Có khả năng phân biệt hoàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác” Ngoài ra, các nhãn hiệu đó phải có khả năng phân biệt quy định tại Điều 74 và sẽ
Trang 1Mở đầu
Pháp luật sở hữu trí tuệ bảo hộ các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ như: quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại, bí mật kinh doanh, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, quyền đối với giống cây trồng Các đối tượng này được bảo hộ với những điều kiện, thời hạn bảo hộ khác nhau và được quy định cụ thể Xã họi ngày càng phát triển, nhu cầu về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cũng ngày càng tăng cao, vì vậy, để hiểu rõ hơn phần nào về quyền sở hữu trí tuệ em xin đi giải quyết
đề bài số 10:
1 So sánh nhãn hiệu thông thường, nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận?
2 Ca sĩ X ký hợp đồng thu thanh với Công ti Bến Thành Audio – Video, theo đó công ti có quyền sản xuất băng đĩa chọn lọc giọng hát của cô và
ca sĩ X được nhận thù lao theo thỏa thuận Công ti Bến Thành sau đó cho phép công ti F – là chủ sở hữu website nghe nhạc trực tuyến nhacso.net được sử dụng các bản ghi âm của họ (trong đó có đĩa ca nhạc chọn lọc giọng hát của cô X).
Ca sĩ X yêu cầu công ti F phải trả thù lao cho cô do việc sử dụng bản ghi
có giọng hát của cô vào hoạt động kinh doanh, thương mại nhưng công ti này cho rằng họ đã trả tiền cho Công ti Bến Thành – là chủ sở hữu băng đĩa, vì vậy không phải trả tiền cho người biểu diễn nữa.
Dựa vào quy định của Luật Sở hữu trí tuệ, anh (chị) hãy nêu quan điểm
cá nhân về hướng giải quyết.
Trang 2Nội dung
I So sánh nhãn hiệu thông thường, nhãn hiệu tập thể và nhãn hiểu chứng nhận.
1 Điểm giống
Giữa nhãn hiệu thông thường, nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận có một số điểm giống nhau như sau:
Thứ nhất, cả ba đều là nhãn hiệu dùng để phân biệt các loại hàng hóa, dịch vụ.
Cho dù là nhãn hiệu thông thường, nhãn hiệu tập thể, hay nhãn hiệu chứng nhận thì suy cho cùng chúng đều là cái dùng để phân biệt các loại hàng hóa, dịch vụ này với loại hàng hóa, dịch vụ khác
Thứ hai, cả ba loại nhãn hiệu này đều chỉ được bảo hộ khi đáp ứng đủ các điều
kiện bảo hộ chung quy định tại điều 72 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi bổ sung 2009:
“1 Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể
cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc
2 Có khả năng phân biệt hoàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác”
Ngoài ra, các nhãn hiệu đó phải có khả năng phân biệt quy định tại Điều 74 và
sẽ không được bảo hộ nếu thuộc một trong các trường hợp quy định tại điều 73 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi bổ sung 2009)
Trang 3Thứ ba, cả ba loại nhãn hiệu này đều có thời hạn bảo hộ trong vòng mười năm
tính từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng kí nhãn hiệu và có thể gia hạn nhiều lần liên tiếp với mỗi lần là mười năm
2 Điểm khác biệt
Nhãn hiệu thông thường, nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận có những điểm khác biệt dựa theo các tiêu chí sau:
2.1 Khái niệm
Nhãn hiệu thông thường, theo quy định tại khoản 16, điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ
2005 sửa đổi bổ sung 2009 thì nhãn hiệu thông thường được định nghĩa như sau:
“Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá
nhân khác nhau.”
“Nhãn hiệu tập thể là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các
thành viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức đó” ( khoản 17, điều 4 Luật
Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi bổ sung 2009)
“Nhãn hiệu chứng nhận là nhãn hiệu mà chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng trên hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân đó để chứng nhận các đặc tính vễ xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hóa, cách thức cung cấp dịch vụ, chất lượng, độ chính xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác của hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu.”( khoản 18, điều 4 Luật Sở
hữu trí tuệ 2005 sửa đổi bổ sung 2009)
2.2 Chức năng
Chức năng của các nhãn hiệu khác nhau là khác nhau, cụ thể như sau:
Trang 4Chức năng của nhãn hiệu thông thường là để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân này với hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân khác
Đối với nhãn hiệu tập thể thì chức năng của nó là để phân biệt hàng hóa, dịch
vụ của các thành viên trong tập thể sở hữu nhãn hiệu này với hàng hóa, dịch vụ của các chủ thể khác không là thành viên của tập thể đó
Đối với nhãn hiệu chứng nhận thì có chức năng là để chứng nhận hàng hóa, dịch vụ đáp ứng các đặc tính về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hoá, cách thức cung cấp dịch vụ, chất lượng, độ chính xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác của hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu
2.3 Chủ thể đăng ký
Đối với nhãn hiệu thông thường, với chức năng dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, nhân khác nhau thì bất kì tổ chức, cá nhân nào cũng có quyền đăng kí nhãn hiệu dùng cho hàng hóa do mình sản xuất hoặc dịch vụ do mình cung cấp
Đối với nhãn hiệu tập thể với chức năng như đã nêu ở trên thì chỉ có tổ chức tập thể được thành lập hợp pháp đại diện cho cho các thành viên ( vd: hội liên hiệp công ti…) đăng kí nhãn hiệu tập thể để các thành viên của mình sử dụng theo quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể Riêng đối với dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lí của hàng hóa, dịch vụ, tổ chức có quyền đăng ký là tổ chức tập thể của các tổ chức, cá nhân tiến hành sản xuất, kinh doanh tạo địa phương đó Theo quy định tại điểm
31.đ thông tư 16/2016/TT-BKHCN Thông tư Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN ngày 14 tháng 02 năm 2007 hướng dẫn thi hành Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ
về sở hữu công nghiệp, được sửa đổi, bổ sung theo Thông tư số
Trang 513/2010/TT-BKHCN ngày 30 tháng 7 năm 2010, Thông tư số 18/2011/TT-13/2010/TT-BKHCN ngày 22 tháng 7 năm 2011 và Thông tư số 05/2013/TT-BKHCN ngày 20 tháng 02 năm
2013 thì Tổ chức tập thể được thành lập hợp pháp là tổ chức có từ 02 thành viên
trở lên, được thành lập theo quy định của pháp luật Các thành viên của tổ chức đó
có hoạt động sản xuất, kinh doanh độc lập, có hàng hóa, dịch vụ riêng
Đối với nhãn hiệu chứng nhận thì chủ thể có quyền đăng ký là tổ chức có chức năng kiểm soát, chứng nhận chất lượng, đặc tính, nguồn gốc hoặc tiêu chí khác liên quan đến hàng hóa, dịch vụ Theo điểm 31.e Thông tư 16/2016/TT-BKHCN nêu trên thì tổ chức có chức năng kiểm soát, chứng nhận đặc tính (chất lượng, nguồn gốc, ) của hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu là tổ chức mà hoạt động kiểm soát, chứng nhận nêu trên do chính tổ chức đó thực hiện hoặc giao, thuê, ủy quyền cho
tổ chức khác thực hiện phù hợp với chức năng mà pháp luật quy định, hoặc được ghi nhận trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, điều lệ, quyết định thành lập, quyết định giao nhiệm vụ của tổ chức đó
Như vậy đối với nhãn hiệu thông thường thì cả tổ chức, cá nhân đều có quyền đăng kí,còn đối với nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận chỉ có tổ chức mới
có quyền đăng kí
2.4 Chủ thể có quyền sử dụng
Đối với nhãn hiệu thông thường thì chủ sở hữu nhãn hiệu sẽ có quyền sử dụng, ngoài ra thì tổ chức, cá nhân được chủ sở hữu cho phép sử dụng thì cũng có quyền
sử dụng nhãn hiệu thông thường đó
Đối với nhãn hiệu tập thể thì chỉ thành viên của tổ chức mới có quyền sử dụng nhãn hiệu tập thể, và chính bản thân tổ chức đó cũng có quyền sử dụng nhãn hiệu đó
Trang 6Đối với nhãn hiệu chứng nhận thì bất cứ tổ chức, cá nhân nào có hàng hóa, dịch
vụ đáp ứng được các đặc tính xác định trong quy chế sử dụng nhãn hiệu chứng nhận và được chủ sỡ hữu nhãn hiệu chứng nhận cho phép thì có quyền sử dụng nhãn hiệu chứng nhận, riêng đối với bản thân tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu chứng nhận thì không được phép dùng nhãn hiệu chứng nhận đó
II Giải quyết tình huống
1 Xác định tư cách chủ thể
Trước tiên, dựa vào Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi bổ sung 2009), ta đi xác định tư cách chủ thể của từng chủ thể trong tình huống trên:
Ca sĩ X – người biểu diễn
Theo quy định tại khoản 1, điều 16 thì nhà làm luật chỉ liệt kê những chủ thể nào được coi là người biểu diễn, theo đó thì diễn viên, ca sĩ, nhạc công, vũ công và những người khác trình bày tác phẩm văn học, nghệ thuật thì được gọi chung là người biểu diễn Xét trong tình huống trên thì cô X là ca sĩ vì vậy theo luật thì tư cách chủ thể của cô X là người biểu diễn
Công ti Bến Thành Audio – video : vừa là chủ sở hữu bản ghi âm, ghi hình đồng thời là nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình.
Theo quy định tại khoản 6, điều 3 Nghị định 22/2018/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2009 về quyền tác giả, quyền liên quan thì
“Bản ghi âm, ghi hình là bản định hình các âm thanh, hình ảnh của cuộc biểu diễn
hoặc các âm thanh, hình ảnh khác hoặc việc định hình sự tái hiện lại các âm thanh, hình ảnh không phải dưới hình thức định hình gắn với tác phẩm điện ảnh hoặc tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự”.
Trang 7Căn cứ theo khoản 2, điều 44 thì “tổ chức, cá nhân sử dụng thời gian, đầu tư
tài chính và cơ sở vật chất, kĩ thuật của mình để sản xuất bản ghi âm, ghi hình là chủ sở hữu đối với bản ghi âm, ghi hình đó, trừ trường hợp có thỏa thuận khác với bên liên quan” Trong tình huống trên, công ti Bến Thành Audio – video đã tự
mình sử dụng thời gian, đầu tư tài chính, cơ sở vật chất, kĩ thuật của mình để tiến hành thu thanh giọng hát của cô ca sĩ X, sản xuất đĩa chọn lọc giọng hát của cô và trả tiền thù lao cho ca sĩ X Như vậy có thể hẳng định công ti Bến Thành Audio – video chính là chủ sở hữu bản ghi âm, ghi hình Bên cạnh đó, theo quy định tại
khoản 3 điều 16 Luật Sở hữu trí tuệ (sửa đổi bổ sung năm 2009) thì: “tổ chức, cá
nhân định hình lần đầu âm thanh, hình ảnh của cuộc biểu diễn hoặc các âm thanh, hình ảnh khác (sau đây gọi là nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình)” ,trong tình
huống trên công ty Bến Thành đã ký hợp đồng thu thanh với ca sĩ X thì đương nhiên sẽ là chủ thể đầu tiên định hình âm thanh cuộc biểu diễ của ca sĩ X Như vậy công ti này cũng chính là nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình
Công ti F, chủ sở hữu website nghe nhạc trực tuyến nhacso.net: người sử dụng bản ghi âm, ghi hình trong hoạt động kinh doanh, thương mại Theo đề bài thì công
ti Bến Thành Audio – video đã đồng ý cho công ty F sử dụng các bản ghi âm của mình trong đó có cả đĩa ca nhạc chọn lọc giọng ca sĩ X, vì công ti F là chủ sở hữu website nghe nhạc trực tuyến thì đương nhiên họ sẽ đăng tải những bản ghi âm này cung cấp cho người nghe và thu lợi nhuận từ việc đó
2 Khẳng định phạm vi quyền của từng chủ thể
Căn cứ vào việc đã xác định tư cách chủ thể của từng chủ thể như đã nêu ở trên,
ta có thể xác định được phạm vi quyền của từng chủ thể như sau:
Về phía ca sĩ X, với tư cách là người biểu diễn cô sẽ được hưởng các quyền
nhân thân quy định tại khoản 1, điều 29 Luật Sở hữu trí tuệ (sửa đổi bổ sung năm
Trang 82009) cụ thể là được Được giới thiệu tên khi biểu diễn, khi phát hành bản ghi âm, ghi hình, phát sóng cuộc biểu diễn; Bảo vệ sự toàn vẹn hình tượng biểu diễn, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của người biểu diễn
Đối với công ti Bến Thành, với tư cách là chủ sở hữu bản ghi âm, ghi hình và
nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình thì sẽ có các quyền tài sản quy định tại khoản 3, điều 29 Luật Sở hữu trí tuệ (sửa đổi bổ sung năm 2009) và các quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình quy định tại điều 30 Luật Sở hữu trí tuệ (sửa đổi bổ sung năm 2009), tức là được Định hình cuộc biểu diễn trực tiếp của mình trên bản ghi
âm, ghi hình; Sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp cuộc biểu diễn của mình đã được định hình trên bản ghi âm, ghi hình; Phát sóng hoặc truyền theo cách khác đến công chúng cuộc biểu diễn của mình chưa được định hình mà công chúng có thể tiếp cận được, trừ trường hợp cuộc biểu diễn đó nhằm mục đích phát sóng; Phân phối đến công chúng bản gốc và bản sao cuộc biểu diễn của mình thông qua hình thức bán, cho thuê hoặc phân phối bằng bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào mà công chúng có thể tiếp cận được; Nhập khẩu, phân phối đến công chúng bản gốc và bản sao bản ghi âm, ghi hình của mình thông qua hình thức bán, cho thuê hoặc phân phối bằng bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào mà công chúng có thể tiếp cận được
Về phía công ti F, với tư cách là người sử dụng bản ghi âm, ghi hình trong hoạt
động kinh doanh thương mại thì theo quy định tại khoản 2, điều 33 Luật Sở hữu trí tuệ (sửa đổi bổ sung năm 2009) thì công ti này không phải xin phép, nhưng phải trả tiền nhuận bút thù lao theo thỏa thuận cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng Như vậy, công ti F
sẽ phải trả tiền nhuận bút thù lao cho công ti Bến Thành Audio – video và cho ca sĩ X
Trang 93 Đánh giá yêu cầu của ca sĩ X và lí do của công ti F
3.1 Đối với yêu cầu của ca sĩ X có phù hợp với pháp luật hay không?
Trong tình huống trên, ca sĩ X đã yêu cầu công ty F phải trả tiền thù lao cho cô
do công ti này đã sử dụng bản ghi giọng hát của cô vào hoạt động kinh doanh thương mại Căn cứ theo khoản 4 điều 29 Luật Sở hữu trí tuệ (sửa đổi bổ sung năm
2009) quy định như sau: “Tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng các quyền quy
định tại khoản 3 Điều này phải trả tiền thù lao cho người biểu diễn theo quy định của pháp luật hoặc theo thỏa thuận trong trường hợp pháp luật không quy định”.
Như vậy, căn cứ theo khoản 4 đã nêu thì việc yêu cầu công ti F trả tiền thù lao cho mình của ca sĩ X là hoàn toàn không trái với quy định của pháp luật
3.2 Lý do từ chối trả thù lao cho ca sĩ X của công ty F có trái luật không?
Công ti F từ chối trả tiền thù lao cho cô ca sĩ X vì họ cho rằng họ đã trả tiền cho công ti Bến Thành – là chủ sở hữu băng đĩa, vì vậy họ không phải trả tiền thù lao cho người biểu diễn nữa
Lí do này cũng không sai, vì căn cứ theo điều 29 Luật Sở hữu trí tuệ (sửa đổi bổ sung năm 2009) thì nếu người biểu diễn không đồng thời là chủ đầu tư thì họ chỉ
có các quyền nhân thân mà không có quyền tài sản Ở đây, ca sĩ X đã kí hợp đồng thu thanh với công ti Bến Thành và nhận tiền thu lao từ việc đó, như vậy bản ghi
âm giọng hát của cô sẽ thuộc sở hữu của công ti Bến Thành Vì vậy, công ti Bến Thành là chủ thể duy nhất được hưởng các quyền tài sản quy định tại khoản 3, chủ thể duy nhất có quyền tự do kinh doanh, khai thác, thu lợi nhuận từ bản ghi âm đó Như vậy, lí do mà công ti F đưa ra để từ chối yêu cầu của ca sĩ X là phù hợp với quy định của pháp luật
Như vậy, khi phân tích đến đây chúng ta đã thấy ngay được sự mâu thuẫn của điều 29 Luật Sở hữu trí tuệ (sửa đổi bổ sung năm 2009)
Trang 104 Quan điểm cá nhân về hướng giải quyết
Theo như đánh giá ở trên thì lý do mà cả hai bên đưa ra đều không trái với quy định của pháp luật Tuy nhiên theo quan điểm cá nhân em, để đảm bảo cân bằng lợi ích của các chủ thể, do ca sĩ X đã được nhận thù lao hợp lý cho việc thu thanh
do công ty Bến Thành chi trả thì khi này ca sĩ X chỉ được hưởng các quyền nhân thân quy định tại khoản 2 điều 29 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009), theo đó, ca sĩ X sẽ được giới thiệu tên khi phát hành bản ghi âm, bảo vệ sự toàn vẹn hình tượng biểu diễn, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự, uy tín của cô
Đối với công ti Bến thành Audio – video, với tư cách là chủ sở hữu bản ghi
âm, nhà xản xuất bản ghi âm đã bỏ rất nhiều công sức, tiền bạc để tiến hành việc thu thanh giọng hát của ca sĩ X và sản xuất băng đĩa thì sẽ được hưởng tất cả các quyền tài sản quy định tại khoản 3, Điều 29 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009) và quyền quy định tại Điều 30 của cùng luật này, chủ yếu nhất là công
ty này có toàn quyền khai thác sử dụng bản ghi âm thông qua việc sản xuất đĩa và
ký hợp đồng với công ty F về việc cho phép sử dụng bản ghi âm có giọng của ca sĩ
X để thu lại lợi nhuận bù đắp vào những chi phí mà công ty đã đầu tư trước đó
Về phía công ti F, em đồng ý với lý do mà họ đã đưa ra rằng họ không phỉ trả thù lao cho ca sĩ X vì họ đã trả cho công ti Bến Thành – chủ sở hữu số băng đĩa Theo quy định tại khoản 1 điều 29 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009) thì chỉ khi người biểu diễn đồng thời là chủ đầu tư thì mới được hưởng cả quyền nhân thân và quyền tài sản, trong thường hợp này cô ca sĩ X chỉ đóng vai trò
là người biểu diễn không phải là chủ đầu tư, vì vậy khi căn cứ theo khoản này thì công ty F không phải trả tiền thù lao cho ca sĩ X nữa sau khi đã thanh toán cho công ti Bến Thành, trừ khi có thỏa thuận khác giữa các bên Nếu áp dụng theo quy