1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn : Nhân tố tác động đến cảm nhận kết quả công việc của nhân viên kế toán trong môi trường ứng dụng hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp – Trường hợp Việt Nam

291 156 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 291
Dung lượng 4,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bối cạnh hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp (ERP) đang dần trở nên phổ biến, nhu cầu gia tăng các nghiên cứu khoa học về các khía cạnh quản trị doanh nghiệp liên quan đến vấn đề ứng dụng hệ thống ERP đã phát sinh. Nghiên cứu này đi theo xu hướng trên, tập trung nghiên cứu về các yếu tố tác động đến cảm nhận kết quả công việc của nhân viên kế toán sử dụng hệ thống ERP. Nghiên cứu được thực hiện theo quy trình do Churchill (1979) đề xuất gồm giai đoạn nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức. Dựa vào các lý thuyết liên quan, nghiên cứu sơ bộ đã tiến hành kiểm tra thang đo các khái niệm nghiên cứu gồm cảm nhận kết quả công việc nhân viên kế toán sử dụng hệ thống ERP, sự phù hợp giữa nhiệm vụ và công nghệ, lợi ích kế toán do ứng dụng ERP, cảm nhận tính hữu ích của hệ thống ERP và sự thỏa mãn trong công việc của nhân viên kế toán sử dụng hệ thống ERP thông qua dữ liệu thu thập từ 110 nhân viên kế toán. Dựa vào kết quả thu được từ nghiên cứu sơ bộ, nghiên cứu chính thức được thực hiện với dữ liệu thu thập từ 219 nhân viên kế toán, thông qua kỹ thuật phân tích PLS_SEM, nhằm kiểm tra một mô hình đường dẫn được đề xuất. Kết quả nghiên cứu chính thức cho thấy cảm nhận về tính hữu ích của hệ thống ERP (PU), sự phù hợp giữa nhiệm vụ và công nghệ (TTF) và sự thỏa mãn trong công việc của nhân viên kế toán sử dụng hệ thống ERP (JOBSA) lần lượt là các yếu tố có tác động theo thứ tự giảm dần đến cảm nhận kết quả công việc của nhân viên kế toán sử dụng hệ thống ERP (PER). Bên cạnh đó, kết quả kiểm tra hệ số R2 cho thấy mô hình đường dẫn có khả năng dự báo chính xác cao lên đến 72,1%. Tương tự như vậy, nếu dựa vào kết quả kiểm tra hệ số Q2 thì kết quả cũng cho thấy khả năng dự báo khá tốt của mô hình đường dẫn khi hệ số Q2 ở ngưỡng 62,9%.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

- -PHẠM TRÀ LAM

NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CẢM NHẬN KẾT QUẢ CÔNG VIỆC CỦA NHÂN VIÊN KẾ TOÁN TRONG MÔI TRƯỜNG ỨNG DỤNG

HỆ THỐNG HOẠCH ĐỊNH NGUỒN LỰC DOANH NGHIỆP –

TRƯỜNG HỢP VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh – Năm 2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

- -PHẠM TRÀ LAM

NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CẢM NHẬN KẾT QUẢ CÔNG VIỆC CỦA NHÂN VIÊN KẾ TOÁN TRONG MÔI TRƯỜNG ỨNG DỤNG

HỆ THỐNG HOẠCH ĐỊNH NGUỒN LỰC DOANH NGHIỆP –

TRƯỜNG HỢP VIỆT NAM

Chuyên ngành : Kế toán

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS.TS VÕ VĂN NHỊ

TP Hồ Chí Minh – Năm 2018

Trang 3

V/v tuân thủ chuẩn mực đạo đức trong NCKH

- -

Tôi xin cam đoan luận án tiến sĩ kinh tế “Nhân tố tác động đến cảm nhận kết quả công việc của nhân viên kế toán trong môi trường ứng dụng hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp – Trường hợp Việt Nam” tuân thủ đầy đủ các chuẩn mực đạo đức chung trong nghiên cứu khoa học:

- Thứ nhất, mọi nội dung được tham chiếu từ các nghiên cứu khác liên quan đã được trích dẫn đầy đủ

- Thứ hai, quy trình thu thập dữ liệu cho nghiên cứu được thực hiện khoa học và người tham gia khảo sát hoàn toàn tự nguyện đồng ý tham gia

- Thứ ba, mọi thông tin cá nhân của người tham gia khảo sát và thông tin về đơn vị đang công tác của người tham gia khảo sát chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu của đề tài, không một thông tin cụ thể nào được tiết lộ vì mục đích khác

- Thứ tư, các số liệu và kết quả xử lý dữ liệu là hoàn toàn trung thực

- Thứ năm, công trình nghiên cứu khoa học này không trùng lặp với các công trình nghiên cứu khoa học đã được công bố (theo tìm hiểu của tác giả)

- Thứ sáu, công trình nghiên cứu khoa học này hoàn toàn do tác giả thực hiện dưới

sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học

PHẠM TRÀ LAM

Trang 4

- -

Trong thời gian qua, với sự hỗ trợ nhiệt tình từ quý thầy cô, các đồng nghiệp, bạn bè, người thân

và các tổ chức liên quan, tôi đã hoàn thành luận án này

Đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến ban giám hiệu Trường Đại Học Kinh Tế TP Hồ Chí Minh, ban chủ nhiệm Khoa Kế toán và các thầy cô trưởng phó Bộ môn HTTT kế toán, nơi tôi đang công tác Các Thầy cô đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi được học tập nâng cao trình độ và hoàn thành luận án tiến sĩ

Trong quá trình học tập nâng cao trình độ của chương trình nghiên cứu sinh, tôi đã tiếp thu được nhiều kiến thức bổ ích giúp tôi nâng cao trình độ cũng như hoàn thành luận án tiến sĩ Vì vậy, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các quý thầy cô tại Trường Đại Học Kinh Tế TP Hồ Chí Minh đã truyền đạt vô vàng kiến thức bổ ích cho tôi

Trong quá trình thực hiện luận án này, tôi đã nhận được rất nhiều sự hỗ trợ từ quý thầy cô là đồng nghiệp của tôi, trong và ngoài Khoa Kế toán Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các quý thầy cô

đã hỗ trợ tôi hoàn thành luận án tiến sĩ Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy Nguyễn Phước Bảo Ấn, người đã hỗ trợ tôi rất nhiều trong việc tìm tài liệu và cách thức sử dụng

kỹ thuật PLS_SEM để tiến hành phân tích dữ liệu trong luận án này Bên cạnh đó, tôi xin bày tỏ

sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Võ Văn Nhị, người thầy hướng dẫn khoa học của tôi Trong suốt gần bốn năm qua, thầy đã tận tình dìu dắt, chỉ bảo, hướng dẫn tôi thực hiện luận án Những nhận xét, đánh giá của thầy, đặc biệt là những gợi ý về hướng giải quyết vấn đề trong suốt tiến trình nghiên cứu, thực sự là những bài học vô cùng quý giá đối với tôi không chỉ cho việc thực hiện luận án này mà cả trong công việc và cuộc sống hiện tại của mình

Để hoàn thành luận án này, tôi đã phải nhờ sự hỗ trợ rất nhiều từ đồng nghiệp, người thân và các bạn cựu sinh viên của tôi trong việc thu thập dữ liệu Vì vậy, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến những người đã hỗ trợ tôi trong quá trình thu thập dữ liệu cho luận án

Cuối cùng, tôi xin gửi tấm lòng ân tình tới gia đình thương yêu của tôi Trong suốt những năm qua, với những bận rộn về công việc và học hành, gia đình luôn là nguồn cổ vũ và truyền nhiệt huyết để tôi hoàn thành luận án

TP Hồ Chí Minh Ngày … tháng … Năm 2018

Trang 5

- - LỜI CAM ĐOAN

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.2 Khái quát các nghiên cứu nước ngoài có liên quan đến kết quả công việc của

1.3 Khái quát các nghiên cứu nước ngoài về các nhân tố có thể có tác động đến kết

quả công việc của cá nhân trong môi trường ứng dụng CNTT 5

Trang 6

1.3.3 Khái quát các nghiên cứu liên quan đến lợi ích kế toán do ứng dụng ERP 9 1.3.4 Khái quát các nghiên cứu liên quan đến cảm nhận tính hữu ích của hệ thống

1.3.5 Khái quát các nghiên cứu liên quan đến sự thỏa mãn của người sử dụng và

1.4 Khái quát các nghiên cứu trong nước về hệ thống ERP 14

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.2 Hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp (ERP) 21

Trang 7

2.6.2 Đặc điểm cá nhân của người sử dụng hệ thống ERP 50

CHƯƠNG 3 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

3.5.3.1 Kiểm định thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha 73

Trang 8

Kết luận chương 3 92

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

4.3 Mô hình nghiên cứu và thang đo các khái niệm nghiên cứu chính thức 107

4.4.4.2 Đánh giá tính phù hợp của các mối quan hệ 121

4.4.4.5 Đánh giá khả năng dự báo của mô hình thông qua Q2 125

4.4.4.7 Kiểm tra vai trò của các biến trung gian 127

Trang 9

4.6.3.2 Bàn luận về giả thiết nghiên cứu bị bác bỏ 140 4.6.3.3 Bàn luận về kết quả kiểm tra các biến kiểm soát 143

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý

5.3 Hàm ý quản trị đối với các bên liên quan trong dự án ứng dụng hệ ERP 148

DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 10

- -

Phụ lục 2 Tổng hợp các nghiên cứu liên quan đến kết quả công việc của cá nhân sử dụng

Phụ lục 3 Tổng hợp các nghiên cứu liên quan đến kết quả công việc của cá nhân sử dụng

Trang 11

Phụ lục 14 Điều kiện để áp dụng EFA cho nghiên cứu 52 Phụ lục 15 Cách thức đánh giá vai trò của biến trung gian 54 Phụ lục 16 Bảng khảo sát sử dụng trong nghiên cứu sơ bộ 54 Phụ lục 17 Thống kê doanh nghiệp có nhân viên tham gia khảo sát định lượng sơ bộ 58

Phụ lục 19 Hệ số nhân tố trong phân tích EFA lần 1cho khái niệm lợi ích kế toán do ứng

Phụ lục 20 Kết quả phân tích EFA cho khái niệm ACBNE 61 Phụ lục 21 Kết quả phân tích EFA cho hai khái niệm JOBSA và PER 62 Phụ lục 22 Kết quả phân tích EFA cho hai khái niệm JOBSA và PU 63 Phụ lục 23 Kết quả phân tích EFA cho hai khái niệm PER và PU 64 Phụ lục 24 Bảng khảo sát sử dụng trong nghiên cứu chính thức 65 Phụ lục 25 Thống kê doanh nghiệp có nhân viên tham gia khảo sát chính thức 69 Phụ lục 26 Thống kê mô tả khái niệm bậc 1 của khái niệm lợi ích kế toán do ứng dụng

Phụ lục 27 Thống kê mô tả khái niệm bậc 1 của khái niệm Sự phù hợp giữa nhiệm vụ và

Phụ lục 29 Kết quả kiểm tra CMV bằng phương pháp sử dụng biến đánh dấu 72

Trang 12

Phụ lục 31 Kết quả kiểm tra hệ số nhân tố của biến quan sát trong mô hình đo lường lần

Phụ lục 32 Kết quả kiểm tra hệ số nhân tố của biến quan sát trong mô hình đo lường lần

Phụ lục 33 Kết quả đánh giá tính ổn định nội bộ và giá trị hội tụ của thang đo các khái

Phụ lục 34 Kết quả kiểm tra hệ số nhân tố của biến quan sát trong mô hình đo lường lần

Trang 13

- -

CB – SEM Mô hình cấu trúc tuyến tính dựa trên tính chắc chắn của hiệp

phương sai (certainly covariance-based SEM) (tạm dịch) CFA Phân tích nhân tố khẳng định

CMB Chệch do phương pháp (Common Method Bias)

CMV Biến thiên do phương pháp (Common Method Variance)

CNTT CNTT (Information Technology)

ECM Mô hình xác nhận – kỳ vọng (Expectation–Confirmation Model) ECT Lý thuyết xác nhận – mong đợi (Expectation–Confirmation

theory) EFA Phân tích nhân tố khám phá (Exploratory Factor Analysis) ERP Hệ thống hoạch định các nguồn lực doanh nghiệp (Enterprise

Resources Planning) HTTT HTTT (Information System)

PLS_SEM Mô hình cấu trúc tuyến tính dựa trên bình phương tối thiểu từng

phần (Partial least squares SEM) (tạm dịch) TAM Mô hình chấp nhận công nghệ (Technology Acceptance Model) TTF Lý thuyết sự phù hợp giữa nhiệm vụ và công nghệ (Task-

Technology Fit theory) SEM Mô hình cấu trúc tuyến tính (Structural Equation Modeling)

Trang 14

- -

Bảng 2.1 Khái niệm sự phù hợp giữa nhiệm vụ và công nghệ 32 Bảng 2.2 Tổng hợp lý do sử dụng các lý thuyết nền cho nghiên cứu 45 Bảng 2.3 Kết quả nghiên cứu của Petter và cộng sự (2013) về tác động của đặc điểm cá

Bảng 3.1 Quy tắc áp dụng trong lựa chọn sử dụng PLS_SEM và CB_SEM 82 Bảng 4.1 Tóm tắt thông tin mẫu chọn trong nghiên cứu sơ bộ 94 Bảng 4.2 Thống kê mô tả các khái niệm nghiên cứu trong nghiên cứu sơ bộ 94 Bảng 4.3 Cronbach’s Alpha của khái niệm lợi ích kế toán do ứng dụng ERP 95 Bảng 4.4 Cronbach’s Alpha của khái niệm nghiên cứu PER, PU và JOBSA 96 Bảng 4.5 Tóm tắt kết quả nghiên cứu sơ bộ: khái niệm ACBNE và TTF 103 Bảng 4.6 Tổng hợp thang đo sự phù hợp giữa nhiệm vụ và công nghệ (TTF) từ nghiên

Bảng 4.7 Thang đo lợi ích kế toán do ứng dụng ERP (BNEF) từ nghiên cứu sơ bộ 107 Bảng 4.8 Thang đo các khái niệm nghiên cứu dùng trong nghiên cứu chính thức 108 Bảng 4.9 Tóm tắt thông tin mẫu chọn trong nghiên cứu chính thức 110 Bảng 4.10 Thống kê mô tả các khái niệm nghiên cứu trong nghiên cứu chính thức 111 Bảng 4.11 Kết quả kiểm tra mô hình đo lường điều chỉnh 116 Bảng 4.12 Kết quả kiểm tra chỉ số HTMT cho mô hình đo lường điều chỉnh 118

Trang 15

Bảng 4.14 Kết quả kiểm định giả thiết nghiên cứu 122

Bảng 4.17 Kết quả kiểm tra vai trò của các biến trung gian của mô hình cạnh tranh 127

Bảng 4.18 Kết quả kiểm tra loại biến trung gian của mô hình cạnh tranh 128

Bảng 4.19 Kết quả kiểm tra thang đo khái niệm sự phù hợp giữa nhiệm vụ và công nghệ129

Bảng 4.20 Kết quả kiểm tra thang đo khái niệm lợi ích kế toán do ứng dụng ERP 130

Bảng 4.21 Tổng hợp kết quả kiểm tra mô hình cấu trúc 131

Bảng 4.22 Tổng hợp kết quả kiểm tra hệ số f2 và q2 132

Bảng 4.23 So sánh kết quả nghiên cứu định lượng sơ bộ với các nghiên cứu liên quan 136

Bảng 4.24 Giải thích các lợi ích kế toán do ứng dụng ERP bị loại khỏi nghiên cứu định

Trang 16

- -

Hình 1 Quy trình nghiên cứu sử dụng trong nghiên cứu định lượng chính thức viii Hình 2.1 Quá trình hình thành và phát triển của ERP 22 Hình 2.2 Mô hình tổng quát của lý thuyết sự phù hợp giữa nhiệm vụ và công nghệ 38

Hình 2.5 Mô hình đo lường sự thành công của hệ thống thông tin cập nhật 42

Trang 17

Hình 4.5 Kết quả kiểm tra mô hình cấu trúc 121 Hình 4.6 Kết quả kiểm tra mô hình cấu trúc cạnh tranh 123

Hình 4.8 Kết quả kiểm tra hệ số Q2 của mô hình cạnh tranh 126

Trang 18

TÓM TẮT

Trong bối cạnh hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp (ERP) đang dần trở nên phổ biến, nhu cầu gia tăng các nghiên cứu khoa học về các khía cạnh quản trị doanh nghiệp liên quan đến vấn đề ứng dụng hệ thống ERP đã phát sinh Nghiên cứu này đi theo xu hướng trên, tập trung nghiên cứu về các yếu tố tác động đến cảm nhận kết quả công việc của nhân viên kế toán sử dụng hệ thống ERP Nghiên cứu được thực hiện theo quy trình

do Churchill (1979) đề xuất gồm giai đoạn nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức Dựa vào các lý thuyết liên quan, nghiên cứu sơ bộ đã tiến hành kiểm tra thang đo các khái niệm nghiên cứu gồm cảm nhận kết quả công việc nhân viên kế toán sử dụng hệ thống ERP, sự phù hợp giữa nhiệm vụ và công nghệ, lợi ích kế toán do ứng dụng ERP, cảm nhận tính hữu ích của hệ thống ERP và sự thỏa mãn trong công việc của nhân viên

kế toán sử dụng hệ thống ERP thông qua dữ liệu thu thập từ 110 nhân viên kế toán Dựa vào kết quả thu được từ nghiên cứu sơ bộ, nghiên cứu chính thức được thực hiện với dữ liệu thu thập từ 219 nhân viên kế toán, thông qua kỹ thuật phân tích PLS_SEM, nhằm kiểm tra một mô hình đường dẫn được đề xuất Kết quả nghiên cứu chính thức cho thấy cảm nhận về tính hữu ích của hệ thống ERP (PU), sự phù hợp giữa nhiệm vụ và công nghệ (TTF) và sự thỏa mãn trong công việc của nhân viên kế toán sử dụng hệ thống ERP (JOBSA) lần lượt là các yếu tố có tác động theo thứ tự giảm dần đến cảm nhận kết quả công việc của nhân viên kế toán sử dụng hệ thống ERP (PER) Bên cạnh đó, kết quả kiểm tra hệ số R2 cho thấy mô hình đường dẫn có khả năng dự báo chính xác cao lên đến 72,1% Tương tự như vậy, nếu dựa vào kết quả kiểm tra hệ số Q2 thì kết quả cũng cho thấy khả năng dự báo khá tốt của mô hình đường dẫn khi hệ số Q2 ở ngưỡng 62,9%

Trang 19

PHẦN GIỚI THIỆU

1 Sự cần thiết của đề tài

Công nghệ thông tin có thể làm thay đổi hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp khiến doanh nghiệp vượt qua đối thủ cạnh tranh (Wei và Wang, 2004) Hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp ERP (Enterprise Resource Planning) là một trong những kỹ thuật CNTT ra đời vào giữa cuối thập niên 1990 (Gunyung và cộng sự, 2009) và ngày nay, nó đang được sử dụng rộng rãi trong các doanh nghiệp ERP là một phần mềm tích hợp tất

cả các bộ phận và chức năng trong doanh nghiệp vào một hệ thống duy nhất, nó là một trong những phân khúc thị trường phần mềm phát triển mạnh nhất và là một sự phát triển

quan trọng của CNTT trong thập niên 90 (Somers và Nelson, 2001) Tại Việt Nam, mặc

dù việc ứng dụng hệ thống ERP phát triển sau thế giới nhưng theo Báo cáo Chỉ số thương mại điện tử Việt Nam 2017 của Hiệp hội thương mại điện tử Việt Nam, tính đến hết năm

2016 cả nước có 17% doanh nghiệp sử dụng hệ thống ERP Con số này cho thấy hiện tại các doanh nghiệp Việt Nam đã quan tâm và ứng dụng hệ thống ERP nhưng vẫn còn khá

ít Tuy nhiên, chắc chắn rằng hệ thống ERP đã và sẽ được ứng dụng một cách phổ biến

do ERP được như xem là một giải pháp công nghệ tối ưu đối với hoạt động quản trị thông tin hữu hiệu và hiệu quả (Françoise và cộng sự, 2009) Vấn đề đặt ra là hệ thống ERP nên ứng dụng như thế nào để được xem là thành công?

Theo Markus và Tanis (2000), nghiên cứu về hệ thống ERP là một chủ đề quan trọng trong nghiên cứu HTTT bởi năm lý do (phụ lục 1, phần A, trang 1PL) Nhìn chung, các vấn đề sử dụng hệ thống ERP có sự liên kết về mặt khái niệm một cách mạnh mẽ với mọi

lĩnh vực lớn của HTTT (Markus và Tanis, 2000) Do đó, có thể vận dụng các lý thuyết

hay các nghiên cứu về HTTT cho nghiên cứu về hệ thống ERP Điều này rõ ràng cho

thấy một tiềm năng rất lớn trong hướng nghiên cứu hoàn toàn mới về ERP (Markus và Tanis, 2000) Nghiên cứu này là một trong những nghiên cứu đi theo xu hướng trên, đồng thời nếu theo cách phân loại của Markus và Tanis (2000) về xu hướng nghiên cứu ERP thì nghiên cứu này đi theo nhóm thứ tư tức là nghiên cứu liên quan đến vấn đề sự chấp

nhận, sử dụng và những tác động của CNTT ở mức độ cá nhân và xã hội

Trang 20

Kết quả công việc (job performance) là một chỉ số quan trọng trong việc đo lường sự thành công của một HTTT (Sykes và cộng sự (2014), Nah và cộng sự (2003), Umble và cộng sự (2003)) Một số nghiên cứu trên thế giới đã quan tâm nghiên cứu về kết quả công việc của cá nhân trong môi trường ERP như nghiên cứu của Bradford và Florin (2003), Kositanurit và cộng sự (2006), Park và cộng sự (2007), Sykes và cộng sự (2014), Sykes (2015) và Rajan và Baral (2015) Tuy nhiên, mỗi nghiên cứu lại khám phá ra các yếu tố tác động đến kết quả công việc cá nhân sử dụng ERP là khác nhau (phụ lục 3, trang 8PL) Theo Sykes và cộng sự (2014), nếu việc ứng dụng ERP không được chấp nhận, nó dẫn đến hậu quả là kết quả công việc của cá nhân thấp hơn từ đó kéo theo tỷ lệ nghỉ việc của nhân viên gia tăng Bên cạnh đó, nếu kết quả công việc của cá nhân đạt ở mức độ thấp thì

nó sẽ tác động xấu đến kết quả hoạt động của tổ chức (Kositanurit và cộng sự, 2006) Xét

ở khía cạnh kế toán, khi ứng dụng hệ thống ERP, cách thức thu thập, lưu trữ, truyền thông và sử dụng dữ liệu kinh doanh trong doanh nghiệp bị thay đổi đáng kể và những thay đổi này đã ảnh hưởng đến kế toán (Sutton, 2006) Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu là bằng chứng khoa học về việc ứng dụng hệ thống ERP và tác động của chúng vào

kế toán vẫn còn rất ít (Granlund và Malmi, 2002; Sutton, 2006) Trong nghiên cứu của

Wongpinunwatana và cộng sự (2000), ba tác giả đã nghiên cứu về kết quả công việc của nhân viên kiểm toán trong môi trường ERP Bên cạnh đó, một số nghiên cứu về chủ đề HTTT/ hệ thống ERP đã nghiên cứu trên những nhóm đối tượng sử dụng HTTT/ hệ thống ERP khác nhau như nghiên cứu của Kanellou và Spathis (2013) tìm hiểu tác động của lợi ích kế toán đến sự thỏa mãn đối với hệ thống ERP của người sử dụng với 2 nhóm đối tượng khác nhau là nhân viên CNTT và nhân viên kế toán; hay nghiên cứu của Tesch

và cộng sự (2003) và nghiên cứu của Ragu-Nathan và cộng sự (2008) đã nghiên cứu sự thỏa mãn của các bên liên quan theo 3 nhóm người sử dụng HTTT gồm chuyên gia HTTT, nhà quản trị dự án HTTT và người dùng cuối; hay nghiên cứu của Rutner và cộng

sự (2008) đã tìm hiểu những cảm xúc thực sự của nhân viên CNTT; hay nghiên cứu của Rong và Grover (2009) đã tìm hiểu tính hiệu quả của sự đổi mới tri thức đối với nhân viên CNTT;… Điều này chứng tỏ rằng, nghiên cứu chuyên sâu về kết quả công việc của từng nhóm đối tượng (các bên liên quan) sử dụng hệ thống ERP là cần thiết

Trang 21

Một cách khái quát, việc nghiên cứu chuyên sâu cho một đối tượng cụ thể khi sử dụng hệ thống ERP là cần thiết Do đó, nghiên cứu này tiếp nối các nghiên cứu về kết quả công việc cá nhân sử dụng hệ thống ERP nhưng nhấn mạnh đối với các cá nhân làm công tác

kế toán nhằm bổ sung hiểu biết về vấn đề ứng dụng ERP ở góc độ cá nhân với những nhóm đối tượng sử dụng khác nhau Nhìn chung, các nghiên cứu đi trước đã nghiên cứu

về vấn đề sử dụng HTTT/ hệ thống ERP với những nhóm đối tượng sử dụng khác nhau, tuy nhiên, trong bối cảnh ứng dụng hệ thống ERP, chưa có nghiên cứu về kết quả công việc của nhân viên kế toán như chủ đề của nghiên cứu này Hơn nữa, bởi các nhân viên

kế toán là nhóm đối tượng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ khi hệ thống ERP được ứng dụng (Scapens và Jazayeri's (2003), Newman và Westrup (2005)), đồng thời nếu các nhân viên

kế toán cảm nhận rằng kết quả công việc của họ không cao hơn khi sử dụng hệ thống ERP thì có khả năng họ sẽ không tiếp tục làm việc tại doanh nghiệp hiện tại và hậu quả là

có thể dẫn đến sự thất bại trong ứng dụng hệ thống ERP của doanh nghiệp Như vậy, chủ

đề nghiên cứu về kết quả công việc của nhân viên kế toán trong bối cảnh ứng dụng hệ thống ERP là cần thiết

Theo Sykes và cộng sự (2014), kết quả công việc của nhân viên có thể đo lường thông qua người giám sát (nhà quản trị trực tiếp của nhân viên) và nhân viên tự đánh giá Nghiên cứu này tập trung nghiên cứu về kết quả công việc được chính các nhân viên kế toán tự đánh giá, vì vậy nghiên cứu sử dụng thuật ngữ “cảm nhận kết quả công việc của nhân viên kế toán sử dụng hệ thống ERP” để ngụ ý về những kết quả công việc mà nhân viên kế toán cảm nhận được khi sử dụng hệ thống ERP cho công việc

Dựa vào các nghiên cứu đi trước, tác giả nhận thấy các nghiên cứu về kết quả công việc của cá nhân sử dụng HTTT/CNTT/hệ thống ERP có thể gom thành hai nhóm theo vai trò của khái niệm kết quả công việc cá nhân Nhóm thứ nhất là các nghiên cứu tìm hiểu yếu

tố tác động đến kết quả công việc cá nhân và nhóm thứ hai là các nghiên cứu xem kết quả công việc cá nhân như là một yếu tố tác động đến yếu tố khác hay xem kết quả công việc

cá nhân là trung gian cho tác động giữa hai yếu tố khác Trong đó, phần lớn các nghiên cứu về kết quả công việc của cá nhân sử dụng HTTT/CNTT/hệ thống ERP thuộc nhóm thứ nhất (phụ lục 2, trang 5PL và phụ lục 3, trang 8PL) Xu hướng nghiên cứu này là hoàn toàn thích hợp bởi như phần trên đã đề cập, kết quả công việc cá nhân (sử dụng

Trang 22

HTTT) là một chỉ số để đo lường cho sự thành công của một HTTT và do đó các nghiên cứu thường tìm kiếm yếu tố tác động đến sự thành công, trong bối cảnh này là yếu tố tác động đến kết quả công việc cá nhân sử dụng HTTT Kế thừa các nghiên cứu tìm hiểu nhân tố tác động đến kết quả công việc cá nhân sử dụng HTTT, nghiên cứu này tìm kiếm các nhân tố tác động đến cảm nhận kết quả công việc của nhân viên kế toán trong bối cảnh ứng dụng ERP Trong nghiên cứu này, một số nhân tố được lựa chọn để nghiên cứu

về tác động của chúng đến cảm nhận kết quả công việc của nhân viên kế toán trong bối cảnh ứng dụng ERP được trình bày cụ thể trong phụ lục 1 (trang 1PL, phần B, trang 2PL)

2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu

Như đã đề cập phía trên, ứng dụng hệ thống ERP cho công tác quản lý doanh nghiệp là

xu hướng mới và đóng vai trò quan trọng trong hỗ trợ doanh nghiệp phát triển Tuy nhiên, các nghiên cứu về ứng dụng hệ thống ERP tại Việt Nam vẫn còn khá ít Đặc biệt vấn đề nghiên cứu về cảm nhận kết quả công việc của nhân viên kế toán sử dụng hệ thống ERP vẫn là một khe hổng nghiên cứu cần được nghiên cứu Do vậy nghiên cứu này được thực hiện nhằm “xác định yếu tố chính tác động đến cảm nhận kết quả công việc của nhân viên kế toán sử dụng hệ thống ERP trong doanh nghiệp” Các mục tiêu nghiên cứu cụ thể gồm:

- Xem xét tác động của sự phù hợp giữa nhiệm vụ kế toán và hệ thống ERP đến cảm nhận kết quả công việc của nhân viên kế toán sử dụng hệ thống ERP

- Xem xét tác động của lợi ích kế toán do ứng dụng ERP đến cảm nhận kết quả công việc của nhân viên kế toán sử dụng hệ thống ERP

- Xem xét tác động của cảm nhận tính hữu ích của hệ thống ERP đến cảm nhận kết quả công việc của nhân viên kế toán sử dụng hệ thống ERP

- Xem xét tác động của sự thỏa mãn trong công việc của nhân viên kế toán sử dụng

hệ thống ERP đến cảm nhận kết quả công việc của nhân viên kế toán sử dụng hệ thống ERP

Tương ứng với các mục tiêu trên, nghiên cứu này đặt ra 4 câu hỏi nghiên cứu:

Trang 23

- Mức độ tác động của sự phù hợp giữa nhiệm vụ kế toán và hệ thống ERP đến cảm nhận kết quả công việc của nhân viên kế toán sử dụng hệ thống ERP như thế nào?

- Mức độ tác động của lợi ích kế toán do ứng dụng ERP đến cảm nhận kết quả công việc của nhân viên kế toán sử dụng hệ thống ERP như thế nào?

- Mức độ tác động của cảm nhận tính hữu ích của hệ thống ERP đến cảm nhận kết quả công việc của nhân viên kế toán sử dụng hệ thống ERP như thế nào?

- Mức độ tác động của sự thỏa mãn trong công việc của nhân viên kế toán sử dụng

hệ thống ERP đến cảm nhận kết quả công việc của nhân viên kế toán sử dụng hệ thống ERP như thế nào?

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu/ khảo sát: Theo Nguyễn Đình Thọ (2013), đối tượng khảo sát

cũng chính là đối tượng nghiên cứu trong nghiên cứu dạng khảo sát Do nghiên cứu này được thực hiện dưới dạng khảo sát nên đối tượng nghiên cứu cũng chính là đối tượng khảo sát Nhằm đạt được các mục tiêu nghiên cứu đã nêu trên, đề tài lựa chọn đối tượng nghiên cứu là nhân viên kế toán sử dụng hệ thống ERP trong doanh nghiệp Việt Nam đã ứng dụng hệ thống ERP

Phạm vi nghiên cứu: Đề tài được thực hiện tại Việt Nam, cụ thể là các doanh nghiệp đã

ứng dụng hệ thống ERP tại Việt Nam Trong nghiên cứu này tác giả định nghĩa các doanh nghiệp Việt Nam là các doanh nghiệp hoạt động và có trụ sở đặt tại Việt Nam không phân biệt nguồn vốn đầu tư trong nước hay nước ngoài bởi vì cho dù được thành lập và đầu tư bởi đối tượng trong nước hay nước ngoài thì khi hoạt động và đặt trụ sở tại thị trường Việt Nam, các doanh nghiệp này sẽ bị chi phối bởi các đặc điểm của thị trường Việt Nam Hơn nữa, do đối tượng nghiên cứu của nghiên cứu này là cá nhân, không phải

là doanh nghiệp vì vậy việc khảo sát cá nhân đang làm việc tại loại hình doanh nghiệp nào ở Việt Nam sẽ không quan trọng Các dữ liệu khảo sát sử dụng trong nghiên cứu được thu thập trong vòng 3 tháng, từ tháng 5 năm 2017 đến tháng 8 năm 2017

4 Phương pháp nghiên cứu

Do mục tiêu của nghiên cứu này là nhằm kiểm định lý thuyết khoa học (mục 2) nên phương pháp nghiên cứu định lượng được sử dụng dựa vào quy trình suy diễn (Nguyễn

Trang 24

Đình Thọ, 2013) Cụ thể, tác giả thực hiện nghiên cứu định lượng thông qua hai giai đoạn: nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức (dựa vào quy trình được đề xuất bởi Churchill (1979)) (Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang, 2011) Cách tiếp cận cơ bản được áp dụng cho từng giai đoạn nghiên cứu như sau:

(1) Nghiên cứu sơ bộ

Dựa vào thang đo các khái niệm nghiên cứu được kế thừa từ các nghiên cứu liên quan, một nghiên cứu sơ bộ đã được thực hiện nhằm kiểm định giá trị và độ tin cậy của thang

đo các khái niệm trong mô hình nghiên cứu đề xuất

Để đánh giá độ tin cậy của thang đo, nghiên cứu sử dụng phân tích hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha Để đánh giá giá trị của thang đo, phân tích nhân tố khám phá EFA được sử dụng nhằm đánh giá hai giá trị quan trọng của thang đo đó là giá trị hội tụ và giá trị phân biệt (Nguyễn Đình Thọ, 2013) Nghiên cứu sơ bộ sử dụng phần mềm SPSS 20.0

để xử lý dữ liệu Kết quả nghiên cứu sơ bộ cho ra một mô hình đo lường chính thức Trong giai đoạn nghiên cứu sơ bộ, kích thước mẫu nên đạt tối thiểu là 100 để kỹ thuật EFA phát huy tác dụng và có độ tin cậy cao (Nguyễn Đình Thọ, 2013) Nghiên cứu này

đã thực hiện nghiên cứu sơ bộ với kích thước mẫu là 110

(2) Nghiên cứu chính thức

Dựa vào mô hình đo lường có được từ kết quả nghiên cứu sơ bộ, bảng khảo sát chính thức đã được gửi đến các đối tượng khảo sát trong nghiên cứu chính thức Nghiên cứu chính thức được dùng để khẳng định lại độ tin cậy, giá trị của thang đo và mô hình đo lường cũng như kiểm định các giả thuyết nghiên cứu Kỹ thuật PLS_SEM được sử dụng

để xử lý dữ liệu định lượng nhằm đạt được các mục tiêu của giai đoạn này Những giải thích chi tiết về lý do lựa chọn PLS_SEM để xử lý dữ liệu trong nghiên cứu chính thức được trình bày cụ thể trong chương 3

Với đơn vị phân tích là cá nhân, nghiên cứu chọn mẫu theo phương pháp phi xác suất cụ thể là chọn mẫu thuận tiện và chọn mẫu theo phương pháp phát triển mầm Theo Hair và cộng sự (2016) thì kích thước mẫu cần gấp 10 lần số đường dẫn trong mô hình cấu trúc,

do đó trong nghiên cứu này sử dụng công thức trên trong xác định kích thước mẫu cho

Trang 25

nghiên cứu chính thức Dựa vào mô hình nghiên cứu chính thức (sau giai đoạn nghiên cứu sơ bộ), do mô hình có 10 đường dẫn nên kích thước mẫu tối thiểu là 100 Tuy nhiên, kích thước mẫu chính thức được sử dụng trong nghiên cứu là 219 lớn hơn nhiều kích thước mẫu tối thiểu nhằm gia tăng độ tin cậy của kết quả nghiên cứu

Do áp dụng kỹ thuật phân tích dữ liệu là PLS _SEM nên quy trình nghiên cứu chính thức được thực hiện theo gợi ý của Hair và cộng sự (2016) – Hình 1 Theo đó, dựa vào kết quả nghiên cứu sơ bộ, mô hình nghiên cứu chính thức tức mô hình cấu trúc được xác định đồng thời mô hình đo lường cũng được hình thành Tiếp theo, nghiên cứu chính thức tiến hành khảo sát và thu thập dữ liệu Các dữ liệu thu thập được từ 219 cá nhân đã được làm sạch và xử lý trên phần mềm SmartPLS 3.2.6 để phân tích PLS_SEM Kết quả phân tích

ở bước này cho kết luận về các giả thuyết nghiên cứu được chấp nhận hay bác bỏ và nó chính là mục tiêu cuối cùng của đề tài

Nghiên cứu sơ bộ

Xác định mô hình cấu trúc (Structural model)

Xác định mô hình đo lường (Measurement Models)

Thu thập dữ liệu và kiểm tra thang đo

Phân tích PLS_SEM

Kết quả kiểm định giả thuyết nghiên cứu

Hình 1 Quy trình nghiên cứu sử dụng trong nghiên cứu chính thức

(Nguồn: Hair và cộng sự, 2016)

5 Ý nghĩa của nghiên cứu

Sau khi thực hiện nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức, các mục tiêu nghiên cứu đề

ra đã đạt được, kết quả của nghiên cứu này đem lại một số ý nghĩa về mặt lý thuyết và

Trang 26

thực tiễn cho các doanh nghiệp đã và đang có ý định ứng dụng hệ thống ERP, các nhà cung cấp và triển khai hệ thống ERP, các nhà làm nghiên cứu, các giảng viên và sinh viên trong ngành kế toán và quản trị kinh doanh Cụ thể:

- Về mặt lý thuyết: Kết quả của nghiên cứu góp phần bổ sung bằng chứng thực nghiệm trong việc áp dụng các lý thuyết nền gồm lý thuyết sự phù hợp giữa nhiệm

vụ và công nghệ (TTF), mô hình kết hợp TAM và TTF, mô hình xác nhận – kỳ vọng (ECM) và mô hình thành công của HTTT (DeLone và McLean, 2003, 2013) trong bối cảnh ứng dụng hệ thống ERP Bên cạnh đó, nghiên cứu này cũng đã góp phần bổ sung vào cơ cở lý luận về sự thành công của hệ thống ERP cụ thể là cảm nhận kết quả công việc của nhân viên kế toán (người sử dụng) sử dụng hệ thống ERP Cụ thể, các yếu tố gồm cảm nhận tính hữu ích, sự phù hợp giữa nhiệm vụ và công nghệ và sự thỏa mãn trong công việc của người sử dụng hệ thống ERP có tác động đáng kể đến cảm nhận kết quả công việc của người sử dụng hệ thống ERP Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng cung cấp bổ sung các tri thức về vai trò của sự phù hợp giữa nhiệm vụ và công nghệ đối với việc dự báo các lợi ích kế toán do ứng dụng ERP mà nhân viên kế toán cảm nhận được cũng như cảm nhận của họ về tính hữu ích của hệ thống ERP và sự thỏa mãn trong công việc của họ khi sử dụng

hệ thống ERP Nó có thể là tài liệu tham khảo có giá trị cho các nhà nghiên cứu, giảng viên và sinh viên trong lĩnh vực kế toán và quản trị kinh doanh, ở Việt Nam

và trên thế giới về sự thành công của hệ thống ERP

- Về mặt thực tiễn: Kết quả của nghiên cứu này giúp cho các doanh nghiệp đã và đang có ý định ứng dụng hệ thống ERP cũng như các nhà cung cấp và triển khai

hệ thống ERP hiểu biết hơn về sự thành công trong ứng dụng hệ thống ERP và dự báo sự thành công khi ứng dụng hệ thống này Trong nghiên cứu này, sự thành công của hệ thống ERP được đo lường bằng cảm nhận kết quả công việc của người sử dụng ERP (nhân viên kế toán) Các yếu tố đã được chứng minh là có tác động đáng kể đến cảm nhận kết quả công việc của người sử dụng hệ thống ERP gồm cảm nhận về tính hữu ích của hệ thống ERP, mức độ phù hợp giữa nhiệm vụ

và hệ thống ERP và mức độ thỏa mãn trong công việc của người sử dụng ERP Từ các kết quả nghiên cứu của đề tài, doanh nghiệp có thể hoạch định kế hoạch ứng

Trang 27

dụng hệ thống ERP để nâng cao hiệu quả của việc ứng dụng hệ thống, đồng thời, các nhà cung cấp và triển khai hệ thống ERP có thể tư vấn và hỗ trợ khách hàng tốt hơn trong quá trình cung cấp và triển khai hệ thống ERP

6 Cấu trúc của luận án

Nhằm đạt được các mục tiêu nghiên cứu, đề tài được trình bày dưới dạng 5 chương Phần đầu tiên trình bày động cơ thúc đẩy hình thành đề tài, mục tiêu, đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa của nghiên cứu và kết cấu của đề tài Các nội dung tiếp theo gồm:

- Chương 1 khái quát các nghiên cứu liên quan trên thế giới và tại Việt Nam, từ đó nhận xét và làm rõ khe hổng nghiên cứu nhằm khẳng định sự cần thiết thực hiện nghiên cứu

- Chương 2 tập trung giới thiệu cơ sở lý thuyết hình thành mô hình nghiên cứu gồm giới thiệu tổng quan về hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp ERP, các lý thuyết nền, các khái niệm và các nghiên cứu khác làm nền tảng cho nghiên cứu

- Chương 3 trình bày thang đo đề xuất cho từng khái niệm nghiên cứu, đồng thời giới thiệu cụ thể về phương pháp nghiên cứu trong nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức

- Chương 4 tập trung trình bày các kết quả nghiên cứu cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức cũng như một số bàn luận về kết quả nghiên cứu

- Chương 5 tổng hợp từ các kết quả nghiên cứu để đưa ra các hàm ý quản trị đối với các bên liên quan trong dự án ứng dụng hệ thống ERP Cuối cùng, là nội dung về các hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

Trang 28

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

sự thỏa mãn trong công việc của người sử dụng HTTT Từ các nội dung này, phần cuối cùng giới thiệu khe hổng nghiên cứu

Nghiên cứu này lựa chọn giới thiệu các nghiên cứu trên thế giới về các vấn đề nghiên cứu liên quan theo tiêu chí: lựa chọn các nghiên cứu được đăng tải trên các tạp chí quốc tế có

uy tín từ năm 2000 cho đến nay Tác giả lựa chọn các nghiên cứu từ năm 2000 trở đi là

do, từ thời điểm năm 2000 hệ thống ERP truyền thống được mở rộng ra và được gọi là ERP II (Rashid và cộng sự, 2002) và cho đến hiện tại các hệ thống ERP được áp dụng trên thực tế là các hệ thống ở nhóm này, do đó các nghiên cứu về ERP từ thời điểm năm

2000 trở lại sẽ phù hợp để làm nền tảng cho nghiên cứu này Tuy nhiên, do một số khái niệm nghiên cứu được sử dụng chung trong tình huống nghiên cứu về HTTT nói chung (trong đó ERP là một HTTT của tổ chức) vì vậy, có một số nghiên cứu về HTTT có cùng chủ đề được nghiên cứu trước năm 2000 vẫn được giới thiệu trong nghiên cứu này bởi giá trị khoa học cao của chúng

Các nghiên cứu hàn lâm nói chung sẽ cần xác định rõ đơn vị phân tích là cá nhân hay tổ chức bởi các lý thuyết nền chứng minh cho mối quan hệ giữa các khái niệm trong nghiên cứu cũng chỉ được phát triển cho đối tượng phân tích là cá nhân hoặc tổ chức Ngoài ra,

Trang 29

thang đo các khái niệm nghiên cứu thông thường cũng chỉ phù hợp với đối tượng là cá nhân hoặc tổ chức Chính vì vậy, trong nghiên cứu này do đối tượng phân tích của nghiên cứu là cá nhân nên phần tiếp theo, tác giả giới thiệu các nghiên cứu liên quan có đối tượng phân tích là cá nhân Tuy nhiên, các nghiên cứu trên thế giới về lợi ích kế toán do ứng dụng ERP với đơn vị phân tích là cá nhân cũng sử dụng các nghiên cứu về lợi ích kế toán mà tổ chức đạt được làm nền tảng cho nghiên cứu như nghiên cứu của Kanellou và Spathis (2013) Vì vậy, nghiên cứu này cũng giới thiệu cả hai nhóm nghiên cứu về lợi ích

kế toán do ứng dụng ERP có đơn vị phân tích là cá nhân và đơn vị phân tích là tổ chức

1.2 Khái quát các nghiên cứu nước ngoài liên quan đến kết quả công việc của cá

nhân trong môi trường ứng dụng CNTT

Do bối cảnh nghiên cứu của nghiên cứu này là hệ thống ERP nên các nghiên cứu nước ngoài về kết quả công việc của cá nhân trong môi trường ứng dụng CNTT được tổng hợp theo hai nhóm nghiên cứu gồm: các nghiên cứu liên quan đến kết quả công việc của cá nhân sử dụng HTTT trong môi trường ứng dụng CNTT và các nghiên cứu liên quan đến kết quả công việc của cá nhân trong môi trường ứng dụng hệ thống ERP

(1) Khái quát các nghiên cứu liên quan đến kết quả công việc của cá nhân sử dụng HTTT trong môi trường ứng dụng CNTT

Phụ lục 2 (trang 5PL) tổng hợp các nghiên cứu liên quan đến kết quả công việc của cá nhân sử dụng HTTT trong môi trường ứng dụng CNTT (PER) Các nghiên cứu này có thể gom thành hai nhóm theo vai trò của khái niệm kết quả công việc cá nhân Nhóm thứ nhất là các nghiên cứu tìm hiểu yếu tố tác động đến kết quả công việc của cá nhân sử dụng HTTT (khái niệm PER đóng vai trò là biến nội sinh) Nhóm thứ hai là các nghiên cứu xem kết quả công việc của cá nhân sử dụng HTTT như là một yếu tố tác động đến yếu tố khác hay xem kết quả công việc của cá nhân sử dụng HTTT là trung gian cho tác động giữa hai yếu tố khác (khái niệm PER đóng vai trò là biến trung gian hoặc biến ngoại sinh)

Các nghiên cứu hiện tại về kết quả công việc của cá nhân sử dụng HTTT trong môi trường ứng dụng CNTT chủ yếu xem PER là biến nội sinh PER thường được xem là

Trang 30

biến nội sinh bởi vì kết quả công việc cá nhân là chỉ số chính đo lường sự thành công của HTTT/ hệ thống ERP (Sykes và cộng sự (2014), Nah và cộng sự (2003), Umble và cộng

sự (2003)) nên kết quả công việc của cá nhân sử dụng HTTT thường được xem là biến phụ thuộc cuối cùng Trong các nghiên cứu liệt kê tại phụ lục 2, phần lớn là các nghiên cứu thuộc nhóm này như nghiên cứu của Goodhue và Thompson (1995), Goodhue (1995), Etezadi-Amoli và Farhoomand (1996), Igbaria và Tan (1997), Wongpinunwatana

và cộng sự (2000), Belanger và cộng sự (2001), Tesch và cộng sự (2003), Staples và Seddon (2004)

Phụ lục 2 cho thấy, một số yếu tố tác động đến kết quả công việc cá nhân sử dụng HTTT trong môi trường ứng dụng CNTT được rút ra từ các nghiên cứu đi trước gồm: sự phù hợp giữa nhiệm vụ và công nghệ, việc sử dụng công nghệ, tài liệu về công nghệ, tính dễ

sử dụng của công nghệ, chất lượng đầu ra, sự hỗ trợ sử dụng công nghệ, tính an ninh của công nghệ, sự thỏa mãn của người sử dụng, chuẩn chủ quan của xã hội, sự khác biệt về

kỳ vọng kỹ năng của người sử dụng HTTT và cảm nhận kỹ năng chuyên nghiệp của họ,

sự hỗ trợ theo chiều dọc, sự hỗ trợ giải thích chuyên sâu,…

(2) Khái quát các nghiên cứu liên quan đến kết quả công việc của cá nhân trong môi trường ứng dụng hệ thống ERP

Phụ lục 3 (trang 8PL) tổng hợp các nghiên cứu liên quan đến kết quả công việc của cá nhân sử dụng hệ thống ERP (PER) Khác với các nghiên cứu liên quan đến kết quả công việc của cá nhân sử dụng HTTT trong môi trường ứng dụng CNTT ở trên, các nghiên cứu nước ngoài liên quan đến kết quả công việc của cá nhân sử dụng hệ thống ERP là không

có nhiều Các nghiên cứu này chỉ xem PER là biến nội sinh bị tác động bởi các biến ngoại sinh khác Kết quả rút ra từ các nghiên cứu này cho thấy các yếu tố có tác động đến kết quả công việc cá nhân sử dụng hệ thống ERP gồm đặc điểm về sự đổi mới, đặc điểm của môi trường, sự thỏa mãn của người sử dụng, sự phù hợp giữa nhiệm vụ và công nghệ,

sự sử dụng, việc nhận được hỗ trợ liên quan đến công việc và phần mềm, đưa ra sự hỗ trợ liên quan đến công việc và phần mềm, sự thỏa mãn của người sử dụng, sự thỏa mãn trong công việc, cấu trúc hỗ trợ truyền thống, những tư vấn cẩn thận về hệ thống ERP, khả năng hấp thụ để đồng hóa hệ thống ERP, khả năng hấp thụ để áp dụng hệ thống ERP

Trang 31

Nhận xét

Các nghiên cứu nước ngoài liên quan đến kết quả công việc cá nhân sử dụng HTTT trong môi trường CNTT đã được thực hiện nhiều Tuy nhiên, các nghiên cứu cùng chủ đề nhưng trong bối cảnh sử dụng hệ thống ERP thì chưa có nhiều Do chủ đề nghiên cứu về kết quả công việc cá nhân là một chủ đề nghiên cứu không mới nên phần lớn các nghiên cứu về kết quả công việc cá nhân sử dụng HTTT trong môi trường CNTT và cả các nghiên cứu về kết quả công việc cá nhân sử dụng hệ thống ERP đều sử dụng phương pháp định lượng để thực hiện nghiên cứu Bên cạnh đó, phần lớn các nghiên cứu về kết quả công việc cá nhân sử dụng sử dụng HTTT trong môi trường CNTT/ sử dụng hệ thống ERP đều xem khái niệm PER là biến nội sinh tức khái niệm cuối cùng cần nghiên cứu Tổng hợp các nghiên cứu về kết quả công việc cá nhân sử dụng sử dụng HTTT trong môi trường CNTT/ hệ thống ERP cho thấy một số vấn đề đáng chú ý như sau:

- Thứ nhất, hiện tại có rất nhiều nhân tố được chứng minh rằng có tác động đến kết quả công việc cá nhân sử dụng sử dụng HTTT Tuy nhiên, mỗi nghiên cứu, do nghiên cứu trong các bối cảnh CNTT khác nhau và tại các quốc gia khác nhau, lại cho ra những kết quả khác nhau

- Thứ hai, kết quả công việc của các bên liên quan khác nhau là khác biệt giữa các nhóm đối tượng khác nhau như nhà quản trị, chuyên gia HTTT và nhân viên (Tesch

- Thứ tư, hiện tại có rất ít nghiên cứu về kết quả công việc cá nhân sử dụng sử dụng HTTT trong môi trường CNTT/ sử dụng hệ thống ERP nghiên cứu đối tượng là nhân viên kế toán Tác giả chỉ tìm thấy nghiên cứu của Wongpinunwatana và cộng sự

Trang 32

(2000) nghiên cứu về kết quả công việc của nhân viên kiểm toán (đối tượng khá gần với nhân viên kế toán)

1.3 Khái quát các nghiên cứu nước ngoài về các nhân tố có thể có tác động đến

kết quả công việc của cá nhân trong môi trường ứng dụng CNTT

1.3.1 Giới thiệu

Để khái quát hóa các nghiên cứu liên quan đến chủ đề nghiên cứu của nghiên cứu này đó

là tìm hiểu các nhân tố tác động đến kết quả công việc của nhân viên kế toán sử dụng hệ thống ERP, mục này giới thiệu khái quát các nghiên cứu liên quan đến các khái niệm gồm sự phù hợp giữa nhiệm vụ và công nghệ, lợi ích kế toán do ứng dụng ERP, cảm nhận tính hữu ích của hệ thống ERP, sự thỏa mãn của người sử dụng và sự thỏa mãn trong công việc của người sử dụng HTTT

Lý do vì sao nghiên cứu này lựa chọn các nhân tố gồm sự phù hợp giữa nhiệm vụ và công nghệ, lợi ích kế toán do ứng dụng ERP, cảm nhận tính hữu ích của hệ thống ERP,

sự thỏa mãn của người sử dụng và sự thỏa mãn trong công việc của người sử dụng HTTT ERP để nghiên cứu về tác động của các nhân tố đến kết quả công việc cá nhân sử dụng hệ thống ERP được giải thích sơ lược trong phụ lục 1 (trang 1PL) và giải thích chi tiết trong chương 2 Sau đây là một số nhận định được rút ra từ phần nhận xét các nghiên cứu về kết quả công việc của cá nhân sử dụng HTTT trong môi trường ứng dụng CNTT/ hệ thống ERP (mục 1.2):

- Thứ nhất, tiếp tục kế thừa các nghiên cứu đi trước, rất nhiều nghiên cứu tìm hiểu tác động của sự phù hợp giữa nhiệm vụ và công nghệ đến kết quả công việc cá nhân (Goodhue và Thompson (1995), Goodhue (1995), Goodhue và cộng sự (1997), Wongpinunwatana cộng sự (2000), Staples và Seddon (2004), Kositanurit

và cộng sự (2006)) vì vậy trong nghiên cứu này để đánh giá các nhân tố tác động đến cảm nhận kết quả công việc của nhân viên kế toán sử dụng hệ thống ERP, nghiên cứu đã kiểm tra sự phù hợp giữa nhiệm vụ và công nghệ có tác động đến cảm nhận kết quả công việc của nhân viên kế toán sử dụng hệ thống ERP

- Thứ hai, các nghiên cứu nước ngoài liên quan đã trình bày tại mục 1.2 cho thấy, nhiều nghiên cứu chứng minh rằng, sự thỏa mãn của người sử dụng có tác động

Trang 33

đáng kể đến kết quả công việc của cá nhân sử dụng HTTT Theo Jiang và cộng sự (2012) thì sự thỏa mãn của cá nhân đối với HTTT được chia thành hai loại gồm sự thỏa mãn của người sử dụng đối với HTTT và sự thỏa mãn của nhân viên liên quan đến công việc Tuy nhiên, hiện tại các nghiên cứu nước ngoài, phần lớn chứng minh rằng sự thỏa mãn của người sử dụng đối với HTTT (gọi tắt là sự thỏa mãn của người sử dụng) có tác động đến kết quả công việc của cá nhân sử dụng HTTT như nghiên cứu của Etezadi-Amoli và Farhoomand (1996), Igbaria và Tan (1997), Bradford và Florin (2003), Kositanurit và cộng sự (2006), … Tác giả chỉ tìm thấy nghiên cứu của Sykes và cộng sự (2014) chứng minh kết quả công việc của cá nhân sử dụng hệ thống ERP bị tác động bởi sự thỏa mãn trong công việc của họ Vì vậy, nhằm mục tiêu tăng cường kiến thức về yếu tố tác động đến cá nhân sử dụng hệ thống ERP, nghiên cứu này tìm hiểu xem liệu rằng sự thỏa mãn trong công việc của người sử dụng hệ thống ERP có tác động đến cảm nhận kết quả công việc của họ hay không

- Thứ ba, các nghiên cứu nước ngoài về kết quả công việc cá nhân sử dụng HTTT chứng minh rằng tính dễ sử dụng của HTTT có tác động đến kết quả công việc của

cá nhân sử dụng HTTT (như nghiên cứu của Etezadi-Amoli và Farhoomand (1996), Kositanurit và cộng sự (2006),…) Chú ý rằng, khái niệm tính dễ sử dụng của HTTT xuất phát từ mô hình TAM (David và cộng sự, 1989), trong mô hình này, tính dễ sử dụng của CNTT cùng với cảm nhận tính hữu ích của CNTT có tác động đến ý định sử dụng CNTT và từ đó chi phối hành vi chấp nhận sử dụng CNTT Như vậy rõ ràng tính dễ sử dụng của HTTT được chứng minh rằng có tác động đến kết quả công việc cá nhân sử dụng HTTT là dựa vào mô hình TAM Vì vậy, nghiên cứu này cũng dựa vào mô hình TAM để kiểm tra xem, yếu tố còn lại trong mô hình TAM đó là cảm nhận tính hữu ích của CNTT có tác động đến cảm nhận kết quả công việc cá nhân sử dụng CNTT mà cụ thể là hệ thống ERP hay không? Yếu tố này được đưa vào nghiên cứu đã giúp gia tăng ý nghĩa của nghiên cứu

- Thứ tư, như đã tổng hợp tại mục 1.2, có rất ít nghiên cứu đã nghiên cứu kết quả công việc của cá nhân trong lĩnh vực kế toán Nghiên cứu này đi sâu vào nghiên cứu kết quả công việc của cá nhân trong lĩnh vực kế toán, vì vậy để góp phần

Trang 34

mang lại những kiến thức sâu hơn về yếu tố tác động đến cảm nhận kết quả công việc của nhân viên kế toán trong bối cảnh sử dụng hệ thống ERP, nghiên cứu này dựa vào mô hình thành công của HTTT (DeLone và McLean, 2003) (xem chương 2) để đưa thêm yếu tố cảm nhận về lợi ích kế toán do ứng dụng ERP (gọi tắt là lợi ích kế toán do ứng dụng ERP) vào nghiên cứu

Phần tiếp theo của mục này lần lượt giới thiệu từng nhóm nghiên cứu liên quan đến từng khái niệm gồm sự phù hợp giữa nhiệm vụ và công nghệ, lợi ích kế toán do ứng dụng ERP, cảm nhận tính hữu ích của hệ thống ERP, sự thỏa mãn của người sử dụng và sự thỏa mãn trong công việc của người sử dụng HTTT

1.3.2 Khái quát các nghiên cứu liên quan đến sự phù hợp giữa nhiệm vụ và công

nghệ

Các nghiên cứu liên quan đến sự phù hợp giữa nhiệm vụ và công nghệ đã được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới thực hiện Xuất phát từ vấn đề nghiên cứu và mục tiêu nghiên cứu của đề tài, phần này giới thiệu các nghiên cứu về sự phù hợp giữa nhiệm vụ và công nghệ trong bối cảnh ứng dụng hệ thống ERP Tất cả các nghiên cứu được giới thiệu ở đây đều có đơn vị phân tích là cá nhân Phụ lục 4 (trang 9PL) tổng hợp các nghiên cứu về sự phù hợp giữa nhiệm vụ và công nghệ trong HTTT/ hệ thống ERP (TTF)

Dựa vào các nghiên cứu được giới thiệu trong phụ lục 4, có thể nhận thấy một số vấn đề cần chú ý về các nghiên cứu nước ngoài liên quan đến sự phù hợp giữa nhiệm vụ và công

nghệ trong HTTT/ hệ thống ERP như sau:

- Thứ nhất, tính cho đến thời điểm hiện tại, các nghiên cứu về sự phù hợp giữa nhiệm vụ và công nghệ trong HTTT đã được thực hiện tương đối nhiều Tuy nhiên, nghiên cứu về TTF trong bối cảnh sử dụng hệ thống ERP là không có nhiều Tác giả chỉ tìm thấy nghiên cứu của Kositanurit và cộng sự (2006) đã nghiên cứu khái niệm TTF trong bối cảnh sử dụng hệ thống ERP

- Thứ hai, trong số rất nhiều các nghiên cứu về TTF, tác giả chỉ tìm thấy nghiên cứu của Wongpinunwatana và cộng sự (2000) được thực hiện trong lĩnh vực kế toán

Trang 35

Trong nghiên cứu này, TTF được chứng mình rằng nó có tác động đáng kể đến kết quả công việc của nhân viên kiểm toán

- Thứ ba, do khái niệm sự phù hợp giữa nhiệm vụ và công nghệ có xuất phát từ lý thuyết sự phù hợp giữa nhiệm vụ và công nghệ (Goodhue, 1995; Goodhue và Thompson, 1995; Zigurs và Buckland, 1998) đã được đề xuất khá lâu, vì vậy phần lớn các nghiên cứu về sự phù hợp giữa nhiệm vụ và công nghệ trong HTTT/ hệ thống ERP được thực hiện bằng phương pháp định lượng

- Thứ tư, phần lớn các nghiên cứu về sự phù hợp giữa nhiệm vụ và công nghệ trong HTTT/ hệ thống ERP đã sử dụng kỹ thuật hồi quy và CB_SEM để phân tích dữ liệu Số ít nghiên cứu đã sử dụng PLS_SEM như nghiên cứu của D'Ambra và Wilson (2004b), Staples và Seddon (2004), …

- Thứ năm, trong các nghiên cứu về sự phù hợp giữa nhiệm vụ và công nghệ trong HTTT/ hệ thống ERP, khái niệm TTF vừa được xem là biến nội sinh, vừa được xem là biến ngoại sinh trong một mô hình đường dẫn phức tạp Một số ít nghiên cứu chỉ xem TTF là biến ngoại sinh tức là nó có tác động đến các yếu tố khác (như nghiên cứu của Staples và Seddon (2004), Kositanurit và cộng sự (2006), Wu và cộng sự (2007), Teo và Bing (2008), Tjahjono (2009)) Chú ý rằng các nghiên cứu xem TTF là biến ngoại sinh đa số được thực hiện trong khoảng thời gian gần đây

- Thứ sáu, trong các nghiên cứu mà TTF đóng vai trò là biến nội sinh, các yếu tố đã được khám phá là có tác động đến TTF gồm các đặc điểm nhiệm vụ, các đặc điểm

cá nhân, các đặc điểm kỹ thuật, các đặc điểm của HTTT/ dịch vụ, các kỹ năng và khả năng của cá nhân, chức năng của công cụ, khả năng thay thế (định hướng thay thế, sự hình dung), tính tự hiệu quả, các thuộc tính của công nghệ (tính liên tục, tích thích ứng, khả năng học hỏi),…

- Thứ bảy, trong các nghiên cứu mà TTF đóng vai trò là biến ngoại sinh, thì TTF được chứng minh là có tác động đến các yếu tố như kết quả công việc, các đối tượng gây áp lực cho việc sử dụng, phản hồi về việc phân bổ các nguồn lực, cảm nhận tính dễ sử dụng, cảm nhận về tính hữu ích, định hướng sử dụng, hành vi sử dụng công cụ thực sự, sự chắc chắn của người sử dụng về tính chính xác của các giải pháp, mong được sử dụng, cảm nhận về vai trò, cảm nhận rủi ro,…

Trang 36

- Thứ tám, trong các nghiên cứu về TTF thì nghiên cứu của Staples và Seddon (2004) đã chứng minh rằng sự phù hợp giữa nhiệm vụ và công nghệ có tác động đến kết quả công việc cá nhân trong cả hai trường hợp sử dụng CNTT tự nguyện

và sử dụng CNTT bắt buộc

1.3.3 Khái quát các nghiên cứu liên quan đến lợi ích kế toán do ứng dụng ERP

Đã có nhiều công trình nghiên cứu về lợi ích nói chung và lợi ích kế toán trong môi trường ứng dụng ERP được công bố trên thế giới Tuy nhiên, nghiên cứu về vấn đề này tại Việt Nam theo tìm hiểu của tác giả là chưa có Phụ lục 5 (trang 13PL) liệt kê một số nghiên cứu trên thế giới về lợi ích kế toán trong môi trường ứng dụng ERP (ACBNE) Như mục 1.1 đã giới thiệu, mặc dù nghiên cứu này có đơn vị phân tích là cá nhân, tuy nhiên, do các nghiên cứu trên thế giới về lợi ích kế toán do ứng dụng ERP với đơn vị phân tích là cá nhân cũng sử dụng các nghiên cứu về lợi ích kế toán mà tổ chức đạt được làm nền tảng cho nghiên cứu (như nghiên cứu của Kanellou và Spathis (2013)), vì vậy để làm cơ sở xác định khe hổng nghiên cứu, phần này giới thiệu cả hai nhóm nghiên cứu về lợi ích kế toán do ứng dụng hệ thống ERP có đơn vị phân tích là cá nhân và đơn vị phân tích là tổ chức

Dựa vào các nghiên cứu trình bày trong phụ lục 5, có thể nhận xét các nghiên cứu liên quan đến lợi ích kế toán do ứng dụng ERP ở nước ngoài theo các hướng sau:

- Thứ nhất, các nghiên cứu liên quan đến lợi ích kế toán do ứng dụng ERP chỉ mới được thực hiện ở mức độ sơ khai Phần lớn các nghiên cứu đi tìm kiếm các lợi ích

kế toán do ứng dụng hệ thống ERP là những lợi ích nào tức là tìm kiếm thang đo cho khái niệm lợi ích kế toán do ứng dụng ERP Tác giả chỉ tìm thấy một nghiên cứu xem lợi ích kế toán do ứng dụng ERP là biến độc lập có tác động đến biến phụ thuộc đó là sự thỏa mãn của người sử dụng hệ thống ERP (nghiên cứu của Kanellou và Spathis (2013))

- Thứ hai, do các nghiên cứu về lợi ích kế toán do ứng dụng ERP là chủ đề mới nên được nghiên cứu chủ yếu bằng phương pháp định tính và phương pháp hỗn hợp Các nghiên cứu định tính về chủ đề này chủ yếu sử dụng phương pháp tình huống (case study) như nghiên cứu của Granlund và Malmi (2002), Scapens và Jazayeri's

Trang 37

(2003), Spathis và Constantinides (2004), Spathis và Ananiadis (2005), Järvenpää (2007), Hyvönen và cộng sự (2008), Colmenares (2009) Một số nghiên cứu định lượng thì sử dụng phương pháp khảo sát với kỹ thuật xử lý dữ liệu đơn giản như EFA hay hồi quy như nghiên cứu của Nicolaou (2004), Spathis và Ananiadis (2005), Spathis (2006), Rom và Rohde (2006), Kanellou và Spathis (2013)

- Thứ ba, phần lớn các nghiên cứu về lợi ích kế toán do ứng dụng ERP, tập trung vào tác động tích cực của ERP đến công tác kế toán quản trị như nghiên cứu của Granlund và Malmi (2002), Scapens và Jazayeri's (2003), Newman và Westrup (2005), Rom và Rohde (2006), Järvenpää (2007), Hyvönen và cộng sự (2008), Colmenares (2009),… Một số ít nghiên cứu đánh giá tổng thể các lợi ích kế toán

do ứng dụng ERP như nghiên cứu của Booth và cộng sự (2000), Spathis và Constantinides (2004) và Kanellou và Spathis (2013)

- Thứ tư, các nghiên cứu về lợi ích kế toán do ứng dụng ERP có đơn vị phân tích là

cá nhân hay tổ chức thì đều kế thừa nghiên cứu của nhau Một vài nghiên cứu về lợi ích kế toán do ứng dụng ERP có đơn vị phân tích là cá nhân kế thừa thang đo lợi ích kế toán do ứng dụng ERP từ các nghiên cứu cùng chủ đề có đơn vị phân tích là tổ chức (như nghiên cứu của Newman và Westrup (2005), Kanellou và Spathis (2013))

1.3.4 Khái quát các nghiên cứu liên quan đến cảm nhận tính hữu ích của hệ thống

ERP

Khái niệm cảm nhận tính hữu ích của CNTT có xuất phát từ mô hình TAM (David và cộng sự, 1989) Khái niệm này đã được kế thừa và đổi tên thành khái niệm kết quả kỳ vọng trong mô hình UTAUT (Venkatesh và cộng sự, 2003) Vì vậy, để tổng hợp các nghiên cứu về cảm nhận tính hữu ích của hệ thống ERP, nghiên cứu này tìm kiếm các nghiên cứu nước ngoài về cảm nhận tính hữu ích và kết quả kỳ vọng (PU) đối với hệ thống ERP Do các nghiên cứu về cảm nhận tính hữu ích đối với CNTT đã được thực hiện rất nhiều và từ lâu, vì vậy, nghiên cứu này không tổng hợp các nghiên cứu về cảm nhận tính hữu ích đối với CNTT nói chung mà đi sâu tìm kiếm và tổng hợp các nghiên cứu liên quan đến cảm nhận tính hữu ích đối với hệ thống ERP

Trang 38

Khác với các các nghiên cứu về lợi ích kế toán do ứng dụng hệ thống ERP, chủ yếu được xác định trên đơn vị phân tích là tổ chức, các nghiên cứu về tính hữu ích/ kết quả kỳ vọng của hệ thống ERP mà tác giả tìm hiểu được, chủ yếu dựa trên đơn vị phân tích là cá nhân Phụ lục 6 (trang 16PL) giới thiệu một số nghiên cứu về tính hữu ích/ kết quả kỳ vọng của

hệ thống ERP có đối tượng phân tích là cá nhân

Theo phụ lục 6, có thể nhận định một số vấn đề về các nghiên cứu liên quan đến cảm nhận tính hữu ích của hệ thống ERP như sau:

- Thứ nhất, tất cả các nghiên cứu được liệt kê trong phụ lục 6 đều được thực hiện bằng phương pháp định lượng Như vậy, có thể kết luận rằng, phần lớn các nghiên cứu về cảm nhận tính hữu ích của hệ thống ERP được thực hiện bằng phương pháp định lượng Điều này là hoàn toàn hợp lý bởi khái niệm PU đã được nghiên cứu rất nhiều trong lĩnh vực HTTT/ CNTT, do đó việc thực hiện các nghiên cứu định tính là không cần thiết

- Thứ hai, các nghiên cứu định lượng về PU trong được thực hiện trong giai đoạn trước năm 2010 chủ yếu sử dụng kỹ thuật xử lý dữ liệu là hồi quy hay CB_SEM Ngược lại, các nghiên cứu ở giai đoạn sau này thường áp dụng kỹ thuật phân tích PLS_SEM

- Thứ ba, phần lớn các nghiên cứu về cảm nhận tính hữu ích của hệ thống ERP đều xem PU là biến trung gian tức là nó vừa đóng vai trò là biến nội sinh, vừa đóng vai trò là biến ngoại sinh

- Thứ tư, nếu PU đóng vai trò là biến nội sinh thì các yếu tố đã được chứng minh là

có tác động đến PU gồm cảm nhận tính dễ sử dụng của hệ thống ERP, sự chia sẻ niềm tin về hệ thống ERP, khả năng của hệ thống, bộ phận làm việc, cấp bậc (chức vụ), trình độ giáo dục, tuổi, giới tính, kinh nghiệm về máy tính, các yếu tố công nghệ, các yếu tố tổ chức, yếu tố người sử dụng, yếu tố nhà quản trị dự án, sự hỗ trợ của tổ chức, tính có thể chứng minh được của kết quả, tính thích hợp của ERP, các đặc điểm quy trình tổ chức, sự thay đổi phong cách lãnh đạo, sự truyền thông, chuẩn chủ quan, chất lượng đầu ra, sự chống đối những thay đổi, tính tự hiệu quả của máy tính (computer self-efficacy), sự huấn luyện, khả năng tương thích,…

Trang 39

- Thứ năm, nếu PU đóng vai trò là biến ngoại sinh thì PU được chứng minh rằng có tác động đến các yếu tố như thái độ hướng đến việc sử dụng ERP, sự thỏa mãn của người sử dụng, định hướng sử dụng, hành vi sử dụng hệ thống ERP, sự chấp nhận mang tính biểu tượng (symbolic adoption), sự quan tâm đối với hệ thống ERP,…

1.3.5 Khái quát các nghiên cứu liên quan đến sự thỏa mãn của người sử dụng và sự

thỏa mãn trong công việc trong HTTT/ hệ thống ERP

Theo lý thuyết về sự khác biệt (Discrepancy theory), sự thỏa mãn đối với HTTT được chia thành hai loại gồm sự thỏa mãn của người sử dụng đối với HTTT và sự thỏa mãn của nhân viên liên quan đến công việc đối với HTTT (Jiang và cộng sự, 2012) Các nghiên cứu về sự thỏa mãn của người sử dụng đối với HTTT cũng như các nghiên cứu về

sự thỏa mãn của người sử dụng đối với hệ thống ERP đã được thực hiện khá nhiều như các nghiên cứu của Hsu và cộng sự (2015), Tajuddin (2015), Zhang (2010), Schaupp (2010), McGill và Klobas (2008), Wu và Wang (2007), Nadkarni và Gupta (2007), Wu

và Wang (2006), Wixom và Todd (2005), Karimi và cộng sự (2004), Negash và cộng sự (2003), McKinney và cộng sự (2002), Etezadi-Amoli và Farhoomand (1996), Igbaria và Nachman (1990), Igbaria và Tan (1997), Bailey và Pearson (1983), … Tuy nhiên các nghiên cứu về sự thỏa mãn của người sử dụng liên quan đến công việc trong HTTT thì không nhiều và đặc biệt các nghiên cứu về sự thỏa mãn trong công việc của người sử dụng liên quan đến việc sử dụng hệ thống ERP thì rất ít Vì vậy, trong phụ lục 7 (trang 19PL) tác giả tập trung giới thiệu một số nghiên cứu về sự thỏa mãn của người sử dụng đối với công việc trong một HTTT nói chung Các nghiên cứu được giới thiệu trong phụ lục 7 có đơn vị phân tích là cá nhân

Dựa vào phụ lục 7, một số nhận định sau được đề xuất về các nghiên cứu liên quan đến

sự thỏa mãn trong công việc của người sử dụng HTTT/ hệ thống ERP (JOBSA):

- Thứ nhất, tính cho đến thời điểm hiện tại, các nghiên cứu về sự thỏa mãn trong công việc của người sử dụng HTTT là không được thực hiện nhiều như các nghiên cứu về sự thỏa mãn của người sử dụng đối với HTTT Đặc biệt, tác giả chỉ tìm thấy một số ít nghiên cứu đã nghiên cứu về sự thỏa mãn trong công việc của người

Trang 40

sử dụng hệ thống ERP Đó là các nghiên cứu của Morris và Venkatesh (2010), Sykes và cộng sự (2014) và nghiên cứu của Sykes (2015)

- Thứ hai, do khái niệm sự thỏa mãn trong công việc đã được nghiên cứu khá lâu, đặc biệt là trong lĩnh vực tâm lý (Judge và cộng sự, 2001) nên phần lớn các nghiên cứu về sự thỏa mãn mãn trong công việc của người sử dụng HTTT/ hệ thống ERP được thực hiện bằng phương pháp định lượng Như vậy, khái niệm này không phải

là khái niệm mới nhưng nó chưa được quan tâm nghiên cứu trong bối cảnh sử dụng hệ thống ERP

- Thứ ba, phần lớn các nghiên cứu về sự thỏa mãn trong công việc của người sử dụng HTTT/ hệ thống ERP đã sử dụng kỹ thuật SEM để phân tích dữ liệu Trong

đó CB_SEM được sử dụng nhiều hơn so với kỹ thuật PLS_SEM

- Thứ tư, trong các nghiên cứu về sự thỏa mãn trong công việc của người sử dụng HTTT/ hệ thống ERP, khái niệm sự thỏa mãn trong công việc của người sử dụng

có thể được xem là biến nội sinh, cũng có thể được xem là biến ngoại sinh hoặc là biến kiểm soát

- Thứ năm, trong các nghiên cứu mà sự thỏa mãn trong công việc của người sử dụng HTTT/ hệ thống ERP đóng vai trò là biến nội sinh hay biến kiểm soát, các yếu tố đã được khám phá là có tác động đến sự thỏa mãn trong công việc của người sử dụng HTTT/ hệ thống ERP gồm sự xung đột trong vai trò, tham vọng trong công việc, chất lượng của sản phẩm thông tin, các yếu tố neo giữ công việc trong nội bộ, các cơ hội việc làm ở bên ngoài, sự khác biệt về kỳ vọng kỹ năng của người sử dụng HTTT và cảm nhận kỹ năng chuyên nghiệp của họ, sự tạo ra áp lực

do công nghệ, sự ngăn chặn áp lực do công nghệ, tham vọng về vai trò trong công việc, sự quá tải công việc, sự khác biệt về kỹ năng, sự tự chủ, sự phản hồi, kết quả công việc, cấu trúc hỗ trợ truyền thống, những tư vấn cẩn thận về hệ thống ERP,…

- Thứ sáu, trong các nghiên cứu mà sự thỏa mãn trong công việc của người sử dụng HTTT/ hệ thống ERP đóng vai trò là biến ngoại sinh, thì sự thỏa mãn trong công việc của người sử dụng HTTT/ hệ thống ERP được chứng minh là có tác động đến các yếu tố như cam kết không rời bỏ tổ chức, định hướng luân chuyển công việc của nhân viên, cảm nhận về tính hiệu quả của sự đổi mới,…

Ngày đăng: 24/10/2018, 19:06

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w