ thể hóa vào luật

Thứ tư, trách nhiệm từ thiện Trách nhiệm này thể hiện ở các hoạt

động mang tính từ thiện mà doanh nghiệp thực hiện đối với cộng đồng hoàn toàn không có tính vụ lợi trong đó

Maignan và Ferrell (2004) đưa ra một khái niệm súc tích về CSR:

“Một doanh nghiệp có trách nhiệm xã hội khi quyết định và hoạt động của nó nhằm tạo ra và cân bằng các lợi ích khác nhau của những cá nhân và tổ chức

liên quan” (Maignan, I and Ferrell, O.C., 2004, pp 3-19)

Tuy nhiên trên thực tế, CSR là một phạm trù rộng và được hiểu và diễn đạt theo nhiều cách khác nhau Năm 2003, khái niệm CSR do Nhóm phát triển kinh tế tư nhân của Ngân hàng thế giới đưa ra được chấp nhận và sử

dụng rộng rãi nhất Theo đó, “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR)

là sự cam kết của doanh nghiệp đóng góp vào việc phát triển kinh tế bền vững, thông qua những hoạt động nhằm nâng cao chất lượng đời sống của người lao động và các thành viên gia đình họ, cho cộng đồng và toàn xã hội, theo cách có lợi cho cả doanh nghiệp cũng như phát triển chung của

xã hội” (World Bank, 2003)

Như vậy, có thể thấy CSR là một phạm trù phức tạp và được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau Tuy nhiên, dù cách thể hiện hình thức diễn đạt ngôn từ có khác nhau song nội hàm phản ánh của CSR về cơ bản đều có điểm

Trang 23

14

chung là bên cạnh những lợi ích phát triển riêng của từng doanh nghiệp phù hợp với pháp luật hiện hành thì đều phải gắn kết với lợi ích phát triển chung của cộng đồng xã hội

Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp phải gắn liền với vấn đề phát triển bền vững - một yêu cầu khách quan cấp thiết có tính toàn cầu của sự phát triển hiện nay Khi cạnh tranh thương trường ngày càng khốc liệt, những yêu cầu, đòi hỏi từ khách hàng ngày càng cao và xã hội do đó có cái nhìn ngày càng khắt khe hơn đối với doanh nghiệp về bổn phận, trách nhiệm trước cộng đồng, xã hội thì các doanh nghiệp muốn phát triển bền vững phải luôn tuân thủ không chỉ những chuẩn mực về bảo đảm sản xuất - kinh doanh phải có lợi nhuận, thậm chí siêu lợi nhuận mà cả những chuẩn mực về bảo vệ môi trường thiên nhiên, môi trường lao động, về thực hiện bình đẳng giới, an toàn lao động, quyền lợi lao động, quyền lợi đào tạo và phát triển của nhân viên, góp phần phát triển cộng đồng, bao hàm cả các hoạt động thực hiện an sinh xã hội như nhân đạo, từ thiện…

Nhìn chung, nội hàm của CSR bao gồm nhiều khía cạnh liên quan đến ứng xử của doanh nghiệp đối với các chủ thể và đối tượng có liên quan trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp, từ người sản xuất, tiếp thị, tiêu dùng đến các nhà cung ứng nguyên liệu, vật liệu tại chỗ, từ đội ngũ cán bộ, nhân viên cho đến các cổ đông của doanh nghiệp, trong đó, có cả trách nhiệm về bảo vệ tài nguyên, môi trường mà thực chất cũng là có trách nhiệm chung với lợi ích cộng đồng xã hội, bao gồm cả những hoạt động nhân đạo, từ thiện, hoạt động đóng góp cho sự phát triển chung của đất nước

1.2.2 Sự cần thiết phải thực hiện CSR

1.2.2.1 Lợi ích đối với doanh nghiệp

Cho đến ngày nay, việc ủng hộ thực hiện CSR vẫn còn nhiều ý kiến trái chiều nhưng không thể phủ nhận rằng ngày càng có nhiều doanh nghiệp quan tâm và thực hiện CSR

Trang 24

15

Thực tế chỉ ra rằng lợi nhuận là yếu tố quyết định cho sự tồn tại của tất

cả các doanh nghiệp nhưng doanh nghiệp chỉ có được lợi nhuận từ xã hội nơi

họ hoạt động nên việc cân bằng, dung hòa được lợi ích cho các cổ đông với lợi ích của xã hội là cần thiết

Các bằng chứng sau chiến dịch “Người tiêu dùng xanh” (Chiến dịch

“người tiêu dùng xanh” lần đầu tiên diễn ra trên thế giới vào năm 1989 Chiến dịch này bắt nguồn từ những hoạt động của Ngân hàng The Body Shop tại Anh kêu gọi người tiêu dùng các sản phẩm của Ngân hàng này với những đặc điểm của sản phẩm thể hiện trách nhiệm của Ngân hàng với môi trường và cộng đồng

xã hội như “đóng gói tối thiểu”, “không có đối xử tàn tệ”, “sản phẩm thiên nhiên” cho biết người tiêu dùng đã xem xét đến các vấn đề về sức khoẻ, xã hội

và đạo đức của sản phẩm trước khi quyết định mua hàng Năm 1999, cuộc khảo sát toàn cầu đầu tiên về những mong đợi của công chúng đối với doanh nghiệp được tiến hành với chủ đề “Một thiên niên kỷ thăm dò ý kiến về CSR” với sự tham gia của 1,000 công dân từ hơn 23 quốc gia trên toàn thế giới Kết quả của nghiên cứu này cho thấy hơn 2/3 trong số người tham gia khảo sát cho biết họ mong đợi doanh nghiệp đóng góp nhiều hơn vào sự phát triển của xã hội, thiết lập và thực thi các tiêu chuẩn đạo đức trong kinh doanh Cũng trong nghiên cứu này, hơn 80% số người được hỏi cho biết họ không muốn sử dụng hàng hoá của doanh nghiệp vi phạm CSR và sẽ mua hàng của doanh nghiệp không vi phạm

CSR (Boulstridge, E et al 2000, pp 355-368)

Người tiêu dùng ngày càng bị tác động từ các báo cáo hay các tin đồn

về các phương thức không thân thiện và gần như ngay lập tức có phản ứng trừng phạt các doanh nghiệp bằng việc tẩy chay sản phẩm của họ Theo nghiên cứu của MORI năm 2003 tại Anh với tổng số 2,026 người tiêu dùng, 84% số người được hỏi cho biết tiêu chí quan trọng đối với họ khi mua hàng của một Ngân hàng là Ngân hàng đó có mức độ cam kết thực thi CSR cao hay không

Trang 25

16

Có thể thấy, mối đe doạ về hình ảnh không đẹp đối với cộng đồng và doanh số bán hàng giảm sút là động lực chủ yếu để các doanh nghiệp xem xét đến các tác động của các hoạt động của mình Khi áp dụng và duy trì CSR, các doanh nghiệp có thể nhận được sự ủng hộ của khách hàng, qua đó doanh nghiệp ngày càng phát triển và mở rộng (Rachel Murphy, 2010)

Gần đây, số lượng các doanh nghiệp trên toàn thế giới nhận ra lợi ích kinh tế của các chính sách và biện pháp CSR đang ngày một tăng Khi các thị trường lớn trên thế giới ngày càng khó tính hơn, khi người tiêu dùng trở nên

“thông thái hơn”, sản phẩm không chỉ được yêu cầu đảm bảo về chất lượng

mà còn đòi hỏi "sạch hơn"

Như vậy, việc thực thi CSR tốt đem lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp như:

- Nâng cao hình ảnh của doanh nghiệp, tạo niềm tin cho các bên có liên quan về CSR;

- Giảm chi phí quản lý và các yêu cầu xã hội khác nhau;

- Nâng cao cơ hội đạt được lợi thế cạnh tranh, thu hút nhiều khách hàng hơn

- Giúp các doanh nghiệp chủ động hơn trong việc xâm nhập vào các thị trường mới có yêu cầu cao về CSR;

- Chiếm được vị thế tốt hơn trong thị trường lao động và thể hiện cam kết rõ ràng về các chuẩn mực và xã hội giúp cho doanh nghiệp dễ dàng thu hút được nhân viên tốt, có kỹ năng và trình độ chuyên môn cao

- Gia tăng lòng trung thành và cam kết của người lao động đối với doanh nghiệp;

- Tăng năng suất lao động, tối ưu hóa hiệu quả quản lý của doanh nghiệp

- Tạo được mối quan hệ tốt hơn với khách hàng và có được khách hàng trung thành với doanh nghiệp

Lợi ích mà CSR đem lại cho doanh nghiệp là không thể phủ nhận, trước hết đó là có thể tăng đơn đặt hàng từ những doanh nghiệp mua hàng đòi

Trang 26

1.2.2.2 Lợi ích đối với quốc gia:

- Đem lại công bằng cho xã hội: chính sách về CSR trong bản thân các doanh nghiệp như đối xử bình đẳng giữa nam giới và nữ giới, giữa lao động

cũ và mới

- Bảo vệ môi trường: Các doanh nghiệp thực hiện tốt CSR luôn là những doanh nghiệp có chính sách bảo vệ môi trường tốt Điều này góp phần bảo vệ môi trường chung của quốc gia

- Xóa đói giảm nghèo: thông qua những chương trình từ thiện do các

doanh nghiệp thực hiện, CSR có thể làm giảm đói nghèo

1.3 Các bộ tiêu chuẩn quốc tế về trách nhiệm xã hội

Thập kỷ vừa qua đã chứng kiến sự quan tâm ngày càng tăng của thế giới đối với việc thực hiện CSR trên cả phượng diện lí thuyết và thực tiễn(Nguyễn Ngọc Thắng , 2015) CSR là một vấn đề lớn bao trùm nhiều chủ đề nên có thể nói các bộ luật về môi trường, kinh doanh, lao động và các quy định khác của nhà nước đều có thể được coi là những tiêu chuẩn bắt buộc đối với doanh nghiệp Ngoài ra, các tổ chức phi chính phủ và tổ chức quốc tế khác cũng nỗ lực đưa ra những bộ tiêu chuẩn mang tính khuyến khích, hướng dẫn thực hiện CSR Tính đến nay, Các công ty đa quốc gia đã thiết lập khoảng hơn 1000 bộ quy tắc ứng xử Một số bộ tiêu chuẩn cơ bản về CSR được trình bày dưới đây

Trang 27

18

1.3.1 Bộ quy tắc ứng xử BSCI

Bộ tiêu chuẩn đánh giá tuân thủ trách nhiệm xã hội trong kinh doanh)- BSCI (Business Social Compliance Initiative ra đời năm 2003 từ đề xướng của Hiệp hội Ngoại thương (FTA) với mục tiêu thiết lập diễn đàn chung cho các quy tắc ứng xử và hệ thống giám sát ở châu Âu về trách nhiệm xã hội của

doanh nghiệp Bộ quy tắc ứng xử BSCI phù hợp với các Công ước ILO, Công

ước Quốc tế về Quyền Con người của Liên Hiệp Quốc, Công ước của Liên Hiệp Quốc về quyền trẻ em và về việc loại bỏ các hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ, Bản khế ước Toàn cầu của Liên Hiệp Quốc và Hướng dẫn của OECD dành cho các Doanh nghiệp Đa Quốc gia và các Hiệp định quốc tế liên quan khác Bộ Qui tắc Ứng xử này hướng đến đảm bảo sự tuân thủ với các tiêu chuẩn xã hội và môi trường cụ thể Khi các Công ty ký kết tuân thủ theo

Bộ Qui tắc Ứng Xử BSCI nghĩa là trong phạm vi ảnh hưởng của mình các doanh nghiệp cam kết thừa nhận các tiêu chuẩn về xã hội và môi trường qui định trong Bộ Qui tắc Ứng xử này và đảm bảo trong chính sách của mình có các biện pháp phù hợp để triển khai thực hiện và tuân thủ quy tắc Ngoài ra, các Doan nghiệp cung ứng phải đảm bảo Bộ Qui tắc Ứng xử này sẽ được tuân thủ bởi các nhà thầu phụ của mình có tham gia trong các quy trình sản xuất từ các giai đoạn bắt đầu cho đến khi sản phẩm được hoàn thành

Bộ Quy tắc BSCI có 9 nội dung quan trọng cụ thể được tóm lược như sau:

 Tuân thủ luật liên quan: Tuân theo toàn bộ pháp luật và các quy định hiện hành, các tiêu chuẩn tối thiểu của ngành, các Công ước của ILO (Tổ chức lao động quốc tế) và của Liên Hiệp Quốc, và các yêu cầu tương tự khác

có liên quan, phải áp dụng các tiêu chuẩn có qui định nghiêm ngặt hơn

 Tự do hội đoàn và quyền thương lượng tập thể: Mọi cá nhân đều có quyền tự do lựa chọn thành lập, tham gia và tổ chức công đoàn và người đại diện cho mình để thương lượng tập thể với doanh nghiệp Doanh nghiệp phải

Trang 28

19

tôn trọng quyền này của họ, và phải thông báo một cách có hiệu quả đến các

cá nhân là họ được tự do tham gia vào tổ chức mà họ chọn và rằng sự tham gia của họ sẽ không có hậu quả gì xấu, doanh nghiệp sẽ không trả đũa Doanh nghiệp không được can thiệp vào việc thành lập, hoạt động, hay công tác quản lý của các tổ chức đó của người lao động hoặc thương lượng tập thể -

dưới bất kỳ hình thức nào.;

 Cấm phân biệt đối xử: Không được phân biệt đối xử trong các lĩnh vực tuyển dụng, lương bổng, đào tạo – huấn luyện, để bạt thăng chức, chấm dứt hợp đồng lao động hay nghỉ hưu dựa trên giới tính, tuổi tác, tôn giáo, chủng tộc, địa vị

xã hội, nguồn gốc (dòng dõi), bối cảnh xã hội, sự tàn tật, nguồn gốc sắc tộc và quốc gia, quốc tịch, hội viên trong tổ chức của người lao động (công đoàn), bao gồm các hiệp hội, sự gia nhập chính trị, định kiến chính trị, định hướng giới tính, các trách nhiệm gia đình, tình trạng hôn nhân, hoặc bất kỳ một điều kiện nào khác

có thể làm phát sinh tình trạng phân biệt đối xử;

 Trả công lao động: Tiền lương trả cho giờ làm việc thông thường, giờ làm thêm và các khoản chênh lệch của giờ làm thêm phải bằng hoặc cao hơn lương tối thiểu do luật định và/hoặc do các tiêu chuẩn ngành qui định Không được khấu trừ lương trái phép, không đúng qui định hay kỷ luật bằng

được vượt quá 12 giờ

 An toàn và sức khỏe tại nơi làm việc: Doanh nghiệp phải cung cấp một môi trường làm việc an toàn và trong lành, phải có các biện pháp hữu

Trang 29

20

hiệu trong việc phòng ngừa tai nạn lao động và thương tật ảnh hưởng đến sức khỏe của người lao động, có liên quan đến hoặc có thể xảy ra trong quá trình làm việc, bằng cách giảm thiểu tối đa các nguyên nhân gây ra rủi ro, nguy hiểm vốn có trong môi trường làm việc và cần có các kiến thức thông thường

về ngành và các mối nguy hiểm đặc thù v.v

 Cấm sử dụng lao động trẻ em: Cấm sử dụng lao động trẻ em như đã được qui định trong các Công ước của ILO và Liên Hiệp Quốc và/hoặc pháp luật quốc gia Trong các tiêu chuẩn này, doanh nghiệp phải tuân thủ theo tiêu chuẩn nào nghiêm ngặt nhất Cấm mọi hình thức bóc lột trẻ em Cấm những

điều kiện làm việc như nô lệ hoặc có hại cho sức khỏe trẻ em;

 Cấm cưỡng bức lao động và các biện pháp kỷ luật: Mọi hình thức lao động ép buộc như phải nộp tiền đặt cọc hoặc giữ lại các giấy tờ tùy thân

cá nhân khi tuyển dụng lao động làm việc đều bị cấm, và cấm lao động tù

nhân vì đó là vi phạm quyền lợi cơ bản của con người v.v

 Các vấn đề an toàn và môi trường: Các qui trình thủ tục và tiêu chuẩn về quản lý, xử lý và loại bỏ rác thải là hóa chất và các chất thải độc hại khác, công tác xử lý khí thải và nước thải phải phù hợp hoặc tốt hơn các yêu

cầu tối thiểu luật định

Có thể thấy, Bộ Quy tắc BSCI đã đề cập đến những nội dung cơ bản của CSR mà một Ngân hàng phải thực hiện Cho đến nay, đã có hơn 50 thương hiệu tại 9 quốc gia trên thế giới áp dụng BSCI, trong đó chủ yếu là các doanh nghiệp ở châu Âu Điều này đặt ra yêu cầu thiết yếu trong việc áp dụng

bộ tiêu chuẩn này đối với các doanh nghiệp ở các nước đang phát triển sản xuất gia công cho các doanh nghiệp ở châu Âu vì đây chính là “hộ chiếu” cho việc xuất khẩu hàng hóa sang châu Âu Hơn nữa, việc áp dụng BSCI cũng sẽ đem lại rất nhiều lợi ích cho doanh nghiệp như cải thiện lâu dài các tiêu chuẩn

xã hội, qua đó thay đổi tốt hơn điều kiện làm việc cho người lao động, quan

hệ lao động, kết quả kinh doanh và chất lượng xã hội của sản phẩm

Trang 30

21

1.3.2 Bộ nguyên tắc CERES

CERES (viết tắt của Coalition for Environmentally Responsible Economies – Liên minh vì nền kinh tế có trách nhiệm với môi trường) là một

tổ chức phi lợi nhuận có trụ sở tại Mỹ trong đó bao gồm rất nhiều các nhà đầu

tư, các nhóm hoạt động vì môi trường, tôn giáo và lợi ích công cộng khác Mục tiêu của liên minh này là nhằm thúc đẩy những chính sách đầu tư về phương diện môi trường, xã hội và tài chính Hiện nay, liên minh này có hơn

70 thành viên là các tổ chức tài chính lớn và các nhóm hoạt động vì môi trường trên thế giới

Năm 1989, CERES công bố bộ nguyên tắc gồm 10 quy tắc ứng xử về môi trường được nhiều Ngân hàng tán thành một cách rộng rãi như là một tuyên bố sứ mệnh về môi trường Mười quy tắc ứng xử này bao gồm:

 Bảo vệ sinh quyển: giảm thiểu và cải tiến hướng đến việc loại bỏ sự phát thải gây ra ô nhiễm nguồn nước, không khí hay môi trường sinh quyển nói chung; bảo vệ các cư dân của hành tinh và sự đa dạng sinh học;

 Sử dụng tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững: sử dụng và tái tạo nguồn tài nguyên thiên nhiên như nước, đất, và rừng thông qua việc sử dụng hiệu quả và lập kế hoạch sử dụng cẩn thận;

 Giảm thiểu và loại bỏ các chất thải: giảm thiểu chất thải tại nguồn và tái sử dụng khi phù hợp;

 Bảo tồn năng lượng: bảo tồn năng lượng và cải thiện hiệu quả sử dụng năng lượng trong quá trình hoạt động và của những sản phẩm hay dịch vụ bán ra;

 Giảm thiểu rủi ro: giảm thiểu các rủi ro về môi trường, sức khỏe và

an toàn cho người lao động bằng việc áp dụng công nghệ an toàn, cơ sở vật chất và quy trình sản xuất an toàn; đồng thời luôn sẵn sàng đối phó với những trường hợp khẩn cấp;

 Sản phẩm và dịch vụ an toàn: giảm thiểu và loại bỏ (nếu có thể) việc sử

Trang 31

22

dụng, sản xuất và bán các sản phẩm gây ra ô nhiễm môi trường hoặc những nguy hại về sức khỏe và an toàn cho người sử dụng sản phẩm; thông báo cho khách hàng về những ảnh hưởng về môi trường của sản phẩm và điều chỉnh những hành vi sử dụng sản phẩm một cách không an toàn;

 Phục hồi môi trường: chủ động khắc phục các hậu quả môi trường (nếu có) do quá trình sản xuất của Ngân hàng gây ra;

 Thông tin rộng rãi cho công chúng: cung cấp thông tin kịp thời đến tất cả những người có thể bị ảnh hưởng về sức khỏe, an toàn do hoạt động của Ngân hàng gây ra; thường xuyên tham vấn cộng đồng xung quanh khu vực hoạt động thông qua đối thoại về môi trường; không phản đối nhân viên của Ngân hàng trình báo các tình huống nguy hiểm (về môi trường) lên ban quản trị và chính quyền;

 Cam kết của ban quản trị: thực thi các nguyên tắc nói trên và duy trì một quy trình quản lý để Ban quản trị và Tổng giám đốc điều hành luôn được báo cáo một cách đầy đủ về các vấn đề môi trường đồng thời họ cũng chịu trách nhiệm toàn diện về các vấn đề đó Trong việc lựa chọn thành viên Hội đồng quản trị, tiêu chí cam kết cá nhân trong việc thúc đẩy bảo vệ môi trường cũng sẽ được xem xét

 Đánh giá và báo cáo: thường xuyên tự đánh giá những nỗ lực và tiến

bộ trong việc thực hiện các nguyên tắc trên, ủng hộ sự hình thành các quy trình đánh giá về tác động môi trường được chấp nhận rộng rãi

Theo bộ quy tắc ứng xử này, Ngân hàng có nghĩa vụ phải báo cáo định

kỳ về cơ cấu quản lý về môi trường và kết quả đạt được Kể từ khi bộ nguyên tắc CERES ra đời cho đến nay, đã có hơn 50 Ngân hàng chấp nhận sử dụng

nó, trong đó có 13 Ngân hàng trong danh sách Fortune 500 Bằng việc chấp nhận và ứng dụng bộ quy tắc này trong hoạt động của mình, các Ngân hàng không chỉ chính thức hóa sự đóng góp tích cực của họ trong việc nâng cao

Trang 32

23

nhận thức và trách nhiệm đối với môi trường, mà còn chủ động cam kết vào một quy trình cải tiến liên tục, đối thoại và báo cáo toàn diện về hoạt động của Ngân hàng liên quan đến yếu tố môi trường Nói một cách khác, khi doanh nghiệp áp dụng bộ tiêu chuẩn này, họ sẽ thực hiện CSR trong lĩnh vực môi trường một cách chủ động và có hệ thống hơn

1.3.3 Bộ tiêu chuẩn ISO14000

Để áp dụng một phương thức tiếp cận chung về quản lý môi trường, tăng cường khả năng đo được các kết quả hoạt động của môi trường, tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại quốc tế, năm 1993, Tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế (ISO) đã triển khai xây dựng bộ tiêu chuẩn về quản lý môi trường có

mã hiệu ISO 14000 nhằm mục đích tiến tới thống nhất áp dụng Hệ thống quản lý môi trường (EMS) đảm bảo sự phát triển bền vững trong từng quốc gia, trong khu vực và quốc tế

Cấu trúc của bộ tiêu chuẩn ISO 14000:

 ISO 14001 - Quản lý môi trường - Quy định và hướng dẫn sử dụng

 ISO 14004 - Hệ thống quản lý môi trường - Hướng dẫn chung về nguyên tắc, hệ thống và kỹ thuật hỗ trợ

 ISO 14010 - Hướng dẫn đánh giá môi trường - Nguyên tắc chung

 ISO 14011 - Hướng dẫn đánh giá môi trường - Quy trình đánh giá – Đánh giá hệ thống quản lý môi trường

 ISO 14012 - Hướng dẫn đánh giá môi trường - Chuẩn cứ trình độ của chuyên gia đánh giá

Trong đó ISO14001 là tiêu chuẩn nằm trong bộ tiêu chuẩn ISO14000 qui định các yêu cầu đối với một Hệ thống quản lý môi trường Các yếu tố của hệ thống được chi tiết hoá thành văn bản Nó là cơ sở để cơ quan chứng nhận đánh giá và cấp giấy chứng nhận cho cơ sở có hệ thống quản lý môi trường phù hợp với ISO14000

Trang 33

24

Tiêu chuẩn ISO 14001 nằm trong bộ tiêu chuẩn ISO 14000, bao gồm

21 tiêu chuẩn và các tài liệu hướng dẫn khác liên quan đến một số chủ đề về môi trường như:

- Hệ thống quản lý môi trường (Environmental Management Systems)

- Đánh giá hiệu quả môi trường (Environmental Performance Evaluation)

- Ghi nhãn môi trường (Environmental Labeling)

- Đánh giá vòng đời của một sản phẩm (Life Cycle Assessment)

- Trao đổi thông tin môi trường (Environmental Communication)

- Quản lý khí nhà kính và các hoạt động liên quan (Greenhouse gas management and related activities)

- Các khía cạnh môi trường trong tiêu chuẩn sản phẩm (Environmental aspects in Product Standards)

Trong bộ tiêu chuẩn ISO14000, tiêu chuẩn ISO14001:2004 là tiêu chuẩn được biết đến và áp dụng rộng rãi nhất trên toàn thế giới ISO14001 đưa ra một tập hợp các yêu cầu chung làm khuôn khổ để các tổ chức có thể hình thành nên một hệ thống quản lý môi trường riêng của mình Qua đó, nó giúp các tổ chức hướng tới việc xây dựng một cách tiếp cận có hệ thống các phương pháp quản lý nhằm đạt được mục đích cân bằng giữa việc duy trì lợi nhuận và giảm thiểu các tác động tới môi trường

Tiêu chuẩn này không đưa ra một chuẩn mực cụ thể nào về môi trường

Vì vậy, nó có thể được áp dụng đối với bất kỳ tổ chức nào có mong muốn áp dụng, không phân biệt quy mô tổ chức, loại hình sản phẩm, dịch vụ mà họ cung cấp Tuy nhiên, tiêu chuẩn cũng nhấn mạnh tới việc tổ chức phải xem xét tới các yêu cầu pháp quy về môi trường có liên quan trong quá trình triển khai áp dụng Bảo vệ môi trường là bảo vệ sức khoẻ cho con người, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên - làm cho đất nước phát triển bền vững Vì vậy muốn xây

Trang 34

25

dựng và áp dụng hệ thống quản lý môi trường theo ISO 14000, lãnh đạo doanh nghiệp phải thực sự tự nguyện và thể hiện bằng sự cam kết của mình Đối với một quốc gia thì sự cam kết đó thể hiện trong chính sách của Chính phủ về bảo vệ môi trường

1.3.4 Bộ tiêu chuẩn SA8000

SA8000 cũng như các bộ tiêu chuẩn khác gồm có 10 điểm, thể hiện các nguyên tắc trong công ước cơ bản của ILO SA800 là một hệ thống các tiêu chuẩn trách nhiệm xã hội để hoàn thiện các điều kiện làm việc cho người lao

động tại các doanh nghiệp, trang trại hay văn phòng, do Social Accountability International (SAI) phát triển và giám sát SA8000 đưa ra hướng dẫn cụ thể

để thực hiện hay kiểm tra các tiêu chuẩn xã hội có sẵn tại trang chủ của tổ chức này SAI cũng đưa ra chương trình tập huấn SA8000 và các tiêu chuẩn làm việc cho các nhà quản lý, công nhân và các nhà kiểm tra tiêu chuẩn xã hội Tổ chức này cũng hoạt động trong vai trò của nhà môi giới trung gian để cấp phép và giám sát các tổ chức kiểm tra chính sách xã hội nhằm cấp chứng chỉ cho các người (doanh nghiệp) sử dụng lao động đạt tiêu chuẩn SA8000 và hướng dẫn để các doanh nghiệp đó phát triển phù hợp với các tiêu chuẩn tương tác đã đưa ra

SA8000 dựa trên Tuyên ngôn thế giới về quyền con người, Công ước quốc tế về quyền trẻ em của Liên hợp quốc và một loạt các công ước khác của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) SA8000 bao gồm các lĩnh vực sau của trách nhiệm giải trình:

Lao động trẻ em: Các vấn đề liên quan đến lao động của trẻ em dưới

14 (hoặc 15 tuổi tùy theo từng quốc gia) và trẻ vị thành niên 14(15)-18

Lao động cưỡng bức: Bao gồm các vấn đề liên quan đến lao động lao

động để trả nợ cho người khác; lao động tù tội…

Trang 35

26

An toàn và sức khỏe tại nơi làm việc: Quy định vận hành, sử dụng

máy móc thiết bị, các điều kiện về môi trường: Máy móc được làm từ chất liệu an toàn, độ chiếu sáng, độ ồn, độ ô nhiễm không khí, nước và nhiệt độ nơi làm việc , độ thông thoáng không khí, các theo dõi-chăm sóc y tế cho người lao động, các trang thiết bị bảo hộ lao động mà người lao động cần phải được có để sử dụng đảm bảo an toàn lao động, các phương tiện thiết bị phòng cháy-chữa cháy cũng như hướng dẫn, thời hạn sử dụng, các vấn đề về phương

án di tản và thoát hiểm khi xảy ra cháy nổ, an toàn hóa chất

Quyền tham gia các hiệp hội: Công đoàn, nghiệp đoàn

Phân biệt đối xử: Tiêu chuẩn SA8000 không cho phép có sự phân

biệt đối xử nhất là các vấn đề về phân biệt đối xử theo các tiêu chuẩn tôn giáo-tín ngưỡng, dân tộc thiểu số, người nước ngoài, tuổi tác, giới tính

Kỷ luật lao động: Các vấn đề liên quan đến các hình thức kỷ luật

được phép và không được phép (đánh đập, roi vọt, xỉ nhục, đuổi việc, cảnh cáo, khiển trách, hạ bậc lương, quấy rối tình dục …)

Thời gian làm việc: Nói chung được đưa ra tương thích với các tiêu

chuẩn trong bộ Luật lao động của từng quốc gia cũng như các tiêu chuẩn của ILO về thời gian làm việc thông thường, lao động thêm giờ, các ưu đãi về thời gian làm việc đối với lao động nữ (trong hay ngoài thời kỳ thai sản và nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi)

Lương và các phúc lợi xã hội khác (bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế v.v)

Quản lý doanh nghiệp: Các vấn đề về quản lý của giới chủ, bao gồm

các vấn đề liên quan đến quyền được khiếu nại của người lao động và nghĩa

vụ phải trả lời hay giải đáp khiếu nại của chủ

Quan hệ cộng đồng: Bao gồm quan hệ với các tổ chức, cơ quan khác

hay dân cư trong khu vực

Trang 36

1.3.5 Bộ tiêu chuẩn ISO26000

Tiêu chuẩn quốc tế ISO 26000:2010 - Hướng dẫn về trách nhiệm xã hội

- đưa ra một hướng dẫn hài hòa, và mang tính toàn cầu cho các tổ chức tư nhân và tổ chức công cộng ở tất cả các loại hình dựa trên sự đồng thuận quốc

tế giữa các chuyên gia thuộc các nhóm ngành chính, đồng thời cũng khuyến khích việc thực hành cao nhất trách nhiệm xã hội một cách rộng khắp

Tiêu chuẩn ISO 26000 không những bổ sung giá trị cho công việc hiện tại về trách nhiệm xã hội mà còn mở rộng sự hiểu biết và thực thi trách nhiệm

xã hội bằng cách:

 Phát triển sự đồng thuận mang tính quốc tế về Trách nhiệm xã hội là

gì và Trách nhiệm xã hội cho biết các tổ chức cần phải làm gì;

 Đưa ra hướng dẫn về việc chuyển tải những nguyên tắc thành hành động có hiệu quả;

 Điều chỉnh những thực hành tốt nhất đã thực hiện và phổ biến thông tin rộng khắp vì lợi ích của cộng đồng quốc tế

ISO 26000 là một Tiêu chuẩn quốc tế của Tổ chức Tiêu chuẩn quốc tế (gọi tắt là ISO) đưa ra hướng dẫn về trách nhiệm xã hội Nó sẽ được áp dụng cho các tổ chức ở mọi loại hình, cả ở lĩnh vực công cộng lẫn tư nhân, tại các nước phát triển và đang phát triển, cũng như các nền kinh tế chuyển đổi Nó

sẽ hỗ trợ họ trong nỗ lực thực hiện trách nhiệm xã hội theo yêu cầu ngày càng

tăng của xã hội

Trang 37

28

ISO 26000 bao gồm hướng dẫn tự nguyện, không có các yêu cầu, và do

đó nó không được sử dụng như một tiêu chuẩn chứng nhận giống như tiêu chuẩn ISO 9001:2008 và ISO 14001:2008 Song, ISO26000 là một bộ tiêu chuẩn rất quan trọng do các lý do sau:

- Hoạt động kinh doanh bền vững của các tổ chức có nghĩa không chỉ là việc cung cấp sản phẩm và dịch vụ mà còn thỏa mãn nhu cầu của khách hàng, vừa đảm bảo không gây nguy hại đến môi trường, mà hoạt động dựa trên trách nhiệm với xã hội

- Áp lực phải thực hiện như vậy xuất phát từ khách hàng, người tiêu dùng, các chính phủ, các hiệp hội và công chúng một cách rộng khắp Đồng thời, những nhà lãnh đạo có tầm nhìn của các tổ chức nhận thấy rằng thành công lâu dài phải được xây dựng dựa trên những hoạt động kinh doanh đáng tin cậy và ngăn ngừa các hành vi như gian lận về kế toán và bóc lột lao động

- Bên cạnh đó những tuyên bố về nguyên tắc ở mức độ cao liên quan đến Trách nhiệm xã hội, cũng như những chương trình và sáng kiến cá nhân về Trách nhiệm xã hội Thách thức đặt ra là làm thế nào để đưa những nguyên tắc đó trở thành hành động và làm cách nào để thực hiện Trách nhiệm xã hội một cách có hiệu quả khi mà việc hiểu rõ “Trách nhiệm xã hội là gì” vẫn còn có nhiều khái niệm khác nhau Hơn nữa, những sáng kiến trước đây có xu hướng tập trung vào khái niệm “trách nhiệm xã hội đoàn thể”, trong khi Tiêu chuẩn ISO 26000 sẽ đưa

ra hướng dẫn về Trách nhiệm xã hội không chỉ cho các tổ chức kinh doanh, mà còn cho cả các tổ chức thuộc lĩnh vực công cộng ở mọi loại hình

ISO 26000 chắt lọc sự hiểu biết có liên quan mang tính toàn cầu về trách nhiệm xã hội là gì và các tổ chức cần làm gì để thực hiện trách nhiệm xã hội ISO 26000 giúp các loại hình tổ chức - không phân biệt qui mô, hoạt động hay vị trí - thực hiện trách nhiệm xã hội bằng việc đưa ra hướng dẫn về:

Trang 38

29

 Khái niệm, điều kiện và điều khoản liên quan đến trách nhiệm xã hội;

 Nền tảng, xu hướng và đặc điểm của trách nhiệm xã hội;

 Các nguyên tắc và thực hành liên quan đến trách nhiệm xã hội;

 Các đối tượng và vấn đề cốt lõi liên quan đến trách nhiệm xã hội;

 Tích hợp, thực hiện và thúc đẩy cách hành xử trách nhiệm xã hội thông qua tổ chức và các chính sách cũng như hoạt động của tổ chức trong phạm vi ảnh hưởng của nó;

 Xác định và lôi cuốn sự tham gia của các bên liên quan;

 Thông tin những cam kết, việc thực hiện và thông tin khác liên quan đến trách nhiệm xã hội

Hướng dẫn trong Tiêu chuẩn ISO 26000 đưa ra việc thực hành tối ưu nhất được phát triển từ những sáng kiến về trách nhiệm xã hội của cả khu vực công cộng và tư nhân Nó phù hợp với và bổ sung những công bố và công ước

có liên quan của Liên Hợp Quốc và các thể chế của nó, đặc biệt là Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) cơ quan mà ISO đã ký một bản ghi nhớ về sự hiểu biết (gọi tắt là MoU) để đảm bảo tính nhất quán với tiêu chuẩn lao động của ILO ISO cũng đã ký Bản ghi nhớ về sự hiểu biết với Văn phòng hiệp ước toàn cầu của Liên Hợp Quốc (UNGCO) và với Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD)nhằm tăng cường sự hợp tác của họ vào việc phát triển Tiêu chuẩn ISO 26000

ISO 26000 sẽ tích hợp vấn đề cốt lõi mang tính quốc tế về trách nhiệm

xã hội – nó có nghĩa là gì, tổ chức cần vạch ra những vấn đề gì nhằm thực hiện trách nhiệm xã hội, và việc thực hành tốt nhất là gì để thực hiện trách nhiệm xã hội ISO 26000 sẽ là công cụ về trách nhiệm xã hội mạnh nhất hỗ trợ các tổ chức đi từ ý tưởng tốt đến hành động tốt Các chủ đề của ISO26000 với 39 tiểu vấn đề CSR

Trang 39

1.3.6 Thỏa ước toàn cầu

Thỏa ước toàn cầu (Global Compact) là quy tắc luật ứng xử gồm 10 nguyên tắc mà các doanh nghiệp cam kết tôn trọng bao gồm 2 nguyên tắc về con người, 4 tiêu chí về lao động việc làm, 3 tiêu chí về môi trường, 1 tiêu chí

về chống thất nghiệp Bộ quy tắc này được đưa ra trong diễn đàn kinh tế thế giới do Kofi Annan chủ trì

1.4 Trách nhiệm xã hội của Ngân hàng:

Bản thân ngân hàng cũng là doanh nghiệp vì vậy các hoạt động CSR của các doanh nghiệp bao hàm cả hoạt CSR của ngân hàng

Tuy nhiên Ngân hàng là một loại hình doanh nghiệp đặc thù, hoạt động trong lĩnh vực tài chính tiền tệ Lĩnh vực kinh doanh của Ngân hàng chính là tiền và các sản phẩm dịch vụ tài chính, hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp tài chính Chính vì đặc thù như vậy nên Ngân hàng sử dụng nguồn nhân lực

có chất lượng cao, không tạo ra chất thải gây ô nhiễm môi trường Do đó các hoạt động làm ô nhiễm môi trường hay việc sử dụng lao động vị thành niên, cưỡng bức lao động thường hiếm khi xảy ra

Vì vậy, ngoài việc nâng cao hiệu quả kinh doanh mang lại lợi ích kinh

tế cho Ngân hàng, các cán bộ nhân viên và cổ đông thì các hoạt động CSR khác mà Ngân hàng chú trọng thực hiện là:

- Thực hiện tốt hơn nữa các hoạt động thể hiện CSR nội bộ như đào tạo và phát triển nghề nghiệp, bảo vệ nhân quyền, v.v Những việc này giúp gia tăng tính gắn kết của cán bộ nhân viên với ngân hàng

Trang 40

- Bảo vệ môi trường cũng là hoạt động CSR mà Ngân hàng ngày càng quan tâm hơn, tuy không trực tiếp xả chất thải độc hại có tác động quá lớn đến môi trường nhưng với các hoạt động cụ thể như tiết kiệm nhiên liệu, sử dụng hiệu quả vật liệu văn phòng… ngân hàng hoàn toàn có thể đóng góp sức mình cho việc bảo vệ môi trường sinh thái

Ngày đăng: 25/10/2018, 23:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w