1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phát triển dịch vụ logistics trong giao nhận, vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu kinh nghiệm quốc tế và bài học cho việt nam

99 273 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó tác giả nghiên cứu lựa chọn đề tài “Phát triển dịch vụ logistics trong giao nhận, vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu: kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam” để trình bày bức t

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-NGUYỄN THỊ HÀ LY

PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ LOGISTICS TRONG GIAO NHẬN,

VẬN TẢI HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU:

KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU

Hà Nội - 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-NGUYỄN THỊ HÀ LY

PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ LOGISTICS TRONG GIAO NHẬN,

VẬN TẢI HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU:

KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM

Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, chưa được công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào của người khác Việc sử dụng kết quả, trích dẫn tài liệu của người khác đảm bảo theo đúng các quy định Các nội dung trích dẫn và tham khảo các tài liệu, sách báo, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí và trang web theo danh mục tài liệu tham khảo của luận văn

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hà Ly

Trang 4

sở cho tôi thực hiện luận văn này

Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới PGS TS Hà Văn Hội, người đã hết sức tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và định hướng cho tôi chọn đề tài nghiên cứu, cơ sở lý luận cũng như khảo sát thực tế trong quá trình thực hiện viết luận văn tốt nghiệp

Do thời gian nghiên cứu có hạn và kinh nghiệm nghiên cứu chưa nhiều nên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến đóng góp của quý thầy cô để học viên tiếp tục hoàn thiện công tác nghiên cứu trong thời gian tới

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 20 tháng 11 năm 2017

Học viên

Nguyễn Thị Hà Ly

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT I DANH MỤC BẢNG II DANH MỤC BIỂU ĐỒ II DANH MỤC SƠ ĐỒ III

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 7 1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 7

1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN 14

1.2.1 Khái niệm và lịch sử hình thành logistics 14

1.2.2 Đặc điểm và phân loại dịch vụ logistics 18

1.2.3 Vai trò của phát triển dịch vụ logistics trong giao nhận, vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu 23

1.2.4 Khái quát về giao nhận, vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu và mối quan hệ với hoạt động logistics 26

1.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc phát triển dịch vụ logistics trong giao nhận, vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu 30

1.2.6 Nội dung phát triển dịch vụ logistics trong giao nhận, vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu 35

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37

2.1 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU 37

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỤ THỂ 38

2.2.1 Phương pháp case study 38

2.2.2 Phương pháp phân tích tổng hợp 38

2.2.3 Phương pháp thống kê 39

2.2.4 Phương pháp so sánh 39

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ LOGISTICS TRONG GIAO NHẬN, VẬN TẢI HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU TẠI SINGAPORE VÀ NHẬT BẢN 40

Trang 6

3.1 PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ LOGISTICS TRONG GIAO NHẬN,VẬN TẢI

HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU TẠI SINGAPORE 40

3.1.1 Thực trạng phát triển dịch vụ logistics tại Singapore 40

3.1.2 Chiến lược và chính sách phát triển dịch vụ logistics của chính phủ Singapore 45

3.1.3 Đánh giá về sự phát triển dịch vụ logistics của Singapore 48

3.2 PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ LOGISTICS TRONG GIAO NHẬN,VẬN TẢI HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU TẠI NHẬT BẢN 52

3.2.1 Thực trạng phát triển dịch vụ logistics tại Nhật Bản 52

3.2.2 Chiến lược và chính sách phát triển dịch vụ logistics của chính phủ Nhật Bản 59

3.2.3 Đánh giá sự phát triển dịch vụ logistics của Nhật Bản 61

CHƯƠNG 4 PHÁT TRIỂN LOGISTICS TRONG GIAO NHẬN, VẬN TẢI HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM VÀ BÀI HỌC TỪ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ 65

4.1 KHÁI QUÁT VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA DỊCH VỤ LOGISTICS TRONG GIAO NHẬN, VẬN TẢI HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM 65 4.1.1 Kết quả và thành tựu đã đạt được trong phát triển dịch vụ logistics trong giao nhận, vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu Việt Nam 65

4.1.2 Những hạn chế còn tồn tại 72

4.2 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ LOGISTICS TRONG GIAO NHẬN, VẬN TẢI HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM 74

4.2.1 Cơ hội và thách thức 74

4.2.2 Định hướng và chiến lược phát triển 76

4.3 MỘT SỐ HÀM Ý, GIẢI PHÁP CHO PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ LOGISTICS TRONG GIAO NHẬN, VẬN TẢI HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU TẠI VIỆT NAM TỪ BÀI HỌC QUỐC TẾ 79

4.3.1 Nhóm giải pháp tầm vĩ mô 79

4.3.2 Nhóm giải pháp tầm vi mô 81

KẾT LUẬN 83

TÀI LIỆU THAM KHẢO 86

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

TT Ký hiệu Nguyên nghĩa

1 ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

2 AFTA Khu vực Thương mại Tự do ASEAN

3 APEC Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương

4 ASEM Hội nghị Á - Âu

5 EVFTA Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU

6 FIATA Liên đoàn Các Hiệp hội Giao nhận Vận tải Quốc tế

7 GDP Tổng sản phẩm quốc nội

8 LPI Chỉ số năng lực quốc gia về Logistics

9 MNCs Các công ty đa quốc gia

10 SMEs Các doanh nghiệp vừa và nhỏ

11 SWOT Điểm mạnh, Điểm yếu, Cơ hội,Thách thức

12 USD Đồng đô la Mỹ

13 VCIS Hệ thống cơ sở dữ liệu thông tin nghiệp vụ

14 VCUFTA Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh hải

quan (Belarus, Kazakhstan và Nga)

15 VKFTA Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - Hàn Quốc

16 VNACCS Hệ thống thông quan tự động

17 WTO Tổ chức thương mại thế giới

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

2 Bảng 3.2 Xếp hạng hiệu quả hoạt động logistics theo chỉ số LPI

của một số quốc gia trên thế giới năm 2016 42

3 Bảng 3.3 Khối lượng hàng hóa vận chuyển nội địa của Nhật

Bản theo các phương thức vận tải năm 2013 - 2014 56

4 Bảng 3.4 Xếp hạng năng lực khai thác một số cảng biển ở Nhật

5 Bảng 4.1 Tốc độ phát triển xuất nhập khẩu của Việt Nam năm

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

1 Biểu đồ 3.1 Chỉ số và xếp hạng LPI của Singapore giai đoạn 2007

Trang 9

DANH MỤC SƠ ĐỒ

1 Sơ đồ 1.1 Các hình thức của dịch vụ logistics 19

2 Sơ đồ 1.2 Giao nhận, vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu trong

3 Sơ đồ 1.3 Hệ thống dịch vụ logistics trong nền kinh tế quốc dân 30

5 Sơ đồ 3.1 Tình hình khai thác hàng không và hàng biển của

Singapore giai đoạn 2011 – 2016 45

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Trong những năm gần đây, nền kinh thế giới đang tiến sâu vào kỷ nguyên hội nhập quốc tế, hợp tác phát triển diễn ra mạnh mẽ và sâu rộng trên phạm vi khu vực và phạm vi toàn cầu Không nằm ngoài xu hướng tất yếu này, Việt Nam đã là thành viên chính thức của các tổ chức ASEAN, ASEM, APEC, WTO… đồng thời cũng ký kết được rất nhiều hiệp định thương mại tự

do song phương, đa phương như AFTA, VKFTA, EVFTA, VCUFTA… nhằm thúc đẩy hoạt động hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng giao lưu mối quan hệ thương mại với các nước, các tổ chức, tạo ra nhiều cơ hội đưa Việt Nam trở thành quốc gia có nền kinh tế phát triển, sánh vai với các cường quốc năm châu như lời bác Hồ đã dạy năm nào Một điều rõ ràng có thể thấy được, Việt Nam hội nhập vào nền kinh tế thế giới sẽ đẩy mạnh hoạt động thương mại quốc tế, xuất nhập khẩu, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, góp phần không nhỏ vào sự tăng trưởng của nền kinh tế quốc gia

Trong bối cảnh đó, nhu cầu về logistics ngày càng tăng và trở thành một

bộ phận không thể thiếu của các doanh nghiệp cũng như toàn bộ hệ thống kinh tế đang vận hành Sự hiện diện của logistics trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế đã thúc đẩy ngành logistics phát triển nhanh chóng

và góp phần mang lại thành công cho các công ty, các tập đoàn đa quốc gia trên thế giới cũng như các doanh nghiệp trong nước đồng thời mang lại hiệu quả và tối ưu hóa trong các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế các quốc gia trên thế giới Không thể phủ nhận vai trò ngày càng quan trọng của logistics trong nền kinh tế thị trường, là yếu tố không thể thiếu trong sản xuất, phân phối và lưu thông hàng hóa, một bước cao hơn nữa của logistics là hướng đến việc nâng cao hiệu quả sản xuất và kinh doanh ở mọi lĩnh vực Phát triển

Trang 11

hệ thống logistics sẽ đảm bảo giải quyết các vấn đề về giao thông vận tải, cơ

sở hạ tầng, hệ thống kho bãi, trạm trung chuyển, kiểm soát luồng hàng hóa, giá cả và góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh về hàng hóa, dịch vụ của nền kinh tế

Logistics được coi là ngành dịch vụ cơ sở hạ tầng của nền kinh tế, logistics không chỉ đem lại nguồn lợi to lớn đối với một quốc gia mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc đổi mới mô hình tăng trưởng và nhu cầu cơ cấu lại nền kinh tế phù hợp với giai đoạn phát triển mới, vì đối với các quốc gia đang phát triển, nguồn doanh thu từ ngành này chiếm 15 - 20% GDP [1] Xét trên tầm vĩ mô, logistics được coi là ngành có mối liên hệ mật thiết với sự phát triển cơ sở hạ tầng, hệ thống đường xá, cảng biển, sân bay của quốc gia Việc phát triển logistics trong nước là góp phần thúc đẩy sự phát triển cơ sở

hạ tầng quốc gia Xét ở tầm vi mô, logistics là một yếu tố cấu thành giá cả của sản phẩm, đóng vai trò giúp doanh nghiệp tối ưu hóa hiệu quả sản xuất, phân phối, cung cấp dòng hàng đến khách hàng [2] Logistics bao gồm nhiều công đoạn và là một bộ phận không thể thiếu trong quá trình sản xuất cũng như phân phối sản phẩm, giảm được chi phí logistics thì chi phí tạo ra sản phẩm được giảm đáng kể, giảm giá thành sản phẩm giúp doanh nghiệp tăng sức cạnh tranh trên thị trường

Logistics có những cơ hội và tiềm năng phát triển như vậy đối với nền kinh tế quốc gia, nhưng thực tế cơ sở hạ tầng của nước ta chưa thực sự phát triển, các doanh nghiệp trong nước chưa đủ năng lực để cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài.Theo nghiên cứu và đánh giá của Viện Nomura (Nhật Bản), các doanh nghiệp logistics tại Việt Nam hiện chỉ đáp ứng được 1/4 nhu cầu thị trường logistics Hiện đang có hai mức độ chênh lệch phát triển trong kinh doanh giao nhận đó là: giữa các nhà giao nhận nước ngoài với liên doanh và các nhà giao nhận trong nước, giữa khu vực phía Nam và các

Trang 12

khu vực còn lại Giá cả dịch vụ logistics tại Việt Nam tương đối rẻ nhưng dịch vụ không chắc chắn, chất lượng chưa cao và thực tế các công ty giao nhận trong nướccòn tồn tại nhiều điểm yếu, chưa đủ năng lực cạnh tranh nên vẫn gặp rất nhiều khó khăn khi chiếm lĩnh thị trường logistics trong nước Không những thế chi phí dịch vụ logistics của nước ta vẫn còn cao so với các quốc gia trên thế giới và trong khu vực, trong khi hiệu quả lại còn thấp đặt ra một khoảng trống nghiên cứu cho vấn đề làm sao phát triển dịch

vụ logistics của nước ta Bên cạnh đó, khi mà các ứng dụng công nghệ thông tin được khai thác triệt để cùng với cuộc cách mạng công nghệ 4.0 được dự đoán là sẽ tạo ra nhiều sự đổi thay lớn và tác động đến tất cả các thành phần tham gia trong nền kinh tế quốc gia đặt ra nhiệm vụ cấp thiết đi tìm câu trả lời cho nhiệm vụ làm thế nào có thể phát triển dịch vụ logistics trong bối cảnh nền kinh tế thế giới, kinh tế quốc gia thay đổi rõ rệt và nhiều biến chuyển như vậy

Do đó tác giả nghiên cứu lựa chọn đề tài “Phát triển dịch vụ logistics

trong giao nhận, vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu: kinh nghiệm quốc tế

và bài học cho Việt Nam” để trình bày bức tranh tổng thể về ngành logistics

Việt Nam hiện tại, nghiên cứu kinh nghiệm của một số quốc gia tương đồng nhưng có ngành logistics phát triển nhằm tìm ra một số hàm ý có thể áp dụng cho Việt Nam Đồng thời tác giả mong muốn bài nghiên cứu có thể là cơ sở khoa học cho các nghiên cứu liên quan ở mức độ sâu hơn

2 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

Để đi sâu nghiên cứu “Phát triển dịch vụ logistics trong giao nhận, vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu: kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam”, luận văn sẽ tập trung giải quyết một số câu hỏi như sau:

- Dịch vụ logistics là gì?

Trang 13

- Vì sao phải phát triển dịch vụ logistics trong giao nhận, vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu?

- Thực trạng phát triển dịch vụ logistics trong giao nhận, vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu ở Singapore và Nhật Bảnđã diễn ra như thế nào, đặc điểm

ra sao?

- Việt Nam có thể áp dụng những bài học kinh nghiệm gì từ quốc tế?

3 MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở đi sâu nghiên cứu thực trạng phát triển dịch vụ logistics của Singapore và Nhật Bản, chỉ ra được các đặc điểm, chính sách chiến lược phát triển của hai quốc gia này,từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn sẽ tập trung giải quyết những nhiệm vụ cụ thể sau:

- Tổng quan tình hình nghiên cứu và hệ thống những vấn đề lý luận về phát triển logistics trong giao nhận, vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu

- Phân tích thực trạng phát triển logistics trong giao nhận, vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu của hai quốc gia là Singapore và Nhật Bản, đặc điểm, nguyên nhân của sự phát triển đó, các chính sách chiến lược mà các quốc gia này đã áp dụng

- Trình bày tình hình phát triển gần đây, những mục tiêu, định hướng phát triển dịch vụ logistics trong giao nhận, vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu của Việt Nam trên cơ sở đó tìm ra bài học, hàm ý mà Việt Nam có thể áp dụng từ kinh nghiệm của quốc tế

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Quá trình phát triển logistics trong giao nhận, vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu của hai quốc gia là Singapore, Nhật Bản và bài học áp dụng cho Việt Nam

Trang 14

Tác giả lựa chọn hai quốc gia trên để nghiên cứu vì Nhật Bản đã có kinh nghiệm từ lịch sử phát triển lâu đời về dịch vụ logistics trong giao nhận, vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu và đã đạt được nhiều thành tựu nhất định Bên cạnh đó Nhật Bản còn là quốc gia có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI cũng như nhiều dự án đầu tư, tài trợ vốn lớn cho Việt Nam Trong khi đó, Singapore - cánh chim đầu đàn của châu Á về logistics cũng là trường hợp điển hình để nghiên cứu có thể rút ra được một số bài học mà một gương mặt còn nhiều non trẻ trong ngành logistics thế giới như Việt Nam có thể học hỏi

5 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

Luận văn đã trình bày tình hình phát triển, đặc điểm, chính sách, chiến lược phát triển ngành dịch vụ logistics trong giao nhận, vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu của hai quốc gia là Singapore và Nhật Bản Tìm hiểu nguyên nhân

và các nhân tố ảnh hưởng đã giúp hai quốc gia này trở thành một trong những trung tâm logistics lớn nhất khu vực châu Á Từ đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có thể áp dụng và học hỏi được

Đưa ra một số hàm ý chính sách, chiến lược phát triển có thể áp dụng được ở tầm vĩ mô và tầm vi mô nhằm phát triển dịch vụ logistics tại Việt Nam

từ các bài học kinh nghiệm của Singapore và Nhật Bản

6 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 4 chương như sau:

Trang 15

Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về chủ đề nghiên cứu của luận văn

Chương 2 Phương pháp nghiên cứu

Chương 3 Phát triển dịch vụ logistics trong giao nhận, vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu tại Singapore, Nhật Bản

Chương 4 Phát triển dịch vụ logistics trong giao nhận, vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu của Việt Nam và bài học kinh nghiệm quốc tế

Trang 16

CHƯƠNG 1.TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thế giới và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế tất yếu, thị trường toàn cầu ngày càng trở nên nhạy cảm với những vấn

đề về thời gian, cạnh tranh về giá cả, chất lượng sản phẩm, dịch vụ Bên cạnh

đó, sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin và những yêu cầu khắt khe trong các khâu quản lý nguồn nguyên liệu cũng như các bộ phận cấu thành sản phẩm đã vô hình chung trở thành một yếu tố thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ

và đòi hỏi sự thay đổi, cải tiến không ngừng của hoạt động logistics Cụ thể hơn, hoạt động sản xuất vật chất của xã hội đạt được năng suất lao động cao nhờ áp dụng kỹ thuật sản xuất tiên tiến, đặc biệt là những thành tựu mới trong công nghệ thông tin và công nghệ sản xuất Song để có thể tối ưu hóa quá trình sản xuất, giảm giá thành sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường thì hệ thống quản lý, phân phối vật chất nhằm giảm tới mức thấp nhất thiệt hại do tồn kho, ứ đọng nguyên liệu, bán thành phẩm và thậm chí là thành phẩm trong quá trình sản xuất và lưu thông cần được hoàn thiện và chú trọng Chính bởi vai trò quan trọng như vậy của hệ thống logistics trong nội bộ doanh nghiệp (xét ở tầm vi mô) và trong nền kinh tế quốc gia cũng như nền kinh tế toàn cầu (xét ở tầm vĩ mô) nên hiện nay có nhiều tác giả đã đóng góp to lớn cho lĩnh vực nghiên cứu này bằng các công trình nghiên cứu, bài báo khoa học với hàm lượng kiến thức chuyên sâu và các giải pháp thực tiễn có thể áp dụng Tác giả Douglas M Lambert và các cộng sự (1988) trong công trình nghiên cứu “Fundermental of Logistics Management” đã trình bày những vấn đề lý luận nền tảng của quản trị logistics trong doanh nghiệp Cụ thể nhóm tác giả đã đưa ra khái niệm logistics, các khâu hoạt động của logistics liên quan đến dịch vụ khách

Trang 17

hàng, mua sắm, gia công, quản lý tồn kho, đóng gói, vận chuyển của doanh nghiệp Ngoài ra tác giả còn đề cập đến vấn đề logistics toàn cầu khi doanh nghiệp thâm nhập thị trường nước ngoài, các vấn đề liên quan đến vận tải, tài chính, chiến lược, xây dựng, quản lý hệ thống thông tin và tổ chức thực hiện có hiệu quả hoạt động logistics.Đây là nghiên cứu đóng góp được những vấn đề cơ bản và khái quát nhất liên quan đến quản trị logistics của doanh nghiệp [19] Tác giả Donald F Wood và các cộng sự (1995) đã công bố công trình

“International Logistics” nghiên cứu về logistics quốc tế liên quan đến dịch chuyển hàng hóa giữa các bên ở hai hay nhiều quốc gia Trong bài nghiên cứu nhóm tác giả đã phân tích lợi ích của chính phủ trong thương mại và vận tải quốc tế, đưa ra những lưu ý về sự khác biệt giữa các quốc gia trong logistics quốc tế, bao gồm sự khác biệt về cách thức quản lý, về thủ tục hải quan, về giá trị hàng hóa… Bên cạnh đó bài nghiên cứu cũng xét đến góc độ vi mô khi

đề cập đến các vấn đề liên quan đến hoạt động logistics quốc tế của doanh nghiệp: vận tải quốc tế, điều khoản thanh toán quốc tế, điều kiện bán và giao hàng, các kênh phân phối hàng hóa và dịch vụ [18]

Tác giả Đoàn Thị Hồng Vân (2010) trong nghiên cứu những vấn đề cơ bản của logistics đã giới thiệu những vấn đề lý luận cơ bản về logistics bao gồm: khái niệm, lịch sử hình thành và phát triển của logistics, phân loại logistics, kinh nghiệm phát triển logistics của một số quốc gia trên thế giới… Tác giả cũng đã làm rõ các nội dung của quản trị logistics, bắt đầu từ khái niệm, các nội dung về quản trị logistics gồm hệ thống thông tin, quản trị dự trữ, quản trị vật tư nguyên liệu, quản lý khi bãi, vận tải, dịch vụ khách hàng [14] Dựa trên mô hình SWOT, bài nghiên cứu tổng thể với tiêu đề

“Developing Singapore into a Global Integrated logistics Hub” của hội đồng nghiên cứu kinh tế Singapore ERC năm 2002 đã phân tích thực trạng dịch vụ logistics của Singapore Đồng thời bài nghiên cứu còn phân tích trường hợp

Trang 18

kinh nghiệm và bài học của London, Anh Quốc trên cơ sở đó ra cácchính sách chiến lược cơ bản, các đề xuất nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh của Singapore, hướng tới mục tiêu đưa quốc gia này trở thành trung tâm logistics toàn cầu tại khu vực châu Á [28]

Tại Diễn đàn Logistics và Dịch vụ cảng biển Việt Nam trong bối cảnh Hội nhập kinh tế quốc tế, (3/2011) Aloysius Lim đã trình bày nghiên cứu về

“Chiến lược phát triển dịch vụ logistics và cảng biển: Kinh nghiệm từ quốc đảo Singapore” Tác giả đã trình bày sự thành công của dịch vụ logistics và ngành cảng biển Singapore là nhờ các chính sách ưu đãi, khuyến khích phát triển của Chính phủ Singapore Tuy nhiên, tác giả mới chỉ đề cập đến những

ưu đãi của Chính phủ trong những chính sách về thuế, hỗ trợ tài chính và nhân lực trong lĩnh vực hàng hải, vận tải biển [15]

Rohit Bhatnaga và các cộng sự (1999) đã phân tích ba yếu tố chính quyết định đến việc sử dụng dịch vụ logistics bên thứ ba (3PL) trong tương lai, bao gồm: mức độ sử dụng dịch vụ logistics bên thứ ba, quá trình đưa ra quyết định

để chọn hợp đồng nhà cung cấp dịch vụlogistics bên thứ ba, tác động của việc

sử dụng dịch vụ logistics bên thứ ba đối với tổ chức Nghiên cứu được tiến hành ở Singapore bằng việc phân tích ảnh hưởng của ba yếu tố này đối với việc có sử dụng dịch vụ logistics bên thứ ba tại Singapore Kết quả dựa trên phân tích dữ liệu liên quan đến các doanh nghiệp đã cho thấy rằng hầu hết khách hàng đều hài lòng với bên cung cấp dịch vụ logistics, điều này giúp có thêm niềm tin và có quyền lạc quan vào tương lai phát triển tích cực của dịch

vụ logistics, nhiều doanh nghiệp sẽ tăng cường sử dụng dịch vụ logistics bên thứ ba như một xu hướng tất yếu [26]

Chee‐Chuong Sum và Chew‐Been Teo (1999) đã chứng minh được vai trò ngày càng quan trọng của logistics trong chuỗi cung ứng của các tổ chức, các doanh nghiệp tại Singapore trong việc vận chuyển nguyên liệu và sản

Trang 19

phẩm Các doanh nghiệp có xu hướng vươn ra toàn cầu nhằm tiếp cận các thị trường mới với tham vọng đạt được mục tiêu sản xuất năng suất tốt hơn, sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn Để đạt được mục tiêu này thì việc sử dụng dịch

vụ của các bên cung cấp dịch vụ logistics là phương án hiệu quả và tối ưu để đảm bảo thỏa mãn yêu cầu về logistics đặt ra Trong bối cảnh nhu cầu tăng cao, sự cạnh tranh cũng trở nên khốc liệt hơn, các nhà cung cấp dịch vụ logistics tại Singapore cần phải hoạch định chiến lược để xác định vị trí dịch

vụ mà họ muốn cung cấp cho khách hàng dựa trên ba khía cạnh: chi phí, chất lượng, đặc điểm và giá trị gia tăng mà họ mang lại cho khách hàng Bài nghiên cứu đại diện cho một trong những nghiên cứu đầu tiên khảo sát chiến lược đinh vị của các nhà cung cấp dịch vụ logistics tại Singapore, sử dụng mô hình cạnh tranh của Michael Porter(1) để phân tích hiệu quả kinh doanh, công nghệ, mục tiêu hoạt động và kế hoạch tương lai của từng loại chiến lược phát triển.Sự khác biệt giữa các chiến lược tạo ra góc nhìn mới và hàm ý về quản

lý logistics cho những người lãnh đạo, nhà điều hành doanh nghiệp [16] Hai Feng và Cheng Jin - ling (2011) đã có nghiên cứu về các đặc tính và

xu hướng phát triển của ngành logistics tại Nhật Bản dựa trên những hiểu biết

về ngành logistics trong khu vực để giới thiệu về sự phát triển của logistics Nhật Bản và cách thức ngành này đã thúc đẩy nền kinh tế Nhật Bản phát triển.Các tác giả cũng đã phân tích các đặc tính riêng biệt đồng thời thảo luận

về xu hướng phát triển mới của ngành logistics như: hội nhập và thông tin, logistics xanh, thương mại điện tử và logistics toàn cầu.[23]

Yi Chih Yang và Shu Ling Chen (2016) đã công bố nghiên cứu về các yếu tố thúc đẩy phát triển của các trung tâm logistics toàn cầu: so sánh chính sách phát triển cảng biển giữa Đài Loan, Hàn Quốc và Nhật Bản Các tác

(1) Mô hình năm áp lực cạnh tranh của Michael Porter (Porter’s Five Forces frame) cho rằng cường độ cạnh

tranh trên thị trường trong một ngành sản xuất bất kỳ chịu tác động của năm lực lượng cạnh tranh sau: sức mạnh

nhà cung cấp, nguy cơ thay thế, các rào cản gia nhập, sức mạnh khách hàng, mức độ cạnh tranh trong ngành

Trang 20

giảđã khảo sát các tiêu chí đánh giá cổng trung tâm logistics toàn cầu và so sánh khả năng cạnh tranh của ba cảng trung chuyển quốc tế chính ở khu vực Đông Bắc Á bao gồm cảng Busan (Hàn Quốc), cảng Kaohsiung (Đài Loan)

và cảng Tokyo (Nhật Bản) từ góc nhìn logistics sử dụng cách tiếp cận đa điểm quá trình phân tích thứ bậc AHP(2) và phân tích tương quan màu xám GRA(3) Tổng cộng có 20 tiêu chí đánh giá được thu thập theo năm khía cạnh bao gồm môi trường chính trị - kinh tế, môi trường vận hành, môi trường chi phí, môi trường cơ sở hạ tầng và môi trường ưu đãi Kết quả AHP cho thấy theo quan điểm của tất cả các đối tượng được khảo sát, năm tiêu chí đánh giá hàng đầu

là chi phí vận chuyển và phân phối, sự thuận tiện về thủ tục thông quan, chi phí cảng biển, chi phí đất đai, sự phù hợp của hệ thống đầu tư và các chính sách, biện pháp khuyến khích của chính phủ Dựa vào kết quả của GRA, thì Busan là cảng trung tâm logistics toàn cầu đạt được mức độ hài lòng cao nhất, tiếp đến là cảng Tokyo và cuối cùng là cảng Kaohsiung.[34]

Hà Văn Hội (2011) trong nghiên cứu phát triển dịch vụ logistics trong bối cảnh Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế đã phân tích các khái niệm khác nhau về logistics và đưa ra một khái niệm chung nhất, bao trùm nhất, thể hiện được bản chất của hoạt động logistics Đồng thời, tác giả cũng phân tích và làm rõ đặc điểm của logistics, làm cơ sở cho việc hoạch định chiến lược phát triển của logistics một cách phù hợp Tác giả đã đi sâu phân tích thực tiễn áp dụng logistics của một số nước trên thế giới như các nước ASEAN, Trung Quốc, Nhật Bản, để rút ra kinh nghiệm cho việc áp dụng và phát triển dịch vụ này tại Việt Nam trên

cơ sở khảo sát thực tiễn hoạt động logistics Việt Nam từ đầu những năm 2000 trở lại đây.Bên cạnh đó, tác giả đã phân tích, đánh giá thực trạng áp dụng logistics

Trang 21

trong lĩnh vực giao nhận, vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu tại Việt Nam Nêu bật những đóng góp nhất định tuy còn ít ỏi của ngành logistics đối với sự phát triển kinh tế Việt Nam Trên cơ sở vận dụng phương pháp phân tích SWOT, tác giả đã xây dựng ma trận SWOT làm cơ sở cho việc xây dựng các giải pháp phát triển logistics trong giao nhận, vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu tại Việt Nam trong thời gian tới Đề xuất các giải pháp phát triển logistics trong giao nhận, vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu tại Việt Nam trong thời gian tới trên cơ sở kết hợp các yếu tố cơ hội, thách thức, điểm mạnh, điểm yếu trong bảng ma trận SWOT [6] Nguyễn Thừa Lộc (2013) đã có nghiên cứu vấn đềxây dựng và phát triển

hệ thống logistics quốc gia theo hướng bền vững ở Việt Nam Tác giả đã làm

rõ về khái niệm thế nào là hệ thống logistics, thực trạng các yếu tố cấu thành

ra sao và đưa ra một số giải pháp khuyến nghị để phát triển bền vững hệ thống logistics trong nước Trong nghiên cứu này, tác giả đãnêu lên quan điểm về phát triển bền vững hệ thống logistics, đó là phát triển cân đối, đồng bộ, ổn định và vững chắc tất cả các yếu tố cấu thành của hệ thống nhằm cung cấp dịch vụ logistics theo hướng hiện đại hóa với chất lượng cao, chi phí hợp lý,

an toàn, hạn chế ô nhiễm môi trường, tiết kiệm năng lượng, đáp ứng tiêu dùng trong nước, nâng cao lợi thế cạnh tranh quốc gia và hội nhập kinh tế quốc tế Đồng thời, tác giả cũng làm rõ thực trạng các yếu tố cấu thành nên hệ thống logistics: cơ sở hạ tầng logistics - cơ sở hạ tầng giao thông bao gồm đường biển, đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa và đường hàng không; hành lang pháp lý cho hoạt động logistics; hoạt động tổ chức quản lý nhà nước đối với các hoạt động logistics; các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ logistics; các doanh nghiệp sử dụng dịch vụ logisticstại Việt Nam Trên cơ sở đó, tác giả đã phân tích nguyên nhân và đề xuất một số giải pháp nhằm mục tiêu hướng tới

sự phát triển bền vững cho hệ thống logistics tại Việt Nam [8]

Trang 22

Đặng Đình Đào (2011) có nghiên cứu vấn đề phát triển các dịch vụ logistics ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế Tác giả đã đưa ra một cách nhìn toàn diện về loại hình dịch vụ logistics và luận giải được tầm quan trọng của việc phát triển dịch vụ logistics trong nền kinh tế thị trường hiện đại nói chung và ở Việt Nam nói riêng Dựa trên nhiều tư liệu khác nhau, đặc biệt với kết quả điều tra, khảo sát với quy mô tương đối lớn các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ logistics, các doanh nghiệp sử dụng dịch vụ logistics cũng như kết quả phỏng vấn sâu các chủ doanh nghiệp logistics và các nhà quản lý, tác giả đã phân tích khá chi tiết thực trạng phát triển dịch vụ logistics ở Việt Nam trong thời gian qua, cũng như những yếu tố chi phối, ảnh hưởng đến sự phát triển của dịch vụ này và chỉ ra được những khía cạnh hạn chế, những vấn

đề cần giải quyết trong quá trình phát triển Tác giả cũng đã đề xuất định hướng và luận giải được các giải pháp có tính khả thi cao nhằm thúc đẩy sự phát triển dịch vụ logistics ở Việt Nam trong điều kiện mở cửa thị trường dịch

vụ, bao gồm: giải pháp xây dựng chiến lược tổng thể và phát triển kết cấu hạ tầng logistics; giải pháp phát triển khung thể chế và quản lý vĩ mô với hệ thống logistics; giải pháp kích cầu và nâng cao giá trị cung ứng khách hàng với dịch vụ logistics; giải pháp thích nghi thị trường, phát triển cơ cấu, chất lượng và sức cạnh tranh sản phẩm dịch vụ logistics; giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp logistics [3]

Dịch vụ logistics của Việt Nam hiện nay đang ở trên đà phát triển cùng với sự tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế, mở cửa giao thương qua rất nhiều hiệp định đối tác thương mại…nên những nghiên cứu trên đây là các đóng góp quan trọng về nền tảng cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn và quá trình phát triển của lĩnh vực logistics Những nghiên cứu trên là tiền đề cho nhiều bài nghiên cứu chuyên sâu hơn và phát triển các vấn đề liên quan, cũng như các bài nghiên cứu cập nhật số liệu mới hơn

Trang 23

1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.2.1 Khái niệm và lịch sử hình thành logistics

Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu đang diễn ra sôi động trên tất cả các khu vực kinh tế và quốc gia trên toàn thế giới, xu thế hội nhập kinh tế quốc ngày càng sâu rộng, chúng ta đang hướng tới một nền kinh tế toàn cầu, với những công dân toàn cầu và rào cản thương mại giữa biên giới quốc gia dần được dỡ bỏ thì logistics là một khái niệm không còn quá xa lạ như trước Trong quá trình nghiên cứu tìm hiểu, tác giả thấy có một số tài liệu dùng thuật ngữ “tiếp vận” hay “hậu cần” để dịch khái niệm “logistics” từ tiếng Anh sang tiếng Việt, tuy nhiên xét về mặt ngữ nghĩa và bản chất, những thuật ngữ trên chưa thể hiện được đúng nội dung của logistics Vì vậy, gần đây trong các văn bản luật của chính phủ và các tài liệu nghiên cứu chuyên sâu, thuật ngữ logistics đều được giữ nguyên như trong tiếng Anh hoặc phiên âm ra tiếng Việt (lô - gi - stíc) và được công nhận rộng rãi

Về mặt lịch sử, thuật ngữ logistics bắt nguồn từ các cuộc chiến tranh cổ đại của đế chế Hy Lạp và La Mã Khi đó, những chiến binh có chức danh

“Logistikas” được giao nhiệm vụ chu cấp và phân phối vũ khí và nhu yếu phẩm, đảm bảo điều kiện cho quân sỹ hành quân an toàn từ bản doanh đến một vị trí khác Công việc “hậu cần” này có ý nghĩa sống còn tới cục diện của chiến tranh, khi các bên tìm mọi cách bảo vệ nguồn cung ứng của mình và tìm cách triệt phá nguồn cung ứng của đối phương Quá trình tác nghiệp đó dần hình thành một hệ thống mà sau này gọi là quản lý logistics.Trong thế chiến thứ hai, vai trò của “logistics” càng được khẳng định Đội quân hậu cần của quân đội Mỹ và đồng minh tỏ ra có hiệu quả hơn của quân đội Đức Quân Mỹ

đã đảm bảo cung cấp vũ khí, đạn dược, và quân nhu đúng địa điểm, đúng thời gian, bằng những phương thức tối ưu Nhờ phát huy ưu thế về công tác hậu cần mà Mỹ và đồng minh đã nhiều lần chiếm ưu thế trong cuộc chiến tranh

Trang 24

Cũng trong thời gian này, nhiều ứng dụng về logistics đã được phát triển và vẫn còn được sử dụng đến ngày nay, mặc dù đã có ít nhiều thay đổi để phù hợp với môi trường sản xuất kinh doanh

Trong lịch sử phát triển của sản xuất hàng hóa và giao thương, về bản chất, hoạt động logistics là những hoạt động quản lý phục vụ quá trình sản xuất và phân phối, lưu thông như khai thác nguyên liệu, thu gom, vận chuyển nguyên nhiên vật liệu, thành phẩm, bán thành phẩm từ nơi có nguyên liệu đến nơi sản xuất, lưu kho, đóng gói, bốc xếp, vận chuyển, giao nhận… cho đến nơi tiêu dùng Tuy nhiên, cũng có rất nhiều cách định nghĩa về khái niệm này, tùy vào cách tiếp cận hay bối cảnh nghiên cứu Sau đây là một số định nghĩa tiêu biểu về logistics,cụ thể:

Theo Hội đồng các chuyên gia Quản trị chuỗi cung ứng Hoa Kỳ,logistics

là một bộ phận của chu trình chuỗi cung ứng, bao gồm các quá trình hoạch định

kế hoạch, thực hiện và kiểm soát một cách hiệu quả việc dự trữ và lưu chuyển hàng hóa, dịch vụ, đảm bảo thông tin hai chiều giữa điểm khởi đầu và điểm tiêu dùng nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng Đây được xem là một định nghĩa mới và toàn diện hơn cả trong bối cảnh kinh tế thế giới hiện nay

Theo Hiệp hội quản lý logistics Canada (CALM), logistics là việc lên kế hoạch, thực hiện và kiểm soát một cách có hiệu quả với chi phí thấp nhất quá trình lưu chuyển và dự trữ nguyên liệu, hàng tồn kho, thành phẩm và các thông tin liên quan từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ để thỏa mãn nhu cầu của khách hàng

Trong khi đó ở Việt Nam, khái niệm dịch vụ logistics được quy định và nêu khá rõ ràng trong bộ luật Thương mại 2005 và một số nghị định, thông tư liên quan

Xét về khung khổ pháp lý cho hoạt động dịch vụ logistics tại Việt Nam thì Luật Thương mại (2005)và Nghị định 140/2007/NĐ - CP là hai văn bản pháp luật quy định chung nhất và cơ bản nhất về hoạt động logistics hiện

Trang 25

nay.Theo điều 233 Luật Thương mại 2005 số 36/2005/QH11,dịch vụ logistics

là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký

mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hoá theo thoả thuận với khách hàng để hưởng thù lao Dịch vụ logistics được phiên âm theo tiếng Việt là dịch vụ lô - gi - stíc [9]

Theo Nghị định 140/2007/NĐ - CP, hoạt động logistics có nhiều loại hình dịch vụ khá đa dạng, cụ thể được phân loại như sau:

- Các dịch vụ logistics chủ yếu, bao gồm:

(a) Dịch vụ bốc xếp hàng hoá, bao gồm cả hoạt động bốc xếp container; (b) Dịch vụ kho bãi và lưu giữ hàng hóa, bao gồm cả hoạt động kinh doanh kho bãi container và kho xử lý nguyên liệu, thiết bị;

c) Dịch vụ đại lý vận tải, bao gồm cả hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan và lập kế hoạch bốc dỡ hàng hóa;

(d) Dịch vụ bổ trợ khác, bao gồm cả hoạt động tiếp nhận, lưu kho và quản lý thông tin liên quan đến vận chuyển và lưu kho hàng hóa trong suốt cả chuỗi logistics; hoạt động xử lý lại hàng hóa bị khách hàng trả lại, hàng hóa tồn kho, hàng hóa quá hạn, lỗi mốt và tái phân phối hàng hóa đó; hoạt động cho thuê và mua container [1]

- Các dịch vụ logistics liên quan đến vận tải, bao gồm:

(a) Dịch vụ vận tải hàng hải;

(b) Dịch vụ vận tải thuỷ nội địa;

(c) Dịch vụ vận tải hàng không;

(d) Dịch vụ vận tải đường sắt;

(e) Dịch vụ vận tải đường bộ;

(f) Dịch vụ vận tải đường ống

Trang 26

- Các dịch vụ logistics liên quan khác, bao gồm:

(a) Dịch vụ kiểm tra và phân tích kỹ thuật;

(b) Dịch vụ bưu chính;

(c) Dịch vụ thương mại bán buôn;

(d) Dịch vụ thương mại bán lẻ, bao gồm cả hoạt động quản lý hàng lưu kho, thu gom, tập hợp, phân loại hàng hóa, phân phối lại và giao hàng;

(e) Các dịch vụ hỗ trợ vận tải khác

Ngoài Luật Thương mại 2005 và Nghị định 140/2007/NĐ - CP, Nhà nước còn ban hành một số luật quy định về các chuyên ngành vận tải cụ thể như Bộ luật Hàng hải 2005, Luật Giao thông đường thủy nội địa 2004, Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006 (được sửa đổi năm 2014);Luật Giao thông đường

bộ 2008; Luật Đường sắt 2005; đi kèm với các bộ luật sẽ có nghị định, thông tư liên quan quy định rõ về việc thực hiện các quy định tại các bộ luật này

Trong phạm vi nghiên cứu của bài, tác giả xin được tiếp cận theo góc độ

vi mô và vĩ mô, cụ thể hơn logistics là một khoa học và cũng là ngành dịch vụ của nền kinh tế quốc dân Logistics là quá trình phân phối và lưu thông hàng hóa được tổ chức và quản lý khoa học việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm soát quá trình lưu chuyển hàng hóa, dịch vụ… từ điểm khởi nguồn sản xuất đến tay người tiêu dùng cuối cùng với chi phí thấp nhất nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất xã hội tiến hành được nhịp nhàng, liên tục và đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của khách hàng

Gắn liền với quá trình trên, nếu hiểu theo nghĩa hẹp hơn và cụ thể hơn, dịch vụ logistics trong nền kinh tế quốc dân là hoạt động thương mại bao gồm các dịch vụ bổ sung về vận chuyển, giao nhận, kho hàng, hải quan, tư vấn khách hàng và một số dịch vụ khác liên quan đến vận tải, giao nhận hàng hóa nhằm đảm bảo quá trình phân phối, lưu chuyển hàng hóa diễn ra một cách hiệu quả nhất, chi phí thấp nhất và đáp ứng được các yêu cầu của khách hàng

Trang 27

1.2.2 Đặc điểmvà phân loại dịch vụ logistics

1.2.2.1 Đặc điểm của dịch vụ logistics

Dịch vụ logistics là tổ hợp các hoạt động liên tiếp nhau, có tính xuyên suốt cả quá trình Về bản chất, logistics là một quá trình, điều đó có nghĩa

logistics không phải là một hoạt động riêng lẻ mà là một chuỗi các hoạt động liên tục, liên quan mật thiết và tác động qua lại mật thiết với nhau, được thực hiện một cách khoa học và có hệ thống qua các bước: nghiên cứu, hoạch định,

tổ chức, quản lý, thực hiện, kiểm tra, kiểm soát và hoàn thiện Do đó, logistics xuyên suốt cả quá trình, từ giai đoạn quản lý nguyên liệu đầu vào cho đến giai đoạn tiêu thụ sản phẩm cuối cùng

Logistics là dịch vụ thiết yếu hỗ trợ hoạt động của các doanh nghiệp Logistics hỗ trợ toàn bộ quá trình hoạt động của doanh nghiệp, ngay cả khi sản

phẩm đã được rời khỏi dây chuyền sản xuất của nhà máy và đến tới tay người tiêu dùng cuối cùng Ngay từ các yếu tố đầu vào như máy móc để vận hành, nguyên vật liệu sản xuất…logistics đã gắn liền với hoạt động của doanh nghiệp, xuyên suốt dây chuyền sản xuất, logistics xuất hiện trong từng bước quy trình để

hỗ trợ doanh nghiệp trong việc kiểm soát, điều phối và quản lý dòng lưu trữ, vận chuyển nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm Sau đó, logistics còn xuất hiện ở giai đoạn lưu kho, đóng gói và phân phối sản phẩm đến người tiêu dùng

Do vậy, có thể thấy sự gắn bó và thiết yếu của hoạt động logistics đối với hoạt động của doanh nghiệp và vai trò hỗ trợ quan trọng của nó tới doanh nghiệp

Logistics là sự phát triển cao hơn, hoàn chỉnh và toàn diện hơn của dịch vụ giao nhận, vận tải hàng hóa Cùng với sự phát triển của mình, logistics đã làm đa

dạng hóa khái niệm giao nhận, vận tải truyền thống Từ thời sơ khai, bên dịch vụ chỉ thay mặt khách hàng để vận chuyển, giao nhận hàng hóa Sau đó, dịch vụ này

đã phát triển lên những mức độ cao hơn, từ chỗ chỉ thay mặt khách hàng để thực hiện một số dịch vụ rời rạc như đặt chỗ trên tàu, đóng gói hàng, lưu kho, vận chuyển hàng, thủ tục thông quan…thì đã xuất hiện thêm dịch vụ logistics trọng gói từ kho người sản xuất đến kho người nhận cuối cùng (door to door) Ở một

Trang 28

mức độ phát triển toàn diện hơn, dịch vụ logistics còn cung cấp hoạt động kiểm soát, phân phối và tư vấn giảm thiểu các chi phí vận hành, loại bỏ các giai đoạn

và chi phí thừa thãi nhằm tăng tối đa hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Trong bối cảnh hiện nay, bên cung cấp dịch vụ logistics còn có thể được ủy thác để trở thành một chủ thể trong các hoạt động giao nhận, vận tải hàng hóa thay mặt khách hàng chứ không chỉ là một đại lý giao nhận, vận tải hàng hóa đơn thuần

1.2.2.2 Các hình thức của dịch vụ logistics theo xu hướng phát triển hiện nay

Nằm trong dòng chảy của sự phát triển của hoạt động kinh tế thị trường ngày càng sôi động, phức tạp và có nhiều sự khác biệt so với nền kinh tế cũ, hoạt động logistics và nhu cầu về dịch vụ logistics hiện nay cũng có nhiều biến chuyển đa dạng hơn

Sự thay đổi và biến chuyển của dịch vụ logistics trong lịch sử hình thành

và phát triển được minh họa trong Sơ đồ 1.1

Sơ đồ 1.1 Các hình thức của dịch vụ logistics

Nguồn:Viện logistics Việt Nam - Vietnam logistics Institute, 2016

Trang 29

Sơ đồ 1.1 trên đây cho thấy các mức độ phát triển của dịch vụ logistics qua thời gian Theo đó, có 4 loại hình logistics chính là 1PL, 2PL, 3PL và 4PL

1PL (First Party logistics) hay còn gọi là dịch vụ logistics tự cấp Đây là

hình thức thường do một công ty hay cá nhân tự tổ chức các hoạt động logistics để đáp ứng mục đích vận chuyển của chính họ Các cá nhân và tổ chức này có thể là chủ sở hữu hàng hóa, có sở hữu phương tiện vận tải, công

cụ và thiết bị cần thiết phục vụ cho việc xếp dỡ và di chuyển hàng hóa từ vị trí này sang vị trí khác, nhà xưởng, kho bãi và những nguồn lực khác kể cả con người để tự thực hiện và điều hành các hoạt động logistics Như vậy, vai trò của người vận chuyển và cung cấp hàng hóa dưới hình thức 1PL thường đại diện cho người gửi hàng (shipper) và người nhận hàng (consignee) Nhà hoạt động dịch vụ 1PL có thể là một nhà sản xuất, công ty nhập khẩu, nhà phân phối, doanh nghiệp thương mại, nhà bán sỉ - lẻ… Ở một khía cạnh khác, có thể hiểu đơn giản rằng bất cứ cá nhân hay tổ chức nào tự tổ chức và sử dụng phương tiện và trang thiết bị của họ để vận chuyển hàng hóa

2PL (Second Party logistics) hay còn gọi là cung cấp dịch vụ logistics bên thứ hai Đây là hình thức được cung cấp bởi các nhà cung cấp dịch vụ logistics

đơn lẻ trong chuỗi hoạt động logistics nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng.Các công ty cung cấp dịch vụ này thường sở hữu và sử dụng những phương tiện vận tải, thiết bị công cụ chuyên dụng để phục vụ cho đặc thù công việc của họ Hiểu một cách ngắn gọn, thì dịch vụ 2PL chỉ đảm nhận vai trò vận chuyển của một khâu đặc thù hay cung cấp dịch vụ vận chuyển đơn lẻ trong toàn bộ chuỗi hoạt động logistics của khách hàng Một số ví dụ nhà cung cấp dịch vụ 2PL lớn trên thế giới, đối với vận tải biển như các hãng tầu Wan Hai, Ever Green, Maersk, NYK… hay các hãng bay đối với vận tải hàng không như Japan Airlines, Vietnam Airlines, Cathay Pacific, All Nippon Airway… Một số trường hợp đặc biệt đối với các hàng hóa kích thước lớn (hàng siêu trường siêu

Trang 30

trọng), hàng có đặc thù riêng biệt (hàng cần giữ lạnh), hàng nguy hiểm cần tuân thủ yêu cầu vận tải nghiêm ngặt (hóa chất nguy hiểm dễ cháy, dễ nổ)…mà các phương tiện vận tải thông thường không thể vận chuyển được, hoặc do bản thân các doanh nghiệp 1PL không có để có thể tự vận chuyển thì họ cần sử dụng dịch vụ 2PL của các nhà cung cấp dịch vụ 2PL và 2PL được coi như là nhà thầu phụ (sub - contractor) của doanh nghiệp 1PL

3PL (Third Party logistics) hay còn gọi là cung cấp dịch vụ logistics bên thứ ba Đây là hình thức do một bên công ty đại diện để đảm nhận toàn bộ các

dịch vụ logistics của công ty khách hàng dựa trên hợp đồng đã ký, bao gồm các công việc như: kê khai hải quan, làm thủ tục thông quan hàng hóa, giấy tờ xuất nhập khẩu liên quan, chứng từ giao nhận và vận chuyển, xếp dỡ hàng, giao hàng đến nơi quy định.Nhà cung cấp dịch vụ 3PL thường là các doanh nghiệp

sở hữu nhiều loại phương tiện vận tải chuyên dụng từ đường bộ, đường biển hay đường hàng không, ngoài ra họ có thể có mạng lưới liên kết rộng với nhiều công ty vận chuyển khác, hãng tàu, hãng bay lớn để có được mức giá tốt, dịch

vụ ưu đãi của họ Đảm nhận nhiều vai trò như đã nêu trên, nhà cung cấp dịch

vụ 3PL sẽ chịu trách nhiệm về việc sắp xếp thời gian vận chuyển, làm thủ tục xuất nhập khẩu liên quan một cách hợp lý sao cho hàng hóa được giao nguyên vẹn theo đúng địa điểm và thời gian như yêu cầu của khách hàng Trường hợp hàng giao không được nguyên vẹn thì nhà cung cấp dịch vụ 3PL phải bồi thường hoặc có trách nhiệm điều tra tìm ra bên liên quan chịu trách nhiệm

Có thể thấy rằng các nhà cung cấp dịch vụ logistics bên thứ ba có tầm ảnh hưởng quan trọng đến hoạt động trong chuỗi cung ứng của khách hàng,

và bản thân dịch vụ logistics bên thứ ba cũng có nhiều lợi thế trong chuỗi cung ứng, như sau:

- Mạng lưới dịch vụ rộng lớn và mối quan hệ tốtcho phép 3PL thực hiện và tối ưu các hoạt động logistics trong phạm vi lãnh thổ và mở rộng ra toàn cầu

Trang 31

- Tiết kiệm thời gian và chi phí: Giúp hạn chế việc đầu tư không cần thiết vào việc mua phương tiên, thiết bị vận chuyển, thuê nhân công vận chuyển Đồng thời nếu điều hành hoạt động logistics không hiệu quả sẽ gây nên nhiều

thiệt hại và tốn kém cho doanh nghiệp

- Chuyên môn cao: đội ngũ cung cấp dịch vụ 3PL là những người được đào tạo bài bản và có kinh nghiệm trong lĩnh vực vận chuyển Ngoài ra việc áp dụng công nghệ tiên tiến giúp quản lý hiệu quả hơn các hoạt động logistics

- Không gian mở rộng và linh hoạt: hệ thống kho bãi và trung tâm phân phối rộng khắp của 3PL giúp rút ngắn khoảng cách vận chuyển, tiết kiệm chi phí và thời gian, tăng sự linh hoạt

- Sự tối ưu hóa liên tục: những doanh nghiệp cung cấp dịch vụ 3PL thường có các hệ thống tiên tiến có khả năng điều chỉnh liên kết trong chuỗi cung ứng, theo dõi và phân tích sự thiếu hiệu quả để từ đó có biện pháp khắc phục hợp lý để quản lý chuỗi cung ứng

4PL (Fourth Party logistics) hay còn gọi là dịch vụ logistics chuỗi phân phối hay nhà cung cấp logistics chủ đạo Đây là hình thức được cung cấp bởi các

nhà cung cấp dịch vụ tư vấn với vai trò điều phối và giám sát tất cả các hoạt động của chuỗi cung ứng từ việc thu thập, tập hợp các nguồn lực, tìm kiếm khả năng

và áp dụng công nghệ nhằm thiết kế, xây dựng và vận hành một chuỗi logistics toàn diện Có thể coi 3PL là nền tảng để phát triển 4PL theo hướng rộng hơn, đa dạng hơn, cụ thể và toàn vẹn hơn nhằm vươn tới một chuỗi phân phối bao phủ thị trường toàn cầu, tạo lợi thế cạnh tranh và xây dựng mối quan hệ lâu dài

Thực ra hiện nay, trong ngành logistics toàn cầu đã xuất hiện đến khái

niệm 5PL (Fifth Party logistics) hay còn gọi là cung cấp dịch vụ logistics bên

thứ năm.5PL là dịch vụ logistics phổ biến và phát triển nhất hiện nay dành cho

Thương mại điện tử Logistics bên thứ năm quản lý và điều phối hoạt động của các 3PL, 4PL thông qua các giải pháp thông tin liên quan đến cung và cầu trên thị trường dịch vụ giao hàng thương mại điện tử Điểm đặc trưng của5PL là các

hệ thống (Hệ thống quản lý đơn hàng (OMS - Order ManagementSystem), Hệ

Trang 32

thống quản lý kho hàng (WMS - Warehouse Management System) và Hệ thống quản lý vận tải (TMS - Transportation Management System) Cả ba hệ thống này có liên quan chặt chẽ với nhau trong một hệ thống thống nhất và công nghệ thông tin Đây là giải pháp dành cho các cửa hàng, doanh nghiệp vừa và nhỏ,

họ có thể tích hợp dễ dàng hệ thống quản lý, ứng dụng của logistics bên thứ nămkhi vận hành hệ thống chuyên nghiệp

Tựu chung lại, các hình thức của dịch vụ logistics có liên kết tương quan với nhau theo hình kim tự tháp 1PL là nền tảng cho 2PL và theo mối quan hệ như thế cho đến 3PL, 4PL và 5PL Dịch vụ logistics được phát triển theo hướng dạng, toàn vẹn và hoàn thiện hơn hướng đến việc hợp nhất chuỗi cung ứng toàn cầu

1.2.3.Vai trò của phát triển dịch vụ logistics trong giao nhận, vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu

Logistics là công cụ liên kết các hoạt động kinh tế quốc tế như cung cấp, sản xuất, lưu thông, phân phối luồng hàng hóa, mở rộng thị trường cho các hoạt động kinh tế Thị trường toàn cầu đang không ngừng phá triển với các tiến bộ công nghệ, một thị trường toàn cầu không biên giới quốc gia và vùng lãnh thổ là xu thế tất yếu của nền kinh tế toàn cầu khi hội nhập quốc tế diễn ra mạnh mẽ Do đó, với vai trò là một mắt xích liên kết giữa cung - cầu, dịch vụ logistics đóng vai trò ngày càng quan trọng trong việc đảm bảo lưu thông luồng hàng hóa từ nơi này đến nơi kia, góp phần không nhỏ trong việc đảm bảo dây chuyền sản xuất và vận hành của nền kinh tế toàn cầu

Xét ở góc độ vi mô, bản chất của dịch vụ logistics là quá trình tối ưu hóa vị trí và hoạch định lưu chuyển hàng hóa, tài nguyên nhằm đáp ứng được nhu cầu của khách hàng một cách tối ưu trong sự tương quan với tiềm lực của doanh nghiệp Logistics giải quyết các câu hỏi trong một phần của quá trình sản xuất kinh doanh như: Các nguồn tài nguyên, nguyên liệu được lấy ở đâu? Đưa đi đâu?

Trang 33

Đưa bằng cách nào? Đặt các trung tâm phân phối, lưu kho hàng hóa ở đâu thì thuận tiện và hiệu quả? Mạng lưới lưu thông hàng hóa nên được thiết lập ra sao? Thực tế hiện nay, trong lĩnh vực giao nhận và vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu, người kinh doanh dịch vụ giao nhận và vận tải không chỉ đơn thuần là chỉ đảm nhận vai trò giao nhận, vận chuyển hàng hóa nữa mà họ tham gia cùng với người sản xuất và chủ hàng để đảm nhiệm thêm các khâu khác liên quan đếnquá trình sản xuất, phân phối hàng hóa như gia công, chế biến, lắp ráp, đóng gói, gom hàng, xếp hàng, bốc dỡ hàng, lưu kho và quản lý tồn kho, giao nhận… Hoạt động giao nhận, vận tải thuần túy đã dần chuyển sang hoạt động

tổ chức toàn bộ dây chuyền phân phối luồng hàng hóa và là một bộ phận có liên quan chặt chẽ đến chuỗi logistics Xu hướng vận động này đòi hỏi một sự phối hợp liên kết các phương thức vận tải (hay còn gọi là vận tải đa phương thức), sự kiểm soát các luồng thông tin, luồng hàng hóa, luồng tài chính Toàn

bộ quá trình này nếu được tối ưu hóa thì sẽ góp phần làm tăng lợi nhuận cho các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa, tăng lợi nhuận cho các hãng vận tải chuyên chở, tăng hiệu quả kinh tế và giảm chi phí,rút ngắn thời gian lưu thông, phân phối hàng hóa cho các bên liên quan,từ đó tăng hiệu quả kinh tế rõ rệt Logistics đóng vai trò hỗ trợ nhà quản lý doanh nghiệp ra quyết định chính xác hơn trong hoạt động kinh doanh để tạo ra lợi nhuận cao nhất có thể, giảm chi phí tối đa Logistics đóng vai trò hỗ trợ các hoạt động thiết yếu

là sản xuất và phân phối sản phẩm của doanh nghiệp, do vậy logistics luôn

có mối tương tác chặt chẽ với cả hai hoạt động này Trong thực tế hiện nay, nhiều doanh nghiệp muốn khai thác tối đa công suất sản xuất của dây chuyền máy móc, dẫn đến việc sản xuất ra rất nhiều sản phẩm tuy nhiên việc tiêu thụ lại không đảm bảo sẽ hết số hàng này, do vậy chi phí phát sinh cho doanh nghiệp là chi phí lưu kho (thường rất cao) Ở công đoạn này, thì bộ phận logistics nghiên cứu thị trường và giúp doanh nghiệp hiểu rõ được nhu cầu trong từng giai đoạn trước khi bắt tay vào sản xuất, nhằm tránh được chi

Trang 34

phí phát sinh như lưu kho nhiều, khấu hao máy móc quá nhanh do khai thác tối đa công suất

Nếu nhìn nhận trong bối cảnh nền kinh tế vĩ mô, logistics là hoạt động tổng hợp mang tính dây chuyền, hiệu quả của hoạt động logistics đóng vai trò quan trọng quyết định đến tính cạnh tranh của ngành công nghiệp và thương mại của quốc gia Logistics là một trong số những chi phí lớn và không thể cắt

bỏ trong hoạt động kinh doanh, có tác động qua lại với nhiều hoạt động kinh tế khác Giả sử chi phí logistics cao dẫn đến giá thành của sản phẩm cao hơn, người mua hàng phải mua hàng hóa với mức giá cao trong khi đó lợi nhuận của doanh nghiệp lại giảm sút Tình trạng này kéo dài sẽ gây ra một sự thụt lùi của toàn bộ nền kinh tế khi mà giá sản phẩm cao khiến sức mua giảm sút, khoản thu thuế cho ngân sách nhà nước cũng sẽ giảm Việc phát triển tốt dịch vụ logistics mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn, giảm chi phí và nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển

Với vai trò là nhân tố hỗ trợ cho dòng lưu chuyển của hàng hóa, dịch vụ trong nền kinh tế, logistics được coi là một công cụ hữu hiệu để nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế thị trường Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, nền kinh tế toàn cầu đặt ra sức ép gay gắt và yêu cầu lớn đối với tất cả các thành phần tham gia trong nền kinh tế ấy.Nó thúc đẩy phát triển logistics để rút ngắn thời gian giao hàng, tiết kiệm chi phí trong khâu sản xuất, vận chuyển, phân phối, giảm giá thành sản phẩm nhằm tăng sức cạnh tranh cho bản thân doanh nghiệp

Quá trình toàn cầu hóa kinh tế đã làm cho hàng hóa và sự vận động của chúng diễn ra phức tạp và phong phú hơn, đòi hỏi sự quản lý chặt chẽ đối với hoạt động logistics Những yêu cầu mới về hoạt động logistics liên quan là điều tất yếu đặt ra nhằm đáp ứng yêu cầu trong bối cảnh hoạt động kinh tế, sản xuất, phân phối hàng hóa thay đổi trên thị trường toàn cầu Do vậy, sự phát triển dịch vụ logistics trong giao nhận, vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu

Trang 35

là một xu thế tất yếu và bắt buộc nhằm đảm bảo giữ vững vai trò của logistics trong việc đáp ứng yêu cầu của hoạt động kinh tế vi mô và nền kinh tế vĩ mô

1.2.4 Khái quát về giao nhận, vận tải hàng hóa xuất nhập khẩuvà mối quan hệ với hoạt động logistics

1.2.4.1 Khái quát về giao nhận, vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu

Vận tải là hoạt động quan trọng nhất trong chuỗi logistics và chiếm đến 50% chi phí của toàn bộ chuỗi logistics Cơ sở hạ tầng của các quốc gia ngày càng được nâng cao và cải thiện dẫn đến sự ra đời của nhiều loại hình vận tải mới.Các loại hình vận tải phổ biến hiện nay là: vận tải đường biển, vận tải đường hàng không, vận tải đường sắt, vận tải đường bộ, vận tải đường ống (chỉ sử dụng với một số loại hàng hóa đặc thù)

- Vận tải hàng hóa bằng đường biển: trong lịch sử phát triển vận tải hàng hóa

thì vận tải đường biển là một trong những phương thức ra đời sớm nhất Từ thế kỷ

V trước công nguyên, con người đã biết cách sử dụng các tuyến đường giao thôngtrên biển để giao lưu, buôn bán giữa các quốc gia, vùng miền Cho đến nay, vận tải biển là loại hình vận tải phổ biến và phát triển nhất với lưu lượng hàng hóa chuyên chở lớn nhất trong tất cả các phương thức vận tải, chuyên chở tới 80% lượng hàng thương mại quốc tế Đặc điểm của vận tải biển là chi phí thấp, năng lực vận chuyển hàng lớn, các tuyến đường được hình thành tự nhiên Dù có nhược điểm là tốc độ chậm hơn nhưng với những ưu điểm vượt trội và việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật mới, vận tải biển vẫn là phương thức vận tải phát triển đa dạng nhất hiện nay với nhiều loại tàu: tàu chợ, tàu chuyến, tàu rời, tàu chở container, tàu chở hàng hóa đặc biệt, tầu chở khí tự nhiên hóa lỏng …

- Vận tải hàng hóa bằng đường bộ: vận tải đường bộ là hình thức vận tải

phổ biến trong ngoại thương, tuy vậy so sánh về lưu lượng hàng hóa thì còn ít hơn so với thương mại nội địa Hình thức vận tải đường bộ thường được sử dụng trong ngoại thương với các quốc gia có chung biên giới đất liền để phát triển dịch vụ vận tải xuyên biên giới như châu Âu, châu Mỹ, châu Á, Đông Nam Á Đường bộ là phương thức vận tải vô cùng quan trọng trong cả quá

Trang 36

trình giao nhận, vận tải hàng hóa xuất nhập khẩubởi nó đóng vai trò đưa hàng hóa đến người sử dụng cuối cùng trong chuỗi cung ứng

- Vận tải hàng hóa bằng đường sắt:vận tải đường sắt thường được kết

hợp với vận tải đường bộ để tận dụng ưu điểm chi phí thấp, khối lượng vận chuyển lớn của đường sắt và tính cơ động của đường bộ Cơ sở hạ tầng của đường sắt đòi hỏi sự đầu tư lớn của quốc gia, một số quốc gia có hệ thống đường sắt cao tốc phát triển trên thế giới hiện nay là Nhật Bản, Mỹ, châu Âu đangsử dụng rất tốt hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại này để khai thác ngành vận tải hàng hóa Mạng lưới đường sắt phát triển kết hợp với đường bộ đã góp phần không nhỏ cho sự phát triển vận tải nói chung

- Vận tải hàng hóa bằng đường hàng không:vận tải hàng không ra đời

muộn hơn so với các phương thức vận tải đường biển, đường sắt và đường

bộ tuy nhiên đang thể hiện vai trò cực kỳ quan trọng trong thương mại quốc

tế hiện nay Vận tải hàng không tuy chi phí vận tải rất cao nhưng có ưu điểm

là tính chính xác cao, tốc độ nhanh chóng, giảm thiểu nguy cơ hỏng hóc hàng hóa Hiện nay, vận tải hàng không chỉ được lựa chọn trong những trường hợp hàng hóa cần vận chuyển gấp, hàng nhẹ và có giá trị lớn như hàng may mặc, phụ kiện, linh kiện điện tử Ban đầu người ta chỉ kết hợp chuyên chở hàng hóa bằng các máy bay chở hành khách, nhưng do nhu cầu tăng cao cũng như sự phát triển của khoa học kỹ thuật, các máy bay chỉ chuyên chở hàng hóa (thuật ngữ chuyên ngành gọi là máy bay chở hàng hóa

- freighter aircraft) đã ra đời và ngày càng phát triển cả về số lượng máy bay cũng như số lượng chuyến bay, phạm vi đường bay, điểm đến ở nhiều khu vực trên thế giới

- Vận tải bằng đường ống:đây là phương thức vận tải chỉ áp dụng được

với một số mặt hàng chuyên dụng như dầu mỏ, chất hóa lỏng… Với đặc điểm khá khó khăn trong việc xây dựng đường ống, nên trên thế giới hiện nay chưa

Trang 37

nhiều quốc gia có phát triển hệ thống đường ống để vận tải hàng hóa, ngoạitrừ một số quốc gia chuyên sản xuất dầu mỏ lớn như Iran, Iraq, Kuwaitt

- Vận tải đa phương thức: là phương thức vận tải kết hợp nhiều phương

tiện, cách thức vận tải từ nơi gửi hàng đến nơi nhận hàng Trong quá trình vận chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu từ quốc gia này đến quốc gia khác, hàng hóa khó tránh khỏi các nguy cơ từ việc bị hỏng hóc, biến dạng do thời gian vận chuyển khá lâu, quãng đường vận chuyển xa Bởi vậy rất nhiều phương tiện đóng gói, bảo quản, bốc xếp dỡ hàng đã được tạo ra và đưa vào ứng dụng một cách hiệu quả như pallet, kiện gỗ, thùng… Khoa học kỹ thuật phát triển đã cho ra đời loại công cụ chuyên chở mang tính cách mạng là container - thiết

bị vận tải có tính chất lâu bền, chắc, khỏe, có khả năng chuyên chở lớn lên đến hàng chục mét khối hàng, có thể sử dụng quay vòng Container ra đời đã tạo nên một cuộc cách mạng trong vận tải hàng hóa ngoại thương, giúp cơ giới hóa quá trình bốc xếp, giảm thời gian làm hàng, tăng quá trình quay vòng của công cụ và thiết bị chuyên chở, tăng năng suất lao động và hiệu quả kinh

tế Đồng thời container ra đời kéo theo dịch vụ gom hàng lẻ ra (consolidation)

ra đời, góp phần làm đa dạng thêm dịch vụ logistics nói chung

1.2.4.2 Giao nhận, vận tải hàng hóa xuất nhập khẩutrong mối quan hệ với hoạt động logistics

Thương mại quốc tế phát triển, phạm vi giao lưu của hoạt động thương mại càng được mở rộng, hàng hóa xuất nhập khẩu sẽ được vận chuyển giữa các quốc gia theo nhiều cách thức đa dạng và phức tạp hơn Cùng với những thay đổi nhanh chóng của hoạt động thương mại với sự chuyên môn hóa và tính chất đa dạng, một bộ phận trung gian trong hoạt động thương mại quốc tế

đã được hình thành Đây không phải là người bán, cũng không phải là người muahay người sử dụng cuối cùng mà họ là người đứng giữa chuyên đảm nhận các hoạt động liên quan đến vận tải, giao và nhận hàng hóa - được gọi là nhà giao nhận (Forwarders hay forwarding agents) Theo quy tắc của Liên đoàn

Trang 38

Các Hiệp hội Giao nhận Vận tải Quốc tếFIATA, dịch vụ giao nhận là bất kỳ dịch vụ nào liên quan đến vận chuyển, gom hàng, lưu kho, bốc xếp, dỡ hàng, đóng gói, phân phối hàng hóa và cao hơn là dịch vụ tư vấn cho các dịch vụ kể trên Ngoài ra dịch vụ giao nhận còn bao gồm cả dịch vụ liên quan đến hải quan, thanh toán quốc tế, tài chính, mua bảo hiểm hàng hóa

Tựu chung lại, dịch vụ giao nhận là dịch vụ liên quan đến việc nhận hàng của người gửi hàng, vận chuyển và giao tới người nhận hàng Tuy nhiên do sự phát triển phức tạp của hoạt động ngoại thương trong nền kinh tế thị trường và toàn cầu hóa sâu rộng, khách hàng (người gửi hàng hoặc người nhận hàng) và bản thân những nhà cung ứng dịch vụ giao nhận có xu hướng muốn đảm nhận tất cả các khâu trong quá trình từ khi hàng ở kho người gửi hàng cho đến kho người nhận hàng nhằm đảm bảo sự thống nhất hoạt động và thông tin liên lạc trong quá trình vận chuyển hàng Các nhà cung cấp dịch vụ logistics bên thứ ba (3PL) ra đời là những người làm tất cả các thủ tục liên quan đến xuất khẩu hàng hóa ra khỏi nước xuất khẩu, đóng gói, bốc xếp, vận chuyển, mua bảo hiểm hàng hóa, dỡ hàng, lưu kho, phân phối và giao hàng đến người nhận hàng tại nước nhập khẩu theo sự ủy thác của người gửi hàng, người nhận hàng hoặc một bên đại lý giao nhận liên quan Mô hình dưới đây sẽ thể hiện rõ vai trò và

vị trí của giao nhận, vận tải hàng hóa trong chuỗi dịch vụ logistics

Người

gửi hàng giao nhận Người

Người giao nhận nhận hàng Người

Người chuyên chở

HẢI QUAN NƯỚC XUẤT KHẨU

HẢI QUAN NƯỚC NHẬP KHẨU

LOGISTICS

Trang 39

Sơ đồ 1.2 Giao nhận, vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu trong chuỗi dịch vụ logistics

Nguồn: Viện logistics Việt Nam - Vietnam logistics Institute, 2016

1.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc phát triển dịch vụ logistics trong giao nhận, vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu

Dưới góc nhìn trong nền kinh tế quốc dân thìdịch vụ logisticslà hoạt động thương mại bao gồm các dịch vụ bổ sung về vận chuyển, giao nhận, kho hàng, hải quan, tư vấn khách hàng và một số dịch vụ khác liên quan đến vận tải, giao nhận hàng hóa nhằm đảm bảo quá trình phân phối, lưu chuyển hàng hóa diễn ra một cách hiệu quả nhất, chi phí thấp nhất và đáp ứng được các yêu cầu của khách hàng, có thể thấy hệ thống dịch vụ logistics quốc gia gồm các thành phần được trình bày ởSơ đồ 1.3 như sau:

Sơ đồ 1.3 Hệ thống dịch vụ logistics trong nền kinh tế quốc dân

Nguồn: nghiên cứu của tác giả

KHUNG THỂ CHẾ PHÁP LÝ, THIẾT CHẾ CÔNG

VÀ HỆ THỐNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

- Nhà nước: chính phủ, các bộ, ban, ngành liên quan.

- Hải quan: cơ quan quản lý nhà nước tại cảng, sân bay.

- Hệ thống các văn bản pháp luật, các hệ thống và chính sách công liên quan.

CÁC DOANH NGHIỆP

CUNG CẤPDỊCH VỤ

LOGISTICS

- Doanh nghiệp Việt Nam.

- Doanh nghiệp có vốn đầu tư

nước ngoài.

CÁC DOANH NGHIỆP SỬ DỤNG DỊCH VỤ LOGISTICS

- Doanh nghiệp Việt Nam.

- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

HỆ THỔNG CƠ SỞ HẠ TẦNG QUỐC GIA

- Hệ thống đường bộ: đường biển và thủy nội địa, đường không, đường sắt quốc gia.

- Hệ thống thông tin quốc gia liên quan đến giao nhận, vận tải hàng hóa.

Trang 40

Theo đó, dịch vụ logistics sẽ bao gồm bốn thành phần chính và bốn yếu

tố này trực tiếp tác động đến sự phát triển của dịch vụ logistics quốc gia:

a) Khung thể chế pháp lý, thiết chế công và hệ thống quản lý nhà nước

Cụ thể hơn, cơ sở pháp lý của hoạt động logistics trong hoạt động thương mại quốc tế bao gồm luật quốc gia và luật quốc tế

Ở các quốc gia trên thế giới, hoạt động logistics được coi là hoạt động kinh tế hợp pháp, do vậy sẽ phải tuân theo quy định củaluật pháp quốc gia cũng như được chính phủ nước đó bảo vệ Khung khổ pháp lý của cáchoạt động dịch vụ logistics quốc gia được quy định tại các văn bản pháp luật, nghị định thông tư liên quan, các chính sách chung của Nhà nước Hoạt động logistics trong giao nhận, vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu được quy định và giám sát chặt chẽ bởi các Bộ, ban, ngành và đặc biệt là cơ quan Hải quan Đồng thời tại các cảng biển, sân bay, cửa khẩu hoạt động giao nhận, vận tải hàng hóa cũng được giám sát chặt chẽ bởi cơ quan Hải quan, cơ quan cảng vụ… nhằm đảm bảo an ninh và kiểm soátnghiêm ngặt luồng hàng hóa xuất nhập khẩu, phương tiện và con người xuất cảnh, nhập cảnh vào quốc gia Bởi đặc điểm của logistics trong ngoại thương là tập hợp các hoạt động liên quan đến quốc tế, phạm vi thực hiện vượt ra ngoài biên giới quốc gia, có tác động giữa quốc gia này với quốc gia khác Do vậy việc phải có các quy định nhằm thống nhất hoạt động logistics giữa các quốc gia là vô cùng cần thiết Hiện nay chưa có bộ luật, hiệp định hay công ước nào tác động đến toàn

bộ hoạt động trong chuỗi logistics nhưng đã có những công ước, hiệp ước, nghị định thư và tập quán quốc tế quy định, điều chỉnh trách nhiệm và quyền hạn của các bên liên quan trong quá trình giao nhận, vận tải hàng hóa thương mại quốc tế Có thể kể tên nguồn luật đó như sau:

- Incoterm (ICC - International Chamber of Commerce, 2010) là bộ quy tắc tập quán thương mại quốc tế quy định quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm và hướng dẫn trong thương mại quốc tế

Ngày đăng: 25/10/2018, 23:45

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w