Như ta đã biết, đối với hệ tuyến tính không ô-tô-nôm x0 = Atx, tính âmcủa số mũ Lyapunov không suy ra được tính ổn định của phương trình có nhiễu x0 = Atx + f t, x.. Trong chương 2 chúng
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Vũ Thanh Lam
PHƯƠNG PHÁP LIAO NGHIÊN CỨU
SỰ ỔN ĐỊNH CỦA PHƯƠNG TRÌNH VI PHÂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội - Năm 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Vũ Thanh Lam
PHƯƠNG PHÁP LIAO NGHIÊN CỨU
SỰ ỔN ĐỊNH CỦA PHƯƠNG TRÌNH VI PHÂN
Chuyên ngành: Toán giải tích
Mã số: 60 46 01 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS LÊ HUY TIỄN
Hà Nội - Năm 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước khi trình bày nội dung chính của khóa luận, em xin bày tỏ lòng biết
ơn sâu sắc tới TS Lê Huy Tiễn, người đã tận tình hướng dẫn để em có thểhoàn thành luận văn này
Em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới toàn thể các thầy cô giáotrong khoa Toán - Cơ - Tin học, Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia
Hà Nội đã dạy bảo em tận tình trong suốt quá trình học tập tại khoa
Nhân dịp này em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thành viêntrong nhóm seminar Hệ động lực trường Khoa học tự nhiên đã có những góp
ý quý báu để em hoàn hiện luận văn tốt nghiệp này
Hà Nội, ngày 05 tháng 10 năm 2017
Học viên
Vũ Thanh Lam
Trang 4Mục lục
1.1 Các khái niệm ổn định 3
1.2 Số mũ Lyapunov và tính chính quy 7
1.3 Hàm Lyapunov 15
1.4 Kỹ thuật tam giác hóa Perron 20
Chương 2 Ổn định bằng phương pháp Liao 25 2.1 Các định lý ổn định của Bylov và Liao 25
2.2 Mở rộng định lý ổn định Liao 28
2.3 Chứng minh kết quả chính 33
2.3.1 Chứng minh Định lý 2.2.1 33
2.3.2 Chứng minh định lý 2.2.5 40
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
Việc nghiên cứu tính ổn định nghiệm của phương trình vi phân được nhiềungười quan tâm vì nó có nhiều ứng dụng trong các lĩnh vực như vật lý, kinh
tế, sinh học, Có hai phương pháp chính nghiên cứu sự ổn định nghiệm làphương pháp hàm Lyapunov và phương pháp số mũ Lyapunov Để mở rộngphạm vi ứng dụng của nó, nhiều hướng nghiên cứu mới của lí thuyết ổn định
đã xuất hiện và nhận được nhiều kết quả thú vị về cả lý thuyết và ứng dụng.Luận văn này đề cập đến một hướng tiếp cận gần đây liên quan đến phươngpháp số mũ Lyapunov
Như ta đã biết, đối với hệ tuyến tính không ô-tô-nôm x0 = A(t)x, tính âmcủa số mũ Lyapunov không suy ra được tính ổn định của phương trình có nhiễu
x0 = A(t)x + f (t, x) Phản ví dụ cho điều này được gọi là Hiệu ứng Perron (xem[12]) Năm 1966, D Bylov (xem [4]) đưa ra thêm điều kiện tính chính quy của
hệ để đảm bảo cho tính ổn định của hệ với nhiễu Lipschitz đủ nhỏ Sau đó, cónhiều nỗ lực mới ra đời để tìm điều kiện đủ cho tính ổn định của phương trình
có nhiễu như của Ya Pesin [13], S.-T Liao [8],
Năm 2006, Xiongping Dai sử dụng kĩ thuật của Liao để đưa ra điều kiện
ổn định khác cho trường hợp nhiễu tuyến tính Điều kiện này của X Dai đượcxem như là yếu hơn điều kiện của trước đó của Bellman [3], điều kiện nhị phân
mũ và khác điều kiện đủ của Bylov và Pesin Mục đích chính của luận văn này
là trình bày lại một số khái niệm cơ bản về lí thuyết ổn định của phương trình
có nhiễu và kết quả của X Dai
Bố cục luận văn gồm phần mở đầu, hai chương, phần kết luận và danh mụctài liệu tham khảo
Chương 1 Kiến thức chuẩn bị Chương này được dành để trình bày
Trang 6một vài khái niệm và các ví dụ trong phương trình vi phân và lí thuyết ổn địnhnhư số mũ Lyapunov, hàm Lyapunov, tam giác hóa Perron, .
Chương 2 Ổn định bằng phương pháp Liao Trong chương 2 chúngtôi đề cập tới kết quả chính về phương pháp của Liao và sự ổn định của phươngtrình với nhiễu tuyến tính
Luận văn là chi tiết hóa chứng minh của X Dai trong bài báo [6] được viếtnăm 2006
Hà Nội, ngày 05 tháng 9 năm 2017
Học viên
Vũ Thanh Lam
Trang 7Chương 1
Kiến thức chuẩn bị
Trong chương này, chúng tôi giới thiệu các khái niệm cơ bản của lý thuyết
ổn định cho phương trình vi phân tuyến tính không ô-tô-nôm Trong đó trìnhbày một số khái niệm cơ sở của phương trình vi phân như các khái niệm ổnđịnh, số mũ Lyapunov, hàm Lyapunov, kỹ thuật tam giác hóa Perron, Nộidung chính của chương này được tham khảo trong sách của L Ya Adrianova[1], W A Coppel [5] và L Bareira và C Valls [2]
Trước tiên, ta tìm hiểu các loại ổn định của phương trình vi phân Xétphương trình không ô-tô-nôm
˙x(t) = f (t, x), t ≥ t0, (1.1)trong đó, hàm f : [t0, +∞) × Rn → Rn là hàm thỏa mãn các điều kiện cầnthiết để (1.1) có nghiệm Hàm vectơ x : [t0, +∞) → Rn được gọi là nghiệmcủa phương trình (1.1) trên miền [t0, +∞) nếu nó là hàm khả vi và thỏa mãn
Trang 8xét những tính chất định tính trong các hệ thống phi tuyến bằng lý thuyết ổnđịnh của hệ tuyến tính dựa trên việc tuyến tính hóa gần một điểm cân bằng.Công trình của ông ban đầu được xuất bản bằng tiếng Nga và sau đó đượcdịch sang tiếng Pháp và ít nhận được sự chú ý trong nhiều năm Sự quan tâmđến nó đột ngột bắt đầu trong thời kỳ chiến tranh lạnh sau khi phương phápthứ hai của Lyapunov có thể áp dụng đối với sự ổn định của các hệ thống dẫnđường hàng không vũ trụ thường chứa các yếu tố phi tuyến mà không có thể
xử lý bằng các phương pháp khác Một số lượng lớn các các bài báo đã xuấthiện sau đó ở trong các tạp chí chuyên ngành điều khiển và hệ động lực (xem[11, 7, 10])
Định nghĩa 1.1.1 Nghiệm x(t) của phương trình (1.1) được gọi là ổn địnhtrên khoảng [t0, ∞) nếu với mỗi ε > 0 tồn tại δ = δ(ε, t0) > 0 sao cho bất kỳnghiệm x(t) của phương trình (1.1) thỏa mãn bất đẳng thức
kx(t0) − x(t0)k < δ
và tồn tại trên [t0, ∞) thì thỏa mãn
kx(t) − x(t)k < ε, với mọi t > t0.Nói cách khác, nghiệm x(t) ổn định, nếu các nghiệm x(t) khá gần với nó
ở thời điểm ban đầu t0 bất kì sẽ hoàn nằm trong ống ε nhỏ tùy ý được đựngquanh nghiệm x(t) (xem Hình 1.1)
Hình 1.1: Nghiệm x(t) ổn định Hình 1.2: Nghiệm x(t) ổn định tiệm cận
Trang 9Nếu ngoài ra nghiệm x(t) thỏa mãn
lim
t→∞kx(t) − x(t)k = 0thì ta nói x(t) ổn định tiệm cận (xem Hình (1.2))
Định nghĩa 1.1.2 Nghiệm x(t) của phương trình (1.1) được gọi là ổn định
mũ (hay còn gọi là co không đều) nếu tồn tại hằng số α > 0 sao cho với mọi
t0, tồn tại số N = N (t0) sao cho
kx(t) − x(t)k ≤ N e−α(t−t0 )kx(t0) − x(t0)ktrong đó x(t) là nghiệm phương trình sao cho
x(t0) = x0.Nếu trong định nghĩa trên số N được chọn độc lập với t0, thì ta gọi x(t) là
ổn định mũ đều (hay gọi là co đều)
Ví dụ 1.1.3 Xét phương trình ˙x = 0 Khi đó, ta có nghiệm tổng quát x(t) ≡ cvới c là hằng số thực tùy ý Rõ ràng nghiệm tầm thường x(t) = 0 là ổn định(xem Hình 1.3) vì với mọi ε > 0, với cách chọn δ = ε, khi đó nếu với bất kìnghiệm x(t) thỏa mãn |x(t0) − x(t0)| ≤ δ thì
|x(t) − x(t)| = |x(t0) − x(t0)| ≤ δ = ε
Hình 1.3: Nghiệm tầm thường x ≡ 0 của Ví dụ 1.1.3 là ổn định nhưng không ổn định tiệm cận
Trang 10Tuy nhiên, nghiệm tầm thường không ổn định tiệm cận bởi nếu chọn y(t) ≡ δ/2thì
lim
t→∞|x(t) − x(t)| = lim
t→∞x(t0)e−t = 0
Do đó, nghiệm tầm thường là ổn định tiệm cận
Hình 1.4: Nghiệm tầm thường của Ví dụ 1.1.4 là ổn định tiệm cận
sin log(t + 1) + cos log(t + 1) = √
2 sinlog(t + 1) + π
4
≤ √2
Trang 11Trong phần này, ta đưa ra định nghĩa số mũ Lyapunov, là số biểu diễn tốc
độ tăng trưởng mũ cho hàm bất kì x = x(t) Cụ thể, xét hệ phương trình tuyếntính không ô-tô-nôm
là số mũ Lyapunov trên của hàm x : [t0, +∞) → R với quy ước log 0 = −∞
Số mũ Lyapunov trên (hoặc số mũ Lyapunov dưới) của phương trình (1.2)tại v ∈ Rn được định nghĩa bằng công thức
λ+(v, A) = lim sup
t→+∞
1
t log kxA(t, v)k,
Trang 12hoặc λ−(v, A) = lim inf
t→+∞
1
t log kxA(t, v)k,trong đó xA(t, v) là nghiệm của phương trình (1.2) với điều kiện ban đầux(0) = v Nếu không muốn nhấn mạnh đến số mũ Lyapunov trên hay dưới,
ta sẽ dùng kí hiệu λ(v, A) cho ngắn gọn Các tính chất dưới đây của số mũLyapunov được tham khảo trong sách của L Y Adrianova [1] sẽ được sử dụngtrong Chương 2
log |x(t)| = log |c1cos t + c2sin t|
Trang 13Tồn tại dãy tk = 2kπ → +∞ sao cho
Nhận xét 1.2.3 Mọi hàm bị chặn có số mũ Lyapunov bằng không
Tập hợp các số mũ Lyapunov của hệ (1.2) được gọi là phổ Lyapunov của hệ.Như ta đã biết, tập hợp tất cả các nghiệm của của hệ (1.2) lập thành khônggian tuyến tính n chiều (không gian nghiệm) Giả sử ma trận nghiệm cơ bản
với hai ma trận nghiệm cơ bản là
Trang 15Do đó, phổ Lyapunov của X(t) là {(λ1 = −1, n1 = 1), (λ2 = 1, n2 = 1)} Khi
Trang 16Ví dụ 1.2.7 Ta xét hệ phương trình
˙x = 12
−2 + 3 cos2t 2 − 3 sin t cos t
−2 − 3 sin t cos t −2 + 3 sin2t
Khi đó, ta có vế trái của (1.5) là
Trang 17Y (t) =
et/2cos t e−tsin t + et/2cos t
−et/2sin t e−tcos t − et/2sin t
với phổ là
với tổng Pm
i=1λini = 1 6= −1/2 Điều này dẫn đến hệ không là chính quy tiến
Ví dụ vừa rồi cho ta thấy rằng, kể cả đối với hệ tuần hoàn cũng chưa chắcthỏa mãn điều kiện chính quy tiến Trong ví dụ dưới đây, ta đưa ra hệ đơn giảnthỏa mãn điều kiện chính quy tiến
X(t) =
cos t sin tsin t − cos t
Trang 18Khi đó, ta có số mũ Lyapunov của hai nghiệm (vectơ cột) trong ma trận trênlà
Do đó, phổ Lyapunov của X(t) là {(λ = 0, n = 2)} Khi đó, vế trái của (1.5)
c11cos t + c21sin t c12cos t + c22sin t
c11sin t − c21cos t c12sin t − c22cos t
t log |det X(t) det C| = 0.
và phổ Lyapunov của Y (t) là {(λ = 0, n = 2)} Do đó, (1.5) đúng cho Y (t).Vậy hệ trên là chính quy tiến
Trang 191.3 Hàm Lyapunov
Trong lý thuyết phương trình vi phân, hàm Lyapunov là các hàm vô hướng
có thể được sử dụng để chứng minh sự ổn định của một trạng thái cân bằngcủa một phương trình Hàm Lyapunov (còn gọi là Phương pháp thứ hai củaLyapunov dành cho ổn định) rất quan trọng đối với lý thuyết ổn định của các
hệ thống động học và lý thuyết điều khiển Định lí dưới đây là kết quả cổ điển
về phương pháp thứ 2 này Chứng minh chi tiết có thể tham khảo trong sáchcủa L Bareira và C Valls [2]
Xét phương trình
˙x = f (t, x), t ≥ t0, x ∈ U (1.6)Định nghĩa 1.3.1 Các hàm số thỏa mãn các điều kiện (i), (ii), (iii) trongđịnh lý dưới đây được gọi là các hàm Lyapunov
Định lý 1.3.2 Giả sử x0 ∈ U là một điểm cân bằng của trường véctơ f (x),tức là f (x0) = 0 Giả sử tiếp theo V : U → R là hàm liên tục trên lân cận Bcủa x0 và khả vi trên B\{x0} sao cho:
(i) V (t, x0) = 0 và V (t, x) > 0 với mọi x 6= x0 ∈ B,
(ii) ˙V (t, x) ≤ −W (x) ≤ 0 với x ∈ B\{x0}
Khi đó x(t) ≡ x0 là nghiệm ổn định của (1.6)
Ngoài ra, nếu
(iii) W (x) > 0 với mọi x ∈ B\{x0} thì x(t) ≡ x0 là điểm cân bằng ổn địnhtiệm cận
Trang 20Vậy phương trình chỉ có một điểm cân bằng là (0, 0).
Tiếp theo, ta xét phiếm hàm V (x, y) = x2+ y2 Rõ ràng
(i) V (0, 0) = 0, V (x, y) = x2+ y2 > 0 với mọi (x, y) 6= (0, 0)
(ii) ˙V (x, y)2x · ˙x + 2y · ˙y = 2x(−x + y) + 2y(−x − y3) = −2(x2+ y4) ≤ 0.Vậy điểm cân bằng (0, 0) là ổn định (xem Hình 1.6)
Hình 1.6: Trường vectơ tại điểm cân bằng cho Ví dụ 1.3.3.
Trang 21(ii) ˙V (x, y) = 4x3x0+ 4yy0 = 4x3(y − xy2) + 4y(−x3) = −4x2y2 ≤ 0.
Vậy điểm cân bằng (0, 0) là ổn định (xem Hình 1.7)
Hình 1.7: Trường vectơ tại điểm cân bằng cho Ví dụ 1.3.4.
(i) V (0, 0) = 0, V (x, y) = x +y22+ 3y42 > 0 với mọi (x, y) 6= (0, 0)
Trang 23Điều này suy ra được ˙V (x, y) > 0 với mọi (x, y) thuộc lân cận đủ nhỏ của(0, 0).
(ii) Với mọi lân cận của (0, 0) luôn tồn tại điểm (x, y) sao cho V (x, y) =
x2− y2 > 0
Do đó, nghiệm tầm thường không là điểm ổn định (xem Hình 1.9)
Hình 1.9: Trường vectơ tại điểm cân bằng cho Ví dụ 1.3.6.
Nhận xét 1.3.7 Đối với các lớp nhất định của phương trình vi phân thường,
sự tồn tại của các hàm Lyapunov là một điều kiện đủ cho sự ổn định Trong khi
đó, không có kỹ thuật tổng quát để xây dựng các hàm Lyapunov cho phươngtrình vi phân thường, trong nhiều trường hợp cụ thể, việc xây dựng các hàmLyapunov được biết đến Ví dụ, các hàm bậc hai đủ cho các hệ thống với một
Trang 24trạng thái; lời giải của một bất đẳng thức ma trận tuyến tính đặc biệt cungcấp các hàm Lyapunov cho các hệ thống tuyến tính; và các định luật bảo toànthường có thể được sử dụng để xây dựng các hàm Lyapunov cho các hệ thốngvật lý.
Trước khi đi vào kĩ thuật tam giác hóa Perron, ta nhắc lại khái niệm cơ bảncủa đại số tuyến tính dưới đây
Định nghĩa 1.4.1 Ma trận vuông giá trị thực U (cấp n) được gọi là ma trậntrực giao nếu ma trận chuyển vị UT của nó cũng là ma trận nghịch đảo, nghĩalà
UTU = U UT = I
Dưới đây là một số tính chất cơ bản của ma trận trực giao
Tính chất 1.4.2 Cho U là ma trận trực giao cỡ n × n Khi đó, các khẳngđịnh dưới đây là đúng
i) Với x, y ∈ Rn thì U bảo toàn tích vô hướng của chúng, tức là
hU x, U yi = hx, yi
ii) U là ma trận trực chuẩn
iii) U là chéo hóa được (tức là U đồng dạng với ma trận đường chéo) Như là
hệ quả của định lí phổ (spectral theorem), U có thể phân tích thành dạng
U = V DVTtrong đó V là ma trận trực giao và D là ma trận đường chéo
iv) U có định thức bằng ±1
Trang 25v) Các không gian con riêng ứng với các giá trị riêng của U là trực giao vớinhau.
Tập hợp các ma trận trực giao cỡ n × n cùng với phép toán nhân ma trậnlập thành một nhóm và được gọi là nhóm trực giao Ta kí hiệu nhóm trực giao
là O(n) là nhóm con của nhóm tuyến tính tổng quát GL(n)
Ví dụ 1.4.3 Xét ma trận
U =
cos α sin α
số tuyến tính Cụ thể, ta có quy trình dưới đây để tam giác hóa phương trìnhtuyến tính
Cho A(t) là hàm ma trận cỡ n × n liên tục trên nửa đường thẳng [t0, +∞)
và ký hiệu X(t) = {x1(t) | · · · | xn(t)} là ma trận nghiệm của phương trình viphân tuyến tính
Trang 26Rõ ràng, (ei, ej) = δij, nghĩa là ta thu được ma trận
U (t) = {e1 | · · · | en}
là ma trận trực giao do UTU = E Giải ngược hệ trên ta thu được
x1 = ||ξ1||e1,
x2 = (x2, e1)e1+ ||ξ2||e2,
−2 + 3 cos2t 2 − 3 sin t cos t
−2 − 3 sin t cos t −2 + 3 sin2t
Trang 27Bằng tính toán trực tiếp, ta có hệ nghiệm cơ bản của phương trình là
(et/2cos t)2+ (−et/2sin t)2, −et/2sin t
p(et/2cos t)2+ (−et/2sin t)2
−tcos tp(e−tsin t)2+ (e−tcos t)2
− sin t cos t
thì phương trình (1.10) trở thành phương trình
˙
y = B(t)y
Trang 28với B(t) là ma trận tam giác trên có dạng
0 −1
Trang 29Chương 2
Ổn định bằng phương pháp Liao
Phương pháp của Liao năm 1973 [8] đưa ra một điều kiện đủ cho tính ổnđịnh của phương trình có nhiễu mà không cần dùng tính chính quy của Bylov[4] trước đó Sau này, X Dai [6] sử dụng lại phương pháp của Liao để đưa ramột điều kiện yếu hơn cho tính ổn định nhưng chỉ cho nhiễu tuyến tính Vì tachỉ xét ổn định mũ (nói chung không đều) nên để đơn giản, giả sử t0 = 0.Trước tiên, ta nêu lại các kết quả trước của Bylov và Liao cho tính ổn định
Mục này được tham khảo chủ yếu ở tài liệu [8] và [4]
Xét phương trình vi phân tuyến tính
dx
dt = A(t)x ((t, x) ∈ R+× Rn), (A)trong đó A(t) là một hàm giá trị ma trận cỡ n × n, liên tục và bị chặn đều trên
R+
Xét phương trình (A) có nhiễu
dx
dt = A(t)x + f (t, x) ((t, x) ∈ R+× Rn), (A + f )trong đó f (t, x) là một hàm liên tục giá trị véctơ thực n-chiều, phi tuyến hoặctuyến tính theo biến x ∈ Rn, với f (t, 0) = 0 Một trong những bài toán chính
Trang 30được nghiên cứu rộng rãi trong lý thuyết ổn định Lyapunov là điều kiện
sao cho với bất kỳ t ∈ R+ điều kiện (C2) đúng với x ∈ Bζn(0), thì nghiệm
xf(t) = 0 của phương trình (A + f ) ổn định mũ theo nghĩa của Lyapunov.Định nghĩa 2.1.2 Cho tập A ⊂ R+ Ta gọi bán kính phủ r (covering radius)của tập A là infimum tất cả các số r0 sao cho mọi điểm y ∈ R+, tồn tại x ∈ Asao cho y ∈ B(x, r) Tập A được gọi là tập trù mật tương đối trong R+ nếubán kính phủ của A là hữu hạn
Ví dụ 2.1.3 Tập số tự nhiên N là trù mật tương đối trong R+
Theo kỹ thuật tam giác hóa Perron, không mất tính tổng quát, ta giả sửrằng A(t) là ma trận tam giác trên Để thuận tiện, bây giờ chúng ta liệt kê một
số giả thiết cơ bản sẽ dùng trong phần tiếp theo