1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC HỌC SINH DÂN TỘC Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC

20 285 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 221,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chất lượng giáo dục vùng dân tộc thiểu số là yếu tố quan trọng không thể thiếu, đóng vai trò chủ đạo trong hoạt động chuyên môn của các nhà trường có đối tượng là học sinh dân tộc thiểu

Trang 1

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC

HỌC SINH DÂN TỘC Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh đại trà nói chung và chất

lượng giáo dục vùng dân tộc thiểu số nói riêng được xem là nhiệm vụ hàng đầu của

ngành Giáo dục

Chất lượng giáo dục vùng dân tộc thiểu số là yếu tố quan trọng không thể thiếu,

đóng vai trò chủ đạo trong hoạt động chuyên môn của các nhà trường có đối tượng là

học sinh dân tộc thiểu số Hiện nay, hầu hết các trường đều tập trung tăng cường chú

trọng nhiều về công tác nâng cao chất lượng dạy và học cho học sinh dân tộc thiểu số,

nhằm mục đích nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh, đưa chất lượng

học sinh ngày một nâng cao dần theo tình hình đổi mới của đất nước hiện nay, đáp ứng

yêu cầu phát triển kinh tế xã hội Trong hệ thống giáo dục quốc dân, thì bậc tiểu học là

bậc nền tảng, nó có ý nghĩa vô cùng quan trọng là bước đầu hình thành nhân cách con

người cũng là bậc học giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển

đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản để học

sinh tiếp tục học Trung học cơ sở Để đạt được mục tiêu trên đòi hỏi người quản lý phải

biết vận dụng sáng tạo các biện pháp một cách sáng tạo, người dạy học phải có kiến thức

sâu và sự hiểu biết nhất định về nội dung chương trình sách giáo khoa, có khả năng hiểu

được về tâm sinh lí của học sinh, về nhu cầu và khả năng của các em Đồng thời, người

dạy có khả năng sử dụng một cách linh hoạt các phương pháp và hình thức tổ chức dạy

học phù hợp với đối tượng học sinh, đặc biệt là học sinh dân tộc thiểu số Là một cán bộ

quản lý phụ trách chuyên môn, tôi nhận thấy đây là một nhiệm vụ trọng tâm trong nhà

trường Làm thế nào để đẩy mạnh sự phát triển giáo dục nói chung và nâng cao chất

lượng dạy học trong nhà trường nói riêng, đặc biệt là công tác nâng cao chất lượng giáo

dục dân tộc Hiện nay chủ trương của ngành là dạy học theo nhận thức của đối tượng

học sinh, học sinh biết đến đâu giáo viên dạy đến đó, đồng thời đổi mới kiểm tra, đánh

giá kết quả học tập và rèn luyện của học sinh: Coi trọng sự tiến bộ của học sinh trong

Trang 2

học tập và rèn luyện, động viên khuyến khích học sinh rèn kỹ năng sống, kỹ năng giao

tiếp, hợp tác và kỹ năng sáng tạo, không gây áp lực cho học sinh khi đánh giá Tạo điều

kiện và cơ hội cho tất cả học sinh hoàn thành chương trình và có mảng kiến thức dành

riêng cho đối tượng học sinh khá - giỏi để nâng cao

Giao quyền tự chủ cho giáo viên trong quá trình giảng dạy, căn cứ vào mức độ nhận

thức của học sinh về đạo đức, học tập và rèn luyện để thiết kế, tổ chức hoạt động dạy

học sao cho đạt hiệu quả Song vẫn còn không ít giáo viên bị ảnh hưởng nặng nề bởi

phương pháp dạy học truyền thống, không hiểu rằng việc đổi mới phương pháp dạy học

tức là dùng phương pháp dạy học mới một cách hợp lí để tạo cho người học lòng say mê

học tập, ham hiểu biết, óc tò mò để có khả năng và phương pháp học tập nhằm nâng cao

hiệu quả giáo dục vùng dân tộc thiểu số phù hợp với bối cảnh của xã hội mà vẫn giữ

được sự ổn định trong hoạt động dạy học Đổi mới không có nghĩa là phủ nhận hoàn

toàn cái hiện hành mà phải thừa kế sự phát huy những thành tựu đã đạt được Đồng thời

tạo ra được sự phối hợp chặt chẽ giữa phương pháp dạy học truyền thống và phương

pháp hiện đại

Trong những năm vừa qua, mặc dù được Huyện ủy, HĐND, UBND, phòng Giáo

dục- Đào tạo huyện Kbang và địa phương quan tâm, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất

trường học, chăm lo đời sống của đội ngũ CBGVNV, hỗ trợ học sinh bằng những chính

sách thiết thực nhằm nâng cao chất lượng giáo dục Tuy nhiên, vì những khó khăn như

trình độ dân trí không đồng đều, điều kiện cơ sở vật chất của các trường vùng sâu, vùng

dân tộc thiểu số chưa đáp ứng được nhu cầu, đặc biệt là trình độ nhận thức, vốn tiếng

Việt của học sinh dân tộc thiểu số còn nhiều hạn chế nên chất lượng giáo dục còn rất

thấp Là một người làm công tác giảng dạy và quản lý ở trường có nhiều học sinh dân

tộc thiểu số hơn 20 năm, thấy được những khó khăn về đội ngũ giáo viên, trình độ nhận

thức của học sinh, sự quan tâm của phụ huynh đối với việc học tập của học sinh tôi cùng

với nhiều đồng nghiệp luôn trăn trở, làm thế nào để tìm ra những giải pháp phù hợp

nhằm nâng cao chất lượng giáo dục học sinh Sau nhiều năm nghiên cứa và đã chỉ đạo

cho tập thể giáo viên trường Tiểu học Bùi Thị Xuân (trong những năm trước) và trường

Trang 3

tiểu học Nguyễn Đình Chiểu (năm học 2016-2017) áp dụng thực hiện một số biện pháp

cụ thể trong công tác dạy và học cho đối tượng học sinh dân tộc, nên chất lượng giáo

dục đã được nâng lên rõ rệt Với tầm quan trọng và cần thiết của việc nâng cao chất

lượng Giáo dục học sinh dân tộc thiểu số nói chung và học sinh dân tộc thiểu số trường

Tiểu học Nguyễn Đình Chiểu nói riêng, bản thân tôi đã chọn đề tài sáng kiến kinh

nghiệm: “ Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh dân

tộc thiểu số tại trường tiểu học Nguyễn Đình Chiểu, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai.” để

góp một phần nhỏ bé của mình vào việc nâng cao chất lượng giáo dục học sinh dân tộc

trong nhà trường nói riêng và học sinh dân tộc trong huyện nói chung để từng bước nâng

cao chất lượng giáo dục đáp yêu cầu công cuộc đổi mới hiện nay

PHẦN THỨ II: NỘI DUNG

I Cơ sở lý luận

Từ nhiều năm nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành

tham mưu để Đảng và Nhà nước ban hành nhiều chính sách hỗ trợ ở vùng miền núi,

vùng đồng bào dân tộc và chỉ đạo các địa phương thực hiện nhằm góp phần nâng cao

chất lượng giáo dục như: Đề án Kiên cố hóa trường, lớp học và nhà công vụ cho giáo

viên giai đoạn 2008-2012, Đề án Củng cố và phát triển hệ thống trường phổ thông dân

tộc nội trú giai đoạn 2011-2015(Quyết định số 1640/QĐ-TTg ngày 20/9/2011 của Thủ

tướng Chính phủ; Nghị định số 82/2010/NĐ-CP ngày 15/7/2010 của Thủ tướng Chính

phủ quy định việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số trong các cơ sở

giáo dục phổ thông và trung tâm giáo dục thường xuyên; Quyết định số 2123/QĐ-TTg

ngày 22/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Phát triển giáo dục đối với

các dân tộc rất ít người giai đoạn 2010-2015; Đề án “ Tăng cường tiếng Việt cho trẻ

Mầm non, học sinh Tiểu học vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016-2020, định hướng

đến năm 2025” trên địa bàn huyện Kbang

Trong những năm vừa qua, Giáo dục học sinh dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng

xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội gặp nhiều khó khăn đã và đang được Đảng, Nhà

nước và các địa phương quan tâm, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ

Trang 4

cho dạy và học Bộ Giáo dục - Đào tạo đã có rất nhiều thay đổi về khung thời gian,

chương trình, sách giáo khoa đối với học sinh dân tộc thiểu số như chương trình 100

tuần, chương trình 120 tuần, chương trình 165 tuần; tăng thời lượng môn tiếng Việt,

giảm tải chương trình sách giáo khoa; soạn thảo chương trình sách giáo khoa tiếng dân

tộc Dự án giáo dục cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn (PEDC) đã hỗ trợ xây dựng cơ

sở vật chất, mua sắm trang thiết bị, sách giáo khoa, sách hướng dẫn, tập huấn nâng cao

năng lực cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, tuyển chọn và bồi dưỡng, tập huấn kỹ

năng cho đội ngũ nhân viên hỗ trợ giáo viên là người dân tộc thiểu số trong quá trình

giảng dạy song chất lượng vẫn chưa được như mong muốn, hiệu quả giáo dục thấp, tỷ

lệ học sinh yếu kém, lưu ban, bỏ học vẫn còn cao thậm chí vẫn còn những học sinh

"ngồi sai lớp"

II ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH

Trường tiểu học Nguyễn Đình Chiểu thuộc xã Đông, cách trung tâm huyện

Kbang 3 km về phía đông nam Phía Bắc giáp thị trấn Kbang, phía nam giáp xã Kông

Bờ La, Kông Lơng Khơng, phía tây giáp xã Lơ Ku, phía Đông giáp xã Nghĩa An Là

một xã miền núi vừa phấn đấu thoát ra khỏi xã đặc biệt khó khăn vào năm 2008 Toàn

xã có 11 thôn (làng) Gồm có : 1.404 hộ với 5.885 nhân khẩu Trong đó hộ người Kinh

923 hộ, 3.814 khẩu; Hộ Bahnar: 395 hộ, 1.721 khẩu, chiếm 29,3%, dân tộc khác: 86 hộ,

350 khẩu; Tỷ lệ hộ nghèo của xã hiện nay là 13,5% Xã Đông có 5 dân tộc anh em cùng

chung sống đoàn kết và giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc

Năm học 2016 – 2017, tổng số CB- GV là 22 người, biên chế 11 lớp; được phân

công nhiệm vụ như sau: 2 cán bộ quản lý nhà trường ; 11 giáo viên trực tiếp giảng dạy

theo lớp được phân công ; 6 giáo viên dạy bộ môn cho các khối, lớp ; 1 giáo viên hợp

động ngắn hạn giảng dạy các môn đặc thù Tiếng Anh ; 01 giáo viên làm nhiệm vụ Kiêm

nhiệm TPT Đội TNTP&NĐ Hồ Chí Minh; 1 giáo viên kiêm nhiệm phụ trách thư viện

Tổng số lớp: 11 lớp với 282 học sinh trong đó học sinh dân tộc thiểu số là 120 em

chiếm tỷ lệ 42,6%

* Thuận lợi:

Trang 5

Đa số học sinh có phẩm chất đạo đức tốt, có ý thức thi đua học tập; số học sinh

giỏi cấp trường tăng dần, tạo đà đưa chất lượng của nhà trường ngày càng phát triển,

tăng thêm uy tín chất lượng của nhà trường

Toàn trường có tổng số 11 lớp, có 11/11 lớp học 2 buổi/ ngày ( trong đó có 8 lớp

học theo chương trình VNEN ) với 282 học sinh, trong đó học sinh dân tộc thiểu số là

120 em chiếm tỷ lệ 42,6%

Số lượng cán bộ, giáo viên phân công theo công việc đầy đủ, giáo viên trực tiếp

giảng dạy chủ yếu là người Kinh Chính quyền địa phương luôn tạo điều kiện và đóng

góp về cơ sở vật chất phục vụ cho việc dạy và học Đặc biệt là sự phối hợp nhịp nhàng

của đội ngũ giáo viên trong hội đồng sư phạm nhà trường và các đoàn thể với Ban giám

hiệu nhà trường đã tạo nên thuận lợi nhất định cho nhà trường nâng cao chất lượng giáo

dục

Giáo viên có nhiều cố gắng trong nghiên cứu học tập vận dụng đổi mới phương

pháp giảng dạy, đã có nhiều giáo viên áp dụng công nghệ thông tin vào công tác soạn

giảng và nghiên cứu bài dạy

* Những khó khăn tồn tại:

Chất lượng học tập của học sinh chưa cao, tỷ lệ học sinh khá giỏi còn thấp, học

sinh trung bình và yếu chiếm số lượng đáng kể, chất lượng học sinh mũi nhọn chưa tăng

mỗi năm Số học sinh người dân tộc Ba na chiếm 42,6% số học sinh toàn trường nên có

nhiều hạn chế trong hoạt động dạy học và chất lượng toàn trường

Đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên của nhà trường đa số có tuổi đời tương đối

lớn nên phần nào hạn chế đến chuyên môn và tay nghề, do đó ít nhiều ảnh hưởng đến

chất lượng giảng dạy

Một số ít giáo viên khi giảng bài cho học sinh chưa xác định đầy đủ nội dung

trọng tâm cần nhấn mạnh, còn dàn trải, chưa phù hợp với đối tượng học sinh dẫn đến

hiệu quả tiết dạy chưa cao Một số giáo viên coi nhẹ giờ thực hành, ngại sử dụng thiết bị

dạy học, thiếu sự chuẩn bị chu đáo cho giờ lên lớp

Trang 6

Sự tiếp cận đổi mới phương pháp dạy theo dự án VNEN “Trường tiểu học mới”

của một số giáo viên còn nhiều hạn chế, học sinh học theo phương pháp mới còn nhiều

bỡ ngỡ (nhất là học sinh khối lớp 2 và học sinh người dân tộc Bahnar), các em chưa chủ

động, mạnh dạn tìm ra kiến thức mới mà còn trông chờ vào giáo viên và các bạn nhóm

trưởng

Nhà trường được xây dựng từ năm 2004, cơ sở vật chất, trang thiết bị còn nhiều

thiếu thốn Tổng số phòng học là 19, có 5 phòng diện tích nhỏ không đủ ánh sáng theo

quy định, 04 phòng xuống cấp có nguy cơ sập đổ Số phòng học này chỉ đủ cho việc học

2 buổi/ ngày, các phòng chức năng không có.Vì điều kiện khó khăn nên nhà trường

không có phòng nào tận dụng để tách dạy những học sinh yếu, do vậy việc phụ đạo học

sinh yếu kém, học sinh “ngồi sai lớp” và tăng cường tiếng Việt cho các em rất khó khăn

Thật sự trường gần trung tâm huyện nhưng phần lớn học sinh là con em người dân

tộc Bahnar, các em ở xa trường chính nhưng không có xe đạp để đến trường, học sinh

đến trường men theo các lối đường tắt, đường liên thôn, một số em thì đi theo đường

tỉnh lộ 669 và hầu hết là đi bộ Hiện nay nhà trường hoạt động duy nhất một địa điểm tại

khu vực chính, trường không còn điểm trường lẻ, chính vì vậy việc đi học của các em

còn nhiều vất vả, khó khăn

Ý thức của cộng đồng tham gia vào công tác giáo dục học sinh chưa cao

*Thực trạng về chất lượng dạy và học của học sinh dân tộc trường Tiểu học

Nguyễn Đình Chiểu

Năm học 2016-2017 nhà trường có 11 lớp; 22 cán bộ, giáo viên, nhân viên; 282 học

sinh trong đó học sinh dân tộc thiểu số là 120 em chiếm tỷ lệ 42,6% (trong đó 03 làng

có 100 % là học sinh dân tộc thiểu số cách xa trường) Chất lượng giáo dục hàng năm

còn rất thấp Trước đây, tỷ lệ học sinh lưu ban hàng năm trên 20%; Tuy không có học

sinh bỏ học nhưng tình trạng học sinh đi học không chuyên cần vẫn còn nhiều

Trong những năm học vừa qua, nhà trường đã cố gắng tìm nhiều giải pháp để nâng

cao chất lượng giáo dục như đổi mới phương pháp dạy học; tăng thời lượng một số môn

Trang 7

học cơ bản như Toán, tiếng Việt; tăng cường phụ đạo học sinh yếu; tổ chức các hình

thức học tập như học theo nhóm, đôi bạn cùng tiến, nhiều tiết học kéo dài 50 đến 60

phút thậm chí 70 phút nhưng chất lượng vẫn chưa được như mong muốn vì rất nhiều

nguyên nhân trong đó vốn tiếng Việt của học sinh còn rất hạn chế Học sinh sau khi lên

lớp lại có tình trạng đọc chưa thông, viết chưa thạo "ngồi sai lớp", tỷ lệ lưu ban sau mỗi

năm học vẫn còn cao, nhiều học sinh không ham học vì học lực yếu, kém Xảy ra tình

trạng này là do các em còn ít vốn tiếng Việt nên các em tiếp thu kiến thức một cách thụ

động (học vẹt) nên rất dễ quên, nhớ chưa bền vững Nên trong thời gian nghỉ hè các em

đã quên khá nhiều kiến thức trong đó đặc biệt quan trọng là quên việc đọc, viết và làm

toán dẫn đến tình trạng nhiều học sinh yếu kém đầu năm học còn cao, giáo viên phải rèn

và kèm cặp hơn 1 tháng học sinh mới ổn định lại

Qua khảo sát đầu vào lớp 1 các năm học vừa qua, tỷ lệ học sinh có thể hỏi, trả lời và

hiểu được những yêu cầu của giáo viên chỉ chiếm 20- 35 % Các em chỉ nghe và hiểu

được những câu lệnh đơn giản như "trật tự", "ra chơi", "vào lớp", "ra về"

Việc giảng dạy của một số giáo viên còn mang tính áp đặt, khô khan, do giáo viên

“tham” và sợ nên cố truyền đạt hết những kiến thức có trong sách giáo khoa mà không

giành thời gian để tạo ra sự hứng thú cho học sinh trong học tập, đây là một hạn chế rất

lớn trong quá trình tiếp thu kiến thức của học sinh đặc biệt là đối với học sinh là người

dân tộc thiểu số Vì vậy chất lượng giáo dục rất thấp, học sinh lười học nhiều do các em

không tìm thấy niềm vui khi đến lớp

Bên cạnh đó, trình độ dân trí vẫn còn thấp, các gia đình chưa thực sự quan tâm đến

việc học tập của con em Nhiều em học sinh vì hoàn cảnh gia đình khó khăn nên thường

xuyên phải nghỉ học để ở nhà giúp đỡ gia đình như giữ em, chăn bò, làm nương rẫy

Khi vào thăm, khảo sát thực tế ở các gia đình thì hầu hết các gia đình là người dân tộc

thiểu số không có bàn ghế, không có góc học tập để các em học ở nhà và hầu hết các gia

đình không quan tâm con em mình học hành ở lớp ra sao, về nhà phải học như thế nào,

nên không sắp xếp thời gian biểu cũng nhưng tạo điều kiện cho các em học tập

PHẦN THỨ BA

Trang 8

MỘT SỐ GIẢI PHÁP TRONG CÔNG TÁC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO

DỤC CHO HỌC SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ

1 Biện pháp thứ nhất: Công tác xây dựng lập kế hoạch năm học

- Vào đầu năm học, BGH lập kế hoạch cụ thể hoạt động dạy và học, xây dựng chỉ

tiêu chất lượng của nhà trường trong năm học Chỉ đạo khối trưởng, giáo viên chủ nhiệm

phối hợp với giáo viên bộ môn xây dựng kế hoạch dạy học, nội dung cần điều chỉnh, kế

hoạch chủ nhiệm của lớp, tổ chuyên môn, cá nhân trong từng tuần, từng tháng, từng kỳ;

phát hiện điều chỉnh kịp thời những thiếu sót trong quá trình dạy - học

- Với điều kiện địa bàn có nhiều thôn làng xa trường, nên ngay từ đầu mỗi năm học

BGH phối hợp với Công đoàn, tổng phụ trách Đội, họp thống nhất xây dựng kế hoạch,

phân công nhiệm vụ cho từng đảng viên phụ trách các điểm làng để nắm bắt, tuyên

truyền học sinh ra lớp đầy đủ, duy trì sĩ số

- Căn cứ kế hoạch nhiệm vụ năm học và năng lực từng giáo viên BGH họp thống

nhất phân công, sắp xếp nhiệm vụ công việc một cách phù hợp

2 Biện pháp thứ hai: Công tác tham mưu với các cấp chính quyền địa phương

Thường xuyên tham mưu các cấp lãnh đạo quan tâm hỗ trợ kinh phí đầu tư mua

sắm trang thiết bị dạy - học Trong thời gian chờ đợi cấp trên xem xét phê duyệt, đầu

mỗi năm học nhà trường phối hợp cán bộ thư viện kiểm kê trang thiết bị dạy học xem

thiếu, đủ và xây dựng kế hoạch làm đồ dùng dạy học theo từng khối lớp để khắc phục

tạm thời cho các bài học còn thiếu đồ dùng

3 Biện pháp thứ ba: Phân công chuyên môn và biên chế lớp hợp lý

Phân công chuyên môn một cách hợp lý là điều kiện thuận lợi giúp cho việc nâng cao

chất lượng Vì vậy ngay từ đầu năm học, Ban giám hiệu đã giành rất nhiều thời gian để

thảo luận, nghiên cứu và thống nhất việc phân công chuyên môn sau khi các bộ phận đã

đưa ra thực trạng về đội ngũ giáo viên Xác định đội ngũ giáo viên được phân công dạy

lớp Một là quan trọng nhất (đặc biệt là lớp một có 100% là học sinh dân tộc Bana) Đội

ngũ giáo viên này ngoài năng lực chuyên môn vững vàng, chữ viết đẹp thì phải khéo léo,

nhiệt tình, tâm huyết và có năng khiếu và kinh nghiệm trong dạy lớp Một Những giáo

Trang 9

viên dạy các lớp Năm cần có năng lực chuyên môn vững vàng Những giáo viên còn lại

sẽ được phân công theo năng lực, sở trường, điều kiện, hoàn cảnh…

Động viên , tuyên truyền 100% học sinh dân tộc về học tại trường chính, 100%

học sinh học 2 buổi/ngày để các em có cơ hội giao tiếp với các học sinh người kinh

nhằm giúp cho các em tự tin, mạnh dạn, từ đó nâng cao chất lượng toàn diện

Biên chế lớp: Là một trường có 42,6% học sinh người dân tộc bana, mấy năm

trước nhà trường đã chia đều các em dân tộc học chung cùng với các em người kinh

nhưng kết quả đạt rất thấp Vì trình độ tiếp thu của các em không đồng đều ( các em dân

tộc tiếp thu chậm, nhút nhát), lớp đông học sinh nên giáo viên không thể kèm cặp tốt

cho các em dân tộc Vì vậy, trong hai năm lại đây, nhà trường đã mạnh dạn tách riêng

các em học sinh người Bana vào một lớp, các em người Kinh vào một lớp để dạy theo

đối tượng, nên chất lượng đã tăng lên rõ rêt, học sinh đọc thông, viết thạo ngày một

tăng, kỹ năng giao tiếp của các em cũng tiến bộ nhiều

4 Biện pháp thứ tư: Bồi dưỡng đội ngũ giáo viên

4.1 Nâng cao tinh thần trách nhiệm trong đội ngũ giáo viên

Như chúng ta biết: “Muốn nâng cao chất lượng giáo dục thì trước hết phải quan

tâm đến chất lượng đội ngũ” Vì vậy, việc bồi dưỡng, nâng cao ý thức, nâng cao năng

lực của đội ngũ giáo viên là điều vô cùng quan trọng và đồng thời để tiếp tục thực hiện

tốt cuộc vận động “Mỗi thầy, cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”

Dạy đối tượng học sinh là người dân tộc thiểu số ngoài năng lực chuyên môn thì đội

ngũ giáo viên còn phải quan tâm đến việc tinh thần trách nhiệm, sự tâm huyết, cống

hiến, tự giác, tận tụy đối với công tác giảng dạy Sự tâm huyết đó được thể hiện bằng

việc khắc phục những khó khăn của cuộc sống đời thường, điều kiện khó khăn của Nhà

trường, giành thời gian hợp lý để phụ đạo, kèm cặp học sinh yếu, tìm tòi, sáng tạo, học

hỏi những kinh nghiệm trong giảng dạy, tìm những giải pháp hay, thiết thực và hiệu quả

để nâng cao chất lượng từng tiết dạy; biết quý thời gian trên lớp để truyền thụ kiến thức

cho học sinh, giành thời gian ngoài giờ lên lớp để tổ chức các hoạt động vui chơi giúp

Trang 10

học sinh hứng thú đến lớp; xuống gia đình học sinh tìm hiểu về điều kiện gia đình,

hướng dẫn học ở nhà…

4.2 Nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ đội ngũ giáo viên

Nhà trường có đội ngũ giáo viên hầu hết đều đạt chuẩn và trên chuẩn Việc học

nâng chuẩn hay phục vụ cho việc giảng dạy của giáo viên (như học tiếng Bana) được

nhà trường hết sức quan tâm và tạo điều kiện để các đồng chí yên tâm học tập, thi cử

Những đồng chí đi học được Nhà trường miễn giảm một số hoạt động trong hè, sinh

hoạt trong những ngày thứ 7, chủ nhật để các đồng chí học tập Vì vậy những đồng chí

tham gia học tập nâng cao đều có kết quả cao trong các kỳ thi

Việc nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ giáo viên còn được Nhà trường

quan tâm bằng cách thường xuyên tổ chức hội giảng, dự giờ, thăm lớp, sinh hoạt chuyên

đề trao đổi, học hỏi kinh nghiệm ở các khối lớp; tham dự các kỳ thi giáo viên dạy giỏi

và năm nào nhà trường cũng có nhiều giáo viên được công nhận giáo viên dạy giỏi cấp

trường

Ngoài ra, Nhà trường hết sức quan tâm đến sinh hoạt chuyên đề, sinh hoạt cụm

chuyên môn (5 trường tham gia dự án VNEN) nhằm thống nhất, học hỏi kinh nghiệm

lẫn nhau Rất nhiều vấn đề liên quan đến công tác chuyên môn như làm thế nào để nâng

cao chất lượng giáo dục học sinh dân tộc thiểu số, ứng dụng công nghệ thông tin vào

giảng dạy đối với học sinh dân tộc, giải pháp giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học, dạy

tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số hiệu quả, tăng cường tiếng Việt, tăng thời lượng

môn tiếng Việt lớp Một… được Nhà trường đưa ra tại các kỳ sinh hoạt chuyên đề để cán

bộ, giáo viên các trường thảo luận, tìm ra giải pháp tối ưu về áp dụng ở các trường Qua

những buổi sinh hoạt như vậy giúp đội ngũ cán bộ, giáo viên tích lũy cho mình những

kinh nghiệm quản lý cũng như phương pháp dạy học quý giá

Xây dựng kế hoạch và tổ chức tốt công tác bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên

theo kế hoạch của Ngành đề ra

5 Biện pháp thứ năm: Thực hiện nghiêm túc việc bàn giao và khoán chất lượng

Ngày đăng: 25/10/2018, 20:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w