1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự qua thực tiễn viện kiểm sát nhân dân huyện nam đàn, tỉnh nghệ an

129 284 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 1,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, thì hoạt động áp dụng pháp luật trong THQC và kiểm sát điều tra KSĐT vụ án hình sự trong thời gian qua còn bộc lộ nhiều hạn chế, chưa đáp ứng

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

ĐẶNG KIM SƠN

ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CỦA VỤ ÁN HÌNH SỰ - QUA THỰC TIỄN VIỆN KIỂM SÁT NHÂN

DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà nội - 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

ĐẶNG KIM SƠN

ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CỦA VỤ ÁN HÌNH SỰ - QUA THỰC TIỄN VIỆN KIỂM SÁT NHÂN

DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN

Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử Nhà nước và Pháp luật

Mã số: 60 38 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN HOÀNG ANH

Hà nội - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các

số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo

vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Đặng Kim Sơn

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu của bản thân tôi ở Khoa Luật trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội và với kinh nghiệm của tôi trong quá trình công tác thực tiễn

Tôi xin bảy tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Hoàng Anh là người trực tiếp hướng dẫn khoa học, đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi về chuyên môn cũng như phương pháp nghiên cứu khoa học và chỉ cho tôi những nghiệm kinh nghiệm quý giá trong thời gian thực hiện đề tài luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong Khoa Luật trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội và cơ quan công tác, đồng nghiệp, bạn bè đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như trong quá trình nghiên cứu khoa học

Sau cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình đã luôn tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn

Bản thân tôi đã nổ lực, cố gắng để hoàn thành luận văn, song không tránh khỏi những thiếu sót Tôi mong nhận được sự góp ý chân thành của các thầy, cô giáo, đồng nghiệp và bạn bè để tôi tiếp tục hoàn thiện luận văn này

Hà nội, ngày 07 tháng 9 năm 2017

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Đặng Kim Sơn

Trang 6

MỤC LỤC Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT i

MỤC LỤC ii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN 8

1.1 Khái niệm, đặc điểm áp dụng pháp luật 8

1.1.1 Khái niệm áp dụng pháp luật 8

1.1.2 Đặc điểm của áp dụng pháp luật 11

1.2 Áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân 15

1.2.1 Khái niệm quyền công tố, thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự 15

1.2.2 Khái niệm, đặc điểm của áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự 29

1.2.3 Quy trình hoạt động áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự 33

1.3 Các yếu tố bảo đảm hoạt động áp dụng pháp luật của Viện kiểm sát nhân dân trong thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự 36

1.3.1 Bảm đảm về chính trị 36

1.3.2 Bảo đảm về mặt pháp lý 37

1.3.3 Bảo đảm về công tác tổ chức và cán bộ 39

1.3.4 Các bảo đảm khác 41

Trang 7

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 43

Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2012 ĐẾN NĂM 2016 44

2.1 Đánh giá kết quả hoạt động áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An từ năm 2012 đến năm 2016 45

2.1.1 Những kết quả đạt được của hoạt động áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An 45

2.1.2 Những hạn chế của hoạt động áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An 62

2.2 Nguyên nhân những kết quả đạt được và những hạn chế của hoạt động áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An 69

2.2.1 Nguyên nhân của những kết quả đạt được 69

2.2.2 Nguyên nhân của những hạn chế 73

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 84

Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM HOẠT ĐỘNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN 85

3.1 Quan điểm về bảo đảm hoạt động áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự 85

Trang 8

3.1.1 Áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra

vụ án hình sự nhằm bảo đảm quyền con người, quyền công dân 86

3.1.2 Áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự nhằm bảo đảm tinh thần cải cách tư pháp 87

3.1.3 Áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự nhằm bảo đảm mọi hành vi pham tội phải được xử lý nghiêm minh, kịp thời 88

3.2 Các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự 89

3.2.1 Nhóm các giải pháp về hoàn thiện pháp luật và giải thích, hướng dẫn thi hành luật 89

3.2.2 Nhóm giải pháp về tổ chức thực hiện áp dụng pháp luật 97

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 113

KẾT LUẬN 114

DANH MỤC BÀI VIẾT ĐÃ CÔNG BỐ 116

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 117

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU

Bảng 2.1 Công tác THQCT và KSĐT trong hoạt động KT vụ án hình sự 47 Bảng 2.2 Công tác THQCT và kiểm sát hoạt động khởi tố bị can 48 Bảng 2.3 Công tác THQCT và kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn

chặn bắt, tạm giữ

50

Bảng 2.4 Công tác THQCT và kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn

chặn tạm giam trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự

51

Bảng 2.5 ADPL về tạm đình chỉ điểu tra của CQĐT 55 Bảng 2.6 ADPL về đình chỉ điều tra của CQĐT 59 Bảng 2.7 ADPL trong trả hồ sơ để điều tra bổ sung 61

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) là một trong các hệ thống cơ quan cấu thành bộ máy Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có chức năng thực hành quyền công tố (THQCT), kiểm sát hoạt động tư pháp theo quy định của Hiến pháp và pháp luật Cùng với các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước, từ khi thành lập đến nay, VKSND đã không ngừng trưởng thành, lớn mạnh, phát huy được vị trí, vai trò trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ngành, qua đó góp phần quan trọng bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo

vệ lợi ích của nhà nước và bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, thì hoạt động áp dụng pháp luật trong THQC và kiểm sát điều tra (KSĐT) vụ án hình sự trong thời gian qua còn bộc lộ nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu của xã hội trong công cuộc cải cách tư pháp ở giai đoạn hiện nay như: Vẫn còn xảy ra tình trạng bỏ lọt tội phạm, khởi tố sai tội danh, trả hồ sơ để điều tra bổ sung, kéo dài thời hạn điều tra, phải gia hạn thời hạn điều tra hoặc bị Tòa án cấp trên hủy án để điều tra lại ; nhiều trường hợp vi phạm pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng (THTT), người THTT trong hoạt động điều tra vụ án hình sự chưa được phát hiện, khắc phục kịp thời Nguyên nhân chủ yếu là do công tác THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp trong lĩnh vực điều tra các vụ án hình sự của Viện kiểm sát (VKS) có lúc chưa được thực hiện chặt chẽ, chưa được quan tâm đúng mức Một

số kiểm sát viên (KSV) chưa phối hợp chặt chẽ với cơ quan điều tra, còn thụ động trong việc thực hiện chức năng THQCT và KSĐT vụ án hình sự của Cơ quan điều tra (CQĐT); không nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án để đề ra yêu cầu điều tra sát đúng với vụ án hoặc là bỏ mặc cho điều tra viên tiến hành điều tra một cách độc lập… Những yếu kém, hạn chế đó đã ảnh hưởng trực tiếp đến danh dự, nhân phẩm, quyền con người, quyền công dân Mặt khác, còn làm ảnh hưởng đến

uy tín của các cơ quan THTT nói chung và ngành kiểm sát nói riêng

Trang 11

Thực hiện công cuộc cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác

08-tư pháp trong thời gian tới, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Kết luận số 79-KL/TW ngày 28/7/2010 của Bộ Chính trị về đề án đổi mới tổ chức và hoạt động của Toà án, VKS

và CQĐT theo Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách

tư pháp đến năm 2020 và Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI Trong đó, Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị đặt ra yêu cầu đối với

ngành Kiểm sát: “Viện kiểm sát các cấp thực hiện tốt chức năng thực hành quyền

công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp Hoạt động công tố phải được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình tố tụng nhằm bảo đảm không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người

vô tội ”

Để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của ngành kiểm sát theo tinh thần cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay, với mục tiêu: Bảo vệ quyền con người, quyền công dân, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong công tác THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp nói chung và hoạt động áp dụng pháp luật (ADPL) trong công tác THQCT và KSĐT vụ án hình sự nói riêng, vai trò của VKSND trong ADPL cần phải được nâng cao chất lượng, hiệu quả, coi đó là nhiệm vụ trước mắt cũng như nhiệm vụ lâu dài của ngành tư pháp nước ta Đó là yêu cầu cấp thiết của ngành kiểm sát nói chung và VKSND huyện Nam Đàn nói riêng

Với những lý do trên, tôi chọn đề tài: "Áp dụng pháp luật trong thực hành

quyền công tố và kiểm sát điều tra của vụ án hình sự - qua thực tiễn Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An" làm đề tài luận văn thạc sĩ Luật học

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

THQCT và KSĐT vụ án hình sự là một giai đoạn hết sức quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến toàn bộ quá trình giải quyết vụ án hình sự Giai đoạn điều tra

vụ án cần phải làm rõ hành vi phạm tội và người thực hiện hành vi tội phạm, các

Trang 12

tình tiết liên quan đến việc giải quyết vụ án, từ đó làm cơ sở cho việc truy tố và xét

xử các bị can, bị cáo bảo đảm đúng người, đúng tội, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm; bảo đảm quyền con người, quyền công dân Vì vậy, đây là vấn đề thu hút nhiều nhà lý luận và nhiều nhà hoạt động thực tiễn quan tâm nghiên cứu Việc nghiên cứu đề tài này đã được thể hiện trong nhiều công trình khoa học được công bố trên các sách, báo, tạp chí chuyên ngành, các luận án tiến sĩ, luận văn

thạc sĩ và một số giáo trình giảng dạy về pháp luật như:

Các luận án tiến sỹ, luận văn thạc sĩ Luật:

- Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự của

Viện kiểm sát nhân dân ở tỉnh Hưng Yên, luận văn thạc sĩ Luật học của Ngô Thị

Phi, tại Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh (năm 2012)

- Áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án hình sự của Viện Kiểm

sát nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội, luận văn thạc sĩ Luật học của Lê

Thị Huyền Ngọc tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (năm 2016)

- Thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự từ thực tiễn tỉnh Nghệ An, luận

án tiến sỹ luật học của Tôn Thiện Phương tại Học viện Khoa học xã hội (năm 2017)

Sách chuyên khảo:

- Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật của GS.TS Hoàng Thị Kim Quế

- Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2015

- Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai

đoạn điều tra của Lê Hữu Thể - Đỗ Văn Đương - Nông Xuân Trường, Nxb Tư

pháp, Hà Nội, năm 2008

- Sổ tay Kiểm sát viên hình sự của Viện Khoa học kiểm sát, Viện kiểm sát

nhân dân tối cao, Hà Nội, năm 2006

- Sổ tay kiểm sát viên hình sự của Viện Khoa học kiểm sát - Viện kiểm sát

nhân dân tối cao, Hà Nội, năm 2011

- Kỹ năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật

trong tố tụng hình sự, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2006

Các bài viết, công trình nghiên cứu được đăng trên các tạp chí chuyên ngành:

Trang 13

- GS TSKH Đào Trí Úc: Thực hiện pháp luật và cơ chế thực hiện pháp luật

ở Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật 7/2011

- TS Đỗ Văn Đương: Cơ quan thực hành quyền công tố trong cải cách tư

pháp ở nước ta hiện nay, Tạp chí nghiên cứu lập pháp 7/2006

- TS Trần Công Phàn: Công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát các hoạt

động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân trong tình hình mới và một số vấn đề về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đấu tranh phòng chống tội phạm”, Tạp chí Kiểm sát 8/2011

- TS Trần Công Phàn: Một số vấn đề về chủ trương tăng cường trách nhiệm

công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra theo yêu cầu cải cách tư pháp, Tạp chí kiểm sát 01/2012

- TS Lê Thị Tuyết Hoa: Một số nội dung trọng tâm để thực hiện chủ trương

tăng cường trách nhiệm công tố trong động điều tra theo yêu cầu cải cách tư pháp,

Tạp chí Kiểm sát 8/2012

- TS Nguyễn Thị Mai Nga: Những dấu mốc quan trọng hình thành, phát

triển chế định thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự, Tạp chí

kiểm sát 7/2016

- TS Thái Vĩnh Thắng Viện công tố thay thế Viện kiểm sát nhân dân sẽ được

tổ chức và hoạt động như thế nào, Tạp chí luật học 2/2008

- Nguyễn Duy Giảng: Một số vấn đề đặt ra từ thực tiễn thực hiện chức năng

thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp theo yêu cầu cải cách tư pháp, Tạp chí kiểm sát số 14-16/ 2008

- Vũ Việt Hùng: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về trách nhiệm công tố

trong việc đề ra yêu cầu điều tra theo yêu cầu cải cách tư pháp, Tạp chí kiểm sát

8/2012

Như vậy, công tác THQCT và KSĐT vụ án hình sự của ngành kiểm sát đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và làm sáng tỏ Tuy nhiên, nghiên cứu ADPL đồng thời đối với hai hoạt động: THQCT và KSĐT vụ án hình sự của VKSND - nhất là tại địa bàn huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, thì chưa có một công trình nào

Trang 14

nghiên cứu chuyên sâu Từ tình hình nghiên cứu trên cho thấy đề tài "Áp dụng pháp

luật trong thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra của vụ án hình sự - qua thực tiễn Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An" không trùng

lặp với bất kỳ một công trình nào đã được công bố Tuy nhiên, các công trình khoa học, các bài viết về đề tài này là những tài liệu tham khảo có giá trị để tác giả nghiên cứu và hoàn thiện đề tài luận văn của mình

3 Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài

3.1 Mục đích

Mục đích nghiên cứu của đề tài là trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận chung và thực trạng ADPL trong công tác THQCT và KSĐT vụ án hình sự của VKSND huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, từ đó đề xuất các phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động ADPL đối với công tác này trong thời

gian tới

3.2 Nhiệm vụ

Nhằm thực hiện mục đích nêu trên, luận văn có các nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận chung về hoạt động ADPL trong THQCT và KSĐT vụ án hình sự của VKSND

- Đánh giá thực trạng ADPL trong THQCT và KSĐT vụ án hình sự thông qua việc phân tích kết quả hoạt động của VKSND huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An trong năm năm (từ năm 2012 đến 2016)

- Đề xuất quan điểm bảo đảm và các giải pháp nâng cao chất lượng ADPL trong THQCT và KSĐT vụ án hình sự của ngành kiểm sát nói chung và của VKSND huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An nói riêng

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Những vấn đề lý luận về ADPL nói chung và ADPL trong THQCT và KSĐT vụ án hình sự

- Thực tiễn ADPL trong THQCT và KSĐT vụ án hình sự của VKSND huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An

Trang 15

- Nguyên nhân tồn tại, hạn chế về hoạt động ADPL trong THQCT và KSĐT

vụ án hình sự của VKSND huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An

- Quan điểm và những giải pháp nâng cao chất lượng của hoạt động ADPL trong THQCT và KSĐT vụ án hình sự nói chung và của VKSND huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An nói riêng

4.2 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Luận văn nghiên cứu hoạt động ADPL trong công tác THQCT và KSĐT vụ

án hình sự, thực trạng thực hiện công tác này nhằm tạo cơ sở đề xuất các phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đối với hoạt động ADPL trong THQCT

và KSĐT vụ án hình sự nói chung và ở VKSND huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An nói riêng trong giai đoạn hiện nay

Công tác THQCT và KSĐT vụ án hình sự của VKSND được tiến hành từ khi bắt, tạm giữ người thực hiện hành vi phạm tội hoặc từ khi khởi tố vụ án, khởi tố bị can cho đến khi kết thúc điều tra vụ án

Luận văn giới hạn việc khảo sát thực tiễn từ năm 2012 đến năm 2016, tại địa bàn huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An

5 Cơ sở và phương pháp nghiên cứu của luận văn

5.1 Cơ sở nghiên cứu

Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về đổi mới nhà nước và pháp luật, về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân và các quan điểm chỉ đạo về cải cách tư pháp

5.2 Phương pháp nghiên cứu của đề tài

Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác -

Lê Nin Các phương pháp nghiên cứu được áp dụng gồm: Phương pháp phân tích, tổng hợp để nghiên cứu các vấn đề lý luận; phương pháp thống kê, so sánh để thu thập, phân tích, tổng hợp, đánh giá số liệu Ngoài ra, việc thực hiện luận văn liên quan đến thực tiễn hoạt động nghiệp vụ, cho nên luận văn còn sử dụng phương pháp

Trang 16

chứng minh thông qua số liệu khảo sát tại VKSND huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An

6 Ý nghĩa đóng góp mới của luận văn

Luận văn là công trình nghiên cứu một cách tương đối toàn diện và có hệ thống về hoạt động ADPL trong THQCT và KSĐT vụ án hình sự của VKSND huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An

Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho VKS đối với việc nghiên cứu, ADPL trong thực tiễn về công tác THQCT và KSĐT vụ án hình sự, để nâng cao trình độ lý luận và nâng cao chất lượng công tác chuyên môn nghiệp vụ Bên cạnh đó, Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu một số chuyên đề liên quan, nhất là trong thực hiện chức năng THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân

Chương 2: Thực trạng hoạt động áp dụng pháp luật trong thực hành quyền

công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2016

Chương 3: Quan điểm và các giải pháp bảo đảm hoạt động áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự

Trang 17

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA VỤ

ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

1.1 Khái niệm, đặc điểm áp dụng pháp luật

1.1.1 Khái niệm áp dụng pháp luật

Nhà nước và pháp luật luôn gắn liền với nhau trong quá trình tồn tại và phát triển Nhà nước ban hành pháp luật như là một công cụ hữu hiệu để quản lý xã hội Pháp luật là các quy tắc xử sự thể hiện ý chí, lợi ích của nhân dân, do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, có tính bắt buộc chung, được nhà nước bảo đảm thực hiện trên cơ sở kết hợp giáo dục thuyết phục và cưỡng chế nhằm điều chỉnh các quan hệ

xã hội

Để quản lý xã hội một cách có hiệu quả thì nhà nước ngoài việc xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, thống nhất thì việc thực hiện pháp luật là yếu tố bảo đảm cho pháp luật được hiện thực hóa trong đời sống xã hội

Theo GS TSKH Đào Trí Úc, thực hiện pháp luật còn được hiểu là:

Một quá trình thực hiện các quy định pháp luật, biến những quy định ấy thành hành vi tuân theo pháp luật Ở nghĩa đó, thực hiện pháp luật cần được xem xét, đánh giá qua lăng kính của sự tương tác giữa nhiều tác nhân thuộc nhiều nhóm hoạt động khác nhau nhưng trên cùng một véc-tơ tác động vào ý thức và hành vi của chủ thể thực hiện pháp luật hoặc hỗ trợ, xúc tác cho quá trình này [37]

Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật năm 2015 của GS.TS Hoàng Thị Kim Quế - Đại học Quốc gia Hà Nội, thì thực hiện pháp luật được được hiểu là:

“Thực hiện pháp luật là hoạt động có mục đích nhằm hiện thực hóa các quy định pháp luật vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật” [20, tr.492]

Thực hiện pháp luật là một giai đoạn quan trọng và không thể thiếu trong cơ

Trang 18

chế điều chỉnh pháp luật để pháp luật phát huy được vai trò trong cuộc sống: “Muốn

cơ chế điều chỉnh pháp luật vận hành tốt, pháp luật được phát huy vai trò, giá trị của mình trong đời sống xã hội thì quan trọng là phải thực hiện pháp luật một cách đầy đủ, chính xác, triệt để và hiệu quả” [11]

Về mặt lý luận thì thực hiện pháp luật được khoa học pháp lý phân chia thành bốn hình thức gồm: Tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật và ADPL

- Tuân thủ pháp luật: Là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể không được làm những gì mà pháp luật cấm

- Thi hành pháp luật: Là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể thực hiện các nghĩa vụ pháp lý của mình

- Sử dụng pháp luật: Là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể

sử dụng đúng đắn các quyền của mình, làm những gì pháp luật cho phép

- Áp dụng pháp luật: Áp dụng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật trong đó nhà nước thông qua các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền tổ chức cho các chủ thể khác thực hiện các quy định của pháp luật

Áp dụng pháp luật được hiểu:

Là hình thức thực hiện pháp luật trong đó nhà nước thông qua các cơ quan có thẩm quyền hoặc nhà chức trách tổ chức cho các chủ thể pháp luật thực hiện những quy định của pháp luật, hoặc tự mình căn cứ vào các quy định của pháp luật, ra các quyết định ADPL vào trong những trường hợp cụ thể của đời sống xã hội [13]

Áp dụng pháp luật mang tính quyền lực nhà nước:

Là hoạt động có tính tổ chức, quyền lực nhà nước do các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định nhằm cá biệt hóa các quy phạm pháp luật hiện hành vào

những trường hợp cụ thể, đối với các tổ chức, cá nhân cụ thể [14, tr.30]

Việc phân chia thành bốn hình thức thực hiện pháp luật nêu trên có tính chất tương đối, trên thực tế giữa chúng luôn có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau, ngay trong ADPL cũng có sự tuân thủ pháp luật và chấp hành pháp luật,

Trang 19

sử dụng pháp luật Đối với các chủ thể chấp hành pháp luật và ADPL cũng đều có trách nhiệm pháp lý và nghĩa vụ pháp lý của mình Giữa các hình thức thực hiện pháp luật luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, thấy rõ những mối quan hệ này thì chúng ta sẽ có các biện pháp nhằm bảo đảm cho việc thực hiện pháp luật đạt hiệu quả cao

Trong bốn hình thức thực hiện pháp luật nói trên thì ADPL là hình thức thực hiện pháp luật rất quan trọng vì nó là bảo đảm pháp lý cho toàn bộ các hình thức thực hiện pháp luật khác Trong nhiều trường hợp, chủ thể thực hiện pháp luật không muốn hoặc không đủ khả năng thực hiện pháp luật nếu thiếu sự tham gia của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì khi đó cần thiết phải thực hiện ADPL

Để bảo đảm cho quy định pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh và thống nhất, điều quan trọng nhất là các quy định pháp luật cần phải rõ ràng, minh bạch, bảo đảm được quyền, lợi ích và nghĩa vụ, trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức, cũng như quy định rõ thẩm quyền, trách nhiệm cụ thể của các cơ quan nhà nước trong thực hiện pháp luật nó chung và ADPL nói riêng

- Khi có tranh chấp về quyền, nghĩa vụ pháp lý giữa các chủ thể mà họ không

tự giải quyết được Các trường hợp ADPL này chủ yếu ở diễn ra trong lĩnh vực dân

sự, tranh chấp về kinh doanh thương mại, lao động, hôn nhân gia đình…

- Nhà nước xác định một hành vi, một kết quả hoạt động hoặc một mối quan

hệ xã hội nào đó là hợp pháp hoặc bất hợp pháp Chẳng hạn như công chứng, đăng

ký kết hôn…

- Trong trường hợp quyền, nghĩa vụ pháp lý của chủ thể không mặc nhiên

Trang 20

phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt nếu không có sự can thiệp của nhà nước, chẳng hạn khi cần phải có quyết định của chủ thể có thẩm quyền thì mới phát sinh quyền

và nghĩa vụ như bổ nhiệm, cách chức, nâng lương

- Một số trường hợp khác như khi nhà nước thấy cần thiết phải tham gia vào một số quan hệ pháp luật cụ thể để kiểm tra, giám sát hoạt động của các bên tham gia vào quan hệ đó, nhằm bảo đảm việc chấp hành pháp luật của các chủ thể, chẳng hạn như các quyết định kiểm tra, kiểm sát trực tiếp…

Như vậy, có thể hiểu rằng: Áp dụng pháp luật là hoạt động mang tính tổ

chức, quyền lực của Nhà nước, được thực hiện thông qua những cơ quan nhà nước

có thẩm quyền, nhà chức trách hoặc tổ chức xã hội khi được Nhà nước trao quyền, nhằm cá biệt hoá những quy phạm pháp luật vào các trường hợp cụ thể đối với các

cá nhân, tổ chức cụ thể

1.1.2 Đặc điểm của áp dụng pháp luật

Thứ nhất: Hoạt động áp dụng pháp luật là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước

- Nhà nước là chủ thể ban hành pháp luật, nên pháp luật là sự thể hiện ý chí nhà nước thông qua các quy phạm pháp luật cụ thể, nên hoạt động ADPL được xem

là sự thể hiện ý chí của nhà nước trong quá trình điều chỉnh các quan hệ xã hội bằng pháp luật Vì vậy, việc ADPL không những phải phù hợp với pháp luật thực định

mà còn phải phù hợp với chủ trương chính sách của Nhà nước

- Hoạt động ADPL là hoạt động do cơ quan nhà nước, nhà chức trách có thẩm quyền tiến hành hoặc tổ chức khi được nhà nước trao quyền Đối với mỗi cơ quan nhà nước, nhà chức trách, người có thẩm quyền tiến hành hoặc tổ chức khi được nhà nước trao quyền chỉ được tiến hành một số hoạt động ADPL nhất định, trong lĩnh vực nhất định Khi cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền đưa ra quyết định ADPL thì sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức, nên khi thực hiện ADPL thì mọi tình tiết đều phải được xem xét, cân nhắc một cách thận trọng trên cơ sở căn cứ vào các quy định quy phạm pháp luật và các văn bản hướng dẫn để ra các quyết định cụ thể, nhằm bảo đảm tính có căn cứ và tính hợp pháp

Trang 21

- ADPL được thực hiện chủ yếu theo ý chí đơn phương của nhà nước, thông qua hoạt động của cơ quan nhà nước hay nhà chức trách, người có thẩm quyền và không phụ thuộc vào ý chí của chủ thể bị ADPL Trong một số trường hợp đặc biệt thì việc ADPL chỉ được tiến hành khi có yêu cầu của tổ chức hay cá nhân nhất định Chẳng hạn như quyết định cưỡng chế thi hành án dân sự theo đơn sẽ được cơ quan Thi hành án ban hành khi người được thi hành án đã có đơn yêu cầu thi hành nhưng người bị thi hành án không tự nguyện thi hành

- Quyết định, văn bản ADPL do các chủ thể có thẩm quyền ADPL ban hành theo quy định của pháp luật thể hiện ý chí của nhà nước, chẳng hạn như theo quy định

tại khoản 1 Điều 119 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) 2015: “Tạm giam có thể áp

dụng đối với bị can, bị cáo về tội đặc biệt nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng” [24]

hoặc tại khoản 1 Điều 65 Bộ luật hình sự (BLHS) 2015 quy định: “Khi xử phạt tù

không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo

và ấn định thời gian thử thách từ 01 năm đến 05 năm ” [22] Theo quy định trên thì

trong một số trường hợp cụ thể việc “tạm giam” hay “cho hưởng án treo” là do ý chí của người có thẩm quyền - đại diện cho nhà nước quyết định

- Quyết định, văn bản ADPL mang tính bắt buộc phải thực hiện đối với những tổ chức và cá nhân liên quan bị áp dụng Trong những trường hợp cần thiết, nhà nước có thể cưỡng chế thi hành quyết định, văn bản pháp luật đã có hiệu lực pháp luật

Thứ hai: Hoạt động áp dụng pháp luật phải tuân theo quy trình, thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định

Việc ADPL đối với chủ thể bị áp dụng và chủ thể có liên quan nếu để xảy ra oan, sai thì có thể bị ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến quyền con người, quyền công dân của họ, đặc biệt là trong lĩnh vực hình sự, có thể họ phải chịu hậu quả rất lớn về tinh thần và vật chất, nên ADPL là hoạt động phải tuân theo về mặt hình thức và thủ tục rất chặt chẽ, do pháp luật quy định

GS TSKH Đào Trí Úc đã khẳng định một đặc trưng cơ bản về tuân thủ quy trình, thủ tục trong ADPL là:

Trang 22

Áp dụng pháp luật trong Nhà nước pháp quyền đòi hỏi bảo đảm tính công khai, minh bạch Do vậy, thủ tục chặt chẽ, trình tự nghiêm ngặt (thủ tục tố tụng, thủ tục hành chính v.v…) là đặc trưng quan trọng của hình thức thực hiện pháp luật này so với các hình thức đã nêu trên, trong

số đó, tính chặt chẽ cao nhất thuốc về quá trình áp dụng pháp luật trong hoạt động tư pháp [37]

Do tính chất quan trọng và phức tạp của ADPL, đối tượng bị ADPL có thể được hưởng những lợi ích rất lớn nhưng cũng có thể phải chịu những hậu quả bất lợi rất nghiêm trọng, nên trong hoạt động ADPL luôn có sự xác định rõ ràng về cơ

sở, điều kiện, trình tự, thủ tục, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quá trình ADPL Do vậy, các văn bản pháp luật phải quy định đầy đủ, rõ ràng về cả luật nội dung và luật hình thức, đặc biệt các chủ thể thực hiện ADPL phải tuân thủ quy trình chặt chẽ do pháp luật quy định để tránh sai sót xảy ra

Thứ ba: Hoạt động áp dụng pháp luật là hoạt động điều chỉnh có tính chất

cá biệt

- Trong hoạt động ADPL thì đối tượng của ADPL là những cá nhân, tổ chức

cụ thể ADPL được tiến hành dựa trên các quy phạm pháp luật nhất định để giải quyết vụ việc, qua đó làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ của chủ thể bị áp dụng và các đối tượng liên quan

- Trên cơ sở những quy phạm pháp luật nhất định, được cá biệt hóa để thực hiện ADPL vào trong những trường hợp cụ thể Kết quả của quá trình ADPL là cơ quan nhà nước có thẩm quyền, người được nhà nước giao quyền ban hành văn bản ADPL Văn bản ADPL cá biệt được thể hiện dưới dạng như các quyết định, bản án Cơ quan nhà nước có thẩm quyền, người được nhà nước giao quyền phải căn

cứ vào các văn bản quy phạm pháp luật để đưa ra quyết định, bản án xác định mức độ vi phạm, tội phạm để quyết định chế tài tương ứng đối với chủ thể bị ADPL hoặc làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của chủ thể bị áp dụng và người liên quan

Trang 23

Thứ tư: Hoạt động áp dụng pháp luật là hoạt động đòi hỏi tính sáng tạo

Hoạt động ADPL là hoạt động phức tạp, phải tuân thủ quy trình chặt chẽ, nhưng kết quả của các quyết định ADPL mà chủ thể áp dụng đưa ra phải trong khuôn khổ của căn cứ pháp luật họ áp dụng Chủ thể ADPL đòi hỏi phải có sự sáng tạo chứ không chỉ căn cứ vào quy định của pháp luật thực định mà còn căn cứ vào

tình hình thực tế “Tính sáng tạo trên cơ sở tuân thủ nghiêm ngặt thủ tục pháp lý,

đó là đặc điểm cơ bản của áp dụng pháp luật” [11]

Đối với trường hợp pháp luật không quy định chẳng hạn như trong giải quyết

vụ án dân sự, nếu luật không quy định thì tòa án có thể áp dụng tập quán, ADPL tương tự, các nguyên tắc, án lệ, lẽ phải, lẽ công bằng để có thể đưa ra quyết định đúng đắn, sáng suốt nhất, hợp lý nhất nhưng vẫn trong giới hạn của pháp luật mà họ phải áp dụng

Tại Điều 6 Bộ luật dân sự 2015 quy định về áp dụng tương tự pháp luật:

1 Trường hợp phát sinh quan hệ thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự mà các bên không có thoả thuận, pháp luật không có quy định và không có tập quán được áp dụng thì áp dụng quy định của pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự tương tự

2 Trường hợp không thể áp dụng tương tự pháp luật theo quy định tại khoản 1 Điều này thì áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp

luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật này, án lệ, lẽ công bằng [25]

Khi ADPL, các cơ quan nhà nước hay người có thẩm quyền phải nghiên cứu

kỹ nội dụng vụ, việc, nếu chưa đủ căn cứ thì phải điều tra hoặc yêu cầu điều tra, thu thập chứng cứ để từ đó lựa chọn quy phạm, ra quyết định, văn bản ADPL và tổ chức thi hành Trong trường hợp pháp luật chưa quy định hoặc quy định chưa rõ thì phải vận dụng một cách sáng tạo bằng cách áp dụng tập quán hoặc ADPL tương tự

để giải quyết vụ, việc Do đó yêu cầu đặt ra là đòi hỏi người ra quyết định ADPL là người phải có ý thức trách nhiệm cao, có kiến thức vững chắc về chuyên môn, nghiệp vụ, có khả năng phân tích, tổng hợp, dự báo tình hình, có kinh nghiệm, có bản lĩnh chính trị vững vàng và có đạo đức tốt

Trang 24

* Kết quả của hoạt động áp dụng pháp luật:

Về hình thức của hoạt động ADPL chủ yếu được thể hiện bằng văn bản ADPL Đối với văn bản ADPL trong lĩnh vực hình sự được thể hiện trong những hình thức như: Quyết định, lệnh, Bản án

Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật năm 2015 của GS.TS Hoàng Thị Kim Quế - Đại học Quốc gia Hà Nội viết:

Trong quyết định áp dụng pháp luật thể hiện các quyền, nghĩa vụ pháp lý cụ thể hoặc những biện pháp trách nhiệm pháp lý nhất định đối với các cá nhân, tổ chức có liên quan Bằng quyết định áp dụng pháp luật, các quyền và nghĩa vụ chung, các chế tài có trong các văn bản quy phạm pháp luật được cụ thể hóa đối với các cá nhân, tổ chức nhất định.[20, tr 500]

Văn bản ADPL là những văn bản có tính cá biệt cụ thể, do chỉ áp dụng đối với một hoặc một số nhóm đối tượng cụ thể, về những vụ việc, trường hợp cụ thể,

để xác định các quyền và nghĩa vụ pháp lý của cá nhân, tổ chức hoặc xác định trách nhiệm pháp lý đối với chủ thể vi phạm pháp luật

1.2 Áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ

án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân

1.2.1 Khái niệm quyền công tố, thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ

án hình sự

1.2.1.1 Quyền công tố và thực hành quyền công tố

* Khái niệm quyền công tố

Công tố, trong từ điển tiếng Việt có nghĩa là: “Điều tra, truy tố, buộc tội kẻ

phạm pháp trước Tòa án” [33, tr.204]

Trong từ điển Luật học định nghĩa:“Quyền công tố là quyền buộc tội nhân

danh nhà nước đối với người phạm tội” [34, tr.188]

Quyền công tố ở nước ta đã được thực hiện từ năm 1945 cho đến nay Tuy nhiên, trong mỗi giai đoạn lịch sử thì có sự khác nhau về cách hiểu cũng như nhiệm

vụ mà cơ quan được nhà nước giao đảm nhận quyền năng pháp lý này Từ năm

Trang 25

1945 đến năm 1959, khi chưa có hệ thống cơ quan VKS, QCT được giao cho Tòa

án, quyền này nằm trong hệ thống toà án, do các thẩm phán buộc tội đảm nhiệm

Trong giai đoạn trước năm 1960, cơ quan thực hiện chức năng thực hành quyền công tố là Công tố viên thuộc Tòa án, sau đó là Viện công tố các cấp thuộc Chính phủ, nội hàm của thực hành quyền công tố hầu như chỉ là truy tố người phạm tội ra trước Tòa án để xét xử, hoặc điều tra, khởi tố trong một số trường hợp, các quy định thuộc nội dung

thực hành quyền công tố còn rất sơ khai [18]

Đến ngày 26/7/1960 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Lệnh công bố Luật tổ chức VKSND, thành lập nên hệ thống VKSND trong bộ máy nhà nước, đây là cơ sở pháp lý đầu tiên cho việc hình thành một hệ thống cơ quan trong trong bộ máy nhà nước, có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế XHCN Thuật ngữ “quyền công tố” được ghi nhận lần đầu tiên trong Hiến Pháp 1980, sau đó tiếp tục được ghi nhận trong Hiến Pháp 1992, BLTTHS năm 1988, BLTTHS năm 2003, Luật tổ chức VKSND năm

1981, Luật tổ chức VKSND năm 1992, Luật tổ chức VKSND năm 2002 và nay là Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức VKSND năm 2014

Quyền công tố gắn liền với sự buộc tội của nhà nước, phát sinh khi có tội phạm, tức là khi có hành vi nguy hiểm cho xã hội xảy ra, do chủ thể có năng lực trách nhiệm hình sự, xâm phạm tới các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo

vệ Đó là quan hệ giữa một bên là nhà nước (bên có quyền lực và đứng ra buộc tội), quyền đó được nhà nước giao cho VKSND và một bên là người thực hiện hành vi phạm tội hoặc pháp nhân thương mại (là người, tổ chức bị truy cứu trách nhiệm hình sự)

Quyền công tố là một trong những phương tiện quan trọng của Nhà nước để thực hiện quyền lực Nhà nước trong đấu tranh và phòng chống tội phạm, vi phạm pháp luật, bảo vệ lợi ích của Nhà nước và của

xã hội, trong đó, VKSND có vai trò to lớn và trách nhiệm nặng nề trong THQCT Nhà nước, là cơ quan duy nhất đại diện cho Nhà nước truy tố đối với người phạm tội ra trước Tòa án [16]

Trang 26

Quyền công tố chỉ xuất hiện trong tố tụng hình sự

Thực hành quyền công tố chỉ tồn tại trong tố tụng hình sự, gắn liền với chức năng buộc tội Do đó, tiếp cận khái niệm thực hành quyền công

tố theo nghĩa rộng cũng chính là thực hành quyền công tố trong tố tụng

hình sự [19]

Quyền công tố nó gắn liền với chức năng buộc tội mà nhà nước giao cho cơ quan có thẩm quyền (VKSND) và cơ quan này có trách nhiệm truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, pháp nhân thương mại Quyền công tố xuất hiện từ khi có hành vi phạm tội xảy ra và đó cũng là cơ sở để cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện các hoạt động tố tụng, thực hiện các quyền năng pháp lý do pháp luật quy định, nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự, thu thập chứng cứ, chứng minh hành vi phạm tội và tiến hành truy tố, buộc tội người thực hiện hành vi phạm tội trước Tòa án

Quyền công tố ở Việt Nam là quyền của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam giao cho VKSND, căn cứ vào những quy định của pháp luật để thực hiện việc truy cứu TNHS đối với người thực hiện hành vi phạm tội và thực hiện việc buộc tội trước Toà án, bảo đảm việc truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội

Quyền công tố như một sợi dây xuyên suốt quá trình tố tụng về vụ

án hình sự mà nòng cốt là đưa vụ án đó ra xét xử tại Toà án Việc chia cắt hay lấy một vài quyền năng thuộc nội dung quyền công tố và cho rằng có nhiều cơ quan THQCT là sai lầm không thể chấp nhận được, không phải chủ thể nào có quyền khởi tố vụ án hình sự cũng đều là chủ thể THQCT mà phải xác định chủ thể nào được giao nhiệm vụ đưa vụ án

ra xét xử tại Toà án, thì chủ thể ấy chính là cơ quan THQCT [12]

Như vậy, quyền công tố là một loại quyền lực nhà nước, giao cho cơ quan có

thẩm quyền (ở Việt Nam là Viện kiểm sát nhân dân) thực hiện, nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội ra trước Tòa án để xét xử và bảo vệ sự buộc tội đó tại phiên tòa

Trang 27

* Thực hành quyền công tố

Việc nhận thức đúng, đầy đủ về THQCT có ý nghĩa rất quan trọng nhằm để phân định rõ ràng, đúng đắn chức năng, nhiệm vụ, cũng như xác định rõ vị trí, vai trò của VKSND trong hệ thống các cơ quan trong bộ máy nhà nước nói chung và trong mối liên hệ với các cơ quan tư pháp nói riêng Đồng thời, bảo đảm việc nhận thức thống nhất trong hoạt động thực tiễn nhằm giúp cho cơ quan VKS thực hiện chức năng, nhiệm vụ đạt hiệu quả cao

Từ điển Luật học định nghĩa: “Thực hành quyền công tố là việc sử dụng tổng

hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong các giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử” [34,

tr.457]

Tại Điều 3 Luật tổ chức VKSND năm 2014 quy định:

Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy

tố, xét xử vụ án hình sự [27]

Thực hành quyền công tố là quyền năng được cụ thể hóa trong các quy phạm pháp luật và chỉ phát huy hiệu quả trong thực tế khi THQCT được triển khai thực hiện một cách đúng đắn bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền đó là VKSND Để THQCT trong thực tiễn, Nhà nước đã ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND được phép áp dụng

để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi phạm tội và bảo vệ

sự buộc tội đó trước Tòa án

Như vậy, Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân

trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự

Trang 28

cơ quan có thẩm quyền, VKS trực tiếp phát hiện tội phạm hoặc tiếp nhận, xử lý tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố thì khi đó VKS mới có căn cứ để thực hiện QCT Đó là giai đoạn VKS thực THQCT trong việc giải quyết tố giác, tin báo

về tội phạm và kiến nghị khởi tố

Theo tiến sỹ Lê Hữu Thể thì: Phạm vi thực hành quyền công tố bắt đầu từ khi phát hiện tội phạm, dấu vết của tội phạm mà Cơ quan điều tra hoặc các cơ quan có thẩm quyền điều tra tiến hành các biện pháp do pháp luật quy định để điều tra, thu thập chứng cứ và kết thúc khi bản án

đã có hiệu lực pháp luật hoặc vụ án được đình chỉ theo qui định của pháp

luật tố tụng hình sự [32, tr.61- 62]

Từ những quy định của BLTTHS thì THQCT là những quyền năng pháp lý

mà VKS trực tiếp thực hiện để truy cứu TNHS người phạm tội như: quyết định khởi

tố vụ án hình sự, khởi tố bị can, quyết định áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ các biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam, phê chuẩn hay không phê chuẩn các quyết định của CQĐT, quyết định truy tố bị can, đọc cáo trạng, thực hiện việc luận tội, tranh luận… THQCT được thực hiện ở tất cả các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự

và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng cáo, kháng nghị hoặc

vụ án được đình chỉ đúng quy định của pháp luật

* Thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra

Giai đoạn điều tra vụ án hình sự là giai đoạn có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, do đó việc xác định đúng phạm vi THQCT của VKS trong giai đoạn này là rất cần thiết Như đã phân tích ở trên thì VKSND khi THQCT ở giai đoạn điều tra là thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn

Trang 29

như: khởi tố vụ án, yêu cầu khởi tố vụ án, hủy bỏ các quyết định trái pháp luật của CQĐT… và xuyên suốt trong quá trình điều tra vụ án Do đó, phạm vi THQCT của VKS trong giai đoạn điều tra bao trùm cả hoạt động khởi tố, yêu cầu khởi tố, điều tra và đến khi kết thúc việc điều tra vụ án hoặc vụ án được đình chỉ khi có căn cứ theo quy định của pháp luật

Như vậy, Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự là

hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện từ khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm xảy ra và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra vụ án hình sự

1.2.1.2 Kiểm sát điều tra vụ án hình sự

Điều tra vụ án hình sự là giai rất quan trọng trong suốt quá trình giải quyết vụ

án hình sự “Điều tra là hoạt động phát hiện, thu thập chứng cứ theo trình tự, thủ

tục do Bộ luật tố tụng hình sự quy định cho cơ quan điều tra và một số cơ quan được giao nhiệm vụ điều tra tiến hành trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự để xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội.”[17, tr 11] Ở giai đoạn này,

CQĐT căn cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng hình sự để tiến hành điều tra làm rõ hành vi phạm tội, thu thập chứng cứ buộc tội, gỡ tội cũng như trách nhiệm dân sự có liên quan… nhằm phát hiện nhanh chóng và đầy đủ tội phạm cũng như người thực hiện hành vi phạm tội và có sự kiểm sát của VKS theo quy định của pháp luật Kết thúc điều tra vụ án, CQĐT chuyển hồ sơ vụ án kèm theo bản kết luận điều tra cho VKS để đề nghị truy tố bị can đã thực hiện hành vi phạm tội hoặc đình chỉ, tạm đình chỉ điều tra vụ án khi có căn cứ theo quy định của pháp luật

Để bảo đảm cho hoạt động điều tra được tuân thủ đúng quy định của pháp luật thì hoạt động KSĐT của VKSND đóng vai trò hết sức quan trọng Tại Điều 4

Luật tổ chức VKSND năm 2014 quy định: "Kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt

động của Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay

từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự "[27]

Trang 30

Hoạt động KSĐT vụ án hình sự của VKS là kiểm sát việc tuân theo pháp luật

tố tụng hình sự của của CQĐT và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong suốt quá trình điều tra vụ án hình sự Hoạt động KSĐT là một chức năng cơ bản của VKS mà nội dung cơ bản là kiểm tra tính có căn cứ và tính hợp pháp các hoạt động tố tụng hình sự được thực hiện bởi CQĐT hoặc các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, nhằm bảo đảm cho hoạt động điều tra được thực hiện đúng quy định của pháp luật

tố tụng hình sự, là cơ sở bảo đảm cho việc truy tố, xét xử vụ án hình sự đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội

Cũng như THQCT, phạm vi của hoạt động KSĐT vụ án hình sự được xác định bắt đầu từ khi có tội phạm xảy ra Tuy nhiên, trên thực tế KSĐT chỉ bắt đầu khi cơ quan có thẩm quyền, VKS trực tiếp phát hiện tội phạm hoặc tiếp nhận, xử lý tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố thì mới có căn cứ cho hoạt động KSĐT và kết thúc khi vụ án được kết thúc điều tra, CQĐT chuyển hồ sơ vụ án cùng Bản kết luận điều tra cho VKS đề nghị truy tố hoặc khi CQĐT ra quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ điều tra vụ án khi có căn cứ theo luật định

Như vậy, Kiểm sát điều tra vụ án hình sự là hoạt động của Viện kiểm sát

nhân dân để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tố tụng hình sự, được thực hiện ngay từ có dấu hiệu tội phạm và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra vụ án hình sự

1.2.1.3 Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự

* Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân khi thực hành quyền công

tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự

Nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND khi THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án

hình sự được quy định trong Hiến pháp năm 2013, BLTTHS, Luật tổ chức năm 2014

Khoản 3 Điều 107 Hiến pháp 2013 quy định:

Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo

Trang 31

vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất [26] Theo quy định tại Điều 14 của Luật tổ chức VKSND năm 2014 thì khi THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, VKS có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1 Yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khởi tố hoặc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can

2 Hủy bỏ các quyết định khởi tố, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án, quyết định không khởi tố vụ án trái pháp luật; phê chuẩn, hoặc hủy bỏ quyết định khởi tố, quyết định thay đổi hoặc

bổ sung quyết định khởi tố bị can trái pháp luật

3 Khởi tố, thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can trong những trường hợp do Bộ luật tố tụng hình sự quy định

4 Phê chuẩn, không phê chuẩn việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp, gia hạn tạm giữ, việc tạm giam và các biện pháp khác hạn chế quyền con người, quyền công dân

5 Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam, các biện pháp ngăn chặn và các biện pháp khác hạn chế quyền con người, quyền công dân theo quy định của luật

6 Phê chuẩn, không phê chuẩn, hủy bỏ các quyết định tố tụng khác của cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra

7 Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện việc điều tra để làm rõ tội phạm, người phạm tội; yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can

8 Trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra trong trường hợp

để kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ khi xét phê chuẩn các lệnh, quyết

Trang 32

định của cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc trong trường hợp phát hiện có dấu hiệu oan, sai,

bỏ lọt tội phạm, vi phạm pháp luật mà Viện kiểm sát nhân dân đã yêu cầu nhưng không được khắc phục

9 Khởi tố hoặc yêu cầu cơ quan điều tra khởi tố vụ án hình sự khi phát hiện hành vi của người có thẩm quyền trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra có dấu hiệu tội phạm

10 Quyết định việc gia hạn thời hạn điều tra, thời hạn tạm giam, chuyển vụ án, áp dụng thủ tục rút gọn, áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh

11 Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong việc thực hành quyền công tố theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự [27]

Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung QCT để bảo đảm cho công tác điều tra được khách quan, toàn diện, đúng quy định của pháp luật, nhanh chóng, kịp thời nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, tránh oan, sai, bỏ lọt tội phạm và hành vi phạm tội Nội dung các quyền của VKSND khi THQCT trong giai đoạn điều tra được khẳng định và cụ thể hoá trong BLTTHS và Luật tổ chức VKSND Theo đó, khi THQCT trong giai đoạn điều tra, VKS có quyền phê chuẩn, không phê chuẩn quyết định của CQĐT, hủy bỏ các quyết định trái pháp luật của CQĐT, quyền khởi tố, yêu cầu khởi tố, thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố, quyết định áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp bắt, tạm giữ, gia hạn tạm giữ, tạm giam và các biện pháp ngăn chặn khác pháp luật quy định Quyết định tố tụng của VKS buộc CQĐT phải thực hiện Trong một số trường hợp, nếu không nhất trí với quyết định của VKS thì CQĐT vẫn phải chấp hành, nhưng có quyền kiến nghị với VKS cấp trên trực tiếp Ngoài ra VKS còn có quyền

tự mình trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra khi xét thấy cần thiết Điều đó

cho thấy, nhiệm vụ và quyền hạn của VKS trong THQCT ở giai đoạn điều tra vụ án hình sự là rất lớn, vì vậy yêu cầu đặt ra đối với VKS trong việc chấp hành pháp luật

Trang 33

TTHS là rất cao, nếu để xảy ra sai sót thì gây ra hậu quả rất lớn, làm ảnh hưởng đến

quyền con người, quyền công dân và uy tín của ngành Kiểm sát

Trên thực tế thì việc VKS hủy bỏ các quyết định của CQĐT hoặc quyết định không phê chuẩn các quyết định của CQĐT là không nhiều do công tác phối hợp giữa hai cơ quan, nếu CQĐT ra quyết định trái pháp luật thì thông thường, VKS sẽ yêu cầu CQĐT rút quyết định đó, nếu CQĐT không rút thì lúc đó VKS mới ra quyết định hủy bỏ hoặc quyết định không phê chuẩn quyết định của CQĐT Để nâng cao chất lượng, hiệu quả trong công tác THQCT của VKS ở giai đoạn điều tra thì việc đề ra yêu cầu điều tra có ý nghĩa quan trọng của hoạt động điều tra CQĐT

có thực hiện điều tra vụ án khách quan, toàn diện, nhanh chóng, kịp thời hay không thì ngoài tinh thần trách nhiệm, khả năng của ĐTV thì còn có yếu tố ảnh hưởng rất lớn đó là việc đề ra yêu cầu điều tra của VKS có chất lượng hay không, có chi tiết, sát thực hay không Vì thế cho nên, KSV được phân công THQCT và KSĐT vụ án hình sự phải thực hiện kiểm sát ngay từ đầu, sau khi vụ án được khởi tố, KSV cần nghiên cứu kỹ hồ sơ để ban hành bản yêu cầu điều tra, thường xuyên phải bám sát quá trình điều tra để đề ra yêu cầu điều tra kịp thời, chính xác, giúp cho ĐTV điều tra đúng hướng, thu thập đầy đủ các chứng cứ buộc tội cũng như gỡ tội nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả trong việc điều tra, khám phá án Thực hiện tốt công tác THQCT trong KSĐT sẽ hạn chế được tình trạng trả hồ sơ để điều tra bổ sung giữa các cơ quan THTT, tránh được tình trạng thiếu chứng cứ buộc tội, gỡ tội dẫn đến khi xét xử Tòa án tuyên bị cáo không phạm tội hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung

* Nhiệm vụ và quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân khi kiểm sát điều tra vụ

2 Kiểm sát hoạt động tố tụng hình sự của người tham gia tố tụng; yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý

Trang 34

nghiêm minh người tham gia tố tụng vi phạm pháp luật

3 Giải quyết tranh chấp về thẩm quyền điều tra

4 Yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra cung cấp tài liệu liên quan để kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc khởi tố, điều tra khi cần thiết

5 Kiến nghị, yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm

vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khắc phục vi phạm trong việc khởi tố, điều tra

6 Yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm

vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thay đổi Điều tra viên, cán bộ điều tra; xử lý nghiêm minh Điều tra viên, cán bộ điều tra vi phạm pháp luật trong hoạt động tố tụng

7 Kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật

8 Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong kiểm sát điều tra vụ

án hình sự theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự [27]

Theo quy đinh của Luật tổ chức VKSND năm 2014 thì VKSND có quyền áp dụng mọi biện pháp cần thiết theo quy định của pháp luật trong hoạt động KSĐT, nhằm bảo đảm cho hoạt động điều tra vụ án hình sự được tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của BLTTHS, bảo đảm cho việc khởi tố, điều tra vụ án hình sự được nhanh chóng, kịp thời Từ đó, bảo đảm cho việc truy tố đúng người, đúng tội và đúng pháp luật

Thông qua công tác tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi

tố, CQĐT hoặc các cơ quan khác được giao tiến hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm áp dụng các biện pháp theo quy định của pháp luật để thu thập thông tin, tài liệu, chứng cứ nhằm xác định có sự việc phạm tội hay không, có người thực hiện hành vi phạm tội hay không Qua kết quả điều tra, xác minh ban đầu để đưa

ra được các nhận xét, đánh giá nhằm xác định có dấu hiệu của tội phạm hình sự hay không, nếu có thì phạm tội gì, ai là người thực hiện hành vi phạm tội, người đó có năng lực trách nhiệm hình sự hay không, vụ án có thuộc thẩm quyền điều tra của

Trang 35

CQĐT nào , khi đã xác định chính xác có dấu hiệu của tội phạm hình sự, thì CQĐT ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự Khi nào xác định rõ người thực hiện hành vi phạm tội và người đó có năng lực trách nhiệm hình sự thì CQĐT ra Quyết định khởi tố bị can để tiến hành điều tra theo quy định của BLTTHS

Khi thực hiện nhiệm vụ KSĐT, KSV được phân công KSĐT có trách nhiệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng như: bị can, người bị hại, người làm chứng, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi cho bị can, người đại diện hợp pháp cho bị can, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ; giải quyết các tranh chấp về thẩm quyền điều tra theo quy định của pháp luật trong các trường hợp có tranh chấp về thẩm quyền điều tra, chẳng hạn như tranh chấp giữa CQĐT nơi xảy ra tội phạm với CQĐT nơi phát hiện người phạm tội, tranh chấp giữa CQĐT trong quân đội và CQĐT ngoài quân đội ; trong quá trình KSĐT, nếu phát hiện ra vi phạm của CQĐT thì yêu cầu CQĐT khắc phục các vi phạm pháp luật trong hoạt động điều tra, nếu phát hiện ĐTV có vi phạm thì yêu cầu Thủ trưởng CQĐT xử lý nghiêm minh ĐTV đã vi phạm pháp luật trong hoạt động điều tra, yêu cầu thay đổi ĐTV, cán bộ điều tra nếu xét thấy cần thiết Ngoài ra, để làm giảm bớt tình hình vi phạm, tội phạm thì trong quá trình KSĐT, VKS còn có nhiệm vụ kiến nghị với CQĐT, cơ quan, tổ chức và đơn vị hữu quan áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật

Như vậy, có thể nói tất cả các hoạt động thực hiện chức năng của VKS trong hoạt động THQCT và KSĐT là nhằm bảo đảm quyền con người, quyền công dân không bị xâm phạm một cách trái pháp luật, mọi hành vi phạm tội đều phải được phát hiện, xử lý nghiêm minh, kịp thời theo quy định của pháp luật, tránh oan sai,

bỏ lọt hành vi phạm tội và người phạm tội, góp phần bảo đảm an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội

1.2.1.4 Mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự

Về mặt lý luận thì hai chức năng của VKSND là THQCT và KSĐT là hai chức năng khác nhau, độc lập với nhau theo quy định của pháp luật, nhưng trong thực tiễn ADPL thì hai chức năng này còn có mối quan hệ biện chứng với nhau, gắn chặt với nhau, đan xen, hỗ trợ, tác động qua lại lẫn nhau trong quá trình thực hiện

Trang 36

Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã nhấn mạnh phải

“Tăng cường công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra”

[8] Mối quan hệ giữa chức năng THQCT và KSĐT được bắt đầu từ khi có tội phạm xảy ra cho đến khi kết thúc việc điều tra, CQĐT ra Bản kết luận điều tra và chuyển toàn bộ hồ sơ cùng Bản kết luận điều tra đến VKS để đề nghị truy tố hoặc vụ án được đình chỉ điều tra, tạm đình chỉ điều tra khi có căn cứ theo quy định của pháp luật

Để việc truy cứu đúng người, đúng tội, đúng pháp luật thì VKS phải thực hiện đồng thời cả hai chức năng THQCT và KSĐT Tuy nhiên cũng cần lưu ý, dù hai chức năng này có mối liên hệ mật thiết với nhau, đan xen nhau, nhưng đây là hai

chức năng riêng biệt của VKSND, có nội hàm khác nhau “Trong quá trình thực

hiện, dù giữa hai chức năng này có một số nội dung đan xen, liên hệ chặt chẽ và tác động qua lại với nhau, nhưng không thể vì thế mà phủ nhận được tính độc lập của chúng cả về nội dung lẫn phạm vi áp dụng” [45, tr.10]

Nội dung của hoạt động THQCT là nhằm bảo đảm cho việc thu thập các chứng cứ chứng minh buộc tội, gỡ tội với mục đích để truy cứu TNHS đối với tội phạm và người phạm tội, bảo đảm việc khởi tố, điều tra đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để xảy ra oan, sai bỏ lọt hành vi phạm tội, người phạm tội; mục đích của hoạt động KSĐT là bảo đảm cho các hoạt động điều tra được đầy đủ, khách quan, toàn diện, đúng quy định của BLTTHS và các quy định khác của pháp luật có liên quan; thực hiện các quyền kiến nghị đối với cơ quan, tổ chức hữu quan

áp dụng biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật Do đó, công tác THQCT sẽ tạo điều kiện bảo đảm cho hoạt động KSĐT của VKS đúng pháp luật, đạt hiệu quả và ngược lại, công tác KSĐT sẽ kịp thời phát hiện những vi phạm pháp luật trong khi tiến hành điều tra của CQĐT để hoạt động THQCT phát huy quyền năng pháp lý của VKS theo quy định của pháp luật

Như vậy, có thể nói THQCT và KSĐT là hai chức năng có tính độc lập của VKS theo quy định của pháp luật, nhưng hai chức năng này có mối quan hệ mật thiết với nhau và đều nằm trong một thể thống nhất biện chứng, đan xen, có tác động qua lại lẫn nhau Quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của VKS phải có sự

Trang 37

gắn kết giữa hai chức năng này nhằm bảo đảm việc điều tra vụ án hình sự phải được tiến hành khách quan, toàn diện và đúng quy định của pháp luật Những vi phạm pháp luật trong quá trình điều tra phải được kịp thời phát hiện và khắc phục Không

để bất cứ người nào bị bắt, tạm giữ, khởi tố, tạm giam, bị hạn chế quyền con người, quyền công dân trái quy định của pháp luật

1.2.1.5 Phạm vi của hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự

Theo Quy chế công tác THQCT và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự (Ban hành kèm theo Quyết định số 07/2008/QĐ-VKSTC) của Viện trưởng VKSND tối cao thì phạm vi của THQCT và KSĐT vụ án

hình sự được quy định: “Công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát tuân theo

pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự bắt đầu từ khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm xảy ra đến khi kết thúc việc điều tra, Viện kiểm sát ra quyết định truy tố hoặc đình chỉ vụ án theo quy định của pháp luật” [43] Tức là phạm vi THQCT và

KSĐT bắt đầu từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và kết thúc khi VKS quyết định truy tố bị can ra trước toà để xét xử hoặc khi vụ án được

đình chỉ theo quy định của pháp luật

Nhưng hiện nay Luật tổ chức VKSND năm 2014 có hiệu lực thi hành từ ngày

01 tháng 6 năm 2015, tại chương II về các công tác thực hiện chức năng, nhiệm vụ của VKSND quy định ở 10 mục bao gồm: Mục 1: THQCT, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; Mục 2: THQCT và KSĐT vụ án hình sự; Mục 3: THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn truy tố; Mục 4: THQCT và kiểm sát xét xử vụ án hình sự… Mục 10: Thống kê tội phạm và các công tác khác

Theo quy định Bộ luật TTHS 2015 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018), thì tại Điều 165 quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của VKS khi THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, được thực hiện từ khi có hoạt động bắt, giữ người trong trường hợp khẩn cấp, gia hạn tạm giữ… theo thủ tục tố tụng hình sự cho đến khi kết thúc hoạt động điều tra vụ án, tức là vụ án được đình chỉ

Trang 38

điều tra hoặc CQĐT kết thúc điều tra chuyển hồ sơ vụ án để đề nghị VKS truy tố Quy định của BLTTHS 2015 về phạm vi THQCT của VKS trong giai đoạn điều tra

vụ án hình sự là phù hợp với quy định của Luật tổ chức VKSND năm 2014

Như vậy, phạm vi của hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều

tra vụ án hình sự được thực hiện bắt đầu từ khi có dấu hiệu tội phạm như: bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ… theo thủ tục tố tụng hình sự và kết thúc khi vụ án được kết thúc điều tra, cơ quan điều tra chuyển hồ sơ vụ án cùng bản kết luận điều tra cho Viện kiểm sát để đề nghị truy tố hoặc khi vụ án được tạm đình chỉ, đình chỉ điều tra vụ án khi có căn cứ theo quy định của pháp luật

1.2.2 Khái niệm, đặc điểm của áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố

và kiểm sát điều tra vụ án hình sự

1.2.2.1 Khái niệm áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự

Áp dụng pháp luật trong THQCT và KSĐT vụ án hình sự là một trong những hình thức thực hiện pháp luật nói chung và trong lĩnh vực giải quyết vụ án hình sự ở giai đoạn điều tra nói riêng Khi có dấu hiệu tội phạm xảy ra thì đó cũng là căn cứ pháp lý cho hoạt động ADPL của VKSND trong THQCT và KSĐT vụ án hình sự được thực hiện Khi đó, CQĐT, VKS sẽ ban hành các quyết định TTHS ĐTV, KSV thực hiện các hành vi của những người THTT trong hoạt động TTHS Tuy nhiên, trong thực tiễn, các quyết định và các hành vi của cơ quan THTT, người THTT, của người tham gia tố tụng có thể được ban hành, thực hiện không đúng quy định của pháp luật Vì vậy, Nhà nước giao cho VKSND thực hiện chức năng, nhiệm

vụ, quyền hạn trong hoạt động THQCT và KSĐT nhằm sử dụng các quyền năng pháp lý để phê chuẩn hoặc ban hành các quyết định có tính bắt buộc các chủ thể trong quan hệ pháp luật về điều tra vụ án hình sự phải thực hiện, đồng thời thông qua hoạt động KSĐT nhằm phát hiện những sai phạm, để kịp thời đề ra các yêu cầu, kiến nghị các chủ thể có liên quan trong quá trình điều tra vụ án hình sự khắc phục, sửa chữa Các hoạt động này đều có mục đích nhằm bảo đảm cho việc giải quyết các vụ án hình sự được tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật nói chung và

Trang 39

pháp luật về TTHS nói riêng, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của các tổ chức

Như vậy, Áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố và kiểm sát điều

tra vụ án hình sự là hoạt động áp dụng pháp luật của Viện kiểm sát nhân dân trong

tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, đồng thời kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức,

cá nhân trong hoạt động tố tụng hình sự, được thực hiện từ có dấu hiệu tội phạm và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra vụ án hình sự

1.2.2.2 Đặc điểm của áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự

Hoạt động áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự của VKSND có những đặc điểm cơ bản như sau:

Thứ nhất, áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố và kiểm sát điều

tra vụ án hình sự là hoạt động chỉ do Viện kiểm sát nhân dân tiến hành theo pháp luật quy định

Hiến pháp 2013 quy định: “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố,

kiểm sát hoạt động tư pháp” [26] THQCT và KSĐT chỉ có VKSND là cơ quan duy

nhất được tiến hành, chức năng này theo quy định của Hiến pháp, được cụ thể hóa trong quy định của BLTTHS và các Điều 14, 15 Luật tổ chức VKSND năm 2014

Ngoài VKSND thì không có cơ quan, tổ chức nào được giao nhiệm vụ THQCT và KSĐT Trong quá trình THQCT và KSĐT, thì VKSND có quyền áp dụng mọi biện pháp cần thiết theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm cho việc khởi tố, điều tra vụ án hình sự được tuân theo quy định của pháp luật, không để xảy

ra oan, sai, bỏ lọt tội phạm

Thứ hai, khi tiến hành hoạt động áp dụng pháp luật trong thực hành quyền

công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự, Viện kiểm sát nhân dân phải tuân thủ những quy định về trình tự, thủ tục do pháp luật về tố tụng hình sự quy định

Tuân thủ pháp luật là yêu cầu bắt buộc chung trong tất cả các hoạt động xây dựng, thực hiện pháp luật Trong hoạt động THQCT và KSĐT của VKSND lại càng

Trang 40

được đề cao nội dung này Pháp luật về TTHS quy định rất rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ thể THTT và mỗi hoạt động TTHS đều có sự giám sát chặt chẽ Đây là những hoạt động rất quan trọng, có tính quyết định trong quá trình giải quyết những vụ án hình sự Hơn nữa trong lĩnh vực điều tra vụ án hình sự có sự liên quan và ảnh hưởng trực tiếp đến quyền con người, quyền công dân nên đòi hỏi không những CQĐT và cơ quan được giao một số nhiệm vụ điều tra phải tuân thủ pháp luật mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn đối với VKSND khi THQCT và KSĐT vụ

án hình sự, phải tuân thủ những quy định về trình tự, thủ tục do pháp luật quy định nhằm mục tiêu là bảo đảm cho công tác điều tra, truy tố, xét xử đúng pháp luật

Thứ ba, quyết định áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố và kiểm

sát điều tra của Viện kiểm sát nhân dân có hiệu lực bắt buộc rất cao, được pháp luật

bảo đảm thi hành

Để quyết định ADPL trong THQCT và KSĐT của VKSND có hiệu lực thi hành thì pháp luật quy định trách nhiệm của CQĐT là phải thực hiện các yêu cầu và quyết định của VKS Tại Điều 114 BLTTHS năm 2003 quy định:

Cơ quan điều tra có trách nhiệm thực hiện các yêu cầu và quyết định của Viện kiểm sát Đối với những yêu cầu và quyết định quy định tại các điểm 4, 5 và 6 Điều 112 của Bộ luật này, nếu không nhất trí, Cơ quan điều tra vẫn phải chấp hành, nhưng có quyền kiến nghị với Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp Trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày nhận được kiến nghị của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp phải xem xét, giải quyết và thông báo kết quả giải quyết cho cơ quan

đã kiến nghị [23]

Theo quy định của pháp luật thì quyết định ADPL trong THQCT và KSĐT của VKSND buộc CQĐT, cơ quan được giao một số nhiệm vụ điều tra phải thi hành, nếu các cơ quan này phát hiện quyết định, yêu cầu của VKS trái pháp luật cũng phải thi hành nhưng có quyền kiến nghị lên VKS cấp trên trực tiếp Quy định này nhằm bảo đảm quyết định ADPL trong THQCT và KSĐT của VKSND được thi hành trên thực tế Tuy nhiên, khi ra quyết định, yêu cầu đòi hỏi VKSND phải

Ngày đăng: 25/10/2018, 23:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w