b/ Đặc điểm của Bệnh viện công lập: Các bệnh viện công cũng mang những đặc điểm chung của các đơn vị sự nghiệp y tế công lập, ngoài ra do tính đặc thù của hoạt động chuyên môn, các viện
Trang 1TRẦN XUÂN THƯỜNG
TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH
TẠI BỆNH VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y KHOA -
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 2TRẦN XUÂN THƯỜNG
TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH
TẠI BỆNH VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y KHOA -
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN Ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ
Mã số: 8.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Yến
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
Nội dung bản luận văn là kết quả nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi
Số liệu và kết quả nghiên cứu trong bản luận văn này là hoàn toàn trung thực
và chưa được sử dụng hoặc công bố trong bất kỳ công trình nào
Mọi sự giúp đỡ để hoàn thành bản luận văn đều đã được cảm ơn và trích dẫn nguồn gốc rõ ràng
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2018
Tác giả luận văn
Trần Xuân Thường
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian học tập và nghiên cứu tại Nhà trường, cho phép tôi gửi lời cảm ơn trân trọng đến Ban Giám hiệu Trường Đại học Kinh tế & Quản trị kinh doanh, Phòng Quản lý đào tạo sau đại học, cảm ơn các thầy giáo, cô giáo, các cán bộ viên chức của Nhà trường đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành bản luận văn này
Tôi cũng bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Thị Yến, người đã tận tình chỉ bảo giúp đỡ tôi có được định hướng đúng đắn trong quá trình nghiên cứu
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban lãnh đạo, đội ngũ y bác sĩ
và nhân viên Bệnh viện trường Đại học Y Khoa - Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện cho tôi được tiếp cận và nghiên cứu thực tế về đề tài nghiên cứu, chia sẻ với tôi những ý kiến hay và kinh nghiệm quý báu Sự giúp đỡ của tập thể Bệnh viện đã là một động lực to lớn giúp tôi hoàn thành bản luận văn
Do còn những giới hạn về tài liệu và thời gian nghiên cứu, bản luận văn không tránh khỏi còn có những khiếm khuyết, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy, cô và từ phía Bệnh viện, để bản luận văn này được hoàn chỉnh hơn
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 20 tháng 5 năm 2018
Học viên
Trần Xuân Thường
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 3
4 Những đóng góp của luận văn 3
5 Kết cấu luận văn 4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÁC BỆNH VIỆN CÔNG LẬP 5
1.1 Cơ sở lý luận về quản lý tài chính tại bệnh viện công lập 5
1.1.1 Đơn vị sự nghiệp y tế công lập và bệnh viện công lập 5
1.1.2 Quản lý tài chính trong các bệnh viện công lập 8
1.1.3 Cơ chế tự chủ tài chính đối với các bệnh viện công lập đảm bảo một phần kinh phí hoạt động thường xuyên 12
1.1.4 Nội dung quản lý tài chính trong các bệnh viện công lập áp dụng cơ chế tự chủ về tài chính 19
1.1.5 Cơ sở lý thuyết về đánh giá công tác quản lý tài chính 22
1.1.6 Những nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý tài chính của bệnh viện công lập 23
1.2 Kinh nghiệm quản lý tài chính ở một số bệnh viện thực hiện cơ chế tự chủ và bài học cho Bệnh viện trường ĐH Y Khoa 25
1.2.1 Kinh nghiệm về tự chủ tài chính tại các bệnh viện 25
Trang 61.2.2 Bài học rút ra từ việc thực hiện cơ chế tự chủ về tài chính tại các
bệnh viện công lập 27
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 30
2.2 Phương pháp nghiên cứu 30
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 30
2.2.2 Phương pháp tổng hợp thông tin 31
2.2.3 Phương pháp phân tích thông tin 31
2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 33
2.3.1 Các chỉ tiêu về thu tài chính 33
2.3.2 Các chỉ tiêu về chi hoạt động thường xuyên: 33
2.3.3 Các chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng các nguồn kinh phí 34
Chương 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI BỆNH VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y KHOA - ĐHTN 35
3.1 Khái quát chung về Bệnh viện trường đại học y khoa - ĐHTN 35
3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 35
3.1.2 Chức năng, nhiệm vụ 36
3.1.3 Hệ thống và cơ cấu tổ chức của Bệnh viện: 37
3.1.4 Kết quả thực hiện công tác chuyên môn giai đoạn 2015-2017 41
3.2 Công tác quản lý tài chính tại Bệnh viện trường ĐH Y khoa: 42
3.2.2 Thực trạng công tác quản lý nguồn thu của Bện viện trường ĐH Y Khoa 45
3.2.3 Thực trạng công tác quản lý chi thường xuyên 51
3.2.4 Công tác quyết toán và kiểm tra tài chính 64
3.2.5 Thực hiện quy định về công khai tài chính 65
3.2.6 Kết quả thực hiện cơ chế tự chủ về tài chính 65
3.2.7 Tổ chức bộ máy quản lý tài chính tại Bệnh viện Trường ĐH Y Khoa - ĐHTN 66
3.2.8 Những nhân tố ánh hưởng đến công tác quản lý tài chính tại Bệnh viện Trường ĐH Y Khoa - ĐHTN 67
Trang 73.3 Đánh giá chung về quản lý tài chính tại Bệnh viện Trường ĐH Y
Khoa - ĐHTN 71
3.3.1 Những kết quả đạt được trong quản lý tài chính tại Bệnh viện trường ĐH Y Khoa - ĐHTN 71
3.3.2 Những tồn tại, hạn chế trong quản lý tài chính tại Bệnh viện trường ĐH Y Khoa - ĐHTN 72
3.3.3 Nguyên nhân của tồn tại, hạn chế trong quản lý tài chính tại Bệnh viện trường ĐH Y Khoa - ĐHTN 73
Chương 4: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI BỆNH VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y KHOA - ĐHTN 75
4.1 Quan điểm, định hướng, mục tiêu quản lý tài chính tại Bệnh viện trường ĐH Y Khoa - ĐHTN 75
4.1.1 Quan điểm chung đối với nghành y tế 75
4.1.2 Quan điểm của Bệnh viện Trường Đại học Y Khoa 75
4.1.3 Định hướng công tác quản lý tài chính 76
4.1.4 Mục tiêu công tác quản lý tài chính 77
4.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại Bệnh viện trường ĐH Y Khoa 77
4.2.1 Giải pháp về cơ chế 77
4.2.2 Giải pháp về tổ chức: 78
4.2.3 Giải pháp về quản lý tài chính 78
4.3 Một số kiến nghị trong quản lý tài chính tại Bệnh viện trường ĐH Y Khoa - ĐHTN 80
4.3.1 Kiến nghị về việc xây dựng các văn bản cụ thể hóa chính sách tự chủ về tài chính 80
4.3.2 Kiến nghị về tổ chức bộ máy quản lý tài chính 81
4.3.3 Kiến nghị về công tác quản lý tài chính 81
KẾT LUẬN 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
PHỤ LỤC 86
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT STT Chữ viết tắt Diễn giải nôi dung
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Tổng hợp nhân lực theo chức danh chuyên môn 40
Bảng 3.2 Bảng tổng hợp kết quả phục vụ đào tạo 41
Bảng 3.3 Bảng tổng hợp kết quả hoạt động chuyên môn 41
Bảng 3.4 Bảng tổng hợp tình hình thực hiện dự toán 43
Bảng 3.5 Bảng tổng hợp nguồn thu của bệnh viện giai đoạn 2015-2017 45
Bảng 3.6 Tình hình sử dụng ngân sách nhà nước giai đoạn 2015-2017 52
Bảng 3.7 Tình hình chi hoạt động thường xuyên giai đoạn 2015-2017 61
Bảng 3.8 Tổng hợp số liệu một số chỉ tiêu thu - chi giai đoạn 2015 - 2017 62
Bảng 3.9 Dữ liệu nhân lực phòng kế toán tài chính 67
Trang 10DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 3.1 Sơ đồ tổ chức của Bệnh viện trường Đại học Y Khoa 37 Biểu đồ 3.1 Nguồn kinh phí thường xuyên của bệnh viện 47 Biểu đồ 3.2 Biểu đồ biến động nguồn kinh phí giai đoạn 2015 - 2017 49 Biểu đồ 3.3 Biểu đồ cơ cấu nguồn thu sự nghiệp của Bệnh viện từ
2015 - 2017 50 Biểu đồ 3.4 Biểu đồ tỷ trọng nguồn thu sự nghiệp của bệnh viện từ
2015 - 2017 50 Biểu đồ 3.5 Biểu đồ biến động chi phí hoạt động thường xuyên giai
đoạn 2015 - 2017 61 Biểu đồ 3.6 Biểu đồ biến động tỷ trọng chi phí sử dụng thuốcgiai đoạn
2015 - 2017 63 Biểu đồ 3.7 Cơ cấu giá dịch vụ y tế trước thời điểm tháng 7/2016 68 Biểu đồ 3.8 Cơ cấu giá dịch vụ y tế từ thời điểmtháng 7 năm 2016
đến nay 69
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thời gian qua, Chính phủ đã có nhiều chính sách để cải cách nền hành chính quốc gia nhằm giải phóng tiềm năng to lớn trong hệ thống các đơn vị sự nghiệp công lập, đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động khu vực cung cấp dịch vụ công Trong đó: cơ chế trao quyền tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp là một chủ trương lớn, được đánh giá là đã làm thay đổi về chất hoạt động của các đơn vị sự nghiệp, tạo ra hiệu ứng tích cực đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Sẽ là không đầy đủ, nếu phân tích sự vận hành của cơ chế này mà không đặt nó vào mối quan hệ hữu cơ với các chính sách khác, đó là: khuyến khích
xã hội hóa và chuyển từ giá phí sang giá dịch vụ đối với hoạt động cung cấp dịch vụ công Sự đa dạng của nhu cầu xã hội đòi hỏi phải có sự thay đổi: Nhà nước chuyển giao một phần việc thực hiện các dịch vụ công cho các thành phần kinh tế khác đảm nhận, nếu sự chuyển giao đó đem lại hiệu quả trên bình diện xã hội Chính phủ sẽ không còn đóng vai trò là chủ thể độc quyền cung cấp dịch vụ công nữa, mà sẽ tập trung vào chức năng quản lý xã hội và kiến tạo điều kiện phát triển NSNN cấp cho các đơn vị sự nghiệp công lập sẽ giảm xuống, NSNN giành cho việc hỗ trợ nhóm dân cư dễ bị tổn thương có
cơ hội sử dụng dịch vụ công sẽ được tăng lên Đây là một quá trình tái cơ cấu nguồn lực tài chính để đạt được mục tiêu an sinh xã hội là sẽ không có ai phải
ở lại phía sau khi khi đất nước đi lên
Y tế là một trong những ngành sớm thực hiện chủ trương này Ngoài Nghị định 43/2006/NĐ-CP quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các đơn vị sự nghiệp công lập; Chính phủ đã có Nghị định số 69/2008/NĐ-CP, quy định về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường; Nghị định số 85/2012/NĐ-CP trong đó quy định lộ trình từ 2013 đến
2018 tính đủ chi phí vào giá dịch vụ y tế Trước đây, các bệnh viện công lập thực hiện công tác chuyên môn theo kế hoạch Nhà nước giao, NSNN sẽ cấp
Trang 12bù cho số kinh phí còn thiếu do giá dịch vụ y tế chưa tính đủ chi phí Sự bao cấp này đã làm nảy sinh tâm lý ỷ lại, “xin-cho”, làm ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ y tế Với cơ chế mới, tính tự chủ của cơ sở được tăng lên nhưng kinh phí từ NSNN sẽ đi đến chỗ không còn nữa Tạo ra sự thay đổi trong tư duy quản lý vốn đã quen với sự bao cấp từ phía Nhà nước là rất khó khăn, nhưng không có sự lựa chọn nào khác, nếu các bệnh viện muốn khẳng định sự tồn tại và phát triển của mình Những chuyển biến mau lẹ về yêu cầu của xã hội, đặt ra cho các đơn vị sự nghiệp y tế công lập một vấn đề cấp bách, đó là phải có sự thay đổi về chất công tác quản lý nói chung và công tác quản lý tài chính nói riêng
Bệnh viện Trường Đại học Y Khoa là một đơn vị thành viên của Đại học Thái Nguyên, là bệnh viện thực hành của trường Đại học Y Dược Thái Nguyên - một trong những cái nôi đào tạo nhân lực ngành y tế của các tỉnh phía bắc Bệnh viện ra đời gánh vác sứ mệnh nâng cao chất lượng đào tạo của Nhà trường, đồng thời góp phần đưa Đại học Thái Nguyên trở thành trung tâm đào tạo, nghiên cứu và chuyển giao kỹ thuật công nghệ đa nghành nghề, đa lĩnh vực Công tác quản lý tài chính là một trong những công cụ hữu hiệu giúp cho Bệnh viện đạt được mục tiêu phát triển và hoàn
thành sứ mệnh của mình Đó là lý do tác giả lựa chọn đề tài: “Tăng cường quản lý tài chính tại Bệnh viện trường ĐH Y Khoa - Đại học Thái Nguyên”
để nghiên cứu, với mong muốn cung cấp một cách tiếp cận mới với thực tế và đưa ra những giải pháp hữu ích, đáp ứng yêu cầu của giai đoạn hiện nay
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu công tác quản lý tài chính tại Bệnh viện trường Đại học Y Khoa - Đại học Thái Nguyên, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý tài chính tại đơn vị
Trang 132.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý tài chính
và lộ trình giao quyền tự chủ về tài chính đối với các bệnh viện công lập;
- Nghiên cứu thực trạng công tác quản lý tài chính tại Bệnh viện trường Đại học y khoa - ĐHTN và các công cụ tài chính, các giải pháp đơn vị đã sử dụng nhằm mục đích quản lý tài chính Bệnh viện, đánh giá ưu nhược điểm của từng công cụ, giải pháp
- Đưa ra những khuyến nghị phù hợp nhằm cải thiện tính hiệu quả trong công tác quản lý tài chính tại Bệnh viện
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của bản luận văn là công tác quản lý tài chính, kết quả tài chính của Bệnh viện cùng các yếu tố có tác động liên quan;
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
3.2.1 Phạm vi về nội dung: Số liệu tài chính kế toán của Bệnh viện và các lĩnh
vực có liên quan Các văn bản pháp quy thuộc lĩnh vực quản lý tài chính bệnh viện công, các báo cáo khoa học, công trình nghiên cứu đã được công bố
3.2.2 Phạm vi không gian: Tại Bệnh viện trường Đại học Y Khoa - Đại học
Thái Nguyên
3.2.3 Phạm vi thời gian: từ năm 2015 đến hết năm 2017
4 Những đóng góp của luận văn
4.1 Về mặt lý luận
Bản luận văn góp phần hệ thống hóa lại cơ sở lý luận về lĩnh vực quản
lý tài chính công trong lĩnh vực y tế, đề cập một số kinh nghiệm về cơ chế quản lý tài chính bệnh viện trong và ngoài nước, với mong muốn rút ra được một số bài học hữu ích cho công tác quản lý tài chính trong các bệnh viện công lập hiện nay
Trang 144.2 Về mặt thực tiễn
Phân tích đánh giá toàn diện về công tác quản lý tài chính theo cơ chế
tự chủ tại Bệnh viện trường ĐH Y Khoa - Đại học Thái Nguyên dựa trên những luận cứ khoa học, qua đó nhằm phác họa một cách đầy đủ bức tranh về hoạt động tài chính của đơn vị Bản luận văn cũng đóng góp một số giải pháp tiếp tục hoàn thiện công tác quản lý tài chính nhằm sử dụng một cách hữu hiệu các nguồn lực về tài chính vào mục tiêu thực hiện nhiệm vụ chuyên môn
và phát triển Bệnh viện
5 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục: nội dung chính của luận văn được trình bầy trong 4 chương sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý tài chính tại các bệnh viện công lập
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng quản lý tài chính tại Bệnh viện trường Đại học Y Khoa - Đại học Thái Nguyên
Chương 4: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại Bệnh viện trường Đại học Y Khoa - Đại học Thái Nguyên
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH
TẠI CÁC BỆNH VIỆN CÔNG LẬP 1.1 Cơ sở lý luận về quản lý tài chính tại bệnh viện công lập
1.1.1 Đơn vị sự nghiệp y tế công lập và bệnh viện công lập
1.1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò, nhiệm vụ của đơn vị sự nghiệp y tế công lập
Trong lịch sử nhân loại, kể từ khi có sự xuất hiện của nhà nước, hoạt động của xã hội chính là hoạt động của hai khu vực: công và tư cùng với mối
quan hệ tương tác giữa chúng Khu vực công (pubblic sector) do nhà nước
giữ vai trò quyết định và chi phối mọi hoạt động, mục tiêu là nhằm thực hiện chức năng quản lý xã hội và phát triển đất nước Ngược lại, khu vực tư nhân
(private sector) do tư nhân quyết định mọi hoạt động, và mục tiêu trước hết là
phục vụ lợi ích của từng cá nhân Sự ra đời và hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập nói chung và đơn vị sự nghiệp y tế công lập nói riêng nằm trọn vẹn trong phạm vi của khu vực công Xác định được vị trí như vậy trong
xã hội sẽ làm sáng tỏ bản chất, chức năng, nhiệm vụ v v của hệ thống các đơn vị này
a/ Khái niệm đơn vị sự nghiệp y tế công lập
Đơn vị sự nghiệp y tế công lập là những tổ chức do các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, có chức năng cung cấp các dịch vụ thuộc lĩnh vực y tế hoặc phục
vụ cho công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực y tế
b/ Đặc điểm của đơn vị sự nghiệp y tế công lập
- Là tổ chức do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thành lập theo quy định của pháp luật Được Nhà nước cung cấp một phần hoặc toàn bộ nguồn lực để hoạt động;
- Thực hiện nhiệm vụ của Nhà nước giao, cung cấp các dịch vụ y tế cho
xã hội, giúp Nhà nước thực hiện chức năng phát triển kinh tế - xã hội của mình;
Trang 16- Có tư cách pháp nhân: có con dấu và tài khoản riêng
c/ Vai trò, nhiệm vụ của đơn vị sự nghiệp y tế công lập đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
Trong xã hội hiện đại, con người giữ vị trí trung tâm, con người là mục tiêu và cũng là động lực của mọi sự phát triển kinh tế - xã hội, tất cả những giá trị phục vụ cho cuộc sống của nhân loại đều được đề cao và hướng đến Hoạt động sự nghiệp y tế cung cấp một nền tảng sức khỏe - cho từng cá nhân cũng như cho toàn xã hội - để lao động, học tập cũng như hưởng thụ cuộc sống Vì vậy y tế luôn là hoạt động sự nghiệp rất quan trọng của nhà nước ở bất kỳ quốc gia nào, đồng thời nó cũng là thuớc đo đánh giá tính ưu việt của chế độ chính trị - xã hội tại quốc gia đó Chỉ số tiếp cận các dịch vụ y tế (LEI) của người dân luôn giữ thang điểm cao trong việc xác định chỉ số phát triển con người HDI - Human development index, và chỉ số hạnh phúc quốc gia HPI - Happy palnet index, do tổ chức phát triển Liên hiệp quốc UNDP và New Economics foun dation - NEF xây dựng [19]
Xét về góc độ kinh tế, y tế là một ngành kinh tế cung cấp dịch vụ, sự phát triển của ngành cũng đóng góp vào sự tăng trưởng chung của nền kinh tế Giá dịch vụ y tế là một trong nhóm giá dịch vụ chính để các cơ quan thống kê xác định chỉ số tăng giá tiêu dùng (CPI), một trong các chỉ số quan trọng để giúp Chính phủ điều hành kinh tế vĩ mô
Nhiệm vụ của các đơn vị sự nghiệp y tế công lập là: cung cấp phần lớn các dịch vụ y tế, thực hiện sự nghiệp chăm sóc sức khỏe người dân; thực hiện các chính sách của Nhà nước góp phần vào ổn định và phát triển kinh tế xã hội
1.1.1.2 Khái niệm , đặc điểm, phân loại, vai trò nhiệm vụ của bệnh viện công lập trong hệ thống y tế
Lịch sử ra đời của bệnh viện: các bệnh viện ngày nay, mà tiền thân của
nó trong lịch sử được gọi dưới tên là nhà thương (nơi cứu chữa cho những
Trang 17người bị thương tật), được ra đời rất sớm Theo cổ sử của đất nước Sri- Lanka thì có những chứng tích để lại về sự ra đời những nơi chữa bệnh tập trung từ những năm 400 trước công nghuyên Người Ấn độ cũng lập ra các nhà thương từ những năm 230 TCN, mọi chi phí của các nhà thương này đều do triều đình của Nhà vua đài thọ, điều đó cho phép chúng ta hình dung được sự tương đồng về nguồn tài chính trong mối liên hệ giữa những nhà thương cổ xưa và các bệnh viện hiện đại ngày nay[21]
a/ Khái niệm bệnh viện công lập: là một đơn vị sự nghiệp y tế công
lập, tập trung các nhân viên y tế (y, bác sĩ, kỹ thuật viên ) cùng các phương tiện cần thiết, do Nhà nước lập ra làm nhiệm vụ khám và điều trị cho người bệnh
b/ Đặc điểm của Bệnh viện công lập:
Các bệnh viện công cũng mang những đặc điểm chung của các đơn vị
sự nghiệp y tế công lập, ngoài ra do tính đặc thù của hoạt động chuyên môn, các viện công lập còn có những dặc điểm sau đây:
- Do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập, nằm trong hệ thống các đơn vị sự nghiệp công lập, chịu sự quản lý toàn diện của Nhà nước;
- Được Nhà nước đài thọ kinh phí xây dựng và hoạt động;
- Thực hiện KCB cho người dân và các nhiệm vụ khác được giao;
- Là nơi tập trung lớn nhất mọi nguồn lực về cơ sở vật chất, con người, khoa học kỹ thuật của cả hệ thống y tế
c/ Phân loại bệnh viện công lập
Phân loại theo chuyên ngành hoạt động: có thể chia thành bệnh viện chuyên khoa (VD: BV phụ sản, BV mắt, BV Tai-mũi-họng, BV phục hồi chức năng ), bệnh viện đa khoa (KCB nhiều chuyên khoa) và bệnh viện y học cổ truyền (ứng dụng thành tựu của nền y học bản địa vào việc khám chữa bệnh)
Trang 18Phân loại theo phân tuyến chuyên môn thì chia thành: bệnh viện hạng đặc biệt, bệnh viện hạng 1, bệnh viện hạng 2 và bệnh viện hạng 3
Phân loại theo tuyến hành chính thì chia thành: bệnh viện tuyến trung ương (tuyến cuối) và bệnh viện tuyến địa phương (tuyến đầu), VD: các bệnh viện huyện, thành, thị, tỉnh
d/ Vai trò, nhiệm vụ của bệnh viện công lập trong hệ thống y tế
Các bệnh viện vốn được xem là xương sống của cả hệ thống y tế đối với bất kỳ quốc gia nào Công tác chăm sóc sức khỏe người dân được xem là hiệu quả thì phải làm tốt cả hai khâu: khâu phòng bệnh và khâu chữa bệnh, giống như một cơ thể đứng vững trên cả hai chân của mình Các bệnh viện đảm nhận toàn bộ khâu thứ hai: chữa bệnh và cũng là khâu cuối quyết định tình trạng sức khỏe của người bệnh Mặt khác các BV còn là nơi thực nghiệm lâm sàng giúp tìm tòi ra tri thức mới về y học để quay trở lại phục vụ cho công tác phòng và chữa bệnh
1.1.2 Quản lý tài chính trong các bệnh viện công lập
Tài chính là một phạm trù kinh tế khách quan, đó là hệ thống các quan
hệ kinh tế nhất định biểu hiện dưới hình thức giá trị phát sinh trong quá trình hình thành, quản lý và sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm mục đích tái sản xuất mở rộng và phát triển kinh tế - xã hội Quản lý tài chính với cách nhìn khái quát, được biểu hiện thông qua mối quan hệ hai chiều giữa chủ thể quản lý và đối tượng bị quản lý Chủ thể quản lý là các tổ chức, cá nhân có quyền lực nhất định buộc các đối tượng bị quản lý phải tuân thủ quyết định do mình đề ra nhằm đạt được mục tiêu quản lý Đối tượng bị quản lý chịu sự tác động, giám sát của chủ thể quản lý, ngược lại đối tượng bị quản lý có quyền phản hồi lại những mâu thuẫn, khó khăn, bất cập trong quá trình thực hiện sự quản lý của chủ thể Tại các bệnh viện công lập, hoạt động quản lý tài chính được hiểu
Trang 19một cách cụ thể là cách thức của ban lãnh đạo áp dụng để quản lý các khoản thu - chi sao cho có hiệu quả nhất và phù hợp với quy định pháp lý.
1.1.2.1 Khái niệm quản lý tài chính trong các bệnh viện công lập:
Là quá trình sử dụng một cách có hệ thống các công cụ pháp lý, các công cụ quản trị (như hệ thống văn bản nội bộ, các đinh mức, các kế hoạch )
và bộ máy nhân sự, nhằm triển khai hoạt động tài chính của bệnh viện diễn ra đúng các quy định hiện hành và đáp ứng ở mức cao nhất và hiệu quả nhất, nhu cầu về các nguồn lực về tài chính cho việc thực hiện nhiệm vụ của đơn vị mình
Như vậy chúng ta thấy quản lý về tài chính trong bệnh viện là làm thế nào để huy động một cách có hiệu quả các nguồn lực tài chính vào việc thực hiện nhiệm vụ chung của đơn vị Trong hoạt động thực tế, quản lý tài chính trong bệnh viện biểu hiện cụ thể bằng việc quản lý tốt các nguồn thu và các khoản chi phí, đảm bảo đủ nguồn kinh phí cho việc thực hiện hoạt động chuyên môn Bản luận văn này nghiên cứu công tác quản lý tài chính trong bệnh viện, trên những phương diện cụ thể như vậy
1.1.2.2 Những nguyên tắc trong quản lý tài chính bệnh viện công lập
Tài chính các bệnh viện công lập cũng giống như các đơn vị sự nghiệp, phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc cân đối giữa khoản chi và nguồn kinh phí Nguyên tắc này thể hiện ở chỗ đơn vị chỉ thực hiện các khoản chi khi chắc chắn có sự đảm bảo về nguồn kinh phí Nguồn kinh phí ở đây có thể do NSNN cấp, hoặc từ nguồn thu sự nghiệp của đơn vị Thực hiện nguyên tắc này đảm bảo sự cân đối về tài chính của đơn vị
- Nguyên tắc quản lý thu chi theo dự toán Dự toán được duyệt là một bản kế hoạch tài chính của đơn vị, quản lý thu chi theo dự toán có nghĩa đã điều hành hoạt động tài chính của đơn vị diễn ra theo kế hoạch đã định trước Điều đó cho phép đơn vị chủ động trong việc bố trí các nguồn lực tài chính vào thực hiện nhiệm vụ chuyên môn
Trang 20- Nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả Đây là nguyên tắc bắt buộc đối với mọi tổ chức, cá nhân Lý do rất đơn giản là mọi nguồn lực, trong đó có nguồn lực tài chính, đều có giới hạn, trong khi nhu cầu thụ hưởng thì luôn tăng lên Vì vậy mọi khoản chi phí đều phải đảm bảo tính tiết kiệm và đem lại hiệu quả
- Nguyên tắc quản lý thu chi qua hệ thống kho bạc Nhà nước Toàn bộ NSNN đều được tập trung và phân phối qua hệ thống KBNN, thông qua hoạt động kiểm soát chi của kho bạc, Nhà nước cũng đã thực hiện một phần sự quản lý tài chính của mình đối với các đơn vị hành chính - sự nghiệp
1.1.2.3 Vai trò của quản lý tài chính:
Nếu nói các bệnh viện công lập như xương sống của hệ thống y tế, thì tài chính của bệnh viện được ví như hệ tuần hoàn đưa máu đi nuôi cơ thể Hoạt động tài chính cung cấp nguồn lực để thực hiện các hoạt động chuyên môn, cho đầu tư phát triển…Công tác quản lý tài chính trong bệnh viện cung cấp một phương thức sử dụng một cách có hiệu quả nhất các nguồn lực tài chính của đơn vị Cụ thể quản lý tài chính có vai trò sau:
- Giúp đơn vị khai thác triệt để các nguồn thu;
- Giúp đơn vị sử dụng một cách có hiệu quả các nguồn lực về tài chính vào việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn;
- Quản lý tài chính còn có vai trò đòn bẩy đối với việc thực hiện nhiệm
vụ được giao đối với các bộ phận trong đơn vị;
- Quản lý tài chính giúp hình thành một cơ chế quản lý có hiệu năng trong đơn vị
1.1.2.4 Mục tiêu của quản lý tài chính trong bệnh viện cộng lập:
Công tác quản lý tài chính trong các bệnh viện công lập đều hướng đến các mục tiêu sau:
- Đảm bảo mọi hoạt động tài chính trong đơn vị diễn ra đúng theo khuôn khổ những quy định hiện hành
Trang 21- Đảm bảo sử dụng nguồn lực tài chính một cách có hiệu quả nhất Các nguồn lực tài chính của bệnh viện chỉ có giới hạn nhất định, trong khi các nhu cầu kinh phí cho các nhiệm vụ chuyên môn luôn có xu hướng tăng lên Đây là một thực tế khách quan Vì vậy sử dụng một cách có hiệu quả nguồn lực luôn
là mục tiêu của công tác quản lý tài chính hướng đến;
- Xây dựng được một hệ thống quản lý tài chính tinh gọn và hiệu quả
Hệ thống quản lý tài chính được coi như một công cụ hữu hiệu để đơn vị đạt được mục tiêu phát triển của mình Thông qua hoạt động quản lý tài chính, đơn vị cũng đồng thời xây dựng, củng cố, bồi dưỡng để có được hế thống quản lý tài chính có hiệu quả Đây có thể coi là mục tiêu kép của công tác quản lý
1.1.2.5 Các công cụ để quản lý tài chính trong bệnh viện công lập:
- Hệ thống các văn bản pháp quy của Nhà nước: Nghị định 85/20215/ND-CP quy định cơ chế tài chính trong đơn vị sự nghiệp y tế công lập; Thông tư liên bộ số 37/2016/TTLB - BYT-BTC Bộ Y tế - Bộ Tài chính quy định khung giá thống nhất dịch vụ y tế đối với bệnh viện đồng hạng, Thông tư 45/2016/TT-BYT quy định danh mục kỹ thuật tương đương
- Hệ thống các định mức kinh tế kỹ thuật của ngành: Thông tư 50/2014/TT-BYT phân loại danh mục các kỹ thuật, Quyết định 3055/2012/QĐ-BYT ban hành định mức vật tư tiêu hao cho các dịch vụ kỹ thuật y tế, Quyết định 3059/2012/QĐ-BYT ban hành định mức chi phí tính vào cơ cấu giá dịch vụ y tế
- Xây dựng các quy định nội bộ nhằm cụ thể hóa các quy định của Nhà nước trong điều kiện cụ thể của đơn vị mình, (VD: Quy chế chi tiêu nội bộ…)
- Tổ chức bộ máy kế toán: có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả quản lý tài chính bệnh viện Một bộ máy kế toán được tổ chức một cách khoa học, phân công đúng người đúng việc, có sự phối hợp nhịp nhàng sẽ đảm đương
Trang 22được khối lượng công việc rất lớn, đảm bảo công tác quản lý vừa linh hoạt vừa chặt chẽ
- Công tác kế hoạch: việc xây dựng các kế hoạch, trong đó có kế hoạch
về tài chính là cơ sở giúp Ban lãnh đạo điều hành hoạt động chuyên môn Chất lượng xây dựng kế hoạch ảnh hưởng rất nhiều đến hiệu lực, hiệu quả của công tác điều hành
- Hạch toán kế toán, kiểm toán: hạch toán kế toán là yêu cầu bắt buộc đối với mọi tổ chức, nhất là đối với các đơn vị sự nghiệp có thu như bệnh viện Công tác hạch toán kế toán là việc phản ánh vào sổ sách dưới hình thức giá trị, các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo trình tự thời gian và theo những quy định thống nhất Công tác kiểm toán là việc kiểm tra, đối chiếu việc hạch toán kế toán của đơn vị với những quy định hiện hành, để đảm bảo tính chính xác, trung thực của số liệu kế toán
- Công tác thanh, kiểm tra nội bộ: công tác này giúp loại bỏ những yếu
tố có thể dẫn đến sai lệch các số liệu kế toán
1.1.3 Cơ chế tự chủ tài chính đối với các bệnh viện công lập đảm bảo một phần kinh phí hoạt động thường xuyên
Nhằm khơi dậy những tiềm năng và sự chủ động sáng tạo của các đơn
vị cơ sở trong thực hiện nhiệm vụ của mình, Nhà nước đã thực hiện từng bước việc trao quyền tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp, trong đó có các bệnh viện công lập Mục tiêu cụ thể của cơ chế này là:
+ Góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ y tế;
+ Người dân được thêm nhiều cơ hội lựa chọn, được tiếp cận với các dịch vụ y tế chất lượng ngày càng cao;
+ Góp phần cải thiện và nâng cao thu nhập người lao động trong các bệnh viện công;
+ Tạo tiền đề cho việc tinh giảm biên chế, tinh gọn bộ máy trong các bệnh viện, góp phần xây dựng đôi ngũ nhân lực ngành y có chất lượng cao
Trang 23Đây là một phần trong các giải pháp đồng bộ cải cách nền hành chính công ở nước ta Hành lang pháp lý cơ bản nhất để các đơn vị thực hiện quyền
tự chủ được Nhà nước giao là Nghị định 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập; và văn bản thay thế nó, Nghị định 16/2015/NĐCP Đối với các đơn vị sự nghiệp y tế, Chính phủ đã có riêng Nghị định 85/2012/NĐ-CP quy định cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp y tế công lập và giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh công lập Theo đó, khả năng
tự đảm bảo kinh phí hoạt động thường xuyên của các đơn vị sự nghiệp y tế công lập được xác định như sau:
Căn cứ mức độ tự đảm bảo kinh phí hoạt động thường xuyên, các đơn
vị sự nghiệp y tế công lập được chia thành từng nhóm với mức độ được giao
Quyền tự chủ của đơn vị trên các mặt: tổ chức thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính, phụ thuộc vào khả năng tự đảm bảo kinh
Trang 24phí của đơn vị mình, và mối tương quan này là quan hệ tỷ lệ thuận Nói cách khác, khả năng tự đảm bảo kinh phí của đơn vị càng cao, thì quyền tự chủ được giao trên các mặt càng lớn, càng rộng rãi; và ngược lại: đơn vị càng phụ thuộc vào ngân sách nhà nước thì quyền tự chủ được giao sẽ ở mức hạn chế Điều này thể hiện một nguyên tắc quản lý: quyền hạn luôn đi cùng với trách nhiệm Trong phạm vi bản luận văn này, chỉ đi sâu vào nghiên cứu một trong các mặt được giao tự chủ: đó là tự chủ về tài chính Căn cứ vào cơ cấu giá dịch vụ y tế hiện hành, các bệnh viện công lập phần nhiều được xếp vào nhóm các đơn vị tự đảm một phần kinh phí hoạt động thường xuyên, chỉ một số ít các bệnh viện tại các đô thị lớn có số thu cao, được xếp vào nhóm tự chủ toàn
bộ Phần cơ sở lý luận và thực tiễn của bản luận văn này sẽ tập trung đề cập đến các bệnh viện công lập tự đảm bảo một phần kinh phí
1.1.3.1 Tự chủ về các khoản thu, mức thu
Đối với các dịch vụ kỹ thuật có sử dụng kinh phí từ NSNN, Điều 9 Giá, phí dịch vụ sự nghiệp công của Nghị định 16/2015/NĐ - CP quy định “ -
Riêng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh và dịch vụ giáo dục, đào tạo tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, cơ sở giáo dục, đào tạo của Nhà nước thực hiện theo quy định của pháp luật về giá” Như vậy nguồn thu sự nghiệp chính yếu của các bệnh viện là thu dịch vụ khám chữa bệnh được thực hiện theo mức giá thống nhất quy định tại Thông tư liên tịch 37/2015/TTLT- BYT-BTC Do chi phí tiền lương, phụ cấp của nhân viên y tế và chi phí sửa chữa trang thiết bị đã được kết cấu vào giá dịch vụ y tế nên kể từ năm 2016 trở đi, nguồn kinh phí do NSNN hỗ trợ cho các bệnh viện sẽ không còn hai khoản trên nữa, (ngoại trừ các bệnh viện tuyến huyện sẽ được đảm bảo 50% quỹ lương cơ bản)
Đối với các dịch vụ y tế không sử dụng NSNN, đơn vị được xác định giá dịch vụ theo cơ chế thị trường, có nghĩa đảm bảo hai yêu cầu: thứ nhất, tính đủ chi phí và có lãi vào giá dịch vụ; thứ hai: đảm bảo có sự đồng ý, tự nguyện của người sử dụng dịch vụ Các bệnh viện được phép mở các dịch vụ
Trang 25kỹ thuật chất lượng cao theo yêu cầu của người bệnh hoặc các dịch vụ kỹ thuật thực hiện bằng hình thức xã hội hóa, với điều kiện phải công khai giá các dịch vụ này để bệnh nhân có quyền lựa chọn sử dụng hoặc không sử dụng dịch vụ, đồng thời cơ sở y tế phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ với NSNN
1.1.3.2 Tự chủ về sử dụng nguồn tài chính:
Bệnh viện được chủ động sử dụng nguồn thu sự nghiệp theo quy định, nguồn ngân sách nhà nước hỗ trợ phần chi phí chưa kết cấu trong giá dịch vụ y
tế để chi cho hoạt động thường xuyên:
Chi tiền lương, tiền công và thu nhập: Đối với hoạt động thực hiện chức năng Nhà nước giao, Bệnh viện thực hiện chi trả cho cán bộ viên chức theo ngạch, bậc lương theo Nghị định 204/2004/NĐ-CP của Chính phủ, quy định chế
độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang
Các khoản chi thường xuyên của các bệnh viện, trước đây theo Nghị định 43/2006NĐ-CP quy định: căn cứ vào nhiệm vụ được giao và khả năng nguồn tài chính, Thủ trưởng đơn vị được quyết định một số mức chi quản lý, chi hoạt động nghiệp vụ cao hoặc thấp hơn mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định Nghị định 16/2015/NĐ-CP điều chỉnh lại nội dung này như sau: “Chi hoạt động chuyên môn, chi quản lý: Căn cứ vào nhiệm vụ được giao và khả năng nguồn tài chính, đơn vị quyết định mức chi chuyên môn, chi quản lý nhưng tối đa không vượt quá mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định” Như vây, đã có sự điều chỉnh về quản lý chi cho phù hợp với thực tiễn
Về sử dụng kết quả tài chính:
Theo Nghị định 85/2012/NĐ-CP của Chính phủ về cơ chế hoạt động,
cơ chế tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp y tế công lập, hàng năm sau khi hạch toán đầy đủ các khoản chi phí, nộp thuế và các khoản phải nộp khác, số
Trang 26chênh lệch thu lớn hơn chi (nếu có), các bệnh viện được sử dụng theo thứ tự
ưu tiên sau:
- Trích tối thiểu 25% để lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, trường hợp chênh lệch thu chi nhỏ hơn một lần quỹ tiền lương, ngạch bậc trong năm thì trích tối thiểu 15%;
- Trích Quỹ thu nhập tăng thêm để chi trả tiền lương tăng thêm, chi trả cho đối tượng là chuyên gia, thầy thuốc giỏi Tổng mức thu nhập trong năm của các bệnh viện tự đảm bảo một phần kinh phí thường xuyên tối đa không quá 3 lần quỹ lương theo ngạch bậc, chức vụ do nhà nước quy định;
- Trích lập quỹ dự phòng ổn định thu nhập để đảm bảo thu nhập cho người lao động, trong trường hợp thu nhập bị giảm sút;
- Trích lập Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi tối đa không quá hai tháng tiền lương, tiền công thực hiện trong năm của đơn vị;
- Trích lập quỹ hỗ trợ khám bệnh, chữa bệnh để sử dụng trong các trường hợp chi phí điều trị lớn mà người bệnh không có khả năng chi trả, hoặc sử dụng trong các trường hợp xảy ra rủi ro nghề nghiệp;
- Phần chênh lệch thu lớn hơn chi còn lại (nếu có) sau khi đã trích lập các quỹ theo quy định được bổ sung vào Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp
Như vậy, Nhà nước đã trao quyền tự chủ cho đơn vị trong việc chủ động bố trí nguồn kinh phí để lập các quỹ, trong đó ưu tiên hàng đầu là tăng thu nhập cho cán bộ viên chức, người lao động [8,9]
1.1.3.3 Những thay đổi chính trong cơ chế tự chủ về tài chính trong các bệnh viện công lập:
- Cơ chế tự chủ về tài chính tại các bệnh viện công lập chỉ có thể thực hiện được khi đồng thời chuyển đổi việc tính giá dịch vụ y tế từ giá phí sang giá dịch vụ Thu theo giá dịch vụ có nghĩa trong cơ cấu giá tính đủ chi phí, có như vậy thì mới giảm thiểu sự hỗ trợ từ NSNN, tăng số thu sự nghiệp của đơn
vị, đồng nghĩa với việc tính tự chủ của đơn vị cơ sở được tăng lên Lộ trình
Trang 27chuyển đổi từ giá phí sang giá dịch vụ được triển khai cho tất cả các đơn vị sự nghiệp cung cấp dịch vụ công, trong đó các dịch vụ y tế và giáo dục triển khai sớm hơn cả Trước đây các dịch vụ này được thu theo giá phí (viện phí, học phí ), giá này không phản ánh đầy đủ chi phí để thực hiện dịch vụ, phần còn thiếu do NSNN cấp bù cho đơn vị cung ứng dịch vụ Cơ chế tài chính này mắc phải hai nhược điểm lớn đó là: 1- Đơn vị cấp dưới thụ động trong việc thực hiện nhiệm vụ, luôn có tâm lý trông chờ Nhà nước, không có tính tự chủ thì cũng không có tính sáng tạo; 2 - Mục đích thu chi của NSNN là đảm bảo công bằng xã hội, nhưng khi dùng NSNN để hỗ trợ một phần chi phí cho việc cung cấp dịch vụ công, thì lại đem đến kết quả ngược lại: người giàu có điều kiện sử dụng nhiều dịch vụ hơn người có thu nhập thấp vì có khả năng đóng phí nhiều hơn Như vậy cũng đồng nghĩa với việc họ được hưởng lợi từ NSNN nhiều hơn người nghèo, càng làm gia tăng bất bình đẳng xã hội Các chuyên gia kinh tế gọi việc thu theo giá phí khi sử dụng dịch vụ công là một
sự “bao cấp ngược”, lấy tiền đóng thuế của toàn dân để bao cấp cho một bộ phận người giàu! Vì vậy để xóa bỏ nghịch lý này, chủ trương nhất quán của Chính phủ là chuyển đổi từ giá phí sang giá dịch vụ đối với tất cả các dịch vụ công do Nhà nước cung cấp trong đó có dịch vụ y tế, tuy nhiên phải có lộ trình phù hợp
Theo nội dung quy định tại Nghị định 43/2006/NĐ-CP, Nghị định 85/2012/NĐ-CP, các bệnh viện được mở rộng các quyền tự chủ về tài chính,
cụ thể như sau:
+ Bệnh viện được phép huy động các nguồn tài chính ngoài ngân sách nhà nước (huy động vốn, liên doanh liên kết, vay vốn ngân hàng…) cho mục tiêu đầu tư phát triển
+ Được phép sử dụng khả năng của đơn vị mình để thực hiện các dịch
vụ kỹ thuật theo nhu cầu xã hội, ngoài các chức năng nhiệm vụ do Nhà nước giao Nguồn thu từ hoạt động này, bệnh viện được sử dụng để cải thiện thu nhập cho người lao động và một phần dành cho tích lũy
Trang 28+ Số tiền trích khấu hao và tiền thu được từ thanh lý tài sản cố định đầu
tư từ nguồn NSNN, được để lại toàn bộ cho bệnh viện nâng cấp cơ sở vật chất, đầu tư mua sắm trang thiết bị
- Đổi mới về nguồn thu tài chính:
+ Đối với nguồn NSNN cấp: đây là nguồn tài chính rất quan trọng để các bệnh viện triển khai các hoạt động chuyên môn của mình, với các bệnh viện có mức thu sự nghiệp thấp thì đây là nguồn kinh phí hoạt động chính yếu Từ năm 2016 trở về sau, giá dịch vụ y tế được kết cấu dần và đi đến tính
đủ các chi phí thì nguồn hỗ trợ từ ngân sách nhà nước sẽ giảm đi rất nhiều, một số bệnh viện được giao tự chủ hoàn toàn thì nguồn thu này sẽ không còn nữa [8]
+ Thu từ hoạt động khám chữa bệnh, thu từ cung cấp dịch vụ và các nguồn thu sự nghiệp khác:
Hiện tại và sau này sẽ phải là nguồn thu chính của các bệnh viện, đây là
sự thay đổi rất quan trọng đối với hoạt động các bệnh viện Từ vai trò là đơn
vị thụ hưởng ngân sách để thực hiện các chức năng do Nhà nước giao, chuyển sang vai trò cung cấp dịch vụ cho xã hội, nguồn thu từ hoạt động dịch vụ của các bệnh viện chính là thước đo đánh giá sự tín nhiệm của xã hội đối với hoạt động chuyên môn của đơn vị
- Đổi mới về quản lý chi:
Từ sự thay đổi về cơ cấu nguồn thu tài chính tất yếu dẫn đến sự thay đổi về quản lý chi của các bệnh viện, cụ thể là:
+ Nhà nước không cấp kinh phí theo số lượng biên chế mà cấp theo khối lượng công việc hoàn thành, cụ thể đối với các bệnh viện là số lượng giường điều trị và lượt bệnh nhân
+ Trao quyền cho người đứng đầu các đơn vị được quyết định các mức chi chuyên môn và chi hành chính cho đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả và sát với thực tế tại đơn vị mình Nhà nước chỉ ban hành các khung giới hạn chi, phục
vụ cho công tác quản lý nhà nước đối với các đơn vị cơ sở Các bệnh viện có
Trang 29thể quyết định mức chi cao hơn hoặc thấp hơn, tùy thuộc khả năng tài chính của đơn vị mình Riêng đối với tiêu chuẩn, định mức sử dụng xe ô tô, nhà làm việc, trang bị điện thoại công vụ tại nhà riêng, công tác phí đi nước ngoài, tiếp khách nước ngoài: các bệnh viện không được quyết định mức chi cao hơn mức chi của nhà nước
+ Đổi mới trong việc sử dụng kết quả tài chính: các bệnh viện có toàn quyền quyết định sử dụng kết quả tài chính sau khi làm nghĩa vụ với NSNN, cho việc nâng cao thu nhập cho người lao động và tích lũy phát triển (mức tối thiểu 25% chênh lệch thu-chi) Để khuyến khích và thu hút người lao động gắn bó với đơn vị, các bệnh viện có thể chi thu nhập cao gấp 3 lần tiền lương theo ngạch bậc của nhà nước quy định, tùy thuộc vào khả năng tài chính của đơn vị [9]
1.1.4 Nội dung quản lý tài chính trong các bệnh viện công lập áp dụng cơ chế tự chủ về tài chính
Quản lý tài chính bệnh viện là một quá trình diễn ra song song với việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của đơn vị (hoạt động khám chữa bệnh) Chu trình quản lý nói chung, là sự liên hệ hữu cơ của các bước: Nghiên cứu - Ra quyết định - Tổ chức thực hiện - Kiểm tra, đánh giá rút kinh nghiệm Quản lý tài chính trong các bệnh viện công lập chính là sự cụ thể hóa các bước của chu trình quản lý nói trên vào trong lĩnh vực tài chính của một đơn vị sự nghiệp công lập Các bước của chu trình đó là: 1 - Lập dự toán thu chi , 2 - Tổ chức thực hiện dự toán (chấp hành dự toán), 3 - Quyết toán; 4 - Thanh, kiểm tra về tài chính Tính tự chủ tài chính của đơn vị được thể hiện trong cả bốn bước của chu trình quản lý
1.1.4.1 Lập dự toán thu - chi (lập kế hoạch tài chính)
Là việc lên kế hoạch tài chính trong một khoảng thời gian, thông thường là 1 năm, dựa trên những dữ liệu có liên quan của kỳ trước, dự kiến những biến động, những yếu tố có ảnh hưởng trong năm tới để xác định các chỉ tiêu về nguồn thu và các khoản chi Dự toán thu chi của một đơn vị phải
Trang 30đáp ứng yêu cầu cân đối về tài chính, đáp ứng nguồn lực cho các hoạt động chuyên môn và có phần tích lũy phát triển Các căn cứ để lập dự toán là: kế hoạch hoạt động của bệnh viện trong năm; kết quả thực hiện dự toán của năm trước; dự báo những sự biến động của giá cả các yếu tố đầu vào; những sự thay đổi về chính sách của Nhà nước v v
Nội dung của việc lập kế hoạch dự toán thu chi của bệnh viện, bao gồm:
- Lập kế hoạch thu: căn cứ vào kế hoạch hoạt động của đơn vị, căn cứ các văn bản pháp quy về biểu giá để xác định mức thu của các khoản thu sự nghiệp; đồng thời kế hoạch hoạt động của đơn vị cũng là cơ sở để xác định nguồn kinh phí hỗ trợ từ NSNN Ngoài ra, đối với các dự án đầu tư hay dự án
xã hội hóa hoạt động y tế cần căn cứ vào khả năng huy động các nguồn vốn ngoài ngân sách để lập kế hoạch thu
- Lập kế hoạch chi:
+ Đối với các khoản chi cho con người: căn cứ vào biên chế và tổng hệ
số lương, mức lương tối thiểu do Nhà nước ban hành để xác định quỹ lương của đơn vị Các loại phụ cấp căn cứ theo các quy định hiện hành, căn cứ mức thực hiện của năm trước liền kề để xác định Thông thường, chi phí cho con người chiếm khoảng 30% đến 37% tổng chi hoạt động của các bệnh viện [4]
+ Đối với các khoản chi quản lý hành chính: là các khoản chi phí gián tiếp phục vụ cho hoạt động chuyên môn được diễn ra một cách bình thường, các bệnh viện cần xây dựng những định mức, cụ thể hóa trong quy chế chi tiêu nội bộ để quản lý chặt chẽ có hiệu quả khoản chi này
+ Đối với các khoản chi chuyên môn nghiệp vụ: bao gồm mua các loại hàng hóa, vật tư, thuốc men v v phục vụ chuyên môn Khoản chi này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dịch vụ y tế và cũng là khoản chi chiếm tỷ trọng lớn nhất, thông thường tỷ trọng trên dao động từ 56% - 65% tổng chi phí của đơn vị [4], nên cần xây dựng các định mức và quy trình quản lý để tránh thất thoát, lãng phí
Trang 31+ Đối với khoản chi bảo trì, sửa chữa, mua sắm trang thiết bị: đây là nhóm chi để duy trì tình trạng hoạt động tốt nhất của các trang thiết bị y tế, một trong các yếu tố quyết định đến chất lượng hoạt động chuyên môn Mức chi này không đồng đều nhau giữa các bệnh viện bởi nó phụ thuộc vào quy
mô, đặc tính kỹ thuật và số năm sử dụng trang thiết bị từng đơn vị
1.1.4.2 Thực hiện dự toán:
Dự toán sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt, sẽ bước sang giai đoạn triển khai thực hiện Đây là lúc phải kết hợp nhiều giải pháp đồng bộ để giải quyết các vấn đề nảy sinh, có thể thực hiện giao các chỉ tiêu thu, chi cho từng bộ phận, trong từng khoảng thời gian tháng, quý…Lãnh đạo đơn vị phải kết hợp chặt chẽ giữa tổ chức, đôn đốc và kiểm tra tiến độ thực hiện Bám sát tiến độ thực hiện chỉ tiêu thu để điều tiết các khoản chi, đảm bảo tính cân đối
về tài chính của đơn vị Dành ưu tiên cho các khoản chi cho hoạt động chuyên môn của đơn vị, chi duy trì hoạt động trước, chi phát triển sau
1.1.4.3 Quyết toán: đây là khâu cuối của quá trình sử dụng kinh phí, là bước
ghi nhận đầy đủ doanh thu và chi phí đã phát sinh trong năm của đơn vị để tổng hợp lên các biểu mẫu theo quy định thống nhất Công tác quyết toán thực hiện đầy đủ và đúng quy định là cơ sở tổng hợp số liệu của đơn vị trong một khoảng thời gian nhất định, đồng thời cung cấp dữ liệu cho bước lập kế hoạch tài chính cho một chu kỳ hoạt động tiếp theo, hoặc hoạt động phân tích để đưa
ra các quyết định về tài chính
1.1.4.4.Thanh tra, kiểm tra công tác tài chính: số liệu kế toán tài chính là một
trong những công cụ phục vụ công tác quản lý trong và ngoài đơn vị, bởi vậy
nó phải đảm bảo tính chính xác, trung thực Thực hiện thanh kiểm tra tài chính là việc giám sát, đối chiếu hoạt động tài chính đã diễn ra nhằm loại bỏ những yếu tố làm giảm tính chính xác của số liệu kế toán
Trang 321.1.5 Cơ sở lý thuyết về đánh giá công tác quản lý tài chính
1.1.5.1 Sự cần thiết phải đánh giá công tác quản lý tài chính
Đánh giá rút kinh nghiệm là một khâu cuối nằm trong mối liên hệ hữu
cơ của một chu trình quản lý (Nghiên cứu - Ra quyết định - tổ chức thực hiện
- Kiểm tra, đánh giá rút kinh nghiệm) Đây là sự xem xét, đúc kết, rút tỉa ra những điều bổ ích, để từ đó có nhứng sự điều chỉnh cần thiết cho một chu trình quản lý mới sẽ diễn ra trong tương lai Vì vậy, muốn đạt được mục tiêu nâng cao chất lượng công tác quản lý, nhất thiết phải coi trọng khâu kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm Công tác quản lý tài chính cũng không nằm ngoài những yêu cầu mang tính quy luật trên
1.1.5.2 Các nội dung đánh giá
Việc đánh giá công tác quản lý tài chính trong một đơn vị có thể được xem xét trên các mặt sau đây:
- Đánh giá sự tuân thủ các quy định pháp lý: đặc điểm hoạt động tài chính - kế toán đòi hỏi tính tuân thủ và tính nguyên tắc rất cao, đây là những yêu cầu bắt buộc để đảm bảo hoạt động tài chính kế toán trở thành một công
cụ quản lý hữu hiệu nhất Đánh giá sự tuân thủ các quy định pháp quy của công tác quản lý tài chính cũng cho phép đánh giá được độ tin cậy của hoạt động tài chính kế toán
- Đánh giá tính hiệu quả của công tác quản lý tài chính: thông qua việc phân bổ các nguồn lực hữu hạn vào việc đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của hoạt động chuyên môn của đơn vị, có thể đánh giá được tính hiệu quả của công tác quản lý tài chính
- Đánh giá tính hiệu quả của việc tổ chức bộ máy làm công tác quản lý tài chính: hay nói cách khác là đánh giá hiệu năng của bộ máy quản lý tài chính Việc đánh giá này sẽ giúp nhà quản lý trả lời các câu hỏi: bộ máy quản lý tài chính trong đơn vị đã được tổ chức một cách tối ưu chưa? Hoạt động của bộ máy có đáp ứng được yêu cầu về quản lý tài chính hay không? v v
Trang 331.1.5.3 Các hình thức đánh giá
Xét về chủ thể, việc đánh giá công tác quản lý tài chính được chia ra:
- Đánh giá trong: là việc thực hiện đánh giá công tác quản lý tài chính thông qua các cơ chế giám sát nội bộ, VD: tổ chức kiểm tra nội bộ, tổ chức công đoàn, thanh tra nhân dân, đại hội CBVC v v
- Đánh giá ngoài: là việc đánh giá công tác quản lý tài chính được thực hiện bởi các cơ quan chức năng như cơ quan tài chính cấp trên, thanh tra tài chính, kiểm toán, cơ quan thuế v…v
Xét về phạm vi, việc đánh giá công tác quản lý tài chính được chia ra:
- Đánh giá công tác quản lý tài chính trong một khoảng thời gian nhất định;
- Đánh giá công tác quản lý tài chính đối với một hoặc nhiều mục tiêu chiến lược (VD: tổng kết 1 chương trình mục tiêu của đơn vị v v )
1.1.6 Những nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý tài chính của bệnh viện công lập
1.1.6.1 Những nhân tố khách quan:
- Sự thay đổi về cơ chế chính sách: trước đây nguồn tài chính của bệnh
viện do hai nguồn đưa lại: do Nhà nước cấp một phần kinh phí, phần còn lại do người bệnh đóng góp dưới hình thức nộp viện phí Đến nay nguồn kinh phí của Nhà nước giảm đi rất nghiều, thậm chí một số đơn vị đủ điều kiện tự chủ, NSNN còn cắt toàn bộ hỗ trợ kinh phí chi thường xuyên và tiền thu từ dịch vụ y tế đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt động Công tác quản lý tài chính theo cơ chế trước đây
tập trung thu và chi theo các khung quy định, quy trình: lập dự toán - xin phê duyệt kinh phí - chấp hành dự toán, được lập đi lặp lại và không có mối quan
hệ rõ rệt nào giữa kinh phí nhà nước cấp với chất lượng dịch vụ y tế mà bệnh viện cung cấp cho xã hội, phổ biến ở đây vẫn là quan hệ “xin - cho” Đến nay, yêu cầu của xã hội đã thay đổi, cơ chế cấp NSNN cho các bệnh viện cũng đã khác, đòi hỏi phải có sự đổi mới về phương thức quản lý tài chính Công tác quản lý tài chính ngoài việc đảm bảo thu - chi đúng theo quy định của Nhà nước
Trang 34còn phải hướng các nguồn lực tài chính vào mục tiêu đầu tư có hiệu quả, nâng cao chất lượng dịch vụ y tế để tạo nguồn thu trong tương lai Các nhà quản lý bệnh viện sẽ phải tiếp cận với phương thức quản trị một doanh nghiệp: làm thế nào trong phạm vi một nguồn lực hữu hạn, có thể cung cấp các dịch vụ một cách tốt nhất đáp ứng nhu cầu xã hội Tuy nhiên ở đây cũng cần hạn chế một xu hướng thương mại hóa công tác khám chữa bệnh, bởi vì bệnh viện công lập không phải là một tổ chức được lập ra với mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận
- Tính đặc thù hoạt động khám chữa bệnh của bệnh viện:
Nguồn tài chính của bệnh viện một phần nhận từ NSNN, một phần nhận từ bệnh nhân trả trực tiếp, một phần nhận từ Quỹ BHYT trả thay cho người bệnh Chi phí cho hoạt động khám chữa bệnh phát sinh trên một diện rộng cả về không gian lẫn thời gian và mang tính cá biệt sâu sắc, không có mặt bằng chung cho các dịch vụ kỹ thuật giống nhau Nên có thể nói hoạt động tài chính bệnh viện là khá phức tạp Công tác quản lý tài chính phải bám sát các quy định hiện hành về thanh toán kinh phí khám chữa bệnh BHYT để đảm bảo các khoản kinh phí được thu đầy đủ
- Các yếu tố khác: như tình hình thay đổi mô hình bệnh tật, dịch
bệnh…làm gia tăng chi phí khám chữa bệnh, tạo ra áp lực tài chính lên cả người dân, bệnh viện và các quỹ bảo hiểm
1.1.6.2 Những nhân tố chủ quan:
- Cơ cấu bộ máy quản lý tài chính:
Ngoài việc có một bộ phận chức năng (phòng Tài chính) làm nhiệm vụ tham mưu cho lãnh đạo Bệnh viện thực hiện quản lý tài chính, thì còn nhiều
bộ phận khác cũng gián tiếp thục hiện chức năng này Việc tổ chức thiết lập mối quan hệ công việc một cách khoa học, tránh chồng chéo… cũng ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả công tác quản lý tài chính
- Chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý tài chính:
Mọi hoạt động của tổ chức thì nhân tố con người bao giờ cũng là nhân
tố quyết định Một bộ máy quản lý được tổ chức một cách khoa học bởi các
Trang 35nhân viên có năng lực sẽ đem lại hiệu quả cao trong công tác quản lý, và ngược lại
1.2 Kinh nghiệm quản lý tài chính ở một số bệnh viện thực hiện cơ chế
tự chủ và bài học cho Bệnh viện trường ĐH Y Khoa
1.2.1 Kinh nghiệm về tự chủ tài chính tại các bệnh viện
- Theo số liệu của Bộ Y tế, năm 2013 mới chỉ có 28 đơn vị trong ngành
tự đảm bảo được chi thường xuyên (chiếm 1,3% ) thì đến năm 2017 con số đó
đã là 89 (chiếm 4,2%) Cũng theo đánh giá của báo cáo trên, chỉ riêng việc đưa tiền lương vào giá dịch vụ y tế tháng 7/2016, thành phố Hồ Chí Minh đã giảm chi từ NSNN cho hệ thống y tế được 1.200 tỷ đồng [11], đồng nghĩa với việc số lượng các bệnh viện tự chủ hoàn toàn về tài chính cũng tăng lên và mức độ tự chủ của từng bệnh viện cũng tăng Tuy nhiên, cơ chế tự chủ tài chính mới chỉ thuận lợi đối với một số bệnh viện chuyên khoa, bệnh viện tuyến trung ương và các bệnh viện tại các đô thị lớn Còn đối với các bệnh viện tuyến địa phương, số lượng bệnh nhân ít, hoặc các bệnh viện chuyên khoa đặc biệt như: lao, phong, tâm thần, HIV/AIDS…thì sẽ rất khó khăn, thậm chí thiếu hụt nguồn kinh phí hoạt động khi thực hiện tự chủ Các số liệu trích dẫn dưới đây sẽ chứng tỏ điều đó:
+ Bệnh viện Tim Hà Nội là đơn vị gặt hái nhiều thành công khi chuyển đổi cơ chế từ bao cấp sang tự chủ và được Ban Kinh tế TƯ chọn làm đơn vị nghiên cứu để nhân rộng ra toàn quốc Năm 2005 là thời điểm bệnh viện bước vào lộ trình thực hiện tự chủ, số thu từ dịch vụ y tế của Bệnh viện chỉ đạt 22,5
tỷ đồng Năm 2017 đơn vị được UBND TP Hà Nội giao quyền tự chủ hoàn toàn, con số này đã là hơn 900 tỷ đồng, tức là gấp 40 lần sau 12 năm thực hiện
tự chủ theo lộ trình Thu nhập của người lao động đứng ở nhóm cao nhất trong
số các bệnh viện công lập trên địa bàn Hà Nội Cơ chế giao quyền tự chủ đã tạo động lực cho cán bộ y tế thông qua mức thu nhập hàng tháng Minh bạch về tài
Trang 36chính, kiến tạo môi trường làm việc lành mạnh là các giải pháp để Bệnh viện thu hút và giữ chân lực lượng lao động có tay nghề cao Hiện tại số giường điều trị đã lên đến con số 380, Bệnh viện đã có hồ sơ đề nghị Bộ Y tế công nhận là bệnh viện tuyến cuối cùng của chuyên khoa tim - mạch
+ Bên cạnh đó thì các bệnh viện tuyến dưới thì lại gặp rất nhiều khó khăn khi thục hiện cơ chế mới Tự chủ đồng nghĩa với việc giảm sự hỗ trợ từ NSNN, trong khi số thu từ DV khám chữa bệnh chưa tính đủ chi phí, cơ sở vật chất không được đầu tư đúng mức nên ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ, tác động lên tâm lý người bệnh đổ dồn về tuyến trung ương Bệnh viện tuyến dưới vắng người bệnh thì số thu sẽ giảm, thu nhập người lao động không được đảm bảo, càng khó giữ chân được đội ngũ nhân viên có tay nghề cao, làm giảm chất lượng chuyên môn của bệnh viện Như vậy cái vòng luẩn quẩn khó khăn đẻ ra khó khăn đã bị khép kín, sẽ không thể bứt phá ra được nếu không có sự nỗ lực
từ chính đơn vị cùng với sự điều tiết về cơ chế từ phía Nhà nước Cùng trên địa bàn với Bệnh viện Tim Hà Nội, Bệnh viện đa khoa huyện Chương Mỹ mỗi ngày đón tiếp khoảng 600 lượt người bệnh đến khám và điều trị, tuy nhiên theo lãnh đạo đơn vị, bệnh viện vẫn rơi vào tình trạng thu không đủ chi do cơ sở vật chất xuống cấp nhiều, chi phí duy tu bảo dưỡng lớn Bệnh viện đứng trước thách thức rất lớn về duy trì và phát triển đội ngũ cán bộ chuyên môn Bệnh viện Đa khoa huyện Hoài Đức cũng có những khó khăn tương tự Mặc dù đã làm chủ được nhiều kỹ thuật tương đối khó nhưng do cơ sở vật chất được đầu
tư từ lâu, không có kinh phí nâng cấp sửa chữa nên dù có chuyên môn nhưng vẫn khó thu hút bệnh nhân Cơ chế tự chủ tài chính còn đưa đến hệ quả là các bệnh viện tuyến trên có xu hướng “hút” người bệnh ra khỏi hệ thống các cơ sở khám chữa bệnh ban đầu, làm gia tăng chi phí khám chữa bệnh và vượt chi các quỹ khám chữa bệnh BHYT Một nguyên nhân nữa đưa đến hiện tượng trên là tâm lý “sùng TW” của người bệnh Rất nhiều bệnh lý hoàn toàn có thể xử lý
Trang 37dứt điểm tại các bệnh viện tuyến dưới nhưng bệnh nhân vẫn tìm mọi cách để vượt tuyến chuyên môn tìm về các bệnh viện tuyến trung ương, làm tăng chi phí của bản thân và của xã hội một cách không cần thiết
Nhưng nhìn chung, hiện tại chất lượng dịch vụ y tế được cải thiện rõ rệt, mà việc giao tự chủ cho các bệnh viện là một yếu tố quyết định đến sự thay đổi này Theo khảo sát của Sở Y tế Hà Nội có đến 96% người bệnh được hỏi tỏ ý hài lòng về chất lượng dịch vụ và thái độ của nhân viên y tế Có thể con số trên chưa thật sự khách quan do nhiều nguyên nhân, nhưng rõ ràng sự thay đổi cơ chế đã kéo theo sự thay đổi sâu rộng về nhận thức, về hành động của cả hệ thống y tế [17]
1.2.2 Bài học rút ra từ việc thực hiện cơ chế tự chủ về tài chính tại các bệnh viện công lập
Có thể nói Nghị định 10/2002/NĐ-CP quy định cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp có thu, là bước đi đầu tiên thì phải đến Nghị định 43/2006/NĐ-CP là văn bản pháp quy đặt nền móng cho việc thực hiện tự chủ tài chính hoạt động sự nghiệp y tế, giáo dục Tại thời điểm đó, chúng ta đã có nhiều mô hình tự chủ tài chính bệnh viện công của các quốc gia khác nhau để tham khảo trong việc xây dựng chính sách Trung Quốc là quốc gia láng giềng cũng đã giao quyền tự chủ tài chính một phần cho các bệnh viện từ những năm 90 của thế kỷ trước, các nước Đông Âu còn làm việc này sớm hơn một thập kỷ [1] Tuy nhiên mỗi nước lại có điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau, nên việc vận dụng phải thật sáng tạo để đưa ra một chính sách phù hợp Các Nghị định 85/2012/NĐ-CP, Nghị định 16/2015/NĐ-CP sau này là các bước điều chỉnh chính sách một cách linh hoạt của Chính phủ nhưng với một chủ trương và mục tiêu nhất quán: đó là nhằm tăng cường tính chủ động để giải phóng tối đa sức sáng tạo của cơ sở Quá trình đưa chính sách vào cuộc sống cũng góp phần phân loại các đơn vị sự nghiệp, thông qua thái độ đón nhận sự thay đổi: đối với các đơn vị năng động, tích cực họ sẽ đón nhận chính
Trang 38sách mới như những cơ hội để phát triển; đối với đơn vị có tâm lý thụ động trông chờ thì chính sách mới thực sự đặt họ trước áp lực, vì vậy tâm lý muốn được kéo dài sự bao cấp cũng là điều dễ hiểu Có thể đưa ra một vài nhận xét sau hơn mười năm thực hiện chủ trương này:
- Các mặt được:
+ Tạo ra sự chuyển biến của cả hệ thống, các bệnh viện được giao quyền tự chủ nên rất có ý thức về trách nhiệm xã hội đối với chất lượng các dịch vụ y tế cung ứng cho xã hội;
+ Các bệnh viện được chủ động trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình, hạn chế rất nhiều tệ quan liêu tồn tại cố hữu trong các cơ quan nhà nước;
+ Sự thay đổi về phương thức quản lý, nhất là quản lý về tài chính, trong từng đơn vị đã góp phần thúc đẩy trên bình diện toàn xã hội, việc sử dụng một cách có hiệu quả các nguồn lực
- Các mặt tồn tại, hạn chế:
+ Cơ chế giao quyền tự chủ đem lại lợi thế nhiều hơn cho các bệnh viện chuyên khoa, các bệnh viện đầu ngành tại các trung tâm đô thị lớn Ngược lại các bệnh viện đa khoa hoặc các bệnh viện tuyến dưới thì phải đối mặt với nhiều thách thức hơn
+ Tâm lý ngại thay đổi vẫn còn phổ biến, không ít đơn vị lúng túng không thích ứng được với cơ chế mới;
+Do áp lực về tài chính khi được giao tự chủ nên một bộ phận không nhỏ có khuynh hướng thương mại hóa hoạt động y tế, làm chệch hướng mục tiêu ban đầu là nâng cao chất lượng dịch vụ y tế của chủ trương giao tự chủ
- Bài học rút ra cho Bệnh viện trường ĐH Y Khoa trong công tác quản
lý tài chính:
+ Theo cơ chế tài chính mới thì bệnh nhân và quỹ BHYT là người trả lương cho nhân viên y tế, chứ không còn là Nhà nước như trước đây Bệnh viện phải có chiến lược để thu hút và giữ chân người bệnh thông qua việc
Trang 39nâng cao những giá trị người bệnh có thể cảm nhận được như: chất lượng dịch
vụ, thái độ giao tiếp, hiệu quả điều trị v v để tạo nguồn thu ổn định, nâng cao uy tín của đơn vị
+ Đối tượng đóng vai trò quyết định đến chất lượng hoạt động chuyên môn là đội ngũ bác sỹ và điều dưỡng, KTV có tay nghề cao Bệnh viện phải
có kế hoạch sàng lọc, đào tạo - bồi dưỡng, sử dụng và đãi ngộ hợp lý để tạo ra động lực làm việc, cống hiến và có sự gắn bó lâu dài
+ Thu nhập và môi trường làm việc là lợi ích cơ bản mà người lao động mong muốn nhận được từ phía cơ quan đơn vị Thực tế là không phải ở đâu, lúc nào cũng hội đủ những điều kiện để đáp ứng nhu cầu của người lao động Trong khi khả năng có giới hạn về tài chính để thỏa mãn nhu cầu về vật chất thì bệnh viện hoàn toàn có thể minh bạch hóa tài chính và tạo dựng môi trường làm việc lành mạnh để cuốn hút người lao động Mặt khác, cơ chế tự chủ cũng cho phép đơn vị xây dựng cơ chế chi trả nhu nhập có sự ưu tiên cho các tập thể, cá nhân có sự đóng góp lớn cho số thu tài chính Thực hiện nguyên tắc công bằng chứ không cào bằng trong phân phối thu nhập, có thể là chìa khóa mở ra khả năng giải quyết mâu thuẫn giữa hai vấn đề là sự cắt giảm
hỗ trợ kinh phí từ NSNN và nhu cầu nâng cao thu nhập của CBVC
+ Tránh xu hướng thương mại hóa hoạt động cung cấp dịch vụ y tế Trong cơ chế thị trường thì Bệnh viện phải rất quan tâm đến việc xây dựng hình ảnh và thương hiệu trong cộng đồng Những hành vi khai thác bệnh nhân
sẽ gây ra sự hủy hoại uy tín của Bệnh viện với mức độ theo cấp số nhân
Trang 40Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Câu hỏi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm tập trung giải quyết các câu hỏi nghiên cứu sau đây:
- Nội dung việc thực hiện cơ chế tự chủ về tài chính được hiểu hiện cụ thể như thế nào tại Bệnh viện trường Đại học Y Khoa?
- Thực trạng công tác quản lý tài chính tại Bệnh viện trường Đại học Y Khoa, các yếu tố nào ảnh hưởng đến chất lượng công tác đó?
- Giải pháp nào nhằm hoàn thiện, nâng cao hiệu quả quản lý tài chính tại Bệnh viện trường Đại học Y Khoa?
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
Số liệu sử dụng trong luận văn là số liệu sơ cấp và số liệu thứ cấp:
- Số liệu sơ cấp: là kết quả thu được thông qua phỏng vấn lãnh đạo đơn vị + Người được phỏng vấn: là thủ trưởng đơn vị, người có trách nhiệm trực tiếp về quản lý tài chính của Bệnh viện
+ Cách thức phỏng vấn: phỏng vấn theo chuyên đề, không cấu trúc (phỏng vấn sâu) về cơ chế giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong các lĩnh vực nói chung, trong đó có tự chủ về tài chính;
+ Mục đích cuộc phỏng vấn: thu thập thông tin về những thuận lợi, khó khăn của đơn vị khi triển khai thực hiện chính sách nhằm phân tích đánh giá công tác quản lý tài chính tại đơn vị và đưa ra những giải pháp hữu ích
- Số liệu thứ cấp: là các số liệu đã được xử lý, sử dụng trong phân tích, đánh giá của bản luận văn Số liệu thứ cấp bao gồm:
+ Các văn bản pháp quy về hoạt động tài chính của Bệnh viện, như: Nghị định 43/2006/NĐ - CP của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính