Đây là vấn đề cốt lõi, trọng tâm trong nội dung cải cách hành chính Nhà nước nói chung và công tác xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN hiện nay với các nội dung: Vai trò của pháp luật về
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
HỒ HẢI YẾN
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC XÃ, PHƯỜNG QUA THỰC TIỄN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
HỒ HẢI YẾN
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC XÃ, PHƯỜNG QUA THỰC TIỄN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số: 60 38 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
TS NGUYỄN VĂN QUÂN
Hà Nội - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong Luận văn là hoàn toàn trung thực và chƣa đƣợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi thông tin trích dẫn trong Luận văn đều đƣợc chỉ rõ nguồn gốc Các số liệu, nội dung đƣợc trình bày trong Luận văn là hợp
lệ và đảm bảo tuân thủ các quy định về đảm bảo quyền sở hữu trí tuệ./
Hà Nội, ngày… tháng…năm 2017
Tác giả Luận văn
Hồ Hải Yến
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và thực hiện đề tài, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ quý báu của tập thể và các cá nhân Trước hết, tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo, các giảng viên Khoa Luật - Đại học Quốc gia
Hà Nội, đặc biệt là sự hướng dẫn nhiệt tình của TS Nguyễn Văn Quân trong
suốt thời gian thực hiện đề tài
Tác giả xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ và tạo điều kiện của lãnh đạo
Sở Nội vụ tỉnh Nghệ An, Phòng Nội vụ UBND TP Vinh, UBND các phường,
xã trên địa bàn; các chuyên viên Phòng Nội vụ, Văn phòng, Phòng thống kê
đã giúp đỡ tác giả hoàn thành đề tài này
Xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo, các anh, chị và bạn bè, đồng nghiệp đã động viên và tạo điều kiện cho tác giả thực hiện đề tài này
Hà Nội, ngày… tháng…năm 2017
Tác giả Luận văn
Hồ Hải Yến
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN……… 3
LỜI CẢM ƠN……… 4
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT……… 5
DANH MỤC BẢNG……… 7
MỞ ĐẦU CHƯƠNG 1 CỞ SỞ LÝ LUẬN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VỀ CÁN BỘ CÔNG CHỨC CẤP XÃ……… 8
1.1 Khái niệm, đặc điểm, vị trí vai trò của cán bộ, công chức cấp xã, phường, thị trấn………… ……… 8
1.2 Nhận thức chung về pháp luật về cán bộ, công chức cấp xã…… 12
1.3 Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về cán bộ, công chức cấp xã……. … 14
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ TẠI THÀNH PHỐ VINH……… 19
2.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng pháp luật về cán bộ, công chức cấp xã tại thành phố Vinh……… 19
2.2 Thực trạng pháp luật về cán bộ, công chức cấp xã từ thực tiễn Thành phố Vinh……… 26
2.3 Những ưu điểm và hạn chế của công tác áp dụng pháp luật về cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn Thành phố Vinh… ……… 36
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ……………… 54
3.1 Đòi hỏi hoàn thiện pháp luật về cán bộ, công chức cấp xã trong giai đoạn hiện nay……… 54
3.2 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về cán bộ, công chức cấp xã 57 3.3 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về cán bộ, công chức cấp xã……… 59
KẾT LUẬN……….……… 70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……….… 72
Trang 7Bảng 2.5 So sánh trình độ chuyên môn của cán bộ cấp xã 28
Bảng 2.6 So sánh trình độ chuyên môn của công chức cấp xã 28
Bảng 2.7 Kết quả đánh giá, phân loại công chức từ năm 2014 - 2016
30
Bảng 2.8 Bổ nhiệm chức danh chủ chốt tại cơ sở 32
Bảng 2.9 Số lƣợng công chức luân chuyển hàng năm 33
Bảng 2.10 Số lƣợng cán bộ, công chức tinh giản biên chế 33
Bảng 2.11 Số lƣợng cán bộ, công chức vi phạm bị kỷ luật 35
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cấp xã (xã, phường, thị trấn) là một cấp trong hệ thống hành chính bốn cấp của Nhà nước Việt Nam Chính quyền cấp xã giữ một vai trò, vị trí hết
sức quan trọng: ''Hiện thực hoá sự lãnh đạo và quản lý của Đảng và Nhà
nước về mọi mặt của đời sống KT - XH ở cơ sở; quán triệt, tổ chức thực hiện mọi quyết định của cấp ủy cấp trên, cấp ủy cùng cấp và mọi chủ trương, kế hoạch, sự chỉ đạo của chính quyền cấp trên, là cầu nối quan trọng nhất giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, xây dựng và thúc đẩy phong trào cách mạng của quần chúng ở cơ sở” [1]
Chính quyền cấp xã không thể thực hiện các nhiệm vụ nếu thiếu nhân
tố có ý nghĩa quyết định đó là đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã Là người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện tổ chức Đảng, hơn ai hết Chủ tịch Hồ Chí Minh thấy rất rõ vị trí, vai trò của cán bộ Người chỉ rõ: ''Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”; ''Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”; ''Bất cứ chính sách, công tác gì nếu có cán bộ tốt thì thành công, tức là có lãi Không có cán bộ tốt thì hỏng việc, tức là lỗ vốn” [2]
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII tiếp tục khẳng định: ''Phát huy nhân tố con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; tập trung xây dựng con người về đạo đức, nhân cách, lối sống, trí tuệ và năng lực làm việc; xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh” [3]
Trên địa bàn TP Vinh đã thực hiện có hiệu quả Nghị quyết của Trung ương, Nghị định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các quyết định của UBND tỉnh Nghệ An về cán bộ, công chức cấp xã Ban chấp hành Đảng bộ Thành phố Vinh (khóa XXIII) đã ban hành Nghị quyết số 02-NQ/Th.U ngày 31/3/2016 về "Xây dựng hệ thống chính trị phường, xã vững mạnh" Nghị quyết đề ra chỉ tiêu phấn đấu đến năm 2025 có trên 50% Bí thư, Chủ tịch
Trang 9phường, xã có trình độ chuyên môn Đại học chính quy [4]; bộ máy chính quyền cấp xã từng bước được củng cố, kiện toàn bổ sung kịp thời và đi vào hoạt động theo quy định của pháp luật Công tác cán bộ được coi trọng; đội ngũ cán bộ, công chức từng bước được trẻ hóa; chất lượng, năng lực công tác được nâng lên Việc bố trí, sắp xếp cán bộ, công chức cơ bản phù hợp với năng lực, sở trường công tác, qua đó đã phát huy được vai trò, trách nhiệm của mỗi cán bộ, công chức; ý thức, phong cách lề lối, kỷ luật lao động và phương pháp làm việc của đội ngũ cán bộ, công chức được chấn chỉnh đi vào
nề nếp Công tác đào tạo được quan tâm đúng mức, nhiều nội dung chương trình đào tạo thiết thực do vậy hiệu quả công việc chuyển biến rõ rệt Các cấp
ủy đã coi trọng và đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch để không ngừng nâng cao trình độ, kiến thức các mặt của đội ngũ cán bộ, công chức ở
cơ sở… góp phần to lớn trong quá trình xây dựng phát triển KT - XH, xóa đói giảm nghèo, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, đảm bảo ổn định quốc phòng an ninh, trật tự an toàn xã hội
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, hiện nay ở TP Vinh còn
có không ít cán bộ, công chức cấp xã trong hệ thống chính trị không được thường xuyên bồi dưỡng, bổ trợ kiến thức nghiệp vụ chuyên môn, kiến thức pháp luật, kỹ năng hành chính, tin học và các kỹ năng cần thiết khác cho công tác quản lý nhà nước ở địa phương Vì vậy, ở một số xã, phường trên địa bàn thành phố, cán bộ, công chức xã chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra tại địa phương
Trên thực tế, cán bộ cấp xã đang phải tiếp nhận, xử lý một khối lượng công việc ngày càng nhiều, trong khi một số cán bộ ở cấp xã lại không được đào tạo cơ bản, ít được bồi dưỡng nghiệp vụ và các chính sách mới của Đảng
và Nhà nước để vận dụng thích hợp với từng nơi công tác Việc nắm bắt thông tin chậm và xử lý công việc thiếu tính nhạy bén, linh hoạt, hiệu quả thấp, tính nể nang, địa phương vẫn còn tồn tại… gây bức xúc trong cho người
Trang 10dân, ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển về kinh tế, xã hội của địa phương Trước yêu cầu của hội nhập kinh tế, quốc tế, nhất là yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, pháp luật về cán bộ, công chức cấp xã đã bộc lộ những yếu kém, bất cập; thiếu tính đồng bộ, tính thống nhất, quy định
về cán bộ, công chức cấp xã còn nằm ở nhiều văn bản pháp luật; tiêu chuẩn,
số lượng, cơ cấu các chức danh cán bộ, công chức còn cứng nhắc, nơi thừa, nơi thiếu, chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ của cơ sở; công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã chưa hiệu quả, chế độ tiền lương, phụ cấp và các chế độ khác chưa được giải quyết một cách cơ bản còn nhiều bất cập…
Từ những vấn đề nêu trên tác giả lựa chọn đề tài: ''Hoàn thiện pháp luật về cán bộ, công chức xã, phường qua thực tiễn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An” để làm luận văn thạc sĩ Đây là vấn đề cốt lõi, trọng tâm trong nội
dung cải cách hành chính Nhà nước nói chung và công tác xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN hiện nay với các nội dung:
Vai trò của pháp luật về cán bộ, công chức cấp xã; yêu cầu hoàn thiện pháp luật về cán bộ, công chức cấp xã
Thực trạng áp dụng pháp luật về cán bộ, công chức cấp xã từ thực tiễn Thành phố Vinh
Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về cán bộ, công chức cấp xã
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề hoàn thiện pháp luật về cán bộ, công chức cấp xã đã được các nhà nghiên cứu khoa học xã hội, các nhà hoạt động chính trị quan tâm dưới nhiều góc độ khác nhau như:
Học viện Hành chính Quốc gia năm 1991 đã công bố cuốn sách về ''Cải
cách bộ máy quản lý hành chính Nhà nước và xây dựng đội ngũ công chức Nhà nước”;
Trang 11Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh năm 2014 ban hành giáo
trình ''Những vấn đề cơ bản về quản lý hành chính Nhà nước”
PGS TS Nguyễn Minh Phương - ThS Trần Thị Hạnh (2016), Hoàn
thiện quy phạm pháp luật về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức, Đại học luật Hà Nội;
Nguyễn Kim Diện (2007), Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức
hành chính tỉnh Hải Dương, Luận án tiến sĩ khoa học kinh tế;
ThS Phạm Thị Thu Hiền (2016), Một số giải pháp, kiến nghị hoàn
thiện quy định pháp luật về xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính quyết định kỷ luật cán bộ, công chức bị khiếu nại, Viện Khoa học
Thanh tra;
Thang Văn Phúc - Nguyễn Minh Phương (2005), Cơ sở lý luận và thực
tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội;
Diệp Văn Sơn (2012), "Xây dựng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
cho bộ máy hành chính", Tạp chí phát triển nhân lực (số 1 - 2012);
Phạm Khắc Nhưỡng (2009), Luật cán bộ, công chức và các quy định
mới nhất đối với cán bộ, công chức áp dụng trong cơ quan Nhà nước, đơn vị
sự nghiệp cấp xã, phường, thị trấn, Nxb Lao động - Xã hội
Các công trình nghiên cứu đã đề cập vấn đề hoàn thiện pháp luật về cán
bộ, công chức cấp xã trong hoạt động của bộ máy chính quyền cấp xã còn mang tính chung chung mà chưa thực sự đi sâu vào những đặc thù, những khó khăn vướng mắc trong việc thực hiện pháp luật về cán bộ, công chức cấp xã hiện nay đang gặp, một số kiến nghị, đề xuất đã được triển khai thực hiện nhưng vẫn chưa phù hợp với luật pháp hiện hành Tuy nhiên, trong các công trình được công bố có những nội dung liên quan đến đề tài sẽ được tác giả luận văn tham khảo có kế thừa và chọn lọc
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu của luận văn
Trang 12Luận văn làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực trạng pháp luật về cán bộ, công chức cấp xã để đưa ra các quan điểm, phương hướng, giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện pháp luật về cán bộ, công chức cấp xã hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Phân tích rõ hơn những vấn đề lý luận về khái niệm, đặc điểm, vị trí, vai trò của cán bộ, công chức; đặc điểm, nội dung và vai trò của pháp luật cán
bộ, công chức cấp xã, những yêu cầu và tiêu chí hoàn thiện pháp luật về cán
bộ, công chức cấp xã để đưa ra những nội dung phù hợp với thực tiễn hiện nay trên địa bàn TP Vinh nói riêng và cả nước nói chung góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Luận văn nghiên cứu các vấn đề lý luận của pháp luật về cán bộ, công chức cấp xã, phường, thị trấn, gồm: Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa, nhận thức chung về pháp luật CB,CC cấp xã
- Trên cơ sở phân tích thực trạng áp dụng pháp luật về cán bộ, công chức tại Thành phố Vinh đề xuất các giải pháp hữu hiệu để hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật về cán bộ, công chức hiện hành, như: Luật CBCC và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật, thông qua các minh chứng và số liệu về áp dụng pháp luật về cán bộ, công chức tại địa bàn thành phố Vinh trong những năm vừa qua
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Phương pháp luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của chủ nghĩa Mác -
Trang 13Lênin, của Đảng và Nhà nước ta về Nhà nước, pháp luật XHCN, về đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu luật học như phân tích tổng hợp, điều tra xã hội học, thống kê, so sánh…
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng phương pháp tìm hiểu tiếp xúc, phỏng vấn một số CBCC, quan sát hoạt động của đội ngũ cán bộ, công chức tại một
số cơ quan Đảng, Nhà nước của cấp huyện, xã Tổ chức lấy phiếu điều tra bảng hỏi; tham khảo ý kiến của bộ phận chuyên môn, nghiệp vụ liên quan để
có thêm căn cứ đánh giá đối tượng nghiên cứu đúng và đầy đủ hơn
6 Đóng góp mới của luận văn
Từ việc làm sáng tỏ khái niệm, đặc điểm, ví trí, vai trò của cán bộ, công chức, bằng thực tiễn pháp lý và dựa trên cơ sở lý luận đã xác định khái niệm, đặc điểm, nội dung và vai trò của pháp luật cán bộ, công chức cấp xã, đồng thời làm rõ tính độc lập tương đối của pháp luật cán bộ, công chức cấp xã và khẳng định pháp luật cán bộ, công chức cấp xã là một bộ phận trong hệ thống pháp luật cán bộ nhà nước từ đó xây dựng những yêu cầu và tiêu chí hoàn thiện pháp luật về cán bộ, công chức cấp xã
Nghiên cứu hệ thống pháp luật cán bộ, công chức cấp xã qua thực tiễn tại Thành phố Vinh để đánh giá những thành tựu, những mặt còn hạn chế, nguyên nhân của pháp luật về cán bộ, công chức cấp xã qua đó rút ra những kết luận khoa học về thực trạng pháp luật cán bộ, công chức cấp xã
Đề xuất các quan điểm, kiến nghị, những phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về cán bộ, công chức cấp xã hiện nay nhằm góp phần đổi mới công tác cán bộ, góp phần nâng cao nhận thức về vai trò, giá trị của pháp luật cán bộ, công chức cấp xã trong đời sống dân sự để hoạch định chính sách về cán bộ, công chức cấp xã trong hệ thống pháp luật cán bộ, công chức
Trang 14Luận văn có thể làm tư liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến vấn
đề này
7 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 3 chương, 10 tiết
Chương 1: Cơ sở lý luận hệ thống pháp luật về cán bộ, công chức cấp
Trang 15CHƯƠNG 1 CỞ SỞ LÝ LUẬN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VỀ CÁN BỘ
CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1.1 Khái niệm, đặc điểm, vị trí vai trò của cán bộ, công chức cấp
xã, phường, thị trấn
1.1.1 Khái niệm cán bộ
Khái niệm "Cán bộ" hiện nay được hiểu chủ yếu ở hai phượng diện đó
là phương diện ngôn ngữ và phương diện pháp lý Theo Từ điển tiếng Việt thì
khái niệm cán bộ được hiểu: "Cán bộ là người làm công tác nghiệp vụ chuyên
môn trong cơ quan nhà nước, đảng và đoàn thể"
Ở phương diện pháp lý quy định tại Khoản, Điều 4 của Luật Cán bộ,
công chức 2008: ''Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ
nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước”[31]
Như vậy, theo quy định hiện nay thì cán bộ gắn với cơ chế bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ Những người đủ các tiêu chí chung của CBCC mà được tuyển vào làm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội thông qua bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ chức danh theo nhiệm kỳ thì được xác định là cán bộ
1.1.2 Khái niệm công chức
Theo khoản 2, Điều 4 của Luật Cán bộ, công chức 2008 thì: "Công
chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội Nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an Nhân
Trang 16dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật"[31]
Như vậy, có thể thấy công chức có những đặc trưng sau: Là công dân của quốc gia đó; được tuyển dụng vào làm việc trong các cơ quan HCNN; hưởng lương từ ngân sách nhà nước; được xếp vào ngạch; quản lý thống nhất
và được điều chỉnh bằng những quy định của pháp luật; Thừa hành các quyền lực do nhà nước giao cho, chấp hành các công vụ của nhà nước và quản lý nhà nước
1.1.3 Khái niệm cán bộ, công chức cấp xã
Hiện nay khái niệm CBCC cấp xã được hiểu theo quy định tại Khoản 3, Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008: ''Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực HĐND, UBND, Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ,
người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội" [31]
Các chức vụ chức danh của CBCC cấp xã được quy định tại Điều 61, chương V, Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định: Chức vụ, chức danh CBCC cấp xã [31]:
* Cán bộ cấp xã bao gồm những đối tượng sau:
- Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy;
- Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân;
- Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân;
- Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
- Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;
Trang 17- Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam;
+ Văn hóa - xã hội
Trong điều kiện hiện nay, cấp cơ sở còn có một lực lượng lao động đặc biệt Đó là những ''công chức tăng cường” của các cấp cao hơn được đưa về làm việc tại cơ sở
1.1.4 Đặc điểm của cán bộ, công chức cấp xã
Cán bộ, công chức cấp xã là một bộ phận trong đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước, cũng được hình thành từ việc bầu cử và tuyển dụng nên cũng mang đặc điểm giống với đội ngũ cán bộ, công chức nói chung Tuy nhiên do xuất phát là lực lượng đặc thù riêng nên đội ngũ cán bộ, công chức xã có một
số đặc biệt khác biệt như sau:
Một là, đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có số lượng lớn, đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức, triển khai thực hiện thắng lợi các chủ trương, đường lối của Đảng, các chính sách, pháp luật của Nhà nước
Hai là, nguồn hình thành đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã rất đa dạng, một số cán bộ được bầu cử như tổ chức Đảng, đoàn thể Công chức cấp xã do cấp huyện quản lý, chủ yếu là người dân địa phương nên trong cách thức xử
Trang 18lý công việc, giải quyết những mâu thuẫn trong nhân dân linh hoạt và hiệu quả
Ba là, cán bộ, công chức cấp xã thường xuyên biến động, thay đổi vị trí công tác do yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị tại địa phương, trình độ chuyên môn của cán bộ, công chức cấp xã không đồng đều
1.1.5 Vị trí, vai trò của cán bộ, công chức cấp xã
Cấp xã là một đơn vị cấp hành chính cuối cùng trong bốn cấp của hệ thống quản lý hành chính, đây cũng là cấp hành chính cấp thấp nhất theo sự phân cấp quản lý nhưng giữ vai trò quan trọng trong công tác quản lý, điều hành địa phương cơ sở Do đó, cán bộ, công chức cấp xã là một bộ phận không thể thiếu trong đội ngũ CBCC CBCC cấp xã luôn phát huy những vai trò của mình trong đời sống chính trị - xã hội của đất nước, của các địa phương Có thể đánh giá vị trí, vai trò của CBCC cấp xã trên một số khía cạnh sau:
- Đội ngũ CBCC cấp xã là người giữ vai trò quyết định trong việc hiện thực hoá sự lãnh đạo và quản lý của Đảng và Nhà nước về mọi mặt của đời sống KT - XH ở cơ sở
- Đội ngũ CBCC cấp xã là người giữ vai trò quyết định trong việc quán triệt, tổ chức thực hiện mọi quyết định của cấp ủy cấp trên, cấp ủy cùng cấp
và mọi chủ trương, kế hoạch, sự chỉ đạo của chính quyền cấp trên, cũng như mọi chương trình, kế hoạch của chính quyền xã, thị trấn
- Cán bộ xã là cầu nối quan trọng nhất giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân.CBCC cấp xã là những người trực tiếp đem chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành; đồng thời nắm bắt tình hình triển khai thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước phản ánh cho Đảng và Nhà nước để có sự điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung cho đúng và phù hợp với thực tiễn
Trang 19- CBCC cấp xã thực hiện quan hệ công tác không chỉ với tư cách là người thực thi quyền lực nhà nước mà còn là người trong mối quan hệ gia tộc
và xóm làng lâu đời Là người trực tiếp hàng ngày giải quyết các vấn đề liên quan đến lợi ích thiết thực của đời sống của nhân dân, cán bộ, công chức cấp
xã phải thực thi đúng chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; mặt khác, phải thấu tình đạt lý trong quan hệ xóm làng
- Đội ngũ CBCC cấp xã giữ vai trò quyết định trong việc xây dựng và thúc đẩy phong trào cách mạng của quần chúng ở cơ sở
- Đội ngũ CBCC cấp xã có vai trò hết sức quan trọng trong xây dựng và hoàn thiện bộ máy chính quyền cơ sở, trong hoạt động thi hành nhiệm vụ công vụ
1.2 Nhận thức chung về pháp luật về cán bộ, công chức cấp xã
1.2.1 Khái niệm pháp luật về cán bộ, công chức cấp xã
Pháp luật về CBCC cấp xã là một bộ phận cấu thành nên chế định về CBCC Nhà nước do ngành luật hành chỉnh Bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong trong quá trình công vụ và thiết lập đội ngũ CBCC cấp xã Hay nói cách khác, pháp luật về CBCC cấp xã là một lĩnh vực pháp luật bao gồm hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh mọi mặt về CBCC cấp xã và chế độ công vụ đối với họ
Tóm lại, khái niệm pháp luật về CBCC có thể được hiểu như sau:
"Pháp luật về CBCC là tổng thể các QPPL do cơ quan nhà nước có thẩm
quyền ban hành dưới hình thức văn bản quy phạm pháp luật theo trình tự thủ tục luật định, nhằm điều chỉnh các quan hệ về công vụ trong quá trình thiết lập chức vụ cán bộ, chức danh công chức và quy định những nguyên tắc cơ bản của chế độ công vụ và trật tự hoạt động công vụ Quy định các quyền và nghĩa vụ của CBCC cấp xã trong quá trình thực thi công vụ, nhiệm vụ… của mình"
Trang 201.2.2 Đặc điểm của pháp luật về cán bộ, công chức cấp xã
Từ khái niệm và thực tiễn của pháp luật về CBCC cấp xã ta có thể thấy
nó có một số đặc điểm đặc thù so với các bộ phận của pháp luật về CBCC Nhà nước khác như:
Thứ nhất, nội dung của pháp luật về CBCC cấp xã bao gồm những vấn
đề cơ bản như: Tổ chức, tuyển dụng, bầu cử, sử dụng, quản lý CBCC cấp xã; các điều kiện làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt các quan hệ quyền và nghĩa
vụ pháp lý của CBCC cấp xã; địa vị pháp lý của CBCC cấp xã; các điều kiện
về chế độ đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật, truy cứu trách nhiệm đối với CBCC cấp xã
Thứ hai, pháp luật về CBCC cấp xã là lĩnh vực pháp luật được quy định
rải rác trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật và do nhiều chủ thể ban hành, trong đó chủ yếu là các quy phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý hành chính Nhà nước
Thứ ba, pháp luật về CBCC cấp xã chịu ảnh hưởng lớn của sự phát
triển KT - XH nên phải thay đổi liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu của sự phát triển đó
Thứ tư, mối quan hệ của CBCC cấp xã với chính quyền cấp xã thông
qua một nghị quyết hay quyết định hành chính của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chứ không phải thông qua một hợp đồng
Thứ năm, các quyền và nghĩa vụ pháp lý của CBCC cấp xã được xác
định và áp dụng chung cho mọi CBCC cấp xã nhưng bên cạnh đó vẫn có những quy định về từng loại, từng chức danh, từng ngạch mang tính đặc thù cho loại, chức danh hay ngạch đó
1.2.3.Vai trò của pháp luật về cán bộ, công chức cấp xã
Là một bộ phận quan trọng của chế định CBCC Nhà nước thì pháp luật
về CBCC cấp xã có vai trò rất quan trọng, cụ thể:
Trang 21- Pháp luật về CBCC cấp xã là phương tiện để Đảng xây dựng một đội ngũ CBCC cấp xã có tư tưởng, lý luận chính trị vững vảng, thể hiện sự lãnh đạo của Đảng
- Ngoài vai trò là phương tiện thể hiện sự lãnh đạo của Đảng thì pháp luật về CBCC cấp xã cũng là phương tiện quan trọng để Nhà nước tổ chức và quan lý hành chính ở cơ sở
- Pháp luật về CBCC cấp xã cũng là "Kim chỉ nam" là "Thước đo chuẩn mực" để cho CBCC cấp xã thực hiện đúng chức trách, công vụ, nhiệm vụ… của mình qua đó đảm bảo nguyên tắc "Quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân" đồng thời bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, bảo vệ lợi ích của Nhà nước
1.3 Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về cán bộ, công chức cấp xã
Thứ nhất, yêu cầu về đảm bảo nâng cao chất lượng các văn bản quy phạm pháp luật về cán bộ, công chức cấp xã
Nhìn chung, các văn bản quy phạm pháp luật quy định về CBCC cấp xã
đã quy định khá rõ những vấn đề cơ bản về CBCC cấp xã và chế độ công vụ của họ Nội dung của các văn bản quy phạm pháp luật đã thể hiện rõ tinh thần đổi mới toàn diện trên các mặt: chế độ đối với CBCC cấp xã; tăng cường phân cấp cho các địa phương trong tổ chức và quản lý CBCC đồng thời bảo đảm quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ quan quản lý, sử dụng CBCC… Tuy nhiên, để nâng cao chất lượng, hiệu quả của của pháp luật về CBCC cấp
xã thì cần cần tiến hành rà soát, đánh giá đúng hạn chế, vướng mắc của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về CBCC cấp xã, từ đó đề xuất các nội dung cần sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện
Thứ hai, xu thế toàn cầu hóa đòi hòi pháp luật về cán bộ, công chức cấp xã phải có sự đổi mới
Đảng và Nhà nước đã ban hành các chủ trương đổi mới toàn diện, trong
đó từng bước đổi mới hệ thống chính trị, trọng tâm là đổi mới bộ máy Nhà
Trang 22nước Quá trình cải cách bộ máy Nhà nước, các cấp chính quyền có sự đổi mới theo hướng tăng thẩm quyền cho chính quyền địa phương Để đảm bảo việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ đòi hỏi pháp luật về CBCC cấp xã phải được hoàn thiện
Thứ ba, yêu cầu về bảo đảm tính thống nhất của các văn bản quy phạm pháp luật quy định về cán bộ, công chức cấp xã
Tính thống nhất của hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật quy định
về CBCC cấp xã còn rất hạn chế Các văn bản luật, các văn bản có giá trị pháp
lý thấp hơn luật chưa thực sự tạo thành một chỉnh thể với những nguyên tắc chỉ đạo xuyên suốt mang tính chuyên ngành hoặc liên ngành Các quy định, các văn bản quy định về CBCC cấp xã còn mang tính rải rác, đôi khi còn trùng lặp hoặc trồng chéo Điều này đặt ra yêu cầu đảm bảo tính thống nhất của các văn
bản quy phạm pháp luật quy định về cán bộ, công chức cấp xã
Thứ tư, yêu cầu về tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cán bộ, công chức khi thi hành công vụ
Hiến pháp năm 2013 khẳng định rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các thành viên của Mặt trận trong việc giám sát và phản biện xã hội
Ý thức và trách nhiệm cá nhân của mỗi công dân được nâng cao trong quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình buộc các cơ quan Nhà nước, CBCC cấp xã phải có trách nhiệm giải trình, công khai và minh bạch về quy trình thủ tục khi giải quyết các nhu cầu và lợi ích hợp pháp của công dân Những đòi hỏi chính đáng và hợp pháp này yêu cầu pháp luật phải được hoàn thiện để thay đổi cách thức ứng xử của CBCC cấp xã đối với công dân và xã hội theo hướng gần dân, sát dân, hiểu dân hơn Pháp luật phải hướng CBCC cấp xã đến xây dựng một nền hành chính phục vụ để đáp ứng tốt nhất nhu cầu của người dân và xã hội
Thứ năm, xuất phát từ yêu cầu cải cách hành chính của Nhà nước nhằm xây dựng đội ngũ CBCC cấp xã chuyên nghiệp
Trang 23Nghị quyết 30c/NQ ngày 08/11/2011 ban hành chương trình tổng thể
CCHC giai đoạn 2011 - 2020 ''Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên
chức có đủ phẩm chất, năng lực và trình độ, đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước”[12] Hiện nay một số CBCC cấp xã suy
thoái về đạo đức, lối sống, không tự rèn luyện nâng cao trình độ chuyên môn Công tác quản lý, giáo dục, kiểm tra CBCC cấp xã bị buông lỏng, yếu kém, không theo kịp tình hình Pháp luật quy định về việc sử dụng, quy hoạch, bổ nhiệm CBCC cấp xã còn nhiều bất cập Hoạt động bồi dưỡng, đào tạo nhằm nâng cao trình độ chuyên môn chưa được thường xuyên Nhiều chính quyền cấp xã quản lý CBCC còn lỏng lẻo, việc kiểm điểm CBCC còn chưa hiệu quả Một số cán bộ chủ chốt chưa tự giác phê bình và tự phê bình, tinh thần đấu tranh còn nể nang, né tránh Việc xử lý CBCC cấp xã vi phạm còn chậm trễ, thiếu nghiêm khắc
Thứ sáu, việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về cán bộ, công chức cấp xã phải đảm bảo tuân thủ nghiêm chỉnh quy trình xây dựng, ban hành luật, đảm bảo tính chặt chẽ, tính khách quan, tính dân chủ và đảm bảo khoa học
Từ cơ sở lý luận và thực tiễn chúng ta có thể khẳng định cán bộ, công chức cấp xã có vai trò quan trọng trong quản lý và tổ chức công việc của chính quyền cơ sở, phát triển KT - XH, đảm bảo lợi ích của Nhân dân địa phương Việc thực thi công vụ của cán bộ, công chức có vai trò trực tiếp bảo đảm kỷ cương tại cơ sở, bảo vệ các quyền tự do dân chủ, quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo đảm trật tự xã hội, ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật Thông qua hoạt động của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, Nhân dân thể hiện được quyền làm chủ và trực tiếp thực hiện quyền tự quản của mình ở địa phương
Để lực lượng cán bộ, công chức cấp xã phát huy đúng vị trí của mình, Đảng và Nhà nước ta cần tiếp tục có sự đổi mới về mặt nhận thức về vai trò
Trang 24của lực lượng này trong sự nghiệp cách mạng ở nước ta, xây dựng và hòan thiện quy định về hoạt động của tổ chức chính quyền cơ sở, nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp xã, góp phần vào sự thành công của sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân,
vì nhân dân
Trang 25KẾT LUẬN CHƯƠNG I
Pháp luật về cán bộ, công chức cấp xã là một hệ thống những quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội về cán bộ, công chức cấp xã, quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức cấp xã, quy định
về tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức Do đó pháp luật cán bộ, công chức cấp xã có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình xây dựng, phát triển và hoàn thiện bộ máy nhà nước Đặc biệt trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân, pháp luật cán bộ, công chức cấp xã là phương tiện để thể chế hóa đường lối chủ trương, chính sách của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ngày càng chất lượng đáp ứng yêu cầu thực tiễn, góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế -
xã hội tại cơ sở
Trang 26Thành phố Vinh có diện tích tự nhiên 105,01km2, bao gồm 25 phường
xã, trong đó có 16 phường và 9 xã Quy mô dân số thành phố là 306.381 người với khoảng 73.492 hộ gia đình[43]
2.1.2 Đặc điểm về kinh tế - xã hội - quốc phòng - an ninh
- Trong những năm qua, diện mạo Thành phố Vinh đã có nhiều thay đổi rõ nét, nền kinh tế của Thành phố được duy trì, phát triển nhanh mạnh và bền vững, các mặt đời sống xã hội không ngừng được cải thiện, an ninh chính trị luôn đuợc đảm bảo Với nhiều cảnh quan hấp dẫn, nhiều di tích lịch sử có giá trị, Vinh là một điểm nhấn trong bản đồ du lịch quốc gia thu hút du khách trong và ngoài nước đến tham quan với gần 73 di tích lịch sử văn hoá trong đó
có 11 di tích được công nhận cấp quốc gia như Phượng hoàng trung đô, Thành cổ… Sau nhiều lần tái thiết, với những cố gắng vượt bậc, từ năm 1993, Vinh đã được Nhà nước công nhận là đô thị loại II và năm 2008 được Nhà nước công nhận là đô thị loại I trực thuộc tỉnh Nghệ An
Trang 27- UBND thành phố thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của Luật tổ chức HĐND và UBND đó là: Thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội, dân tộc
và tôn giáo, xây dựng chính quyền và quản lý địa giới hành chính
- Thành phố Vinh thực hiện kế hoạch KT - XH năm 2016 có những thuận lợi: tốc độ tăng trưởng kinh tế được duy trì đã tạo đà cho năm 2017; các
dự án triển khai từ các năm trước, kết quả thực hiện các chương trình, đề án thực hiện Quyết định 239 của Thủ tướng Chính phủ, đã phát huy hiệu quả Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2016 đạt cao hơn nhịp độ tăng trưởng chung của tỉnh; giá trị gia tăng bình quân đầu người đạt 76 triệu đồng/người/năm; giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng đạt 17.160 tỷ đồng, ngành dịch vụ đạt 16.150 tỷ đồng; công tác thu hút đầu tư thường xuyên được quan tâm đối với các nhà đầu tư lớn như: Becamex - Bình Dương, các nhà đầu tư Hàn Quốc, VinGroup, khu công nghiệp, đô thị và dịch vụ VSIP Nghệ An… với tổng số vốn 1.179 tỷ đồng; thành lập 790 doanh nghiệp, cấp mới giấy phép kinh doanh 1.333 hộ
Cơ sở hạ tầng thiết yếu như: đường giao thông, hệ thống điện, trường học, nhà văn hóa được đầu tư xây dựng mới với nguồn Ngân sách 372 tỷ đồng; xây dựng chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới đạt 71,07 tỷ, đời sống của nhân dân ngày càng ổn định và phát triển Các hoạt động văn hóa, văn nghệ, TDTT được tổ chức thường xuyên; hoạt động đền ơn đáp nghĩa, từ thiện nhân đạo, xóa đói giảm nghèo được thực hiện kịp thời, có hiệu quả góp phần tạo nên bộ mặt đô thị của Thành phố Vinh vừa phát triển vừa mang tính ổn định, bền vững
Trước yêu cầu của lãnh đạo Thành phố trong việc phát triển kinh tế xã hội gắn với trách nhiệm của mỗi chính quyền địa phương, từng cán bộ, công chức trong bộ máy Nhà nước ở cơ sở Trong những năm qua, lãnh đạo Thành
ủy, UBND TP Vinh đã triển khai nhiều nội dung nhằm nâng cao chất lượng
Trang 28đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, phường trên địa bàn Thành phố, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao trong việc thực thi công vụ, đáp ứng mục tiêu CCHC Nhà nước mà Đảng và Nhà nước đã đề ra[43]
2.1.3 Đặc điểm về số lượng, cơ cấu và trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn Thành phố Vinh
2.1.3.1 Số lượng cán bộ, công chức
- Số lượng cán bộ cấp xã từ năm 2010 đến năm 2016 Đầu năm 2010 đội ngũ cán bộ có 257 đồng chí hoạt động chuyên trách, đến nay có 240 đồng chí hoạt động chuyên trách [40] Cụ thể:
Trang 29(Nguồn Phòng Nội vụ, UBND TP Vinh)
- Qua bảng 2.2 ta thấy, toàn Thành phố có 242 cán bộ Số lượng cán bộ được cơ cấu đầy đủ theo từng vị trí công tác, một số chức danh được kiêm nhiệm như Bí thư kiêm Chủ tịch HĐND, Chủ tịch UBND kiêm PBT Đảng ủy,
Bí thư kiêm Chủ tịch UBND nhằm tinh giảm số lượng cán bộ, nâng cao vai trò trách nhiệm của người cán bộ khi đảm nhận nhiều chức vụ trong một đơn
vị công tác, hạn chế sự trùng lắp trong công tác chỉ đạo, điều hành
+ Số lượng cán bộ đã có sự thay đổi theo từng năm Năm 2010 số lượng cán bộ là 257 đồng chí, đến năm 2016 giảm còn 242, tỷ lệ giảm so với năm 2010 là 0,93%
- Qua bảng 2.3 ta thấy, số lượng công chức cũng được tăng dần qua từng năm, năm 2010 có 205 người, đặc biệt trong năm 2012 thực hiện quy
Trang 30định bổ sung một số lượng chức danh công chức như: kế toán, văn phòng, tư pháp nên số lượng công chức đã tăng nhanh 257 người Đến năm 2016 tăng
270 người So với năm 2010 tăng 1,31% [40]
2.1.3.2 Về chất lượng cán bộ, công chức
Xác định được tầm quan trọng và vai trò của cán bộ, công chức cấp cơ
sở trong việc triển khai các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước Trong những năm qua Thành ủy, UBND TP Vinh đã nhận thức sâu sắc vị trí, yêu cầu của công tác cán bộ và nâng cao chất lượng cán bộ, công chức tại cơ
sở Công tác cán bộ trong nhiệm kỳ 2010 - 2015 đã có nhiều đổi mới, đảm bảo khách quan, dân chủ, chặt chẽ và đúng quy trình Đội ngũ công chức cấp
xã đã được chuẩn hóa; việc đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, quản lý, bố trí,
sử dụng, đánh giá, quy hoạch được thực hiện dân chủ, khách quan gắn với tiến độ, trách nhiệm trong thực thi công vụ đối với từng công chức
Trang 31(Nguồn Phòng Nội vụ, UBND TP Vinh)
+ Năm 2010 trình độ chuyên môn CĐ, ĐH của đội ngũ cán bộ là 195/257 đồng chí, chiếm 75,8%, chất lượng công chức có trình độ Đại học,
CĐ là 183/205 chiếm 89,2% (không tính trưởng công an và chỉ huy trưởng quân sự) [40] Hiện nay, trình độ chuyên môn ĐH, CĐ của đối tượng cán bộ tăng lên 82,08%, trình độ chuyên môn của công chức tăng 88,5% Như vậy,
từ năm 2010 đến nay chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức phường, xã đã có những chuyển biến rõ rệt, nhất là về trình độ chuyên môn Cụ thể đến năm 2016:
+ Đội ngũ cán bộ có 242 người, trong đó, trình độ Đại học trở lên có
199 người, đạt 82,2 %; Cao đẳng, Trung cấp có 38 người chiếm 15,8%; trình
độ sơ cấp hoặc chưa qua đào tạo 5 người đạt 2,12%
+ Đội ngũ công chức có 270 người, trong đó, trình độ Đại học trở lên
có 239 người, chiếm 88,5%; trình độ Trung cấp, Cao đẳng có 31 người, chiếm
Trang 3211,5% Số công chức đạt chuẩn về trình độ chuyên môn theo quy định của tỉnh đạt 100%
Về nguồn cán bộ, công chức chất lượng cao (cán bộ, công chức có trình
độ Thạc sĩ) trong năm 2016 có 18 đồng chí Đây là sự chuyển biến trong nhận thức của mỗi cán bộ, công chức cần trau dồi thêm trình độ chuyên môn sâu để góp phần xây dựng cơ quan hành chính Nhà nước tại địa phương ngày càng phát triển
+ Tuy nhiên hiện nay, số lượng cán bộ cấp xã có trình độ Đại học chính quy tại các trường Đại học là rất ít (23/240 người chiếm 95%), chủ yếu trưởng thành từ phong trào cơ sở, tham gia các lớp bồi dưỡng, đào tạo chuyên môn tại các Trung tâm giáo dục thường xuyên, học từ xa nên chất lượng trong công tác chỉ đạo điều hành còn chưa cao, mang tính rập khuôn, theo phong trào và chưa có tính sáng tạo
+ Về đội ngũ công chức có trình độ Đại học chính quy chiếm tỷ lệ cao (168/270 chiếm 62,2%) tuy nhiên lại rất ít công chức trở thành lãnh đạo quản
lý do các quy định của pháp luật chưa đồng bộ, chưa đánh giá đúng vị trí, vai trò của công chức, luôn có tâm lý níu kéo, không muốn đội ngũ công chức phát triển
Chất lượng cán bộ, công chức cấp xã ở Thành phố Vinh hiện nay đều đạt chuẩn và trên chuẩn theo quy định Đa số cán bộ, công chức xã có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, trung thành với lý tưởng và kiên định với mục tiêu của Đảng và Nhà nước đề ra, tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, bám nắm cơ sở, xử lý kịp thời các vấn đề tại cơ sở Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã của Thành phố Vinh đã tăng dần về số lượng và từng bước nâng cao về chất lượng, có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tổ chức triển khai thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chủ trương, chính sách của Nhà nước kịp thời góp phần xây dựng chính quyền cơ
sở vững mạnh, là động lực để phát triển kinh tế - xã hôi, đảm bảo quốc phòng
Trang 33- an ninh, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị của Thành phố ngày càng phát triển [40]
2.2 Thực trạng pháp luật về cán bộ, công chức cấp xã từ thực tiễn Thành phố Vinh
2.2.1 Công tác tuyển dụng, tiếp nhận, sử dụng cán bộ, công chức
Thứ nhất, về công tác tuyển dụng, tiếp nhận
- Căn cứ Luật cán bộ, công chức; Quyết định số 57/2012/QĐ-UBND ngày 10/8/2012 của UBND tỉnh Nghệ An về việc ban hành quy định phân công, phân cấp quản lý tổ chức bộ máy và cán bộ, công chức, viên chức; các văn bản có liên quan, UBND thành phố Vinh đã thực hiện đúng quy định về tuyển dụng, tiếp nhận, sử dụng cán bộ, công chức cấp xã Nhận thức được tầm quan trọng của công tác tuyển dụng công chức nên những năm qua UBND Thành phố Vinh đặc biệt quan tâm, chỉ đạo thực hiện có hiệu quả công tác tuyển dụng, tiếp nhận, sử dụng cán bộ, công chức cấp xã Việc tuyển dụng thực sự xuất phát từ nhu cầu vị trí việc làm và yêu cầu nhiệm vụ của Thành phố; công tác tuyển dụng có những đổi mới tích cực, nhất là trong nhận thức của lãnh đạo Thành phố; số công chức được tuyển dụng mới có chất lượng ngày càng cao Cụ thể, số tuyển dụng mới về công tác tại các phường, xã từ năm 2010 đến nay đạt 100% trình độ Đại học trở lên (không tính các chức danh đặc thù như chỉ huy trưởng quân sự và trưởng công an xã) Với chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao những năm qua UBND Thành phố Vinh đã tập trung ưu tiên tuyển dụng những sinh viên tốt nghiệp Đại học, sau Đại học từ các trường Đại học uy tín trong nước và sinh viên tốt nghiệp loại giỏi được thu hút về công tác tại các phường, xã
Thứ hai, về quy trình tuyển dụng, tiếp nhận công chức cấp xã
- Thực hiện theo Nghị định số 112/2011/NĐ-CP ngày 05/12/2011 của Chính phủ về công chức xã, phường, thị trấn; Quyết định số 59/2008/QĐ-UBND ngày 26/9/2008 của UBND tỉnh Nghệ An về ban hành Quy chế tuyển
Trang 34dụng công chức phường, xã, thị trấn trên địa bàn tỉnh Nghệ An, theo đó, thẩm quyền tuyển dụng công chức cấp xã giao cho UBND cấp huyện (UBND thành phố) [11]
Theo Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách, tại Khoản 1, Điều 4 nêu rõ: phường, xã loại 1 được bố trí không quá 25 cán bộ, công chức; loại 2 không quá 23 cán bộ, công chức; loại 3 không quá 21 cán bộ, công chức Năm 2010 sau khi Nghị định số 92/2009/NĐ-CP có hiệu lực thay thế Nghị định số 114/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn; UBND tỉnh Nghệ An có Quyết định số 64/2010/QĐ-UBND về việc quy định về số lượng cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh theo Nghị định 92/2009/NĐ-CP của Chính phủ; Hướng dẫn số 2760/HD-SNV ngày 08/12/2010 của Sở Nội vụ quy định một chức danh công chức cấp xã được bố trí tối đa từ 2 đến 3 người Cụ thể như sau [34]:
+ Văn phòng - Thống kê được bố trí tối đa 2 công chức;
+ Địa chính - Xây dựng - Đô thị và Môi trường được bố trí tối đa 3 công chức đối với phường, xã loại 1; bố trí tối đa 2 công chức đối với phường, xã loại 2, 3;
+ Tài chính - Kế toán được bố trí tối đa 3 công chức đối với phường, xã loại 1; bố trí tối đa 2 công chức đối với phường, [34] xã loại 2, 3;
+ Công chức Tư pháp - Hộ tịch được bố trí tối đa 2 công chức;
+ Văn hoá - Xã hội được bố trí tối đa 3 công chức đối với phường xã loại 1; bố trí tối đa 2 công chức đối với phường, xã loại 2, 3;…
Thành phố Vinh với 25 phường, xã (4 phường, xã loại 1; 20 phường, xã loại 2; 1 phường, xã loại 3) được bố trí tối đa 581 cán bộ, công chức [43][40]
Trang 35Thứ ba, về kết quả đạt được trong công tác tuyển dụng, tiếp nhận cán
bộ, công chức cấp xã tại Thành phố Vinh
Bảng 2.5 So sánh trình độ chuyên môn của cán bộ cấp xã
TT Thời điểm Biên chế
(Nguồn Phòng Nội vụ, UBND TP Vinh)
Bảng 2.6 So sánh trình độ chuyên môn của công chức cấp xã (không tính
Trưởng Công an và Chỉ huy trưởng Quân sự được bổ nhiệm)
TT Thời điểm Biên chế
(Nguồn Phòng Nội vụ, UBND TP Vinh)
Nhìn chung, đại đa số cán bộ, công chức có bản lĩnh chính trị vững vàng, giữ được phẩm chất đạo đức tốt, lối sống lành mạnh, được cán bộ và nhân dân tín nhiệm Nhiều cán bộ, công chức trưởng thành từ các lĩnh vực, môi trường, ngành nghề công tác và được đào tạo cơ bản về chuyên môn, nghiệp vụ khác nhau tại các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên
Trang 36nghiệp được tuyển chọn vào công tác vào cơ quan UBND các phường, xã Do vậy, sau khi được tuyển dụng, sắp xếp bố trí tương đối hợp lý, phù hợp với năng lực, sở trường, đúng ngành nghề đào tạo, hầu hết số cán bộ, công chức đều giữ vững phẩm chất chính trị, nhiệt tình, biết chủ động trong công tác; tinh thần thái độ phục vụ tốt, hoàn thành nhiệm vụ được giao
2.2.2 Công tác chính sách cán bộ, công chức
Chăm lo công tác chính sách cán bộ, công chức tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ, công chức nâng cao trình độ về mọi mặt, UBND thành phố đã có chủ trương tạo điều kiện về thời gian cũng như kinh phí khuyến khích cán bộ, công chức được học tập nâng cao về chuyên môn nghiệp vụ; hàng năm thực hiện các chế độ khen thưởng kịp thời, xét giải quyết tốt việc nâng lương trước thời hạn cho những cán bộ, công chức có thành tích hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ; giải quyết các chế độ, chính sách nói chung, chế độ nghỉ hưu nói riêng cho cán bộ, công chức theo đúng quy định hiện hành Đối với cán bộ, công chức có nhu cầu nghỉ việc để hưởng chế độ bảo hiểm theo Nghị định số 132/2007/NĐ-CP, UBND thành phố đã tổng hợp trình các cấp có thẩm quyền giải quyết theo quy định
2.2.3 Công tác đánh giá xếp loại cán bộ, công chức về lĩnh vực chuyên môn
Về công tác đánh giá, xếp loại công chức được thực hiện theo quy định tại nghị định Nghị định 56/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 quy định về "Đánh giá và phân loại cán bộ, công chức, viên chức" [14] Việc đánh giá CBCC cấp
xã được thành phố thực hiện theo từng năm, với 4 mức độ: Hoàn thành xuất sắc, hoàn thành tốt, hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực và không hoàn thành nhiệm vụ Kết quả năm năm 2011 và 2012 có 03 công chức không hoàn thành nhiệm vụ (trong đó 02 công chức vi phạm khuyết điểm không hoàn thành nhiệm vụ, UBND thành phố đã xem xét xử lý cho thôi việc theo quy định) Năm 2014 có 207 công chức hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên
Trang 37đạt tỉ lệ 82,8% ; 01 công chức không hoàn thành nhiệm vụ (UBND thành phố
đã xem xét xử lý cho thôi việc theo quy định)
Năm 2016, có 236 công chức xếp loại hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên, đạt tỷ lệ 87,4%; có 33 công chức xếp loại hoàn thành nhiệm vụ, đạt tỷ lệ 12,2%; Không có cán bộ, công chức không hoàn thành nhiệm vụ Tuy nhiên Thành phố cũng chưa tổ chức đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở mà căn cứ vào kết quả xếp loại trong đội ngũ Ban chấp hành Đảng ủy, nhận xét đánh giá của BCH các tổ chức chính trị xã hội để phân loại đội ngũ cán bộ Đây cũng là một nguyên nhân tạo sự không công bằng trong công tác đánh giá, quản lý giữa công chức và cán bộ Vì quy trình đánh giá công chức còn
có đội ngũ cán bộ khối, trưởng các tổ chức đoàn thể chính trị xã hội, lãnh đạo UBND nên có lúc còn chưa khách quan, mang tính cảm tính, một số người đánh giá theo ý chí chủ quan mà chưa thật sự đánh giá đúng trình độ, năng lực của công chức cần đánh giá [40] Cụ thể:
Bảng 2.7 Kết quả đánh giá, phân loại công chức từ năm 2014 - 2016
về NL
Không hoàn thành
Số lượng Tỷ lệ
Số lượng Tỷ lệ
Số lượng Tỷ lệ
Số lượng Tỷ lệ
Trang 382.2.4 Công tác điều động và luân chuyển cán bộ, công chức
Trên cơ sở thực hiện nghiêm chỉnh Nghị định số 158/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 10 năm 2007 của Chính phủ quy định danh mục các vị trí công tác và thời hạn định kỳ chuyển đổi vị trí công tác đối với cán bộ, công chức, viên chức Và Nghị định số 150/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 158/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 10 năm 2007 của Chính phủ quy định danh mục các vị trí công tác và thời hạn định kỳ chuyển đổi vị trí công tác đối với cán bộ, công chức, viên chức
Thành phố Vinh đã tổ chức điều động, luân chuyển CBCC cấp xã thay đổi vị trí, nơi làm việc nhằm thực hiện những mục tiêu về tổ chức cán bộ Mục đích của việc điều động để lập thành tổ chức mới, sắp xếp, điều chỉnh các tổ chức hiện có cho phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao góp phần phát huy tốt nhất khả năng của cán bộ trẻ trên các cương vị công tác được giao Luân chuyển CBCC cấp xã nhằm tạo nên một trong những bước đột phá, góp phần đổi mới sâu sắc công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý nhằm tạo điều kiện để rèn luyện, bồi dưỡng, thử thách cán bộ, nhất là CBCC cấp xã, có triển vọng, giúp CBCC cấp xã trưởng thành nhanh hơn, toàn diện, vững vàng hơn, khắc phục tình trạng khép kín, cục bộ trong công tác cán bộ
Hàng năm, UBND Thành phố Vinh phối hợp với các phường, xã tiến hành rà soát tiêu chuẩn, chất lượng đội ngũ công chức, phân loại chức danh công chức theo quy định nhằm bố trí, sắp xếp lại cho phù hợp với năng lực,
sở trường công tác, giúp cán bộ phát huy tốt tác dụng Hoàn thành việc xây dựng quy định, quy trình đánh giá, quản lý cán bộ, công chức theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008
Cân nhắc đề xuất số cán bộ trẻ có đủ tiêu chuẩn, phát huy tốt tác dụng,
có triển vọng đề xuất các chức danh cần bổ nhiệm trình Ban thường vụ Thành
ủy, UBND Thành phố, xem xét bổ nhiệm vào các vị trí lãnh đạo; đồng thời
Trang 39thu hút, tiếp nhận cán bộ có năng lực từ nơi khác về bổ sung nguồn cán bộ lãnh đạo có chất lượng cho thành phố, các phường, xã Công tác đề bạt, bổ nhiệm, bố trí, luân chuyển cán bộ, công chức, viên chức được thực hiện thường xuyên đảm bảo đúng quy trình và công khai dân chủ, đảm bảo yêu cầu tiêu chuẩn Số cán bộ mới được bổ nhiệm, tiếp nhận, tuyển dụng bước đầu phát huy được tác dụng Cụ thể năm 2011 - 2016, UBND thành phố làm quy trình cán bộ đề nghị Thành uỷ xem xét đề bạt, bổ nhiệm 38 cán bộ lãnh đạo giữ chức vụ Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND các phường, xã
Bảng 2.8 Bổ nhiệm chức danh chủ chốt tại cơ sở
(Nguồn Phòng Nội vụ, UBND TP Vinh)
Việc luân chuyển cán bộ, công chức theo Nghị định số
158/2007/NĐ-CP ngày 27/10/2007 của Chính phủ được thực hiện có hiệu quả, từ năm 2011 đến nay, UBND thành phố Vinh tiếp tục tiến hành chuyển đổi vị trí công tác
và vị trí chuyên quản địa bàn cho 75 công chức thuộc các phòng chuyên môn UBND thành phố, các phường, xã trực thuộc Trước khi luân chuyển UBND thành phố đã yêu cầu các phòng chuyên môn đánh giá chất lượng cán bộ, công chức để luân chuyển về các địa bàn phù hợp yêu cầu nhiệm vụ và năng
Trang 40lực cán bộ, công chức Hầu hết số cán bộ, công chức sau khi luân chuyển, bố trí lại đều đã cố gắng tiếp cận công việc tại đơn vị mới, kịp thời ổn định công tác và phát huy có hiệu quả
Bảng 2.9 Số lượng công chức luân chuyển hàng năm
Năm
Công chức địa
chính
Công chức đô thị
Công chức kế toán
Công chức Tư pháp
Công chức Văn phòng
Công chức VH-XH
(Nguồn Phòng Nội vụ, UBND TP Vinh)
2.2.5 Công tác tinh giản biên chế
- Tinh giản biên chế là việc đánh giá, phân loại, đưa ra khỏi biên chế những người dôi dư, không đáp ứng được yêu cầu công việc, không thể tiếp tục bố trí sắp xếp công tác khác và giải quyết chế độ, chính sách đối với những người thuộc diện tinh giản biên chế
Từ năm 2010 đến năm 2016, thành phố Vinh triển khai thực hiện tinh giản biên chế theo quy định tại Nghị định 108/2014/NĐ-CP cho công chức, viên chức trên địa bàn [40] Cụ thể:
Bảng 2.10 Số lượng cán bộ, công chức tinh giản biên chế
TT 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016
(Nguồn Phòng Nội vụ, UBND TP Vinh)