Quán triệt tư tưởng và quan điểm nhất quán của Đảng và nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò của KH&CN trong sự nghiệp phát triển, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lầ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cƣ́u đô ̣c lâ ̣p của tôi Các số liê ̣u và kết quả nghiên cƣ́u trong luâ ̣n án là trung thƣ̣c và chƣa tƣ̀ng công bố trong bất kỳ công trình khoa ho ̣c nào khác Các số liệu trích dẫn trong quá trình nghiên cứu đều ghi rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng 11 năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Vị
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được công trình nghiên cứu này , ngoài sự nỗ lực của bản thân , tác giả còn nhận được sự giúp đ ỡ rất lớn từ TS Đinh Quang Ty, người đã luôn quan tâm , trách nhiệm và nhiệt tình hướng dẫn , giúp đỡ, động viên tác giả trong quá trình thực hiện nghiên cứu của mình Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành tới TS.Đinh Quang Ty
Tác giả cũng xin trân trọng cảm ơn các thầy , cô trong Khoa Kinh tế Chính trị, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, các cán bộ - Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư và Cục Thống
kê tỉnh Bắc Giang đã giúp đỡ tác giả trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu luận văn của mình Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả ba ̣n bè , người thân
đã giúp tôi thực hiện nhiệm vụ này
Để đạt được những kết quả nghiên cứu tốt hơn trong tương lai , tác giả rất mong tiếp tu ̣c nh ận được sự hướng dẫn, giúp đỡ của các nhà chuyên môn, của các thầy cô trong Khoa Kinh tế chính trị, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội về phương pháp luận, cách thức tiếp cận khoa học và hợp lý
Hà Nội, ngày tháng 11 năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Vị
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC HÌNH iii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRÊN ĐỊA BÀN CẤP TỈNH Ở VIỆT NAM 5
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 5
1.1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 5
1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở ngước ngoài 7
1.2 Khái niệm và vai trò quản lý vốn đầu tư phát triển khoa học và công nghệ đối với phát triển kinh tế - xã hội ở cấp tỉnh 8
1.2.1 Một số khái niệm cơ bản 8
1.2.2 Vai trò của quản lý vốn đầu tư phát triển Khoa học và Công nghệ đối với phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia và các tỉnh, thành phố bên trong quốc gia 12
1.3 Nguồn vốn đầu tư cho hoạt động Khoa học và Công nghệ 16
1.3.1 Nguồn vốn từ ngân sách trung ương 16
1.3.2 Nguồn vốn từ ngân sách của tỉnh và cơ sở 17
1.3.3 Nguồn vốn hợp tác với nước ngoài 17
1.3.4 Các loại quỹ theo Luật Khoa học và Công nghệ 17
1.3.5 Các nguồn vốn khác 18
1.4 Nội dung quản lý vốn đầu tư phát triển Khoa học và Công nghệ trên địa bàn cấp tỉnh, thành phố 19
1.4.1 Quản lý vốn đầu tư phát triển thông tin Khoa học và Công nghệ 19
1.4.2 Quản lý vốn đầu tư hoạt động nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng Khoa học và Công nghệ 24
1.4.3 Quản lý vốn đầu tư phát triển hệ thống các cơ quan nghiên cứu và chuyển giao khoa học và công nghệ 27
1.4.4 Quản lý vốn đầu tư phát triển nhân lực Khoa học và Công nghệ 28
1.4.5 Quản lý đầu tư phát triển thị trường công nghệ 30
Trang 61.5 Tiêu chí đánh giá công tác quản lý vốn đầu tư phát triển Khoa học và Công nghệ trên
địa bàn cấp tỉnh 34
1.5.1 Kết quả quản lý vốn đầu tư phát triển Khoa học và Công nghệ 34
1.5.2 Hiệu quả quản lý vốn đầu tư 36
1.6 Các nhân tố chủ yếu tác động đến quản lý vốn đầu tư phát triển khoa học và công nghệ trên địa bàn cấp tỉnh 38
1.6.1 Điều kiện kinh tế - xã hội của quốc gia và của địa phương 38
1.6.2 Chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước và của địa phương 39
1.6.3 Hiệu lực, hiệu quả quản lý của các cơ quan hành chính khoa học và công nghệ 40
1.6.4 Nhân lực và trình độ khoa học và công nghệ 40
1.6.5 Năng lực của các cơ quan nghiên cứu, chuyển giao trên địa bàn 40
1.6.6 Quản lý đầu tư tài chính và cơ chế tài chính cho các hoạt động khoa học và công nghệ 40
1.6.7 Quan hệ quốc tế về khoa học và công nghệ 41
1.7 Kinh nghiệm thực tiễn trong nước về quản lý đầu tư phát triển khoa học và công nghệ và bài học tham khảo cho Bắc Giang 41
1.7.1 Kinh nghiệm của thành phố Hồ Chí Minh 41
1.7.2 Một số bài học rút ra cho tỉnh Bắc Giang 42
CHƯƠNG 2 : PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 44
2.1 Cơ sở phương pháp luận 44
2.2 Phương pháp thu thập số liệu 44
2.3 Phương pháp xử lý số liệu 45
2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 45
CHƯƠNG 3 : THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ Ở TỈNH BẮC GIANG 46
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội Bắc Giang ảnh hưởng tới sự phát triển khoa học và công nghệ 46
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 46
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 49
3.2 Khái quát về Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bắc Giang 52
3.2.1 Vị trí, chức năng 52
3.2.2 Nhiệm vụ và quyền hạn 52
Trang 73.2.3 Cơ cấu tổ chức 53
3.3 Thực trạng quản lý đầu tư vốn phát triển khoa học và công nghệ tỉnh Bắc giang giai đoạn 2013-2016 54
3.3.1 Về quy mô vốn đầu tư phát triển khoa học - công nghệ và hoạt động quản lý có liên quan 54
3.3.2 Thực trạng về quản lý nguồn vốn đầu tư phát triển khoa học và công nghệ trên địa bàn Bắc Giang 56
3.4 Thực trạng công tác quản lý vốn đầu tư phát triển Khoa học và Công nghệ theo nội dung đầu tư 61
3.4.1 Quản lý vốn đầu tư hoạt động nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng Khoa học và Công nghệ 61
3.4.2 Quản lý đầu tư cho thông tin Khoa học và Công nghệ 63
3.4.3 Quản lý vốn đầu tư phát triển hệ thống các cơ quan nghiên cứu và chuyển giao khoa học và công nghệ 66
3.4.4 Quản lý đầu tư phát triển nhân lực Khoa học và Công nghệ 67
3.4.5 Quản lý đầu tư phát triển thị trường công nghệ 69
3.5 Đánh giá tổng quát thực trạng công tác quản lý đầu tư phát triển Khoa học và Công nghệ của tỉnh Bắc Giang 75
3.5.1 Kết quả đầu tư Khoa học và Công nghệ 75
3.5.2 Hiệu quả đầu tư Khoa học và Công nghệ 78
3.5.3 Những thành tựu nổi bật, những hạn chế đáng lưu và nguyên nhân 79
CHƯƠNG 4 : ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TỈNH BẮC GIANG 86
4.1 Định hướng, mục tiêu và nhiệm vụ trọng tâm trong phát triển Khoa học và Công nghệ tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2017 - 2020 , tầm nhìn 2030 86
4.1.1 Định hướng 86
4.1.2 Mục tiêu 86
4.1.3 Những nhiệm vụ trọng tâm 87
4.2 Một số giải pháp chủ yếu 89
4.2.1 Nhóm giải pháp huy động vốn đầu tư phát triển Khoa học và Công nghệ 89
4.2.2 Nhóm giải pháp về nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng vốn 93
Trang 84.2.3 Nhóm giải pháp khác 94 KẾT LUẬN 98 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
Trang 9i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT Ký hiệu Nguyên nghĩa
Trang 10ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
1 Bảng 3.1 Quy mô vốn đầu tư phát triển khoa học và công nghệ
2 Bảng 3.2 Kinh phí sự nghiệp khoa học công nghệ và Đầu tư
Vốn đầu tư hoạt động nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa học và công nghệ giai đoạn 2012-2016 (ĐVT: triệu đồng)
61
5 Bảng 3.5 Số lượng các công nghệ, quy trình kỹ thuật và giải
pháp được làm mới, hoàn thiện và chuyển giao 62
6 Bảng 3.6:
Kinh phí sự nghiệp khoa học đầu tư cho công tác thông tin KH&CN giai đoạn 2012 - 2016 (ĐVT: Triệu đồng)
9 Bảng 3.9 Hiện Trạng nguồn nhân lực khoa học và công nghệ
10 Bảng 3.10 Nhu cầu nguồn nhân lực khoa học và công nghệ trình
11 Bảng 3.11 Kinh phí đầu tư cho phát triển thị trường khoa học và
12 Bảng 3.12 Tỷ lệ các đề tài, dự án khoa học và công nghệ được
Trang 11iii
DANH MỤC CÁC HÌNH
1 Hình 3.1 Cơ cấu tổ chức Sở Khoa học và Công nghệ Bắc Giang 53
Trang 121
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại
và quá trình toàn cầu hoá làm cho khoa học, công nghệ và chất lượng nguồn nhân lực trở thành nhân tố hàng đầu đối với sự phát triển của mỗi quốc gia Ở Việt Nam, quan điểm nhất quán của Đảng ta trong quá trình đổi mới là phát triển khoa học và công nghệ cùng với phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước
Nghị quyết 02 - NQ/HNTW (khóa VIII) cũng đã chỉ rõ một trong các định hướng chung của chiến lược khoa học và công nghệ từ nay đến năm
2020 là: "Nâng cao năng lực nội sinh, xây dựng, phát triển tiềm lực khoa học
và công nghệ của Nhà nước: Đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ, công nhân lành nghề, trẻ hóa và phát triển đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ có đủ đức, tài, kiện toàn hệ thống tổ chức, tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật, mở rộng các nguồn cung cấp thông tin, từng bước hình thành một nền khoa học và công nghệ hiện đại của Việt Nam, có khả năng giải quyết phần lớn những vấn đề then chốt đặt ra trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa" Định hướng cơ bản này đã được tái khẳng định và làm rõ hơn trong văn kiện của Đảng ta ở các nhiệm kỳ Đại hội IX, X,
XI và XII
Quán triệt tư tưởng và quan điểm nhất quán của Đảng và nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò của KH&CN trong sự nghiệp phát triển, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lần thứ XVIII và Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Giang đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030" đã xác định:
“ Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ trên các lĩnh vực Có cơ chế khuyến khích các tổ chức và cá nhân có những sáng kiến cải tiến kỹ thuật, có các đề tài, dự án mang tính
Trang 132
nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ mới” là khâu đột phá đáp ứng yêu
cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đến 2020 Phát triển tiềm lực khoa học
và công nghệ nhằm thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế, đặc biệt là nguồn nhân lực KH&CN Huy động tối đa lực lượng cán bộ KH&CN vào thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội của tỉnh, đặc biệt là trong việc ứng dụng chuyển giao KH&CN vào sản xuất và triển khai các dự án ứng dụng công nghệ cao
Vì vậy việc đầu tư cho phát triển khoa học và công nghệ là vô cùng cần thiết, việc đầu tư đúng hướng và phù hợp giúp cho việc thúc đẩy kinh tế chung của toàn tỉnh
Việc làm sáng tỏ về thực trạng quản lý vốn đầu tư phát triển khoa học công nghệ của tỉnh trong thời gian qua và đề xuất các giải pháp để phát triển KH-CN phục vụ phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Bắc Giang là nhiệm vụ cấp thiết cả về lý luận, khoa học và thực tiễn
Với lý do trên, tác giả luận văn lựa chọn đề tài “Quản lý vốn đầu tư
phát triển khoa học và công nghệ ở tỉnh Bắc Giang” làm luận văn thạc sỹ,
chuyên ngành Quản lý kinh tế
Câu hỏi nghiên cứu của luận văn:
- Công tác quản lý vốn đầu tư phát triển khoa học và công nghệ ở các địa bàn cấp tỉnh Việt Nam được thực hiện như thế nào?
- Thực trạng quản lý vốn đầu tư phát triển khoa học và công nghệ ở tỉnh Bắc Giang những năm gần đây ra sao?
- Cần thực hiện những giải pháp gì để nâng cao hiệu quả vốn đầu tư phát triển khoa học và công nghệ ở tỉnh Bắc Giang trong những năm tới?
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý vốn đầu tư phát triển KH&CN ở cấp tỉnh của Việt Nam, gắn với một
Trang 143
địa bàn cụ thể là tỉnh Bắc Giang; từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư phát triển khoa học và công nghệ cho địa phương này trong giai đoạn hiện nay
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu trên đây, luận văn có nhiệm vụ, góp phần làm rõ hơn một số vấn đề lý luận và kinh nghiệm thực tế về quản lý vốn đầu tư phát triển khoa học công nghệ, phù hợp với địa bàn cấp tỉnh ở Việt Nam hiện nay
- Phân tích thực trạng, đánh giá kết quả, hạn chế và nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong quản lý vốn đầu tư phát triển KH&CN trên địa bàn tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2013-2016
- Đề xuất các giải pháp, góp phần hoàn thiện quản lý vốn đầu tư phát triển KH&CN tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2017-2020 và đặt trong tầm nhìn 2030
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động quản lý vốn đầu tư phát triển khoa học và công nghệ tỉnh Bắc Giang
3.2 Phạm vị nghiên cứu
- Về nội dung: Luận văn nghiên cứu một số lý luận và kinh nghiệm thực tiễn phù hợp với đối tượng đã xác định; và dựa vào đó đánh giá hoạt động quản lý vốn đầu tư phát triển KH&CN quản lý tại tỉnh Bắc Giang
- Về thời gian: Thực trạng quản lý vốn đầu tư phát triển KH&CN tỉnh Bắc Giang được giới hạn trong giai đoạn 2013-2016; các giải pháp cho giai đoạn 2017-2020 và đặt trong tầm nhìn 2030
- Về không gian: Trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
4 Những đóng góp mới của luận văn
- Từ việc khai thác và hệ thống hóa từ các tài liệu tham khảo có liên quan, góp phần làm rõ hơn một số vấn đề lý luận về quản lý vốn đầu tư phát triển khoa học và công nghệ trên địa bàn cấp tỉnh ở Việt Nam hiện nay
Trang 154
- Phân tích đánh giá, làm rõ một số vấn đề cơ bản về thực trạng quản lý vốn đầu tư phát triển khoa học và công nghệ tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2013-2016; từ đó đề xuất được một số giải pháp thích hợp cho giai đoạn 2017-2020
và đặt trong tầm nhìn 2030
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phụ lục, bảng chú thích các chữ viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo và kết luận, luận văn được kết cấu thành 4 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận thực tiễn
về quản lý vốn đầu tư phát triển khoa học và công nghệ trên địa bàn cấp tỉnh
ở Việt Nam hiện nay
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng quản lý vốn đầu tư phát triển khoa học và công nghệ ở tỉnh Bắc Giang
Chương 4: Định hướng và một số giải pháp góp phần hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư phát triển khoa học và công nghệ tỉnh Bắc giang
Trang 165
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ TRÊN ĐỊA BÀN CẤP TỈNH Ở VIỆT NAM 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
1.1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam trong những năm đổi mới vừa qua, quản lý vốn đầu tư KH
& CN từ ngân sách Nhà nước đã được nghiên cứu ở những “ cấp độ ” và với những góc nhìn khá đa dạng, chủ yếu là do các trường đại học, các học viện, các viện và đơn vị chức năng thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ, Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội và thuộc các bộ, ngành khác Viện nghiên cứu chiến lược và chính sách KH&CN đã có những nghiên cứu khá sâu về nguồn vốn đầu tư cho phát triển KH&CN trong điều kiện nền
kinh tế nhiều thành phần Trong đó có đề tài cấp Bộ với chủ đề “Chia sẻ kinh
phí giữa Nhà nước và cơ sở cho dự án triển khai và đổi mới công nghệ” do
Nguyễn Thanh Hà làm chủ nhiệm, nghiên cứu tình hình và cơ chế hoạt động của hệ thống các quỹ hỗ trợ tài chính cho hoạt động KH&CN ở Việt Nam
Ngoài ra, đơn vị này còn có những đề tài cấp cơ sở như: “Nâng cao hiệu quả
một sổ chỉnh sách thuế và tín dụng khuyến khích các doanh nghiệp đổi mới công nghệ” do Hoàng Văn Tuyên làm chủ nhiệm, bàn về chính sách thuế và
tín dụng cùng một số cơ chế khác của Nhà nước để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nghiên cứu và ứng dụng KH&CN vào sản xuất kinh doanh; từ đó đề xuất một số biện pháp chính sách về tài chính đối với doanh
nghiệp; đề tài “Nghiên cứu xây dựng các hình thức hợp tác và cơ chế
khuyến khích hợp tác viện - doanh nghiệp phát triển sản phẩm và công nghệ của doanh nghiệp” do Hoàng Thanh Hương làm chủ nhiệm, đã phân
tích mối quan hệ giữa hoạt động KH&CN và hoạt động sản xuất nhằm tìm ra
Trang 176
và kiến nghị các hình thức hợp tác và cơ chế khuyến khích hợp tác cho mối quan hệ này
GS Vũ Đình Cự với bài báo khoa học: “Thị trường khoa học và công
nghệ; đặc trưng của kinh tế tri thức” bàn khá sâu về nhiệm vụ do Đại hội IX
của Đảng đặt về phát triển thị trường KH&CN ở Việt Nam trong bối cảnh kinh tế tri thức đã hình thành và có xu hướng phát triển mạnh, tất yếu tác động đến nước ta Tác giả đã phân tích thực trạng thị trường này và đưa ra các giải pháp thúc đẩy nó phát triển
TS Hồ Ngọc Luật với bài viết “Phát triển thị trường khoa học và công
nghệ Việt Nam” nhằm phân tích các yếu tố cung - cầu, môi trường pháp lý,
xã hội cho thị trường này hoạt động trôi chảy; đưa ra đánh giá bước đầu về sự phát triển thị trường này và kiến nghị các giải pháp thúc đẩy phát triển
Các nghiên cứu nói trên đã đề cập, luận giải về nguồn vốn cho phát triển KH&CN trong điều kiện nền kinh tế nhiều thành phần Bên cạnh đó còn có một số bài viết về đầu tư phát triển KH&CN, phân tích thực trạng của hoạt
động đầu tư này và kiến nghị giải pháp thúc đẩy như: “Vốn đầu tư cho hoạt
động khoa học và công nghệ vẫn chưa có lời giải hữu hiệu” của Hoàng Văn
Dụ trên diễn đàn của Bộ Khoa học và Công nghệ, số 2/2003; “Quy chế tài
chính không phù hợp với nghiên cứu khoa học và công nghệ” của Thu
Hương, số 1/2004; “Đầu tư cho khoa học công nghệ nông nghiệp” của Kiều
Linh trên báo Nhân dân điện tử
Các công trình nêu trên, ở mức độ khác nhau, đã cung cấp một số tư liệu
có giá trị tham khảo rất bổ ích cho luận văn, nhất là những kết quả nghiên cứu liên quan đến những vấn đề lý luận chung; những phân tích, đánh giá thực trạng và giải pháp về phát triển khoa học và công nghệ, quản lý vốn đầu tư khoa học và công nghệ ở Việt Nam
Tuy nhiên việc nghiên cứu về thực tiễn quản lý vốn đầu tư khoa học và
Trang 181.1.2 Tình hình nghiên cứu ở ngước ngoài
Trên thế giới cũng có nhiều công trình nghiên cứu về vốn đầu tư và vốn đầu tư phát triển khoa học - công nghệ của các nhà khoa học, các tổ chức
Coleman (1988) khẳng định vốn đầu tư là “sản phẩm tái sinh” của
các hoạt động khác, thông qua mối quan hệ giữa các cá nhân, tổ chức với
nhau, người ta thiết lập và duy trì những quan hệ như thế để tìm kiếm lợi ích
Theo quan điểm của Fukuyama (2002), cá nhân có thể tạo ra và sử dụng vốn
đầu tư để phục vụ mục đích của mình Trong khi đó Putnam (2000) cho biết vốn đầu tư được dùng để tìm kiếm sự thịnh vượng về kinh tế Lin (1999) lại
nói rõ vốn đầu tư phản ánh khả năng đầu tư và lợi ích thu về
Như vậy cho đến nay, tầm quan trọng của vốn đầu tư khoa học công nghệ đã được đề cập trong các nghiên cứu của nhiều tác giả khác nhau trên
thế giới Trong đó đáng lưu là bài viết của tác giả Fukuyama (2002), “Vốn
đầu tư và phát triển: Chương trình nghị sự sắp tới”, đã nhấn mạnh đến tính
tích cực của vốn đầu tư Bài viết chỉ ra cách mà vốn đầu tư có thể đóng góp vào phát triển kinh tế và khoa học công nghệ Bài viết cũng giải thích rằng vốn đầu tư giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển của nhiều doanh nghiệp
Bài viết của tác giả Woolcock (2001), “Vị trí của vốn đầu tư trong việc lý
Trang 198
giải những kết quả kinh tế và xã hội”, nhấn mạnh rằng vốn đầu tư có vai trò
quan trọng trong việc huy động các nguồn lực nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế,
1.2 Khái niệm và vai trò quản lý vốn đầu tư phát triển khoa học và công nghệ đối với phát triển kinh tế - xã hội ở cấp tỉnh
1.2.1 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1.1 Khái niệm khoa học, công nghệ
Nhìn tổng quát, khoa học là hệ thống tri thức về các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy
Dưới các góc nhìn khác nhau, giới nghiên cứu có một số cách hiểu khác nhau về khoa học:
Khoa học được hiểu là hệ thống các tri thức về mọi loại quy luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội và
tư duy Hệ thống tri thức ở đây là hệ thống tri thức khoa học
Khoa học được hiểu là hệ thống tri thức gồm các quy luật về tự nhiên,
xã hội và tư duy được tích luỹ trong quá trình nhận thức trên cơ sở thực tiễn, được thể hiện bằng những khái niệm, phán đoán, học thuyết
Người ta thường phân loại theo 2 hệ thống tri thức: tri thức kinh nghiệm
và tri thức khoa học
Tri thức kinh nghiệm là những hiểu biết được tích lũy qua hoạt động sống hằng ngày trong mối quan hệ giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên Quá trình này giúp con người hiểu biết về sự vật, về cách quản lý thiên nhiên và hình thành mối quan hệ giữa con người với nhau trong xã hội Tri thức kinh nghiệm được con người không ngừng sử dụng và phát triển trong hoạt động thực tế Tuy nhiên, tri thức kinh nghiệm chưa thật
sự đi sâu vào bản chất, chưa thấy được hết các thuộc tính của sự vật và mối quan hệ bên trong giữa sự vật và con người Vì vậy, tri thức kinh nghiệm chỉ
Trang 20Theo quan điểm K.Marx thì khoa học được hiểu là một hình thái ý thức
xã hội Khoa học tồn tại độc lập tương đối với các hình thái ý thức xã hội khác như tôn giáo, đạo đức, ý thức pháp quyền, Chức năng xã hội riêng biệt của khoa học là khám phá cái mới, sáng tạo cái mới về thúc đẩy sự phát triển của xã hội
Các định nghĩa về khoa học nói trên tuy có những điểm khác nhau nhưng đều bao hàm các nội dung cơ bản dưới đây:
Khoa học là hệ thống tri thức về quy luật của sự vật, hiện tượng
Chức năng khoa học là khám phá bản chất các hiện tượng của thế giới khách quan, hệ thống hoá các tri thức đã khám phá thành lý thuyết, học thuyết khoa học, nghiên cứu ứng dụng những thành quả sáng tạo thế giới hiện thực
Công nghệ: Theo Luật Chuyển giao công nghệ năm 2006 của Việt Nam
có hiệu lực từ 01/7/2007: “Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật
có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm” Như vậy, công nghệ bao gồm cả phần cứng và phần mềm, phần cứng của công nghệ được thể hiện chủ yếu trong tính năng, tác dụng kỹ thuật của máy móc, thiết bị; còn phần mềm của công nghệ bao gồm các bí quyết kỹ thuật, kỹ năng, kinh nghiệm của con người làm chủ công nghệ
Trang 21- Phần con người (Human) bao gồm kỹ năng và kinh nghiệm của con người làm chủ công nghệ
- Phần thông tin (Information) bao gồm các tài liệu về công nghệ, ví dụ như bản thiết kế các bảng tính, công thức, biểu đồ, các hướng dẫn,
- Phần tổ chức (Organization) còn gọi là hình thức thể chế của công nghệ, bao gồm cơ cấu tổ chức cho các hoạt động của công nghệ,
1.2.1.2 Khái niệm quản lý vốn đầu tư phát triển khoa học và công nghệ
Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt mục tiêu đặt ra trong điều kiện môi trường luôn biến động
Vốn là biểu hiện bằng tiền tất cả các nguồn lực đã bỏ ra để đầu tư Chúng có thể là của cải vật chất, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động, là các tài sản vật chất khác
Đầu tư là quá trình sử dụng các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm thu được các kết quả, thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai Nguồn lực có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên hay chính sức lao động và trí tuệ con người Kết quả đạt được có thể là sự gia tăng thêm về tài sản tài chính (tiền vốn), tài sản vật chất (nhà máy, đường xá, bệnh viện…), tài sản trí tuệ hay là nguồn nhân lực chất lượng cao
Trang 2211
Đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của đầu tư, là hoạt động trực tiếp làm gia tăng tài sản vật chất (nhà xưởng, thiết bị…), tài sản trí tuệ (tri thức, kỹ năng…) và nguồn nhân lực cho nền kinh tế hoặc duy trì sự hoạt động của các tài sản và nguồn nhân lực sẵn có
Đầu tư phát triển KH&CN là hoạt động đầu tư có các đặc trưng:
- Nguồn lực đầu tư hoạt động KH&CN (đầu vào): nguồn lực tài chính (tài lực), nguồn lực con người - nhân lực (chất xám), nguồn lực thông tin (tin lực), tài nguyên thiên nhiên, nguồn lực vật tư (vật lực), trong đó nguồn lực chính là con người - chất xám
- Quá trình vận động đầu tư KH&CN: là các quá trình nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng nên có tính bất định, nhiều rủi ro và khó dự báo
- Kết quả quản lý đầu tư (đầu ra): Sự gia tăng về tài sản trí tuệ là chính như các sáng kiến, quy trình, giải pháp, sáng chế… và các nghiên cứu có tính mới
Từ các đặc trưng trên, có thể nhận thấy quản lý vốn đầu tư phát triển KH&CN mang đầy đủ nội dung và tính chất của hoạt động đầu tư phát triển Tuy nhiên, hoạt động đầu tư có những đặc điểm khác biệt so với công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, Sự khác biệt này là do đầu tư phát triển KH&CN có tính đặc thù như: Thời gian đầu tư kéo dài, tính sáng tạo trong KH&CN, tính thông tin, khó dự báo, tính kế thừa về tri thức, tính rủi ro lớn trong nghiên cứu triển khai, tính trễ trong áp dụng…
Quản lý vốn đầu tư phát triển khoa học và công nghệ tỉnh là quản lý đầu tư phát triển khoa học và công nghệ khi xét trên phạm vi địa giới hành chính của một tỉnh Luận văn tập trung nghiên cứu quản lý vốn đầu tư phát triển KH&CN ở Việt Nam hiện nay, do Sở KH&CN quản lý Nó mang đầy đủ các nội dung và tính chất của quản lý đầu tư phát triển khoa học và công nghệ nói chung
Trang 2312
1.2.2 Vai trò của quản lý vốn đầu tư phát triển Khoa học và Công nghệ
đối với phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia và các tỉnh, thành phố bên trong quốc gia
1.2.2.1.Quản lý vốn đầu tư phát triển khoa học và công nghệ có ảnh hưởng tất yếu đến tăng trưởng và phát triển kinh tế
Tăng trưởng kinh tế được hiểu là sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm) Và sự gia tăng này thể hiện ở quy mô và tốc độ Quy mô tăng trưởng phản ánh sự gia tăng nhiều hay ít; còn tốc độ tăng trưởng phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm qua các thời kỳ
Phát triển kinh tế được hiểu là quá trình tăng tiến mọi mặt của nền kinh
tế Nó là quá trình biến đổi cả về lượng và chất của nền kinh tế, là sự kết hợp chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề kinh tế - xã hội ở mỗi một quốc gia và trên địa bàn các đơn vị hành chính của các quốc gia
Quản lý vốn đầu tư vừa tác động đến tốc độ tăng trưởng, vừa tác động đến chất và lượng tăng trưởng của ngành KH&CN Quản lý tăng hay giảm quy mô vốn đầu tư và sử dụng vốn đầu tư hợp lý là những nhân tố rất quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư, tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm hàng hóa, sức cạnh tranh nền kinh tế… do đó nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế
Mối quan hệ giữa đầu tư và tăng trưởng được biểu hiện thông qua hệ số ICOR (hệ số gia tăng vốn - sản lượng): là tỷ số giữa quy mô vốn đầu tư tăng thêm với mức gia tăng sản lượng, hay là suất đầu tư cần thiết để tạo ra một đơn vị sản lượng (GDP) tăng thêm
ICOR = Vốn đầu tư/Mức tăng GDP
Từ đó suy ra: Mức tăng GDP = Vốn đầu tư/ICOR
Trang 2413
Nếu ICOR không đổi, mức tăng GDP hoàn toàn phụ thuộc vào vốn đầu tư
- Đầu tư phát triển khoa học và công nghệ với chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
Cơ cấu kinh tế được hiểu là tổng thể các yếu tố cấu thành nền kinh tế theo không gian, theo chủ thể và lĩnh vực hoạt động có liên hệ chặt chẽ và tác động qua lại với nhau trong những điều kiện KT-XH nhất định và được thể hiện cả về mặt số lượng lẫn chất lượng phù hợp với các mục tiêu đã xác định của nền kinh tế
Theo đà phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ trong điều kiện kinh tế thị trường hiện tại Ngày nay các quốc gia và tất cả các tỉnh, thành phố bên trong từng quốc gia đều phải tiến hành điều chỉnh lại cơ cấu các ngành kinh tế nhằm tạo độ thích nghi cao, tăng thế mạnh cạnh tranh quốc gia trong khu vực và trên thế giới Định hướng chính trong việc cấu trúc lại các nền kinh tế được biết đến như sau: cấu trúc lại nền kinh tế để nâng cao và giữ được địa vị dẫn đầu của các ngành kinh tế dựa trên các công nghệ có hàm lượng tri thức cao và lấy nguồn trí lực làm cơ sở; tỷ lệ đóng góp vào thu nhập quốc nội của dịch vụ ngày càng tăng
1.2.2.2 Quản lý vốn đầu tư phát triển Khoa học và Công nghệ góp phần vào việc nâng cao trình độ khoa học và công nghệ
Công nghệ là trung tâm của công nghiệp hóa; đầu tư là điều kiện tiên quyết của sự phát triển và tăng cường khả năng công nghệ của Việt Nam hiện nay Công nghệ bao gồm các yếu tố cơ bản sau: phần cứng (máy móc thiết bị), phần mềm (các văn bản, tài liệu, các bí quyết…), yếu tố con người (các
kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng quản lý, kinh nghiệm làm việc), các yếu tố tổ chức (các thể chế, phương pháp tổ chức) Để có công nghệ thì phải nghiên cứu hoặc nhập khẩu, do đó cần phải có vốn Vai trò của đầu tư thể hiện ở chỗ
nó tác động đến việc tạo ra công nghệ ngoại sinh hoặc nội sinh làm tăng năng suất lao động, tăng sản xuất, tăng tích lũy
Trang 25Hầu hết công nghệ ở Việt Nam hiện nay nói chung và ở các tỉnh, thành phố nói riêng được nhập khẩu từ bên ngoài, số lượng công nghệ tự nghiên cứu triển khai và ứng dụng rất hạn chế Tình trạng rất đáng lo ngại này, một phần
do trình độ, một phần do khả năng đáp ứng về vốn đầu tư dành cho hoạt động nghiên cứu còn hạn chế; phần vốn dành cho hoạt động nghiên cứu triển khai
và, ứng dụng công nghệ vào trong sản xuất còn mạnh mún, chưa tập trung Hiện mặt bằng công nghệ của chúng ta còn lạc hậu so với mức trung bình chung của thế giới, nếu không nhanh chóng có giải pháp, chính sách quản lý đầu tư thỏa đáng cho công nghệ thì sản phẩm của nước ta sẽ không đủ sức cạnh tranh với các sản phẩm của các nước trên thế giới và trong khu vực
Để phản ánh sự tác động của đầu tư đến trình độ phát triển khoa học công nghệ có thể sử dụng các chỉ tiêu sau:
- Tỷ trọng vốn đầu tư đổi mới công nghệ/tổng vốn đầu tư (chỉ tiêu này cho thấy mức độ đầu tư đổi mới công nghệ nhiều hay ít trong mỗi thời kỳ)
Trang 2615
- Tỷ trọng chi phí mua sắm thiết bị, máy móc/tổng số vốn đầu tư thực hiện (chỉ tiêu này cho thấy tỷ lệ vốn là máy móc, thiết bị chiếm bao nhiêu phần trăm)
- Tỷ trọng vốn đầu tư theo chiều sâu/tổng vốn đầu tư thực hiện Đầu tư theo chiều sâu thường gắn liền với đổi mới công nghệ Do đó, chỉ tiêu này càng lớn thì mức độ đầu tư đổi mới khoa học và công nghệ cao
- Tỷ trọng vốn đầu tư cho các công trình mũi nhọn, trọng điểm Các công trình mũi nhọn, trọng điểm thường là các công trình đầu tư lớn, công nghệ hiện đại, mang tính chất đầu tư mồi, tạo tiền đề đầu tư phát triển các công trình khác Chỉ tiêu này càng lớn cho thấy mức độ tập trung của công nghệ và gián tiếp phản ánh mức độ hiện đại của công nghệ
1.2.2.3 Khoa học và Công nghệ thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế
KH&CN càng phát triển càng tạo ra năng lực sản xuất mới, năng suất lao động được nâng cao, tạo ra khối lượng sản phẩm lớn trong những khoảng thời gian ngắn Những yếu tố này thúc đẩy quá trình “toàn cầu hoá” nền kinh
tế Những thành tựu của công nghệ thông tin cho phép nối kết nhanh chóng các cấu trúc quy mô nhỏ như doanh nghiệp, công ty… với nhau và với hệ thống quy mô lớn như nền kinh tế khu vực, nền kinh tế toàn cầu Thúc đẩy các tác động toàn cầu lan truyền với tốc độ nhanh, cường độ mạnh
Các hoạt động thương mại ngày càng được mở rộng Hoạt động mua bán không chỉ các hàng hoá “hữu hình” mà còn có nhiều loại hàng hoá mới như dịch vụ, các sản phẩm trí tuệ Những lĩnh vực thương mại này đang ngày càng được mở rộng và tăng trưởng với tốc độ cao,…
1.2.2.4 Sự phát triển của Khoa học và Công nghệ ngày càng gắn chặt với sự phát triển xã hội - nhân văn và với phát triển bền vững
Với những thành tựu to lớn của KH&CN, ngày càng mở ra những khả
Trang 2716
năng lớn trong việc tạo ra những sản phẩm ngày càng dồi dào, đáp ứng ngày càng cao các nhu cầu của con người Tuy nhiên, do nhiều hoạt động của con người chưa phù hợp với các quy luật vận động của tự nhiên, xã hội, cho nên trong nhiều trường hợp ẩn chứa những nguy cơ Những phản ứng của thiên nhiên, những xung đột xã hội có thể dẫn đến những thảm hoạ to lớn có khả năng huỷ diệt toàn bộ nền văn minh nhân loại Những mâu thuẫn này buộc loài người nói chung, từng quốc gia và mỗi tỉnh, thành phố bên trong từng quốc gia nói riêng phải thay đổi căn bản tầm nhìn, phương thức đầu tư và quản lý vốn đầu tư cho KH&CN theo hướng thật sự thân thiện với môi trường, bảo vệ lâu bền hệ sinh thái tự nhiên
1.3 Nguồn vốn đầu tư cho hoạt động Khoa học và Công nghệ
1.3.1 Nguồn vốn từ ngân sách trung ương
1.3.1.1 Vốn đầu tư phát triển
Vốn đầu tư phát triển cho KH&CN được tập trung để:
- Xây dựng mới, cải tạo nâng cấp các cơ quan KH-CN
- Xây dựng các phòng thí nghiệm trọng điểm
- Đầu tư chiều sâu (trang thiết bị) cho các cơ quan KH-CN
- Hỗ trợ áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất
1.3.1.2 Kinh phí sự nghiệp khoa học
Tổng ngân sách chi cho sự nghiệp KH-CN được cân đối theo ngân sách trung ương và ngân sách địa phương Nhìn chung, đây là nguồn kinh phí chủ yếu để các tỉnh, thành phố triển khai các chương trình, đề tài nghiên cứu, các
dự án sản xuất thử nghiệm và các nhiệm vụ KH&CN khác (các hoạt động thông tin KHCN, Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng, hợp tác quốc tế, đào tạo…) phục vụ cho phát triển KH&CN của địa phương
Trang 2817
1.3.2 Nguồn vốn từ ngân sách của tỉnh và cơ sở
- Các cơ sở nghiên cứu khoa học: Các cơ sở nghiên cứu thực hiện việc chuyển giao các kết quả nghiên cứu và công nghệ cho sản xuất, liên doanh liên kết để nghiên cứu, sản xuất các sản phẩm mới có chất lượng cao
- Các cơ sở sản xuất: Đối với các doanh nghiệp sử dụng kinh phí từ Quỹ Đầu tư phát triển cho nghiên cứu khoa học, đổi mới công nghệ, mua tài liệu kỹ thuật…
1.3.3 Nguồn vốn hợp tác với nước ngoài
Nguồn vốn này được thể hiện dưới các hình thức sau đây:
- Các dự án về chuyển giao công nghệ (chủ yếu là chuyên gia, đào tạo, một phần nhỏ trang thiết bị, vật mẫu, tài liệu kỹ thuật…)
- Các dự án để điều tra, xây dựng cơ sở dữ liệu, xây dựng chính sách, làm thử mô hình
- Các đề tài hợp tác nghiên cứu 2 bên
- Tổ chức các hội nghị, hội thảo khoa học quốc tế
- Hỗ trợ kinh phí cho các đào tạo, đi dự hội nghị khoa học
1.3.4 Các loại quỹ theo Luật Khoa học và Công nghệ
1.3.4.1 Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ quốc gia:
Quỹ này được sử dụng vào các mục đích dưới đây:
- Tài trợ cho việc thực hiện nghiên cứu cơ bản
- Tài trợ cho các nhiệm vụ KH&CN đột xuất, mới phát sinh, có ý nghĩa quan trọng về khoa học và thực tiễn; các nhiệm vụ KH&CN có triển vọng nhưng có tính rủi ro
- Cho vay với lãi suất thấp hoặc không lấy lãi để thực hiện việc ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ vào sản xuất và đời sống
Quỹ Phát triển KH&CN quốc gia được hình thành từ các nguồn sau:
Trang 2918
- Vốn được cấp một lần ban đầu, vốn bổ sung được cấp tiếp hằng năm
từ NSNN dành cho phát triển KH&CN;
- Các khoản đóng góp tự nguyện, hiến, tặng của các tổ chức, cá nhân;
- Các nguồn khác
1.3.4.2 Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ của các tỉnh, thành phố
Quỹ này được hình thành từ các nguồn sau:
- Vốn được cấp một lần ban đầu từ NSNN dành cho phát triển KH&CN của bộ, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
- Vốn bổ sung hằng năm từ kết quả hoạt động KH&CN;
- Các khoản đóng góp tự nguyện, hiến, tặng của các tổ chức, cá nhân;
- Các nguồn khác
1.3.4.3 Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ của doanh nghiệp
Ở Việt Nam hiện nay, hệ thống văn bản QPPL về thành lập quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp đã khá đồng bộ và chi tiết, xác định Quỹ phát triển KH&CN của doanh nghiệp là nguồn quan trọng để đầu tư phát triển KH&CN trên địa bàn các tỉnh, thành phố
Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, số 14/2008/QH12, ngày 03/6/2008: Điều 45 Luật Chuyển giao công nghệ, số 80/2006/QH11, ngày 29/11/2006
Thông tư số 15/2011/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày 09/2/2011 về việc hướng dẫn thành lập, tổ chức, hoạt động, quản lý và sử dụng Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp,
1.3.5 Các nguồn vốn khác
Ngoài những cơ chế đã có về tạo nguồn nhằm đa dạng hóa các nguồn vốn cho hoạt động KH-CN, Nhà nước ta còn có các chính sách và cơ chế khác tạo nguồn, thể hiện ở các văn bản dưới đây:
Trang 3019
- Quyết định 38/2000/QĐ-TTg bổ sung Quyết định 531 cho phép sử dụng kinh phí của các chương trình KT-XH để nghiên cứu khoa học phục vụ cho mục tiêu của chương trình đó
- Nghị định 52/1999/NĐ-CP về quản lý các dự án đầu tư cũng cho phép
dự toán kinh phí nghiên cứu khoa học trong tổng vốn đầu tư để nghiên cứu khoa học phục vụ dự án
- Nghị định 119/NĐ-CP về một số chính sách và biện pháp tài chính khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư cho nghiên cứu khoa học và đổi mới công nghệ
1.4 Nội dung quản lý vốn đầu tư phát triển Khoa học và Công nghệ trên địa bàn cấp tỉnh, thành phố
Trên địa bàn cấp tỉnh, thành phố khoa học - công nghệ vẫn có vai trò là nền tảng, động lực và nguồn lực phát triển của nhiều ngành, nhiều lĩnh vực Việc đầu tư vào tri thức và khai thác tri thức đang là yếu tố có tính then chốt của sự đổi mới, tạo nên thành tựu kinh tế và phúc lợi xã hội Để phục vụ kinh tế- xã hội phát triển ở mức độ cao và bền vững, hoạt động khoa học công nghệ phải thực sự là động lực của mọi sự phát triển, đủ năng lực giải quyết được các yêu cầu của sản xuất và đời sống xã hội, chuyển giao được các tiến
bộ KH&CN tiên tiến tạo đà cho kinh tế - xã hội phát triển đạt các mục tiêu thiết thực ở từng giai đoạn Trên địa bàn cấp tỉnh, quản lý đầu tư phát triển khoa học và công nghệ tập trung những nội dung chính được đề cập dưới đây:
1.4.1 Quản lý vốn đầu tư phát triển thông tin Khoa học và Công nghệ
Trong thời đại ngày nay, ở đâu người ta cũng thường xuyên nghe nói
đến từ "thông tin" (Information) Thông tin quả thật là một khái niệm rất cơ
bản của khoa học, đồng thời cũng là một khái niệm trung tâm của xã hội trong thời đại ngày nay Trong mọi hoạt của con người, của xã hội, đều có sự giao lưu thông tin Mọi tri thức đều bắt nguồn từ việc nắm bắt những thông tin về
Trang 3120
những điều đã xảy ra, những cái đã biết, đã làm Trong hoạt động KH&CN, thông tin đóng vai trò cực kỳ quan trọng Vậy thông tin là gì?
Về phương diện chuyển giao tri thức, người ta định nghĩa thông tin là
tri thức được lưu trữ trong bộ não con người hoặc trong các vật mang tin điện tử, hoặc được viết ra, hoặc được lưu trong các vật thể nhân tạo khác
Định nghĩa này đã đề cập đến vấn đề quan hệ giữa tri thức và thông tin và đã đồng nghĩa ở mức độ nào đó thông tin với tri thức Thông tin chính là những tri thức đã được mã hoá thành ký hiệu có thể hiểu được (thông tin mã hoá- codified information)
Thông tin có thể được định nghĩa là cấu trúc của văn bản bất kỳ có khả
năng làm biến đổi cấu trúc nhận thức của người nhận (văn bản là tập hợp các
ký hiệu được cấu trúc một cách có mục tiêu bởi người gửi với ý đồ làm thay đổi cấu trúc nhận thức của người nhận) Đây là định nghĩa cũng được sử
dụng trong lĩnh vực thông tin học (khoa học thông tin)
Theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5453-1991: Thông tin là dữ liệu, tin tức được xem xét trong quá trình tồn tại và vận động trong không gian và thời
gian Cùng một hiện tượng, sự vật khách quan, đối với người này là có thông
tin mới, đối với người kia lại là điều "biết rồi, khổ lắm, nói mãi"; hôm qua còn
là rất cần thiết, hôm nay có thể đã chẳng còn tác dụng gì
Thông tin là kết quả của sự phân tích, tổng hợp và đánh giá dựa trên những dữ liệu sẵn có để đưa ra các quyết định cần thiết Thông tin là dữ liệu
mà đã được: Sắp xếp - Kết cấu - Biến đổi - Sử dụng
Thông tin có thể ở dạng văn bản, lời nói, hình ảnh, cảm nhận bằng các giác quan của con người
Theo Nghị định 159/2004/NĐ-CP của Chính phủ về hoạt động thông
tin KH&CN: "Thông tin KH&CN là các dữ liệu, số liệu, dữ kiện, tin tức, tri
thức KH&CN (bao gồm KH tự nhiên, KH công nghệ, KH xã hội và nhân
Trang 3221
văn) được tạo lập, quản lý và sử dụng nhằm mục đích cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước hoặc đáp ứng nhu cầu của tổ chức, cá nhân trong xã hội"
Một số loại hình thông tin KH&CN chính có thể bao gồm:
- Sách, chuyên khảo: là những nguồn tin truyền thống đã có từ lâu đời
Thông tin trong sách, chuyên khảo là những thông tin đã được hệ thống hoá, nói chung có chất lượng cao do được trải qua quá trình xuất bản chặt chẽ
- Xuất bản phẩm nhiều kỳ (Serials): Là một trong những nguồn tin
KH&CN quan trọng, theo định nghĩa của Hội Thư viện Hoa Kỳ, xuất bản
phẩm nhiều kỳ là "ấn phẩm được xuất bản thành những phần kế tiếp nhau,
thường là cách nhau một khoảng thời gian đều đặn và có ý định tiếp tục một cách không xác định" Xuất bản phẩm nhiều kỳ bao gồm các loại khác nhau
như tạp chí, ấn phẩm định kỳ, niên giám, báo cáo thường niên, các kỷ yếu
thường xuyên của các hiệp hội
- Báo cáo kết quả nghiên cứu: Là một trong những nguồn tin chủ yếu của hoạt động thông tin KH&CN Đặc điểm của báo cáo kết quả nghiên cứu
KH&CN gồm: Được biên soạn để báo cáo cho tổ chức tài trợ về sự tiến hành,
về kết quả nghiên cứu KH&CN; Hỗ trợ sự cung cấp nhanh chóng các thông tin KH&CN; Là nguồn tin được đánh giá cao; Không hạn chế về khối lượng;
Có mã số báo cáo; Cho phép phổ biến linh hoạt
- Tài liệu hội nghị: Là loại hình nguồn tin KH&CN quan trọng Đó là các tài liệu về các báo cáo trình bày tại các hội nghị, hội thảo và được coi là nguồn tin quan trọng về những vấn đề đương đại, cập nhật Vấn đề phức tạp đối với tài liệu hội nghị là việc bổ sung, thu thập do chúng không được phát hành qua kênh thương mại
- Sáng chế (Patents): Là nguồn tin quan trọng cho công nghiệp, nghiên cứu công nghệ Đối với lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, nguồn tin patents có giá trị hạn chế hơn
Trang 3322
- Tài liệu tiêu chuẩn: Là một loại hình tài liệu mô tả sản phẩm, vật liệu,
quá trình hoặc dịch vụ Khi những tiêu chuẩn được chấp nhận bởi cơ quan có thẩm quyền, nó trở thành giải pháp, hình mẫu mà các sản phẩm, vật liệu, quá
trình và dịch vụ tương tự phải tuân thủ
- Luận án/luận văn: Là một nguồn thông tin KH&CN có giá trị nhất
định Luận án/luận văn sau đại học có thể bao gồm luận văn thạc sỹ hoặc
tương đương; luận án tiến sỹ hoặc tương đương
- Các tài liệu điều tra cơ bản: Tài liệu điều tra cơ bản chứa các dữ liệu
là kết quả điều tra, khảo sát về tự nhiên (tài nguyên khoáng sản, đất, rừng, biển, .), về xã hội (như số liệu điều tra dân số, điều tra năng lực sản xuất
kinh doanh, điều tra xã hội học, ) Đây là nguồn thông tin rất có giá trị
- Catalo công nghiệp, thương mại: Catalo công nghiệp là một loại hình
tài liệu đặc biệt, được xuất bản và phổ biến bởi các công ty, doanh nghiệp, tổ chức với mục đích cung cấp thông tin về các đặc tính của sản phẩm, vật liệu, quá trình, dịch vụ, v.v và thúc đẩy, hỗ trợ việc bán các sản phẩm, vật liệu,
quá trình hoặc dịch vụ
- Nguồn tin điện tử, website bao gồm: Sách điện tử; Tạp chí điện tử; Cơ
sở dữ liệu; CDROM; Nguồn tin trên Web
Hoạt động thông tin KH&CN: Là hoạt động nghiệp vụ về tìm kiếm, thu thập, xử lý, lưu trữ, phổ biến thông tin KH&CN; các hoạt động khác có liên
quan trực tiếp và phục vụ cho hoạt động nghiệp vụ thông tin KH&CN (Theo
Nghị định 159/2004/NĐ-CP) Đây là dạng lao động khoa học được hình thành
có tổ chức, do lực lượng nghiên cứu thông tin thực hiện nhằm mục đích nâng cao hiệu quả của nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng quản lý
Từ khái niệm trên, có thể thấy: Hoạt động thông tin KH&CN là hoạt động ra đời do sự phân công lao động trong xã hội Hoạt động thông tin
Trang 3423
KH&CN là hoạt động khoa học, sử dụng những phương pháp nghiên cứu KH, các khái niệm và thuật ngữ đặc thù trong thực tiễn hoạt động Hoạt động thông tin KH&CN có đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp Hoạt động thông tin KH&CN có mục đích nâng cao hiệu quả hoạt động xã hội, chất lượng cuộc sống
Sản phẩm và dịch vụ cơ bản của hoạt động thông tin KH&CN:
- Sản phẩm: Các cơ sở dữ liệu: CSDL thư mục; toàn văn; CSDL dữ
kiện; CSDL chỉ dẫn; Các tạp chí tóm tắt; Các mục lục; thư mục; Bản tin; Thông tin phân tích: Các tổng luận; tổng quan,
- Dịch vụ thông tin: Dịch vụ thông tin là sự thực hiện một hoặc một vài
quá trình công nghệ của hoạt động thông tin KH&CN và chuyển giao kết quả đến người dùng tin nhằm đáp ứng nhu cầu tin của họ Dịch vụ thông tin KH&CN bao gồm: Tra cứu và cung cấp thông tin KH&CN trên mạng; Phổ
biến thông tin chọn lọc; Cung cấp tài liệu phân tích, tổng hợp thông tin khoa học và công nghệ theo chuyên đề; Cung cấp bản sao, bản dịch tài liệu; Cung
cấp dữ liệu về khoa học và công nghệ; Tổ chức triển lãm, hội chợ công nghệ
và thiết bị; Chuyển giao CSDL; Đào tạo; Tư vấn thông tin; Các hình thức dịch vụ khác
Nội dung quản lý đầu tư hoạt động thông tin KH&CN ở cấp tỉnh gồm:
- Quản lý đầu tư hạ tầng cơ sở phục vụ công tác thu thập, xử lý thông tin, quản lý và lưu giữ nguồn tin khoa học và công nghệ, ví dụ: hệ thống máy móc, thiết bị, hệ thống mạng…
- Quản lý đầu tư vào công tác truyền thông, tuyên truyền để quảng bá, giới thiệu các kết quả nghiên cứu KH&CN, ví dụ: Đưa thông tin KH&CN về
cơ sở, xây dựng các trang truyền hình, trang web và phố biến tiến bộ KH&CN trên báo địa phương…
Trang 3524
- Quản lý đầu tư vào xây dựng và chuyển giao hệ thống cơ sở dữ liệu
để tra cứu và cung cấp thông tin KH&CN
- Quản lý đầu tư vào xuất bản phẩm nhiều kỳ gồm: Tạp chí thông tin KH&CN, Chuyên san KHXH&NV, Kỷ yếu kết quả nghiên cứu…
- Quản lý đầu tư cho công tác nghiên cứu lý luận cung cấp các thông tin mang tính luận cứ để xây dựng các dự báo về tình hình phát triển khoa học
và công nghệ, phục vụ hoạch định đường lối, chính sách quản lý khoa học và công nghệ các cơ quan đảng, cơ quan quản lý nhà nước
- Quản lý đầu tư vào công tác đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ về thông tin KH&CN
- Quản lý đầu tư vào ứng dụng và phát triển công nghệ tiên tiến trong hoạt động thông tin khoa học và công nghệ
1.4.2 Quản lý vốn đầu tư hoạt động nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng Khoa học và Công nghệ
Nghiên cứu khoa học là sự phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới; hoặc là sáng tạo phương pháp mới và phương tiện kỹ thuật mới để làm biến đổi sự vật phục vụ cho mục tiêu hoạt động của con người
Nghiên cứu khoa học là một hoạt động tìm kiếm, xem xét, điều tra, hoặc thử nghiệm Dựa trên những số liệu, tài liệu, kiến thức,… đạt được từ các thí nghiệm NCKH và các cuộc khảo sát, tổng kết thực tiễn để phát hiện ra những cái mới về bản chất sự vật, về thế giới tự nhiên và xã hội, và để sáng tạo phương pháp và phương tiện kỹ thuật hoặc những nhận thức lý luận, những luận cứ khoa học mới cao hơn, giá trị hơn Con người muốn làm NCKH phải
có kiến thức nhất định về lĩnh vực nghiên cứu và cái chính là phải rèn luyện cách làm việc tự lực, có phương pháp từ lúc ngồi trên ghế nhà trường
Về mặt thao tác, có thể định nghĩa, nghiên cứu khoa học là quá trình hình thành và chứng minh luận điểm khoa học Quá trình hình thành và chứng
Trang 3625
minh luận điểm khoa học tuân theo một trật tự nhất định, chúng ta gọi đó là
“logic của nghiên cứu khoa học” Trật tự logic này liên quan đến phân loại nghiên cứu khoa học
Phân loại theo chức năng nghiên cứu được chia thành 4 loại:
- Nghiên cứu mô tả là nghiên cứu nhằm đưa ra một hệ thống tri thức về
nhận dạng một sự vật, đánh giá một sự vật
- Nghiên cứu giải thích là những nghiên cứu nhằm giải thích nguồn
gốc; động thái; cấu trúc ; tương tác; hậu quả; quy luật chung chi phối quá
trình vận động của sự vật
- Nghiên cứu giải pháp là loại nghiên cứu nhằm sáng tạo các giải pháp ,
có thể là giải pháp công nghệ, giải pháp tổ chức và quản lý
- Nghiên cứu dự báo là những nghiên cứu nhằm nhận dạng trạng thái của sự vật trong tương lai
Phân loại theo các giai đoạn của nghiên cứu bao gồm:
- Nghiên cứu cơ bản, là những nghiên cứu nhằm phát hiện thuộc tính , cấu trúc, động thái các sự vật Kết quả nghiên cứu cơ bản có thể là các khám phá, phát hiện, phát minh, dẫn tới hình thành một hệ thống lý thuyết mới
- Nghiên cứu ứng dụng, là sự vận dụng quy luật được phát hiện từ nghiên cứu cơ bản để giải thích một sự vậ t hoặc tạo ra những nguyên lý mới về các giải pháp
- Triển khai, còn gọi là triển khai thực nghiệm , là sự vận dụng các lý thuyết để đưa ra các hình mẫu (prototype) với những tham số khả thi về kỹ
thuật Hoạt động triển khai gồm 3 giai đoạn:
+ Tạo vật mẫu (prototype), là giai đoạn thực nghiệm nhằm tạo ra được
sản phẩm, chưa quan tâm đến quy trình sản xuất
+ Tạo công nghệ còn gọi là giai đoạn “làm pilot”, là giai đoạn tìm kiếm
và thử nghiệm công nghệ để sản xuất ra sản phẩm theo mẫu vừa th ành công trong giai đoạn thứ nhất
Trang 37Quản lý đầu tư cho hoạt động nghiên cứu, ứng dụng chuyển giao KH&CN ở cấp tỉnh tập trung quản lý đầu tư thông qua các đề tài, dự án KH&CN trên các lĩnh vực: Nông - lâm - thủy sản; Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp; Công nghệ thông tin; Tài nguyên thiên nhiên và môi trường; Đô thị và giao thông; Y tế; Khoa học xã hội và nhân văn,
Quản lý đầu tư thực hiện các đề tài, dự án KH&CN nhằm phục vụ cho mục tiêu và nội dung của các chương trình KH&CN trọng điểm cấp tỉnh cho từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội
Đề tài nghiên cứu khoa học: Là một nhiệm vụ khoa học và công nghệ nhằm phát hiện quy luật, mô tả, giải thích nguyên nhân vận động của sự vật, hiện tượng hoặc sáng tạo nguyên lý, những giải pháp, bí quyết, sáng chế, được thể hiện dưới các hình thức: Đề tài nghiên cứu cơ bản, đề tài nghiên cứu ứng dụng, đề tài triển khai thực nghiệm hoặc kết hợp cả nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và triển khai thực nghiệm
Dự án sản xuất thử nghiệm (dự án SXTN): Là một nhiệm vụ khoa học
và công nghệ nhằm ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học và triển khai thực nghiệm để thử nghiệm các giải pháp, phương pháp, mô hình quản lý kinh tế-
xã hội hoặc sản xuất thử ở quy mô nhỏ nhằm hoàn thiện công nghệ mới, sản phẩm mới trước khi đưa vào sản xuất và đời sống
Dự án khoa học và công nghệ (dự án KH&CN): Là nhiệm vụ khoa học
và công nghệ, bao gồm một số đề tài nghiên cứu khoa học và một số dự án
Trang 3827
sản xuất thử nghiệm gắn kết hữu cơ, đồng bộ được tiến hành trong một thời gian nhất định nhằm giải quyết các vấn đề khoa học và công nghệ chủ yếu phục vụ cho việc sản xuất một sản phẩm hoặc nhóm sản phẩm trọng điểm, chủ lực có tác động nâng cao trình độ công nghệ của một ngành, một lĩnh vực
và có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, của các tỉnh, thành phố trong nước
Chương trình: là một nhóm đề tài hoặc dự án được tập hợp theo một mục đích xác định Giữa chúng có tính độc lập tương đối cao Tiến độ thực hiện đề tài, dự án trong chương trình không nhất thiết phải giống nhau, nhưng nội dung của chương trình thì phải đồng bộ
1.4.3 Quản lý vốn đầu tư phát triển hệ thống các cơ quan nghiên cứu và chuyển giao khoa học và công nghệ
Các cơ quan nghiên cứu và chuyển giao bao gồm: Các tổ chức nghiên cứu khoa học (lĩnh vực nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược); Các tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ và các tổ chức dịch vụ KH&CN (được tổ chức dưới các hình thức: viện, trung tâm, phòng thí nghiệm, trạm nghiên cứu, trạm quan trắc, trạm thử nghiệm và cơ sở nghiên cứu và phát triển khác thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, trường đại học, trường cao đẳng )
Quản lý đầu tư phát triển hệ thống các cơ quan nghiên cứu và chuyển giao tập trung vào: Năng lực nghiên cứu, cơ sở vật chất và nguồn nhân lực cho hoạt động nghiên cứu, chuyển giao
Quản lý đầu tư thành lập các tổ chức KH&CN bao gồm: Thành lập doanh nghiệp KH&CN; Chuyển đổi các tổ chức KH&CN nhà nước sang tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115 của chính Phủ; Chuyển đổi từ các tổ chức khoa học và công nghệ thành doanh nghiệp khoa học và công nghệ
Trang 3928
1.4.4 Quản lý vốn đầu tư phát triển nhân lực Khoa học và Công nghệ
Nhân lực KH&CN có thể được hiểu theo những cách khác nhau Theo
Sách KH&CN Việt Nam 2003 (tr.61), định nghĩa được dựa theo cuốn “Cẩm
nang về đo lường nguồn nhân lực KH&CN”, xuất bản năm 1995 tại Paris của
Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) như sau:
“Nhân lực KH&CN bao gồm những người đáp ứng được một trong những điều kiện sau đây:
1 Đã tốt nghiệp đại học hoặc cao đẳng về một lĩnh vực KH&CN;
2 Tuy chưa đạt được điều kiện nêu trên, nhưng làm việc trong một lĩnh vực KH&CN đòi hỏi phải có trình độ tương đương”
Trên cở sở này, cách hiểu về nhân lực KH&CN được diễn giải gồm những người: (1.) Đã tốt nghiệp ĐH-CĐ và làm việc trong một ngành KH&CN; (2.) Đã tốt nghiệp ĐH-CĐ, nhưng không làm việc trong một ngành KH&CN nào; (3.) Chưa tốt nghiệp ĐH-CĐ, nhưng làm một công việc trong một lĩnh vực KH&CN đòi hỏi trình độ tương đương Khái niệm này dường như quá rộng để thể hiện hoạt động KH&CN của một quốc gia Do vậy, các nước thường sử dụng khái niệm nhân lực nghiên cứu và phát triển (NCPT) để thể hiện lực lượng lao động KH&CN của mình
Theo Hướng dẫn thống kê NCPT của OECD (Cẩm nang FRASCATI), nhân lực NCPT bao gồm những người trực tiếp tham gia vào hoạt động NCPT hoặc trực tiếp hỗ trợ hoạt động NCPT Nhân lực NCPT được phân thành 3 nhóm:
- Cán bộ nghiên cứu (nhà nghiên cứu/nhà khoa học/kỹ sư nghiên cứu):
đó là những cán bộ chuyên nghiệp có trình độ cao đẳng/đại học, thạc sĩ và tiến sĩ hoặc không có văn bằng chính thức song làm các công việc tương đương như nhà nghiên cứu/nhà khoa học tham gia vào quá trình tạo ra tri thức, sản phẩm và quy trình mới, tạo ra phương pháp và hệ thống mới
Trang 4029
- Nhân viên kỹ thuật và tương đương: bao gồm những người thực hiện các công việc đòi hỏi phải có kinh nghiệm và hiểu biết kỹ thuật trong những lĩnh vực của KH&CN Họ tham gia vào NCPT bằng việc thực hiện những nhiệm vụ khoa học và kỹ thuật có áp dụng những khái niệm và phương pháp vận hành dưới sự giám sát của các nhà nghiên cứu
- Nhân viên phụ trợ trực tiếp NCPT: bao gồm những người có hoặc không có kỹ năng, nhân viên hành chính văn phòng tham gia vào các dự án NCPT Trong nhóm này bao gồm cả những người làm việc liên quan đến nhân sự, tài chính và hành chính trực tiếp phục vụ công việc NCPT của các tổ chức NCPT
Quan hệ giữa nhân lực KH&CN và nhân lực NCPT có thể được thể hiện như sau
Nhân lực NCPT Nhân lực KH&CN
Nhân lực có trình độ đang làm việc Tổng số nhân lực
Luận văn tập trung nghiên cứu quản lý đầu tư phát triển đội ngũ trí thức KH&CN ở cấp tỉnh bao gồm: Cán bộ làm nghiên cứu chuyển giao KH&CN ở các viện, phân viện, các trường đại học và cao đẳng Trung ương đóng trên địa bàn; Cán bộ làm nghiên cứu chuyển giao KH&CN ở các viện nghiên cứu, các đơn vị nghiên cứu và chuyển giao ứng dụng tiến bộ KH&CN trực thuộc tỉnh; Cán bộ giảng dạy và nghiên cứu KH&CN ở các trường đại học và cao đẳng; Cán bộ làm quản lý KH&CN ở các ngành cấp tỉnh, các huyện, thành phố Vinh và các thị xã; Cán bộ làm kỹ thuật ở một số doanh nghiệp; Cán bộ tham