Cổ phiếu ưu đãi có lợi tức xác địnhgiống như trái phiếu, được ưu tiên chia phần còn lại của công ty khi công ty bị phá sảnhoặc giải thể trước những người nắm giữ cổ phiếu thường nhưng sa
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu:
Trước yêu cầu đổi mới và phát triển kinh tế phù hợp với xu hướng hội nhập quốc
tế, thị trường chứng khoán (TTCK) được xem là đặc trưng cơ bản, là biểu tượng củanền kinh tế hiện đại Trên cơ sở tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm và mô hình TTCKtrên thế giới, Việt Nam đã quyết định thành lập TTCK với những đặc thù riêng biệt Sự
ra đời của TTCK Việt Nam nằm trong tiến trình phát triển nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa của Đảng và Nhà nước Trên thực tế, TTCK đã mở ra kênh huyđộng vốn trung, dài hạn mới cho Chính phủ, chính quyền địa phương, các doanh nghiệpcũng như đem lại tiềm năng, vận hội mới đối với các nhà đầu tư Để thâm nhập vàoTTCK, điều cần quan tâm là phải hiểu rõ hàng hóa của thị trường này vì để có thịtrường điều trước tiên là phải có hàng hóa và sự buôn bán hàng hóa Do đó, để hoànthiện hơn nữa TTCK thì vấn đề tạo hàng hóa và nâng cao chất lượng hàng hóa choTTCK phải được đặt lên hàng đầu Với một thị trường còn nhỏ bé và non trẻ như ViệtNam, để từng bước đưa TTCK thực sự lên một tầm cao mới thì đòi hỏi phải có sự quantâm rất lớn bắt đầu từ việc cải thiện số lượng và chất lượng hàng hóa trên TTCK Vớimong muốn tìm hiểu TTCK và tìm ra những biện pháp phát triển TTCK Việt Nam,nhóm chúng tôi quyết định chọn đề tài “hàng hóa trên TTCK và định giá cổ phiếu, tráiphiếu”
2 Mục tiêu nghiên cứu:
Tổng quan về TTCK:
Hàng hóa trên TTCK và hàng hóa trên TTCK Việt Nam:
Định giá cổ phiếu, trái phiếu:
Thực trạng hàng hóa trên TTCK Việt Nam những năm gần đây:
Nguồn tài liệu:
Trang 2MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 4
1.1 Sơ lược về TTCK: 4
1.2 Vai trò và chức năng của TTCK: 5
CHƯƠNG 2: HÀNG HÓA TRÊN TTCK VÀ HH TRÊN TTCK VIỆT NAM 6
2.1 Khái quát chung hàng hóa của thị trường chứng khoán: 6
2.2 Các loại hàng hóa trên TTCK: 6
2.2.1 Chứng khoán vốn: 6
2.2.2 Chứng khoán nợ: 8
2.2.3 Chứng khoán phái sinh: 8
Đặc điểm của hàng hóa TTCK: 10
2.3 Các loại hàng hóa trên TTCK Việt Nam: 11
2.3.1 Cổ phiếu: 12
2.3.2 Trái phiếu Chính phủ: 13
2.3.3 Trái phiếu công ty: 14
2.3.4 Trái phiếu có đảm bảo: 14
2.3.5 Trái phiếu không có đảm bảo: 14
2.3.6 Trái phiếu chuyển đổi: 15
2.3.7 Chứng chỉ quĩ đầu tư: 15
CHƯƠNG 3: ĐỊNH GIÁ CỔ PHIẾU, TRÁI PHIẾU 16
3.1 Định giá cổ phiếu: 16
3.1.1 Khái quát chung về định giá cổ phiếu: 16
3.1.2 Vai trò của việc định giá cổ phiếu: 16
3.1.3 Phương pháp định giá cổ phiếu: 17
3.2 Định giá trái phiếu: 19
3.2.1 Khái quát chung về định giá trái phiếu: 19
3.2.2 Định giá trái phiếu 20
Trang 3CHƯƠNG 4: THỰC TRẠNG HÀNG HÓA TRÊN TTCK VIỆT NAM NHỮNG
NĂM GẦN ĐÂY VÀ GIẢI PHÁP 23
4.1 Thực trạng hàng hóa trên TTCK Việt Nam năm 2012 và đầu năm 2013 23
4.2 Một số giải pháp cải thiện tình hình trên thị trường chứng khoán 30
KẾT LUẬN 32
Trang 4CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1.1 Sơ lược về TTCK:
Thị trường chứng khoán là lĩnh vực phong phú, đa dạng và rất phức tạp; là nơimua bán các chứng khoán và thường được thực hiện chủ yếu tại Sở giao dịch chứngkhoán, một phần ở các công ty môi giới (công ty chứng khoán), và cả ở thị trường chợđen
Về mặt hình thức, thị trường chứng khoán chỉ là
nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán, chuyển
nhượng các loại chứng khoán; qua đó thay đổi chủ
thể nắm giữ chứng khoán
Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các hoạt
động giao dịch mua bán các loại chứng khoán Việc
mua bán được tiến hành ở hai thị trường sơ cấp và
thứ cấp Do vậy thị trường chứng khoán là nơi chứng
khoán được phát hành và trao đổi
Thị trường sơ cấp : người mua mua được chứng khoán lần đầu từ nhữngngười phát hành
Thị trường thứ cấp : nơi diễn ra sự mua đi bán lại các chứng khoán đã đượcphát hành ở Thị trường sơ cấp
Vị trí của Thị trường chứng khoán: Trong thị trường Tài chính có hai thị trườnglớn là:
Thị trường Tài chính ngắn hạn (Thị trường tiền tệ);
Thị trường Tài chính dài hạn (Thị trường vốn): bao gồm Thị trường tíndụng dài hạn (gồm Thị trường cho vay thế chấp và thị trường cho thuê tàichính); và Thị trường chứng khoán
Trang 51.2 Vai trò và chức năng của TTCK:
Thực tế phát triển kinh tế ở các nước trên thế giới đã khẳng định vai trò quan trọngcủa TTCK :
Thứ nhất, TTCK với việc tạo ra các công cụ có tính thanh khoản cao, có thể tích
tụ, tập trung và phân phối vốn, chuyển thời hạn của vốn phù hợp với yêu cầu phát triểnkinh tế
Thứ hai, TTCK góp phần thực hiện tái phân phối công bằng hơn, thông qua việcbuộc các tập đoàn gia đình phát hành chứng khoán ra công chúng, giải tỏa sự tập trungquyền lực kinh tế của các tập đoàn, song vẫn tập trung vốn cho phát triển kinh tế
Thứ ba, TTCK tạo điều kiện cho sự tách biệt giữa sở hữu và quản lí doanh nghiệp.Thứ tư, hiệu quả của quốc tế hóa TTCK, việc mở cửa TTCK làm tăng tính cạnhtranh trên thị trường quốc tế
Thứ năm, TTCK tạo cơ hội cho chính phủ huy động các nguồn tài chính mà khôngtạo áp lực về lạm phát, đồng thời tạo các công cụ cho việc thực hiện chính sách tàichính tiền tệ của Chính phủ
Thứ sáu, TTCK cung cấp một dự báo về hiệu quả chu kỳ kinh doanh trong tươnglai
Trang 6CHƯƠNG 2: HÀNG HÓA TRÊN TTCK VÀ HÀNG HÓA TRÊN TTCK VIỆT NAM
2.1 Khái quát chung hàng hóa của thị trường chứng khoán:
Chứng khoán là hàng hóa vốn, là hàng hóa trừu tượng, giá trị của nó không liênquan đến giá trị hiện vật mà dựa vào trái quyền hợp pháp một lợi ích tương lai nào đó,không giá trị sử dụng
Hàng hóa thông thường là hàng hóa vật chất để tiêu dùng, chứng khoán là hànghóa vốn của hoạt động sản xuất
Mua chứng khoán là mua giá trị tương lai với những hi vọng kiếm được số tiềnlớn hơn nhưng không chắc chắn
Để các giấy tờ mua bán được bảo đảm, người mua phải nắm vững các thông tin vềchứng khoán và các thông tin này được đảm bảo pháp luật
Chứng khoán là hàng hóa đặc biệt – Hàng hóa vốn – là công cụ huy động vốn từnơi thừa sang nơi thiếu Chứng khoán là nhân tố cơ bản hình thành TTCK
2.2 Các loại hàng hóa trên TTCK:
Trên TTCK bao gồm nhiều loại hàng hóa, có thể chia thành 3 loại hàng hóa chínhlà: chứng khoán vốn, chứng khoán nợ và chứng khoán phái sinh
2.2.1 Chứng khoán vốn:
Chứng khoán vốn là chứng thư xác nhận sự góp vốn và quyền sở hữu phần vốngóp và các quyền hợp pháp khác đối với tổ chức phát hành Đại diện cho chứng khoánvốn là cổ phiếu và chứng chỉ quỹ đầu tư
Đối với công ty, việc phát hành cổ phiếu có lợi hơn là việc phát hành các chứngchỉ nợ vì công ty nắm giữ tiền mà không phải trả lãi theo thời gian hạn định Đới vớiviệc mua cổ phiếu, các cổ đông nắm giữ cổ phiếu trong công ty, có nghĩa là các cổđông mới sẽ chia quyền sở hữu đối với các cổ đông đầu tiên Cổ phiếu là một loạichứng khoán vốn được phát hành dưới dạng chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận
Trang 7quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp đối với tài sản hoặc vốn của một công ty cổ phần Cổphiếu là công cụ tài chính có thời hạn thanh toán là vô thời hạn.
Trong lịch sử, loại cổ phiếu ra đời đầu tiên là cổ phiếu ký danh - loại cổ phiếu cóghi tên chủ sở hữu Đến thế kỷ 19, với ưu thế chuyển nhượng dễ dàng, cổ phiếu vôdanh đã thay thế gần như hoàn toàn cổ phiếu ký danh
Cổ phiếu gồm 2 loại chính: cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi, giữa chúng cónhững đặc điểm khác nhau Cổ phiếu thường hay cổ phiếu phổ thông là một loại chứngkhoán vốn, không kỳ hạn, tồn tại cùng với sự tồn tại của công ty, lợi tức cổ phiếu đượctrả vào cuối mỗi năm để quyết toán - gọi là cổ tức Đặc điểm của cổ phiếu thường làcùng dự phần may rủi với công ty, số lượng cổ phiếu càng nhiều thì quyền sở hữu cànglớn Đây là loại cổ phiếu bao hàm nhiều yếu tố rủi ro, giá cổ phiếu biến động nhiều trênthị trường nhưng loại cổ phiếu này thường có giá rẻ hơn cổ phiếu ưu đãi Những người
mua cổ phần phổ thông có hy vọng kiếm tiềnkhông những ở khoản cổ tức được trả mà còn ởkhả năng giá trị cổ phần đó sẽ tăng lên, họ cóthể bán cổ phần trên thị trường với giá cao hơnkhoản tiền họ đã mua Cổ phần phổ thông hầunhư lúc nào cũng có ưu thế về thanh khoản
Cổ phiếu ưu đãi là loại chứng khoán laitạp, có những đặc điểm vừa giống cổ phiếuthường, vừa giống trái phiếu Cổ phiếu ưu đãi còn được gọi là cổ phiếu đặc quyền - làloại cổ phiếu được hưởng những ưu tiên hơn so với cổ phiếu thường Cổ phiếu ưu đãimang tính rủi ro ít hơn cổ phiếu thường nên giá cổ phiếu ưu đãi trên thị trường khôngdao động lên xuống như cổ phiếu thường Do đó, loại cổ phiếu này thích hợp vớinhững nhà đầu tư mong muốn có thu nhập ổn định Cổ phiếu ưu đãi có lợi tức xác địnhgiống như trái phiếu, được ưu tiên chia phần còn lại của công ty khi công ty bị phá sảnhoặc giải thể trước những người nắm giữ cổ phiếu thường nhưng sau những người nắmgiữ trái phiếu Do vậy, cổ phiếu ưu đãi giống như một loại trái phiếu nhỏ mà không
Trang 8được sự bảo đảm của một trái phiếu, đồng thời lại không có tính hấp dẫn của một cổphiếu.
Tóm lại, với những đặc trưng của mình, cổ phiếu đã tạo cho công ty cổ phầnnhững ưu thế tuyệt diệu: có khả năng huy động, tập trung được một khối lượng vốnkhổng lồ cho sự phát triển từ những số vốn lẻ tẻ trong dân chúng Nhờ có cổ phiếu, vốnđầu tư của các cổ đông không bị bất động, họ có thể chuyển vốn đầu tư từ lĩnh vực nàysang lĩnh vực khác, từ công ty này sang công ty khác bằng cách mua bán cổ phiếu trênTTCK thứ cấp
2.2.2 Chứng khoán nợ:
Chứng khoán nợ, điển hình là trái phiếu, tín phiếu là một loại chứng khoán quyđịnh nghĩa vụ của người phát hành (người đi vay) phải trả cho người đứng tên sở hữuchứng khoán (người cho vay) một khoản tiền nhất định bao gồm cả gốc và lãi trongnhững khoản thời gian cụ thể
Những đặc trưng cơ bản của trái phiếu:
Mệnh giá và lãi cuống phiếu: mệnh giá của một cuống phiếu là số tiền ghi trên bề
mặt trái phiếu, đến thời điểm thanh toán (đáo hạn) của trái phiếu, tổ chức phát hànhphải trả số tiền đó cho người sở hữu hợp pháp trái phiếu Lãi suất cuống phiếu là lãisuất tổ chức phát hành sẽ trả cho người sở hữu trái phiếu khi đến hạn thanh toán Lãisuất nhân mệnh giá sẽ cho lãi cuống phiếu Thông thường, lãi suất cuống phiếu là lãisuất danh nghĩa
Thời gian đáo hạn: thời gian đáo hạn của trái phiếu là thời gian chấm dứt khoản
nợ, tổ chức phát hành sẽ thu hồi trái phiếu bằng cách hoàn trả gốc và lãi cho người sởhữu Thời hạn đáo hạn của trái phiếu thông thường là dài hạn Nếu thời gian đáo hạncủa trái phiếu càng dài thì mức độ biến động giá của trái phiếu sẽ càng lớn
2.2.3 Chứng khoán phái sinh:
Chứng khoán phái sinh là các công cụ tài chính có nguồn gốc từ chứng khoán và
có quan hệ chặt chẽ với các chứng khoán gốc
Trang 9Có thể phân loại chứng khoán phái sinh thành các loại như sau:
Quyền mua trước hay còn gọi là đặc quyền mua là một quyền ưu đãi gắn liền
với một loại cổ phiếu đang lưu hành, do công ty phát hành ra cổ phiếu đó để huy độngthêm vốn cổ phần, quyền mua trước cho phép người sở hữu những cổ phần đang lưuhành được mua một số nhất định cổ phiếu trong đợt phát hành mới của công ty, tại mộtmức giá xác định thấp hơn mức giá chào bán ra công chúng trong một thời gian nhấtđịnh
Giá trị của quyền mua trước được xác định:
M=(P-E)/(N+1)
Trong đó: P là thị giá cổ phiếu
E là giá ưu đãi của chứng quyền
N là định mức số cổ phiếu cũ để mua một cổ phiếu mới
Chứng khế hay còn gọi là bảo chứng
phiếu (cam kết bán) là một loại chứng khoán
được phát hành cùng với trái phiếu hay cổ phiếu
ưu đãi mà người sở hữu nó có quyền được mua
một số lượng chứng khoán nhất định tại một mức
giá xác định và trong một thời hạn nhất định
Quyền này được phát hành trong trường hợp tổ
chức lại các công ty hoặc khi công ty phát hành nhằm mục tiêu khuyến khích các nhàđầu tư tiềm năng mua các loại trái phiếu và cổ phiếu ưu đãi có những điều kiện kémthuận lợi
Giá trị của chứng khế = giá trị nội tại + giá trị thời gian
Trong đó: Giá trị nội tại = (giá cổ phần – giá thực hiện) * số cổ phần được mua chứng khế
Hợp đồng kỳ hạn là một thỏa thuận giữa người mua và người bán thực hiện một
giao dịch hàng hóa ở một thời điểm chắc chắn trong tương lai với khối lượng và mứcgiá xác định Hợp đồng kỳ hạn không trao đổi trên thị trường, không định giá hằngngày Hợp đồng kỳ hạn không phải theo tiểu chuẩn của thị trường riêng biệt, ngày thực
Trang 10hiện hợp đồng được xác định tùy theo từng hợp đồng Giá trong hợp đồng kỳ hạn là giágiao hàng tại thời điểm ký kết hợp đồng Hợp đồng kỳ hạn được nhà đầu tư sử dụngtiến hành đầu cơ và bảo hộ.
Hợp đồng tương lai là một thỏa thuận để mua hoặc bán một tài sản vào thời điểm
chắc chắn trong tương lai với một mức giá xác định Chức năng cơ bản của các thịtrường hợp đồng tương lai là cung cấp một cơ hội cho những người tham gia thị trường
để phòng ngừa rủi ro về những biến động giá bất lợi và là công cụ cho các nhà đầu cơ.Các hợp đồng tương lai dựa trên cơ sở một công cụ tài chính hay một chỉ số tài chínhđược gọi là hợp đồng tương lai tài chính, bao gồm hợp đồng tương lai chỉ số cổ phiếu,hợp đồng tương lai lãi suất, hợp đồng tương lai tiền tệ
Đặc điểm của hàng hóa TTCK:
Tính thanh khoản:
Tính thanh khoản của một loại chứng khoán cũng như của một tài sản là khả năngchuyển chúng thành tiền mặt và không bị sụt giảm về giá trị tiền tệ của chúng Việcchuyển đổi phải nhanh chóng và phí chuyển đổi ở đây phải thấp Như vậy, nếu chứngkhoán nào có thể dễ dàng đổi thành tiền mặt nhanh chóng và phí chuyển đổi thấp thì sẽ
có tính thanh khoản cao và ngược lại
Tính thanh khoản của một chứng khoán biến đổi theo sự ổn định giá của nó trênthị trường Vì vậy, ta có thể nói tính thanh khoản của trái phiếu kho bạc cao hơn cổphiếu của một công ty vì trái phiếu kho bạc rất dễ dàng đổi ra tiền mặt với mức phí tổnthấp
Tính rủi ro:
Một chứng khoán có những rủi ro là người sở hữu có thể không thu hồi đủ số tiền
đã bỏ ra mua nó Có thể chia rủi ro thành hai loại cơ bản sau:
Rủi ro không thanh toán: là rủi ro xuất phát từ sự phá sản của công ty phát hành
Vì vậy, các trái phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi thường ít chịu rủi ro không thanhtoán hơn so với các loại trái phiếu hoặc cổ phiếu công ty
Trang 11Rủi ro thị trường: là rủi ro liên quan đến sự biến động giá của thị trường Giá củacác loại cổ phiếu, trái phiếu trên thị trường có thể tăng giảm phụ thuộc vào nhiều nhân
tố như lạm phát, tình hình kinh doanh của công ty, các sự kiện bất thường,
Tính sinh lợi
Đối với các chứng khoán ngắn hạn, lãi suất được tính bằng số tiền kiếm được từtài sản này chia cho số tiền bỏ ra mua nó Thường lãi suất được tính trên cơ sở hàngnăm và được gọi là hoa lợi hiện hành
Đối với chứng khoán dài hạn, người ta áp dụng một loại hoa lợi khác gọi là lời khiđáo hạn Khái niệm này đề cập đến những khoản hay lỗ trên vốn được thực hiện vàolúc chứng khoán đó đáo hạn, cũng chính là lúc mệnh giá của chứng khoán này đượchoàn trả
Các đặc tính trên của chứng khoán có mối quan hệ tương hỗ với nhau, nhữngngười mua chứng khoán thường chấp nhận mức sinh lời thấp để có được loại chứngkhoán có tính thanh khoản cao Tính rủi ro và tính thanh khoản có mối quan hệ ngượcchiều nhau Một chứng khoán khi có tính rủi ro cao thì tính thanh khoản thấp và dẫn tớitính sinh lợi cao Ngược lại, đối với những chứng khoán có tính thanh khoản cao, rủi rothấp thì tính sinh lợi cũng thấp
2.3 Các loại hàng hóa trên TTCK việt nam:
TTCK Việt Nam là kênh huy động vốn tốt nhất cho sự phát triển của nền kinh tếthông qua các công cụ huy động vốn khác nhau Trên các TTCK đã phát triển hiện nay,
có rất nhiều loại hàng hóa được giao dịch, tạo nên nguồn hàng dồi dào cho TTCK,đồng thời giúp cho công chúng đầu tư có nhiều cơ hội lựa chọn loại chứng khoán phùhợp cho chính mình Ngoài các loại chứng khoán như cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉquĩ đầu tư, TTCK của các nước còn giao dịch các loại chứng khoán phái sinh khác như:chứng quyền (quyền mua), Bảo chứng phiếu, hợp đồng quyền lựa chọn và hợp đồngtương lai Tuy nhiên do thị trường chứng khoán Việt Nam mới chỉ đang trong giai đoạntập dượt nên chỉ giao dịch một số loại chứng khoán cơ bản
Trang 12Các loại chứng khoán được pháp luật Việt Nam qui định: các loại chứng khoán
trên thị trường Việt Nam được qui định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau phùhợp với phạm vi điều chỉnh và đối tượng điều chỉnh của văn bản Nhìn chung các loạichứng khoán được qui định trong Luật doanh nghiệp Việt Nam và thông tư số 02/2001/TT-UBCK ngày 28/9/2001 hướng dẫn chi tiết Nghị định 48/1998/NĐ-CP bao gồm:
2.3.1 Cổ phiếu:
Có 2 loại cổ phiếu:
Cổ phiếu phổ thông (cổ phiếu thường):
Theo Luật doanh nghiệp ban hành năm 1999
qui định khái niệm, tính chất và quyền của cổ
phiếu phổ thông tương tự như qui định cổ phiếu
thường của các nước
Cổ phiếu ưu đãi: Luật doanh nghiệp của
Việt Nam qui định có một số điểm khác với
thông lệ các nước Các công ty cổ phần Việt
Nam có thể phát hành 3 loại cổ phiếu ưu đãi gồm: Cổ phần ưu đãi quyền biểu quyết, cổphần ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại
Cổ phần ưu đãi biểu quyết: theo Điều 52 và 55 của Luật doanh nghiệp: là
cổ phần có số biểu quyết nhiều hơn so với cổ phần thường (cổ phần phổ thông); sốquyền biểu quyết của mỗi cổ phần ưu đãi về quyền biếu quyết là bao nhiêu là do điều lệcông ty qui định Chỉ có các tổ chức được Chính phủ ủy quyền và các cổ đông sáng lậpmới được nắm giữ cổ phiếu ưu đãi về quyền biểu quyết; cổ đông sáng lập chỉ được nắmgiữ cổ phiếu ưu đãi về quyền biểu quyết trong 3 năm đầu thành lập công ty (kể từ ngàycông ty được cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh ), sau thời hạn này số cổ phiếu
ưu đãi trở thành cổ phiếu ưu đãi phổ thông Cổ phiếu ưu đãi không được phép chuyểnnhượng, được hưởng mọi quyền lợi tài chính khác như đối với cổ phiếu phổ thông
Cổ phần ưu đãi cổ tức: theo Điều 52 và 56 Luật doanh nghiệp có 2 loại
cổ phần ưu đãi cổ tức là cổ phần được trả cổ tức cao hơn so với mức cổ tức của cổ phần
Trang 13phổ thông hoặc mức ổn định hằng năm Cổ tức được chia hằng năm bao gồm cổ tức cốđịnh và cổ tức thường Cổ tức cố định không phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinhdoanh của công ty Cổ đông cổ phần ưu đãi cổ tức có các quyền như cổ đông phổthông, được ưu đãi về cổ tức và được nhận lại vốn cổ phần trước cổ đông phổ thôngsau khi công ty đã thanh toán hết cho chủ nợ và cổ phần ưu đãi hoàn lại khi thanh lícông ty; nhưng không có quyền biểu quyết, không có quyền Dự đại hội đồng cổ đông,không có quyền đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát.
Cổ phần ưu đãi hoàn lại: theo Điều 52 và 57 Luật doanh nghiệp thì cổ
phần ưu đãi hoàn lại là cổ phần sẽ được công ty hoàn lại vốn bất cứ khi nào theo yêucầu của người sở hữu hoặc các điều kiện ghi trên tờ cổ phiếu đó Cổ đông ưu đãi hoànlại được hưởng các quyền lợi tài chính như cổ đông cổ phần phổ thông, nhưng khôngđược dự đại hội cổ đông, không có quyền biểu ứng cử, bỏ phiếu và biểu quyết
2.3.2 Trái phiếu chính phủ:
Được Nghị định 01/2000/NĐ-CP qui định gồm:
Tín phiếu kho bạc: Là loại trái phiếu chính phủ có thời hạn dưới 1 năm, phát hành
với mục đích bù đắp thiếu hụt tạm thời của Ngân sách Nhà nước và tạo thêm công cụcho thị trường tiền tệ
Trái phiếu kho bạc: Là loại trái phiếu Chính phủ có thời hạn từ 1 năm trở lên
được phát hành với mục đích huy động vốn theo kế hoạch của Ngân sách Nhà nướchằng năm đã được Quốc hội phê duyệt
Trái phiếu đầu tư: là loại trái phiếu chính phủ có thời hạn từ 1 năm trở lên bao
gồm các loại sau:
Trái phiếu huy động vốn cho từng công trình cụ thể thuộc diện Ngân sáchNhà nước, nằm trong kế hoạch đầu tư đã được Chính phủ phê duyệt nhưng chưa được
bố trí vốn Ngân sách trong năm kế hoạch
Trái phiếu huy động vốn cho Quĩ hỗ trợ phát triển theo kế hoạch tín dụngđầu tư phát triển hằng năm được Chính phủ phê duyệt
Trang 142.3.3 Trái phiếu công ty:
Do các công ty cổ phần, các doanh nghiệp Nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạnphát hành để vay vốn trong công chúng đầu tư, được qui định trong thông tư02/2001/TT-UBCK ngày 28/9/2001 hướng dẫn chi tiết Nghị định 48/1998/NĐ-CP vềphát hành cổ phiếu và trái phiếu ra công chúng, Luật doanh nghiệp, Luật các tổ chứctín dụng…
2.3.4 Trái phiếu có đảm bảo:
Phân biệt theo mức độ đảm bảo, trái phiếu có 2 loại: Trái phiếu đảm bảo toàn bộgiá trị và trái phiếu đảm bảo một phần
Phân biệt theo phương thức đảm bảo, có 3 loại: Trái phiếu được bảo lãnh thanhtoán bởi ngân sách nhà nước; Trái phiếu được bảo lãnh thanh toán bởi một tổ chức tàichính trung gian và trái phiếu bảo đảm bằng tài sản của tổ chức phát hành hoặc bằng tàisản của một nước thứ 3
Tài sản dùng để đảm bảo cho trái phiếu có thể là trái phiếu chính phủ, trái phiếucủa công ty khác được đảm bảo thanh toán, quyền sử dụng đất, nhà ở và công trình gắnliền với đất, các công cụ sản xuất Tài sản dùng để bảo đảm phải có bảo hiểm Đảm bảobằng giấy tờ có giá, giá trị đảm bảo phải bằng tổng giá trị trái phiếu dự định phát hành;đảm bảo bằng đất đai, tài sản thì giá trị đảm bảo phải bằng 1,5 lần tổng giá trị trái phiếu
dự định phát hành
2.3.5 Trái phiếu không có đảm bảo:
Là loại trái phiếu được phát hành bằng uy tín của tổ chức phát hành, công tykhông phải đưa ra bất cứ một lượng giá trị nào làm đảm bảo cho đợt phát hành Tráiphiếu này thường do các công ty lớn, có uy tín phát hành
2.3.6 Trái phiếu chuyển đổi:
Là trái phiếu có khả năng chuyển đổi thành cổ phiếu thường theo những điều kiệnđược xác định trước: điều kiện chuyển đổi, thời hạn chuyển đổi, tỉ lệ chuyển đổi vàphương pháp tính giá chuyển đổi
Trang 152.3.7 Chứng chỉ quĩ đầu tư:
Được qui định trong thông tư số 02/2001/TT-UBCK ngày 28/9/2001 hướng dẫnchi tiết Nghị định số 48/1998/NĐ-CP
Chứng chỉ quĩ đầu tư là loại chứng khoán do công ty quản lí quĩ đại diện cho mộtquĩ đầu tư chứng khoán phát hành, xác nhận quyền hưởng lợi của người đầu tư đối vớiQuĩ
Trong thông tư số 02/2001/TT-UBCK cũng đưa ra những khái niệm về quyềnmua cổ phần và chứng quyền, tuy nhiên hiện nay trên thị trường chứng khoán ViệtNam chưa cho phép các loại chứng quyền này được giao dịch như một loại chứngkhoán trên thị trường
Trang 16CHƯƠNG 3: ĐỊNH GIÁ CỔ PHIẾU, TRÁI PHIẾU
3.1 Định giá cổ phiếu:
3.1.1 Khái quát chung về định giá cổ phiếu:
Định giá cổ phiếu thực chất là quá trình xác định giá trị thực hay giá trị kinh tếdoanh nghiệp Từ đó xác định giá trị của cổ phần mà đại diện cho nó là cổ phiếu
3.1.2 Vai trò của việc định giá cổ phiếu:
Góc độ chủ thể phát hành, thông qua việc xác định giá cổ phiếu, các chủ thể pháthành có thể định ra được mức giá hợp lí nhằm bảo đảm người đầu tư sẵn sàng chấpnhận mức giá đó, đồng thời doanh nghiệp cũng không bị thua thiệt do cổ phiếu bị địnhgiá thấp
Đối với nhà đầu tư, cổ phiếu là một phương tiện có khả năng thu lợi nhuận cao,nhưng cũng có thể gặp rủi ro lớn Để đi đến quyết
định đầu tư đúng đắn đòi hỏi phải có sự lựa chọn loại
cổ phiếu mà người đầu tư có thể chấp nhận được
Nếu rủi ro càng lớn thì yêu cầu lợi suất đầu tư càng
cao và do đó giá cổ phiếu càng thấp Vì lẽ đó, người
đầu tư cần phải tiến hành định giá cổ phiếu để xác
định mức giá và độ rủi ro của cổ phiếu đó có phù hợp
với nhau và phù hợp với sở thích của người đầu tư
hay không
Đối với cơ quan quản lí Nhà nước, việc nắm được các phương pháp và kỹ năngđịnh giá cổ phiếu sẽ giúp cho các cơ quan này đánh giá được thực trạng giá cả các tàisản tài chính trên thị trường Từ đó, có những chính sách và biện pháp hợp lí để điềuchỉnh thị trường
Đối với các công ty chứng khoán: định giá đúng góp phần đưa ra quyết định đầu
tư đúng đắn