1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nhượng quyền kinh doanh ở việt nam

29 135 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 57,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Năm 1992,Chính phủ Malaysia đã bắt đầu triển khai chính sách phát triển hoạt động kinh doanhnhượng quyền Franchise development program với mục tiêu gia tăng số lượng doanhnghiệp hoạt độn

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU 2

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NHƯỢNG QUYỀN KINH DOANH 4

I Khái niệm và sự ra đời của Franchise 4

1 Sự ra đời của Franchise 4

2 Khái niệm về Franchise 6

II Hình thức kinh doanh franchise 7

1 Theo hình thức hoạt động 7

2. Theo hình thức phát triển hoạt động 8

III Những nhân tố cơ bản khi triển khai theo phương thức Franchise 9

1 Bản sắc thương hiệu 9

2 Vị trí 10

3 Nỗ lực tiếp thị 10

4 Chiến lược dài hạn 10

5 Quản lý con người 10

IV Ưu và nhược điểm của Franchise 10

1 Ưu điểm 10

2 Nhược điểm của Franchise 13

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI 14

I Thực trạng nhượng quyền thương mại trên thế giới 14

CHƯƠNG III BÀI HỌC KINH NGHIỆM RÚT RA CHO CÁC DOANH NGHIỆP KINH DOANH NHƯỢNG QUYỀN Ở VIỆT NAM 23

I Đối với nhà luật pháp 23

1 Hoàn thiện khung pháp luật về franchise 23

2 Hỗ trợ chính sách, định hướng giúp doanh nghiệp phát triền 23

3 Liên kết giữa ngân hàng thương mại, Nhà nước và các bên nhận quyền 23

II Đối với bên nhượng quyền 24

III Đối với bên nhận quyền 25

KẾT LUẬN 27

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Có thể bạn muốn tự xây dựng công việc kinh doanh của mình, bởi vì bạn muốn

tự mình làm chủ? Nhưng bạn có nhất thiết phải bắt đầu từ vạch xuất phát không? Haybạn nên mua lại công việc kinh doanh của những ông chủ khác, khi họ đang muốnsang nhượng lại cơ sở để nghỉ ngơi? Hoặc là, bạn nên mua một đơn vị kinh doanh theohình thức nhượng quyền? Bạn có thể đến bất kỳ một nước nào trên thế giới cũng cóthể một loại gà rán KFC hay một loại bánh Mc Donald như nhau, Những nhãn hiệunổi tiếng này đã trở thành quen thuộc với người tiêu dùng trên thế giới Tuy nhiên ít ai

để ý rằng bí quyết thành công của họ là phương thức kinh doanh Franchise( nhượngquyền kinh doanh)

Franchise-phương thức kinh doanh của tương lai Franchise khởi nguồn từ Hoa

Kì giữa thế kỉ 19 Hơn 550000 franchise với doanh thu lên tới 1503 tỷ USD, chiếm40% tổng doanh thu bán lẻ của nước này Trung bình cứ 12 phút lại có 1 Franchise rađời Ở Anh, Franchise là một trong những hoạt động tăng trưởng nhanh nhất của nềnkinh tế với khoảng 32000 doanh nghiệp nhượng quyền Doanh thu mỗi năm 8,9 tỷbảng Anh, thu hút 317000 lao động và chiếm 29% thị phần bán lẻ Điều đó như mộtminh chứng cho sức mạnh của franchise-phương thức đầu tư khôn ngoan và chắc chắnnhất

Franchise là hình thức kinh doanh mới đã tạo nên bức tranh sống động của nềnkinh tế thế giới Hình thức này không ngừng mở rộng và phát huy tính hiệu quả trongkinh doanh

Trong điều kiện Việt Nam ra nhập WTO, hàng loạt các tập đoàn bán lẻ, đồ ănnhanh ồ ạt chạy vào Việt Nam với hình thức franchisie Thêm vào đó, Franchisie đãquá thành công ở Mĩ và Châu Âu Tại sao đó lại không thể là ở Châu Á-tại Việt nam?Tại sao chúng ta lại không nắm bắt những phương thức kinh doanh được coi là rấtthành công này Đón đầu để không bị thua thiệt Phương thức kinh doanh theo mô hìnhnhượng quyền thương mại đang dần trở thành xu hướng kinh doanh tất yếu trên khắpthế giới và Việt Nam được dự đoán là nơi có nhiều tiềm năng phát triển trong lĩnh vựcnày

Hiện nay, hệ thống kinh doanh nhượng quyền đã xuất hiện trên thị trường ViệtNam cũng từ rất lâu và phát triển rất mạnh Một số hệ thống nhượng quyền thươnghiệu tiêu biểu và phát triển rất mạnh của Việt Nam trong những năm gần đây như Tậpđoàn thức ăn nhanh McDonald’s, Tập đoàn giáo dục Cleverlearn, Pizza Hut, Inc , Cũng trong đà phát triển của nhượng quyền thương hiệu thì cũng đã có một vàithương hiệu khác cũng đang được phát tán rộng rãi ví dụ như Coca- Cola có doanh thu

Trang 3

rất đều được phân phối trên khắp Bắc Mỹ, châu Âu và châu Á Còn Toco Toco hiện tạiđang là thương hiệu trà sữa hàng đầu Việt Nam.

Vậy Franchisie là gì? Doanh nghiệp kinh doanh Franchise sẽ được hưởng nhữnglợi ích gì, làm thế nào để thành công với hình thức kinh doanh mới mẻ này? Và vớiTập đoàn thức ăn nhanh McDonald’s thì họ áp dụng như thế nào?

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy Nguyễn Quang Chương đã hướng dẫn

và gợi ý đề tài cho em!

Trang 4

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NHƯỢNG QUYỀN

KINH DOANH

I Khái niệm và sự ra đời của Franchise

1 Sự ra đời của Franchise

Theo nhiều tài liệu nghiên cứu, hình thức sơ khai của lối kinh doanh nhượngquyền đã xuất hiện vào khoảng thế kỷ 17-18 tại Châu Âu

Tuy nhiên, hoạt động nhượng quyền kinh doanh (hay nhượng quyền thươngmại) được chính thức thừa nhận khởi nguồn, phát triển là tại Hoa Kỳ vào giữa thế kỷ

19, khi mà Nhà máy Singer (sản xuất máy khâu) ký kết hợp đồng nhượng quyền kinhdoanh đầu tiên cho đối tác của mình

Franchise thực sự phát triển mạnh, bùng phát kể từ sau năm 1945 (khi Thế Chiến

II kết thúc), với sự ra đời của hàng loạt hệ thống nhà hàng, khách sạn và các hệ thốngkinh doanh, phân phối theo kiểu bán lẻ, mà sự đồng nhất về cơ sở hạ tầng, thươnghiệu, sự phục vụ là đặc trưng cơ bản để nhận dạng những hệ thống kinh doanh theophương thức này Từ những năm 60, franchise trở thành phương thức kinh doanh thịnhhành, thành công không chỉ tại Hoa Kỳ mà còn ở những nước phát triển khác như Anh,Pháp Sự lớn mạnh của những tập đoàn xuyên quốc gia của Hoa Kỳ và một số nướcChâu Âu trong lĩnh vực kinh doanh thức ăn nhanh, khách sạn-nhà hàng đã góp phần

“truyền bá” và phát triển franchise trên khắp thế giới Ngày nay, franchise đã có mặttại hơn 150 nước trên thế giới, riêng tại Châu Âu có khoảng 200 ngàn cửa hàng kinhdoanh theo phương thức nhượng quyền

Nhận thấy lợi ích, hiệu quả của phương thức kinh doanh này, nhiều quốc gia đã

có các chính sách khuyến khích phát triển franchise Hoa Kỳ là quốc gia đầu tiên luật

Trang 5

doanh theo phương thức franchise Chính phủ các nước phát triển khác như Anh, Pháp,Đức, Nhật, Ý cũng noi gương Hoa Kỳ, ban hành các chính sách thúc đẩy, phát triểnhoạt động franchise, khuyến khích và hỗ trợ cho doanh nghiệp trong việc bán franchise

ra nước ngoài Nhiều trung tâm học thuật, nghiên cứu chính sách về franchise của cácchính phủ, tư nhân lần lượt ra đời, các đại học cũng có riêng chuyên ngành vềfranchise để đào tạo, đáp ứng nhu cầu mới của nền kinh tế

Riêng tại Đông Nam Á, kể từ thập niên 90, các quốc gia đã nhận thấy tác độngcủa franchise đến việc phát triển nền kinh tế quốc dân là quan trọng và là xu thế tấtyếu của toàn cầu hóa, vì vậy nhiều chính sách, giải pháp phát triển kinh tế liên quanđến franchise đã được nghiên cứu, ứng dụng và khuyến khích phát triển Năm 1992,Chính phủ Malaysia đã bắt đầu triển khai chính sách phát triển hoạt động kinh doanhnhượng quyền (Franchise development program) với mục tiêu gia tăng số lượng doanhnghiệp hoạt động kinh doanh theo phương thức nhượng quyền, thúc đẩy và phát triểnviệc bán franchise ra bên ngoài quốc gia Singapore, quốc gia láng giềng của Malaysia,cũng có các chính sách tương tự nhằm thúc đẩy, phát triển hoạt động nhượng quyềntrong lĩnh vực cung cấp dịch vụ như đào tạo, y tế, du lịch, khách sạn-nhà hàng Gầnđây nhất, kể từ thời điểm năm 2000, Chính phủ Thái Lan cũng đã có các chính sáchkhuyến khích, quảng bá, hỗ trợ việc nhượng quyền của các doanh nghiệp Thái Lan tạithị trường nội địa và quốc tế

Ngày nay, nhiều tổ chức phi chính phủ với tôn chỉ thúc đẩy phát triển, hỗ trợ vàquảng bá hoạt động franchise đã được thành lập Điển hình là Hội đồng Franchise Thếgiới (World Franchise Council), ra đời vào năm 1994, có thành viên là các hiệp hộifranchise của nhiều quốc gia Ngoài ra, một tổ chức uy tín và lâu đời nhất là Hiệp hộiFranchise Quốc tế (International Franchise Association) được thành lập năm 1960, cókhoảng 30.000 thành viên bao gồm các doanh nghiệp bán, mua franchise Thông quacác tổ chức này, nhiều hoạt động có ích cho doanh nghiệp, cho các nền kinh tế quốcgia đã được thực hiện như:Tổ chức các hội chợ franchise quốc tế, xây dựng niên giámfranchise khu vực, và trên toàn thế giới

Hợp tác xuất bản các ấn phẩm chuyên ngành, các website để cung cấp thông tincho mọi cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp quan tâm đến franchise

Trang 6

Tư vấn, hỗ trợ, hợp tác và phát triển phương thức kinh doanh franchise.

2 Khái niệm về Franchise

Với sự phát triển nhanh chóng của nhượng quyền thương mại, nhiều tổ chức,học giả trên thế giới đã đưa ra nhiều định nghĩa về hoạt động này Tuy các định nghĩađược đưa ra bởi những quan điểm khác nhau do có sự khác biệt về môi trường pháp lý,kinh tế, chính trị ở mỗi quốc gia, nhưng nó đều được xây dựng trên một nền tảngchung Dưới góc độ pháp luật Việt Nam thì nhượng quyền thương mại được hiểu là

“hoạt động thương mại, theo đó bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhậnquyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo các điều kiệnsau đây:

Việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách thức tổchức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hóa,tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh,quảng cáo của bên nhận quyền;

Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho Bên nhận quyền trongviệc điều hành công việc kinh doanh”

Vậy, nhượng quyền thương mại là một phương thức nhân rộng quy mô sản xuấtkinh doanh trong đó chủ sở hữu quyền thương mại (ở đây gọi là bên nhượng quyền)chuyển giao cho những doanh nghiệp khác (ở đây gọi là bên nhận quyền) các quyềnthương mại đó để tiến hành hoạt động kinh doanh dựa trên ý tưởng kinh doanh của bênnhượng quyền Bên nhượng quyền sẽ đào tạo, hỗ trợ cho bên nhận quyền phát triểnhoạt động kinh doanh theo cách thức kinh doanh, chiến lược tiếp thị, khuyến mại,quảng cáo… do bên nhượng quyền đưa ra Để được như vậy, bên nhận quyền phải trảphí nhượng quyền ban đầu, phí sử dụng nhãn hiệu, phí quảng cáo và các loại phí kháccho bên nhượng quyền

Khi mối quan hệ nhượng quyền được thiết lập, bên nhượng quyền sẽ tiến hànhchuyển giao các quyền thương mại cho bên nhận quyền như “quyền tiến hành kinhdoanh hàng hóa, dịch vụ theo cách thức của bên nhượng quyền quy định, đi kèm với

Trang 7

doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo… của bên nhượng quyền” nhằm đảm bảotính đồng bộ cho toàn bộ hệ thống nhượng quyền Không giống với các phương thứcnhư chuyển giao công nghệ hoặc li – xăng, nhượng quyền thương mại mang những nétđặc trưng thể hiện ở mối quan hệ mật thiết giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền.Mặc dù giữa các bên hướng tới những mục đích khác nhau và hoạt động theo nhữngnguyên tắc khác nhau nhưng để đạt được mục đích mà các bên mong muốn thì cả haibên cần phải có sự hợp tác một cách lâu dài, liên tục và toàn diện Ngoài việc tuân thủtheo các quy định về bí quyết kinh doanh, tên thương mại, nhãn hiệu hàng hóa,… thìbên nhận quyền còn phải tuân thủ theo hệ thống và cách thức mà bên nhượng quyềnquy định để đảm bảo được tính thống nhất, toàn diện cho hệ thống nhượng quyền.Ngay từ đầu, bên nhượng quyền phải truyền đạt những mục tiêu, cách thức kinhdoanh, hình ảnh của hệ thống nhượng quyền cũng như con đường đạt được thành côngđó.

II Hình thức kinh doanh franchise

1 Theo hình thức hoạt động

Nhượng quyền phân phối sản phẩm (product distribution franchise):bên muakhông nhận được sự hỗ trợ đáng kể nào từ chủ thương hiệu ngoại trừ được phép sửdụng tên nhãn hiệu, thương hiệu, biểu tượng và khẩu hiệu và phân phối sản phẩm haydịch vụ của bên chủ thương hiệu trong một khu vực và thời gian nhất định Điều này

có nghĩa là bên mua sẽ quản lý cửa hàng của mình khá độc lập, ít bị ràng buộc bởinhững quy định từ phía chủ thương hiệu Mối quan hệ giữa hai bên là mối quan hệgiữa nhà cung cấp và nhà phân phối (trạm xăng dầu, đại lý bán ôtô, công ty sản xuấtnước giải khát)

Nhượng quyền sử dụng công thức kinh doanh (business format franchise): hợpđồng chuyển nhượng bao gồm quyền không chỉ cho phép bên nhận nhượng quyềnđược phân phối sản phẩm dưới thương hiệu của người nhượng quyền mà còn chuyểngiao kỹ thuật kinh doanh và công thức điều hành quản lý Các chuẩn mực mô hìnhkinh doanh phải tuyệt đối giữ đúng Mối quan hệ giữa hai bên mua – bán franchise làliên tục và chặt chẽ, đây là hình thức nhượng quyền phổ biến và hiệu quả hiện nay

Trang 8

Bên mua trả phí trọn gói hoặc hàng tháng cho bên bán dựa trên doanh số, tùy theo uytín của thương hiệu và hợp đồng giữa hai bên.

2 Theo hình thức phát triển hoạt động

Franchise độc quyền (Master franchise): Đây là hình thức nhượng quyền màchủ thương hiệu cấp phép cho người mua độc quyền kinh doanh thương hiệu của mìnhtrong một khu vực nhất định (thành phố, lãnh thổ, quốc gia…) trong một thời giannhất định Trong trường hợp này, người mua master franchise có thể nhượng lại chobên thứ ba dưới hình thức franchise phát triển khu vực (Area development franchise)hay franchise riêng lẻ (single-unit franchise) Lúc này, người mua master franchise sẽthay mặt cho chủ thương hiệu ký kết hợp đồng nhượng quyền với bên thứ ba và cungcấp các dịch vụ hỗ trợ thương hiệu trong khu vực mà họ được nhượng quyền Họ cũng

có thể tự mình mở các cửa hàng franchise trong khu vực mà họ đã được nhượng quyềnđộc quyền Chính vì thế, họ phải chịu phí franchise ban đầu khá lớn (lớn hơn phífranchise của các của hàng lẻ) Ngoài ra, phần phí franchise hàng tháng thu được từbên thứ ba sẽ được chia cho chủ thương hiệu và bên mua master franchise với tỷ lệthoả thuận, nhưng thường bên mua master franchise sẽ được chi nhiều hơn vì họ tựlàm tất cả các hoạt động nhằm tìm kiếm và phát triển người mua franchise tại khu vựccủa họ Đối với chủ thương hiệu, đây là hình thức nhanh nhất và phổ biến nhất để đưathương hiệu xâm nhập ra thị trường nước ngoài Với hình thức này, chủ thương hiệu đãchuyển hầu như toàn bộ gánh nặng về phát triểnthương hiệu ở khu vực đó cho bênmua master franchise

Franchise vùng (Regional franchise): Đây là hình thức franchise mà người muaregional franchise sẽ nhận nhượng quyền từ người chủ thương hiệu hoặc người muamaster franchise (đề cập ở trên) để bán lại cho các người mua franchise nhỏ lẻ (singl-unit franchise) trong vùng (region) mà mình mua Hình thức này giống như trung giancủa master franchise và single-unit franchise Điểm khác biệt của hình thức này vớihình thức master franchise là chỉ có thể nhượng quyền lại cho các single-unit franchisechứ không được mở các cửa hiệu kinhdoanh thương hiệu của mình

Trang 9

Franchise phát triển khu vực (Area development franchise): Đây cũng là mộthình thức trung gian của master franchise và single-unit franchise như hình thức trên(franchise vùng) Tuy nhiên, điểm khác biệt của hình thức này là người mua franchisekhu vực sẽ mua franchise từ chủ thương hiệu trong một khu vực nhất định, trong mộtkhoảng thời gian nhất định nhưng không được bán franchise cho các của hàng lẻ(single-unit franchise) Người mua loại hình franchise này sẽ phải cam kết mở baonhiêu của hàng franchise trong thời gian nhất định Nếu họ muốn bán franchise lại chobên thứ ba thì họ phải mua theo hình thức master franchise Đối với hình thức này,người mua franchise phải trả một khoản phí lớn để có thể độc quyền mở các của hiệunhượng quyền trong một khu vực và thời gian nhất định.

Franchise riêng lẻ (single-unit franchise): Đây là hình thức franchise phổ biếnnhất khi người mua franchise ký kết một hợp đồng mua franchise trực tiếp với ngườibán franchise Người bán này có thể là chủ thương hiệu hay đại lý độc quyền (masterfranchise) hoặc là đại lý franchise vùng (regional franchise) Người mua franchise lẻđược cấp quyền kinh doanh tại một địa điểm và thời gian nhất định bởi một hợp đồngnhượng quyền đổi lại họ sẽ phải trả một khoản phí cho bên bán franchise Sau thờigian này, hợp đồng có thể được gia hạn và người mua franchise phải trả thêm mộtkhoản phí Người mua franchise theo hình thức này không thể nhượng lại (sub-franchise) cho bên thứ ba hay tự ý mở thêm cửa hiệu kinh doanh cùng thương hiệu Vìthế, người mua nhượng quyền lẻ thường chỉ có thể mua được qua các master franchise(đối với thương hiệu nổi tiếng) hay các chủ thương hiệu nhỏ Hiện nay, hầu hết cácthương hiệu nổi tiếng vào Việt Nam như: KFC, Jolibee, Loterria, McDonald’s đềuthông qua con đường master franchise hay Area development franchise Người muafranchise của các thương hiệu này đều có tiềm lực tài chính rất mạnh để có thể chịu lỗ

ít nhất vài năm trong thời gian tạo dựng và tìm kiếm khách hàng của mình

III Những nhân tố cơ bản khi triển khai theo phương thức Franchise

1 Bản sắc thương hiệu

Bản sắc thương hiệu là giá trị cốt lõi và đặc trưng của thương hiệu, là dấu ấn

tồn tại trong tâm trí khách hàng một cách sâu đậm nhất và tạo nên khác biệt so với cácthương hiệu khác

Trang 10

2 Vị trí

Đối với các cửa hàng kinh doanh nhượng quyền, địa điểm là đòi hỏi khó khănnhất trong việc lựa chọn người được nhượng quyền Một doanh nghiệp có địa điểm tốtnghĩa là doanh nghiệp đó đãcó 50% cơ hội thành công

4 Chiến lược dài hạn

Một đại lí nhượng quyền cũng cần khoảng 2 đến 3 năm trước khi thấy được lợinhuận, và nếu không có kế hoạch đầy đủ thì bản thân doanh nghiệp đó sẽ bị nuốtchửng trước khi có cơ hội thành công

5 Quản lý con người

Khả năng quản lý con người rất cần thiết trong lĩnh vực kinh doanh nhượngquyền thương mại bởi nó đòi hỏi sự hợp tác và tin cậy lẫn nhau của các thành viêntham gia

IV Ưu và nhược điểm của Franchise

1 Ưu điểm

a Đối với bên nhượng quyền-Franchisor

Một là - tiết kiệm nguồn vốn Vốn luôn là một mối lo ngại lớn nhất khi muốn mở

rộng hoạt động kinh doanh Trong tình hình đa số các doanh nghiệp Việt Nam là doanhnghiệp vừa và nhỏ, nếu phân theo chỉ tiêu lao động thì có tới 80% doanh nghiệp sửdụng dưới 300 lao động, còn theo vốn thì có tới 90% dưới 5 tỷ thì nhượng quyềnthương mại là phương thức phù hợp nhất và mang lại hiệu quả cao Nhưng trong hệthống nhượng quyền thì người bỏ vốn ra để mở rộng hoạt động kinh doanh chính làbên nhận quyền Điều này có thể giúp cho bên nhượng quyền mở rộng hoạt động kinhdoanh bằng vốn của ngưới khác và giảm chí phí xâm nhập thị trường

Trang 11

Hai là - mở rộng hoạt động kinh doanh một cách nhanh chóng Hình thức

nhượng quyền thương mại sẽ giúp cho các doanh nghiệp mở rộng hoạt động kinhdoanh, xấy dựng sự hiện diện ở khắp mọi nơi một cách nhanh chóng với hàng trămcửa hàng ở trong và ngoài nước mà không một hình thức kính doanh nào có thể làmđược Ví dụ như Mc Donald’s, tính tới thời điểm cuối năm 2007,có tổng số 31000 nhàhàng tại 119 quốc gia, trong đó có tới 78% số cửa hàng là do nhượng quyền và chỉ có22% là cửa hàng do công ty lập nên

Ba là - thúc đẩy việc quảng bá thương hiệu Việc mở rộng thương hiệu và sự xuất

hiện ở khắp mọi nơi sẽ đưa ra hình ảnh về sản phẩm đi sâu vào tâm trí khách hàng mộtcách dễ dàng hơn Bên cạnh đó vì chi phí quảng cáo sẽ được trải rộng cho rất nhiềucửa hàng, cho nên chi phí quảng cáo cho một đơn vị kinh doanh sẽ rất nhỏ Giúp chobên nhượng quyền xây dựng được một ngân sách quảng cáo lớn Đặc biệt tạo dựngđược hình ảnh của thương hiệu đối với khách hàng giúp cho bên nhượng quyền vànhận quyền ngày càng thu được nhiều lợi nhuận

Bốn là - tối đa hóa thu nhập Khi nhượng quyền, bên nhận quyền phải trả tiền

bản quyền thuê thương hiệu và tiền phí kinh doanh với tên và hệ thống của bênnhượng quyền, bên nhận quyền còn phải mua sản phẩm và nguyên liệu của bênnhượng quyền nhờ đó mà bên nhượng quyền có thể tối đa hóa được thu nhập củamình Chủ thương hiệu có thể nhận được các khoản tiền sau đấy từ việc bán franchise:

 Phí chuyển nhượng quyền ban đầu: phí này chỉ được tính một lần Đấy là khoảnphí hành chính, đào tạo, chuyển giao phương thức kinh doanh cho bên mua franchise

 Phí hàng tháng: là phí mà bên mua franchise phải trả cho việc duy trì nhãn hiệu,thương hiệu của bên bán franchise và dịch vụ hỗ trợ mang tích chất tiếp diễn liên tụcnhư việc huấn luyện nhân viên, tiếp thị, quảng bá, nghiên cứu….phí này có thể làkhoản phí cố định theo sự thỏa thuận của hai bên hoặc tính theo phần trăm trên doanh

số của bên mua franchise và thường dao động trung bình từ 3 - 6% tùy vào loại sảnphẩm mô hình và lĩnh vực kinh doanh còn ở Việt Nam từ 2 – 3% mức phí trên tổngdoanh thu của các franchisor Việt Nam : Trung Nguyên 2%, Phở 24 là 3%, Tapiocups

là 2%

Trang 12

 Tiền bán hàng nguyên liệu đặc thù: Nhiều chủ thương hiệu yêu cầu các đối tácmua franchise của mình phải mua một số nguyên liệu đặc thù do mình cung cấp, đểđảm bảo tính đồng bộ của sản phẩm và mang lại nguồn thu cho mình Ví dụ như McDonald’s cung cấp và bán cho các cửa hàng nhượng quyền của mình khoai tây chiên,pho mát, bánh táo….

Năm là - tận dụng nguồn nhân lực Bên nhận quyền sẽ là người bỏ vốn ra kinh

doanh điều này tạo động lực cho họ làm việc tốt hơn Vì khi bên nhận quyền họ là chủnên họ sẽ làm việc có trách nhiệm hơn Vì vậy bên nhượng quyền tận dụng đượcnguồn lực từ phía bên nhận quyền và đặc biệt bên nhận quyền có thể tiếp cận nhữngđịa điểm mà bên nhượng quyền không thể tiếp cận được và họ còn nắm vững thông tin

về địa phương hơn bên nhượng quyền

b Đối với bên nhận quyền-Franchisee

Một là giảm thiểu rủi ro Mục đích chủ yếu của nhượng quyền chính là giảm

thiểu rủi ro Việc mở cửa hàng, cở sở kinh doanh mới có rất nhiều rủi ro và tỉ lệ thấtbại cao do những người quản lý là những người mới bước vào nghề, không có kinhnghiệm và phải mất nhiều thời gian để học hỏi các đặc trưng của từng loại hình kinhdoanh Khi tham gia vào hệ thống nhượng quyền, bên nhận quyền sẽ được huấn luyện,đào tạo và truyền đạt các kinh nghiệm quản lý, bí quyết thành công của loại hình kinhdoanh đặc thù mà bên nhượng quyền đã tích lũy được từ những lần trải nghiệm trên thịtrường Bên nhận quyền không phải trải qua giai đoạn xây lắp và phát triển ban đầu,bên nhượng quyền sẽ hướng dẫn bên nhận quyền những nguyên tắc chung Theo kếtquả nghiên cứu thì 90% các công ty hoạt động theo mô hình nhượng quyền thươngmại tiêp tục hoạt động sau 10 năm trong khi 82% công ty độc lập phải đóng cửa, dưới5% công ty hoạt động theo mô hình nhượng quyền thương mại thất bại trong năm đầutiên so với tỷ lệ 38 ở các công ty độc lập

Hai là được sử dụng thương hiệu của bên nhượng quyền Muốn tồn tại trên thị

trường thì việc tạo dựng một thương hiệu nổi tiếng được khách hàng tin cậy và nhớđến là vấn đề cốt lõi của doanh nghiệp Thương hiệu hay uy tín của nhãn hiệu là bộmặt của công ty có vai trò quan trọng đối với khách hàng khi họ mua sản phẩm nào

Trang 13

Ba là -tận dụng các nguồn lực Bên nhận quyền chỉ tập trung vào việc điều hành

hoạt động kinh doanh, phần còn lại như xây dựng chiến lược tiếp thị, quy trình vậnhành chiến lược kinh doanh sẽ do bên nhượng quyền đảm trách và chuyển giao

Bốn là được mua nguyên liệu, sản phẩm với giá ưu đãi Bên nhượng quyền luôn

có những ưu đãi đặc biệt về cung cấp sản phẩm, nguyên liệu cho bên nhận quyền.Nâng cao sức cạnh tranh của bên nhận quyền trên thị trường Nếu thị trường có biếnđộng lớn như việc khan hiếm nguồn hàng thì bên nhượng quyền sẽ ưu tiên phân phốicho bên nhận quyền trước, giúp cho bên nhận quyền ổn định đầu vào mà bất cứ hìnhthức kinh doanh nào cũng không làm được

Năm là dễ vay tiền ngân hàng Do khả năng thành công cao nên các ngân hàng

thường tin tưởng cho các doanh nghiệp mua nhượng quyền vay tiền đầu tư Trên thực

tế thì chủ thương hiệu thường đứng vai trò cầu nối giúp người mua franchise mượntiền ngân hàng hoặc chính mình đứng ra cho vay, nhằm phát triển và nhân rộng môhình kinh doanh nhanh hơn Điều này chưa xảy ra tại Việt Nam do hình thức kinhdoanh chưa phổ biến và chủ trương cho vay đối với các doanh nghiệp nhỏ của hệthống ngân hàng còn nhiều giới hạn

2 Nhược điểm của Franchise

a Đối với bên nhượng quyền-Franchisor

 Mất quyền kiểm soát và quyền năng trong kinh doanh

 Sự tranh chấp của các cơ sở kinh doanh

 Thiên vị cho một bên nhận nhượng quyền nào đó

 Hoạt động không kém của một đơn vị sẽ ảnh hưởng đến uy tín thương hiệu…

b Đối với bên nhận quyền-Franchisee

 Không phải là thương hiệu riêng của mình

 Chia sẽ rủi ro kinh doanh của bên nhượng quyền

 Sự bùng nỗ của các đối thủ cạnh tranh trong cùng hệ thống

 Hoạt động kinh doanh theo khuôn khổ được qui định trước

 Không phát huy được khả năng sáng tạo trong kinh doanh

Trang 14

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG NHƯỢNG QUYỀN

THƯƠNG MẠI

I Thực trạng nhượng quyền thương mại trên thế giới

Nhượng quyền thương mại được thế giới nhìn nhận là khởi nguồn tại Mỹ nhưngthực tế đã hình thành trước đó tại Trung Quốc với hình thức có 2 – 3 điểm bán lẻ cùnghình thức tại một số địa điểm khác nhau cùng kinh doanh Năm 1840, các nhà sản xuấtbia của Đức cho phép một vài quán bia quyền bán sản phẩm của họ Năm 1851, lầnđầu tiên trên thế giới nhà sản xuất máy khâu Singer của Mỹ ký cho thực hiện hợp đồngnhượng quyền kinh doanh Singer đã ký hợp đồng nhượng quyền và trở thành ngườitiên phong trong việc thoả thuận hình thức nhượng quyền Năm 1880 bắt đầu nhượngquyền bán sản phẩm cho các đại lý độc quyền trong lĩnh vực xe hơi, dầu lửa, gas.Trong thời gian này, phạm vi hoạt động nhượng quyền chỉ là chuyển quyền phân phối

và bán sản phẩm của các nhà sản xuất Sau chiến tranh thế giới thứ 2, hình thức này đãthực sự phát triển rất mạnh mẽ Sự bùng nổ dân số sau chiến tranh đã kéo theo sự tăngvọt nhu cầu về các loại sản phẩm và dịch vụ và lúc này, nhượng quyền đã trở thành môhình kinh doanh thích hợp để phát triển nhanh chóng trong ngành công nghiệp thức ănnhanh và khách sạn Vào thập niên 60-70, nhượng quyền bùng nổ và phát triển mạnh ở

Mỹ, Anh và một số nước khác

Ngày nay, quá trình toàn cầu hóa trên thế giới diễn ra rất nhanh và mạnh trongtất cả các lĩnh vực Hình thức nhượng quyền càng phát huy vai trò của nó trên toàn thếgiới Theo các nghiên cứu mới nhất, cứ 12 phút lại có 1 hệ thống nhượng quyền mới rađời Ở Mỹ, 90% công ty kinh doanh theo hình thức nhượng quyền thương mại tiếp tụchoạt động sau 10 năm trong khi 82% công ty độc lập phải đóng cửa và cũng chỉ có 5%công ty theo hợp đồng thương hiệu thất bại trong năm đầu tiên so với 38% công ty độclập Điều đó cho thấy sự bùng nổ hình thức này trên thế giới là điều tất yếu

Một số kết quả thực sự ấn tượng của hệ thống này mang lại trên thế giới: Doanhthu từ hoạt động kinh doanh nhượng quyền trên toàn thế giới năm 2000 đạt 1.000 tỷUSD với khoảng 320.000 DN từ 75 ngành khác nhau Nếu so sánh với GDP của ViệtNam cùng năm thì hệ thống này gấp trên 28 lần và còn có dấu hiệu vượt hơn nữa trong

Ngày đăng: 25/10/2018, 21:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w