1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN TÍNH HAI MẶT CỦA TOÀN CẦU HÓA KINH TẾ

22 574 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một trong những xu hướng làm thay đổi đáng kể toàn bộ cục diện thế giới trong suốt hơn nhiều thập kỷ vừa qua chính là tốc độ tăng trưởng nhanh và liên tục của xu thế toàn cầu hóa, mà nổi trội nhát là toàn cầu hóa kinh tế. Toàn cầu hóa thúc đẩy các quốc gia tiến đến thịnh vượng và khiến thế giới này trở nên gắn kết với nhau hơn. Đó là quá trình tất yếu trong sự vận động của nền kinh tế thế giới, giống như cựu Tổng thống Mỹ Bill Clinton từng phát biểu tại đại học Quốc gia Hà Nội trong chuyến thăm Việt Nam năm 2000: Toàn cầu hóa cũng giống như một cơn gió hay một dòng nước. Chúng ta có thể lợi dụng sức gió để căng buồm ra khơi cũng như dùng sức nước để tạo ra năng lượng, và hãy cố gắng hết sức để bảo vệ con người và của cải trước bão lũ. Và trong dòng chảy mang tính chất tất yếu của thời đại ấy, Việt Nam cũng đang từng bước hòa mình và quan tâm đến việc mở rộng mối quan hệ nhiều mặt với các quốc gia, các khu vực trên thế giới bằng việc tham dự các hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương như APEC, ASEM, ASEAN, AFTA, WTO ... và đặc biệt, gần đây nhất đó là TPP và AEC. Trong bài phát biểu tại Hội nghị tương lai châu Á, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã nêu lên sự thành công của Con đường Tơ lụa cổ đại, tạo nên một lộ trình thương mại nổi tiếng và thịnh vượng nối châu Á và châu Âu, để khẳng định rằng lịch sử đã chứng minh toàn cầu hóa không chỉ đơn thuần là một tiến trình kinh tế mà còn đáp ứng được mong muốn của nhân loại trong việc thúc đẩy hội nhập, trao đổi kinh tế trên cơ sở bình đẳng và vì lợi ích của tất cả các bên. Tuy nhiên, cần phải nhìn nhận một cách khách quan rằng toàn cầu hóa kinh tế bên cạnh những ảnh hưởng tích cực thì cũng tồn tại song song những hạn chế tiêu cực đến các quốc gia và vùng lãnh thổ. Do đó nhiều nước hiện nay vẫn đang hết sức lo lắng khi kinh tế đất nước ngày càng hội nhập sâu hơn. Có thể thấy việc nghiên cứu và tìm hiểu sâu về toàn cầu hóa kinh tế là vấn đề không chỉ có ý nghĩa về mặt lí luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn. Vậy làm thế nào để có thể tận dụng được những cơ hội và hạn chế một cách đối đa những thách thức do toàn cầu hóa kinh tế mang lại? Để giải quyết vấn đề 2 này nhóm tác giả đã biên soạn tiểu luận với đề tài nghiên cứu “Tính hai mặt của toàn cầu hóa đối kinh tế” trên cơ sở phân thích những tác động tích cực và tiêu cực của toàn cầu hóa đến nền kinh tế các nhằm đưa ra những lựa chọn và giải pháp đúng đắn cho tiến trình toàn cầu hóa của Việt Nam nói riêng và toàn thế giới nói chung. Kết cấu tiểu luận gồm 3 chương: Chương 1: Tổng quan về toàn cầu hóa kinh tế: Chương 2: Tính hai mặt của toàn cầu hóa kinh tế. Chương 3: Việt Nam trong xu thế toàn cầu hóa kinh tế. Nhóm tác giả xin cảm ơn sự hướng dẫn của Thạc sỹ Trần Thị Phương Thủy (Giảng viên Bộ môn Nghiệp vụ, trường Đại học Ngoại thương, Cơ sở II tại thành phố Hồ Chí Minh). Trong quá trình làm việc, chắc chắn nhóm tác giả sẽ không thể tránh khỏi nhiều thiếu sót, vì vậy, rất mong nhận được ý kiến phản hồi, đóng góp của quý độc giả. 3 MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU..................................................................................................................1 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TOÀN CẦU HÓA KINH TẾ.....................................4 1.1. Khái niệm và biểu hiện:......................................................................................4 1.1.1. Các khái niệm:.................................................................................................4 1.1.2. Biểu hiện của toàn cầu hóa kinh tế:................................................................4 1.2. Xu hướng toàn cầu hóa và toàn cầu hóa kinh tế trên thế giới ............................5 1.3. Việt Nam trong xu thế toàn cầu hóa ...................................................................6 CHƯƠNG 2: TÍNH HAI MẶT CỦA TOÀN CẦU HÓA KINH TẾ..............................8 2.1. Những tác động tích cực........................................................................................8 2.2. Những tác động tiêu cực......................................................................................11 CHƯƠNG 3: VIỆT NAM TRONG XU THẾ TOÀN CẦU HÓA KINH TẾ ...............15 3.1. Ảnh hưởng của xu thế toàn cầu hóa kinh tế đến Việt Nam.................................15 3.2. Các chính sách của Việt Nam trước xu thế toàn cầu hóa kinh tế ........................18 KẾT LUẬN....................................................................................................................20 TÀI LIỆU THAM KHẢO..............................................................................................21 PHỤ LỤC: GIẢI THÍCH MỘT SỐ TÊN RIÊNG.........................................................22 4 CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TOÀN CẦU HÓA KINH TẾ 1.1. Khái niệm và biểu hiện: 1.1.1. Các khái niệm: 1.1.1.1. Toàn cầu hóa: Toàn cầu hoá là quá trình tăng lên mạnh mẽ những mối liên hệ, ảnh hưởng, tác động lẫn nhau, phụ thuộc lẫn nhau của tất cả các khu vực, các quốc gia, các dân tộc trên thế giới, làm nổi bật hàng loạt biến đổi có quan hệ lẫn nhau mà từ đó chúng có thể phát sinh một loạt điều kiện mới. 1.1.1.2. Toàn cầu hóa kinh tế: Toàn cầu hóa kinh tế có thể hiểu là xu hướng đi tới hình thành một thế giới thống nhất trên phạm vi toàn cầu, trong đó có sự tham gia (hội nhập) của tất cả các quốc gia trên thế giới. Các quốc gia liên kết chặt chẽ với nhau, phụ thuộc lẫn nhau trong sự phân công và hợp tác kinh tế trên quy mô toàn cầu, có sự lưu thông của các luồng hàng hóa, dịch vụ, vốn, công nghệ, nhân lực trên phạm vi toàn cầu, dưới sự điều tiết của các nguyên tắc toàn cầu. Trên thực tế, toàn cầu hóa kinh tế về cơ bản là sự gia tăng nhanh chóng các hoạt động kinh tế vượt qua mọi biên giới của các nước, châu lục, khu vực. 1.1.2. Biểu hiện của toàn cầu hóa kinh tế: Toàn cầu hóa kinh tế diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh, quy mô ngày càng lớn, mở rộng ra hầu hết các lĩnh vực, lôi kéo hầu hết các nước trên thế giới. Biểu hiện của sự gia tăng này là sự mở rộng về quy mô và mức độ của mậu dịch thế giới, sự lưu chuyển của dòng lao động và vốn trên phạm vi toàn cầu, cụ thể:  Tính thẩm thấu lẫn nhau giữa các nền kinh tế gia tăng, sản phẩm mang tính quốc tế hóa cao.  Những rào cản kinh tế ngăn cách giữa các quốc gia dần được dỡ bỏ.  Sự ra đời và mở rộng của nhiều tổ chức, liên kết kinh tế khu vực toàn cầu. 5  Thương mại thế giới phát triển:  Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng trưởng. Quá trình gia nhập vào xu hướng đó của các quốc gia trên thế tính hai mặt của toàn cầu hóa×tính tất yếu của toàn cầu hóa kinh tế×tính 2 mặt của toàn cầu hóa×phân tích tính 2 mặt của toàn cầu hóa×mặt trái của toàn cầu hóa kinh tế×bản chất của toàn cầu hóa kinh tế hiện nay× Từ khóa của toàn cầu hoá kinh tếbản chất của toàn cầu hóa kinh tế là gìbản chất của toàn cầu hóa kinh tếcơ hội của toàn cầu hóa kinh tế

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Một trong những xu hướng làm thay đổi đáng kể toàn bộ cục diện thế giới trong suốt hơn nhiều thập kỷ vừa qua chính là tốc độ tăng trưởng nhanh và liên tục của xu thế toàn cầu hóa, mà nổi trội nhát là toàn cầu hóa kinh tế Toàn cầu hóa thúc đẩy các quốc gia tiến đến thịnh vượng và khiến thế giới này trở nên gắn kết với nhau hơn Đó là quá trình tất yếu trong sự vận động của nền kinh tế thế giới, giống như cựu Tổng thống Mỹ Bill Clinton từng phát biểu tại đại học Quốc gia Hà Nội trong chuyến thăm Việt Nam năm 2000: "Toàn cầu hóa cũng giống như một cơn gió hay một dòng nước Chúng ta có thể lợi dụng sức gió để căng buồm ra khơi cũng như dùng sức nước để tạo ra năng lượng,

và hãy cố gắng hết sức để bảo vệ con người và của cải trước bão lũ."

Và trong dòng chảy mang tính chất tất yếu của thời đại ấy, Việt Nam cũng đang từng bước hòa mình và quan tâm đến việc mở rộng mối quan hệ nhiều mặt với các quốc gia, các khu vực trên thế giới bằng việc tham dự các hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương như APEC, ASEM, ASEAN, AFTA, WTO và đặc biệt, gần đây nhất đó là TPP và AEC Trong bài phát biểu tại Hội nghị tương lai châu Á, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã nêu lên sự thành công của Con đường Tơ lụa cổ đại, tạo nên một lộ trình thương mại nổi tiếng và thịnh vượng nối châu Á và châu Âu, để khẳng định rằng lịch sử đã chứng minh toàn cầu hóa không chỉ đơn thuần là một tiến trình kinh tế mà còn đáp ứng được mong muốn của nhân loại trong việc thúc đẩy hội nhập, trao đổi kinh tế trên cơ sở bình đẳng và vì lợi ích của tất cả các bên

Tuy nhiên, cần phải nhìn nhận một cách khách quan rằng toàn cầu hóa kinh tế bên cạnh những ảnh hưởng tích cực thì cũng tồn tại song song những hạn chế tiêu cực đến các quốc gia và vùng lãnh thổ Do đó nhiều nước hiện nay vẫn đang hết sức lo lắng khi kinh tế đất nước ngày càng hội nhập sâu hơn Có thể thấy việc nghiên cứu và tìm hiểu sâu về toàn cầu hóa kinh tế là vấn đề không chỉ có ý nghĩa về mặt lí luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn Vậy làm thế nào để có thể tận dụng được những cơ hội và hạn chế một cách đối đa những thách thức do toàn cầu hóa kinh tế mang lại? Để giải quyết vấn đề

Trang 2

này nhóm tác giả đã biên soạn tiểu luận với đề tài nghiên cứu “Tính hai mặt của toàn cầu hóa đối kinh tế” trên cơ sở phân thích những tác động tích cực và tiêu cực của toàn cầu hóa đến nền kinh tế các nhằm đưa ra những lựa chọn và giải pháp đúng đắn cho tiến trình toàn cầu hóa của Việt Nam nói riêng và toàn thế giới nói chung

Kết cấu tiểu luận gồm 3 chương:

- Chương 1: Tổng quan về toàn cầu hóa kinh tế:

- Chương 2: Tính hai mặt của toàn cầu hóa kinh tế

- Chương 3: Việt Nam trong xu thế toàn cầu hóa kinh tế

Nhóm tác giả xin cảm ơn sự hướng dẫn của Thạc sỹ Trần Thị Phương Thủy (Giảng viên Bộ môn Nghiệp vụ, trường Đại học Ngoại thương, Cơ sở II tại thành phố Hồ Chí Minh) Trong quá trình làm việc, chắc chắn nhóm tác giả sẽ không thể tránh khỏi nhiều thiếu sót, vì vậy, rất mong nhận được ý kiến phản hồi, đóng góp của quý độc giả

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TOÀN CẦU HÓA KINH TẾ 4

1.1 Khái niệm và biểu hiện: 4

1.1.1 Các khái niệm: 4

1.1.2 Biểu hiện của toàn cầu hóa kinh tế: 4

1.2 Xu hướng toàn cầu hóa và toàn cầu hóa kinh tế trên thế giới 5

1.3 Việt Nam trong xu thế toàn cầu hóa 6

CHƯƠNG 2: TÍNH HAI MẶT CỦA TOÀN CẦU HÓA KINH TẾ 8

2.1 Những tác động tích cực 8

2.2 Những tác động tiêu cực 11

CHƯƠNG 3: VIỆT NAM TRONG XU THẾ TOÀN CẦU HÓA KINH TẾ 15

3.1 Ảnh hưởng của xu thế toàn cầu hóa kinh tế đến Việt Nam 15

3.2 Các chính sách của Việt Nam trước xu thế toàn cầu hóa kinh tế 18

KẾT LUẬN 20

TÀI LIỆU THAM KHẢO 21

PHỤ LỤC: GIẢI THÍCH MỘT SỐ TÊN RIÊNG 22

Trang 4

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN VỀ TOÀN CẦU HÓA KINH TẾ

1.1 Khái niệm và biểu hiện:

1.1.1 Các khái niệm:

1.1.1.1 Toàn cầu hóa:

Toàn cầu hoá là quá trình tăng lên mạnh mẽ những mối liên hệ, ảnh hưởng, tác động lẫn nhau, phụ thuộc lẫn nhau của tất cả các khu vực, các quốc gia, các dân tộc trên thế giới, làm nổi bật hàng loạt biến đổi có quan hệ lẫn nhau mà từ đó chúng có thể phát sinh một loạt điều kiện mới

1.1.1.2 Toàn cầu hóa kinh tế:

Toàn cầu hóa kinh tế có thể hiểu là xu hướng đi tới hình thành một thế giới thống nhất trên phạm vi toàn cầu, trong đó có sự tham gia (hội nhập) của tất cả các quốc gia trên thế giới Các quốc gia liên kết chặt chẽ với nhau, phụ thuộc lẫn nhau trong sự phân công và hợp tác kinh tế trên quy mô toàn cầu, có sự lưu thông của các luồng hàng hóa, dịch vụ, vốn, công nghệ, nhân lực trên phạm vi toàn cầu, dưới sự điều tiết của các nguyên tắc toàn cầu Trên thực tế, toàn cầu hóa kinh tế về cơ bản là sự gia tăng nhanh chóng các hoạt động kinh tế vượt qua mọi biên giới của các nước, châu lục, khu vực

1.1.2 Biểu hiện của toàn cầu hóa kinh tế:

Toàn cầu hóa kinh tế diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh, quy mô ngày càng lớn,

mở rộng ra hầu hết các lĩnh vực, lôi kéo hầu hết các nước trên thế giới Biểu hiện của sự gia tăng này là sự mở rộng về quy mô và mức độ của mậu dịch thế giới, sự lưu chuyển của dòng lao động và vốn trên phạm vi toàn cầu, cụ thể:

 Tính thẩm thấu lẫn nhau giữa các nền kinh tế gia tăng, sản phẩm mang tính quốc tế hóa cao

 Những rào cản kinh tế ngăn cách giữa các quốc gia dần được dỡ bỏ

 Sự ra đời và mở rộng của nhiều tổ chức, liên kết kinh tế khu vực toàn cầu

Trang 5

 Thương mại thế giới phát triển:

 Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng trưởng

Quá trình gia nhập vào xu hướng đó của các quốc gia trên thế giới được gọi chung

là hội nhập kinh tế

Xu hướng toàn cầu hóa bao gồm nhiều phương diện: chính trị, văn hóa, xã hội kinh tế,… trong đó thì phương diện kinh tế vừa là trung tâm vừa là cơ sở cũng như đòn bẩy cho các lĩnh vực khác của toàn cầu hóa Toàn cầu hóa kinh tế là sự kết nối giữa nhiều nước có cùng chiều hướng phát triển, cùng tham gia một thị trường chung Toàn cầu hóa kinh tế góp phần thúc đẩy nhanh chóng quan hệ thương mại trên phạm vi toàn cầu Nó chứa đựng đồng thời nhiều cơ hội cùng những thách thức lớn

1.2 Xu hướng toàn cầu hóa và toàn cầu hóa kinh tế trên thế giới

Tác phẩm “những giới hạn của sự tăng trưởng” của câu lạc bộ Rome(1) vào năm

1972 đã cho rằng sự sụp đổ kinh tế toàn cầu sẽ diễn ra sau một thập kỷ nữa Đó là một

dự báo bi quan về nền kinh tế thế giới Tuy nhiên, trên thực tế, kinh tế thế giới không những trụ vững chắc mà còn phát triển mạnh mẽ hơn dù có tồn tại trục trặc Sự bùng nổ kinh tế thế giới bắt đầu từ sự gia tăng buôn bán giữa hơn 160 quốc gia Sự trao đổi buôn bán này dần biến những mảng thị trường thế giới riêng lẻ thành một khối thống nhất Từ

đó một xu hướng mới hình thành, xu hướng toàn cầu hóa kinh tế

Năm 1998 Mỹ và Canada đã ký hiệp ước tháo dỡ mọi rào cản trong việc buôn bán giữa 2 nước Sau đó, 12 nước cộng đồng Châu Âu tham gia vào xu hướng trên, biến Tây

Âu trở thành một khu vực kinh tế thống nhất rộng lớn Bên cạnh đó là sự xuất hiện của WTO cùng rất nhiều tổ chức tiểu vùng như AFTA, NAFTA, EU, APEC, … Các nước lớn nhỏ đều dành ưu tiên cho sự phát triển kinh tế, theo đuổi chính sách kinh tế mở như Trung Quốc, Nga, Ấn Độ, Mỹ,… và cả một số nước vốn khép kín theo mô hình tự cung

tự cấp cũng đang mở cửa, từng bước hội nhập nền kinh tế thế giới

Đặc biệt, ở khu vực Đông Nam Á đã diễn ra nhiều biến đổi sâu sắc Sau nhiều cuộc chiến tranh, đối đầu kéo dài hàng thập kỷ, Đông Nam Á đã trở lại hòa bình, xu thế hợp

Trang 6

tác không ngừng gia tăng Nhất là cuối thiên niên kỷ thứ hai đầu thiên niên kỷ thứ 3 hàng loạt biến cố chính trị, xã hội đã diễn ra khiến cho thế giới xích lại gần nhau hơn, mà trước hết là kinh tế Đó là sự mở rộng của ASEAN, sự liên kết của ASEAN với ba nước đối thoại EU

1.3 Việt Nam trong xu thế toàn cầu hóa

Toàn cầu hóa ngày nay đã trở thành một xu thế trên toàn thế giới, trong đó, kinh tế chính là lĩnh vực trọng tâm nhất Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế đó Toàn cầu

mở ra cánh cửa cho Việt Nam bước ra thế giới, song song với đó là đặt ra không ít cơ hội và thách thức, buộc nước ta phải thay đổi không ngừng để tận dụng tối đa lợi thế trong điều kiện hiện nay

Toàn cầu hóa ở nước ta bắt đầu từ năm 1986, kể từ khi văn kiện Đại hội VI chính thức có hiệu lực Kể từ đó đến nay Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu lớn:

 Về ngoại giao: Bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc năm 1991; Gia nhập ASEAN và bình thường hóa quan hệ với Mỹ năm 1995; đến nay đặt đặt quan

hệ ngoại giao với 164 quốc gia và vùng lãnh thổ (theo website Viện Y học biển Việt Nam)

 Về Ngoại thương: Gia nhập Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương APEC năm 1998; trở thành thành viên Tổ chức Thương mại Thế giới WTO năm 2006; trở thành thành viên Công đồng kinh tế ASEAN năm 2015 (theo VnExpress)

 Về tình hình kinh tế nội tại: Từ một nền kinh tế lạc hậu kém phát triển những năm đầu giải phóng, Việt Nam đã chuyển mình vượt bậc, vươn lên mức thu nhập trung bình khá Trước đó, Việt Nam rơi vào tình trạng thiếu lương thực trầm trọng nhưng đến năm 1990 đã đáp ứng nhu cầu trong nước, có dự trữ và xuất khẩu Sản lượng lương thực năm 1988 đạt 19,5 triệu tấn (vượt năm 1987 hơn 2 triệu tấn)

và năm 1989 đạt 21,4 triệu tấn Tính chung cho cả giai đoạn 1990 - 2000 GDP tăng bình quân gần 7%, trong đó có tới 20 năm liên tục GDP tăng bình quân 7,43% Đến năm 2016, quy mô nền kinh tế đã đạt khoảng 217 tỷ USD Việt Nam đang đứng thứ 6 tại Đông Nam Á và top 50 nền kinh tế quy mô nhất thế giới

Trang 7

Quá trình toàn cầu hóa đi kèm với đó là sự hội nhập ngày càng sâu rộng, việc hợp tác giữa các quốc gia, đầu tư của các doanh nghiệp quốc tế vào Việt Nam và ngược lại diễn ra ngày càng mạnh mẽ Đi kèm với đó là những lợi ích và không ít vấn đề cần phải giải quyết để quá trình toàn cầu hóa diễn ra thuận lợi và sử dụng được hiệu quả lợi thế

so sánh của quốc gia:

 Nền kinh tế Việt Nam chưa bắt kịp so với các nước trên thế giới, phụ thuộc nhiều vào nông nghiệp, chưa sử dụng hiệu quả nguồn lực vốn có Các doanh nghiệp trong nước hầu hết đều vừa và nhỏ, khả năng cạnh tranh còn thấp, trong khi các tập đoàn đa quốc gia đầu tư vào Việt Nam ngày càng nhiều, khiến cho doanh nghiệp trong nước gặp nhiều bất lợi

 Trình độ tri thức, khoa học công nghệ chưa cao, trong khi nước ta lại chưa đầu tư nhiều vào nghiên cứu và phát triển, chuyển giao khoa học công nghệ, khiến cho điều kiện để phát triển sản xuất còn thấp, không khai thác được hiệu quả nguồn lực trong nước

 Nhân lực: Toàn cầu hóa khiến cho việc luân chuyển lao động giữa các quốc gia ngày càng phổ biến Điều đó tạo sức ép lên nguồn lao động Việt Nam khi mà lao động có trình độ cao ở nước ngoài đổ vào trong nước ngày càng nhiều, trong khi đó trình độ lao động trong nước còn chưa cao

 Cơ sở hạ tầng trong nước chưa đáp ứng kịp cho quá trình phát triển, tốc độ xây dựng còn chậm và chưa đồng bộ

 Thủ tục pháp lý còn nhiều vấn đề, gây khó khăn cho doanh nghiệp trong nước và khiến các doanh nghiệp nước ngoài ngần ngại khi đầu tư vào Việt Nam Các vấn đề được đặt ra đòi hỏi Việt Nam cần phải có những sự thay đổi mạnh mẽ hơn nữa để thích ứng được với môi trường, đồng thời thúc đẩy toàn cầu hóa diễn ra nhanh hơn và tận dụng được lợi thế vốn có một cách hiệu quả Những chính sách đã được Việt Nam áp dụng sẽ được đề cập đến tại chương 3 Tuy nhiên, chúng ta còn phải

cố gắng nhiều hơn nữa và cần có thêm thời gian để quá trình toàn cầu hóa đối với Việt Nam được diễn ra thuận lợi và thành công

Trang 8

CHƯƠNG 2 TÍNH HAI MẶT CỦA TOÀN CẦU HÓA KINH TẾ

Toàn cầu hóa nói chung và toàn cầu hóa kinh tế nói riêng đã trở thành xu thế tất yếu Và bởi vì tất yếu, nên dù chúng ta ủng hộ hay phản đối, nó vẫn đã, đang, và sẽ tiếp tục diễn ra, với tốc độ ngày càng nhanh hơn, đem đến những thay đổi ngày càng lớn hơn cho nền kinh tế thế giới Tuy nhiên, mỗi vấn đề luôn có hai mặt của nó và toàn cầu hóa kinh tế cũng không ngoại lệ Các tác động tích cực và tiêu cực mà toàn cầu hóa kinh tế đem đến cho bản thân các quốc gia và toàn bộ nền kinh tế thế giới nói chung cũng là những vấn đề đang rất được quan tâm vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến toàn bộ nền kinh tế nội bộ, khu vực và cả quốc tế

2.1 Những tác động tích cực

Thứ nhất, toàn cầu hóa kinh tế thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản

xuất, đưa lại sự tăng trưởng cao cho nền kinh tế thế giới Trong đó, cơ cấu kinh tế thế giới có bước chuyển dịch mạnh, cụ thể: tỷ trọng các ngành công nghiệp chế tạo và dịch

vụ dựa vào công nghệ cao và tri thức tăng mạnh Đây là cơ hội và tiền đề hết sức quan trọng cho sự phát triển và hiện đại hóa xã hội loài người Các nước có nền kinh tế chậm phát triển, nhờ tham gia toàn cầu hóa kinh tế, họ có điều kiện tiếp nhận các nguồn lực phát triển từ bên ngoài như vốn đầu tư nước ngoài, công nghệ chuyển giao, kinh nghiệm

tổ chức quản lý… khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong nước như lao động, đất đai, tài nguyên… thúc đẩy nhanh sự tăng trưởng kinh tế trong nước

Một trong số các tác động mạnh mẽ nhất vào lực lượng sản xuất là lực lượng lao động Nhờ vào toàn cầu hóa kinh tế, thị trưởng lao động được mở rộng quy mô Giờ đây, người lao động tiếp cận thị trường lao động quốc tế và tham gia vào hệ thống phân công lao động đó Theo như nghiên cứu của ủy ban Châu Âu, ước lượng rằng số lượng công việc xuất khẩu hàng hóa trong nước ra ngoài của EU tăng từ 18.5 triệu (1995) lên 31 triệu (2011), tăng tới 67%, và đặc biệt là lượng việc kỹ năng cao cũng tăng mạnh Các doanh nghiệp cũng có thể tối ưu hóa lao động và tăng năng suất nhờ vào lực lượng lao

Trang 9

động đa quốc gia Ví dụ như một công ty ở Mỹ có thể thuê kĩ thuật viên ở Ấn Độ Do lệch múi giờ nên công ty có thể nâng thời gian lao động trong một ngày từ 8 giờ lên 16 giờ hoặc hơn Và nếu sắp xếp hợp lí, công ty đó có thể đẩy năng suất lao động lên đến

24 giờ/ ngày – điều khó có thể làm được nếu chỉ gói gọn thị trường lao động trong nước Ngoài ra, toàn cầu hóa kinh tế còn là nền tảng để chuyển giao công nghệ và vốn đầu tư nhanh chóng giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ Dưới tác động của quá trình toàn cầu hóa, những thành tựu của khoa học – công nghệ được chuyển giao nhanh chóng

và ứng dụng rộng rãi tạo điều kiện cho các nước đi sau trong sự phát triển kinh tế có điều kiện tiếp cận với những thành tựu mới của khoa học – công nghệ để phát triển Cùng với quá trình toàn cầu hóa kinh tế, nguồn vốn đầu tư quốc tế tăng mạnh góp phần điều hòa dòng vốn theo lợi thế so sánh tạo điều kiện cho các nước tiếp cận được nguồn vốn và công nghệ từ bên ngoài, hình thành hệ thống phân công lao động quốc tế có lợi cho cả bên đầu tư và bên nhận đầu tư, điển hình như tổng số vốn đầu tư ra nước ngoài năm 1997 gấp 800 lần năm 1914

Thứ hai, toàn cầu hóa kinh tế mở rộng và phát triển thị trường toàn cầu, thúc đẩy

thương mại quốc tế và cải cách sâu rộng nền kinh tế quốc gia cũng như sự hợp tác khu vực Biểu đồ bên dưới mô tả tổng giá trị xuất khẩu trên thế giới đến năm 2014 Thông qua biểu đồ bên dưới ta có thể thấy việc trao đổi hàng hóa trên toàn cầu trước 1950 có giá trị khá thấp và không có chuyển biến rõ rệt qua các năm, nhưng kể từ sau 1950 (sau chiến tranh thế giới thứ II), các hoạt động này tăng vọt một cách đáng kể và có xu hướng tiếp tục duy trì ở mức cao vào giai đoạn sau đó Sự giao lưu hàng hóa thông thoáng hơn, hàng rào quan thuế và phi quan thuế bị dỡ bỏ, nhờ đó trao đổi hàng hóa tăng mạnh, có lợi cho sự phát triển của các nước Nửa đầu thế kỷ XX, kim ngạch buôn bán của thế giới tăng 2 lần, đến nửa sau thế kỷ XX, do cắt giảm hàng rào quan thuế và phi quan thuế nên kim ngạch buôn bán của thế giới đã tăng 50 lần Sự phát triển mạnh mẽ thị trường toàn cầu dưới tác động của toàn cầu hóa đã cho phép các nước đang và chậm phát triển có thể tận dụng các nguồn lực của mình, nhất là nguồn lực lao động dồi dào để tạo ra lợi thế cạnh tranh trong một số ngành công nghiệp chế tạo và dịch vụ.Giá trị xuất khẩu toàn

Trang 10

cầu đã tăng lên theo cấp số nhân trong giai đoạn hậu chiến tranh cũng tạo điều kiện cho việc thành lập GATT, WTO và các hiệp định thương mại tự do song phương

Ảnh: EACC Insights: Graphic Insights, European American chamber of commerce New York

Một khi thương mại quốc tế phát triển, kéo theo áp lực phải thay đổi và cải cách của nền kinh tế quốc gia để tìm chỗ đứng cho mình trên thị trường quốc tế Có thể kể đến một số nỗ lực chuyển mình của các quốc gia như: sự thành công của chính sách Abenomics(2) – Nhật Bản, Kì tích sông Hán(3) (còn gọi là Huyền thoại sông Hàn) – Hàn Quốc,… Song song với việc giao thương toàn cầu phát triển, sự hợp tác khu vực cũng ngày càng mở rộng và liên kết chặt chẽ với nhau Hiện nay, có khoảng trên 20 tổ chức kinh tế quốc tế và khu vực chưa kể đến các liên mình và các quỹ, hiệp hội, liên minh vì cộng đồng

Trang 11

Thứ ba, các cơ hội kinh doanh mới rộng mở cho doanh nghiệp, đồng thời cũng là

cơ hội để người tiêu dùng tiếp cận những sản phẩm trên toàn thế giới Đây là một hệ quả của phát triển tự do thương mại thế giới, khi mà các sản phẩm của một nước có thể xuất khẩu sang nhiều nước khác và ngược lại, ở tại một nước có thể nhập khẩu và tiêu dùng hàng hóa của nhiều nước trên thế giới Dưới sức ép của thị trường cạnh tranh, đặc biệt

là cạnh tranh giữa hàng nội địa và hàng nhập khẩu, sản phẩm ngày càng chất lượng hơn, đồng thời giá thành cũng giảm đi đáng kể nhờ vào mạng lưới thông tin và hệ thống giao thông vận tải bao phủ toàn cầu

2.2 Những tác động tiêu cực

Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội và ảnh hưởng tích cực, toàn cầu hóa kinh tế còn

có những mặt trái ảnh hưởng đến các quốc gia cũng như đem đến thách thức Xu thế toàn cầu hóa kinh tế diễn ra không trôi chảy, dễ dàng mà phải trải qua quá trình hợp tác lẫn đấu tranh giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển, trong sự thống nhất

và mâu thuẫn giữa toàn cầu hóa và liên kết khu vực, giữa tự do hóa và bảo hộ mậu dịch…

Thứ nhất, toàn cầu hóa kinh tế khiến các quốc gia khai thác nguồn tài nguyên thiên

nhiên hữu hạn ngày càng nhiều hơn, nhanh hơn Khi các quốc gia cùng nhau hợp tác, khoa học công nghệ sẽ có bước tiến đáng kể, nhưng đi kèm cùng với bước tiến đó là sự hao hụt của các nguồn tài nguyên, nhiên liệu và nguyên liệu cần thiết để đáp ứng nhu cầu sản xuất và phát triển Ví dụ điển hình mà ta có thể thấy ở đây là một trong những cường quốc thế giới hiện nay - Trung Quốc Cụ thể hơn, vào tháng 12/2001, Trung Quốc gia nhập tổ chức thương mại thế giới - WTO, và chỉ trong một năm sau đó, sản lượng than khai thác ở nước này đã bắt đầu tăng mạnh

Ngày đăng: 25/10/2018, 12:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w