1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Ứng dụng trạm tham chiếu hoạt động liên tục xác định tọa độ các mốc địa giới hành chính huyện yên định, tỉnh thanh hóa

148 121 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 148
Dung lượng 1,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thế mạnh của các trạm này cung cấp dữ liệu cả trong thời gian thực và xử lý sau cho người sử dụng với chất lượng rất cao,...Để có điều kiện nghiên cứu, tìm hiểu về cơ chế hoạt động và ph

Trang 1

1

LUẬN VĂN THẠC SĨ

ỨNG DỤNG TRẠM THAM CHIẾU HOẠT ĐỘNG LIÊN TỤC

XÁC ĐỊNH TỌA ĐỘ CÁC MỐC ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH

HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA CHUYÊN NGÀNH: KỸ THUẬT TRẮC ĐỊA - BẢN ĐỒ

TRẦN VĂN BÌNH

HÀ NỘI, NĂM 2017

Trang 2

2

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ

ỨNG DỤNG TRẠM THAM CHIẾU HOẠT ĐỘNG LIÊN TỤC

XÁC ĐỊNH TỌA ĐỘ CÁC MỐC ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH

HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA

Trang 3

Cán bộ hướng dẫn chính: TS Bùi Thị Hồng Thắm

Cán bộ chấm phản biện 1: PGS.TS Vy Quốc Hải

Cán bộ chấm phản biện 2: TS Đinh Xuân Vinh

Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại: Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường

Hà Nội

HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN THẠC SĨ TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

Ngày tháng năm 2017

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố Tôi xin chịu trách nhiệm về các nội dung trình bày trong luận văn

Hà Nội, tháng 10 năm 2017

Tác giả

KS Trần Văn Bình

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Luận văn này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của TS Bùi Thị Hồng Thắm, Phó Trưởng khoa Trắc địa và Bản đồ, Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô

đã giúp đỡ, hướng dẫn và động viên tác giả trong suốt thời gian làm luận văn

Tác giả cũng xin gửi tới các thầy, cô giáo Khoa Trắc địa và Bản đồ, Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội lời cảm ơn về sự giúp đỡ tận tình của thầy cô trong quá trình tác giả học tập và nghiên cứu tại Khoa Trong quá trình làm luận văn, tác giả đã nhận được nhiều sự quan tâm giúp đỡ, cung cấp tài liệu khoa học và số liệu phục vụ tính toán thực nghiệm của Thủ trưởng Cục, các cán bộ khoa học thuộc Phòng Trắc địa - Địa hình, và các đồng nghiệp thuộc Cục Bản đồ, Bộ Tổng tham mưu Tác giả xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ quí báu đó

Mặc dù đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết để hoàn thành, nhưng chắc chắn luận văn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, tác giả rất mong nhận được ý kiến đóng góp, chỉ bảo của các thầy, cô giáo và các đồng nghiệp

để luận văn được hoàn thiện tốt hơn Đây sẽ là những kiến thức rất bổ ích cho công việc của tác giả trên chặng đường phía trước

Xin trân trọng cám ơn./

Hà Nội, ngày tháng 10 năm 2017

Tác giả luận văn

KS Trần Văn Bình

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

Danh mục các bảng xi

Danh mục các hình xii

Danh mục các từ viết tắt xiii

Tóm tắt luận văn x

Mở đầu 1

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN CÁC TRẠM THAM CHIẾU HOẠT ĐỘNG LIÊN TỤC VÀ ỨNG DỤNG TRONG CÔNG TÁC THÀNH LẬP LƯỚI KHỐNG CHẾ TRẮC ĐỊA

5 1.1 Lịch sử phát triển các trạm tham chiếu hoạt động liên tục 6

1.1.1 Mạng lưới các trạm IGS quốc tế . 7

1.1.2 Các mạng lưới tham chiếu hoạt đông liên tục khu vực . 9

1.1.3 Các mạng lưới tham chiếu hoạt đông liên tục của một số quốc gia . 10

1.2 Tình hình nghiên cứu ứng dụng dữ liệu của các trạm tham chiếu hoạt động liên tục trên thế giới 15

Trang 7

1.3 Tình hình nghiên cứu ứng dụng dữ liệu của các trạm tham chiếu hoạt động liên tục ở Việt Nam 18 1.3.1 Hiện trạng các trạm GNSS CORS tại Việt Nam . 18 1.3.2 Tình hình khai thác, ứng dụng dữ liệu của các trạm GNSS CORS tại Việt Nam . 20

1.4 Ứng dụng công nghệ dẫn đường vệ tinh toàn cầu trong công tác xác định tọa độ mốc địa giới hành chính 21

1.5 Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu . 23

Chương 2 CÔNG NGHỆ TRẠM THAM CHIẾU HOẠT ĐỘNG LIÊN TỤC

VÀ CÁC GIẢI PHÁP ỨNG DỤNG TRONG CÔNG TÁC XÁC ĐỊNH MỐC

ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH 25

2.1 Công nghệ trạm tham chiếu hoạt động liên tục 25

2.1.1 Tính năng kỹ thuật của các trạm tham chiếu hoạt động liên tục 25

2.1.2 Cấu trúc của trạm tham chiếu hoạt động liên tục . 27 2.1.3 Cấu trúc của Trung tâm xử lý dữ liệu . 28

2.1.4 Nguyên lý hoạt động của hệ thống lưới trạm tham chiếu hoạt động liên tục 29 2.2 Một số giải pháp công nghệ nhằm ứng dụng dữ liệu của các trạm tham chiếu hoạt động liên tục 29

Trang 8

2.2.1 Công nghệ hiệu chỉnh thời gian thực . 30

2.2.2 Công nghệ xử lý sau . 37

2.2.3 Tăng dày các trạm tham chiếu hoạt động liên tục để nâng cao độ chính xác tọa độ điểm di động . 41

2.3 Xác định địa giới hành chính . 42

2.3.1 Khái quát về địa giới hành chính . 42

2.3.2 Xác định tọa độ, độ cao điểm địa giới hành chính 44

2.3.3 Ứng dụng các trạm tham chiếu hoạt động liên tục để xác định tọa độ các mốc địa giới hành chính 50

Chương 3 ỨNG DỤNG TRẠM THAM CHIẾU HOẠT ĐỘNG LIÊN TỤC XÁC ĐỊNH TỌA ĐỘ CÁC MỐC ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA . 52

3.1 Giới thiệu khu vực thực nghiệm . 52

3.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội . 52

3.1.2 Mục đích, yêu cầu thực nghiệm 55

3.1.3 Khái quát về lưới GPS thực nghiệm 56

3.2 Kỹ thuật đo đạc xác định mốc địa giới hành chính huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa 61

3.3 Xử lý dữ liệu mạng lưới GNSS xác định tọa độ các mốc địa giới hành chính huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa 63

Trang 9

3.3.1 Phương án 1 . 65

3.3.2 Phương án 2 . 67

3.4 Đánh giá kết quả đạt được 69

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 74

Kết luận . 74

Kiến nghị . 75

TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

PHỤ LỤC 80

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Các phương pháp đo và xử lý dữ liệu GPS 37

Bảng 3.1 Tọa độ, độ cao các điểm gốc Nhà nước 59

Bảng 3.2 Tọa độ các điểm DGNSS/CORStrong Hệ tọa độ VN2000 60

Bảng 3.3 Tọa độ địa lý, độ cao trắc địa các điểm DGNSS/CORS trong Hệ tọa độ WGS84 60

Bảng 3.4 Số liệu đo lưới ĐGHC thực nghiệm ngày 25 tháng 12 năm 2016 61

Bảng 3.5 Bảng thành quả tọa độ phẳng và độ cao bình sai 65

Bảng 3.6 Bảng chiều dài cạnh, phương vị và sai số tương hỗ 66

Bảng 3.7 Bảng thành quả tọa độ phẳng và độ cao bình sai 67

Bảng 3.8 Bảng chiều dài cạnh, phương vị và sai số tương hỗ 68

Bảng 3.9 Bảng so sánh tọa độ của các điểm theo 2 phương án 70

Bảng 3.10 Bảng so sánh độ cao của các điểm theo 2 phương án 70

Bảng 3.11 So sánh sai số vị trí điểm và sai số độ cao điểm 71

Bảng 3.12 Bảng so sánh khoảng cách, phương vị và chênh cao theo 2 phương án 72

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1 Mạng lưới IGS quốc tế 8

Hình 1.2 Sơ đồ vị trí điểm của Lưới Thường trực Châu Âu (EPN) . 10

Hình 1.3 Sơ đồ vị trí điểm Mạng lưới CORS của Mỹ . 11

Hình 1.4 Sơ đồ Mạng lưới Geodetic CORS của Cộng hòa Liên bang Nga . 12

Hình 1.5 Sơ đồ Mạng lưới Geodetic CORS Hạng A và B của Trung Quốc 13

Hình 1.6 Mạng lưới GPS khí tượng của NOAA 14

Hình 1.7 Trạm tham chiếu hoạt động liên tục trên lãnh thổ Việt Nam 19

Hình 2.1 Trạm thu phát tín hiệu DGPS 31

Hình 2.2 Giải pháp LODG 34

Hình 2.3 Sơ đồ nguyên lý công nghệ VRS 35

Hình 2.4 Sơ đồ hệ thống VRS 36

Hình 3.1 Vị trí địa lý huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa 52

Hình 3.2 Sơ đồ lưới thực nghiệm 57

Hình 3.3 Bản xác nhận sơ đồ vị trí mốc địa giới hành chính 58

Hình 3.4 Sơ đồ các bước xử lý số liệu lưới GNSS 64

Trang 12

IAG International Association of

Geodesy

Hội Trắc địa quốc tế

IGS International GPS Service Tổ chức GPS quốc tế

ITRF International Terrestrial Reference

Frame

Khung tham chiếu Trái đất quốc tế

LODG Locally Optimized Differential

GPS

Định vị chính xác theo thời gian thực

sử dụng các trạm DGPS khu vực NGA National Geospatial-Intelligence

Trang 13

NRTK Network Real Time Kinematic Lưới đo động thời gian thực

PCGIAP Parmanent Committee on GIS

Infrastructure for Asia & The

Pacific

Uỷ ban thường trực Cơ sở hạ tầng hệ thống thông tin địa lý khu vực Châu Á-Thái Bình Dương

RTK Real Time Kinematic Định vị vi phân thời gian thực sử

dụng trị đo pha SLR Satellite Laser Ranging Đo khoảng cách Laser vệ tinh

VLBI Very Long Baseline interferometry Giao thoa vô tuyến cạnh đáy dài VRS Virtural Reference Station Trạm tham chiếu ảo

Trang 14

độ cao Nhà nước Trong những năm gần đây, các trạm tham chiếu hoạt động liên tục đã được thiết lập trên lãnh thổ và lãnh hải Việt Nam Thế mạnh của các trạm này cung cấp dữ liệu cả trong thời gian thực và xử lý sau cho người

sử dụng với chất lượng rất cao, Để có điều kiện nghiên cứu, tìm hiểu về cơ chế hoạt động và phương pháp xử lý dữ liệu các trạm tham chiếu hoạt động liên tục, học viên đã chọn đề tài của luận văn: "Ứng dụng trạm tham chiếu hoạt động liên tục xác định tọa độ các mốc địa giới hành chính huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa" Đề tài có mục tiêu xác định được tọa độ các mốc địa giới hành chính huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa trên cơ sở sử dụng dữ liệu các trạm tham chiếu hoạt động liên tục Để đạt được mục tiêu, nội dung nghiên cứu chính của luận văn gồm có:

- Đánh giá tổng quan về tình hình nghiên cứu phát triển các trạm tham chiếu hoạt động liên tục và ứng dụng trong công tác xác định mốc địa giới

Trang 15

hành chính; đánh giá chung về những ưu điểm, các tồn tại, hạn chế và nguyên nhân; nêu các vấn đề cần phải nghiên cứu, hoàn thiện

- Nghiên cứu phát triển các trạm tham chiếu hoạt động liên tục ở Việt Nam và ứng dụng trong công tác thành lập lưới khống chế trắc địa;

- Công nghệ trạm tham chiếu hoạt động liên tục và các giải pháp ứng dụng trong công tác xác định mốc địa giới hành chính;

- Ứng dụng trạm tham chiếu hoạt động liên tục xác định tọa độ các mốc địa giới hành chính huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Dữ liệu các trạm tham chiếu hoạt động liên tục đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội và nghiên cứu khoa học ở tầm quốc gia Trong thời gian qua, các trạm GNSS CORS đã và đang được xây dựng trên lãnh thổ nước ta Hiện nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường đang có kế hoạch xây dựng 65 trạm GNSS CORS trên lãnh thổ Việt Để phục vụ cho mục đích xây dựng hệ quy chiếu, hệ tọa độ quân sự, 07 trạm DGNSS/CORS của Bộ Quốc phòng đã được xây dựng và đưa vào hoạt động Ngoài ra, còn có các trạm của một số đơn vị như: 03 trạm của Viện Vật lý địa cầu; 01 trạm tại Trường Đại học Mỏ - Địa chất và 05 trạm cho một số đơn vị ở Miền Nam… Việc xác định tọa độ các mốc địa giới hành chính bằng công nghệ GNSS được quy định tại Thông tư số 48/2014/TT-BTNMT ngày 22/8/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Trong điều kiện hiện nay, các điểm GNSS CORS quốc gia của Việt Nam phần lớn đang trong quá trình xây dựng nên chưa có đầy đủ các chức năng của một hệ thống Cors Chính vì vậy, để xác định tọa độ các mốc địa giới hành chính, các trạm GNSS CORS sử dụng trong luận văn đóng vai trò như các điểm khống chế tọa độ quốc gia

Trang 16

3 Công nghệ trạm tham chiếu hoạt động liên tục và các giải pháp ứng dụng trong công tác xác định mốc địa giới hành chính

3.1 Giải pháp công nghệ ứng dụng dữ liệu của các trạm tham chiếu hoạt động liên tục

Công nghệ hiệu chỉnh thời gian thực: Thu nhận dữ liệu, xử lý dữ liệu và cung cấp dữ liệu phải gần như đồng thời Máy đo nhận số cải chính truyền tới

từ hệ thống để chính xác hóa tọa độ nhận được Số cải chính được phát rất đa dạng, bao gồm: số cải chính vị trí, số cải chính khoảng cách (trị đo), mô hình cải chính (các sai số quỹ đạo vệ tinh, tầng khí quyển),

Công nghệ xử lý sau: Ngược lại với công nghệ hiệu chỉnh thời gian thực, trong công nghệ xử lý sau, việc xử lý dữ liệu không thực hiện ngay tại thời điểm đo Công nghệ này thường được áp dụng khi cần xác định vị trí độ chính xác cao Công nghệ xử lý sau áp dụng cho cả đo tương đối tĩnh và đo tương đối động độ chính xác cao

3.2 Xác định tọa độ mốc địa giới hành chính trên cơ sở ứng dụng trạm tham chiếu hoạt động liên tục

Nhằm xác định tọa độ của các mốc địa giới hành chính, dữ liệu của các trạm tham chiếu hoạt động có thể được khai thác theo các hướng chính:

- Hướng thứ nhất: Các trạm tham chiếu hoạt động liên tục đóng vai trò như là các điểm khống chế Nhà nước trong công nghệ đo tĩnh

- Hướng thứ hai: Sử dụng mạng lưới đo động thời gian thực NRTK nhằm xác định tọa độ của các điểm mốc địa giới hành chính với các công nghệ hiệu chỉnh thời gian thực độ chính xác cao như VRS, FKP,…

Ở thời điểm hiện tại, do số lượng trạm GNSS CORS quốc gia đang hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam không nhiều, mật độ các điểm GNSS CORS

Trang 17

phân bố chưa đủ để mô hình hóa được các nguồn sai số nên luận văn sử dụng hướng thứ nhất đã nêu ở trên để tính toán thực nghiệm

4 Ứng dụng trạm tham chiếu hoạt động liên tục xác định tọa độ các mốc địa giới hành chính huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa

4.1 Giới thiệu khu vực thực nghiệm

Khu vực thực nghiệm thuộc huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa Lưới ĐGHC huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa được xây dựng gồm 8 điểm ĐGHC

có số hiệu POI1, POI2, POI3, POI4, POI5, POI6, POI7 và POI8

4.2 Mục đích, yêu cầu và phương pháp thực nghiệm

Phần thực nghiệm nhằm xác định được tọa độ các mốc địa giới hành chính trên cơ sở khai thác dữ liệu của trạm tham chiếu hoạt động liên tục Các trạm GNSS CORS quốc gia sẽ được khai thác với vai trò là các điểm gốc trong thực nghiệm của luận văn Tọa độ các điểm mốc địa giới hành chính cần được đảm bảo yêu cầu là sai số trung phương vị tọa độ, độ cao sau bình sai lần lượt không vượt quá 0,3 mét và 0.5 mét Theo quy định, thời gian đo mỗi ca không dưới 60 phút Tuy nhiên, do khoảng cách giữa các trạm tham chiếu liên tục tới khu thực nghiệm khá lớn nên thời gian của mỗi ca đo đã được kéo dài tới 150 phút

Để có điều kiện đánh giá, so sánh kết quả ứng dụng trạm tham chiếu hoạt động liên tục so với phương án đo GNSS tĩnh có sử dụng điểm địa chính cơ sở làm điểm gốc của lưới, phần xử lý số liệu được thực hiện theo 2 phương án:

Phương án 1: Lưới được bình sai với thời gian ca đo là 60 phút Số liệu gốc của lưới là tọa độ và độ cao Nhà nước của các điểm 208411và 208408

Trang 18

Phương án 2: Lưới được bình sai cùng với số liệu đo cùng thời điểm của 3 trạm tham chiếu hoạt động liên tục BDRS, NARS, DNRS Số liệu gốc của lưới là tọa độ và độ cao của điểm BDRS, NARS và DNRS

4.3 Đánh giá kết quả đạt được

Từ các kết quả khi bình sai lưới thực nghiệm theo 2 phương án đã lập được các bảng so sánh như sau:

Bảng 3.9 Bảng so sánh tọa độ của các điểm theo 2 phương án

Trang 19

Bảng 3.11 So sánh sai số vị trí điểm và sai số độ cao điểm

Từ các kết quả nêu trên có thể rút ra các nhận xét:

- Độ chính xác tọa độ và độ cao của lưới thực nghiệm khi bình sai theo phương án 1 hay phương án 2 đều đáp ứng yêu cầu về độ chính xác trong việc xác định tọa độ các điểm địa giới hành chính theo quy định

- Lưới thực nghiệm khi bình sai theo phương án 1 cho sai số trung phương về tọa độ và độ cao tốt nhỏ lưới khi bình sai theo phương án 2 Khi lưới được triển khai thực hiện theo phương án 2 thì các máy thu GNSS không cần phải đặt tại các trạm tham chiếu Như vậy, ngoài việc không phải đi tìm điểm gốc hiện còn tồn tại trên khu vực thực nghiệm thì số lượng máy thu GNSS phục vụ cho công tác đo đạc lưới thực nghiệm sẽ giảm Điều này sẽ tiết kiện được thời gian, nhân lực và chi phí dẫn đến hiệu quả kinh tế mang lại sẽ cao hơn

5 Kết luận

Qua quá trình tìm hiểu và nghiên cứu cơ sở lý thuyết kết hợp với các kết quả thực nghiệm đạt được, tôi có một số kết luận như sau:

Trang 20

1 Luận văn đã ứng dụng dữ của 3 trạm tham chiếu tại Việt Nam đó là BDRS, NARS và DNRS trong xác định tọa độ của mốc địa giới hành chính cấp huyện, khu vực huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa

2 Các dữ liệu đo đạc; tọa độ, độ cao của các điểm địa chính cơ sở; các

dữ liệu của các trạm tham chiếu hoạt động liên tục đã được thu thập trung thực phục vụ cho thực nghiệm của luận văn Quá trình đo đạc được tiến hành chặt chẽ theo đúng quy định Quá trình xử lý lưới GNSS xác định tọa độ của mốc địa giới hành chính khu vực huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa được thực hiện theo 2 phương án theo quy trình chặt chẽ Kết quả thực nghiệm cho thấy:

- Mặc dù khoảng cách giữa các trạm GNSS CORS của lưới thực nghiệm lớn (cạnh dài nhất hơn 600 km, trung bình khoảng 420 km) nhưng dữ liệu của các trạm này hoàn toàn đáp ứng được việc xác định tọa độ các mốc địa giới hành chính huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa đạt độ chính xác yêu cầu theo Thông tư 48/2014/TT-BTNMT

- Sai số trung phương tọa độ sau bình sai của mốc ĐGHC của lưới thực nghiệm khi bình sai với số liệu gốc là số liệu của các điểm địa chính cơ sở cho độ chính xác cao hơn khi bình sai lưới được bình sai với số liệu gốc là số liệu của các điểm GNSS CORS Nguyên nhân chủ yếu là do khoảng cách từ các điểm địa giới hành chính đến các điểm địa chính cơ sở ngắn hơn rất nhiều

so với khoảng cách từ các điểm này đến các điểm GNSS CORS

- Lưới thực nghiệm được xử lý theo hai phương án nêu trên đều đáp ứng yêu cầu để xác định tọa độ của mốc địa giới hành chính theo đúng quy định hiện hành Tuy nhiên, thế mạnh của các trạm tham chiếu hoạt động liên tục GNSS CORS là dữ liệu đo liên tục nên đáp ứng mọi yêu cầu cho việc khai thác số liệu Trong quá trình thành lập lưới, người sử dụng không cần phải đi tìm mốc ngoài thực địa, các máy thu không cần phải đặt tại các điểm

Trang 21

GNSS CORS, do đó sẽ tiết kiệm thời gian, kinh phí và nâng cao hiệu quả, năng suất lao động

6 Kiến nghị

- Cần có thêm nhiều nghiên cứu, thử nghiệm về việc ứng dụng sản phẩm của các trạm tham chiếu hoạt động liên tục cho các loại hình công việc khác nhau trong lĩnh vực trắc địa bản đồ, đặc biệt đối với việc đo nối độ cao bằng phương pháp GNSS

- Cơ quan quản lý Nhà nước sớm ban hành các quy định kỹ thuật về việc sử dụng dữ liệu các trạm tham chiếu hoạt động liên tục, tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan, đơn vị có sở sở pháp lý để sử dụng nguồn dữ liệu này trong việc giải quyết các nhiệm vụ chuyên ngành

Trang 22

THESIS SUMMARY

Student: Tran Van Binh

Instructor: Dr Bui Thi Hong Tham

Topic: Determinaning the coordinates of the administrative boundary control points base on using Continuously Operating Reference Stations

1 Introduction

Accurate determination of administrative boundary markers is one of the most important tasks in mapping The coordinates of the administrative boundary markers are mainly determined by the GPS method combined with traditional measurement methods based on the landmark coordinates and elevation of the State In recent years, continuous reference stations have been established in Vietnam's territorial waters and territorial waters The strengths of these stations provide both real-time and post-processing data for users with very high quality, For research conditions, learn about the mechanism of action and methodology Continuously referencing station data, participants chose the subject of the dissertation: "Application of reference stations to continuously identify the administrative boundary markers of Yen Dinh district, Thanh Hoa province" The topic is to determine the coordinates of the administrative boundary markers of Yen Dinh district, Thanh Hoa province based on the continuous use of reference stations data To achieve the goal, the main research content of the dissertation is:

- An overview of the research on the development of reference stations for continuous operation and application in the determination of administrative boundary markers; Overall assessment of strengths,

Trang 23

shortcomings, constraints and causes; Issues that need to be researched and perfected

- Research and development of reference stations operating continuously

in Vietnam and applied in the establishment of geodesy control network;

- Technology of continuous reference stations and solutions applied in the work of identifying administrative boundary markers;

- Application of reference stations to continuously identify the administrative boundary markers of Yen Dinh district, Thanh Hoa province

2 Overview of research situation

Continuous reference workstation data play an important role in national socio-economic development and scientific research In the past, GNSS CORS stations have been built in our country Currently, the Ministry of Natural Resources and Environment is planning to build 65 GNSS CORS stations in the Vietnamese territory For the purpose of building a reference system, seven military DGNSS/CORS stations have been built and put into operation In addition, there are stations of some units such as: 03 stations of the Institute of Geophysics; 01 station at the University of Mining and Geology and 05 stations for some units in the South

The determination of the coordinates of administrative boundary markers using GNSS technology is stipulated in the Ministry of Natural Resources and Environment's Circular No 48/2014/TT-BTNMT dated 22/8/2014 Under current conditions, the national GNSS CORS sites in Vietnam are largely under construction, so they lack the full functionality of

a Cors system Therefore, to determine the coordinates of the administrative boundary markers, the GNSS CORS substations used in the dissertation serve

as coordinating points for national coordinates

Trang 24

3 Continuous reference station technology and solutions applied in the work of identifying administrative boundary markers

3.1 Data technology application solutions of reference stations operating continuously

Real-time tuning technology: Data acquisition, data processing and data delivery must be nearly simultaneous The measure of rectification received from the system to correct the coordinates received The number of corrections is varied, including: rectification of position, correction of distance (measured value), rectification model (satellite orbital errors, atmospheric level),

Processing Technology: In contrast to real-time correction technology,

in post-processing technology, data processing is not performed at the time of measurement This technology is often used when it is necessary to locate high accuracy Post-processing technology applies to both static and relative high-precision relativity measurements

3.2 Determinaning the coordinates of the administrative boundary control points base on using Continuously Operating Reference Stations

In order to determine the coordinates of the administrative boundary

markers, the data of the operational reference stations can be exploited in the

following main directions:

- The first direction: Constant reference stations act as control points for the state in static measurement technology

- Second Direction: Using the NRTK real-time dynamic measurement network to determine the coordinates of administrative boundary landmarks with high precision real-time correction technologies such as VRS, FKP,

At present, due to the limited number of GNSS CORS stations operating in

Trang 25

the Vietnamese territory, the density of GNSS CORS sites distributed is not sufficient to model the sources of error the first mentioned above for

experimental calculation

4 Determinaning the coordinates of the administrative boundary control points base on using Continuously Operating Reference Stations

in Yen Dinh district, Thanh Hoa province

4.1 Introduction to the experimental area

Experimental area in Yen Dinh district, Thanh Hoa province The point Ba hunger Rehabilitation Center in Yen Dinh district, Thanh Hoa

8-province has the POI1, POI2, POI3, POI4, POI5, POI6, POI7 and POI8

numbers

4.2 Purposes, requirements and methods

The experimental part is to determine the coordinates of the administrative boundary markers on the basis of the continuous operation of the reference station data National GNSS CORS stations will be exploited as experimental points in the thesis The coordinates of administrative boundary landmarks need to be ensured that the coordinates are correct, the height after the adjustment is not more than 0.3 meters and 0.5 meters respectively As a rule, the measurement time for each shift should not be less than 60 minutes However, due to the distance between the reference stations continuously to the experimental area is quite large, the time of each test was extended to 150 minutes

For the purpose of evaluating and comparing the results of continuous reference station application compared to the static GNSS measurement using the base cadastral point as the origin of the grid, the data processing part is performed according to Two options:

Trang 26

Option 1: The grid is aligned with the measurement time of 60 minutes The original grid data is the coordinates and elevation state of the points

208411 and 208408

Option 2: The grid is aligned with the same time data of 3 continuous reference stations BDRS, NARS, DNRS The baseline data for the grid are the coordinates and altitudes of the BDRS, NARS and DNRS scores

Trang 27

Table 3.10 The table compares the height of the points in two scenarios

mh (m)

mp (m)

mh (m)

From the above results can be commented:

- Coordinate precision and elevation of the experimental grid in accordance with option 1 or option 2 all meet the accuracy requirements in determining the coordinates of administrative boundary points as prescribed

Trang 28

- Experimental grid for the standard deviation according to option 1 for the central difference in coordinates and the net good height of the grid when the difference is equal to the plan 2 When the grid is implemented under option 2, the GNSS receivers are not must be located at the reference station Thus, in addition to not having to look for existing baseline persistence on the experimental site, the number of GNSS receivers for experimental mesh measurement will decrease This will save time, labor and costs leading to higher economic efficiency

5 Conclusion

Through the process of investigating and studying the theoretical basis combined with the experimental results achieved, I have some conclusions as follows:

1 The thesis has applied data of 3 reference stations in Vietnam: BDRS, NARS and DNRS in determining the coordinates of the administrative boundary markers of districts, Yen Dinh district, Thanh Hoa province

2 Measured data; the coordinates and elevation of the cadastral sites; The data of stationary continuous reference work was collected honestly for the empirical work of the thesis The measurement process is carried out strictly according to regulations The process of processing GNSS grids to determine the coordinates of the administrative boundary markers in Yen

Trang 29

Dinh district, Thanh Hoa province is carried out according to two defined processes Experimental results show that:

closely Although the distance between the GNSS CORS stations of the large experimental grid (the longest edge of more than 600 km, the average of about 420 km), the data of these stations fully meet the determination of the boundary markers Administrative work of Yen Dinh district, Thanh Hoa province has reached the accuracy required under Circular 48/2014/TT-BTNMT

- The median error of the coordinates after the variance of the likelihood mark of the experimental net when deviating from the baseline data is the data of the cadastral sites for higher accuracy when the net difference is corrected with the data Original is the data of the GNSS CORS points This is mainly due to the fact that the distance from the administrative boundary points to the cadastral sites is much shorter than the distance from these points to the GNSS CORS points

log Experimental lattices treated in accordance with the above two options shall meet the requirements to determine the coordinates of the administrative boundary markers in accordance with the current regulations However, the strength of the continuous reference stations GNSS CORS is continuous measurement data that should meet all requirements for data mining During the establishment of the grid, users do not need to look for landmarks in the

Trang 30

field, receivers need not be located at GNSS CORS points, thus saving time, money and improving efficiency labor productivity

6 Recommendations

- More research is needed to test the application of continuous reference work stations for different types of work in the area of surveying, especially for measurements of elevation GNSS method

- State management agencies will soon issue technical regulations on the continuous use of reference stations, which will facilitate the use of legal sources by agencies and units This data in dealing with specialized tasks

Trang 31

Xác định chính xác tọa độ các mốc địa giới hành chính phục vụ công tác lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính là một trong những nhiệm vụ rất quan trọng trong công tác trắc địa bản đồ Tọa độ các mốc địa giới hành chính chủ yếu được xác định bằng phương pháp GPS kết hợp với các phương pháp

đo đạc truyền thống dựa trên các điểm mốc tọa độ, độ cao Nhà nước Hệ thống mốc tọa độ, độ cao Nhà nước được xây dựng từ những năm 1960 của thế kỷ trước và được chỉnh sửa bổ sung qua nhiều giai đoạn Do tác động của rất nhiều yếu tố tự nhiên và nhân sinh nên rất khó khăn trong việc kiểm soát

sự biến động của các mốc này, dẫn đến giá trị tọa độ của các mốc địa giới hành chính được xác định với độ tin cậy và độ chính xác không đồng đều, gây khó khăn cho công tác lập, quản lý hồ sơ và sử dụng các mốc địa giới hành chính Tháng 12 năm 2006, Cục Bản đồ, Bộ Tổng tham mưu đã tiến hành xây dựng 7/35 trạm tham chiếu hoạt động liên tục thuộc khu vực Miền Bắc Việt Nam Dự kiến, đến năm 2018 Cục Bản đồ sẽ xây dựng hoàn chỉnh 35 trạm tham chiếu hoạt động liên tục phủ trùm lãnh thổ và trên một số đảo của Việt Nam Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam cũng đang triển khai

dự án "Xây dựng mạng lưới GPS cố định (CORS) trên lãnh thổ Việt Nam" với nội dung chủ yếu là xây dựng 65 trạm tham chiếu hoạt động liên tục phủ trùm lãnh thổ Việt Nam Thế mạnh của các trạm tham chiếu hoạt động liên tục là tọa độ (3D) của các điểm mốc được xác định với độ chính xác cao trong cùng một hệ thống, cung cấp dữ liệu cả trong thời gian thực và xử lý sau cho người sử dụng với chất lượng rất cao,

Để có điều kiện nghiên cứu, tìm hiểu về cơ chế hoạt động và phương pháp xử lý dữ liệu các trạm tham chiếu hoạt động liên tục nhằm nhanh chóng

Trang 32

khai thác các sản phẩm của dự án đã được đầu tư ứng dụng cho các mục đích chuyên ngành, học viên đã chọn đề tài của luận văn thạc sỹ kỹ thuật là "Ứng dụng trạm tham chiếu hoạt động liên tục xác định tọa độ các mốc địa giới hành chính huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa"

2 Mục tiêu của đề tài

Xác định được tọa độ các mốc địa giới hành chính huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa trên cơ sở sử dụng dữ liệu các trạm tham chiếu hoạt động liên tục

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Nghiêu cứu cấu trúc thiết bị, công nghệ; cơ chế hoạt động và phương pháp xử lý dữ liệu các trạm tham chiếu hoạt động liên tục và vận dụng để xác định tọa độ mốc địa giới hành chính huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa

4 Nội dung nghiên cứu

Để đạt được mục đích, luận văn phải giải quyết được các vấn đề sau:

- Đánh giá tổng quan về tình hình nghiên cứu phát triển các trạm tham chiếu hoạt động liên tục và ứng dụng trong công tác xác định mốc địa giới hành chính; đánh giá chung về những ưu điểm, các tồn tại, hạn chế và nguyên nhân; nêu các vấn đề cần phải nghiên cứu, hoàn thiện

- Nghiên cứu phát triển các trạm tham chiếu hoạt động liên tục ở Việt Nam và ứng dụng trong công tác thành lập lưới khống chế trắc địa

- Công nghệ trạm tham chiếu hoạt động liên tục và các giải pháp ứng dụng trong công tác xác định mốc địa giới hành chính

- Ứng dụng trạm tham chiếu hoạt động liên tục xác định tọa độ các mốc địa giới hành chính huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa

Trang 33

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:

- Phương pháp tổng hợp, phân tích và kế thừa: Thu thập các tài liệu đã có; cập nhật các thông tin trên mạng internet; tổng hợp, phân tích các tài liệu

và các kết quả nghiên cứu, kế thừa có chọn lọc các thành quả có liên quan đến

đề tài;

- Phương pháp thu thập và xử lý số liệu: Thu thập số liệu các trạm tham chiếu hoạt động liên tục, dữ liệu đo đạc mốc giới địa chính và các tài liệu có liên quan đến khu thực nghiệm trên cơ sở dữ liệu, tài liệu mới nhất, có tính pháp lý cao nhất;

- Phương pháp so sánh: So sánh ưu điểm và nhược điểm của việc sử dụng dữ liệu của các trạm tham chiếu hoạt động liên tục để xác định tọa độ mốc địa giới hành chính so với các phương pháp khác hiện đang sử dụng;

- Phương pháp ứng dụng công nghệ tin học: Khai thác sử dụng phần mềm chuyên dụng để minh họa kết quả nghiên cứu

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Các kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần củng cố, bổ sung các quan điểm khoa học về xây dựng hệ thống trạm tham chiếu hoạt động liên tục; tạo cơ sở khoa học để phát triển các ứng dụng và góp phần hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về xây dựng lưới khống chế trắc địa dựa trên dữ liệu của các trạm tham chiếu hoạt động liên tục

Các kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ được xem xét và áp dụng vào thực tiễn sản xuất, trước hết ở đơn vị nơi học viên công tác để phát triển theo hướng đa dạng hóa sản phẩm, góp phần mở rộng sản xuất kinh doanh, tạo

Trang 34

công việc mới cho cán bộ nhân viên của đơn vị; nâng cao hiệu quả lao động

và tiết kiệm kinh phí đầu tư

Góp phần mở rộng phạm vi ứng dụng sản phẩm và nâng cao hiệu quả của các dự án đầu tư từ nguồn ngân sách Nhà nước

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị và phần phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương, gồm:

Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu phát triển các trạm tham chiếu hoạt động liên tục và ứng dụng trong công tác xác định mốc địa giới hành chính

Chương 2 Công nghệ trạm tham chiếu hoạt động liên tục và các giải pháp ứng dụng trong công tác xác định mốc địa giới hành chính

Chương 3 Ứng dụng trạm tham chiếu hoạt động liên tục xác định tọa độ các mốc địa giới hành chính huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa

Trang 35

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN CÁC TRẠM THAM CHIẾU HOẠT ĐỘNG LIÊN TỤC VÀ ỨNG DỤNG TRONG CÔNG TÁC XÁC ĐỊNH MỐC ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH

Từ những năm 80 của Thế kỷ XX, các nghiên cứu khoa học và tính toán thực nghiệm liên quan đến ứng dụng công nghệ định vị vệ tinh toàn cầu đã khẳng định Hệ thống định vị toàn cầu GPS (Global Positioning System) có thể giải quyết được rất nhiều bài toán trắc địa và địa động học trên phạm vi quốc gia, khu vực và toàn cầu Ý tưởng thành lập một tổ chức quốc tế về GPS được hình thành tại Đại hội của Hội Trắc địa quốc tế IAG (International Association of Geodesy) năm 1989 Năm 1993 tổ chức GPS quốc tế IGS (International GPS Service) chính thức được thành lập IGS có nhiệm vụ xây dựng một mạng lưới toàn cầu gồm các trạm quan trắc vệ tinh (gọi là mạng lưới IGS), Trung tâm Dữ liệu và Trung tâm Xử lý dữ liệu nhằm cung cấp các sản phẩm liên quan đến GPS cho người dùng trên toàn thế giới

Các trạm tham chiếu hoạt động liên tục (CORS) được các quốc gia, các

tổ chức khoa học và các viện nghiên cứu, các trường đại học trên thế giới xây dựng và đưa vào khai thác sử dụng từ những năm 90 của Thế kỷ XX Mỗi một mạng lưới các trạm tham chiếu hoạt động liên tục được xây dựng phù hợp với nhu cầu sử dụng dữ liệu, nhưng khả năng đáp ứng lại rất rộng lớn do các ưu thế đặc biệt của các hệ thống dẫn đường vệ tinh toàn cầu GNSS Tùy thuộc vào phạm vi thiết lập mà mạng lưới trạm tham chiếu hoạt động liên tục

có thể là toàn cầu như mạng lưới IGS quốc tế, các mạng lưới khu vực như lưới thường trực Châu Âu, lưới trắc địa độ chính xác cao khu vực Châu Á- Thái Bình Dương hay các mạng lưới địa phương như mạng lưới trạm CORS của các quốc gia, các viện nghiên cứu, các trường đại học, Phụ thuộc vào

Trang 36

khả năng đáp ứng của lưới trạm tham chiếu hoạt động liên tục có thể là lưới Geodetic CORS, lưới DGPS CORS, lưới RTK CORS, lưới CORS-NRTK,

1.1 Lịch sử phát triển các trạm tham chiếu hoạt động liên tục

Vấn đề nghiên cứu xây dựng lưới trắc địa độ chính xác cao phục vụ xây dựng cơ sở hạ tầng thông tin địa lý, giải quyết các bài toán phát hiện kiến tạo hiện đại của vỏ Trái đất và nhiều mục đích khác được thực hiện trên phạm vi toàn cầu, ở các khu vực và nhiều nước trên thế giới Khi công nghệ trắc địa vệ tinh ra đời với phương pháp quan trắc vệ tinh bằng chụp ảnh vệ tinh trên nền trời sao và phương pháp quan trắc giao thoa trên đường đáy dài (VLBI) đã tạo nên nhu cầu hợp tác nghiên cứu Trái đất giữa các quốc gia Cùng với sự xuất hiện của các thế hệ trắc địa vệ tinh mới như công nghệ vệ tinh Laser đo khoảng cách SLR, công nghệ vệ tinh sử dụng hiệu ứng Doppler DORIS và hiện nay là công nghệ dẫn đường vệ tinh toàn cầu GNSS đã tạo nên khung hợp tác nghiên cứu Trái đất mang tính toàn cầu Kết quả đầu tiên mang tính toàn cầu chính là Hệ quy chiếu toàn cầu WGS84 đã được cộng đồng quốc tế xác lập vào năm 1984 để thay thế hoặc kết nối với tất cả những hệ quy chiếu mang tính khu vực hay quốc gia trước đó

Các phương pháp nghiên cứu địa chất, nghiên cứu hoạt động của vỏ Trái đất cũng đã chuyển từ quan niệm kiến tạo kinh điển sang quan niệm kiến tạo mảng Hiện nay, quan niệm kiến tạo mảng đã được chứng minh bằng thực tiễn với các dữ liệu đo đạc về lục địa trôi, các dữ liệu đo đạc đáy đại dương, các dữ liệu đo đạc mặt đất từ ảnh vệ tinh để xác lập các đứt gẫy hiện đại đang hoạt động, Các nhà khoa học thế giới đã thừa nhận rằng lớp vỏ Trái đất không đứng yên mà từng mảng đang trượt vào nhau, tạo nên các tuyến có hoạt động động đất và núi lửa rất mạnh như tuyến phía Đông và phía Tây của Thái Bình Dương

Trang 37

Trong bối cảnh đó, cộng đồng các nhà trắc địa quốc tế đã hợp tác để tạo nên cơ sở toán học chặt chẽ, phục vụ cho quan trắc chính xác hoạt động hiện đại của vỏ Trái đất Trước hết, một mạng lưới điểm tọa độ toàn cầu IGS (International GNSS Service) đã được xác lập trên cơ sở các điểm tọa độ được xác định bằng GPS của các quốc gia và vùng lãnh thổ Ngoài IGS còn

có các mạng lưới khống chế quốc tế khác như IVS, ILRS, IDS hay Lưới địa động lực khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (PCGIAP),

1.1.1 Mạng lưới các trạm IGS quốc tế

Mạng lưới IGS được thành lập từ năm 1993 trên cơ sở hợp nhất các trạm tham chiếu hoạt động liên tục của các quốc gia và các vùng lãnh thổ trên thế giới được đặt dưới sự phối hợp, điều hành của chức GPS quốc tế IGS Ngoài việc thành lập mạng lưới IGS, Tổ chức GPS quốc tế còn xây dựng Trung tâm Dữ liệu và Trung tâm Xử lý dữ liệu để cung cấp số liệu quan trắc GPS hàng ngày [1] và các sản phẩm có độ trễ so với thời gian thực cao nhất đến 18 ngày Các kết quả này bao gồm: Lịch vệ tinh GPS, các tham số quay của Trái Đất, toạ độ và tốc độ dịch chuyển của các trạm quan trắc vệ tinh, các thông tin về giờ của vệ tinh GPS,

Năm 1997, Mạng lưới IGS toàn cầu gồm trên 100 điểm đã được xây dựng Đến nay, Mạng lưới này đã có hơn 500 điểm/trạm phân bố trên toàn cầu với sự tham gia của hơn 100 viện nghiên cứu, trường đại học, trung tâm nghiên cứu của nhiều nước trên thế giới Số liệu quan trắc của Mạng lưới IGS được sử dụng vào các mục đích: (i) thiết lập các thông tin quỹ đạo

vệ tinh, gọi là quỹ đạo IGS; (ii) nghiên cứu chuyển động của cực Trái đất

và giờ quốc tế; (iii) xây dựng Hệ quy chiếu toàn cầu; (iv) nghiên cứu chuyển động quay của Trái; (v) nghiên cứu khí quyển, v.v…

Trang 38

Hình 1.1 Mạng lưới IGS quốc tế (nguồn Interrnet)

Mạng lưới IGS là lưới khống chế trắc địa vệ tinh lớn nhất thế giới Các trạm IGS được phân bố trên toàn thế giới như thể hiện trên hình 1.1

Việc đưa hệ thống IGS vào hoạt động có ý nghĩa khoa học và thực tiễn rất quan trọng Trước hết là tạo khả năng thống nhất hệ quy chiếu trắc địa toàn cầu về mặt thực tiễn với việc đo đạc GPS đơn lẻ ở bất cứ điểm nào trên Trái đất cũng có thể kết nối được với lưới IGS Tiếp theo là đã có tác động làm tăng rất đáng kể độ chính xác của công nghệ GPS: Một mặt mạng lưới IGS hỗ trợ làm tăng độ chính xác đo đạc cho mạng lưới GPS địa phương và mặt khác tạo khả năng hiệu chỉnh quỹ đạo vệ tinh để trị đo GPS có thể đạt được tới cỡ mi-li-mét

và trên hết là tạo khả năng quan trắc chính xác hoạt động của các mảng lục địa trên cơ sở độ chính xác cao của công nghệ đo đạc GPS

Là trạm GNSS hoạt động liên tục trên toàn cầu và một hệ thống dịch vụ tích hợp, IGS cung cấp cho người dùng trên toàn thế giới miễn phí với các thông tin GPS và GLONASS khác nhau, chẳng hạn như lịch vệ tinh chính xác, lịch vệ tinh nhanh, lịch vệ tinh dự báo; vận tốc và tọa độ các trạm IGS;

Trang 39

tín hiệu vệ tinh nhận được từ các trạm IGS, tốc độ quay của Trái đất kèm theo

sự biến đổi, Dịch vụ GNSS quốc tế đã hỗ trợ nhiều chương trình khoa học thuộc lĩnh vực Trắc địa và Động lực học, bao gồm tầng điện ly, khí tượng học, khung tham chiếu, [1]

Với sự hỗ trợ của IAG, một Ủy ban điều phối đã được thành lập từ các

cơ quan đã thành lập các trạm và các cơ quan chính phủ của các quốc gia khác nhau Được sự ủy quyền của IGS, Hội đồng quản trị của Ủy ban điều phối đã trực tiếp quản lý một số Trung tâm dữ liệu, Trung tâm xử lý dữ liệu

và chịu trách nhiệm cung cấp dịch vụ, các sản phẩm cũng như việc tổ chức các dự án hợp tác quốc tế

1.1.2 Mạng lưới tham chiếu hoạt động liên tục khu vực

- Mạng lưới GNSS thường trực Châu Âu (EPN)

Trên cơ sở các trạm trạm quan trắc vệ tinh liên tục được thành lập bởi các nước Châu Âu và một số tổ chức (các viện nghiên cứu và các trường đại học), mạng lưới thường trực Châu Âu (EPN) được thành lập bởi Ủy ban khung tiêu chuẩn khu vực Châu Âu (EUREF) của Hiệp hội quốc tế về đo đạc Hiện nay, mạng lưới này bao gồm 122 trạm cố định, trong đó có 42 trạm IGS điểm Mạng lưới làm việc với quy trình một số điểm tham chiếu hoạt động liên tục (GNSS CORS) của các nước hoặc tổ chức khác nhau tạo thành các mạng con với các trung tâm điều hành riêng dựa vào trung tâm dữ liệu khu vực riêng và chuyển dữ liệu về trung tâm khu vực Châu Âu, sau đó dữ liệu và các sản phẩm liên quan được chuyển về trung tâm dữ liệu IGS, trung tâm dữ liệu khu vực

Hiện tại, nhiệm vụ của EPN là duy trì khung tham chiếu khu vực Châu

Âu ETRS89 Các dịch vụ chính đó là cung cấp các sản phẩm phục vụ cho nhiều ứng dụng khoa học như giám sát biến dạng mặt đất, mực nước biển,

Trang 40

thời tiết không gian và dự báo thời tiết, Sơ đồ bố trí của mạng lưới thường trực Châu Âu được thể hiện trên hình 1.2

Hình 1.2 Sơ đồ vị trí điểm của Lưới Thường trực Châu Âu (EPN)

Nguồn EUREF Permanent GNSS Network

1.1.3 Các mạng lưới tham chiếu hoạt đông liên tục của một số quốc gia

1 Mạng lưới tham chiếu họat động liên tục của Mỹ

Cơ quan Trắc đạc quốc gia của Mỹ (NGS National Geodetic Survey) trực thuộc Cục quản lý đại dương và khí quyển quốc gia Hoa Kỳ NOAA (The National Oceanic and Atmospheric Administration) là đơn vị trực tiếp quản lý

và vận hành hệ thống các trạm tham chiếu hoạt động liên tục CORS xuất hiện sớm và có quy mô lớn nhất thế giới với hàng nghìn vị trí trạm trải dài trên lãnh thổ Hoa Kỳ Trong hệ thống này NGS có nhiệm vụ thu nhận, xử lý và cấp phát số liệu từ tất cả các trạm CORS phục vụ cho các nhu cầu ứng dụng

kỹ thuật định vị đa chiều trên khắp Hoa Kỳ, các vùng lãnh thổ và một số quốc gia lân cận Số liệu từ các trạm CORS được sử dụng bởi các lĩnh vực như đo

Ngày đăng: 25/10/2018, 10:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lu Z., Qiao S., Qu Y., (2014). Geodesy Introduction to Geodetic Datum and Geodetic Systems, Springer Sách, tạp chí
Tiêu đề: Geodesy Introduction to Geodetic Datum and Geodetic Systems
Tác giả: Lu Z., Qiao S., Qu Y
Năm: 2014
2. Tatevian.S, Kuzin.S, Kluykov.A, (2014). A development of the Russian geodetic reference network. REFAG, 13-17, October, 2014. Luxembourg Sách, tạp chí
Tiêu đề: A development of the Russian geodetic reference network
Tác giả: Tatevian.S, Kuzin.S, Kluykov.A
Năm: 2014
4. Hà Minh Hòa, (2005). Nghiên cứu cơ sở khoa học của việc xây dựng các mạng lưới GPS các cấp hạng trong hệ toạ độ động học, Báo cáo tổng kết khoa học và kỹ thuật Đề tài nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ cấp Bộ Tài nguyên và Môi trường. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cơ sở khoa học của việc xây dựng các mạng lưới GPS các cấp hạng trong hệ toạ độ động học
Tác giả: Hà Minh Hòa
Năm: 2005
5. Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam, (2016). Dự án "Xây dựng mạng lưới trạm định vị toàn cầu bằng vệ tinh trên lãnh thổ Việt Nam", Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng mạng lưới trạm định vị toàn cầu bằng vệ tinh trên lãnh thổ Việt Nam
Tác giả: Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam
Năm: 2016
6. Cục Bản đồ-BTTM, (2008). Hệ quy chiếu & Hệ tọa độ quân sự - Hệ thống và giải pháp công nghệ, Tài liệu Hội thảo khoa học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ quy chiếu & Hệ tọa độ quân sự - Hệ thống và giải pháp công nghệ
Tác giả: Cục Bản đồ-BTTM
Năm: 2008
7. Sieuviet Control and Measuring instrument, (2008). Presentation Leica Geosystems Reference Station Network. Hanoi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Presentation Leica Geosystems Reference Station Network
Tác giả: Sieuviet Control and Measuring instrument
Năm: 2008
8. Đặng Hùng Võ và nnk, (2009). Nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng hạ tầng kỹ thuật thông tin địa lý phục vụ hợp tác giải quyết một số vấn đề cơ bản về khoa học trái đất trên lãnh thổ Việt Nam, khu vực và toàn cầu, Báo cáo Tổng kết Khoa học và Kỹ thuật đề tài độc lập cấp Nhà nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng hạ tầng kỹ thuật thông tin địa lý phục vụ hợp tác giải quyết một số vấn đề cơ bản về khoa học trái đất trên lãnh thổ Việt Nam, khu vực và toàn cầu
Tác giả: Đặng Hùng Võ và nnk
Năm: 2009
9. Nguyễn Đình Thành và nnk, (2016). Nghiên cứu khả năng khai thác dữ liệu từ các nguồn: GPS, GLONASS, GALILEO, BẮC ĐẨU nhằm nâng cao hiệu quả khai thác sử dụng hệ thống các trạm cơ sở thường trực DGPS do Cục Bản đồ xây dựng, Báo cáo Tổng kết khoa học - kỹ thuật đề tài cấp Cục bản đồ, Bộ Tổng tham mưu. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khả năng khai thác dữ liệu từ các nguồn: GPS, GLONASS, GALILEO, BẮC ĐẨU nhằm nâng cao hiệu quả khai thác sử dụng hệ thống các trạm cơ sở thường trực DGPS do Cục Bản đồ xây dựng
Tác giả: Nguyễn Đình Thành và nnk
Năm: 2016
10. Hà Minh Hòa và Nguyễn Ngọc Lâu, (2012). Lý thuyết và thực tiễn của Trắc địa vũ trụ, Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết và thực tiễn của Trắc địa vũ trụ
Tác giả: Hà Minh Hòa và Nguyễn Ngọc Lâu
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật. Hà Nội
Năm: 2012
11. Trần Đình Tô và Vi Quốc Hải, (2005). Xây dựng lưới thường trực tại Việt Nam dưới góc nhìn địa kiến tạo, Tạp chí Khoa học kỹ thuật Mỏ - Địa chất, Vol.41. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng lưới thường trực tại Việt Nam dưới góc nhìn địa kiến tạo
Tác giả: Trần Đình Tô và Vi Quốc Hải
Năm: 2005
13. Đặng Nam Chinh, (2012). Định vị vệ tinh, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định vị vệ tinh
Tác giả: Đặng Nam Chinh
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật. Hà Nội
Năm: 2012
14. Bùi Thị Hồng Thắm, (2013). Nghiên cứu cơ sở lý thuyết cho việc hiện đại hóa lưới khống chế trắc địa quốc gia ở Việt Nam bằng hệ thống định vị toán cầu GNSS, Luận án Tiến sỹ kỹ thuật, Trường Đại học Mỏ - Địa chất. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cơ sở lý thuyết cho việc hiện đại hóa lưới khống chế trắc địa quốc gia ở Việt Nam bằng hệ thống định vị toán cầu GNSS
Tác giả: Bùi Thị Hồng Thắm
Năm: 2013
15. Trần Hồng Quang, (2008). Luận cứ khoa học - công nghệ hoàn thiện và phát triển cơ sở hạ tầng hỗ trợ mặt đất để khai thác ứng dụng hệ thống vệ tinh dẫn đường toàn cầu (Global Navigation Satellite System - GNSS) ở Việt Nam, Báo cáo Tổng kết khoa học - kỹ thuật đề tài cấp Bộ tài nguyên và Môi trường. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận cứ khoa học - công nghệ hoàn thiện và phát triển cơ sở hạ tầng hỗ trợ mặt đất để khai thác ứng dụng hệ thống vệ tinh dẫn đường toàn cầu (Global Navigation Satellite System - GNSS) ở Việt Nam
Tác giả: Trần Hồng Quang
Năm: 2008
17. Trần Hồng Quang, (2013). GNSS - Hệ thống vệ tinh dẫn đường toàn cầu, Nhà xuất bản Tài nguyên – Môi trường và bản đồ Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: GNSS - Hệ thống vệ tinh dẫn đường toàn cầu
Tác giả: Trần Hồng Quang
Nhà XB: Nhà xuất bản Tài nguyên – Môi trường và bản đồ Việt Nam
Năm: 2013
18. Trần Hồng Quang và Bùi Thị Hồng Thắm, (2016). Ứng dụng GNSS trong thành lập, hiện chỉnh và sử dụng bản đồ, Giáo trình đào tạo Thạc sỹ, trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng GNSS trong thành lập, hiện chỉnh và sử dụng bản đồ
Tác giả: Trần Hồng Quang và Bùi Thị Hồng Thắm
Năm: 2016
9. Cục Bản đồ-BTTM, (2012). Hướng dẫn xử lý lưới GPS bằng phần mềm trimble business center, Tài liệu hướng dẫn kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn xử lý lưới GPS bằng phần mềm trimble business center
Tác giả: Cục Bản đồ-BTTM
Năm: 2012
12. Thông tư số 48/2014/TT-BTNMT ngày 22/8/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định kỹ thuật về xác định đường địa giới hành chính, cắm mốc địa giới và lập hồ sơ địa giới hành chính các cấp. Hà Nội Khác
16. Thông tư số 06/2009/TT-BTNMT ngày 18/6/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về xây dựng lưới tọa độ.Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w