Chính vì vậy, đề tài “Xuất khẩu lao động của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập AEC” đã được học viên lựa chọn làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp chương trình thạc sĩ Kinh tế
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Trang 3Học viên
Bùi Thị Bích Thảo
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành tới toàn thể các thầy, cô giáo Khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế , trường Đại học Kinh tế , Đại học Quốc gia Hà Nội đã truyền đa ̣t những kiến thức vô cùng quý giá cũng như các phương pháp nghiên cứu khoa học, tạo môi trường thuận lợi nhất trong suốt thời gian tác giả học tập và nghiên cứu tại trường
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tác giả xin được bày tỏ lòng cảm ơn tới PGS, TS Nguyễn Thị Kim Chi, người thầy và cũng là người hướng dẫn tác giả tận tình, chu đáo trong suốt quá trình thực hiện luận văn Không có sự chỉ bảo, khuyến khích của PGS, TS Nguyễn Thị Kim Chi, tác giả sẽ không thể cho ra đời một công trình nghiên cứu như vậy
Tác giả cũng xin trân trọng cảm ơn Bộ phận Sau đại học, Phòng Đào tạo, các anh chị chuyên viên văn phòng Khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn này
Cuối cùng, tác giả xin gửi lời tri ân sâu sắc đến gia đình , người thân, đồng nghiệp, bạn bè đã luôn ủng hộ, động viên và giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập , làm việc và nghiên cứu của mình
Học viên
Bùi Thị Bích Thảo
Trang 5TÓM TẮT
Xuất khẩu lao động không phải là một chủ đề mới, song trong bối cảnh các nước đang ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới nói chung và khu vực nói riêng, đặc biệt là khi Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC - ASEAN Economic Community) chính thức thành lập vào ngày 31/12/2015, đất nước Việt Nam nói chung và hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam nói riêng đứng trước
những thời cơ và thách thức mới Do đó, đề tài “Xuất khẩu lao động của Việt Nam
trong bối cảnh hội nhập AEC” đã được học viên lựa chọn làm đề tài nghiên cứu
cho luận văn thạc sĩ của mình
Qua quá trình thực hiện, đề tài đã:
Thứ nhất, hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về xuất khẩu lao
động trong bối cảnh hội nhập
Thứ hai, phân tích thực trạng xuất khẩu lao động của Việt Nam sang các
nước ASEAN trước và sau khi AEC thành lập; từ đó đưa ra những đánh giá cụ thể
về hiệu quả, thành công, hạn chế của xuất khẩu lao động trong thời gian qua
Thứ ba, đưa ra một số cơ hội, thách thức cũng như triển vọng xuất khẩu lao
động của Việt Nam sang các nước ASEAN đồng thời đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường xuất khẩu lao động của Việt Nam sang các nước này theo hướng tập trung vào hoạt động di chuyển lao động có tay nghề trong ASEAN trong thời gian tới
Đề tài hy vọng sẽ cung cấp cho các nhà nghiên cứu, các chuyên gia cũng như những ai quan tâm đến hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam nói chung và xuất khẩu lao động sang các nước ASEAN nói riêng bức tranh toàn cảnh về thị trường này và triển vọng của nó trong thời gian tới Song, do trình độ kiến thức còn hạn chế nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được sự góp ý của các thầy, cô giáo để luận văn được hoàn thiện hơn
Trang 6MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG BIỂU iii
DANH MỤC HÌNH iv
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG 5
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 5
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về di chuyển lao động quốc tế 5
1.1.2 Các công trình nghiên cứu về xuất khẩu lao động của Việt Nam sang các thị trường 7
1.1.3 Các công trình nghiên cứu về kinh nghiệm xuất khẩu lao động và quản lý lao động nhập cư 8
1.1.4 Các công trình nghiên cứu về xuất khẩu lao động của các nước nói chung và của Việt Nam nói riêng trong bối cảnh hội nhập AEC 9
1.1.5 Khoảng trống nghiên cứu và định hướng đề tài 13
1.2 Cơ sở lý luận về xuất khẩu lao động 14
1.2.1 Các khái niệm liên quan đến xuất khẩu lao động 14
1.2.2 Các hình thức xuất khẩu lao động 17
1.2.3 Nguyên nhân của xuất khẩu lao động 18
1.2.4 Đặc điểm của xuất khẩu lao động 20
1.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng tới xuất khẩu lao động 23
1.2.6 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả xuất khẩu lao động 27
1.3 Kinh nghiệm xuất khẩu lao động của một số nước trong ASEAN và bài học đối với Việt Nam 30
1.3.1 Kinh nghiệm xuất khẩu lao động của một số nước trong ASEAN 30
Trang 71.3.2 Bài học đối với Việt Nam 34
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37
2.1 Quy trình nghiên cứu 37
2.2 Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu 38
2.2.1 Phương pháp thu thập dữ liệu 38
2.2.2 Phương pháp xử lý dữ liệu 39
2.3 Các phương pháp cụ thể 39
2.3.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp 39
2.3.2 Phương pháp thống kê 41
2.3.3 Phương pháp so sánh 42
2.3.4 Phương pháp kế thừa 43
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA VIỆT NAM SANG CÁC NƯỚC ASEAN TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP AEC 44
3.1 Giới thiệu chung về AEC và tự do hóa di chuyển lao động trong AEC 44
3.1.1 Giới thiệu chung về AEC 44
3.1.2 Các hiệp định liên quan đến tự do hóa di chuyển lao động trong AEC 46
3.2 Thực trạng xuất khẩu lao động của Việt Nam sang các nước ASEAN giai đoạn 1995-2017 54
3.2.1 Thị trường Lào 54
3.2.2 Thị trường Campuchia 56
3.2.3 Thị trường Malaysia 59
3.2.4 Thị trường Thái Lan 61
3.2.5 Thị trường Myanmar 63
3.2.6 Thị trường Singapore 65
3.3 Đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của xuất khẩu lao động của Việt Nam sang các nước ASEAN 68
3.3.1 Số lao động và việc làm được tạo ra qua xuất khẩu lao động góp phần giảm sức ép việc làm trong nước 68
Trang 83.3.2 Cải thiện thu nhập của người lao động và nguồn thu ngoại tệ của nhà
nước 69
3.3.3 Hình thành lực lượng lao động có tay nghề và có lối sống công nghiệp 71
3.3.4 Quảng bá hình ảnh lao động Việt Nam trên thị trường lao động quốc tế 72
3.4 Những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của xuất khẩu lao động của Việt Nam sang các nước ASEAN giai đoạn 1995-2017 72
3.4.1 Một số thành tựu đạt được 72
3.4.2 Một số hạn chế còn tồn tại 73
3.4.3 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế 74
CHƯƠNG 4 MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA VIỆT NAM SANG CÁC NƯỚC ASEAN ĐẾN NĂM 2020, TẦM NHÌN 2025 76
4.1 Cơ hội và thách thức của xuất khẩu lao động Việt Nam sang các nước ASEAN trong thời gian tới 76
4.1.1 Cơ hội 76
4.1.2 Thách thức 77
4.2 Triển vọng hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam sang các nước ASEAN đến năm 2020, tầm nhìn 2025 79
4.3 Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu lao động của Việt Nam sang các nước ASEAN đến năm 2020, tầm nhìn 2025 84
4.3.1 Tiếp tục mở rộng và phát triển thị trường xuất khẩu lao động nội khối 84
4.3.2 Tiếp tục nâng cao chất lượng nguồn lao động xuất khẩu 85
4.3.3 Nâng cao vai trò của nhà nước trong quản lý và hỗ trợ hoạt động xuất khẩu lao động 90
4.3.4 Cải thiện hoạt động quản lý người lao động làm việc ở nước ngoài nói chung và ở các nước ASEAN nói riêng 93
4.4 Một số kiến nghị 95
Trang 94.4.1 Kiến nghị với các cơ quan lý nhà nước 95
4.4.2 Kiến nghị đối với các doanh nghiệp xuất khẩu lao động 98
4.4.3 Kiến nghị đối với người lao động 99
KẾT LUẬN 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
Trang 10DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT STT Ký hiệu Nguyên nghĩa Tiếng Anh Nguyên nghĩa Tiếng Việt
Á
Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan
and Vietnam
Campuchia, Lào, Myanmar,
Việt Nam
Trang 11Arrangements nhau
Organisation for Economic Co-operation and Development
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
giới
Trang 12DANH MỤC BẢNG BIỂU
8 Bảng 3.8 Tỷ trọng của XKLĐ sang các nước ASEAN trong
tổng số việc làm hàng năm giai đoạn 2001-2017 69
Tình hình lao động Việt Nam đang làm việc tại một số thị trường và mức thu nhập trung bình hàng tháng năm 2014
Trang 13DANH MỤC HÌNH
3 Hình 4.1 Mô hình quản lý lao động Việt Nam làm việc ở nước
Trang 14MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, xuất khẩu lao động (XKLĐ) đã và đang trở thành một loại hình hoạt động kinh tế đối ngoại mang tính tất yếu và cần thiết đối với những nước có đông dân số trong độ tuổi lao động như Việt Nam và một số nước khác trên thế giới Do đó, nhiều quốc gia đã coi XKLĐ là ngành kinh tế mũi nhọn và tổ chức hoạt động này một cách bài bản, đồng thời có chiến lược phát triển XKLĐ gắn liền với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của từng quốc gia
Ở Việt Nam, hoạt động XKLĐ cũng đã được bắt đầu từ những năm 1980 thông qua hình thức đưa lao động sang các nước xã hội chủ nghĩa làm việc theo các hiệp định hợp tác quốc tế về lao động Từ năm 1991 đến nay, hoạt động này đã được chuyển dần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Hơn 37 năm đưa lao động ra nước ngoài làm việc, hoạt động XKLĐ của Việt Nam đã có những bước phát triển rõ rệt và mang lại nhiều thành tựu đáng khích lệ, góp phần nâng cao thu nhập của người dân đồng thời cải thiện an sinh xã hội và phát triển kinh tế của địa phương
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và hội nhập khu vực diễn ra ngày càng sâu rộng như hiện nay, nhất là khi Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC - ASEAN Economic Community) chính thức thành lập vào ngày 31/12/2015, hoạt động XKLĐ của Việt Nam sang các nước nói chung và XKLĐ của Việt Nam sang các nước ASEAN (Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á - Association of Southeast Asia Nations) nói riêng đứng trước những cơ hội và thách thức lớn hơn bao giờ hết Bởi
lẽ AEC chỉ chú trọng vào việc di chuyển các lao động có kỹ năng và các chuyên gia trong các nước ASEAN thông qua 3 kênh chủ yếu là: (i) Tạo thuận lợi cho việc cấp thị thực và giấy phép lao động cho chuyên gia và lao động có kỹ năng tham gia vào các hoạt động liên quan đến thương mại và đầu tư qua biên giới; (ii) Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau (MRAs – Mutual Recognition Arrangements)1; (iii) Hợp tác
1 Hiện nay, ASEAN có 8 MRAs bao gồm: dịch vụ kỹ thuật (12/2005); dịch vụ điều dưỡng (12/2006); dịch vụ kiến trúc; dịch vụ khảo sát (11/2007); hành nghề y khoa; hành nghề nha khoa; dịch vụ kế toán (02/2009) và hành nghề du lịch (11/2012)
Trang 15giữa các trường đại học trong ASEAN Tuy nhiên, kể từ khi AEC chính thức thành lập tới nay (tháng 12/2017), hợp tác trong di chuyển lao động giữa các nước đi sau quá trình hội nhập ở các lĩnh vực khác và việc thực hiện các biện pháp trên còn khá
nhiều hạn chế
Trong nội bộ các nước ASEAN, chính sách di cư chủ yếu được thực hiện trên cơ sở quốc gia với rất ít các ràng buộc thông qua thỏa thuận quốc tế Chính phủ từng nước quyết định về độ mở của thị trường lao động thông qua chính sách thị thực, quy định những lĩnh vực cụ thể người nước ngoài được phép làm việc, quy định về bằng cấp, chứng chỉ nghề nghiệp Ngoài ra còn có các chính sách sau đường biên giới như bảo vệ quyền lợi cho người lao động và quy định xử lý vi phạm đối với lao động nước ngoài… Do đó, chính sách của các nước ASEAN còn có nhiều khác biệt lớn và hầu hết các nước có chung quan điểm là không mặn mà với việc tiếp cận nguồn lao động phổ thông mà chỉ mong muốn tiếp nhận lao động có tay nghề hay lao động đã qua đào tạo
Từ những phân tích ở trên, có thể thấy rằng hoạt động di chuyển lao động có kỹ năng và các chuyên gia giữa các nước ASEAN vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn Chính
vì vậy, thay vì di chuyển tự do lao động có tay nghề cao giữa các nước, hoạt động XKLĐ mà chủ yếu là lao động phổ thông vẫn sẽ còn có tiềm năng và đóng vai trò quan trọng trong ngắn hạn và trung hạn Tuy nhiên, trong dài hạn, các nước ASEAN sẽ ưu tiên hơn đối với dòng lao động có kỹ năng và các chuyên gia trong khi lao động Việt
Nam chưa đáp ứng được các điều kiện đó Chính vì vậy, đề tài “Xuất khẩu lao động
của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập AEC” đã được học viên lựa chọn làm đề tài
nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp chương trình thạc sĩ Kinh tế quốc tế của mình với mục tiêu tìm ra các giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động di chuyển lao động của Việt Nam sang các nước ASEAN trong thời gian tới theo hướng ưu tiên những lao động có
kỹ năng và các chuyên gia theo các MRA đã ký kết
Đề tài phải trả lời được một số câu hỏi sau:
- Thực trạng xuất khẩu lao động của Việt Nam sang các nước ASEAN giai
đoạn 1995-2017 diễn ra như thế nào?
Trang 16- AEC thành lập đặt ra những cơ hội và thách thức gì đối với hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam sang các nước ASEAN trong thời gian tới?
- Làm thế nào để đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam sang
các nước ASEAN trong thời gian tới theo hướng tập trung vào lao động có kỹ năng
và các chuyên gia?
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là tìm ra một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động XKLĐ của Việt Nam sang các nước ASEAN theo hướng di chuyển lao động có kỹ năng và các chuyên gia đến năm 2020, tầm nhìn 2025
Để đạt được mục đích đó, luận văn phải đạt được một số nhiệm vụ nghiên cứu sau:
Thứ nhất, hệ thống hóa một số vấn đề lý luận và thực tiễn về XKLĐ trong
bối cảnh hội nhập quốc tế
Thứ hai, phân tích, đánh giá thực trạng XKLĐ của Việt Nam sang các nước
ASEAN giai đoạn 1995-2017
Thứ ba, tìm ra những cơ hội, thách thức của XKLĐ Việt Nam sang các nước
ASEAN đến năm 2020, tầm nhìn 2025
Thứ tư, đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm đẩy mạnh hoạt động
XKLĐ của Việt Nam sang các nước ASEAN theo hướng di chuyển lao động có kỹ năng và các chuyên gia đến năm 2020, tầm nhìn 2025
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động XKLĐ của Việt Nam sang các nước ASEAN
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Không gian: hoạt động XKLĐ của Việt Nam sang một số thị trường trong ASEAN (Lào, Campuchia, Malaysia, Thái Lan, Myanmar, Singapore) Đây là những thị trường trong ASEAN mà Việt Nam có thực hiện XKLĐ theo như quá trình nghiên cứu, tìm hiểu của tác giả
+ Thời gian: từ 1995-2017 Sở dĩ chọn mốc thời gian nghiên cứu như vậy vì năm 1995, Việt Nam chính thức trở thành thành viên của ASEAN, đánh dấu bước
Trang 17hội nhập khu vực đầu tiên của Việt Nam và đến ngày 31/12/2015, Cộng đồng Kinh
tế ASEAN được chính thức ra đời Kể từ đó đến nay (tháng 12/2017), hoạt động XKLĐ của Việt Nam sang các nước ASEAN đã có nhiều thay đổi Vì vậy, nghiên cứu hoạt động XKLĐ của Việt Nam trong giai đoạn này sẽ giúp đưa ra các đánh giá, cũng như những nhận định về những biến chuyển trong hoạt động XKLĐ của Việt Nam sang các nước ASEAN khi mà Việt Nam ngày càng hội nhập sâu hơn vào khu vực này
+ Vấn đề nghiên cứu: XKLĐ của Việt Nam sang một số nước ASEAN (đã nêu trên) trong giai đoạn 1995-2017
4 Những đóng góp mới của luận văn
Bên cạnh việc trình bày kinh nghiệm XKLĐ của một số nước trong ASEAN, luận văn sẽ phân tích, đánh giá thực trạng XKLĐ của Việt Nam sang một số nước ASEAN trong giai đoạn 1995-2017 cũng như chỉ ra những cơ hội và thách thức của XKLĐ Việt Nam sang các nước này đến năm 2020, tầm nhìn 2025 Ngoài ra, luận văn còn đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm đẩy mạnh hơn nữa hoạt động xuất khẩu Việt Nam sang các nước ASEAN theo hướng di chuyển lao động có kỹ năng và các chuyên gia đến năm 2020, tầm nhìn 2025
5 Kết cấu luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu luận văn gồm 4 chương như sau:
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận và thực tiễn về xuất khẩu lao động
Chương 2 Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 Thực trạng xuất khẩu lao động của Việt Nam sang các nước ASEAN trong bối cảnh hội nhập AEC
Chương 4 Một số giải pháp và kiến nghị nhằm đẩy mạnh xuất khẩu lao động của Việt Nam sang các nước ASEAN đến năm 2020, tầm nhìn 2025
Trang 18CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ
LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về di chuyển lao động quốc tế
Các công trình nghiên cứu về di chuyển lao động quốc tế (international labor force migration) đã xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX, trong đó có thể kể tới một số công trình nghiên cứu gần đây nhất như:
OECD2 (2011), OECD (2012), OECD (2013), OECD (2014), OECD (2015),
OECD (2016): Là một chuỗi xê-ri trong Báo cáo Triển vọng việc làm của OECD
(OECD Employment Outlook) Báo cáo thống kê hàng năm cung cấp các con số thống kê chi tiết về dân số, lực lượng lao động, việc làm và thất nghiệp được phân chia dựa trên giới tính, thời gian thất nghiệp, tình trạng việc làm, việc làm theo ngành nghề và công việc bán thời gian Các số liệu được thống kê bao gồm các quốc gia là thành viên của OECD và toàn thể OECD, toàn thể Châu Âu và Liên minh Châu Âu Tài liệu này được bắt đầu từ năm 1989 cho đến nay (2017) đã xuất bản được 28 báo cáo
IOM3 (2011) IOM (2013), IOM (2015): Tương tự như vậy, đây là 3 trong số
8 báo cáo hàng đầu về tình hình di cư thế giới từ năm 2000 tới nay của Tổ chức Di
cư Quốc tế, trong đó trình bày các xu hướng mới nhất trong hoạt động di cư quốc tế, thảo luận về vấn đề các chính sách đang nổi lên đồng thời cung cấp các thông tin về tình hình phát triển gần đây của các nước thuộc Châu Phi, Châu Mỹ, Châu Á, Châu
Âu, khu vực Trung Đông và Châu Đại Dương Nổi bật nhất là Báo cáo Di cư Thế
giới năm 2013 với chủ đề “Di cư: Chất lượng cuộc sống và phát triển” bao gồm 05 chương và Báo cáo Di cư Thế giới năm 2015 với chủ đề “Di cư và thành thị: đối tác
mới nhằm quản lý di chuyển lao động” bao gồm 03 chương Báo cáo năm 2013 đã
tập trung vào một số điểm nhấn về di cư và chương trình phát triển, các khuynh hướng di cư, đặc biệt là có phần tổng quan các nghiên cứu về di cư, hạnh phúc và
2 OECD: Organization for Economic Cooperation and Development – Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
3 IOM: International Organization for Migration – Tổ chức Di cư Quốc tế
Trang 19chất lượng cuộc sống, các khía cạnh chất lượng cuộc sống của lao động di cư Cuối cùng, báo cáo đưa ra kết luận rằng, vấn đề lao động di cư cần được xác định là vấn
đề trọng tâm; sự phát triển ở đây không nằm ngoài việc cải thiện chất lượng sống của con người; di cư nhằm mục tiêu cải thiện sự phát triển con người và đạt được các cấp độ thỏa mãn về chất lượng cuộc sống Còn báo cáo năm 2015 tập trung vào chủ đề lao động di cư và những lao động này ảnh hưởng tới các thành phố như thế nào và hoàn cảnh của những lao động di cư ở thành phố đó ra sao Đây là một điểm mới đáng lưu ý vì trong khi đa số các báo cáo khác đều nhấn mạnh vào di cư ở cấp quốc gia thì báo cáo này đã thu hẹp phạm vi nghiên cứu và tập trung vào lao động
di cư ở cấp thành phố
ILO4 (2012), ILO (2013), ILO (2014a): Là 3 báo cáo về xu hướng việc làm toàn cầu theo từng năm Đến năm 2015, báo cáo này đã được thay thế bằng báo cáo hàng năm mới về xu hướng việc làm và triển vọng xã hội thế giới (World Employment and Social Outlook (WESO): Trends), trong đó tập trung vào đánh giá
về tình trạng có công ăn việc làm cũng như tình trạng thất nghiệp trên toàn thế giới; phân tích các xu hướng trong thị trường lao động quốc tế, đồng thời đưa ra các dự báo và nhiều vấn đề khác Hiện nay, báo cáo mới này đã xuất bản được 05 số, đó là ILO (2015a), ILO (2015b), ILO (2016a), ILO (2016b) và ILO (2017)
Các nghiên cứu, các báo cáo trên đã đưa ra cái nhìn tổng quan về lao động và tình hình di chuyển lao động trên toàn thế giới, đồng thời đưa ra các dự báo về triển vọng thị trường lao động trong những năm tới Những tài liệu này giữ vai trò quan trọng trong việc đánh giá thị trường lao động nhìn từ góc độ tổng thể, khái quát ở tầm vĩ mô để từ đó đưa cái nhìn tổng quan về thị trường lao động thế giới nói chung
và một số khu vực nói riêng Qua đó, gợi ý cho các quốc gia đưa ra những chính sách lao động phù hợp với tình hình mới Tuy nhiên, đây chỉ là những gợi ý chứ chưa đi vào chi tiết cụ thể của từng quốc gia, thậm chí chỉ cung cấp một cách chung chung, khái quát, làm cho việc đánh giá ở tầm vĩ mô là vô cùng khó khăn bởi mỗi thị trường cụ thể sẽ mang những đặc điểm riêng biệt của mình
4
Trang 201.1.2 Các công trình nghiên cứu về xuất khẩu lao động của Việt Nam sang các
thị trường
Các công trình bài viết liên quan đến đề tài XKLĐ của Việt Nam nói chung
và hoạt động XKLĐ của Việt Nam sang các thị trường nói riêng rất phong phú và xuất hiện từ khá sớm Có thể kể đến một số các nghiên cứu như:
Nguyễn Lương Trào (1994), Cao Văn Sâm (1994), Trần Văn Hằng (1996), Nguyễn Thị Phương Linh (2004), Trần Thị Thu (2006): Các luận án, đề tài trên đã nêu các khái niệm liên quan đến XKLĐ và làm rõ các vấn đề liên quan đến quản lý của nhà nước về XKLĐ trong bối cảnh mới – cơ chế thị trường – đồng thời phân tích thực trạng quản lý nhà nước về XKLĐ nhằm đưa ra một số đánh giá và đề xuất một số quan điểm, giải pháp đổi mới quản lý nhà nước về XKLĐ
Trong khi đó, Nguyễn Tiến Dũng (2010) và Lưu Văn Hưng (2011) lại tập trung vào vấn đề XKLĐ Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế nói chung và hội nhập kinh tế nói riêng Cả hai công trình đã đưa ra cơ sở lý luận về phát triển XKLĐ trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế thông qua việc đưa ra các vấn đề liên quan đến XKLĐ và XKLĐ trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế Đồng thời, các tác giả còn đi sâu nghiên cứu thực trạng XKLĐ trực tiếp tại một số thị trường trọng điểm như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Malaysia ; qua đó đánh giá tình hình XKLĐ của Việt Nam giai đoạn 1991-2010, chỉ ra những kết quả đạt được và chưa đạt được, những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế đó đồng thời đưa ra định hướng và một số giải pháp nhằm phát triển XKLĐ Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Ngoài ra, Bùi Sỹ Tuấn (2012), đã trình bày cơ sở lý luận về chất lượng nguồn nhân lực nhằm đáp ứng nhu cầu XKLĐ Bên cạnh đó, tác giả còn phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu XKLĐ của Việt Nam trong thời gian vừa qua và đưa ra một số các giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực Việt Nam đến năm 2020
Như vậy, có thể thấy rằng các công trình nghiên cứu về hoạt động XKLĐ của Việt Nam sang các thị trường là hết sức phong phú và khá cập nhật Đây là nguồn
Trang 21tư liệu vô cùng hữu ích cho học viên trong quá trình thực hiện luận văn vì có thể nắm được các kiến thức nền tảng về XKLĐ cũng như hiểu được bức tranh khái quát
về tình hình XKLĐ của Việt Nam từ những năm 1980 đến nay
1.1.3 Các công trình nghiên cứu về kinh nghiệm xuất khẩu lao động và quản lý
lao động nhập cư
Nghiên cứu về XKLĐ nói chung và XKLĐ sang các thị trường cụ thể đã có
từ lâu với rất nhiều công trình vô cùng đa dạng và phong phú Tuy nhiên, việc nghiên cứu một cách cụ thể về kinh nghiệm XKLĐ của một số nước thì chưa có nhiều, thậm chí chỉ là một phần nhỏ trong các công trình nghiên cứu
Trong quá trình tìm hiểu của học viên, có một số công trình nổi bật như Nguyễn Thị Hồng Bích (2007) hay Aniceto C Orbeta, Jr và Kathrina Gonzales (2013b) TS Nguyễn Thị Hồng Bích cùng các cộng sự thông qua cuốn sách của mình đã khẳng định XKLĐ ở các nước Đông Nam Á ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội của nhiều quốc gia Một mặt, XKLĐ vừa là phương tiện thu hút ngoại tệ thông qua số tiền mà người lao động làm việc ở nước ngoài gửi về; mặt khác, XKLĐ vừa là cách thức tạo công ăn việc làm cho người dân, nhờ đó mà giảm bớt tỷ lệ thất nghiệp trong nước Cuốn sách cho thấy, các quốc gia Đông Nam Á trong quá trình tiến hành XKLĐ đều gặp phải những vấn
đề tương tự trong các khâu như: Phát triển thị trường lao động nước ngoài; Bảo vệ người lao động di cư trong quá trình tuyển chọn và sử dụng lao động; Chính sách và khung pháp lý về XKLĐ; Cơ cấu và cơ chế quản lý lao động di cư; Đào tạo và định hướng lao động trước khi xuất khẩu; Quản lý tiền gửi về nước của người lao động;
Cơ chế hợp tác trong khu vực về XKLĐ… Thông qua việc đề cập một cách chi tiết,
cụ thể về các vấn đề như vậy, cuốn sách đã cung cấp một bối cảnh tổng quan nhất
về hoạt động XKLĐ của 4 nước trong khu vực Đông Nam Á: Philippines, Indonesia, Thái Lan, Malaysia – những nước có vị trí địa lý gần với Việt Nam và phần nào đó có nét tương đồng về trình độ lao động, qua đó các tác giả đã rút ra được những bài học vô cùng quý giá cho hoạt động XKLĐ của Việt Nam
Trang 22Ngoài ra, còn có một số bài tạp chí, công trình nghiên cứu về kinh nghiệm XKLĐ của một số quốc gia, ví dụ như: Hoàng Lan Hoa (2002), Đoàn Minh Duệ & Nguyễn Duy Dũng (đồng chủ biên) (2010)… Mặc dù đã được tìm hiểu, nghiên cứu
ở một mức độ nhất định nào đó, tuy nhiên, phần nghiên cứu này còn khá đơn giản,
và chỉ chiếm một phần nhỏ trong chương cơ sở lý luận về hoạt động XKLĐ chứ chưa có công trình nào đi sâu một cách cụ thể, chi tiết và cập nhật về kinh nghiệm XKLĐ của một số nước trong khu vực Đông Nam Á Khi Việt Nam đã trở thành một trong các quốc gia hàng đầu về XKLĐ và đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập quốc tế nói chung và hội nhập khu vực nói riêng ngày càng sâu rộng thì việc nghiên cứu kinh nghiệm XKLĐ và các vấn đề liên quan của các nước trở nên vô cùng cấp thiết, đặc biệt là những kinh nghiệm thành công và cả những hạn chế của họ
1.1.4 Các công trình nghiên cứu về xuất khẩu lao động của các nước nói chung
và của Việt Nam nói riêng trong bối cảnh hội nhập AEC
Mặc dù AEC mới thành lập, tuy nhiên cũng đã thu hút được sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu liên quan đến các vấn đề như lao động, đầu tư, thương mại Trong đó, xét riêng về vấn đề lao động, nổi bật có một số công trình như sau:
Nguyễn Thường Lạng và cộng sự (2015) đã đưa ra những phân tích đánh giá chủ yếu về các yếu tố cản trở hoặc làm giảm khả năng sẵn sàng tham gia hội nhập của lao động Việt Nam như năng suất lao động thấp, trình độ chuyên môn không đồng đều và vấn đề chuẩn bị kỹ năng, thái độ cho việc di chuyển lao động chưa cao Bên cạnh những lợi ích như tạo thêm cơ hội thu nhập cho lao động có kỹ năng, thúc đẩy các lao động không có kỹ năng tăng cường học tập để có cơ hội nghề nghiệp tốt, thúc đẩy các quốc gia hoàn thiện các thể chế và chính sách giáo dục đào tạo thì thị trường lao động của các nước ASEAN vẫn còn gặp một số khó khăn, đặc biệt là khả năng thích nghi với môi trường mới do việc học những ngôn ngữ của các quốc gia ASEAN đang rất hạn chế, kể cả ở cả các thành phố lớn
Các tác giả Nguyễn Huy Hoàng (2013), Natenapha Wailerdsak (2013), Bùi Thị Minh Tiệp (2015) đã phân tích sâu về thực trạng nhân lực của các quốc gia thành viên ASEAN cả về mặt chất lượng và số lượng Theo nhận định của các tác
Trang 23giả, mặc dù hầu hết các quốc gia khác ASEAN đã hoặc đang sắp sửa ở giai đoạn dân số vàng nhưng nếu chỉ có số lượng lao động lớn nhưng lại hạn chế về trình độ chuyên môn và kỹ năng thì chất lượng tăng trưởng sẽ không cao và không thể đảm bảo tăng trưởng trong dài hạn Bên cạnh đó, chất lượng lao động của các quốc gia trong ASEAN lại không đồng đều Các bài nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, các quốc gia đang hướng đến những chiến lược nâng cao và phát triển nguồn nhân lực rất khác nhau, và thậm chí còn thiết lập những quy định riêng đối với lao động từ nước ngoài Chính vì vậy, việc hòa hợp thị trường lao động giữa các quốc gia không hề
dễ dàng Đặc biệt, Nguyễn Huy Hoàng (2013) nhấn mạnh rằng, sự chênh lệch về trình độ phát triển trong các nước ASEAN vẫn đang rất lớn nên việc ASEAN chỉ đề cập đến tự do di chuyển của lao động có kỹ năng và các chuyên gia là cần thiết và đúng đắn Tuy nhiên, hiện tại tình trạng nhập cư trái phép vẫn diễn ra mạnh mẽ và gây ra nhiều quan ngại cho các quốc gia
Cũng nghiên cứu về thị trường lao động ASEAN, ILO/ADB (2014) đã phân tích một cách tỉ mỉ các vấn đề của thị trường lao động các quốc gia trong khu vực này Trong đó, số lượng và tỷ lệ người dân sống trên mức nghèo đói đã tăng nhưng không ổn định; chỉ số bất bình đẳng về thu nhập của các quốc gia là khá cao và cao hơn ở các thành thị, đồng thời vẫn còn khoảng trống khá lớn về mức chênh lệch phát triển giữa các quốc gia ASEAN-6 (Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan) và các nước CLMV (Campuchia, Lào, Myanmar, Việt Nam) ASEAN cũng có sự bất bình đẳng giới tính khi người phụ nữ thường chịu thiệt thòi hơn về tỷ lệ tham gia lực lượng lao động, tiền lương, điều kiện làm việc và
cơ hội được đối xử tốt trong việc làm Tuy mức tăng trưởng của việc làm đã gia tăng và tỷ lệ thất nghiệp có giảm trong những năm gần đây, nhưng một điều đáng lưu ý là tỷ lệ thất nghiệp ở thanh niên lại gia tăng (khoảng 13,1%) Tỷ lệ lao động trong những công việc dễ bị tổn thương hoặc điều kiện làm việc nghèo nàn, thiếu các phúc lợi xã hội cơ bản nhất và thiếu cả sự bảo vệ của pháp luật còn cao
Bên cạnh đó, vấn đề tự do di chuyển lao động trong AEC là một vấn đề nóng hổi và nhận được nhiều sự quan tâm của các chuyên gia kinh tế Do sự tự do di
Trang 24chuyển lao động chưa thực sự có hiệu lực ở thời điểm nghiên cứu nên các bài viết chủ yếu dựa trên cơ sở phân tích các điều khoản trong các hiệp định liên quan, cũng như phân tích các thể chế, chính sách của các quốc gia để chuẩn bị cho sự hội nhập
về lao động này Một nghiên cứu khá kỹ lưỡng và đầy đủ nhất về sự tự do di chuyển lao động trong ASEAN theo tinh thần trên là bài viết của tác giả Siow Yue Chia (2011) Đây là một bài nghiên cứu và phân tích kỹ càng về các điều khoản quy định
về việc tự do di chuyển lao động trong các hiệp định thương mại song phương, đa phương giữa các quốc gia ASEAN trong nội bộ hoặc với các đối tác bên ngoài; cũng như về công nhận bằng cấp, chất lượng của các chuyên gia Bài viết cũng phân tích về một khía cạnh nổi bật nhất nảy sinh từ vấn đề tự do di chuyển lao động đó là chảy máu chất xám, những lợi ích cũng như tổn thất mà cả nước tiếp nhận lao động
và nước gửi lao động phải đối mặt Bên cạnh đó, tác giả còn đi sâu phân tích những chính sách của các quốc gia nhằm khuyến khích hoặc hạn chế dòng chảy của lao động vào hoặc ra khỏi nước mình Theo đó, có nhiều nguyên nhân gây hạn chế hoặc cản trở vấn đề tự do di chuyển lao động giữa các quốc gia ASEAN do việc bảo hộ lao động trong nước, bao gồm: các yêu cầu về visa, hộ chiếu; quy định về dự trữ việc làm cho công dân bản địa; giới hạn về số lượng lao động, lĩnh lực hoạt động và nghề nghiệp được phép nhập cư vào nước tiếp nhận lao động; các bài kiểm tra về kinh tế và thị trường lao động; yêu cầu có giấy phép của hội đồng chuyên gia quốc gia; yêu cầu về ngôn ngữ… Trong báo cáo của ILO/ADB (2014) đã đề cập ở trên cũng có đề cập đến vấn đề tự do di chuyển lao động Báo cáo khẳng định rằng, vấn
đề tự do di chuyển lao động trong ASEAN chỉ giới hạn ở những lao động có kỹ năng, nhưng vấn đề di chuyển của lao động không có kỹ năng trong nội bộ ASEAN vẫn sẽ tiếp tục gia tăng trong ngắn hạn và trung hạn bởi yếu tố nhân khẩu học (tình trạng già hóa dân số ở một số nước) và những khác biệt về sự phát triển kinh tế Theo báo cáo, công cụ hỗ trợ chính cho sự tự do di chuyển này là Thỏa thuận công nhận lẫn nhau (MRAs), tuy nhiên, việc thực hiện MRAs sẽ phải đối mặt với một số khó khăn như sự khác biệt về hệ thống giáo dục, bằng cấp, các quy định của mỗi quốc gia cũng như khác biệt về yếu tố văn hóa, xã hội…
Trang 25Cũng đồng tình với quan điểm trên, bài phân tích của Aniceto C Orbeta, Jr
và Kathrina Gonzales (2013a) đã tập trung nghiên cứu về một góc độ khác của sự tự
do di chuyển lao động trong ASEAN, đó là sự di chuyển của lao động không có kỹ năng hoặc kỹ năng thấp hay lao động phổ thông Theo đánh giá của các tác giả, lao động có kỹ năng của khu vực chủ yếu di cư sang các nước OECD, trong khi đó, sự
di cư trong nội bộ lại chủ yếu là lao động phổ thông Dòng di cư này đã và đang rất mạnh mẽ và có một tác động lớn, thậm chí lớn hơn rất nhiều đối với tác động của dòng di cư lao động có kỹ năng trong nội bộ khu vực đến cả nước nhận và gửi lao động Chính vì vậy, bài viết tập trung phân tích 2 vấn đề chính, đó là: (i) mô tả các chính sách và thể chế của các nước thành viên ASEAN ở cả mức độ quốc gia và khu vực hiện đang chi phối sự di chuyển lao động (cả có kỹ năng và không có kỹ năng) và (ii) phân tích các khuôn khổ hỗ trợ để hướng tới việc xây dựng hiệp định
về sự tự do di chuyển của lao động phổ thông
Trong khi đó, Michele Tuccio (2017) đã nghiên cứu về các nhân tố quyết định tới việc di cư nội khối của ASEAN Trong bài viết này, tác giả khẳng định rằng, di cư lao động quốc tế ở Đông Nam Á đã tăng đáng kể trong những thập kỷ gần đây và được kỳ vọng sẽ tiếp tục gia tăng với việc Cộng đồng Kinh tế ASEAN chính thức thành lập vào cuối năm 2015 Qua nghiên cứu, bài viết tìm ra 3 nhân tố
có thể thúc đẩy hoạt động di cư nội khối của ASEAN trong những năm tới, đó là: (i) chuyển đổi dân số; (ii) chênh lệch lớn về thu nhập giữa các quốc gia; và (iii) những biên giới lỏng lẻo/thiếu kiểm soát (porosity of borders) Thêm vào đó, qua phân tích
số liệu các nhân tố ảnh hưởng tới di cư nội khối trong giai đoạn 1960-2000, nghiên cứu đã chỉ ra rằng các luồng di cư giữa các nền kinh tế Đông Nam Á chủ yếu được thúc đẩy bởi mức lương cao hơn, các mạng lưới xã hội di cư ở các điểm đến cũng như các thảm họa thiên nhiên ở các nước xuất phát
Bên cạnh đó, cũng có có một số công trình nghiên cứu về những cơ hội và thách thức đối với lao động Việt Nam khi AEC thành lập, ví dụ như bài nghiên cứu của Golfgang Form và các cộng sự (2014) đã phân tích những thực trạng yếu kém của lao động Việt Nam khi phải đối mặt với sự tự do di chuyển lao động này như:
Trang 26sự thiếu hụt của lao động có tay nghề cao trong khi lao động phổ thông lại chiếm đa số; chất lượng đào tạo của các trường đại học chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động; ngoại ngữ kém và năng suất lao động thấp… Để dòng chảy
tự do của lao động có kỹ năng thực sự có hiệu quả, và góp phần giúp Việt Nam chấn chỉnh lại đội ngũ lao động của mình, các tác giả của bài viết đã phân tích về vấn đề tự do di chuyển lao động ở Cộng đồng Châu Âu như là một bài học kinh nghiệm về sự thành công của vấn đề này Hay như Nguyễn Thị Hồng Thương (2016) đã tìm ra và phân tích những cơ hội và thách thức của thị trường lao động và lực lượng lao động Việt Nam phải đối mặt khi Cộng đồng Kinh tế ASEAN được thành lập Đồng thời, tác giả còn nêu ra một vài giải pháp để Việt Nam tận dụng những cơ hội cũng như hạn chế những tác động không tốt mang lại từ sự tự do di chuyển lao động trong AEC
Có thể thấy rằng, các nghiên cứu này đã dựa trên nền tảng của sự tự do di chuyển lao động trong AEC để phân tích cũng như đi sâu vào phân tích lao động và thị trường lao động của các nước Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng trong bối cảnh hội nhập AEC Đây là các nghiên cứu vô cùng công phu, cập nhật về di chuyển lao động nội khối ASEAN, đồng thời cũng là những tài liệu vô cùng quý giá giúp tác giả có được hiểu biết cũng như thông tin căn bản về vấn đề di chuyển lao động nội khối khi ASEAN thành lập: di chuyển diễn ra như thế nào, trong các ngành nghề gì, các cơ hội và thách thức đối với lao động các nước thành viên ra sao…
1.1.5 Khoảng trống nghiên cứu và định hướng đề tài
Như vậy, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về các vấn đề xung quanh hoạt động di cư lao động quốc tế, XKLĐ, XKLĐ trong bối cảnh hội nhập và vấn đề
tự do di chuyển lao động trong các quốc gia thành viên ASEAN khi AEC thành lập, nhưng vẫn chưa có một công trình nào nào nghiên cứu một cách trọn vẹn, tổng quát nhất về hoạt động XKLĐ của Việt Nam sang các nước ASEAN trong giai đoạn 1995-2017 Vì vậy, tác giả luận văn đã quyết định lựa chọn khía cạnh này làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp thạc sĩ của mình Đề tài sẽ phân tích, đánh giá thực trạng XKLĐ của Việt Nam sang một số nước ASEAN trong giai đoạn 1995-
Trang 272017; tìm ra những cơ hội, thách thức của XKLĐ Việt Nam sang các nước ASEAN đến năm 2020, tầm nhìn 2025 và qua đó đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm đẩy mạnh hoạt động XKLĐ của Việt Nam sang các nước này đến năm 2020, tầm nhìn 2025 theo hướng tập trung vào việc di chuyển lao động có kỹ năng và các chuyên gia
1.2 Cơ sở lý luận về xuất khẩu lao động
1.2.1 Các khái niệm liên quan đến xuất khẩu lao động
Di chuyển lao động quốc tế (international labor force migration) là một hoạt động đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử, do sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh
tế giữa các quốc gia cũng như nhu cầu và khả năng đáp ứng nguồn lao động Để nghiên cứu về di chuyển lao động nói chung và XKLĐ nói riêng, cần phải nắm rõ một số khái niệm liên quan như sau:
* Sức lao động: là toàn bộ những năng lực thể chất, trí tuệ và tinh thần tồn
tại trong một cơ thể, trong một con người đang sống, và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị thặng dư nào đó Trong bất cứ xã hội nào, sức lao động cũng là điều kiện cơ bản của sản xuất Nhưng không phải trong bất kỳ điều kiện nào, sức lao động cũng là hàng hóa.5
Sức lao động là một hàng hóa, nên nó có cả giá trị và giá trị sử dụng Song
đây là một loại hàng hóa đặc biệt Giá cả hàng hóa sức lao động là biểu hiện bằng
tiền giá trị sức lao động Những yếu tố cấu thành nên giá trị sức lao động bao gồm: Giá trị của các tư liệu sinh hoạt cần thiết cho người lao động tái sản xuất ra sức lao động (ăn, ở, đi lại, ); giá trị của các tư liệu sinh hoạt cần thiết để nuôi sống gia đình người lao động; các chi phí thỏa mãn đời sống tinh thần cho người lao động; Chi phí đào tạo nghề nghiệp trước và trong khi lao động; các chi phí bảo hiểm xã hội, y tế Như vậy, người thuê lao động cần phải tính đúng, tính đủ các yếu tố cấu thành nên giá trị của hàng hóa sức lao động, trên cơ sở đó xác định mức giá hợp lý để bảo
vệ quyền lợi cho người lao động Tuy nhiên, do sự khác nhau về mức sống cũng
5 Để sức lao động trở thành hàng hoá, cần phải có hai điều kiện sau: Thứ nhất, người có sức lao động phải
được tự do vệ thân thể, làm chủ được sức lao động của mình và có quyền bán sức lao động của mình như một
hàng hóa Thứ hai, người có sức lao động phải bị tước đoạt hết mọi tư liệu sản xuất và tư liệu sinh hoạt Họ
Trang 28như trình độ phát triển kinh tế, giá cả sức lao động trên những thị trường khác nhau cũng có sự khác nhau
* Lao động: thực chất là sự vận động của sức lao động trong hiện thực Đây
là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm tạo ra các sản phẩm phục
vụ cho các nhu cầu của đời sống xã hội
* Người lao động: là những người nằm trong độ tuổi lao động Tùy thuộc
vào các nước khác nhau mà người ta quy định độ tuổi lao động hoặc hết độ tuổi lao động khác nhau, song, phần lớn các nước hiện nay đều quy định cận dưới của độ tuổi lao động là 15 còn tuổi tối đa thì tùy thuộc vào tình hình cụ thể của mỗi nước.6
* Nguồn lao động: chính là lực lượng lao động hay dân số hoạt động kinh tế
- một bộ phận của dân cư bao gồm những người trong độ tuổi lao động (không kể số
người mất khả năng lao động) và những người ngoài độ tuổi lao động thực tế có
tham gia lao động
* Thị trường lao động: hay thị trường sức lao động là nơi thực hiện các quan
hệ xã hội giữa người bán sức lao động (người lao động làm thuê) và người mua sức lao động (người sử dụng sức lao động), thông qua các hình thức thỏa thuận về giá cả (tiền công, tiền lương) và các điều kiện làm việc khác, trên cơ sở một hợp đồng lao động bằng văn bản, bằng miệng, hoặc thông qua các dạng hợp đồng hay thỏa thuận khác Thị trường sức lao động được cấu thành bởi ba yếu tố là: cung, cầu và giá cả sức lao động Thị trường lao động có thể hoạt động có hiệu quả chỉ khi các quyền tự do mua, bán sức lao động được đảm bảo bằng luật pháp và bằng hệ thống các chính sách liên quan đến quyền, quyền lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia thị trường
* Di chuyển lao động quốc tế: là thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong các
công trình nghiên cứu ở nước ngoài về người lao động ra nước ngoài làm việc như ILO, IOM, các cơ quan nghiên cứu của Liên Hợp Quốc (UN – United Nations), các
tổ chức tài chính quốc tế như Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF – International Monetary Fund), Ngân hàng Thế giới (WB – World Bank), Ngân hàng Phát triển Châu Á
6 Ở Việt Nam, theo Điều 3 Bộ Luật Lao động 2012 thì người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động Độ tuổi lao động của Việt Nam là từ 15-55 tuổi đối với lao động nữ và từ 15-60 tuổi đối với lao động nam
Trang 29(ADB – Asia Development Bank) Đó là sự di chuyển của người lao động từ một nước hay vùng lãnh thổ này tới một nước hay vùng lãnh thổ khác để làm việc hay
có mục đích tìm việc làm.7
* Xuất khẩu lao động: là thuật ngữ ít được sử dụng trong các công trình
nghiên cứu ở nước ngoài nhưng được sử dụng phổ biến ở Việt Nam Tại Việt Nam, gắn liền với những quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam trong từng thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước mà xuất hiện những tên gọi khác nhau về XKLĐ như hợp tác quốc tế về sử dụng lao động,
đưa người lao động đi làm việc (có thời hạn) ở nước ngoài, XKLĐ, đưa người lao
động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng Về khái niệm XKLĐ, có rất nhiều tác giả đã đề cập đến như Phạm Kiên Cường (1989), Nguyễn Lương Trào (1993), Cao Văn Sâm (1994), Nguyễn Thị Phương Linh (2004), Nguyễn Tiệp (2005), Lưu Văn Hưng (2011),
Trong Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp
đồng do Quốc hội ban hành ngày 29/11/2006 thì XKLĐ được hiểu là: “Quá trình đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài hợp pháp, được quản lý và hỗ trợ của Nhà nước theo hợp đồng của các doanh nghiệp hoạt động dịch vụ, các tổ chức sự nghiệp, các doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu, các tổ chức, cá nhân đầu
tư ra nước ngoài, hợp đồng nâng cao tay nghề, hoặc hợp đồng theo cá nhân giữa
cá nhân và chủ sở hữu lao động.” (Quốc hội, 2006)
Nhìn chung, các quan điểm về XKLĐ cũng có những điểm khác nhau về đối tượng, phạm vi và nội dung theo các góc độ nghiên cứu khác nhau nhưng đều chỉ ra rằng XKLĐ là hoạt động cung ứng người lao động từ một quốc gia này sang một quốc gia khác có nhu cầu tuyển dụng lao động theo cơ chế thị trường, trên cơ sở các thỏa thuận giữa người lao động trong nước với người sử dụng ở nước ngoài hoặc thông qua các tổ chức trung gian, dưới sự quản lý của nhà nước nhằm đạt được các
7 Di chuyển lao động quốc tế nói chung thường không phân biệt các hình thức tổ chức, các dạng lao động
tham gia, cả di chuyển lao động hợp pháp (có kiểm soát, quản lý của nhà nước) và bất hợp pháp (nhà nước
không kiểm soát và quản lý được) Trong di chuyển lao động quốc tế hợp pháp lại có nhiều dạng khác nhau
như xuất khẩu lao động, thực tập sinh, di chuyển lao động để cung cấp dịch vụ, di chuyển lao động trong nội
Trang 30mục tiêu kinh tế - xã hội Song, cần hiểu rõ bản chất của hoạt động trao đổi này là trao đổi sức lao động của con người Như vậy, thuật ngữ chuẩn ở đây cần dùng phải
là “xuất khẩu sức lao động”; nhưng do thói quen và cũng để tiện cho việc theo dõi, tác giả vẫn sử dụng thuật ngữ “xuất khẩu lao động” trong luận văn này
1.2.2 Các hình thức xuất khẩu lao động
XKLĐ được thực hiện thông qua 4 hình thức như sau:
(1) XKLĐ thông qua hợp đồng cung ứng lao động: hình thức này gồm 2
loại: Thứ nhất, hợp đồng cung ứng lao động được ký kết giữa doanh nghiệp XKLĐ
của nước XKLĐ với tổ chức thuê và sử dụng lao động ở nước ngoài Đây là hình thức phổ biến nhất trong XKLĐ hiện nay, các doanh nghiệp XKLĐ tiến hành tuyển chọn, đào tạo (nếu có) và đưa lao động từ trong nước ra nước ngoài làm việc theo hợp đồng đã ký kết, trong đó người lao động phải ký hợp đồng với người sử dụng ở
nước ngoài Thứ hai, hợp đồng cá nhân – người lao động trực tiếp ký kết hợp đồng
lao động với người sử dụng lao động ở nước ngoài được pháp luật chấp nhận
(2) XKLĐ thông qua đi thực tập nâng cao tay nghề có tham gia sản xuất
và nhận tiền công từ nước ngoài: Doanh nghiệp, tổ chức kinh tế nước XKLĐ ký
kết hợp đồng với doanh nghiệp, tổ chức kinh tế nước ngoài cho người lao động trong nước đi thực tập nâng cao tay nghề, vừa học vừa làm và nhận tiền lương tại các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế đó Trong đó, người lao động phải ký hợp đồng thực tập nâng cao tay nghề với các cơ sở tiếp nhận
(3) XKLĐ thông qua các hiệp định ký kết giữa các Chính phủ: Người lao
động được đưa đi làm việc ở nước ngoài theo các hiệp định hợp tác lao động song phương hoặc đa phương của Chính phủ với nước ngoài, thường theo các chương trình, dự án hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực y tế, nông nghiệp, giáo dục, và nhận lương từ nước ngoài
(4) XKLĐ thông qua hoạt động đấu thầu công trình hoặc đầu tư ở nước
ngoài có sử dụng lao động trong nước: Hình thức này thường đưa đồng bộ cả máy
móc, phương tiện kỹ thuật cùng lực lượng lao động ra nước ngoài làm việc, vì thế còn được gọi là XKLĐ đồng bộ
Trang 311.2.3 Nguyên nhân của xuất khẩu lao động
XKLĐ diễn ra do một số nguyên nhân như sau:
(1) Do mất cân đối về số lượng lao động giữa các quốc gia Tình trạng mất
cân đối về số lượng lao động giữa các nước xảy ra do chênh lệch về mức tăng dân
số tự nhiên Nước giàu đang càng ngày càng giàu hơn trong khi dân số ngày càng già đi, trong khi đó, các nước nghèo lại có dân số trong độ tuổi lao động chiếm phần lớn Khi dân số ngày càng già đi, nước giàu sẽ phải tìm các nguồn lao động khác để thúc đẩy kinh tế Nếu không có những nguồn lao động mới, chính phủ sẽ có lúc không đủ tiền để trả lương hưu cho số người già đang tăng Bên cạnh đó, những nước có tốc độ tăng dân số cao mà nền kinh tế phát triển chậm thì hậu quả tất yếu là
số lượng lao động không có việc làm tăng lên, tạo nên tình trạng thất nghiệp nghiêm trọng Để khắc phục tình trạng này thì một mặt phải đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, mặt khác phải XKLĐ dư thừa sang nước có nền kinh tế phát triển nhanh nhưng tốc độ phát triển dân số không đáp ứng được Đây cũng chính là sự phân công lại sức lao động trên phạm vi quốc tế
(2) Do mất cân đối về cơ cấu ngành, nghề nhất định Trong khi các nước
giàu thiếu một bộ phận nhân lực làm việc trong các ngành nặng nhọc, nguy hiểm thì các quốc gia nghèo lại thiếu chuyên gia, cán bộ kỹ thuật có tay nghề, có trình độ cao
để phục vụ phát triển kinh tế Trình độ phát triển và tiến bộ khoa học của các quốc gia không thể giải quyết được vấn đề này Do đó, các nước có nhu cầu hợp tác lao động với nhau nhằm tạo ra nguồn lao động tạm thời phục vụ cho một số ngành, lĩnh vực có nhu cầu trong khoảng thời gian nhất định
(3) Do chênh lệch về giá cả thuê lao động trong và ngoài nước Chênh lệch
về giá cả tiền lương đã tạo động lực cho các chủ lao động tìm cách thuê ngoài nhân công ở nước có chi phí lao động thấp hoặc thuê lao động di cư bất hợp pháp ở nước mình Nhiều nước không dư thừa lao động cũng XKLĐ vì điều đó có lợi cho cán cân thanh toán nước họ do có được những hợp đồng lao động giá cao và nhập khẩu lao động từ những nước có giá lao động thấp hơn
Trang 32(4) Do chênh lệch về thu nhập và mức sống trong và ngoài nước Sự chênh
lệch ngày càng tăng về trình độ phát triển giữa các nước, bắt nguồn từ quy luật phát triển không đều về kinh tế - xã hội của chủ nghĩa tư bản và của quá trình toàn cầu hóa Hậu quả tất yếu của sự phát triển không đồng đều này là sự phân chia thế giới thành nhóm nước giàu và nhóm nước nghèo với sự chênh lệch ngày càng tăng về mức sống Mức chênh lệch này là một động lực để người lao động di cư sang nước
khác có mức thu nhập cao hơn kể cả khi điều đó là bất hợp pháp
Hình 1.1: Tháp nhu cầu của Abraham Maslow
Nguồn: [57]
Bên cạnh các nguyên nhân dẫn tới hoạt động XKLĐ đã kể trên, còn một nguyên nhân khác nữa nằm ở chính nhu cầu của bản thân người XKLĐ Theo 5 cấp
độ mà Abraham Maslow đã đưa ra trong tháp nhu cầu mang tên mình [Hình 1.1] thì
để tồn tại (cấp độ 1) tức là để có cơm ăn, áo mặc và chỗ ở thì chúng ta cần lao động
và thành quả lao động (tiền hoặc vật chất) sẽ giúp chúng ta tồn tại Bất kỳ người lao
động nào tại bất kỳ quốc gia nào, có việc làm hay đang tìm kiếm việc làm, đều có nhu cầu muốn làm công việc tốt hơn, mang lại thu nhập cao hơn cho bản thân và gia đình Chính vì vậy, đối với những lao động đang thất nghiệp, nhu cầu có một công việc là
vô cùng cấp bách, nếu có nơi tuyển họ đi làm việc thì cho dù nơi đó ở trong nước hay
ở nước ngoài họ đều nắm lấy cơ hội đó Còn với những người đang có việc làm, họ
Trang 33không ngừng tìm kiếm môi trường làm việc tốt hơn, mang lại thu nhập cao hơn Trong trường hợp cùng là một vị trí công việc nhưng mức thu nhập chênh lệch, hoặc điều kiện làm việc tốt hơn, cơ hội phát triển nhiều hơn, họ sẵn sàng bỏ công việc hiện tại để chọn công việc mang lại nhiều cơ hội hơn
1.2.4 Đặc điểm của xuất khẩu lao động
(1) XKLĐ là một hoạt động đặc thù trong quan hệ kinh tế quốc tế Tính đặc
thù của XKLĐ là ở chỗ hoạt động này vừa nhằm mục đích kinh tế, vừa mang tính xã hội sâu sắc trong quan hệ với nước ngoài Là một hoạt động kinh tế, ở nhiều nước, XKLĐ đã trở thành một giải pháp để giải quyết việc làm cho người lao động, tích lũy
tư bản từ nguồn tiền chuyển về nước của người lao động đi làm việc ở nước ngoài và các khoản thu khác, góp phần tăng thêm nguồn ngân sách của nhà nước, đồng thời cũng thực hiện mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp tiếp nhận người lao động Chính mục tiêu kinh tế này buộc những nước XKLĐ phải nỗ lực tăng thị phần và mở rộng thị trường, tính toán chi phí – lợi nhuận trong hoạt động XKLĐ để đảm bảo các lợi ích kinh tế cho các chủ thể tham gia
Tính chất xã hội của hoạt động XKLĐ bắt nguồn từ tính chất đặc biệt của sức lao động và được thể hiện ở chỗ người lao động có khả năng tư duy và tự làm chủ bản thân,
họ có nhân cách và mang trong mình các đặc điểm về đạo đức, văn hóa, tập quán, của một quốc gia, dân tộc và chúng di chuyển cùng với lao động xuất khẩu Vì thế các chính sách về XKLĐ phải kết hợp với các chính sách xã hội khác và phải đảm bảo được quyền lợi của người lao động Trong các hiệp định hợp tác lao động, hợp đồng XKLĐ phải có những điều khoản đề cập đến đời sống chính trị, văn hóa của người lao động như thăm thân nhân hay việc tham gia các sinh hoạt tập thể Ngoài ra, XKLĐ cũng tạo ra các lợi ích cho xã hội như tạo việc làm cho người dân góp phần ổn định và cải thiện cuộc sống, nâng cao phúc lợi xã hội, đảm bảo an ninh chính trị…
(2) XKLĐ luôn đòi hỏi phải có sự tham gia của nhà nước Nhà nước có vai
trò là một chủ thể rất quan trọng và không thể thiếu trong hoạt động XKLĐ của một quốc gia Sở dĩ có điều đó là do việc di chuyển của người lao động khi tham gia XKLĐ có liên quan đến hoạt động xuất nhập cảnh, các quan hệ kinh tế, chính trị, xã
Trang 34hội giữa nước XKLĐ và nước nhập khẩu lao động, kéo theo các yêu cầu về giải quyết quan hệ dân sự, bảo vệ công dân ở nước ngoài, đảm bảo lợi ích quốc gia Trên thực
tế có thể xảy ra nhiều mâu thuẫn trong quan hệ lao động giữa người chủ sử dụng lao động và lao động xuất khẩu, xảy ra các vi phạm về quyền lợi của người lao động, các rủi ro, tiêu cực khác, nên nhà nước cần có sự can thiệp cần thiết vào hoạt động này thông qua các khuôn khổ pháp lý để đảm bảo lợi ích quốc gia, lợi ích cho người lao động, quyền lợi của các đơn vị tham gia vào hoạt động XKLĐ, nhất là việc duy trì và phát triển quan hệ hợp tác với các nước nhập khẩu lao động, đồng thời đảm bảo an ninh, trật tự xã hội trong hoạt động này.8
(3) XKLĐ có cách tính giá cả hàng hóa xuất khẩu khác biệt Sở dĩ có điều
này là bởi trên thị trường lao động, sức lao động chính là hàng hóa, do đó tiền lương chính là giá cả của sức lao động Tiền lương trước hết là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động, đó là mặt kinh tế của tiền lương Tuy nhiên, do tính chất đặc biệt của hàng hóa sức lao động mà tiền lương không chỉ thuần túy là vấn đề kinh
tế mà còn là một vấn đề xã hội Tiền lương được xác định dựa trên nguyên tắc đó là phải đảm bảo tái sản xuất lao động và không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người lao động Bên cạnh đó tiền lương còn phải đảm bảo việc làm cho năng suất của người lao động không ngừng nâng cao Tuy nhiên, do những nhu cầu thiết yếu phụ thuộc phần lớn vào trình độ văn minh của mỗi nước, thói quen sinh hoạt của người lao động nên khi tính tiền lương trong XKLĐ phải căn cứ theo điều kiện từng thị trường cụ thể do mỗi thị trường có chi phí và điều kiện sinh hoạt khác nhau, đồng thời cần phải tính tới yếu tố lạm phát, tiền tệ mất giá
(4) XKLĐ phải đảm bảo lợi ích kinh tế cho cả 3 chủ thể tham gia: nhà
nước, doanh nghiệp XKLĐ và lao động xuất khẩu Lao động xuất khẩu vừa là
người đi làm thuê nhưng cũng đồng thời là chủ sở hữu hàng hóa xuất khẩu và trực tiếp tham gia thực hiện quá trình lao động cho người sử dụng ở nước ngoài Còn các
8 Bên cạnh đó, Nhà nước cũng phải trực tiếp giải quyết các vấn đề mà bản thân các doanh nghiệp xuất khẩu lao động không thể đảm đương được như đàm phán và ký kết các hiệp định chính phủ về hợp tác lao động với nước ngoài, ký kết các điều ước quốc tế liên quan đến người lao động làm việc ở nước ngoài, giải quyết các vấn đề tiêu cực trong hoạt động xuất khẩu lao động như đưa người trái phép ra nước ngoài, lao động xuất khẩu bỏ trốn, vi phạm hợp đồng, cư trú bất hợp pháp, hiện tượng lừa đảo, chiếm đoạt tài sản…
Trang 35doanh nghiệp XKLĐ đóng vai trò là trung gian giữa người lao động bán sức lao động với người có nhu cầu sử dụng sức lao động đó ở nước ngoài, tư cách hoạt động của
họ chính là người thực hiện dịch vụ XKLĐ và tiến hành các hoạt động nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho quan hệ cung – cầu về sức lao động đó được thực hiện và thu được lợi nhuận từ các loại phí trong việc giúp cho quan hệ đó thành công Nhà nước tham gia vào hoạt động XKLĐ nhằm đảm bảo cho hoạt động này ổn định và phát triển đúng hướng theo các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, giữ vai trò chủ đạo, định hướng và tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động XKLĐ phát triển Lợi ích của nhà nước là các khoản ngoại tệ ròng nhận được thông qua các khoản tiền của người lao động gửi về nước, các khoản thuế và phí từ XKLĐ Nhưng vì lợi ích kinh
tế nên cả người lao động và doanh nghiệp XKLĐ rất dễ vi phạm pháp luật, gây thiệt hại cho cả ba chủ thể tham gia và lợi ích chung của quốc gia Chính vì vậy, các chính sách quản lý hoạt động XKLĐ phải luôn đảm bảo lợi ích chính đáng của các chủ thể tham gia, nhất là lợi ích của người lao động
(5) XKLĐ không có sự chuyển quyền sở hữu hàng hóa xuất khẩu, việc thực
hiện quyền sử dụng hàng hóa nhập khẩu có giới hạn Do sức lao động luôn gắn
liền, không thể tách rời cơ thể sống của người lao động và luôn thuộc quyền sở hữu của người lao động nên trong hoạt động XKLĐ, người lao động chỉ bán quyền sử dụng sức lao động cho người sử dụng theo sự thỏa thuận giữa hai bên và chỉ trong một thời hạn nhất định Việc sử dụng sức lao động mua về cũng có giới hạn bởi ngoài thực hiện theo các điều kiện hợp đồng lao động đã ký kết thì còn phải phù hợp với các hiệp định về lao động đã ký kết với nước XKLĐ, tuân theo luật pháp quốc tế về người lao động di cư Sau thời hạn hợp đồng, mối quan hệ ràng buộc giữa người sử dụng lao động và lao động xuất khẩu chấm dứt, lao động xuất khẩu trở về nước hoặc ký kết hợp đồng mới.9
(6) XKLĐ kèm theo sự di chuyển và giao thoa phong tục, tập quán, văn hóa
giữa các quốc gia, dân tộc Người lao động luôn mang trong mình các đặc điểm về
Trang 36đạo đức, văn hóa, tập quán, của một quốc gia, dân tộc và chúng được di chuyển cùng lao động xuất khẩu sang nước nhập khẩu lao động Để sống và làm việc ở nước nhập khẩu lao động, lao động xuất khẩu buộc phải thích nghi, hòa nhập với phong tục, tập quán, văn hóa, pháp luật cũng như thói quen sinh hoạt và làm việc của nước
sở tại Điều này tạo ra sự trao đổi, hiểu biết về các yếu tố đó giữa lao động xuất khẩu
và người dân sở tại Do đó, hoạt động XKLĐ cũng là nhân tố thúc đẩy giao lưu văn hóa và hợp tác hữu nghị giữa nước XKLĐ và nước nhập khẩu lao động Song, bên cạnh đó, nhiều lao động xuất khẩu cũng mang theo các yếu tố bên ngoài có ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường văn hóa, xã hội trong nước như cờ bạc, rượu bia hay các tệ nạn xã hội, (Lưu Văn Hưng, 2011)
1.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng tới xuất khẩu lao động
Hoạt động XKLĐ chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác nhau, từ chất lượng lao động, quan hệ cung – cầu về lao động ở các nước, sự cạnh tranh trên thị trường lao động quốc tế cho đến các yếu tố văn hóa, truyền thống Cụ thể như sau:
vụ, khả năng thích ứng với công việc, khả năng tiếp thu kiến thức mới của người lao động Việc tuyển dụng lao động làm việc trong những ngành đòi hỏi sử dụng nhiều chất xám cần chú ý tới khả năng sáng tạo của người lao động, hay trong tuyển dụng lao động làm các công việc giản đơn, cần nhiều sức lao động lại đòi hỏi người lao động phải có tính cần cù, chịu khó
Trang 37Chính vì vậy, có thể khẳng định chất lượng lao động xuất khẩu có tác động mang tính quyết định tới quy mô tiếp nhận lao động xuất khẩu, khả năng cạnh tranh, lợi thế trong việc tăng thị phần và chiếm lĩnh thị trường XKLĐ, đảm bảo cho sự phát triển bền vững của hoạt động này
(2) Quan hệ cung – cầu về lao động ở các nước
Giá trị hàng hóa sức lao động của các nước khác nhau do sự khác biệt về các đặc điểm về dân tộc, nhân chủng học cũng như các điều kiện về phát triển kinh tế,
xã hội, văn hóa Ngoài ra, việc mua bán hàng hóa sức lao động còn chịu sự ràng buộc bởi các quy định về điều kiện xuất nhập cảnh, quan hệ chính trị, địa vị của các quốc gia trên trường quốc tế Do đó, giữa các quốc gia không có sự bình quân về giá cả hàng hóa sức lao động và chính sự chênh lệch đó là tiền đề cho hoạt động mua bán hàng hóa sức lao động giữa các nước và vùng lãnh thổ Việc xuất-nhập khẩu lao động hay quan hệ cung - cầu về lao động ở các nước tác động bởi một số yếu tố như: quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các nước; sự phát triển không đồng đều giữa các nước tạo nên sự chênh lệch đáng kể về thu nhập và tiền lương giữa các quốc gia; quá trình toàn cầu hóa và hoạt động của các TNC (Transnational Corporation – Công ty xuyên quốc gia) tạo nên việc di chuyển các nguồn lực như vốn, lao động, thương mại trong quá trình hội nhập quốc tế trong khu vực hay trên toàn thế giới hay thậm chí là giữa hai quốc gia với nhau; cùng với những thay đổi
về cơ cấu dân số tại các nước đang phát triển và các nước phát triển
(3) Sự cạnh tranh trên thị trường lao động quốc tế
Hoạt động XKLĐ vừa có sự hợp tác cũng vừa có sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa các nước Sự cạnh tranh đó thể hiện sự tương tác giữa các lợi ích của các chủ thể tham gia vào thị trường để giành được những điều kiện tối ưu về mua, bán hàng hóa sức lao động Nó diễn ra giữa các doanh nghiệp XKLĐ cả trong và ngoài nước
và giữa các quốc gia XKLĐ, giữa những người sử dụng lao động nhập khẩu và giữa những người lao động xuất khẩu Sức cạnh tranh được thể hiện qua hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp XKLĐ thông qua đàm phán, ký kết các hợp đồng cung ứng lao động; số lượng hợp đồng cung ứng lao động xuất khẩu hàng tháng hay hàng
Trang 38năm; năng lực quản lý lao động xuất khẩu ở nước ngoài Cạnh tranh giữa những người sử dụng lao động nhập khẩu dẫn tới tình trạng mức tiền công sẽ cao hơn và điều kiện lao động thuận lợi hơn đối với cùng một loại công việc và cùng loại lao động xuất khẩu, trong khi cạnh tranh giữa những người lao động xuất khẩu có xu hướng làm giảm giá tiền công, chấp nhận mức thu nhập thấp để được đi làm việc ở nước ngoài, thậm chí còn thực hiện các hành vi gian lận, vi phạm pháp luật để được
đi XKLĐ Điều này cũng đúng trong trường hợp cạnh tranh giữa các doanh nghiệp XKLĐ, để giành được hợp đồng cung ứng lao động, nhiều doanh nghiệp cũng ký hợp đồng cung ứng lao động giá thấp hay không có các chế độ đãi ngộ đối với lao động hoặc tự ý tăng phí môi giới cho phía nước nhập khẩu lao động Ngoài ra còn
có sự cạnh tranh giữa lao động xuất khẩu và lao động nước sở tại về việc làm Công đoàn tại nước nhập khẩu lao động sẽ tạo sức ép với chính phủ để hạn chế số lượng lao động nhập khẩu được tiếp nhận mỗi năm, nhất là trong những thời điểm nền kinh tế rơi vào khủng hoảng, suy thoái Trong những điều kiện đó, khả năng cạnh tranh hay năng lực hoạt động của các cơ quan quản lý, kể cả chính phủ, của các doanh nghiệp XKLĐ và lao động xuất khẩu có tác động lớn tới hiệu quả hoạt động XKLĐ, có thể làm tăng số lượng lao động xuất khẩu, mở rộng thị trường hoặc bị giảm số lượng lao động xuất khẩu, thu hẹp thị phần hoặc thậm chí đóng cửa thị trường lao động
(4) Hệ thống doanh nghiệp XKLĐ và dịch vụ tư vấn về việc làm, pháp luật
Trang 39hiệu quả hoạt động XKLĐ và sự phát triển của quốc gia, đồng thời phản ánh năng lực quản lý điều hành của cơ quan quản lý cũng như hiệu quả hoạt động XKLĐ của quốc gia đó Thực tế vẫn tồn tại những doanh nghiệp XKLĐ vì chạy theo mục đích kinh tế, lợi nhuận nên đã không tuân thủ đúng các quy định pháp luật khi thực hiện một số nội dung của quy trình XKLĐ, gây thiệt hại không nhỏ đối với người lao động, ảnh hưởng tới môi trường hoạt động XKLĐ quốc gia và làm mất uy tín của quốc gia trên trường quốc tế
Hệ thống dịch vụ thông tin việc làm ở nước ngoài cũng như hệ thống tư vấn pháp luật ở nước nhập khẩu lao động là một bộ phận của thị trường XKLĐ, có tác dụng định hướng tốt cho người lao động muốn đi XKLĐ Các thông tin được công bố đầy đủ, rõ ràng sẽ hạn chế được các tiêu cực phát sinh trong quá trình tuyển dụng, đào tạo lao động xuất khẩu cũng như nâng cao hiệu quả lao động của người lao động ở nước ngoài, lành mạnh môi trường XKLĐ và nâng cao hiệu quả hoạt động XKLĐ Trong điều kiện thị trường lao động phát triển, các thông tin dịch vụ việc làm và pháp luật ở nước nhập khẩu lao động thường được các cơ quan chức năng nhà nước hoặc các trung tâm tư vấn được quản lý chặt chẽ thực hiện và người lao động cũng dễ dàng tiếp cận nhanh chóng, chính xác, kể cả công bố công khai trên mạng internet Điều này không những góp phần hạn chế các tiêu cực trong XKLĐ mà còn thúc đẩy nhanh quá trình định hướng nghề nghiệp và giải quyết các thủ tục đi XKLĐ cho người lao động Ngược lại, trong điều kiện thị trường lao động chưa phát triển, các dịch vụ này hầu hết đều do các doanh nghiệp XKLĐ thực hiện, nên việc tiếp cận của người lao động nhiều khi không được dễ dàng, thậm chí thiếu thông tin, ảnh hưởng tới quá trình đăng ký đi XKLĐ cũng như tính minh bạch của thị trường lao động
(5) Các chính sách của các quốc gia xuất-nhập khẩu lao động
Hoạt động xuất-nhập khẩu lao động của các nước đều có sự tính toán tới lợi ích của các quốc gia, dân tộc Vì vậy, hoạt động XKLĐ chịu tác động trực tiếp từ chủ trương và các chính sách, biện pháp quản lý, điều tiết của chính phủ các nước xuất và nhập khẩu lao động Đối với các nước XKLĐ, việc điều chỉnh các văn bản, chính sách về thị trường, đối tượng lao động, điều kiện hoạt động của các doanh
Trang 40nghiệp XKLĐ, chính sách hỗ trợ của nhà nước đều có tác động trực tiếp tới hoạt động của các doanh nghiệp XKLĐ, người lao động tham gia XKLĐ, tạo thuận lợi, hoặc hạn chế, cản trở hoạt động của các chủ thể này Sự điều chỉnh trong chính sách tiếp nhận lao động nước ngoài cũng có tác động đến nhu cầu lao động nước ngoài tại nước nhập khẩu lao động Những quy định về điều kiện nhập cư, hay những thay đổi trong chính sách đầu tư, tái cơ cấu kinh tế, chính sách đối ngoại cũng có thể thúc đẩy hay trở thành rào cản, hạn chế số lượng lao động nhập khẩu, do đó ảnh hưởng đến mức cung lao động xuất khẩu của nước XKLĐ
(6) Các yếu tố truyền thống, văn hóa, dân tộc
Các định kiến, tập quán của các dân tộc (tập quán du canh du cư, quy định người phụ nữ không được tham gia vào các công việc xã hội, thậm chí là việc chồng không cho vợ xa nhà ) cũng có thể gây trở ngại cho hoạt động XKLĐ Các chính sách tuyển dụng lao động nước ngoài của các nước cũng hàm chứa sự bảo tồn, gìn giữ các giá trị truyền thống, văn hóa, tôn giáo của nước đó Vì vậy, mỗi một quốc gia thường có chủ trương ưu đãi hơn đối với lao động đến từ các nước có nền văn hóa tương tự (về tôn giáo, tập quán, ngôn ngữ ) Nhờ đó, tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho lao động ngoài nước, hoặc do tính chất khác biệt về văn hóa mà hạn chế tuyển dụng lao động ngoài nước Ví dụ ở Châu Âu và Nhật Bản, nhu cầu về y tá nữ
là rất lớn gắn liền với sự già hóa dân số ở các nước này Song, các nước Trung Đông lại ít thuê y tá nữ chăm sóc các bệnh nhân nam; hoặc ở những nơi mà phụ nữ tích cực đấu tranh đòi quyền bình đẳng về việc làm, thu nhập, trình độ và địa vị trong xã hội (như Đài Loan, Hồng Kông) thì nhu cầu về lao động nước ngoài để giúp việc gia đình, trông trẻ và chăm sóc người già cũng cao hơn Điều này có tác động nhất định đến việc cung ứng lao động của các nước XKLĐ cả về số lượng và chủng loại (Lưu Văn Hưng, 2011, trang 65-79)
1.2.6 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả xuất khẩu lao động
Hiệu quả hoạt động XKLĐ được đánh giá trên nhiều phương diện và tiêu chí khác nhau Tuy nhiên, người ta thường hay dựa vào hai chỉ tiêu cơ bản để đánh giá hiệu quả hoạt động XKLĐ, đó là hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội