ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT NGUYấ̃N CHÍ CễNG CHứC NĂNG THựC HàNH QUYềN CÔNG Tố CủA VIệN KIểM SáT TRONG GIAI ĐOạN XéT Xử SƠ THẩM Vụ áN HìNH Sự THEO LUậT Tố TụNG HìNH Sự VIệT NA
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYấ̃N CHÍ CễNG
CHứC NĂNG THựC HàNH QUYềN CÔNG Tố CủA VIệN KIểM SáT
TRONG GIAI ĐOạN XéT Xử SƠ THẩM Vụ áN HìNH Sự
THEO LUậT Tố TụNG HìNH Sự VIệT NAM (Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYấ̃N CHÍ CễNG
CHứC NĂNG THựC HàNH QUYềN CÔNG Tố CủA VIệN KIểM SáT
TRONG GIAI ĐOạN XéT Xử SƠ THẩM Vụ áN HìNH Sự
THEO LUậT Tố TụNG HìNH Sự VIệT NAM (Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ)
Chuyờn ngành: Luật hỡnh sự và tố tụng hỡnh sự
Mó số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYấ̃N VĂN TUÂN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Chí Công
Trang 4HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 9 1.1 Khái niệm giai đoạn xét xử sơ thẩm và vai trò của Viê ̣n kiểm
sát trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 9
1.1.1 Giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 9 1.1.2 Vai trò của Viê ̣n kiểm sát trong giai đo ạn xét xử sơ thẩm vụ án
hình sự 12
1.2 Chức năng thƣ̣c hành quyền công tố c ủa Viện kiểm sát trong
giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 14
1.2.1 Quyền công tố và thực hành quyền công tố 14 1.2.2 Khái niệm chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát
trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 20
1.3 Khái quát lịch sử pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về chức
năng thƣ̣c hành quyền côn g tố c ủa Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 23
1.3.1 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự từ năm 1945 đến năm
1988 về chức năng thực hành quyền công tố c ủa Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 23 1.3.2 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự từ năm 1988 đến năm
2003 về chức năng thực hành quyền công tố c ủa Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 29
Trang 5Chương 2: QUY ĐI ̣NH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 2003
VỀ CHỨC NĂNG THỰ C HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ CỦA
VIỆN KIỂM SÁT Ở GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
PHÚ THỌ TỪ 2011 ĐẾN 2016 33
2.1 Quy định của Bô ̣ luâ ̣t Tố tu ̣ng hình sự năm 2003 về chức năng thực hành quyền công tố c ủa Viê ̣n Kiểm sát trong giai đoa ̣n xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 33
2.1.1 Giai đoạn chuẩn bị xét xử 33
2.1.2 Tại phiên tòa sơ thẩm 38
2.2 Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật tố tu ̣ng hình sự v ề chức năng thực hành quyền công tố c ủa Viê ̣n Kiểm sát trong hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trên địa bàn tỉnh Phú Thọ từ năm 2011 đến năm 2016 49
2.2.1 Những kết quả đạt được 49
2.2.2 Những hạn chế, tồn tại 57
2.2.3 Những nguyên nhân của hạn chế, tồn tại 62
Chương 3: GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ CỦA VIỆN KIỂM SÁT CÁC CẤP TRÊN ĐI ̣A BÀN TỈNH PHÚ THỌ TRONG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 68
3.1 Những giải pháp chung về pháp luật 68
3.1.1 Những điểm mới của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về chức năng thực hành quyền công tố của Viê ̣n kiểm sát trong xét x ử sơ thẩm vụ án hình sự 68
3.1.2 Tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện pháp luâ ̣t tố tụng hình sự về chức năng thực hành quyền công tố của Viê ̣n kiểm sát trong xét x ử sơ thẩm vụ án hình sự 77
3.2 Những giải pháp khác 81
3.2.1 Đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng cán bộ ngành Kiểm sát 81
Trang 63.2.2 Tăng cường công tác quản lý, chỉ đạo điều hành trong ngành
Kiểm sát 87 3.2.3 Tiếp tục đổi mới và thực hiện tốt công tác phối hợp giữa Viện
kiểm sát và các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự 91 3.2.4 Tăng cường trang thiết bị, cơ sở vật chất và bảo đảm ch ế độ đãi
ngộ đối với Kiểm sát viên 96
KẾT LUẬN 101 TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
Trang 7DANH MỤC CÁC TƢ̀ VIẾT TẮT
BLHS : Bô ̣ luâ ̣t Hình sự
BLTTHS : Bô ̣ luâ ̣t Tố tu ̣ng hình sự
CHXHCN : Cô ̣ng hòa xã hô ̣i chủ nghĩa CQĐT : Cơ quan điều tra
HĐXX : Hoạt động xét xử
KSĐT : Kiểm sát điều tra
KSND : Kiểm sát nhân dân
KSXX : Kiểm sát xét xử
NQ : Nghị quyết
TAND : Tòa án nhân dân
TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao
THQCT : Thực hành quyền công tố TNHS : Trách nhiệm hình sự
TTHS : Tố tu ̣ng hình sự
UBND : Ủy ban nhân dân
VKS : Viê ̣n Kiểm sát
VKSND : Viê ̣n Kiểm sát nhân dân
VKSNDTC : Viê ̣n Kiểm sát nhân dân tối cao VKSTC : Viê ̣n Kiểm sát tối cao
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
XXST : Xét xử sơ thẩm
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Thống kê số vu ̣ án /bị cáo bị truy tố được đưa ra xét xử
sơ thẩm và số lượng bi ̣ đình ch ỉ, tạm đình chỉ, điều tra
Bảng 2.2: Thống kê số vu ̣ án/bị cáo VKS đưa ra xét xử sơ thẩm đã
giải quyết và bị đình chỉ, tạm đình chỉ, điều tra bổ sung 51 Bảng 2.3: Thống kê số vu ̣ án /bị cáo đã giải quyết trong phiên tòa
sơ thẩm và số vu ̣ án/bị cáo kháng nghị 52
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trước nhiệm vụ phát triển, bảo vệ đất nước và yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới, cùng với cải cách nền hành chính, Đảng ta chủ trương ban hành và thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, lấy Tòa án làm trung tâm, xét xử làm trọng tâm và lấy tranh tụng làm khâu đột phá; trọng tâm của Cải cách tư pháp
là bảo đảm cho nguyên tắc Tòa án độc lập có hiệu lực trên thực tế Muốn làm được điều này phải tổ chức và phân định rạch ròi nhiệm vụ của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng một cách khoa học, hợp lý dựa trên những tiêu chí về chức năng của tố tụng hình sự trong Nhà nước Pháp quyền,
đó là chức năng buộc tội, chức năng gỡ tội và chức năng xét xử Ở nước ta trong những năm gần đây, hệ thống các cơ quan tư pháp được củng cố và chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan tư pháp bước đầu đã được cải thiện, tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế đặt ra trong tình hình mới Nghị quyết số 49/NQ ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã nhận định:
Công tác tư pháp còn bộc lộ nhiều hạn chế Chính sách hình
sự, chế định pháp luật dân sự và pháp luật về tổ chức tố tụng tư pháp còn nhiều bất cập, chậm được sửa đổi, bổ sung Tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ, cơ chế hoạt động của các cơ quan tư pháp còn bất hợp lý và đề ra Chiến lược cải cách là: Xác định rõ chức năng nhiệm vụ, thẩm quyền và hoàn thiện tổ chức, bộ máy các
cơ quan tư pháp [6]
Viện kiểm sát nhân dân là một thành tố quan trọng trong hệ thống các cơ quan tư pháp Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ
Trang 10nghĩa Việt Nam cũng như Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014
đã xác định:
Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp; Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền
và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất
Do vậy, đảm bảo vai trò của Viện kiểm sát là mục tiêu quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng xét xử, bảo đảm tự do, dân chủ cho công dân góp phần bảo vệ pháp chế XHCN và đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm, chống bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội
Tuy vậy, viê ̣c thi hành hoạt động tố tụng trong thời gian qua cho thấy, quy định của Bộ luật Tố tu ̣ng hình sự về chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự, đặc biệt là giai đoa ̣n xét xử sơ thẩm đã bộc lộ những hạn chế, bất cập, chưa tạo điều kiện cho Viện kiểm sát thực hiện được đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của mình theo quy định của Hiến pháp và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân Thực tiễn trên địa bàn tỉnh Phú Thọ từ năm 2011 đến năm 2016 cho thấy viê ̣c áp du ̣ng các quy đ ịnh của pháp luật tố tụng hình sự về chức năng thực hành quyền công tố c ủa Viện Kiểm sát trong hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự vẫn còn nhiều tồn tại, thể hiê ̣n ở nhiều khía cạnh như chất lượng xét hỏi của KSV còn hạn chế, KSV chưa làm tốt công tác chuẩn bị cho hoạt động xét xử, chất lượng tranh tụng trong nhiều phiên tòa còn hạn chế, chưa thực sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp
Trong điều kiện thực tiễn của Việt Nam hiê ̣n nay, trình độ dân trí còn hạn chế, người dân còn gặp nhiều khó khăn trong việc tự chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án, chưa có điều kiện mời Luật
Trang 11sư bảo vệ quyền lợi cho mình và đội ngũ Luật sư hiện nay cũng chưa đáp ứng được yêu cầu tham gia tất cả các phiên tòa, hệ thống pháp luật còn bất cập, thiếu ổn định, quản lý hành chính nhà nước còn nhiều sơ hở, hoạt động bổ trợ
tư pháp chưa đáp ứng yêu cầu thực tế; năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ tư pháp cần bất cập so với yêu cầu cải cách tư pháp Thực tế, có nhiều vụ việc giải quyết chưa bảo đảm tính khách quan, gây khiếu kiện bức xúc, kéo dài, khiếu kiện đông người làm mất ổn định trật tự xã hội nhưng Viện kiểm sát không kịp thời phát hiện để kháng nghị
Những thực tế trên đòi hỏi phải nghiên cứu một cách có hệ thống về chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát trong hệ thống pháp luật hiện nay cũng như đánh giá thực trạng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trong thực tiễn để tìm ra những ưu điểm, khuyết điểm và hạn chế cũng như nguyên nhân dẫn đến hạn chế Trên cơ sở đó, đưa ra các giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về mô hình tố tụng, tổ chức bộ máy của cơ quan Viện kiểm sát nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng xét xử, bảo đảm tự do, dân chủ cho công dân góp phần bảo vệ pháp chế XHCN và đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm, chống bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội Đây là việc làm cần thiết có ý nghĩa cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn, do đó, việc nghiên
cứu đề tài “Chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát trong
giai đoạn xét sở sơ thẩm vụ án hình sự theo luật tố tụng hình sự Viê ̣t Nam (trên cơ sở thực tiễn đi ̣a bàn tỉnh Phú Thọ)” là rất cần thiết
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Nhằm hiện thực hóa chủ trương về cải cách tư pháp, trong đó chú trọng việc nâng cao hiệu quả thực hiện các chức năng của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử các vụ án hình sự , những năm qua đã có khá nhiều công trình nghiên cứu khoa học đề cập đến vấn đề này Trong đó, các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung theo các hướng như:
Trang 12- Nhóm nghiên cứu thứ nhất là các luận văn, luận án, các đề tài nghiên cứu khoa học và sách chuyên khảo về chức năng của Viện kiểm sát nhân dân
Bàn về chức năng của và vị trí của Viện kiểm sát trong hoạt động tố
tụng, đã có mô ̣t số nghiên cứu điển hình như: Một số vấn đề về quyền công tố
của viện kiểm sát nhân dân của tác giả Nguy ễn Thái Phúc (đề tài cấp Bộ :
“Những vấn đề lí luận và thực tiễn cấp bách của tố tụng hình sự Việt Nam”,
1995, tr.127 - 151); Về thực hiện quyền công tố của viện kiểm sát trong tố tụng
hình sự, thực tiễn và kiến nghị của tác giả Vũ Mộc (đề tài cấp Bộ: “Những vấn
đề lí luận và thực tiễn cấp bách của tố tụng hình sự Việt Nam", Hà Nội, 1995);
Luâ ̣n văn tha ̣c sĩ luâ ̣t ho ̣c : Chức năng của Viện kiểm sát trong xét xử sơ thẩm
vụ án hình sự của tác giả Nguyễn Hữu Khoa (2009)
Bàn về tổ chức và hoa ̣t đô ̣ng c ủa Viện kiểm sát , đã có mô ̣t số nghiên
cứu như: Một số vấn đề về hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Bộ máy Nhà
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam của tác giả Lê Minh Thông (Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội, 2001); Quyền công tố ở Việt Nam của tác giả Lê
Thị Tuyết Hoa (Luận án tiến sỹ luật học, Hà Nội, 2002)
Bên ca ̣nh đó, cũng đã có một số nghiên cứu bàn về giải pháp thúc đẩy
hoạt động của Viện kiểm sát , như: Đề tài khoa học cấp bộ mang tên: Hoàn
thiện các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 để đảm bảo phù hợp với việc tổ chức hệ thống các cơ quan tư pháp theo tinh thần nghị quyết số 49 - NQ/TW của Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của tác
giả Nguyễn Xuân Hà, Phạm Hoàng Diệu Linh (Hà Nội, 2009); Nâng cao chất
lượng kiểm sát hoạt động tư pháp và thực hành quyền công tố với vấn đề thông khâu và chuyên khâu trong các công tác kiểm sát hình sự của Tác giả Ngô Văn
Đọn (Đề tài khoa học cấp bộ, Hà Nội, 2004); Cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới
tổ chức Viện kiểm sát nhân dân đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam
của tác giả Hoàng Thế Anh (Luâ ̣n văn Tha ̣c sĩ luâ ̣t ho ̣c, Hà Nội, 2006)
Trang 13Nhìn chung các nghiên cứu trên đã đề cập một số nội dung liên quan đến lĩnh vực của đề tài, tuy nhiên, các tác giả mới ch ỉ dừng lại ở việc nghiên cứu làm rõ địa vị pháp lý của Viện kiểm sát nói chung hoặc ở một góc độ nhất định như đi sâu phân tích thế nào là quyền công tố, vai trò của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, vụ án dân sự nhưng chưa nghiên cứu cụ thể, toàn diện về chức năng thực hành quyền công tố c ủa Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử sơ thẩm các vu ̣ án hình sự; chưa đánh giá một cách có hệ thống những điểm còn hạn chế trong thực tiễn đảm bảo quyền công tố trong xét xử các vụ án hình sự, chưa phân tích đầy đủ nguyên nhân và các giải pháp khắc phục
- Nhóm nghiên cứu thứ hai về chức năng của Viện kiểm sát được đăng trên các tạp chí chuyên ngành:
Nhóm nghiên cứu này bao gồm các bài vi ết liên quan đến chức năng
của Viện kiểm sát trong hê ̣ thống pháp luâ ̣t Viê ̣t Nam như bài viết: Một số vấn
đề lý luận cơ bản về quyền công tố của tác giả Lê Cảm (Tạp chí Tòa án nhân
dân, Số 6, Hà Nội, 2000); Một số vấn đề về quyền công tố của tác giả Tr ần Văn Độ (Tạp chí Luật học, Số 3/2001, Hà Nội); Những chủ trương của Đảng
và Nhà nước ta về cải cách tư pháp và tổ chức hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong thời kỳ đổi mới của tác giả Khuất Văn Nga (Tạp chí Kiểm sát,
Số 15, Hà Nội, 2005); Bàn về tổ chức quyền tư pháp - nội dung cơ bản của
chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của tác giả Lê Cảm (Tạp chí Kiểm
sát, Số 23, Hà Nội, 2005); Đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống các cơ
quan thực hiện chức năng thực hành quyền công tố đáp ứng yêu cầu cải cách
tư pháp của tác giả Phạm Hồng Hải (Tạp chí Luật học, Số 14, Hà Nội, 2006);
Cơ quan thực hành quyền công tố trong cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay
của tác giả Đỗ Văn Đương (Tạp chí Nghiên cứu Lâ ̣p pháp , Số 79, Hà Nội, 2006); Viện kiểm sát hay Viện công tố của tác giả Nguyễn Thái Phúc (Tạp chí Khoa học Pháp luật, Số 2 (39), TP Hồ Chí Minh, 2007)
Trang 14Mă ̣c dù đã làm sáng tỏ mô ̣t số khía ca ̣nh lý luâ ̣n về ch ức năng của Viê ̣n kiểm sát trong hê ̣ thống tư pháp và pháp luâ ̣t nước ta ; Tuy vậy, các nghiên cứu này cũng mới ch ỉ dừng lại ở việc phân tích, làm rõ một vài khía cạnh của vấn đề Chưa đi sâu vào ch ức năng thực hành quyền công tố của Viê ̣n kiểm sát trong hoạt động xét xử sơ thẩm trên thực tế
Thực tế trên cho thấy, chức năng thực hành quyền công tố c ủa Viện kiểm sát trong giai đoan xét xử sơ thẩm vu ̣ án hình sự là v ấn đề tồn tại cần được tiếp tục làm rõ nh ất là trong bối cảnh chúng ta đang nghiên cứu, thực hiện chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, chuẩn bị thực thi hai bộ luật quan trọng là Bô ̣ luâ ̣t Hình sự số 100/2015/QH13 và Bộ luật Tố tụng Hình sự số 101/2015/QH13; làm sáng tỏ vấn đền này cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn tạo cơ sở cho việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về việc nâng cao hiệu quả thực hiện các chức năng của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử sơ thẩm các vu ̣ án hình sự đáp ứng yêu cầu của cải cách tư pháp, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả xét xử của Tòa án đồng thời đảm bảo chất lượng tranh tụng tại tòa, góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm, chống làm oan người vô tội và chống bỏ lọt tội phạm cũng như bảo vệ pháp chế XHCN Do
vâ ̣y, việc thực hiện một đề tài nghiên cứu toàn diện và chuyên sâu về chức năng thực hành quyền công tố của Vi ện kiểm sát trong hoạt động xét xử sơ thẩm vu ̣ án hình sự hiện nay là rất cần thiết
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài “Chức năng thực hành quyền công tố
của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét sở sơ thẩm vụ án hình sự theo luật tố tụng hình sự Việt Nam (trên cơ sở thực tiễn đi ̣a bàn tỉnh Phú Thọ )” là trên cơ
sở nghiên cứu các vấn đề lý luận về chức năng thực hành quyền công tố c ủa Viện kiểm sát trong hệ thống pháp luật ở nước ta nói chung cũng như đánh giá thực tiễn thực hành quyền công tố c ủa Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt
Trang 15động xét xử sơ thẩm vu ̣ án hình sự trên đi ̣a bàn tỉnh Phú Tho ̣ nói riêng, từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát trong hoạt động xét xử sơ thẩm vu ̣ án hình sự Với mu ̣c đích đó, đề tài nghiên cứu sẽ giải quyết những nhiệm vụ sau đây:
- Làm rõ cơ sở lý luận về chức năng thực hành quyền công tố c ủa Viện kiểm sát trong hoạt động xét xử vụ án hình sự ở nước ta
- Đánh giá thực tiễn thực hành quyền công tố c ủa Viện kiểm sát trong giai đoa ̣n xét xử sơ thẩm vu ̣ án hình sự trên đi ̣a bàn tỉnh Phú Tho ̣ từ 2011-2016
- Làm rõ những tồn tại, hạn chế và những nguyên nhân ảnh hưởng đến việc thực hành quyề n công tố c ủa Viện kiểm sát trong giai đoa ̣n xét x ử sơ thẩm vu ̣ án hình sự trên đi ̣a bàn tỉnh Phú Tho ̣ từ 2011-2016
- Đề xuất các giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát các cấp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ trong giai đoa ̣n xét xử sơ thẩm vu ̣ án hình sự
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu : Luâ ̣n văn tâ ̣p trung nghiên cứu về c hức năng
thực hành quyền công tố của Vi ện kiểm sát nhân dân trong hoạt động xét xử
sơ thẩm các vu ̣ án hình sự
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu chức năng thực hành quyền công tố
của Viện kiểm sát trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vu ̣ án hình sự từ khi BLTTHS 2003 có hiệu lực đến nay Số liệu thực tế được tổng hợp từ kết quả thống kê trên đi ̣a bàn tỉnh Phú Thọ từ năm 2011-2016
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở của phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về cải cách tư pháp
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong luận văn là:
Trang 16Phương pháp phân tích - tổng hợp; Phương pháp luật học so sánh; Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình , khảo sát thực tiễn; Phương pháp chuyên gia (đối thoại với chuyên gia và các nhà hoạt động thực tiễn trong lĩnh vực luật học)
6 Nhƣ̃ng điểm mới của luận văn
Làm rõ mô ̣t số vấn đề lý luâ ̣n và thực tiễn về chức năng thực hành quyền công tố của Viê ̣n kiểm sát trong hê ̣ thống pháp luâ ̣t nước ta từ khi BLTTHS 2003 có hiệu lực thi hành ; phân tích thực tra ̣ng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vu ̣ án hình sự trên
đi ̣a bàn tỉnh Phú Tho ̣ từ năm 2011-2016; qua đó, xác định các yếu tố gây ra những ha ̣n chế ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện quyền công tố c ủa Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vu ̣ án hình sự hiện nay và đề xuất giải pháp khắc phục , nâng cao hiê ̣u quả thực hành quyền công tố của Viê ̣n kiểm
sát các cấp trên đi ̣a bàn tỉnh Phú Tho ̣ trong giai đoa ̣n tới
7 Kết cấu nội dung luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về chức năng thực hành quyền công
tố của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vu ̣ án hình sự
Chương 2: Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về chức
năng thực hành quyền công tố c ủa Viện Kiểm sát ở giai đoa ̣n xét xử sơ th ẩm
vụ án hình sự và th ực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Phú Thọ từ năm 2011 đến năm 2016
Chương 3: Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hành quyền công
tố của Viện Kiểm sát các cấp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ trong xét xử sơ thẩm
vụ án hình sự
Trang 17Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỨC NĂNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG GIAI ĐOẠN
XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.1 Khái niệm g iai đoạn xét xử sơ thẩm và vai trò của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
1.1.1 Giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
1.1.1.1 Khái niệm xét xử
Theo Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê (Chủ biên, 2003), "Xét xử là
việc xem xét và xử các vụ án" [21, tr.1148] Đây là một trong những chức
năng cơ bản của Tòa án , chức năng này còn được gọi là chức năng bảo vệ pháp luật có mối quan hệ trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của con người, quyền của công dân
Theo Từ điển luâ ̣t ho ̣c (2006) do Viê ̣n Khoa ho ̣c Pháp lý (Bô ̣ Tư pháp) chủ trì xuất bản:
Xét xử là hoạt động xem xét , đánh giá bản chất pháp lý của
vụ việc nhằm đưa ra một phán xét về tính chất , mức đô ̣ pháp lý của
vụ việc, từ đó nhân danh Nhà nước đưa ra mô ̣t pháp quyết tương ứng với bản chất , mức đô ̣ trái hay không trái pháp luâ ̣t của vu ̣ viê ̣c (xét xử vụ án hình sự , dân sự, kinh doanh, thương ma ̣i , lao đô ̣ng, hành chính ) [37, tr.869]
Xét xử là quá trình áp dụng các biện pháp cần thiết do luật định để kiểm tra lại tính hợp pháp và có căn cứ của toàn bộ các quyết định mà cơ quan Điều tra và Viện kiểm sát đã thông qua trước khi chuyển vụ án hình sự sang Tòa án, nhằm loại trừ các những hậu quả tiêu cực của các sơ suất, sai lầm hoặc sự lạm dụng đã bị bỏ lọt trong ba giai đoạn tố tụng hình sự trước đó (khởi tố, điều tra
Trang 18và truy tố), chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử, hoặc trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc đình chỉ (hay tạm đình chỉ) vụ án Đây được xem là hoa ̣t đô ̣ng quan trọng
để tăng cường pháp chế, bảo vệ các quyền và tự do của công dân trong các giai đoạn xét xử của Tòa án nói riêng và toàn bộ hoạt động tư pháp của Nhà nước nói chung Từ đó, cùng với các giai đoạn tố tụng khác góp ph ần có hiệu quả vào cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm trong toàn xã hội
Theo Tôn Thiện Phương (2002), trong hoạt động tố tụng hình sự thì xét
xử được coi là hoạt động trung tâm bởi lẽ [25, tr.5-8]:
Thứ nhất, các hoạt động điều tra thu thập chứng cứ của cơ quan điều tra
nhằm mục đích chứng minh tội phạm và hành vi của người phạm tội phục vụ cho việc xét xử Thông qua hồ sơ vụ án của cơ quan điều tra, Tòa án kiểm tra tính xác thực của chứng cứ mà cơ quan điều tra thu thập được, để từ đó đưa ra những phán quyết về tội phạm và người phạm tội Tại phiên tòa, chứng cứ được đưa ra xem xét đánh giá một cách chính thức và chỉ những chứng cứ nào được đưa ra xem xét tại phiên tòa mới được làm căn cứ chứng minh tội phạm
và là cơ sở để Hội đồng xét xử đưa ra quyết định của mình Vì vậy, hoạt động đánh giá chứng cứ, nhân danh Nhà nước ra bản án của Hội đồng xét xử được xem là hoạt động điều tra chính thức tại phiên tòa
Thứ hai, quyết định truy tố của Viện kiểm sát chỉ là cơ sở để Tòa án
quyết định đưa vụ án ra xét xử, còn việc phán quyết về sự việc phạm tội, hành
vi của bị cáo thuộc chức năng của Tòa án “không ai bị coi là có tội và phải
chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” Vì vây, có thể nói hoạt động truy tố của Viện kiểm sát hướng tới việc
tạo căn cứ cho hoạt động xét xử
Thứ ba, bản án và các quyết định của Tòa án là căn cứ pháp lý để tiến
hành hoạt động thi hành án, biến việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội của các cơ quan tiến hành tố tụng phát huy tác dụng trên thực tế
Trang 19Vì vậy, xét xử hình sự có vai trò rất quan trọng trong tố tụng hình sự Xét xử thông qua Tòa án vừa là công cụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, vừa là công cụ bảo vệ quyền con người
1.1.1.2 Khái niệm xét xử sơ thẩm
Trong khoa ho ̣c pháp lý hiê ̣n nay , khái niệm “xét xử sơ thẩm” có khá
nhiều cách tiếp cận khác nhau Chẳng hạn, theo Từ điển Luật học giải thích:
“xét xử sơ thẩm là lần đầu tiên đưa vụ án ra xét xử tại một Tòa án có thẩm
quyền” [37, tr.870] Quan điểm này có tính khái quát chung (bao gồm cả xét
xử sơ thẩm các vụ án dân sự, hình sự ), đã phản ánh đặc trưng của xét xử
sơ thẩm là “lần đầu tiên” đưa vụ án ra xét xử và do “một Tòa án có thẩm
quyền xét xử”; nhưng chưa thể hiện các đặc trưng riêng và nội dung của việc
xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Các đặc trưng cơ bản của xét xử sơ thẩm vụ
án hình sự bao gồm:
Thứ nhất, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là một giai đoạn tố tụng hình sự
có tính chất bắt buộc
Thứ hai, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là xét xử lần đầu vụ án, do đó
vụ án được đưa ra giải quyết công khai với sự có mặt đầy đủ các người tham gia tố tụng
Thứ ba, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự có kết quả là một bản án, quyết
định công minh, có căn cứ và đúng pháp luật
Thứ tư, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự góp phần vào việc xử lý triệt để
và dứt điểm vụ án hình sự, qua đó,giảm thiểu tối đa tình trạng giải quyết kéo dài vụ án, duy trì công lý, phục hồi lại công bằng trong xã hội, trấn an dư luận
và bảo đảm quyền lợi của công dân
1.1.1.3 Khái niệm giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Từ các quan điểm trên có thể đưa ra khái niê ̣m giai đoa ̣n xét xử sơ thẩm
vụ án hình sự là một giai đoạn tố tụng hình sự, trong đó Tòa án có thẩm quyền
Trang 20thay mặt Nhà nước tiến hành việc xét xử lần đầu, toàn diện, tổng thể vụ án hình
sự trên cơ sở bản cáo trạng của Viện kiểm sát, xem xét đánh giá chứng cứ và dựa trên kết quả tranh tụng tại phiên tòa làm cơ sở để ra các phán quyết công minh, có căn cứ và đúng pháp luật bằng bản án và quyết định của mình
Thời điểm của giai đoạn này được bắt đầu từ khi Tòa án nhận được hồ
sơ vụ án hình sự (với quyết định truy tố bị can trước Tòa án kèm theo bản cáo trạng) do Viện kiểm sát chuyển sang và kết thúc bằng một bản án (quyết định)
có hiệu lực pháp luật của Tòa án
Bằng việc xét xử sơ thẩm, thông qua quá trình điều tra trực tiếp tại phiên tòa, trên cơ sở kết quả tranh tụng công khai và dân chủ của các bên, Tòa
án với tính chất là cơ quan trọng tài kiểm tra lại và đánh giá một cách toàn diện, khách quan và đầy đủ các chứng cứ, các tình tiết của vụ án hình sự để giải quyết về bản chất nó - phán xét về vấn đề tính chất tội phạm (hay không) của hành vi, có tội (hay không) của bị cáo hoặc bằng việc kiểm tra tính hợp pháp và của bản án theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm (nếu bản án hay quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị), nhằm đạt mục đích trong toàn bộ các giai đoạn tố tụng hình sự là tuyên một bản án (quyết định) có hiệu lực pháp luật một cách công minh và đúng pháp luật, có căn cứ và đảm bảo sức thuyết phục tránh bỏ lọt tội phạm và kết án oan người vô tội
1.1.2 Vai trò của Viê ̣n kiểm sát trong giai đoạn xét xử s ơ thẩm vụ án hình sự
Viê ̣n kiểm sát là một trong những cơ quan tiến hành tố tụng, có trách nhiệm thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự, quyết định việc truy tố người phạm tội ra trước Tòa án và kiểm sát hoạt động xét xử của tòa án, nhằm đảm bảo mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý kịp thời, việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội Trong giai đoạn xét xử
sơ thẩm các vụ án hình sự, vai trò của VKS bao gồm:
Trang 21Một là, cùng với các cơ quan bảo vệ pháp luật khác, VKS có trách
nhiệm đấu tranh, xử lý tội phạm, “bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải
được xử lý kịp thời; việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội” Đồng thời, thông qua các hoạt động nghiệp vụ
của mình, VKS cũng có trách nhiệm kịp thời phát hiện ra các nguyên nhân, điều kiện của tội phạm, qua đó kiến nghị với các cơ quan nhà nước có liên quan triệt tiêu các nguyên nhân, điều kiện của tội phạm Đây cũng chính là
một trong các nội dung của công tác phòng ngừa tội phạm
Hai là, trong giai đoạn xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự, thông qua
chức năng kiểm sát hoa ̣t đô ̣ng xét xử , VKS bảo đảm cho việc tuân thủ và áp dụng pháp luật thống nhất; bảo đảm việc truy tố đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật, không bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội Việc truy tố của VKS phải dựa trên cơ sở kết quả điều tra của CQĐT trong suốt quá trình điều tra và kết quả điều tra công khai tại phiên tòa của HĐXX Từ
đó, VKS đưa ra sự buộc tội chính thức và cuối cùng đối với người phạm tội
Ba là, trong giai đoạn xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự VKS bảo đảm
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và những người tham gia tố tụng khác (đă ̣c biê ̣t là b ảo vệ quyền con người và các quy ền hợp pháp của bị can,
bị cáo không bị pháp luật tước bỏ) BLTTHS quy định quyền và nghĩa vụ của từng tư cách tham gia tố tụng, trách nhiệm của VKS là bảo đảm cho các quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng được thực hiện đầy đủ
Bốn là, vai trò của VKS trong giai đoa ̣n xét xử sơ thẩm b ảo đảm cho
việc tranh tụng được bình đẳng, dân chủ, công khai Trách nhiệm của VKS là phải đối đáp lại các ý kiến của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự công khai tại tòa Khi tranh luận các bên có quyền và nghĩa vụ bình đẳng với nhau Chỉ tranh luận những vấn đề liên quan đến vụ
án Những nội dung đưa ra tranh luận đều phải được đối đáp lại
Trang 22Năm là, VKS bảo đảm cho các bản án, quyết định của Tòa án được
thực thi đúng quy định pháp luật Nếu các bản án, phán quyết của Tòa án không được đưa ra thi hành thì cũng chỉ là các quyết định giấy Việc thực hiện các quyết định đó như thế nào, trách nhiệm của từng cá nhân, cơ quan hữu quan đến đâu, phải được đặt dưới sự giám sát của cơ quan VKS
Như vậy, có thể thấy vai trò của VKS trong giai đoạn xét xử hình sự sơ thẩm là một trong những công cụ hữu hiệu để bảo vệ pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa, đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm và vi phạm pháp luật, góp phần bảo vệ công lý cũng như các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường ổn định cho sự phát triển kinh tế cũng như xây dựng, bảo vệ tổ quốc Việt Nam XHCN
1.2 Chức năng thƣ̣c hành quyền công tố của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
1.2.1 Quyền công tố và thực hành quyền công tố
- Khái niệm quyền công tố
Trong khoa học pháp lý, việc xác định quyền công tố và theo đó là thực hành quyền công tố có ý nghĩa quan trọng về mặt lý luận và thực tiễn Giải quyết được rõ ràng, rành mạch những vấn đề trên giúp cho việc xác định chính xác vai trò, vị trí cũng như trách nhiệm của Viện kiểm sát trong cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm
Thời gian qua m ặc dù vẫn còn có ý kiến khác nhau, nhưng vấn đề về quyền công tố cũng đã được quan tâm nghiên cứu trên cả phương diện lý luận và
thực tiễn Thuật ngữ “công tố” là từ ghép Hán – Việt, được hình thành bởi hai từ đơn “công” và “tố” Theo Hoàng Phê (Chủ biên, 2003) thì “công” hàm chứa ý nghĩa “thuộc về Nhà nước, thuộc về tập thể, trái với tư” còn “tố” nghĩa là “nói
về những sai phạm, tội lỗi của người khác một cách công khai trước người có thẩm quyền hoặc trước nhiều người”; “công tố” có nghĩa là “điều tra, truy tố, buộc kẻ phạm pháp và phát biểu ý kiến trước tòa án” [21, tr.206, 210, 1008]
Trang 23Dưới góc độ khoa học luật TTHS, Lê Cảm (2000) đã đưa ra định nghĩa của khái niệm quyền công tố như sau:
Quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện các chức năng do luật TTHS quy định để kiểm sát tính hợp pháp của việc điều tra tội phạm, truy tố và buộc tội người đã thực hiện hành
vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm trước Tòa án nhằm góp phần ra được các bản án có căn cứ, công minh và đúng pháp luật, đồng thời bảo vệ các quyền tự do của công dân, cũng như các lợi ích hợp pháp của xã hội và của Nhà nước trong hoạt động tư pháp hình sự [7, tr.1-12]
Một số tác giả khác như Lê Hữu Thể (2006) cũng cho rằng, quyền
công tố là:
Quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việc buộc tội, hay nói cách khác là quyền nhân danh quyền lực công thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Quyền này là quyền của Nhà nước, Nhà nước giao cho một cơ quan thực hiện (ở nước ta từ năm 1960 đến nay là cơ quan Viện kiểm sát) Để làm được điều này, cơ quan công tố phải có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội Trên cơ sở đó quyết định việc truy tố bị can ra trước Tòa
án và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên tòa [34, tr.12-15]
Theo quan điểm của tác giả, quyền công tố là quyền nhà nước nhân
danh xã hội truy cứu trách nhiệm pháp lý đến cùng đối với những người có hành vi phạm tội hoặc hành vi vi phạm pháp luật, mọi hành động xâm hại đến lợi ích chung, nhằm mục đích duy trì trật tự của cộng đồng, trật tự pháp luật
mà nhà nước đặt ra để duy trì, củng cố và phát triển các quan hệ xã hội
Nghiên cứu lịch sử Nhà nước và pháp luật thế giới nói chung và lịch sử
Trang 24Nhà nước và pháp luật Việt Nam nói riêng đã cho thấy: Quyền công tố gắn liền với sự ra đời của Nhà nước, được phát triển và hoàn thiện cùng với sự phát triển và hoàn thiện của bộ máy Nhà nước Quyền công tố xuất hiện do nhu cầu bảo vệ lợi ích của giai cấp cầm quyền và nhu cầu duy trì an ninh chung của toàn xã hội, chống lại các hành vi tội phạm xâm phạm đến lợi ích chung của cộng đồng Như vậy, có thể nói rằng quyền công tố, đó là một loại quyền lực Nhà nước dùng để buộc tội, yêu cầu trừng trị tội phạm và người phạm tội một cách công khai bằng hoạt động xét xử của tòa án
Trong TTHS, phạm vi của quyền công tố bắt đầu từ khi có tội phạm xảy ra và kết thúc khi bản án đã có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị
Để bảo đảm thực hiện quyền công tố trong thực tế đấu tranh chống tội phạm, Nhà nước đã ban hành các văn bản pháp luật, trong đó quy định các quyền năng pháp lý mà cơ quan có thẩm quyền được áp dụng để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Cơ quan được giao thẩm quyền đưa vụ
án ra Tòa được gọi là cơ quan thực hành quyền công tố và điều này được thể hiện ở mỗi nước là rất khác nhau, tùy thuộc vào bản chất chế độ chính trị, điều kiện và hoàn cảnh của từng nước
- Khái niệm thực hành quyền công tố:
Ở Việt Nam, căn cứ vào các quy định của pháp luật (từ Hiến pháp
1959, 1981 và 1992 và các Luật tổ chức VKSND 1960, 1981, 1992 và 2002) thì chỉ có Viện kiểm sát là cơ quan duy nhất thực hành quyền công tố Tuy vậy, việc phát động quyền công tố thì không chỉ có Viện kiểm sát mà cơ quan điều tra, Tòa án cũng có quyền Nhưng các quyết định khởi tố của cơ quan điều tra chỉ thực sự có ý nghĩa phát động công tố quyền sau khi được Viện kiểm sát xem xét; nếu quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự của cơ quan điều tra không có căn cứ và trái pháp luật thì Viện kiểm sát có quyền hủy bỏ Tòa án có quyền khởi tố vụ án hình sự, nếu qua việc xét xử
Trang 25phát hiện có tội phạm bị bỏ lọt, nhưng các quyết định khởi tố vụ án hình sự của Tòa án đều phải được gửi cho Viện kiểm sát xem xét, nếu có vi phạm pháp luật thì Viện kiểm sát sẽ kháng nghị Như vậy, về mặt pháp lý chỉ có Viện kiểm sát là cơ quan có quyền độc lập phát động quyền công tố mà không chịu sự can thiệp của bất cứ cơ quan nhà nước nào
Trong giai đoạn điều tra, cơ quan điều tra chỉ có quyền đề nghị việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn, còn việc quyết định là
do Viện kiểm sát; cơ quan điều tra có quyền độc lập thu thập tài liệu chứng
cứ, nhưng việc bảo đảm cho các tài liệu chứng cứ ấy có đủ cơ sở để truy tố bị can hay không là do Viện kiểm sát chịu trách nhiệm Trong trường hợp không
đủ căn cứ để buộc tội, Viện kiểm sát có quyền yêu cầu cơ quan điều tra bổ sung tài liệu chứng cứ; có quyền đình chỉ vụ án; yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý kỷ luật hoặc xử lý hành chính người đã có hành vi vi phạm pháp luật Khi có đủ tài liệu chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội và xét thấy cần
xử lý người đó trước Tòa án thì Viện kiểm sát quyết định truy tố bị can ra Tòa BLTTHS nước ta đã quy định thẩm quyền công tố của Viện kiểm sát
trong TTHS rất lớn là “được áp dụng các biện pháp do BLTTHS để xác định
tội phạm và xử lý người phạm tội” (Điều 23 BLTTHS) Như vậy, về thực
hành quyền công tố là chức năng mà không cơ quan nhà nước nào làm thay Viện kiểm sát Về vấn đề này, tháng 7 năm 1967, khi ủy ban Thường vụ Quốc hội thảo luận Báo cáo của VKSNDTC, Đồng chí Trường Chinh, Chủ tịch ủy ban Thường vụ Quốc hội lúc đó đã kết luận:
Không có cơ quan nhà nước nào có thể thay thế ngành kiểm sát để sử dụng quyền công tố Bắt giam, điều tra, tha, truy tố, xét xử
có đúng người, đúng tội hay không, có đúng đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước hay không, điều đó chính là Viện kiểm sát phải trông nom bảo đảm làm tốt [17, tr 39]
Trang 26Như vâ ̣y, có thể khái niệm t hực hành quyền công tố là việc Viện kiểm
sát sử dụng các biện pháp do luật định để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, đưa người phạm tội ra xét xử trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó
- Phạm vi thực hành quyền công tố:
Xác định đúng đắn phạm vi thực hành quyền công tố có ý nghĩa quan trọng để nâng cao hiệu quả hoạt động này nhằm chống bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội
Hiện nay, trong giới luật học khi đề cập đến phạm vi thực hành quyền công tố còn có nhiều ý kiến khác nhau Có ý kiến cho rằng, phạm vi thực hành quyền công tố chỉ là việc truy tố và buộc tội đối với bị cáo tại phiên tòa
sơ thẩm hình sự Có ý kiến thu hẹp phạm vi thực hành quyền công tố chỉ là sự buộc tội tại phiên tòa sơ thẩm Một số ý kiến khác (như Lê Thi ̣ Tuyết Hoa
(2002)) lại cho rằng cần “mở rộng phạm vi thực hành quyền công tố theo
hướng được thực hiện từ khi có tội phạm xảy ra cho đến khi người phạm tội thi hành xong bản án” [17, tr.40]
Thực tiễn hoa ̣t đô ̣ng TTHS ở nước ta hiê ̣n nay cho thấy , Viện kiểm sát thực hiện quyền công tố ở các giai đoạn tố tụng, bởi vì khi có việc tiến hành
tố tụng thì bao giờ cũng gắn liền với việc buộc tội Do đó, không thể quan niệm việc thực hành quyền công tố chỉ ở giai đoạn điều tra, xét xử sơ thẩm hoặc xét xử phúc thẩm Tại phiên tòa giám đốc thẩm, Viện kiểm sát cũng có thể bảo vệ quan điểm buộc tội của Viện kiểm sát cấp dưới khi bị cáo kháng cáo kêu oan, bảo vệ kháng nghị của Viện kiểm sát theo hướng tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Tuy vậy, cũng không nên mở rộng quá phạm vi thực hành quyền công tố đến khi người phạm tội thi hành bản án xong, bởi vì
ở giai đoạn thi hành án không có việc điều tra, thu thập chứng cứ để buộc tội, không có việc áp dụng pháp luật để kết tội, đơn giản chỉ là thi hành bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật
Trang 27Bên ca ̣nh đó, viê ̣c xác định phạm vi thực hành quyền công tố không thể không xem xét đến phạm vi của quyền công tố và khái niệm về thực hành quyền công tố đã được đề cập ở các phần trên, về mặt nguyên tắc, khi có tội phạm xảy ra là xuất hiện quyền công tố, luật TTHS Việt Nam đã thể hiện rõ nguyên tắc này là: Mục đích của TTHS nhằm bảo đảm mọi tội phạm xảy ra đều phải được phát hiện và xử lý theo pháp luật Tuy nhiên, trên thực tế không phải mọi tội phạm xảy ra đều được phát hiện và khởi tố nên số vụ án được khởi tố điều tra bao giờ cũng nhỏ hơn số vụ phạm tội đã xảy ra Dưới góc độ tội phạm học những vụ phạm tội chưa được phát hiện là phần tội phạm
ẩn chưa có trong thống kê hình sự Theo đó giữa phạm vi quyền công tố và phạm vi thực hành quyền công tố có thể được đo bằng tình trạng tội phạm ẩn, đang có nhu cầu phát hiện, xử lý Do vậy, nếu quan niệm phạm vi quyền công
tố bắt đầu từ khi khởi tố vụ án hình sự là thu hẹp phạm vi quyền này và nhầm lẫn khởi tố vốn là một biện pháp thực hành quyền công tố với quyền công tố Cần nhấn mạnh rằng, phạm vi quyền công tố bắt đầu từ khi có tội phạm xảy ra (vì lúc đó xuất hiện mối quan hệ giữa Nhà nước với người phạm tội) và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị (quyền truy cứu trách nhiệm hình sự đã đạt được thông qua bản án có hiệu lực pháp luật) Tuy nhiên, trên thực tế không phải trong mọi trường hợp quyền công tố kéo dài đến tận khi bản án có hiệu lực pháp luật mà nó có thể bị triệt tiêu ở giai đoạn tố tụng sớm hơn theo quy định của luật TTHS Điều này có nghĩa là, không phải mọi vụ
án đều được đưa ra xét xử trước Tòa án, khi chấm dứt quyền công tố thì đồng thời cũng không có việc thực hành quyền công tố Vì vậy, như quan điểm của
Bộ Chính trị tại Nghị quyết số 68 ngày 2/3/1963 về công tác kiểm sát: “hoạt
động công tố phải được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình tố tụng nhằm bảo đảm không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội” [11, tr.7]
là hoàn toàn đúng đắn về phạm vi thực hành quyền công tố
Trang 28Những căn cứ dẫn đến triệt tiêu quyền công tố và theo đó chấm dứt việc thực hành quyền công tố là: Không có sự kiện phạm tội (Điều này được xem là hiển nhiên bởi lẽ không có s ự kiện phạm tội có thể là hoàn toàn không
có sự việc phạm pháp xảy ra; sự kiện xảy ra không phải là tội phạm; hành vi phạm pháp không cấu thành tội phạm mà chỉ là vi phạm pháp luật khác Trong trường hợp này không được khởi tố vụ án, nếu đã khởi t ố thì phải ra quyết định hủy bỏ Bởi vì không có căn cứ để tiếp tục thực hiện quyền công tố.); Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội không có năng lực trách nhiệm hình sự; Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự; Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật; Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự (Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn
do Bộ luật hình sự quy định mà khi hết thời hạn đó thì người phạm tội không
bị truy cứu trách nhiệm hình sự; Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính từ ngày tội phạm được thực hiện Nếu đã qua thời h ạn nói trên mà vì lý
do nào đó cơ quan có thẩm quyền không làm rõ được tội phạm và bỏ qua thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm đã thực hiện); Tội phạm đã được đại xá; Người phạm tội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác; Miễn trách nhiệm hình sự
Như vâ ̣y, có thể khái quát rằng , phạm vi thực hành quyền công tố bắt đầu từ khi khởi tố vụ án và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị hoặc vụ án được đình chỉ khi có một trong những căn cứ do luật
Trang 29trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, không để lọt người, lọt tội, được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình tố tụng
Hiê ̣n nay, nhiều quan điểm cho r ằng thực hành quyền công tố là những biện pháp do luật định mà Viện kiểm sát sử dụng để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Thế nhưng trong lý luận và thực tiễn hiện nay vẫn chưa làm rõ được nội dung thực hành quyền công tố bao gồm những quyền năng pháp lý cụ thể nào Điều này dẫn tới tình trạng nhầm lẫn giữa chức năng thực hành quyền công tố và chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát Những quyền năng pháp lý mà Viện kiểm sát tự quyết định và liên quan đến việc cáo buộc bị can, bị cáo thì đó là những quyền năng thuộc nội dung thực hành quyền công tố; những quyền năng pháp lý mà Viện kiểm sát sử dụng để phát hiện và yêu cầu xử lý vi phạm pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng là những quyền năng thuộc chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật Tuy vậy, việc xác định và phân biệt này chỉ mang tính chất tương đối, bởi vì có những hành vi tố tụng mà chúng thể hiện sự đan xen giữa thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực tư pháp [17, tr.45] Chẳng hạn, quyết định kháng nghị phúc thẩm hình
sự của Viện kiểm sát đối với bản án hoặc quyết định chưa có hiệu lực pháp luật Vì một quyết định kháng nghị có thể bao hàm đổng thời hai nội dung, một là có sự vi phạm trong việc áp dụng Bộ luật hình sự, hai là vi phạm nghiêm trọng về TTHS; hoặc chỉ thể hiện một trong hai nội dung trên nhưng đều làm phát sinh một trình tự xét xử mới, xét xử phúc thẩm hình sự Chính
vì lẽ đó, theo luật định, Viện kiểm sát thực hiện đồng thời hai chức năng, chức năng công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp mà không tách ra thành
các chương riêng Theo Lê Thi ̣ Tuyết Hoa (2002), “nhiều nước trên thế giới,
ngoài chức năng công tố, Viện công tố còn được giao nhiệm vụ trông nom
Trang 30việc áp dụng pháp luật của các cơ quan tư pháp nhưng cũng không tách bạch giữa hai nhiệm vụ này trong Luật công tố” [17, tr.46] Hiện nay trong
lý luận và thực tiễn cũng còn có một số quan điểm khác nhau về thực hành quyền công tố và chủ thể thực hành quyền công tố Do đó việc quan niệm nội dung thực hành quyền công tố cũng còn khác nhau Có quan điểm cho rằng, nếu coi khởi tố vụ án hoặc bắt, tạm giam bị cáo là nội dung thực hành quyền công tố thì có nghĩa là cơ quan điều tra và Tòa án cũng là cơ quan thực hành quyền công tố Chúng tôi cho rằng, ở đây có sự nhầm lẫn giữa quyền năng tố tụng với quyền của cơ quan công tố Việc sử dụng một số biện pháp
để cáo buộc bị can, bị cáo do các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện hoàn toàn không đổng nghĩa với thẩm quyền công tố theo nghĩa đầy đủ của nó là quyền đưa vụ án ra Tòa và thực hiện việc buộc tội đối với bị cáo trước Tòa
án Cũng theo Lê Thị Tuyết Hoa (2002), “chỉ có cơ quan nào sử dụng tất cả
các quyền năng pháp lý cần thiết để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong cả giai đoạn điều tra tội phạm và giai đoạn xét xử hình
sự tại Tòa án thì đó là cơ quan thực hành quyền công tố” [17, tr.46] Ở nước
ta chỉ có Viện kiểm sát là cơ quan duy nhất thực hành quyền công tố Cơ quan điều tra chỉ là người hỗ trợ cho Viện kiểm sát đưa vụ án ra Tòa; Tòa án chỉ xét xử những tội phạm và người phạm tội mà Viện kiểm sát đã truy tố
Tổng hợp các quan điểm này kết hợp với nô ̣i hàm quyền công tố và thực hành quyền công tố đã làm rõ ở phần trên , có thể kết luâ ̣n rằng:
- Chủ thể THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vu ̣ án hình sự là VKS, điều này đã được thừa nhận trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật tổ chức VKSND, BLTTHS và rất nhiều các văn bản luật khác cũng như trong thực tiễn
- Đối tượng THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vu ̣ án hình sự là tội phạm và người phạm tội
Trang 31- Nội dung THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vu ̣ án hình sự : VKS sử dụng các quyền năng (biện pháp) thuộc quyền công tố được pháp luật quy định để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội và bảo vệ quan điểm truy tố đó trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vu ̣ án hình sự , bao gồm: Rút một phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố trước phiên tòa hoặc tại phiên tòa xét xử sơ thẩm; đọc cáo trạng, thực hiện xét hỏi, luận tội, tranh luận với luật sư và những người tham gia tố tụng khác
- Phạm vi THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vu ̣ án hình sự : Giai đoạn xét xử sơ thẩm vu ̣ án hình sự b ắt đầu khi hồ sơ vụ án cùng quyết định truy tố được chuyển sang Tòa án để thực hiện việc xét xử và kết thúc khi Tòa án ra bản án sơ thẩm hình sự hoặc chấm dứt việc giải quyết bằng một quyết định tố tụng Do vậy, phạm vi THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm
vụ án hình sự cũng b ắt đầu khi Tòa án thụ lý vụ án để xét xử và chấm dứt khi Hội đồng xét xử ra bản án sơ thẩm hoặc chấm dứt việc giải quyết bằng một quyết định tố tụng
Như vâ ̣y , có thể khái niệm chức năng thực hành quyền công tố c ủa
Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là v iệc Viện kiểm sát sử dụng tổng hợp các quyền năng tố tụng độc lập do luật định nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự và bảo vệ sự buộc tội đó đối với người phạm tội, không để lọt người, lọt tội trong suốt quá trình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
1.3 Khái quát lịch sử pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về chức năng thƣ̣c hành quyền công tố của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử
sơ thẩm vụ án hình sự
1.3.1 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự từ năm 1945 đến năm
1988 về chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Cuộc tổng khởi nghĩa tháng Tám thành công, ngày 2/9/1945, Chủ tịch
Trang 32Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà- Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á Bản Tuyên ngôn độc lập là một văn kiện chính trị, pháp lý, lịch sử quan trọng, đánh dấu một chương mới trong lịch sử dân tộc; đồng thời là cơ sở để sau này hàng loạt các thiết chế của một Nhà nước mới được hình thành
Ngay sau khi giành độc lập, Chủ tịch nước đã ký sắc lệnh số 13C-SL ngày 13/9/1945 Đây là văn bản pháp luật đầu tiên quy định về Toà án quân
sự - cơ quan xét xử duy nhất tại Việt Nam; đồng thời quy định chức năng công tố (buộc tội) như sau: “Đứng buộc tội là một Uỷ viên quân sự hay một
Uỷ viên của Ban trinh sát” Như vậy, chỉ 11 ngày sau khi ra đời, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã thiết lập cơ quan tư pháp, trong đó phôi thai xuất hiện cơ quan thực hành quyền công tố (cơ quan buộc tội)
Ngày 9/1/1946, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam đã được Quốc hội thông qua Đây là một văn bản pháp lý quan trọng quy định cơ cấu tổ chức Nhà nước nói chung và hệ thống các cơ quan tư pháp nói riêng Theo điều 63 của Hiến pháp, cơ quan tư pháp gồm có: Toà án tối cao, các Toà án phúc thẩm, các Toà án đệ nhị cấp và sơ cấp Tiếp theo, một loạt các văn bản pháp luật quan trọng được ban hành, quy định về tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp, trong đó có bộ phận thực hành quyền công tố như: sắc lệnh số 13 ngày 24/1/1946 quy định tổ chức các Toà án và các ngạch thẩm phán; sắc lệnh số 51 ngày 17/4/1946 quy định thẩm quyền các Toà án và sự phân công giữa các nhân viên trong Toà án và nhân viên Công tố viện; sắc lệnh số 130 ngày 19/7/1946 quy định thể thức thi hành án; sắc lệnh số 131 ngày 20/7/1946 quy định về tổ chức Tư pháp công an; Thông tư số 772/TTg ngày 15/5/1956 quy định việc kiện toàn các cơ quan tư pháp
Theo nội dung các văn bản pháp luật nói trên, Toà án, Tư pháp công an
và Tổ chức công tố đuợc quy định như sau:
Trang 33- Tổ chức Toà án có 3 cấp: Toà án sơ cấp (Toà án ở các quận); Toà án đệ nhị cấp (Toà án ở các tỉnh); Toà thượng thẩm (ở 3 kỳ Bắc, Trung, Nam)
- Tổ chức công tố nằm trong Toà án: Mỗi Toà thượng thẩm có một Chưởng lý, một hay nhiều Phó trưởng lý, nhiều tham lý Khi xét xử, Chưởng
lý hoặc Phó Chưởng lý hoặc Tham lý ngồi ghế Công tố viên
- Chánh án có quyền điều khiển và kiểm soát tất cả nhân viên khác trong Toà án, trừ các Thẩm phán buộc tội
- Thẩm phán được chia làm 2 loại: Thẩm phán xét xử và Thẩm phán buộc tội Thẩm phán buộc tội gồm có các Chưởng lý, Phó trưởng lý, Tham lý (ở Toà thượng thẩm), Biện lý (ở Toà đệ nhị cấp); đối với Toà sơ cấp, Thẩm phán xét xử đồng thời thực hiện cả chức năng buộc tội
- Về phương diện Tư pháp công an: Tất cả Tư pháp công an, ủy viên
Tư pháp công an đều đặt dưới quyền kiểm soát của Chưởng lý Toà thượng thẩm Công tố có trách nhiệm phụ trách Tư pháp công an và các cơ quan được giao nhiệm vụ diều tra Việc bổ nhiệm, thăng thưởng và xử phạt hành chính những uỷ viên Tư pháp công an phải trên cơ sở ý kiến đồng ý của Biện lý và Chưởng lý
- Ở Toà sơ cấp, Thẩm phán sơ cấp dưới quyền chỉ huy của ông Biện lý Toà án tỉnh Ở Toà đệ nhị cấp, ông Biện lý có hai nhiệm vụ chính là Tư pháp cảnh sát và công tố Ở Toà thượng thẩm, Chưởng lý điều hành, phân công công việc ; Phó trưởng lý, Tham lý có nhiệm vụ thực hành quyền công tố trước Toà thượng thẩm Biện lý có quyền đình cứu một vụ việc, đưa xét xử, đưa ra phòng dự thẩm để thẩm cứu và điều tra Biện lý phải có mặt tại phiên toà hình và hộ; Chưởng lý và các Công tố viên có quyền phát ngôn ở những phiên tòa Hộ và Hình ở Toà thượng thẩm
Như vậy, mặc dù nằm trong Toà án nhưng các Thẩm phán buộc tội là một bộ phận riêng và hoạt động độc lập với Thẩm phán xét xử Tuỳ theo từng
Trang 34cấp, Công tố viện phụ trách trực tiếp và có quyền ra chỉ thị, kiểm soát công việc của các Uỷ viên Tư pháp công an; Công tố viện đảm nhiệm việc thực hành quyền công tố trước Toà án và đốc thúc việc thi hành án
Năm 1950, qua cuộc tập huấn chính trị, trên cơ sở học tập mô hình tổ chức các cơ quan tư pháp của Pháp, đã mở đường cho cải cách tư pháp lần thứ nhất (1950-1958) Trong thời gian này, một loạt văn bản pháp luật mới được ban hành, trong đó có các văn bản quy định về cơ quan tư pháp và hoạt động tư pháp Nội dung chính thể hiện tư tưởng cải cách tư pháp là:
- Đổi tên Toà án sơ cấp thành Toà án nhân dân huyện, Toà án đệ nhị cấp thành Toà án nhân dân tình, Hội đồng phúc án thành Toà phúc thẩm, Phụ thẩm nhân dân thành Hội thẩm nhân dân;
- Việc xử án có Hội thẩm nhân dân tham gia và chiếm đa số;
- Công tố viện có quyền kháng cáo cả việc hộ và việc hình;
- Quyền công tố nhà nước được giao cho các Công tố ủy viên Toà án nhân dân tỉ nh trở lên (Viện trưởng), Phó công tố ủy viên và các Thẩm phán công tố thực hiện
- Khi có vụ việc xảy ra, Thẩm phán huyện phải lập tức báo Công tố ủy viên tỉnh biết
- Ủy ban kháng chiến hành chính các cấp có quyền điều hành công việc của Công tố viện;
- Hệ thống Toà án từ thời điểm này chỉ có Toà án nhân dân trực thuộc
Bộ Tư pháp và Toà án binh trực thuộc Bộ Quốc phòng
Trong phiên họp ngày 29/4/1958, trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm trong nước và quốc tế , Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã ra Nghị quyết thành lập hệ thống Viện công tố và hệ thống Toà án tách khỏi Bộ Tư pháp; đặt Viện Công tố Trung ương trực thuộc Hội đồng Chính phủ, có trách nhiệm và quyền hạn như một Bộ Đây là một sự kiện vô cùng quan trọng
Trang 35trong lịch sử phát triển của nền tư pháp Việt Nam, là cơ sở cho việc tiến hành cải cách tư pháp một cách sâu rộng cho những năm tiếp theo Ngày 01/7/1959 Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 256-TTg, quy định nhiệm vụ và
tổ chức của Viện công tố Hệ thống Viện công tố được thành lập bao gồm Viện công tố Trung ương, Viện công tố địa phương các cấp và Viện công tố quân sự các cấp Ngày 06/8/1959 Viện trưởng Viện công tố Trung ương đã ban hành Thông tư số 601-TCCB, giải thích và hướng dẫn thi hành Nghị định
số 256-TTg của Thủ tướng Chính phủ Ngày 27/8/1959 Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 321-TTg, thành lập các Viện công tố phúc thẩm và Viện công tố các cấp
Giai đoạn này, nhiệm vụ chung của Viện công tố là giám sát việc tuân thủ pháp luật Nhà nước, truy tố theo luật hình những kẻ phạm pháp để bảo vệ chế độ dân chủ nhân dân, giữ gìn trật tự an ninh Nhiệm vụ cụ thể của Viện công tố là: Điều tra và truy tố trước Toà án những kẻ phạm pháp về hình sự; giám sát việc chấp hành luật pháp trong công tác điều tra của Cơ quan điều tra; giám sát việc chấp hành luật pháp trong việc xét xử của các Toà án; giám sát việc chấp hành luật pháp trong việc thi hành các bản án về hình sự, dân sự và trong hoạt động của cơ quan giam giữ cải tạo; khởi tố và tham gia tố tụng trong những vụ án dân sự quan trọng có liên quan đến lọi ích của Nhà nước và của công dân Tổ chức của Viện công tố gồm: Viện công tố Trung ương; Viện công
tố địa phương các cấp (cấp tỉnh và cấp huyện); Viện công tố quân sự các cấp
Từ năm 1960, trên cơ sở Hiến pháp 1959, Viện kiểm sát nhân dân ra đời Theo đó, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 có hiệu lực đã quy định chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Viện kiểm sát nhân dân Lần đầu tiên trong lịch sử Bộ máy nhà nước ta, Viện kiểm sát được quy định thành một cơ quan phù hợp với Hiến pháp Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 gồm 6 chương, 25 điều, đã cụ thể hoá các quy định của Hiến
Trang 36pháp về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân Theo đó, ngoài chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật, Viện kiểm sát nhân dân còn có các nhiệm vụ và quyền hạn sau: Điều tra những việc phạm pháp về hình sự và truy tố trước Toà án nhân dân những người phạm pháp về hình sự
Tháng 2/1967, tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Kiểm sát , đổng chí Trường Chinh, uỷ viên Bộ Chính tri ̣, Chủ tịch uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã
nói: “Không có cơ quan nhà nước nào thay thế ngành Kiểm sát để sử dụng
quyền công tố Bắt, giam, điều tra, truy tố, xét xử có đúng người, đúng tội, đúng pháp luật hay không, có đúng đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước hay không, điều đó chính Viện kiểm sát phải trông nom, bảo đảm làm tốt” Cho đến
nay, kết luận này vẫn là định hướng quan trọng cho hoạt động kiểm sát
Hiến pháp năm 1980 ra đời, nước ta được đổi tên thành Nước Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt nam Lần đầu tiên Hiến pháp quy định thực hành quyền công tố là chức năng của Viện kiểm sát nhân dân Đây là một sự kiện pháp lý quan trọng để Viện kiểm sát nhân dân thực hiện tốt chức năng của mình Điều
138 Hiến pháp quy định:
Viện kiểm sát nhân dân tối cao nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các Bộ và cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng, các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức xã hội và đơn
vị vũ trang nhân dân, các nhân viên Nhà nước và công dân, thực hành quyền công tố, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất
Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương, các Viện kiểm sát quân sự kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố trong phạm vi trách nhiệm của mình [31, Điều 138]
Theo quy định của Hiến pháp năm 1980 thì Viện kiểm sát nhân dân vừa kiểm sát việc tuân theo pháp luật, vừa thực hành quyền công tố Đây là bước
Trang 37phát triển mới so với Hiến pháp năm 1959 (Hiến pháp năm 1959 không quy định nội dung thực hành quyền công tố)
Năm 1981, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân ra đời, quy định nhiều điểm mới, tạo điều kiện thuận lợi để phục vụ cho các khâu công tác kiểm sát, đặt nền tảng cho Viện kiểm sát nhân dân trong việc thực hiện chức năng và tạo cơ sở cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống Viện kiểm sát trong phạm
vi cả nước
1.3.2 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự từ năm 1988 đến năm
2003 về chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Một bước ngoặt lịch sử trong phát triển chế định THQCT và KSĐT là BLTTHS đầu tiên của nước CHXHCN Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 28/6/1988 Bộ luật tố tụng hình sự quy định trình tự, thủ tục tiến hành các hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng; quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng và của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và công dân
Về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát, Bộ luật quy định: Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố, bảo đảm việc điều tra được khách quan, toàn diện và đầy đủ; áp dụng mọi biện pháp do
Bộ luật này quy định để mọi hành vi phạm tội đều được điều tra và xử lý kịp thời, không để lọt người phạm tội
Trong giai đoa ̣n xét xử sơ thẩm vu ̣ án hình sự , chức năng thự c hành quyền công tố của Viê ̣n Kiểm sát được thể hiê ̣n xuyên suốt từ viê ̣c viện dẫn tội danh và điều khoản Bộ luật hình sự đối với hành vi của bị cáo trong quyết định đưa vụ án ra xét xử, trình bày cáo trạng, tham gia viê ̣c xét hỏi , xem xét
vâ ̣t chứng, nhân chứng Sau khi kết thúc việc xét hỏi tại phiên toà, kiểm sát
Trang 38viên trình bày lời luận tội, đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung cáo trạng hoặc kết luận về tội danh nhẹ hơn; nếu thấy không có căn
cứ để kết tội thì rút toàn bộ quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo không có tội BLTTHS 1988 cũng quy định K iểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp phải tham gia phiên toà Đối với vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì hai kiểm sát viên có thể cùng tham gia phiên toà Nếu kiểm sát viên vắng mặt hoặc bị thay đổi thì Hội đồng xét xử hoãn phiên toà và báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp
Ngày 30/6/1990 Quốc hội thông qua BLTTHS sửa đổi, bổ sung để khắc phục những hạn chế, vướng mắc trong thực hiện BLTTHS năm 1988 Tuy
vâ ̣y, BLTTHS sửa đổi 1990 nhìn chung chỉ tăng cường chứng năng thực hành quyền công tố của Viê ̣n Kiểm trát trong các giai đoa ̣n điều tra (bổ sung quyền
“khởi tố bị can” (điểm a, khoản 1, Điều 141) ) Chức năng thực hà nh quyền công tố của Viê ̣n Kiểm sát trong giai đoa ̣n xét xử nói chung và xét xử sơ thẩm
vụ án hình sự nói riêng vẫn được giữ nguyên như BLTTHS năm 1988
Có thể nói thời kì này chế định THQCT của Viện Kiểm sát đã được bổ sung cụ thể, chi tiết hơn Đặc biệt, các quyền của VKS gắn liền với trách nhiệm, gắn với các hoạt động điều tra, xét xử, tạo thuận lợi hơn cho công tác giải quyết án hình sự của VKSND Tuy nhiên, các quy định của BLTTHS về chức năng của Viê ̣n Kiểm sát trong g iai đoa ̣n xét xử sơ thẩm vu ̣ án hình sự ở giai đoa ̣n này vẫn chưa phân định rành mạch những hoạt động nào của VKS
là THQCT, những hoạt động nào của VKS là KSĐT
Hiến pháp năm 1992 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1992 quy định: Viện kiểm sát nhân dân tối cao kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các Bộ, các cơ quan ngang Bộ, các cơ quan khác thuộc Chính phủ thực hành quyền công tố, đảm bảo cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung thống nhất trong ngành, do Viện trưởng lãnh đạo
Trang 39Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung uơng khóa IX chỉ rõ: “ cần
sửa đổi, bổ sung chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân theo hướng Viện kiểm sát nhân dân chỉ thực hiện quyền công tố và kiểm sát các hoạt động
tư pháp ” Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ Chính tri ghi: “Viện kiểm sát các cấp thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp Hoạt động công tố phải được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình tố tụng ” [4, Mục B, Phần II]
Để thể chế những nội dung quan trọng của các Nghị quyết nêu trên về cải cách tư pháp, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) đã điều chỉnh một bước về chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát Theo đó, Viện kiểm sát thôi không thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội; đổng thời nhấn mạnh việc tăng cường chức năng thực hành quyền công tố và ghi nhận chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp
Về mặt lý luận, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 đã có bước phát triển tiến bộ, khẳng định rõ hai chức năng của Viện kiểm sát là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Để tạo điều kiện cho Viện kiểm sát nhân dân chủ động thực hành quyền công tố ngay từ đầu, Luật mới đã quy định trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân trong việc tiếp nhận tín báo, tố giác tội phạm và thực hiện việc thống kê tội phạm Công tác thực hành quyền công tố trong các giai đoạn điều tra, xét xử đã được phân định rạch ròi và đầy đủ, chi tiết hơn Những sự thay đổi này đã cải thiê ̣n đáng kể tính chủ đô ̣ng, xuyên suốt của Viê ̣n Kiểm sát đối với chức năng thực hành quyền công tố trong suốt quy trình tố tu ̣ng cũng như giai đoa ̣n xét xử sơ thẩm vu ̣ án hình sự
Tiếp tục bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã thể hiện sâu sắc những tư tưởng mới về cải cách tư pháp hình sự Đối với Viện kiểm sát, Bộ luật quy định cụ thể như sau: Viện kiểm sát thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự, quyết định việc truy tố người phạm
Trang 40tội ra trước Toà án nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý kịp thời, việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt người phạm tội, không làm oan người vô tội
Có thể nói thời kì này chế định THQCT và KSĐT đã được bổ sung cụ thể, chi tiết hơn Đặc biệt, các quyền của VKS gắn liền với trách nhiệm, gắn với các hoạt động điều tra của CQĐT, cơ quan được tiến hành các hoạt động điều tra, thuận lợi hơn cho công tác giải quyết án hình sự của VKSND Tuy nhiên, các quy định chưa phân định rành mạch những hoạt động nào của VKS
là THQCT, những hoạt động nào của VKS là KSĐT