1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu mối liên hệ giữa các phức hệ bào tử, phấn hoa trong trầm tích tầng mặt với hệ thực vật hiện đại vùng biển cụm đảo cô tô thanh lân và ý nghĩa của chúng

75 141 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 4,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN --- NGUYỄN THỊ THÙY DUNG NGHIÊN CỨU MỐI LIÊN HỆ GIỮA CÁC PHỨC HỆ BÀO TỬ, PHẤN HOA TRONG TRẦM TÍCH TẦNG MẶT VỚI HỆ THỰC VẬT HIỆ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

NGUYỄN THỊ THÙY DUNG

NGHIÊN CỨU MỐI LIÊN HỆ GIỮA CÁC PHỨC HỆ BÀO TỬ, PHẤN HOA TRONG TRẦM TÍCH TẦNG MẶT VỚI HỆ THỰC VẬT HIỆN ĐẠI VÙNG BIỂN CỤM ĐẢO CÔ TÔ - THANH LÂN VÀ Ý NGHĨA CỦA CHÚNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC

Hà Nội, 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

NGUYỄN THỊ THÙY DUNG

NGHIÊN CỨU MỐI LIÊN HỆ GIỮA CÁC PHỨC HỆ BÀO TỬ, PHẤN HOA TRONG TRẦM TÍCH TẦNG MẶT VỚI HỆ THỰC VẬT HIỆN ĐẠI VÙNG BIỂN CỤM ĐẢO CÔ TÔ - THANH LÂN VÀ Ý NGHĨA CỦA CHÚNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Thùy Dương Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Những số liệu được tác giả thu thập và tham khảo từ các công trình nghiên cứu khác đã được trích dẫn nguồn gốc rõ ràng và được ghi trong phần tài liệu tham khảo Nếu có phát hiện bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thùy Dung

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU 4

1.1 ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN 4

1.2 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI 7

1.3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT KHU VỰC NGHIÊN CỨU 4

1.3.1 Đặc điểm địa chất trên đảo 9

1.3.2 Đặc điểm địa chất phần biển ven đảo 10

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13

2.1 CƠ SỞ TÀI LIỆU 13

2.1.1 Nguồn tài liệu thu thập 13

2.1.2 Nguồn tài liệu trực tiếp nghiên cứu phục vụ đề tài 13

2.2 CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15

2.2.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa 15

2.2.3 Phương pháp phân tích thành phần chính (PCA) 27

CHƯƠNG 3 MỐI LIÊN HỆ GIỮA CÁC PHỨC HỆ BÀO TỬ, PHẤN HOA VỚI HỆ THỰC VẬT HIỆN ĐẠI KHU VỰC NGHIÊN CỨU VÀ Ý NGHĨA CỦA CHÚNG 29

3.1 ĐẶC ĐIỂM HỆ THỰC VẬT TRÊN ĐẢO 29

3.2 ĐẶC TRƯNG CÁC PHỨC HỆ BÀO TỬ, PHẤN HOA TRONG TRẦM TÍCH TẦNG MẶT 32

3.3 MỐI LIÊN HỆ GIỮA CÁC PHỨC HỆ BẢO TỬ, PHẤN HOA VỚI HỆ THỰC VẬT HIỆN ĐẠI 41

3.4 Ý NGHĨA CỦA NGHIÊN CỨU TRONG KHÔI PHỤC CỔ MÔI TRƯỜNG 47 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 50

1 Kết luận 50

2 Kiến nghị 50

TÀI LIỆU THAM KHẢO 51 PHỤ LỤC

Trang 5

1

MỞ ĐẦU

“Palynology” là chuyên ngành nghiên cứu về các hóa thạch được cấu tạo từ vật chất hữu cơ có độ bền cao được gọi là “palynomorph”, trong đó có hóa thạch bào tử, phấn hoa Ứng dụng cơ bản của palynology là dựa vào mối liên hệ giữa các dạng palynomorph với môi trường để nghiên cứu biến đổi khí hậu, sinh địa tầng, cổ sinh thái…[12, 55] Cơ sở ban đầu của palynology chính là dựa trên sự quan sát các hạt phấn hoa và bào tử, được hình thành từ cuối Thế kỷ 17 Các mô tả đầu tiên về bào tử, phấn hoa có thể do một nhà thực vật học người Anh thực hiện - Nehemia Grew, sau đó được phát triển như là một nguyên tắc nghiên cứu từ năm 1916 với các nghiên cứu của Lennart Von Post - nhà địa chất Thụy Điển, đã xác định các hạt phấn mức độ chi hoặc loài trong than bùn và thiết lập biểu đồ phấn hoa đầu tiên để khôi phục lại thảm thực vật và sự thay đổi khí hậu trong thời kỳ sau băng hà ở Tây Bắc Châu Âu [55]

Bào tử, phấn hoa được bảo tồn rất tốt trong trầm tích, đặc biệt là các trầm tích hình thành trong môi trường nước như sông, hồ, đầm lầy, biển nông ven bờ nên thường được sử dụng trong các nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực khác nhau Cũng như ứng dụng của palynology nói chung, việc nghiên cứu về các phức hệ bào tử, phấn hoa cho phép khôi phục lại các điều kiện cổ môi trường, cổ sinh thái, cổ khí hậu, cổ địa lý…của khu vực nghiên cứu [12]

Sự phong phú, đa dạng của các nghiên cứu trên thế giới sử dụng phương pháp phân tích bào tử, phấn hoa đã minh chứng cho tầm quan trọng của chúng trong nghiên cứu cổ môi trường, cổ khí hậu, cổ sinh thái… Các phức hệ bào tử, phấn hoa được nghiên cứu trong các môi trường trầm tích biển [46, 51], hồ [36, 39], bồn [30, 33], vũng vịnh [31, 42], đầm lầy ngập mặn [35, 47]… đã thiết lập được các cơ sở khoa học cho việc luận giải và khôi phục cổ môi trường [36, 42, 53], cổ thực vật [33, 39, 52], cổ khí hậu [30, 33, 39, 53], cổ sinh thái [47, 54], lịch sử dao động mực nước biển [30, 35, 42] Phương thức phổ biến được sử dụng là nghiên cứu mối liên

hệ giữa các phức hệ bào tử, phấn hoa với hệ thực vật hiện đại

Đối với khu vực vùng biển và biển nông ven bờ, trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu thiết lập mối liên hệ giữa thảm thực vật trên bờ và các phức hệ bào tử, phấn hoa trong trầm tích biển Các nghiên cứu trước đây về bào tử, phấn hoa trong trầm tích tầng mặt đã chỉ ra rằng phấn hoa được vận chuyển bởi gió chiếm ưu thế trong trầm tích ngoài khơi và gần khu vực bờ biển nơi có ít hoặc không có dòng chảy từ sông, ví dụ như phía Đông bắc Nhật Bản và Tây Bắc Thái Bình Dương [38]

và Tây Bắc Châu Phi [40] Các nghiên cứu trước đây gần phía Tây Úc [43] và gần Đông Nam Indonesia [44] đã cho thấy một mối liên hệ mật thiết giữa các dấu hiệu phấn hoa trong trầm tích biển và hệ thực vật Mudie [48], Mudie và Mc Carthy [49]

đã thảo luận về mối liên hệ giữa các phức hệ phấn hoa trong trầm tích biển và hệ

Trang 6

2

thực vật ở rìa phía Đông Canada Sự thay đổi phân bố trong không gian của phấn hoa liên quan tới hướng gió, tốc độ gió và hệ thực vật Ở khu vực Biển Đông, các nghiên cứu của Sun et al (1999) [51] và Luo et al (2013, 2014) [45, 46] đã cho thấy nước và gió đều đóng vai trò quan trọng trong việc vận chuyển các hạt phấn khi đến đại dương Luo et al [45] đã chỉ ra rằng đối với khu vực vùng biển độ sâu

<200m nước thì bào tử, phấn hoa được vận chuyển chủ yếu bởi nước và dòng triều, còn đối với khu vực vùng biển độ sâu >200m nước thì sự vận chuyển bởi gió chiếm

ưu thế

Ở Việt Nam, phương pháp phân tích bào tử, phấn hoa được Trần Đình Nhân giới thiệu từ năm 1962 [21] Sau đó, phương pháp này được các tác giả như Nguyễn Thị Á, Nguyễn Đức Tùng, Phạm Văn Hải sử dụng trong các nghiên cứu về địa tầng [1, 2, 18, 19] Các nghiên cứu của Nguyễn Địch Dỹ [13, 14] và Nguyễn Đức Tùng [28] đã cho thấy vai trò của phương pháp bào tử, phấn hoa trong nghiên cứu khảo

cổ học Phạm Văn Hải [18], Đinh Văn Thuận và nnk [26] cũng đã sử dụng phương pháp này trong nghiên cứu khôi phục lịch sử phát triển của các hệ thực vật Từ những nghiên cứu của các tác giả như Nguyễn Đức Tùng và nnk [27], Bùi Đức Thắng [23, 24], Dương Xuân Đào [16, 17], phấn hoa học đã đóng góp vai trò to lớn trong việc luận giải và khôi phục điều kiện môi trường trầm tích ở Việt Nam Gần đây nhất, các nghiên cứu của Đinh Văn Thuận [25], Nguyễn Thùy Dương [7, 8, 9,

10, 11] đã sử dụng phương pháp phân tích bào tử, phấn hoa trong nghiên cứu cổ thực vật, cổ môi trường, cổ khí hậu… Việc nghiên cứu về cơ chế vận chuyển bào

tử, phấn hoa đã góp phần cung cấp dữ liệu cho việc luận giải được sự thay đổi về môi trường lắng đọng trầm tích hay sự thay đổi điều kiện khí hậu, sinh thái của hệ thực vật trong một thời kỳ nhất định [8] Nguyễn Thùy Dương và Đinh Văn Thuận [11] cũng đã đưa ra các thảo luận về luận giải đặc điểm điều kiện môi trường dựa trên các phức hệ bào tử, phấn hoa trong trầm tích Holocen ở vùng đồng bằng Sông Hồng dựa trên các công trình đã công bố về luận giải điều kiện môi trường lắng đọng trầm tích dựa trên kết quả phân tích bào tử, phấn hoa

Tuy nhiên, ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu sử dụng phương pháp bào

tử, phấn hoa trong nghiên cứu khôi phục điều kiện cổ môi trường chủ yếu mới chỉ tập trung vào khu vực đồng bằng Sông Hồng và khu vực đồng bằng sông Cửu Long Các nghiên cứu ứng dụng phương pháp này cho vùng biển, biển nông ven bờ, đặc biệt là ven các đảo còn rất hạn chế Để góp phần cung cấp dữ liệu cho các nghiên cứu sau này về nghiên cứu cổ môi trường, cổ khí hậu, cổ sinh thái, học viên

đã chọn luận văn thạc sĩ với đề tài: “Nghiên cứu mối liên hệ giữa các phức hệ bào

tử, phấn hoa trong trầm tích tầng mặt với hệ thực vật hiện đại vùng biển cụm đảo

Cô Tô – Thanh Lân và ý nghĩa của chúng”

Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở nghiên cứu về các phức hệ bào tử, phấn hoa, là nhóm palynomorph có mặt khá phổ biến trong trầm tích Holocen khu

Trang 7

3

vực nghiên cứu (vị trí khu vực nghiên cứu được thể hiện trong Hình 1.1) với các mục tiêu: (1) Nghiên cứu đặc điểm phân bố của các phức hệ bào tử phấn hoa trong trầm tích tầng mặt khu vực nghiên cứu và hệ thực vật trên đảo và (2) Nghiên cứu mối liên hệ giữa các phức hệ bào tử, phấn hoa với hệ thực vật hiện đại, từ đó thấy được ý nghĩa của phương pháp bào tử, phấn hoa trong nghiên cứu, khôi phục cổ môi trường

Kết quả nghiên cứu của luận văn đã rút ra được một số điểm mới sau:

- Phân biệt được một số kiểu môi trường trầm tích khu vực nghiên cứu dựa trên các phức hệ bào tử, phấn hoa

- Xác định được một số loài ưu thế trong hệ thực vật hiện đại có ý nghĩa đối với việc luận giải và khôi phục cổ môi trường do phấn hoa của chúng được lưu giữ

và phản ánh được sự ưu thế của nó trong các phức hệ bào tử, phấn hoa trong trầm tích tầng mặt khu vực nghiên cứu

Luận văn được thực hiện tại Bộ môn Địa chất lịch sử, Khoa Địa chất, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Thùy Dương Tác giả xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đối với sự hướng dẫn khoa học tận tình, đầy tâm huyết của cô

Đề tài luận văn nhận được sự hỗ trợ khoa học từ Dự án thành phần 2: “Điều tra địa mạo, địa chất, khoáng sản một số đảo và cụm đảo lớn, quan trọng” trong quá trình học viên tham gia thực hiện Báo cáo chuyên đề “Lập bản đồ địa chất – khoáng sản vùng biển cụm đảo Cô Tô – Vĩnh Thực, tỷ lệ 1:50.000” và Báo cáo tổng kết “Điều tra địa mạo, địa chất, khoáng sản vùng biển cụm đảo Cô Tô – Vĩnh Thực,

tỷ lệ 1:50.000” do Trung tâm Điều tra tài nguyên – môi trường biển chủ trì thực

hiện và Đề tài mã số 105.03-2015.35 do TS Nguyễn Thùy Dương làm chủ nhiệm

đề tài Tác giả xin chân thành cảm ơn những sự giúp đỡ quý báu đó

Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ và sự góp ý của các thầy cô thuộc Bộ môn Địa chất lịch sử, Khoa Địa chất, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên

- Đại học Quốc gia Hà Nội, Lãnh đạo Trung tâm Điều tra tài nguyên - môi trường biển và bạn bè đồng nghiệp trong quá trình thực hiện luận văn

Xin chân thành cảm ơn: Phòng Đào tạo Sau đại học, Khoa Địa chất, Bộ môn Địa chất lịch sử, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội, Trung tâm Điều tra tài nguyên - môi trường biển đã tạo điều kiện thuận lợi để tác giả hoàn thành luận văn này

Do điều kiện nghiên cứu còn nhiều hạn chế nên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế nhất định, kính mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo, các nhà khoa học, các đồng nghiệp quan tâm đến vấn đề nghiên cứu

Trang 8

4

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU

1.1.1 Vị trí địa lý

Cô Tô là huyện đảo nằm trong khu vực vịnh Bắc Bộ của tỉnh Quảng Ninh, thuộc vòng cung đảo gần bờ biển Đông Bắc Việt Nam, cách thành phố Hạ Long khoảng 150km và cách đất liền khoảng 80km Huyện bao gồm hơn 30 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó có đảo Cô Tô và đảo Thanh Lân là lớn nhất [20]

- Đảo Cô Tô có dạng gần hình vòng cung, lưng quay về phía Đông Bắc, dài khoảng 7km theo phương Tây Bắc - Đông Nam, rộng 2,5-4km Diện tích phần nổi lúc thủy triều cao khoảng 14 km2, lúc triều thấp khoảng 22 km2, trung bình khoảng

18 km2 Trên đảo có ngọn hải đăng, thuyền bè cách xa từ 40-60km có thể nhìn thấy được

- Đảo Thanh Lân dài khoảng 10km theo phương Đông Bắc - Tây Nam, chiều rộng nơi rộng nhất khoảng 2km Diện tích khoảng 17 km2

Hình 1.1 Vị trí khu vực cụm đảo Cô Tô – Thanh Lân

1.1.2 Đặc điểm khí hậu

Theo Báo cáo năm 2014 của Ủy ban Nhân dân huyện Cô Tô [4], huyện đảo

Cô Tô được đặc trưng bởi khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh mang đậm tính chất khí hậu hải dương với nhiệt độ trung bình năm 22 - 230C, lượng mưa trung bình 1700 - 1900 mm/năm Khí hậu được phân làm 2 mùa rõ rệt: nóng và ẩm vào mùa hè (tháng 5 - 10), khô và lạnh vào mùa đông (tháng 11 năm trước đến tháng 4

Trang 9

5

năm sau)

- Chế độ nắng: khá dồi dào trung bình đạt từ 1700-1820 giờ/năm và có sự phân hóa theo mùa Từ tháng 4 đến 12, số giờ nắng trung bình trên 100 giờ/tháng, cao nhất vào tháng 7 Tháng 1- 3 số giờ nắng dưới 100 giờ/năm

- Chế độ nhiệt: ổn định với nhiệt độ trung bình nhiều năm là 22 - 230C phân hóa thành 2 mùa rõ rệt: mùa hè (tháng 5 - 10), mùa đông (tháng 11 - 4)

- Chế độ mưa ẩm: Lượng mưa trung bình năm dao động từ 1700 - 1900 mm/năm và có sự phân hóa theo mùa:

+ Mùa mưa: từ tháng 5 đến tháng 10, mùa ít mưa: từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau

+ Độ ẩm không khí: Độ ẩm không khí trung bình năm đạt 83 - 84% Đạt cực tiểu vào nửa đầu mùa đông và cực đại vào tháng 3 và tháng 4

- Chế độ gió: thường thịnh hành 2 loại gió chính:

+ Gió mùa Đông Nam: xuất hiện vào mùa hè,

+ Gió mùa Đông Bắc: xuất hiện vào mùa khô (tháng 10 - 4 năm sau)

- Bão: Hàng năm, huyện Cô Tô thường chịu ảnh hưởng trực tiếp của 5 - 7 cơn bão với sức gió từ cấp 8 - 11 Bão thường xuất hiện vào tháng 6 đến tháng 9 kèm theo gió mạnh và mưa lớn gây thiệt hại lớn cho người dân

1.1.3 Đặc điểm thủy văn, hải văn

Theo Báo cáo năm 2014 của Ủy ban Nhân dân huyện Cô Tô [4], đặc điểm

thủy, hải văn của huyện đảo Cô Tô như sau:

a) Đặc điểm thủy văn

Hệ thống sông suối trên đảo ít và ngắn, dốc Toàn huyện có 13 con suối có chiều dài trên 1 km, được phân bố chủ yếu ở đảo Thanh Lân (9 suối), đảo Cô Tô lớn (có 3 suối) và đảo Cô Tô con (1 suối)

Chế độ thủy văn có sự phân hóa theo mùa: Mùa mưa lượng nước khá dồi dào, tuy nhiên vào mùa khô nước suối cạn, nguồn nước sinh hoạt của cư dân trên đảo chủ yếu dựa vào mạch nước ngầm và các hồ chứa trên đảo

Toàn huyện có 21 hồ, đập để chứa nước cung cấp nước sinh hoạt và sản xuất cho người dân Do vậy, các hồ chứa có vai trò vô cùng quan trọng đáp ứng nhu cầu

sử dụng của người dân và du khách tham quan lưu trú trên đảo

b) Đặc điểm hải văn

+ Chế độ sóng: Huyện đảo Cô Tô là khu vực có chế độ hải văn điển hình cho

vùng vịnh Bắc Bộ Chế độ hải văn khu vực quần đảo Cô Tô phụ thuộc vào hoàn lưu

của hai loại gió mùa (gió mùa đông bắc và gió mùa đông nam)

+ Chế độ thuỷ triều: chịu ảnh hưởng chung của chế độ nhật triều đều và thuần

nhất của Vịnh Bắc Bộ Biên độ triều vùng này cao nhất Việt Nam từ 3 - 4 m Hướng của thuỷ triều cũng thay đổi vào các mùa trong năm

Trang 10

6

Tại vùng nước xung quanh đảo Cô Tô, sóng thịnh hành về mùa đông là hướng đông bắc và đông - đông bắc; với độ cao trung bình từ 0,7 đến 1,3m, độ cao cực đại đạt 2,3-2,8 m Mùa hè, từ tháng 6 đến tháng 8, hướng sóng thịnh hành là nam và nam - đông nam, độ cao trung bình từ 0,7 - 0,9m, độ cao cực đại có thể tới 3,5-4,5m, cá biệt, sóng trong bão có thể tới 5-6m Trong thời gian chuyển tiếp, phổ biến là hướng sóng đông bắc và đông nam

1.1.4 Đặc điểm địa hình

a) Địa hình trên đảo

- Đảo Cô Tô có dạng đồi núi thấp và bãi bồi Diện tích đồi núi chiếm trên 50%, còn lại là đồng bằng và bãi cát Từ Tây Bắc xuống Đông Nam có các đỉnh núi cao trên 100m, đỉnh núi cao nhất 166m, trên núi cây cối rậm rạp, rừng tự nhiên và rừng trồng bao phủ kín các đỉnh núi và sườn núi Các thung lũng được khai phá để trồng lúa và hoa màu, xây dựng nhà cửa thành một số cụm dân cư tập trung Diện tích đất nông nghiệp khoảng 350ha trong đó diện tích cấy lúa khoảng 220ha Xung quanh đảo là những bãi cát và đá ngầm, chỉ một số nơi tàu thuyền mới có thể đi lại được

- Đảo Cô Tô Con cũng được cấu thành bằng một dãy núi thấp chạy suốt chiều dài từ Đông Bắc xuống Tây Nam với độ cao cực đại là 106,7 m Ngoài ra, độ cao trên 100m còn gặp cả trên những đảo rất nhỏ, như Hòn Núi Nhọn (148,6 m), Hòn Bồ Cát (138,5m) Tất cả những đảo còn lại đều chỉ ứng với tiêu chí địa hình đồi, với độ cao từ vài chục mét đến dưới 100m Địa hình núi có sườn dốc phần nhiều trên 200, có chỗ tới 50-600 Ở những nơi núi lan ra sát biển và đang bị biển phá mòn, rất phổ biến những vách dốc đứng

- Đảo Thanh Lân có dạng địa hình núi, các đỉnh núi tạo thành dải núi kéo dài theo phương ĐB-TN Phía Tây Bắc có các đỉnh cao trên 100m, ở giữa có đỉnh cao nhất 210m và giảm dần về phía Tây Nam với đỉnh cao 155m Sườn núi dốc 15-30ophủ bởi cây cối Thực vật trên đảo rậm rạp, tất cả đều thuộc dạng núi đất Các thung lũng trên đảo đã được khai phá thành ruộng lúa hoặc trồng màu Trên sườn đồi lân cận, các khu dân cư trồng nhiều loại cây ăn quả như nhãn, cam

Xung quanh bờ đảo có nhiều vách đá, không cao, hầu hết là cát kết dạng quarzit nhiều màu sắc, một số nơi gần cửa các thung lũng là các bãi cát, tàu thuyền loại lớn và trung bình không thể tiếp cận đảo mà phải trung chuyển bằng các thuyền nhỏ

Trên đảo từng có đường ô tô, chủ yếu dành cho xe xích chở khí tài trong thời gian chiến tranh biên giới Nhiều đoạn rất dốc, rất ít sử dụng nên bị các trận mưa to tàn phá, cây cối mọc lan tràn rất khó đi lại

Trang 11

7

Trên đảo có một số nhánh suối bắt nguồn từ dải núi ở trung tâm Do diện tích đảo nhỏ, lưu vực các suối thường không lớn Lưu lượng đo được từ 1,4 l/s đến 2,4 l/s

b) Địa hình đáy biển

Nhìn chung, địa hình đáy biển vùng biển đảo Cô Tô khá phức tạp và dốc Phía Nam và Đông Nam đảo có xu hướng dốc hơn khu vực phía Bắc và Tây Bắc Tuy nhiên khu vực phía Bắc và Tây Bắc, địa hình phức tạp với các trũng ngầm và cồn ngầm [20]

1.1.5 Lớp phủ thực vật

Cô Tô là một trong những khu vực có đa dạng sinh học cao của tỉnh Quảng Ninh Theo Quyết định số 3541/QĐ-UBND ngày 26/12/2013 của Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Ninh, tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp của huyện Cô Tô là 3.379ha, chiếm hơn 71%; trong đó đất có rừng là 2.767ha, độ che phủ của rừng là 58,2% Tài nguyên rừng của huyện đảo Cô Tô được đánh giá theo diện tích và giá trị của thảm thực vật Năm 2013, huyện Cô Tô có 2.090,57 ha rừng, chiếm 44% tổng diện tích tự nhiên huyện (giảm so với năm 2005 là 2.328,45 ha rừng, chiếm 49,2% diện tích

tự nhiên), trong đó rừng tự nhiên là 1080 ha, rừng trồng 1008 ha So với năm 2005 thì diện tích tự nhiên hiện nay có xu hướng tăng lên và diện tích rừng trồng giảm xuống

Rừng trên đảo đa số là rừng phục hồi, có nhiều loại cây gỗ thuộc họ trâm, họ bứa, họ thân dầu, họ đậu, long lão, lim, giao, bồ hòn, thông, keo Ngoài cây thân

gỗ còn có nhiều loại cây dược liệu quý như: sâm sắn, chè khe, chè vằng,…Một số loài cây có thể khai thác, phát triển làm cây cảnh rất đẹp và có giá trị kinh tế cao: Tùng La hán, cây Cứt chuột (tên địa phương cây Thèn đen), nguyệt quế, si, sộp,… [4]

1.2 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI

1.2.1 Đặc điểm dân cư và lao động

Huyện đảo Cô Tô có 3 đơn vị hành chính: Thị trấn Cô Tô, xã Thanh Lân và

xã Đồng Tiến Mật độ dân cư trên địa bàn huyện phân bố không đều, bình quân khoảng 109 người/km2, tập trung cao ở thị trấn Cô Tô 329 người/ km2, trong khi ở

xã Đồng Tiến là 102 người / km2 và ở xã Thanh Lân chỉ là 46 người / km2

Từ khi huyện đảo Cô Tô được thành lập (1994) dân số huyện đảo tăng lên không ngừng Theo số liệu thống kê của UBND huyện Cô Tô năm 2012, trên địa bàn huyện có 1491 hộ dân, tổng dân số là 5856 người Dân cư thuộc 03 dân tộc (Kinh, Sán Dìu, Hoa), có nguồn gốc từ 06 tỉnh thành trong cả nước ra xây dựng

kinh tế mới: Hà Tĩnh, Thanh Hoá, Nam Định, Thái Bình, Hải Phòng, Hải Dương

Năm 2012, tổng dân số huyện Cô Tô là 5856 người Số lao động là 3.371

Trang 12

8

người chiếm 60% tổng dân số, trong đó lao động nông nghiệp là 1.500 người, còn lại là lao động phi nông nghiệp Dân cư thường sống tập trung ở những nơi trung tâm xã, thị trấn (tập trung nhiều nhất ở thị trấn Cô Tô) Ngoài các cư dân sống định

cư lâu dài trên các đảo còn có một số cư dân sống bán trú (theo mùa) và lực lượng

vũ trang, an ninh trên các đảo

1.2.2 Văn hóa, xã hội

Cộng đồng dân cư trên đảo đoàn kết, chăm chỉ sản xuất và làm kinh tế, ở nhiều làng, nhân dân đã chủ động xây dựng quy ước, hương ước, đã có 11/12 thôn,

tổ dân phố xây dựng song ước Phong trào xây dựng làng văn hóa, gia đình văn hoá phát triển đều và khá mạnh mẽ, đời sống của nhân dân đã dần đi vào ổn định và ngày càng có dấu hiệu sung túc Cùng với các cấp chính quyền người dân đã tích cực tham gia vào các hoạt động xã hội chung như phòng chống và bài trừ các tệ nạn

xã hội, các hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan, xây dựng cuộc sống văn hóa trên quê hương mới của mình…

Huyện đảo Cô Tô đã có điện lưới quốc gia từ năm 2013, nên đời sống văn hoá của cư dân trên đảo được nâng cao, thuận lợi cho phát triển kinh tế

1.2.3 Du lịch

Cụm đảo Cô Tô – Thanh Lân có tiềm năng lớn để phát triển du lịch Yếu tố làm nên ưu thế to lớn của du lịch biển đảo ven bờ gồm tính đa dạng của cảnh quan, thắng cảnh, đặc thù nổi bật về địa chất - địa mạo, phong phú về nguồn gen, giống cây con và sinh vật biển

Ngoài ra còn có điều kiện khí hậu thuận lợi, môi trường trong sạch, đa dạng các loại hình du lịch Một yếu tố quan trọng để phát huy tiềm năng du lịch các đảo ven bờ là khả năng liên kết chặt chẽ với các trung tâm và các tuyến du lịch lớn đã hình thành ở trên bờ, tạo thành với chúng một thể thống nhất Cụm đảo Cô Tô – Thanh Lân có điều kiện thuận lợi để tạo mối liên kết chặt chẽ với các trung tâm du lịch lớn như Hạ Long - Cửa Ông - Vân Đồn - Móng Cái

Tiềm năng du lịch đảo - biển còn gắn liền với việc bảo tồn thiên nhiên trên đảo: các thảm thực vật còn được bảo vệ tốt trên đảo sẽ là những vốn quý cho phát triển du lịch - sinh thái, bảo vệ môi trường và nguồn nước ngọt trên đảo

1.2.4 Giao thông

Giao thông trên đảo Cô Tô có hai cảng dân sự ở phía tây nam và đông bắc đảo, tàu thuyền từ đất liền có thể ra vào khá dễ dàng, đã xây dựng một cầu cảng 100 tấn rất thuận tiện cho việc lên xuống của khách bộ hành Các loại xe lớn, máy móc

có thể cập cảng này và lên đảo theo các bãi cát Phía bắc đảo có một trạm quân sự, ở những nơi khác từ tàu muốn lên đảo phải dùng thuyền nhỏ để trung chuyển

Trang 13

9

Nhìn chung điều kiện giao thông trên đảo không quá khó khăn, tuy nhiên từ trục đường ô tô đi vào các điểm dân cư, các nơi có yêu cầu cấp nước giao thông rất khó khăn, mặt đường hẹp không thuận lợi cho xe cơ giới qua lại, chỉ có thể vận chuyển bằng xe công nông, xe cải tiến, và khiêng vác

Hiện tại, đầu mối giao thông quan trọng nhất của Cô Tô với đất liền là thông qua thị trấn Cái Rồng, huyện lỵ của huyện Vân Đồn Với việc có cầu thay phà Cửa Ông, đảo Cái Bầu gần như đã trở thành lục địa ven biển và tương lai không xa thị trấn Cái Rồng và đảo Cái Bầu sẽ phát triển mạnh mẽ về kinh tế biển, rất thuận lợi cho Cô Tô Khi đó Cô Tô còn có thể nối trực tiếp các tuyến giao thông quan trọng với cảng Vạn Hoa Ngoài ra, Cô Tô còn có thể nối trực tiếp với thành phố Hạ Long, một đầu mối du lịch và dịch vụ quan trọng Hơn nữa, Cô Tô còn có thể liên hệ trực tiếp với thị xã Móng Cái, một cửa khẩu với thị trường hàng hải sản và du lịch Trung Quốc đầy triển vọng

Đường thủy tới đảo Cô Tô - Thanh Lân khá thuận lợi, từ các tỉnh Thái Bình, Hải Phòng tàu thuyền đánh cá và chở hàng thường ra vào đảo này Tàu khách từ cảng Cái Rồng ra đảo Cô Tô và Thanh Lân 1 tuần có 3 chuyến vào các ngày thứ 2, thứ 4 và thứ 6 Từ Cô Tô trở về Cái Rồng vào các ngày thứ 3, thứ 5 và thứ 7 Việc thuê tàu thuyền và đi lại khá dễ dàng

1.3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT KHU VỰC NGHIÊN CỨU

1.3.1 Đặc điểm địa chất trên đảo

Giới Paleozoi

Hệ Ordovic trên - hệ Silur

1 Hệ tầng Cô Tô (O 3-Sct)

Hệ tầng Cô Tô được Dovjikov A E và Jamoida A I xác lập vào năm 1961

và ban đầu được định tuổi Neogen Sau đó, nhờ sự phát hiện nhiều hóa thạch Bút đá

ở đảo Cô Tô, Thanh Lân và nhiều đảo khác nên Trần Văn Trị và nnk (1972) đã định tuổi Ordovic – Silur sớm cho hệ tầng này Hệ tầng phân bố rộng rãi trên đảo Cô Tô, đảo Cô Tô Con và đảo Thanh Lân với mặt cắt được chia thành 2 phụ hệ tầng

- Phụ hệ tầng dưới (O3-Sct1) phân bố ở đảo Cô Tô, đảo Cô Tô Con, thành phần gồm cát kết chứa mảnh đá phun trào axit, phân lớp dày, xen thấu kính sạn kết

và lớp mỏng sét kết, bột kết cấu tạo sọc dải Đá xen kẽ nhau có tính phân nhịp Dày khoảng 1.000m

- Phụ hệ tầng trên (O3-Sct2) phân bố rải rác ở đảo Thanh Lân, gồm bột kết, sét kết xen nhịp nhàng với cát chứa mảnh đá phun trào axit và đá phiến sét silic Dày khoảng 700m

Trang 14

10

Giới Kainozoi

Hệ Đệ tứ

2 Trầm tích Holocen trên (Q 2 )

Trầm tích biển (mQ 2 ) phân bố trong các bãi triều ven đảo Cô Tô và đảo

Thanh Lân, thường là các bãi, cồn cát dọc theo bờ biển hiện nay Thành phần chủ yếu là cát thạch anh 90-95%, vụn đá và các khoáng vật khác 5-10%, đôi nơi gặp tích tụ tại chỗ với khối lượng nhỏ cuội biển và cuội san hô biển, tảng kích thước từ 5-30cm, độ mài tròn khá tốt, chiều dày 2-5m [20]

1.3.2 Đặc điểm địa chất phần biển ven đảo

4 Trầm tích Pleistocen trên, phần trên - Holocen giữa (Q 1 3b -Q 2 )

Trầm tích biển (mQ 1 3b -Q 2 )

Thành tạo này lộ diện rộng kéo dài ở phía Bắc, Đông, Đông Nam đảo Cô Tô

Trang 15

11

ở độ sâu từ 12-15m nước trở ra hết diện tích khảo sát Thành phần trầm tích là cát, cát bùn, cát bùn chứa sạn, cát sạn, sạn cát màu xám, xám nâu, xám phớt xanh Thành phần cấp hạt: sạn 0-18,4%; cát 36,4-99,64%; bột 0,36-37,1%, sét 0-34,9% Kích thước trung bình không đều từ nhỏ đến thô Md 0.02-0.91mm; độ mài tròn tốt đến rất kém So 1,23-8,58; Sk 0,07-1,69 [20]

Theo tài liệu từ báo cáo chuyên đề “Lập bản đồ địa chất – khoáng sản vùng biển cụm đảo Cô Tô – Vĩnh Thực, tỷ lệ 1:50.000”, trầm tích chứa tổ hợp

foraminifera: Pseudorotalia indopacifica; Pseudorotalia schroeteriana; Bigenerina nodosaria; Elphidium advenum; Ammonia beccarii; Textularia foliacea; Quinqueloculina philippinensis; Gypsina vesicularis; Cellathus craticulatus; Amphistegina lessonii; Spiroloculina penglaiensis; Elphidium advenum,… Tổ hợp

hóa thạch này cho phép định tuổi trầm tích là Holocen sớm giữa (Q21-2) và kết luận môi trường biển nông ven bờ [20]

Theo tài liệu từ báo cáo chuyên đề “Lập bản đồ địa chất – khoáng sản vùng biển cụm đảo Cô Tô – Vĩnh Thực, tỷ lệ 1:50.000”, trầm tích chứa tổ hợp

foraminifera: Cellathus craticulatus; Textularia foliacea; Ammonia beccarii; Bolivina punctata; Elphidium advenum; Trochammina nitida; Quinqueloculina reticulata; Spiroloculina penglaiensis; Reussella spengnerii; Quinqueloculina philippinensis,… Tổ hợp hóa thạch này cho phép định tuổi trầm tích là Holocen

sớm giữa (Q21-2) và kết luận môi trường biển nông ven bờ [20]

Kết quả phân tích bào tử, phấn hoa cho thấy trong tập trầm tích này cũng khá

phong phú các giống loài: Carya sp.; Keteleria sp.; Picea sp.; Pinus sp.; Quercus sp.; Rhizophora sp (TVNM); Casuarina sp (TVNL); Gramineae gen indet; Carpinus sp.; Bruguiera sp (TVNM); Castanopsis/Lithocarpus sp.; Exoecaria sp (TVNL); Acrostichum sp (TVNL); Athyrium sp.; Cyathea sp.; Sellaginella sp.; Aegiceras sp (TVNM); Cyperus sp (TVNL); Compositae gen indet., Tổ hợp hóa

thạch cho phép định tuổi trầm tích là Holocen (Q2) và kết luận môi trường biển

Trang 16

trầm tích là Holocen trên (Q2 ) và kết luận môi trường biển nông ven bờ [20]

Kết quả luận giải chỉ số Fe/Mn (một trong những chỉ thị về tướng của trầm tích) cho thấy chỉ số này dao động trong khoảng 109,36-459,5, chứng tỏ các thành tạo trầm tích này được hình thành trong môi trường nước nông, ven bờ; modul tổng kiềm (NM + KM): (Na2O+K2O)/Al2O3 = 1,06-10,55 chứng tỏ thành tạo này lắng đọng trong môi trường kiềm cao Chỉ số phong hoá hoá học (CIA): 100 *

Al2O3/(Al2O3+ CaO+Na2O+K2O) = 5,57-29,92 chứng tỏ nguồn vật liệu chưa bị phong hóa Bề dày tầng trầm tích dao động từ 0,2-3m [20]

Trang 17

13

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 CƠ SỞ TÀI LIỆU

2.1.1 Nguồn tài liệu thu thập

- Các bài báo đăng trên các tạp chí trong và ngoài nước sử dụng phương pháp phân tích bào tử phấn hoa trong việc nghiên cứu và khôi phục cổ môi trường, cổ khí hậu, cổ sinh thái

- Các tài liệu phân tích độ hạt, cổ sinh

- Một số báo cáo chuyên đề thuộc Dự án thành phần 2 “Điều tra địa mạo, địa chất, khoáng sản một số đảo và cụm đảo lớn, quan trọng” (sau đây gọi tắt là Dự

2.1.2 Nguồn tài liệu trực tiếp nghiên cứu phục vụ đề tài

Nguồn tài liệu trực tiếp nghiên cứu phục vụ đề tài bao gồm 14 mẫu trầm tích tầng mặt thu thập từ Dự án thành phần 2, 03 mẫu trầm trầm tích tầng mặt được học viên trực tiếp lấy tại khu vực rừng ngập mặn gần đập Trường Xuân, xã Đồng Tiến (Hình 2.2) và các tài liệu khảo sát hệ thống thủy văn và hệ thực vật trên đảo Cơ sở lựa chọn 14 mẫu trầm tích tầng mặt vùng biển ven bờ cụm đảo Cô Tô – Thanh Lân được xây dựng theo tuyến đại diện cho các khu vực và khoảng cách khác nhau so với bờ, cụ thể như sau:

+ 03 tuyến nằm phần phía Đông Nam khu vực nghiên cứu, trong đó: 01 tuyến từ bờ đảo Cô Tô ra độ sâu 30m nước (Tuyến 01), 02 tuyến song song với bờ (Tuyến 02 và Tuyến 03)

+ 01 tuyến nằm ở phần phía Bắc khu vực nghiên cứu, dọc theo hướng Tây Bắc – Đông Nam từ khu vực Hòn Chòi Canh dọc theo khu vực giữa các đảo Cô Tô Con, Hòn Cá Chép, Hòn Thoải Rơi đến phần phía Tây Bắc đảo Thanh Lân (Tuyến 04)

Vị trí các tuyến, điểm lấy mẫu thu thập trong trầm tích tầng mặt vùng biển nông ven bờ từ Dự án thành phần 2 được thể hiện trong Bảng 2.1 và Hình 2.1

Trang 19

15

2.2 CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa

Nhằm làm sáng tỏ đặc điểm hệ thực vật trên đảo Cô Tô, học viên đã tiến hành khảo sát bổ sung các loài thực vật ưu thế dọc theo hệ thống thủy văn quanh đảo Cô Tô từ ngày 22 đến ngày 24 tháng 7 năm 2017 như khu vực Bãi đá Móng Rồng (Hình 2.3a), Bãi Hồng Vàn (Hình 2.3b), Bắc Vàn, Vàn Chảy (Hình 2.3d), đặc biệt là khu vực rừng ngập mặn tại đập Trường Xuân, xã Đồng Tiến (Hình 2.3c)

Trong quá trình khảo sát thực địa, 03 trầm tích tầng mặt tại khu vực rừng ngập mặn cạnh đập Trường Xuân, xã Đồng Tiến đã được trực tiếp thu thập để phân tích bào tử, phấn hoa nhằm xác định khả năng lưu giữ của các dạng phấn hoa thực vật ngập mặn trong trầm tích bãi triều có rừng ngập mặn Ba mẫu này được lấy theo

1 tuyến từ rìa rừng ngập mặn ra phía biển (Hình 2.2), bao gồm:

- Mẫu CT-01: bên cạnh rìa khu vực rừng ngập mặn

- Mẫu CT-02: trong khu vực rừng ngập mặn, vào phía trong khoảng 5m, cách

vị trí lấy mẫu CT-01 khoảng 15m

- Mẫu CT-03: trong rừng ngập mặn, vào phía trong khoảng 25m, cách vị trí lấy mẫu CT-02 khoảng 20m

Thêm vào đó, các mẫu lấy tại khu vực rừng ngập mặn được phân tích để đối sánh về sự phân bố của các phức hệ bào tử, phấn hoa trong khu vực rừng ngập mặn

và trong trầm tích khu vực biển nông ven bờ 0-30m nước của cụm đảo Cô Tô – Thanh Lân đã được thu thập từ Dự án thành phần 2

Hình 2.2 Vị trí khu vực rừng ngập mặn và điểm lấy 3 mẫu CT-01, CT-02, CT-03

Trang 20

16

a) Bãi đá Móng Rồng b) Khu vực Bãi Hồng Vàn

c) Rừng ngập mặn tại xã Đồng Tiến d) Bãi Vàn Chảy

Hình 2.3 Một số điểm khảo sát tại khu vực trên đảo Cô Tô

2.2.2 Phương pháp phân tích bào tử, phấn hoa

a Cơ sở của phương pháp

Phân tích bào tử phấn hoa là phương pháp nghiên cứu dựa trên các bằng chứng về bào tử, phấn hoa và mối quan hệ giữa bào tử và phấn hoa với hệ thực vật hiện đại và thường được áp dụng trong các nghiên cứu địa chất, địa mạo, cổ sinh thái, cổ khí hậu, cổ địa lý

Nguyên lý cơ bản của phương pháp này là phấn hoa được phát tán bởi thực vật, được vận chuyển bởi không khí hoặc nước và được lắng đọng trong một môi trường nhất định trên mặt đất Nghiên cứu các di tích bào tử và phấn hoa trong các môi trường đó cho phép các nhà nghiên cứu khôi phục điều kiện lắng đọng các dạng hóa thạch này Nếu các hạt bào tử, phấn hoa được lắng đọng trong các môi trường

Trang 21

17

nước như sông, hồ, đầm lầy, biển nông ven bờ, nó sẽ được lắng đọng cùng với các vật liệu trầm tích và trở thành một loại hóa thạch trong trầm tích Dựa vào thành phần bào tử, phấn hoa trong trầm tích có thể giúp khôi phục đặc điểm hệ thực vật ở một khu vực nào đó Hơn nữa, đặc điểm của một hệ thực vật bị chi phối bởi điều kiện khí hậu nên có thể sử dụng kết quả phân tích bào tử, phấn hoa để khôi phục điều kiện cổ khí hậu của khu vực đó Một trong những cơ sở để khôi phục điều kiện

cổ khí hậu là sự tương đồng về mối quan hệ giữa hệ thực vật và điều kiện khí hậu trong quá khứ và hiện nay [12]

Điều kiện động lực của môi trường trầm tích cũng quy định khả năng bảo tồn, mức độ phong phú của các dạng bào tử, phấn hoa nên việc phân tích hóa thạch bào tử phấn hoa trong trầm tích cũng cho phép các nhà nghiên cứu khôi phục điều kiện lắng đọng trầm tích chứa chúng Một trong những hạn chế của phương pháp phân tích bào tử, phấn hoa trong nghiên cứu điều kiện cổ môi trường là các hạt phấn hoa của một hệ thực vật được phát tán và lắng đọng ở các khoảng cách khác nhau

và phụ thuộc vào nhiều điều kiện khác nhau như gió, dòng nước Thường thì những điều kiện này thay đổi nhiều giữa quá khứ và hiện tại, chính vì vậy đòi hỏi những người nghiên cứu phải có những luận giải hợp lý dựa trên nhiều công cụ khác nhau

Để có thể nhận diện được các dạng bào tử, phấn hoa trong trầm tích thì trước tiên cần phải nắm được đặc điểm hình thái của chúng Các đặc điểm hình thái dưới

đây của các dạng bào tử, phấn hoa được mô tả dựa theo tài liệu của Faegri et al

(1989) và Huang (1972) [34, 37]

- Hình thái chung của bào tử

Bào tử là cơ quan sinh sản của thực vật Dương xỉ Hình thái của bào tử được đặc trưng bằng hình dạng, cấu tạo rãnh, cấu tạo vách và kích thước Hình dạng của hạt bào tử phụ thuộc vào kiểu phân chia từ tế bào mẹ Có hai loại bào tử là bào tử dạng hạt đậu – bào tử một rãnh và bào tử dạng tam giác – bào tử ba rãnh (Hình 2.4)

Hình 2.4: Các dạng hình thái của bào tử

Trang 22

18

Việc chia tác từ tế bào mẹ đã để lại cấu tạo dạng chữ Y trên bào từ tam giác Rãnh này có thể kéo dài đến đỉnh hoặc chỉ dài bằng 1/2 hoặc 1/3 khoảng cách từ tâm đến đỉnh Một số dạng bào tử tam giác và bào tử hạt đậu được thể hiện trong Hình 2.5 và Hình 2.6

Hình 2.5 Một số dạng của bào tử tam giác

Hình 2.6 Một số dạng của bào tử hạt đậu

- Hình thái chung của phấn hoa

Phấn hoa thực chất là tế bào sinh sản của thực vật hạt trần (Pinophyta) và hạt kín (Magnoliophyta) Ở thực vật hạt trần, ngoài hạt phấn còn có các túi khí gắn trên thân hạt phấn Một trong những yếu tố để nhận dạng phấn hoa của các loài hạt trần

là đặc điểm về kích thước, số lượng và tỉ lệ của các túi khí với hạt phấn Khác với thực vật hạt trần, thực vật hạt kín rất đa dạng không chỉ về hình thái hạt, cấu tạo màng mà còn phong phú về các kiểu miệng

Để miêu tả hình dạng hạt phấn khi nhìn từ trục xích đạo, người ta dựa vào tỷ

lệ giữa chiều dài của trục cực và trục xích đạo, ký hiệu là P/E (Bảng 2.2)

Trang 23

19

Bảng 2.2 Phân loại hình thái của phấn hoa dựa vào tỷ lệ P/E

1 P/E < 0.5 Rất dẹt (Peroblate)

2 P/E = 0.5 – 0.75 Dẹt (Oblate)

3 P/E = 0.75 – 0.88 Hơi dẹt (Subolate)

4 P/E = 0.75 – 0.88 Dẹt – tròn (Oblate – Spheroidal)

6 P/E = 1.0 – 1.14 Thon – tròn

7 P/E = 1.14 – 1.33 Hơi thon (Subprolate)

8 P/E = 1.33 – 2.0 Thon (Prolate)

9 P/E > 2.0 Rất thon (Perprolate)

Tuy dựa vào tỷ lệ chiều dài của trục cực với trục xích đạo từ mặt xích đạo để xác định hình thái của phấn hoa nhưng nhiều khi điều đó lại gặp rất nhiều khó khăn bởi không phải lúc nào cũng xác định được tỷ lệ P/E của chúng Do đó, ngoài những hình thái dựa vào tỷ lệ P/E , người ta còn phân loại hạt phấn dựa trên hình dạng như hình thoi, hình quả lê (Hình 2.7)

Hình 2.7: Một số dạng hình thái của phấn hoa nhìn từ trục xích đạo [37]

(1- rất dẹt; 2- dẹt; 3- hơi dẹt; 4- dẹt – cầu; 5- cầu; 6- thon – cầu; 7- hơi thon; 8- thon; 9- rất thon; 10- hình thoi; 11- hình chữ nhật, 12- hình quả lê)

Hình thái của hạt phấn không chỉ được xác định từ mặt xích đạo mà còn được xác định cả từ mặt cực Hình thái hạt phấn nhìn từ mặt cực được mô tả trên Hình 2.8

Trang 24

20

Hình 2.8: Một số dạng hình thái của phấn hoa nhìn từ trục cực [37]

(1- Tròn (Circular); 2- Hình hoa (Circular-lobate); 3- Dạng tam giác cạnh lồi có miệng ở đỉnh (Semi-angular); 4- Dạng tam giác cạnh lồi có miệng ở cạnh (Inter-semi-angular); 5- Dạng tam giác (Angular); 6- Dạng tam giác có miệng ở cạnh (Inter-angular); 7- Dạng tam giác cạnh hơi lõm (Semi-lobate); 8- Dạng tam giác cạnh thẳng có miệng ở cạnh (Inter-semi-lobate); 9- Dạng tam giác cạnh lõm (Lobate); 10- Dạng tam giác lõm có miệng rất sâu ở cạnh (Inter-lobate); 11-12- Dạng 6 cạnh (Hexagonal – Inter-hexagonal); 13- Dạng gần tam giác (Subangular); 14- Dạng gần tam giác

có miệng ở cạnh (Inter-subangular); 15- Dạng chữ nhật hoặc thoi (Rectangular/Rhomboidal); 16-

Dạng ống (Tubular))

Để nhận dạng bất cứ hạt phấn nào thì đặc điểm đầu tiên cần phải chú ý là miệng (aperture) Miệng của phấn hoa được chia thành hai dạng là lỗ (pori), kiểu miệng tròn hoặc có dạng elip với tỉ lệ chiều dài và bề rộng nhỏ hơn 2 và rãnh (colpi), kiểu miệng thon dài với tỉ lệ chiểu dài và bề rộng lớn hơn 2 Nếu những hạt phấn chỉ có lỗ được gọi là porate, chỉ có rãnh được gọi là colpate và nếu có cả lỗ và rãnh được gọi là colporate

Một trong những cơ sở được dùng để phân loại các dạng phấn hoa chính là

số lượng miệng trên bề mặt phấn Phân loại này về cơ bản là đơn giản và phù hợp

Số miệng được biểu thị bởi các tiền tố mono- (một), di- (hai), tri- (ba)… trước các thuật ngữ như colpate, colporate, porate Còn trong trường hợp nhiều hơn sáu miệng thì tiền tố được sử dụng là poly- Trong hầu hết các trường hợp mà lỗ hoặc rãnh được sắp xếp đều nhau gần mặt xích đạo của hạt phấn thì ra thêm tiền tố zono- Còn nếu trong trường hợp mà các miệng rải rác ở khắp trên bề mặt của hạt phấn thì sử dụng tiền tố panto- Hình 2.9 mô tả các dạng các kiểu miệng của bào tử, phấn hoa hạt trần và phấn hoa hạt kín

Trang 25

21

Hình 2.9: Các kiểu miệng của phấn (số miệng, đặc điểm, vị trí) [37]

(1- Dạng có túi khí; 2- Dạng không miệng nhưng có mầu;3- Dạng ba rãnh hình chữ Y;4- Dạng một hoặc hai rãnh;5- Dạng ba rãnh;6- Dạng có miệng ghép nối với nhau ở gần cực;7- Dạng có miệng tách ra làm hai nhánh ở gần đỉnh và nối với nhau ở cực, tạo thành các khu vực độc lập;8- Dạng miệng có xoắn ốc; 9- Dạng bốn rãnh; 10- Dạng có bốn hoặc sáu rãnh; 11- Dạng có nhiều miệng rải rác trên bề mặt phấn;12- Dạng một lỗ; 13- Dạng hai lỗ; 14- Dạng ba lỗ; 15- Dạng có từ 4 đến 6 lỗ; 16- Dạng có nhiều lỗ phân bố khắp trên

bề mặt phấn; 17- Dạng có hai lỗ hai rãnh; 18- Dạng có ba lỗ ba rãnh; 19- Dạng bốn đến sáu lỗ cũng như rãnh; 20- Dạng có nhiều lỗ và rãnh khắp bề mặt phấn; 21-22 Dạng phấn hoa có cả miệng kiểu đơn giản và kiểu miệng kép; 23- Dạng có khoảng trống rộng, giống như cửa sổ, không có tầng cột; 24- Dạng bộ tứ; 25- Dạng phấn hoa gồm nhiều hơn bốn hạt phấn)

Trang 26

22

Bên cạnh số lượng miệng, các kiểu hình thái miệng khi nhìn từ trục cực và trục xích đạo cũng là một yếu tố để nhận biết bởi ở mỗi loài, chi hay họ thực vật, hình dạng và tính phức tạp của miệng cũng khác nhau Miệng có thể có cấu tạo đơn giản hoặc phức tạp Dưới đây là một số dạng hình thái của miệng khi nhìn từ trục xích đạo (Hình 2.10) và trục cực (Hình 2.11)

Hình 2.10: Một số dạng hình thái của miệng khi nhìn từ trục xích đạo [37]

(1- lỗ tròn ; 2- lỗ hình elip dọc theo rãnh; 3- lỗ elip dẹt nằm ngang; 4- dạng song song nằm ngang;

5– dạng hình chữ nhật; 6- dạng chữ H)

Hình 2.11: Một số dạng hình thái của miệng khi nhìn từ trục cực [37]

(1- dạng cầu; 2- dạng giọt nước; 3- dạng chùy; 4- dạng khoang giữa miệng ngoài và miệng trong; 5- dạng miệng có khoang lớn giữa các lớp và lớp ngoài lớn hơn lớp trong; 6- phần lồi ra của

màng ngoài ở miệng; 7- dạng thông thường)

- Tô điểm

Trên bề mặt của vỏ phấn hoa được bao phủ bởi một lớp tô điểm Những tô điểm này có thể được hình thành ngay trên tầng phủ hoặc chỉ là những tô điểm của tầng cột Sự phức tạp về cấu tạo của từng tô điểm và hình dạng của chúng là một trong những yếu tố để nhận dạng cũng như xác định các loài Đặc điểm của các dạng tô điểm này được mô tả trên Hình 2.12 và Bảng 2.3

Trang 27

23

Bảng 2.3 Đặc điểm của một số dạng tô điểm của phấn hoa [34,37]

Psilate Bề mặt gần như bằng phẳng

Scabrate Tô điểm có đường kính <1m, hình dạng có thể khác nhau

Verrucate Tô điểm có hình dạng giống hột cơm, bề rộng >1m và thường

lớn hơn chiều cao, đáy không xếp xít vào nhau Gemmate Tô điểm cao >1m,chiều cao và chiều rộng bằng nhau,đáy hẹp Clavate Tô điểm có dạng chùy, cao 1m, chiều cao lớn hơn chiều rộng

nhưng phần đỉnh to hơn phần đáy Baculate Tô điểm có dạng que, cao >1m, chiều cao lớn hơn chiểu rộng Echinate Các tô điểm có dạng gai, cao hơn 1m

Granulate Tô điểm có đường kính <1m,tròn

Rugulate Tô điểm có đường kính < 1m, sắp xếp lộn xộn

Striate Các tô điểm thon dài, thường song song với nhau, được tách bởi

các đường rãnh Reticulate Các tô điểm sắp xếp theo kiểu mạng lưới, có rãnh (lumina) >1m,

bề rộng của giờ (muri) thường hẹp hơn bề rộng của rãnh Croton pattern Dạng giống tổ ong

Foveolate Bề mặt hạt phấn có chỗ lõm với đường kính >1m, khoảng cách

giữa các tô điểm lớn hơn bề rộng của chúng Fossulate Rãnh có hình dạng không đều trên bề mặt

Lophate Tô điểm dạng mạng lưới gồm các chỏm tạo bởi màng ngoài bao

quanh các chỗ lõm giống như cửa sổ

Trang 28

24

a, Nhìn từ mặt cắt: 1- Psilate; 2- Scabrate; 3- Verrucate; 4- Gemmate;

5- Clavate; 6- Baculate; 7- Echinate

b, Nhìn từ bề mặt: 1- Foveolate; 2- Fossulate; 3- Areolate (negatively reticulate); 4-8- Granulate; 9-

Reticulate; 10- Lopho-reticulate; 11- Lophate; 12- Croton pattern; 13- Rugulate;

14- Striate; 15- Striato-reticulate

Hình 2.12: Một số dạng tô điểm của phấn hoa nhìn theo mặt cắt (a)

và từ bề mặt hạt phấn (b) [37]

b Trình tự thực hiện phương pháp

Gia công mẫu

Kỹ thuật cơ bản được sử dụng trong chuẩn bị mẫu phấn hoa trong trầm tích

bở rời là sử dụng HCl và HF để loại bỏ carbonat và silicat theo phương pháp chuẩn (cf Fægri & Iversen 1989)

Các hóa chất cần dùng: Axit Clohydric (HCl) 10%, Axit HF, KOH 10 %, Etanol, Butanol, Axit sunfuaric (H2SO4) 10%, Axit acetic anhydrid (CH3CO)2O, Acetolysis, glycerin Dùng các thuốc thử phản ứng để đảm bảo các hóa chất đều sạch và không có phấn hoa và các hóa chất khác Trong quá trình làm mẫu, nước cất được dùng để rửa mẫu và lọc mẫu

Trang 29

25

Các bước cơ bản cần thực hiện trong quá trình gia công mẫu bào tử, phấn hoa được tóm tắt trong Bảng 2.4

Bảng 2.4 Tóm tắt Quy trình gia công mẫu bào tử, phấn hoa

4 Lọc mẫu Lưới lọc

160µm

Loại bỏ các hạt vật chất có kích thước lớn

- Không nên thực hiện nhiều lần vì phấn hoa có thể bị phá hủy

9 Dehydrat hóa Tách loại hoàn toàn nước

10 Thu nhận mẫu

Trang 30

26

Làm tiêu bản và sử dụng kính hiển vi để xác định bào tử, phấn hoa:

Kính hiển vi được sử dụng trong phân tích bào tử, phấn hoa là loại kính hiển

vi sử dụng ánh sáng khả kiến rọi lên vật cần quan sát, và các thấu kính thủy tinh để phóng đại thông qua các nguyên lý khúc xạ của ánh sáng qua thấu kính thủy tinh (Hình 2.13)

Hình 2.13 Sử dụng kính hiển vi ánh sáng để phân tích mẫu

Dựa vào đặc điểm, hình thái để xác định các dạng bào tử, phấn hoa trong mẫu phân tích Các dạng bào tử phấn hoa được nhận biết và đặt tên dựa vào các atlas bào tử phấn hoa của Nguyễn Địch Dỹ (1987) [15], Huang (1972) [37], Wang

Xác định bào tử, phấn hoa:

+ Di chuyển bàn di chậm để vừa di chuyển bàn, vừa điều chỉnh tiêu cự để có thể quan sát được các tô điểm của hạt phấn Đôi khi, khi không để đúng tiêu cự để nhìn rõ, chúng ta có thể bỏ qua một hạt phấn

+ Vì hạt phấn hoa không phải dạng dẹt và có thể trôi nổi trong tiêu bản nên

Trang 31

27

có thể dùng một que có đầu nhọn dạng kim để lật lên, lật xuống để quan sát hạt phấn ở nhiều góc độ khác nhau

+ Hạt phấn hoa có hình dạng và đặc điểm hình thái, tô điểm đặc trưng như đã

mô tả trong phần đặc điểm hình thái vì vậy có thể nhận dạng được nó dưới kính hiển vi Tuy nhiên, nếu mới soi mẫu bào tử, phấn hoa, cũng rất dễ dàng bỏ qua chúng vì các hạt bào tử, phấn hoa có kích thước rất nhỏ

Xử lý số liệu

+ Đưa số liệu đếm thành phần các hạt vào bảng excel

+ Tính toán tỷ lệ phần trăm của các hạt phấn hoa

+ Dùng tỷ lệ % tính toán được để phân tích thành phần chính bằng phần mềm chuyên dụng và xây dựng biểu đồ

2.2.3 Phương pháp phân tích thành phần chính (PCA)

a Tìm các thành phần chính

- Mục đích của phân tích thành phần chính là rút ra thông tin chủ yếu chứa trong bảng số liệu bằng cách xây dựng một biểu diễn đơn giản hơn sao cho đám mấy số liệu được thể hiện rõ nhất Cụ thể hơn, phân tích thành phần chính tức là đi tìm những trục hay mặt phẳng “phản ánh” tốt nhất, trung thực nhất đám mây điểm - biến, điểm - cá thể

- Việc tìm các thành phần chính (trục chính) được thực hiện như sau [6]: + Tìm trục chính thứ nhất là trục mà quán tính nhỏ nhất, tức là đường thẳng qua tâm gần đám mây điểm nhất

+ Trục chính thứ hai là trục qua tâm trực giao với trục chính thứ nhất và quán tính của đám mây theo nó là nhỏ nhất

+ Trục chính thứ ba là trục qua tâm, trực giao với hai trục chính thứ nhất và thứ hai và gần đám mây nhất sau hai trục trên

Tiếp tục như vậy đến bước thứ q (q ≤ p, n) ta được một hệ q vectơ trực giao tạo thành siêu phẳng q chiều mà đám mây thể hiện trên đó là rõ nhất Tuy nhiên trong thực tế, khi đã tìm được một số trục chính có tỉ lệ đóng góp tương đối tốt, có thể dừng lại để quan sát Cách tìm các trục tọa độ được phân tích xây dựng trên cơ

sở toán học

b Biểu diễn hình học

Sau khi tìm được các thành phần chính, chiếu đám mây số liệu lên các mặt phẳng chính ta sẽ được hình ảnh “rõ nhất” của dữ liệu Qua hình ảnh thu được, có thể thấy các điểm nào gần nhau, điểm nào xa nhau, giúp quan sát rõ hơn và đưa ra những nhận xét thích hợp

Trang 32

28

c Phân tích hình ảnh dữ liệu thu được

Đây là bước quan trọng đòi hỏi người phân tích phải nắm vững không chỉ các kiến thức toán học mà cả về kiến thức chuyên môn Với hình ảnh trực quan thu được, người phân tích có thể thấy được sự “ gần nhau” của các vectơ biến, vectơ cá thể, sự tương quan giữa 2 biến… Từ đó có thể rút ra những nhận xét, đánh giá chuyên môn hữu ích Nếu ma trận số liệu là lớn, việc tính toán rất phức tạp Ngày nay, nhờ có sự hỗ trợ của máy tính và các phần mềm thống kê, việc tính toán, biểu diễn trở nên đơn giản hơn Trong luận văn đã sử dụng phần mềm thống kê XLSTAT trong excel để phân tích và xử lý số liệu

Trang 33

29

CHƯƠNG 3 MỐI LIÊN HỆ GIỮA CÁC PHỨC HỆ BÀO TỬ, PHẤN HOA

VỚI HỆ THỰC VẬT HIỆN ĐẠI KHU VỰC NGHIÊN CỨU

VÀ Ý NGHĨA CỦA CHÚNG

3.1 ĐẶC ĐIỂM HỆ THỰC VẬT TRÊN ĐẢO

Theo Báo cáo “Quy hoạch Tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Cô Tô

đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” của Ủy ban Nhân dân huyện Cô Tô năm

2014 [3], rừng trên đảo đa số là rừng non phục hồi sau những giai đoạn bị chặt phá

trước năm 1979 Rừng của huyện Cô Tô còn có nhiều loại cây gỗ thuộc các họ

Trầm (Thymelaeaceae), họ Bứa (Clusiaceae), họ Thầu dầu (Euphorbiaceae), họ Đậu

(Fabaceae), họ Long não (Lauraceae), họ Kim giao (Podocarpaceae), họ Bồ hòn

(Sapindaceae), họ Thông (Pinaceae), chi lim xanh (Erythrophleum), chi keo

(Acacia) Ngoài cây thân gỗ còn có nhiều loại cây dược liệu như hương nhu

(Ocimum), sâm đất (Talinum), thầu dầu tía ( Ricinus communis) trên các đảo

Rừng Cô Tô thuộc loại rừng 3 tầng Dưới tán rừng là tầng cây bụi với các họ

Sim (Myrtaceae), họ Mua (Mellastomataceae), các loài như sơn muối (Rhus

chinensis , thuộc họ Đào lộn hột - Anacardiaceae), ngũ gia bì (chân chim)

(Schefflera, thuộc họ cuồng cuồng - Araliaceae) Dưới tầng cây bụi là tầng cỏ

quyết với các họ Ráy (Araceae), họ Cau (Arecaceae), họ Cỏ (Gramineae), họ Thài

lài (Commelinaceae), loài xạ can (rẻ quạt) ( Iris domestica, thuộc họ diên vĩ -

Iridaceae) Ngoài ra trên đảo còn có cây bụi, trảng cỏ trên cồn cát với các loài

phong ba (Heliotropium foertherianum), dừa cạn (Catharanthus roseus), rau muống

biển (Ipomoea pescaprae), các loài thuộc họ xương rồng (Cactaceae); Rừng trồng

với các chi chính như thông (Pinus), phi lao (Casuarina), bạch đàn (Eucalyptus)

Cây rừng có độ cao trung bình 10-12m, có nhiều loài cây xanh quanh năm, nhưng

cũng có loài cây rụng lá vào mùa đông [3]

Các hệ sinh thái điển hình: Hệ sinh thái rừng Chõi (rừng Trâm - Syzygium):

Rừng Chõi phân bố chủ yếu ở đảo Cô Tô lớn, là dấu hiệu chỉ thị cho khu vực có khí

hậu hải dương vùng biển ẩm, đất đai có tầng dày và độ phì tốt Rừng tạo cảnh quan

đẹp, là rừng phòng hộ hiệu quả (Hình 3.1)

- Hệ sinh thái rừng ngập mặn: Phân bố chủ yếu ở khu vực vụng Hồng Vàn

từ đập Trường Xuân đến thôn Hồng Hải xã Đồng Tiến Tuy là loại rừng kém phát

triển, nhưng lại là rừng ngập mặn điển hình cho các đảo xa bờ Từ những kết quả

nghiên cứu đã xác định được 15 loài TVNM thuộc 14 họ, trong đó bao gồm 7 loài

thuộc nhóm loài chủ yếu (chiếm 46,6% tổng số loài), 4 loài thuộc nhóm loài có

Trang 34

30

nguồn gốc chịu mặn RNM 26,7% và 4 loài thuộc nhóm có nguồn gốc nội địa chuyển ra 26,7% [22]

Hình 3.1 Hệ sinh thái rừng Chõi tại thôn Nam Đồng, xã Đồng Tiến, Cô Tô

Việc khảo sát thực địa hệ thực vật và hệ thống thủy văn trên đảo Cô Tô được thực hiện vào tháng 7 năm 2017, học viên đã tiến hành khảo sát bổ sung các loài thực vật ưu thế dọc theo hệ thống thủy văn quanh đảo Cô Tô như khu vực Bãi đá Móng Rồng (Hình 2.3a), Bãi Hồng Vàn (Hình 2.3b), Bắc Vàn, Vàn Chảy (Hình 2.3d), đặc biệt là khu vực rừng ngập mặn tại đập Trường Xuân, xã Đồng Tiến (Hình 2.3c)

Qua quá trình khảo sát quanh đảo Cô Tô cho thấy giống loài chiếm ưu thế

trên đảo bao gồm: họ Phi lao (Casuarina) (Hình 3.2a), họ Sim (Myrtaceae), họ Mua

(Melastomataceae) (Hình 3.2b), họ Dứa dại (Pandanaceae) (Hình 3.2c), họ Thông (Pinaceae) (Hình 3.2d), họ Hòa thảo (Gramineae) (Hình 3.2e), ngành Dương xỉ

(Pteridophyta) (Hình 3.2f), họ Sồi/Dẻ (Fagaceae)… Các nhóm thực vật Casuarina,

Melastomataceae, Myrtaceae, Pteridophyta, Gramineae, Pandanaceae phân bố phổ

biến quanh đảo; Pinaceae (hầu hết là Pinus) tập trung nhiều nhất ở khu vực xã Đồng

Tiến; thực vật núi cao đặc trưng bởi Fagaceae Hệ thống rừng ngập mặn trên đảo Cô

Tô khá nghèo nàn, hệ sinh thái rừng ngập mặn điển hình nhất là tại khu vực vụng Hồng Vàn từ đập Trường Xuân đến thôn Hồng Hải xã Đồng Tiến, chiếm ưu thế

trong thực vặt ngập mặn là Đâng (Rhizophora) (Hình 3.2g), Sú (Aegiceras) (Hình 3.2h), Vẹt (Bruguiera), thực vật nước lợ phổ biến nhất là Ráng đại (Acrostichum) (Hình 3.2i), Cói (Cyperus) (Hình 3.2j) kém phát triển và phân bố hẹp hơn, chủ yếu

gần khu vực có hệ sinh thái rừng ngập mặn Bên cạnh đó, hệ sinh thái rừng Chõi cũng là hệ sinh thái đặc trưng trên đảo Cô Tô lớn, phân bố khá tập trung tại gần khu vực bãi Bắc Vàn

Trang 36

32

Hình 3.2 Một số hình ảnh về hệ thực vật trên đảo Cô Tô (tiếp)

3.2 ĐẶC ĐIỂM CÁC PHỨC HỆ BÀO TỬ, PHẤN HOA TRONG TRẦM TÍCH TẦNG MẶT

Kết quả phân tích mẫu cho thấy nhìn chung, mức độ bảo tồn hạt phấn trong khu vực nghiên cứu tương đối tốt Nguyên nhân là nguồn thực vật chính ở đây đến

từ các đảo trong khu vực nghiên cứu, đặc biệt là hai đảo lớn là đảo Cô Tô và đảo Thanh Lân, các mẫu phân tích đều ở cách khu vực đảo không xa, quãng đường vận chuyển gần và năng lượng dòng chảy không lớn nên hạt phấn ít bị phá hủy trong quá trình vận chuyển Các dạng bào tử, phấn hoa trong luận văn được trình bày bằng kiểu chữ SMALL CAPITALS để phân biệt chúng một cách rõ ràng với tên các nhóm thực vật [41] Chiếm ưu thế trong khu vực nghiên cứu bao gồm các giống loài như PINUS, CYATHEA, ATHYRIACEAE, CASTANOPSIS/LITHOCAPUS,

Trang 37

33

GRAMINEAE, phấn hoa ngập mặn chiếm tỷ lệ tương đối nhỏ, chủ yếu gặp BRUGUIERA, RHIZOPHORA, AEGICERAS, thực vật nước lợ chiếm tỷ lệ trung bình, phổ biến nhất là ACROSTICHUM

Để phục vụ cho việc đối sánh sự phân bố của các phức hệ bào tử, phấn hoa trong khu vực nghiên cứu, các mẫu trầm tích thu thập được phân chia theo các nhóm trong 3 khu vực như sau (Hình 3.3):

Khu vực 1 – khu vực rừng ngập mặn thuộc xã Đồng Tiến Trong khu vực này đã tiến hành khảo sát đặc điểm hệ thực vật ven bờ, lấy các mẫu CT-01, CT-02

và CT-03 để phân tích phục vụ đối sánh giữa thành phần bào tử, phấn hoa trong trầm tích và hệ thực vật địa phương

Khu vực 2 – vùng biển phía Nam và Đông Nam của khu vực nghiên cứu, là nơi gần với đảo Cô Tô nhất, chịu sự phát tán chính của 2 đảo Cô Tô và Thanh Lân Trong khu vực này đã thu thập và phân tích bào tử, phấn hoa trong các mẫu trầm tích thuộc các tuyến 01, 02 và 03

Khu vực 3 – vùng biển phía Bắc khu vực nghiên cứu, là khu vực xa đảo Cô

Tô nhất và chịu sự phát tán từ các đảo Cô Tô, Cô Tô Con và Thanh Lân và một số đảo nhỏ xung quanh Trong khu vực này đã thu thập và phân tích bào tử, phấn hoa trong các mẫu trầm tích thuộc Tuyến 04

Đặc trưng của các phức hệ bào tử, phấn hoa trong 3 khu vực trên được thể hiện trong Bảng 3.1

Bảng 3.1 Đặc trưng của các phức hệ bào tử, phấn hoa điển hình

trong khu vực nghiên cứu

Ngày đăng: 25/10/2018, 23:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
30. Barui, N.C. (2011), “Floral diversity of mangrove plants with reference to palaeoenvironment during Holocene in Bengal Basin, India”, Quaternary International 229, pp.89–93 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Floral diversity of mangrove plants with reference to palaeoenvironment during Holocene in Bengal Basin, India”, "Quaternary International
Tác giả: Barui, N.C
Năm: 2011
31. Cintia F. Barreto, Claudia G. Vilela, Jose A. Baptista-Neto and Ortrud M. Barth (2011), “Spatial distribution of pollen grains and spores in surface sediments of Guanabara Bay, Rio de Janeiro, Brazil”, An Acad Bras Cienc 84(3), pp.627- 643 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Spatial distribution of pollen grains and spores in surface sediments of Guanabara Bay, Rio de Janeiro, Brazil”, "An Acad Bras Cienc
Tác giả: Cintia F. Barreto, Claudia G. Vilela, Jose A. Baptista-Neto and Ortrud M. Barth
Năm: 2011
32. Margaret B. Davis (1969), “Palynology and environmental history during the Quaternary period”, American Scientist, 57(3), pp.317-332 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Palynology and environmental history during the Quaternary period”, "American Scientist
Tác giả: Margaret B. Davis
Năm: 1969
33. Aline Gonỗalves de Freitas (2013), “Pollen grains in quaternary sediments from the Campos Basin, state of Rio de Janeiro, Brazil: Core BU-91-GL-05”, Acta Botanica Brasilica 27(4): 761-772 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pollen grains in quaternary sediments from the Campos Basin, state of Rio de Janeiro, Brazil: Core BU-91-GL-05”, "Acta Botanica Brasilica
Tác giả: Aline Gonỗalves de Freitas
Năm: 2013
34. Faegri, K., Iversen, J., (1989). Textbook of pollen analysis (revised by Fổgri, K., Kaland, P.E., Krzywinski, K.). Wiley, Chichester Sách, tạp chí
Tiêu đề: Textbook of pollen analysis
Tác giả: Faegri, K., Iversen, J
Năm: 1989
35. Grindrod, J. (1988), “The palynology of Holocene mangrove and saltmarsh sediments, particularly in northern Australia”, Review of Palaeobotany and Palynology 55, pp. 229–245 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The palynology of Holocene mangrove and saltmarsh sediments, particularly in northern Australia”, "Review of Palaeobotany and Palynology
Tác giả: Grindrod, J
Năm: 1988
36. T. Guo, Z. F. Yang*, H. Chen (2012), “Pollen assemblages and their environmental correlates during the past 200 years inferred from sediments records in a shallow lake”, Procedia Environmental Sciences 13, pp. 363 – 376 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pollen assemblages and their environmental correlates during the past 200 years inferred from sediments records in a shallow lake”, "Procedia Environmental Sciences
Tác giả: T. Guo, Z. F. Yang*, H. Chen
Năm: 2012
37. Huang, T.C. (1972), Pollen flora of Taiwan, National Taiwan University, Botany department press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pollen flora of Taiwan
Tác giả: Huang, T.C
Năm: 1972
38. Heusser (1985), “Quaternary palynology of marine sediments in the northeast Pacific, northwest Atlantic, and Gulf of Mexico”, Pollen Records of Late- Quaternary North American Sediments, American Association of Stratigraphic Palynologists Foundation, pp. 385–403 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quaternary palynology of marine sediments in the northeast Pacific, northwest Atlantic, and Gulf of Mexico”, "Pollen Records of Late-Quaternary North American Sediments
Tác giả: Heusser
Năm: 1985
39. Sheila Hicks and Hannu Hyvọrine (1999), “Pollen influx values measured in different sedimentary environments and their palaeoecological implications”, Grana, 38: 228-242 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pollen influx values measured in different sedimentary environments and their palaeoecological implications
Tác giả: Sheila Hicks and Hannu Hyvọrine
Năm: 1999
40. Hooghiemstra, H., Lezine, A., Leroy, S., Dupont, L., Marret, F. (2006), “Late Quaternary palynology in marine sediments: a synthesis of the understanding of pollen distribution patterns in the NW African setting”, Quat. Int. 148, 29–44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Late Quaternary palynology in marine sediments: a synthesis of the understanding of pollen distribution patterns in the NW African setting
Tác giả: Hooghiemstra, H., Lezine, A., Leroy, S., Dupont, L., Marret, F
Năm: 2006
41. Joosten, H. &amp; P. De Klerk (2002), “What's in a name? Some thoughts on pollen classification, identification and nomenclature in Quaternary palynology”, Review of Palaeobotany and Palyno,122, 29-45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: What's in a name? Some thoughts on pollen classification, identification and nomenclature in Quaternary palynology”, "Review of Palaeobotany and Palyno
Tác giả: Joosten, H. &amp; P. De Klerk
Năm: 2002
43. Sander V. D. Kaars and Patrick D. Deckker (2003), “Pollen distribution in marine surface sediments offshore Western Australia”, Review of Palaeobotany and Palynology, 124, pp.113-129 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pollen distribution in marine surface sediments offshore Western Australia”, "Review of Palaeobotany and Palynology
Tác giả: Sander V. D. Kaars and Patrick D. Deckker
Năm: 2003
44. Van der Kaars (2001), “Pollen distribution in marine sediments from the south- eastern Indonesian waters”, Palaeogeogr. Palaeoclimatol. Palaeoecol. 171 (3–4), 341–361 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pollen distribution in marine sediments from the south-eastern Indonesian waters
Tác giả: Van der Kaars
Năm: 2001
45. Chuanxiu Luo , M. Chen, R. Xiang, J. Liu, L. Zhang, J. Lu and M. Yang (2013), “Characteristics of modern pollen distribution in surface sediment samples for the northern South China Sea from three transects”, Quaternary International 286, pp.148-158 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Characteristics of modern pollen distribution in surface sediment samples for the northern South China Sea from three transects”, "Quaternary International
Tác giả: Chuanxiu Luo , M. Chen, R. Xiang, J. Liu, L. Zhang, J. Lu and M. Yang
Năm: 2013
46. Chuanxiu Luo , M. Chen, R. Xiang, J. Liu, L. Zhang, J. Lu and M. Yang (2014), “Modern pollen distribution in marine sediments from the northern part of the South China Sea”, Marine Micropaleontology 108, pp.41–56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Modern pollen distribution in marine sediments from the northern part of the South China Sea”, "Marine Micropaleontology
Tác giả: Chuanxiu Luo , M. Chen, R. Xiang, J. Liu, L. Zhang, J. Lu and M. Yang
Năm: 2014
47. Limi Mao, Yulan Zhang and Hua Bi (2006), “Modern pollen deposits in coastal mangrove swamps from northern Hainan Island, China”, Journal of Coastal Research 22, 1423–1436 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Modern pollen deposits in coastal mangrove swamps from northern Hainan Island, China”, "Journal of Coastal Research
Tác giả: Limi Mao, Yulan Zhang and Hua Bi
Năm: 2006
48. Mudie, P.J. (1982), “Pollen distribution in recent marine sediments, Eastern Canada”, Can. J. Earth Sci. 19, 729–747 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pollen distribution in recent marine sediments, Eastern Canada
Tác giả: Mudie, P.J
Năm: 1982
49. Mudie, P.J., Mc Carthy, F.M.G. (1994), “Pollen transport processes in the western North Atlantic: evidence from cross margin and north–south transects”, Mar.Geol. 118, 79–105 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pollen transport processes in the western North Atlantic: evidence from cross margin and north–south transects
Tác giả: Mudie, P.J., Mc Carthy, F.M.G
Năm: 1994
50. Shilpa Pandey and Katherine Holt (2017), “Modern pollen distribution and its relationship to vegetation from the south-western part of the Ganges- Brahmaputra Delta, India” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Modern pollen distribution and its relationship to vegetation from the south-western part of the Ganges-Brahmaputra Delta, India
Tác giả: Shilpa Pandey and Katherine Holt
Năm: 2017

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w