Đáng lưu ý hơn cả là phương pháp hấp phụ và trao đổi ion: một trong những biện pháp hiệu quả trong xử lý nước khi so sánh với các phương pháp xử lý khác do lợi thế dễ thực hiện, không ph
Trang 1BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
TÊN ĐỀ TÀI:
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG XỬ LÝ KIM LOẠI TRONG NƯỚC
BẰNG POLYME SINH HỌC (BIOPOLYMER)
TÁCH TỪ BÙN THẢI SINH HỌC
CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
LÊ THỊ CHUNG
Trang 2BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
TÊN ĐỀ TÀI:
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG XỬ LÝ KIM LOẠI TRONG NƯỚC
BẰNG POLYME SINH HỌC (BIOPOLYMER)
TÁCH TỪ BÙN THẢI SINH HỌC
LÊ THỊ CHUNG
CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
MÃ SỐ: 60440301
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS NGUYỄN VIẾT HOÀNG
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU 6
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Kim loại – nguồn gốc phát sinh và mức độ ảnh hưởng 4
1.1.1 Nguồn gốc phát sinh kim loại 4
1.1.2 Mức độ ảnh hưởng của kim loại 4
1.2 Vài nét về kim loại đồng 5
1.2.1 Giới thiệu chung kim loại đồng 5
1.2.2 Nguồn gốc phát sinh 6
1.2.3 Các phương pháp xử lý kim loại đồng 8
1.3 Tổng quan về EPS 11
1.3.1 Khái niệm chung về EPS 11
1.3.2 Đặc điểm thành phần hóa học của EPS 11
1.3.3 Một số tính chất chính của EPS 12
1.3.4 Các phương pháp tách EPS 14
1.3.5 Ứng dụng của EPS trong xử lý kim loại 18
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20 2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 20
2.2 Vật liệu thí nghiệm 20
2.2.1 Bùn thải 20
2.2.2 Nước thải 20
2.3 Thực nghiệm 20
2.3.1 Quy trình vận hành thiết bị pilot xử lý nước thải sinh hoạt để lấy sinh khối tách EPS 20
2.3.2 Phương pháp tách thu EPS từ bùn thải sinh học nuôi cấy 21
2.4 Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả xử lý ion kim loại Cu 2+ của polymer ngoại bào 24
2.4.1 Đánh giá ảnh hưởng của pH 24
Trang 42.4.3 Đánh giá ảnh hưởng của nồng độ EPS 25
2.5 Phương pháp phân tích 25
2.5.1 Xác định khối lượng EPS thu được 25
2.5.2 Phân tích hàm lượng protein, polysaccharide và acid nucleic trong polymer ngoại bào 26
2.5.3 Đo phổ hồng ngoại 26
2.5.4 Phân tích xác định Cu2+ bằng phương pháp phổ hấp phụ nguyên tử AAS theo TCVN 6193: 1996 26
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 27
3.1 Thành phần, đặc tính của EPS tách từ bùn thải bằng các phương pháp khác nhau 27
3.1.1 Hàm lượng EPS 27
3.1.2 Thành phần hóa học của EPS thu được 29
3.2 Kết quả phân tích phổ hồng ngoại 34
3.3 Hiệu quả xử lý Cu 2+ của EPS tách bằng các phương pháp khác nhau 37
3.4 Thử nghiệm đánh giá khả năng xử lý ion kim loại Cu 2+ của EPS 39
3.4.1 Ảnh hưởng của pH đến hiệu quả xử lý 39
3.4.2 Ảnh hưởng của thời gian phản ứng đến hiệu quả xử lý 40
3.4.3 Ảnh hưởng của nồng độ EPS tới hiệu quả xử lý 42
3.5 Kết quả thử nghiệm xử lý ion kim loại Cu 2+ của EPS đối với mẫu nước thải thực tế 43
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 46
1 Kết luận 46
2 Kiến nghị 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
Trang 5DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 2.1 Quy trình tách EPS theo các phương pháp khác nhau 22 Hình 3.1 So sánh thành phần hóa học của EPS được tách bằng các phương pháp khác nhau (PN, PS và AN là hàm lượng protein, polysaccharide và acid nucleic) 31 Hình 3.2 Mối quan hệ giữa hiệu suất xử lý kim loại với hàm lượng Protein 33 Hình 3.3 Mối quan hệ giữa hiệu suất xử lý kim loại với hàm lượng Polysaccharide 34 Hình 3.4 Mối quan hệ giữa hiệu suất xử lý kim loại với hàm lượng Nucleic acid 34 Hình 3.5 Phổ IR của EPS được tách bằng các phương pháp khác nhau 36 Hình 3.6 Thể hiện hiệu quả xử lý kim loại Cu2+ của EPS thô và EPS tinh tách bằng các phương pháp khác nhau 37 Hình 3.7 Đồ thị biểu diễn ảnh hưởng của pH đến khả năng hấp phụ Cu(II) của EPS 40 Hình 3.8 Đồ thị biểu diễn ảnh hưởng thời gian đến khả năng hấp phụ Cu(II) của EPS 41 Hình 3.9 Đồ thị biểu diễn ảnh hưởng nồng độ EPS đến khả năng hấp phụ Cu(II) 43 Hình 3.10 Đồ thị biểu diễn ảnh hưởng nồng độ của EPS đến khả năng hấp phụ Cu(II) 44
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Hàm lượng một số kim loại nặng trong nước thải một số làng nghề tái chế 7 Bảng 1.2 Thành phần hóa học của EPS 12 Bảng 1.3 Các phương pháp tách EPS 16 Bảng 3.1 Kết quả phân tích khối lượng, thành phần hóa học của EPS được tách bằng các phương pháp khác nhau 27 Bảng 3.2 So sánh kết quả khối lượng EPS tách được với các nghiên cứu khác 29 Bảng 3.3 Kết quả khảo sát ảnh hưởng pH đến khả năng hấp phụ của Cu(II) 39 Bảng 3.4 Kết quả khảo sát ảnh hưởng thời gian đến khả năng hấp phụ Cu(II) của EPS 41
Trang 7LỜI CẢM ƠN
Trong khoảng thời gian tham gia nghiên cứu về chuyên đề: được tiếp xúc với các phương pháp với giúp em củng cố và nâng cao được kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp làm hành trang cho em bước đi trên con đường tương lai
Qua đây em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến:
Ban giám hiệu trường cùng các thầy cô trong khoa Môi trường – Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội đã tạo cho em một môi trường học tập tích cực, đã giảng dạy và truyền đạt cho em hành trang kiến thức vô cùng quý báu
Phòng Giải pháp Công nghệ Cải thiện Môi trường – Viện Công nghệ Môi trường – Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, là nơi em công tác và trực tiếp tham gia nghiên cứu, hoàn thiện luận văn tốt nghiệp của mình
TS Nguyễn Viết Hoàng người đã tận tình hưỡng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ
em trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp Kính chúc TS Nguyễn Viết Hoàng công tác tốt, dồi dào sức khỏe và tiếp tục thực hiện sứ mệnh cao đẹp của mình là truyền đạt kiên thức cho thế hệ mai sau
TS Mai Văn Tiến – giảng viên bộ môn Công nghệ Môi trường – Khoa Môi trường – Trường Đại học Tài Nguyên và Môi trường Hà Nội, người đã dành nhiều công sức, thời gian với sự tâm huyết để giúp đỡ em hoàn thiện luận văn tốt nghiệp
Sau cùng em xin gửi lời cảm ơn tới gia đình đã luôn động viên và là chỗ dựa vững chắc cho em trong suốt quá trình học tập và làm việc
Hà Nội, tháng 7 năm 1018
Sinh viên
Lê Thị Chung
Trang 8LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng luận văn này là thành quả của bản thân tôi trong suốt thời gian làm luận văn vừa qua
Các tài liệu, số liệu, kết quả được sử dụng trong luận văn là chính xác, khoa học và đúng với quá trình nghiên cứu của bản thân tôi tại phòng thí nghiệm – Phòng Giải pháp Công nghệ Cải thiện Môi trường – Viện Công nghệ Môi trường
Những kết luận và kiến nghị được đưa ra sau quá trình nghiên cứu là không sao chép của tác giả nào
Cuối cùng tôi xin cam đoan rằng luận văn là hoàn toàn trung thực, chính xác và khoa học
Hà Nội, tháng 7 năm 1018
Sinh viên
Lê Thị Chung
Trang 9MỞ ĐẦU
Môi trường và ô nhiễm môi trường hiện đang là vấn đề được cả thế giới quan tâm Bên cạnh sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp, nông nghiệp, du lịch có tác động tích cực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, thì sự phát triển này cũng là nguyên nhân chính làm cho môi trường xung quanh chúng ta ngày càng trở nên ô nhiễm nặng hơn Ô nhiễm kim loại nặng nói chung và ô nhiễm đồng nói riêng vào nguồn nước chủ yếu là do nước thải từ hoạt động của các nhà máy khai thác khoáng sản, nhà máy mạ điện, nhà máy cơ khí, nhà máy sản xuất pin, ắc quy và gốm sứ,… chưa qua xử lý hoặc xử lý chưa triệt để thải ra môi trường Ô nhiễm kim loại nặng trong nước là nguyên nhân gây ra sự phá vỡ nhiều quá trình chuyển hóa và cân bằng sinh thái do độc tính và khả năng tích lũy của chúng Khác với hầu hết các chất gây ô nhiễm khác, đồng không phân hủy sinh học và không trải qua một chu kỳ sinh thái, sinh học chung [2] Việc sử dụng nguồn nước có chứa đồng và hợp chất của nó gây ảnh hưởng tới toàn bộ các cơ quan và hệ cơ quan của con người Nhiễm độc kim loại nặng thường gây ra những tổn thương đặc biệt trong hệ thống tạo máu, hệ tim mạch, hệ thần kinh và hệ tiêu hóa Đặc biệt đối với trẻ em ngay cả với hàm lượng kim loại nặng rất nhỏ cũng ảnh hưởng đến sức khỏe, dẫn đến những rối loạn về phát triển trí tuệ và thể lực, các rối loạn thần kinh tâm lý, giảm tổng hợp hemen và thiếu máu, giảm vitamin D trong máu và tăng ngưỡng tiếp nhận âm thanh Nghiên cứu và tìm ra các giải pháp kết hợp với công tác quản lý nhằm giảm thiểu ô nhiễm kim loại nặng đặc biệt trong nguồn nước là việc làm cần thiết và thu hút được sự quan tâm của rất nhiều nhà khoa học trong nước và quốc tế
Hiện nay có nhiều phương pháp để xử lý ion kim loại như phương pháp kết tủa hóa học; phương pháp trao đổi ion; phương pháp đông tụ, keo tụ và hấp thụ Đáng lưu ý hơn cả là phương pháp hấp phụ và trao đổi ion: một trong những biện pháp hiệu quả trong xử lý nước khi so sánh với các phương pháp xử lý khác do lợi thế dễ thực hiện, không phát sinh chất độc hại trong suốt quá trình xử lý và gần như loại bỏ được tất cả các chất ô nhiễm trong nước
Bùn thải sinh học (BTSH) của các hệ thống xử lý nước thải (XLNT) có chứa lượng lớn hợp chất polymer sinh học (EPS - Extracellular polymeric substances)
Trang 10EPS liên kết với tế bào vi sinh vật (VSV) thông qua các tương tác phức tạp để tạo thành một cấu trúc mạng lưới rộng lớn EPS là chất có phân tử lượng lớn được sinh tổng hợp bởi VSV [2] Các công trình nghiên cứu gần đây cho thấy EPS là một vật liệu tiềm năng để xử lý kim loại trong nước thải xi mạ [70] Khả năng hấp phụ sinh học của EPS (chủ yếu là heteropolysaccharides và lipids) được cho là do EPS có khối lượng phân tử cao và chứa nhiều nhóm chức khác nhau (ví dụ amino, carboxyl, hydroxyl, phosphate v.v…) EPS đạt hiệu quả cao trong việc xử lý ion kim loại Cu2+
Xuất phát từ những lý do trên, đề tài “Nghiên cứu khả năng xử lý kim loại
trong nước bằng polyme sinh học (biopolymer) tách từ bùn thải sinh học” được
thực hiện nhằm mục đích tách phần polymer sinh học có trong bùn thải và sử dụng chúng với vai trò làm vật liệu để hấp phụ, xử lý kim loại Cu trong nước thải
1 Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu xây dựng được quy trình tách bio-polymer từ bùn thải sinh học
- Đánh giá khả năng ứng dụng xử lý ion kim loại Cu2+ trong nước thải xi mạ bằng bio-polymer tách được
2 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu lựa chọn và xây dựng quy trình tách bio-polymer từ bùn thải sinh học
- Phân tích đặc trưng cấu trúc tính chất của bio-polymer thu tách được
- Thử nghiệm đánh giá khả năng xử lý ion kim loại Cu2+ trong nước và
nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng tới quá trình xử lý
3 Những đóng góp mới của đề tài
Kết quả của đề tài nghiên cứu nhằm xác định được một phương pháp tách phù hợp để tách polymer sinh học có trong bùn thải cho hiệu quả xử lý Cu tốt Kết quả này sẽ tạo các bước đi đầu để tái sử dụng các phần vật chất có ích trong bùn thải (dạng chất thải đang phải đưa đi xử lý) và đưa ra được một loại vật liệu hấp phụ kim loại có tính thân thiện môi trường
Trang 114 Cấu trúc của luận văn
Luận văn gồm 3 chương, 55 trang, 11 hình, 7 bảng
Mở đầu: Tóm tắt nội dung và tính cấp thiết của luận văn
Chương 1: Tổng quan về các vấn đề nghiên cứu (13 trang)
Chương 2: Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu (8 trang) Chương 3: Kết quả và thảo luận (20 trang)
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Kim loại – nguồn gốc phát sinh và mức độ ảnh hưởng
1.1.1 Nguồn gốc phát sinh kim loại
Trong tự nhiên kim loại tồn tại trong ba môi trường: môi trường không khí, môi trường nước và môi trường đất Trong môi trường nước thì kim loại tồn tại dưới dạng ion hoặc phức chất Trong ba môi trường thì môi trường nước là môi trường có khả năng phát tán kim loại nặng đi xa nhất và rộng nhất Trong những điều kiện thích hợp kim loại nặng trong môi trường nước có thể phat tán vào trong môi trường đất hoặc môi trường khí Kim loại nặng trong nước làm ô nhiễm cây trồng khi các cây trồng này được tưới bằng nguồn nước có chứa kim loại nặng hoặc đất trồng cây bị ô nhiễm bởi nguồn nước có chứa kim loại nặng chảy qua Do đó kim loại nặng trong môi trường nước có thể đi vào cơ thể con người thông qua con đường ăn hoặc uống
Các quá trình sản xuất công nghiệp, quá trình khai khoáng, quá trình tinh chế quặng, kim loại, sản xuất kim loại thành phẩm… là các nguồn chính gây ô nhiễm kim loại nặng trong môi trường nước Thêm vào đó, các hợp chất của kim loại nặng được sử dụng rộng rại trong các ngành công nghiệp khác khư quá trình tạo màu và nhuộm, ở các sản phẩm thuộc da, cao su, dệt, giấy, luyện kim, mạ điện
và nhiều ngành khác…cũng là nguồn đáng kể gây ô nhiễm kim loại nặng Khác biệt
so với nước thải ngành côn nghiệp, nước thải sinh hoạt thường có chứa trong đó một lượng kim loại nhất định bởi quá trình tiếp xúc lâu dài với Cu, Zn hoặc Pb trong đường ống hoặc bề chứa
1.1.2 Mức độ ảnh hưởng của kim loại
Các kim loại nặng có nồng độ vi lượng là các nguyên tố dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển bình thường của con người Tuy nhiên nếu như vượt quá hàm lượng cho phép chúng lại gây ra các tác động hết sức nguy hại tới sức khỏe con người
Trang 13Các kim loại nặng xâm nhập vào cơ thể thông qua các chu trình thức ăn Khi đó, chúng sẽ tác động đến các quá trình sinh hóa và trong nhiều trường hợp dẫn đén những hậu quả nghiêm trọng về mặt sinh hóa Các kim loại nặng có ái lực lớn với các nhóm -SH, -SCH3 của các nhóm enzim trong cơ thể Vì thế các enzim bị mất hoạt tính, cản trở quá trình tổng hợp protein của cơ thể
1.2 Vài nét về kim loại đồng
1.2.1 Giới thiệu chung kim loại đồng
Kim loại nặng là những kim loại có tỷ trọng lớn hơn 5g/cm3, bao gồm một
số kim loại như: As, Hg, Cu, Cr, Cd, Co, Pb, Zn, Sb, Mn…Một vài kim loại trong
số này có thể cần thiết cho cơ thể sống khi chúng ở một hàm lượng nhất định như
Zn, Cu, Fe,…tuy nhiên khi ở một lượng lớn hơn nó sẽ trở nên độc hại Trong các kim loại nặng, Cu2+ được coi là chất độc hại hoặc rất độc hại đối với các động vật sống dưới nước hoặc rất nhiều các loài thực vật Trong môi trường nước thì kim loại đồng có thể được liệt xếp thứ ba về độ độc hại sau Hg, Cd Mặc dù, sự sắp xếp này chỉ là tương đối và các vị trí của các nguyên tố này trong chuỗi sẽ rất khác nhau phụ thuộc vào từng loài, từng điều kiện và đặc điểm môi trường
Đồng có độc tính cao đối với hầu hết các thực vật thủy sinh, ở nồng độ thấp 0,1 mg/L, nó đã gây ra ức chế không cho các loài thực vật này phát triển Ngoài ra đồng còn có khả năng làm mất muối bởi vậy làm giảm khả năng thẩm thấu của tế bào Đối với độc tính của đồng lên thực vật thủy sinh thì đồng chỉ đứng sau thủy ngân Đối với các loài cá nước ngọt thì đồng cũng gần như là kim loại có độc tính cao nhất chỉ sau thủy ngân Ngưỡng độc của đồng là LC50 = 0,017 - 1 mg/L, tùy thuộc vào điều kiện môi trường và từng loài Đồng ít độc hơn đối với các loài cá biển vì khả năngtạo phức cao của đồng đối với các muối có trong nước biển, các phức này có thể
là các phức kết tủa hoặc các phức được tạo ra này ít nguy hiểm hơn
Đối với con người thì đồng không quá độc bởi sự kết hợp trung gian của đồng giữa các axit mạnh và axit yếu Cũng không có bằng chứng nào chứng tỏ đồng
là chất gây ung thư cho con người Tuy nhiên cũng như các kim loại nặng khác, khi
Trang 14ở nồng độ cao, đồng có thể tích luỹ vào các bộ phận trong cơ thể như gan, thận và gây tổn thương đối với các cơ quan này
1.2.2 Nguồn gốc phát sinh
Nước thải sinh hoạt và chăn nuôi
Sự tồn tại của Cu2+ ở trong nước thải sinh hoạt do các tác nhân trong các
mỹ phẩm dùng để trang điểm, rửa mặt Một vài hóa chất được sử dụng trong nông nghiệp cũng làm gia tăng ô nhiễm Cu2+ như: Cu được thêm vào thức ăn cho lợn và được bài tiết ra môi trường Nhìn chung, nước thải sinh hoạt và hoạt động chăn nuôi chứa hàm lượng Cu không cao, do lượng sự dụng ít và khi phát thải vào môi trường,
Cu có thể bị kết tủa bởi các tác nhân khác trong môi trường như OH, CO3 v.v
Hoạt động sản xuất công nghiệp
Hoạt động sản xuất công nghiệp phát sinh lượng lớn Cu với nồng độ cao Các quá trình sản xuất công nghiệp chủ yếu phát thải lượng Cu lớn vào môi trường gồm quá trình khai khoáng, quá trình tinh chế quặng, kim loại, sản xuất kim loại thành phẩm,
mạ bản mạch v.v Ngoài ra, các hợp chất của Cu được sử dụng rộng rãi trong các nghành công nghiệp khác như quá trình tạo màu và nhuộm, ở các sản phẩm của thuộc da, cao su, dệt, giấy, luyện kim, mạ điện và nhiều ngành khác cũng là nguồn đáng kể gây ô nhiễm kim loại đồng Đồng trong nước thải thường tồn tại dưới các dạng: các muối Cu2+ như CuCl2, CuSO4 hoặc tồn tại dưới dạng các muối phức như phức với NaOH tạo ra Na2[Cu(OH)4]
Trong các hoạt động công nghiệp, hoạt động xi mạ có thể được coi là một trong các hoạt động chính phát sinh Cu, đặc biệt là hoạt động mạ, rửa bản mạch điện tử PCB Nước thải từ quá trình xi mạ có thành phần đa dạng về nồng độ và pH, biến đổi rộng từ 2-3 đến 10-11 Đặc trưng chung của nước thải ngành xi mạ là chứa hàm lượng cao các muối vô cơ và kim loại nặng Tùy theo kim loại của lớp mạ mà nguồn ô nhiễm có thể là Cu, Zn, Cr, Ni,… và cũng tùy thuộc vào các loại muối kim loại được sử dụng mà nước thải có chứa các độc tố như xianua, sunfat, amoni, cromat,… Các chất hữu cơ có ít trong nước thải xi mạ, phần chủ yếu là chất tạo
Trang 15bông, chất hoạt động bề mặt…nên BOD thấp Đối tượng xử lý chính là các ion vô
cơ mà đặc biệt là các muối kim loại nặng như Cu, Ni, Cr, Fe,…
Nước thải của làng nghề tái chế kim loại
Hoạt động của các làng nghề cũng là một nguồn phát sinh đáng lưu ý Các làng nghề hiện tại thường hoạt động ở quy mô bán công nghiệp và ít có sự quản lý nghiêm ngặt về môi trường dẫn tới chất thải phát sinh không được xử lý triệt để Các cơ sở tái chế kim loại còn có thể nằm xen kẽ trong khu dân cư nên các chất thải trong quá trình sản xuất gây ảnh hưởng trực tiếp đến cộng đồng, làm suy giảm chất lượng cuộc sống của người dân Tỷ lệ người mắc bệnh ở các làng nghề đang có xu hướng tăng Tuổi thọ cũng giảm đi, thấp hơn 10 năm so với tuổi thọ trung bình toàn quốc.Tỷ lệ người mắc bệnh thần kinh, phổi, hô hấp, ngoài da, điếc và ung thư chiếm tới 60% tại các làng nghề sản xuất kim loại, tái chế phế thải
Kết quả nghiên cứu về hàm lượng một số kim loại nặng trong nước mặt của một số làng nghề thu được cho thấy tình trạng báo động
Bảng 1.1 Hàm lượng một số kim loại nặng trong nước thải một số làng nghề tái chế
2+
(g/L)
Fe (g/L)
3 Phước Kiều – Quảng Ninh 0,2 7,6 0,6 1,5 1,8 2,1
4 Xuân Tiến – Nam Định 0,8 0,3 0,44 3,1 2,15 0,32
(Nguồn: Đề tài KC 08-09 về môi trường – làng nghề)
Ô nhiễm từ các làng nghề tái chế thuộc mức độ ô nhiễm nặng Do việc thu gom và thải bỏ bừa bãi, nên ảnh hưởng đến môi trường sinh thái và sức khỏe người dân rất nghiêm trọng Hầu hết các ao hồ trong các làng nghề không thể nuôi được
cá, do đã tiếp nhận một lượng nước thải khá lớn từ hoạt động sản xuất với nồng độ
Trang 16ô nhiễm cao, vượt quá khả năng tự làm sạch của môi trường và do rác thải bừa bãi gây bồi lắng và cản trở dòng chảy của nước sông hồ
1.2.3 Các phương pháp xử lý kim loại đồng
- Phương pháp kết tủa
Xử lý kim loại bằng phương pháp kết tủa là phương pháp phổ biến và thông dụng nhất Với ưu điểm là rẻ tiền, khả năng xử lý nhiều kim loại trong dòng thải cùng một lúc và hiệu quả xử lý kim loại nặng ở mức chấp nhận được thì phương pháp này đang là lựa chọn số một cho các nhà máy công nghiệp ở Việt Nam
Cu thường được kết tủa với hydroxit, trong đó, vôi là sự lựa chọn thích hợp nhất của các cơ sở do chi phí thấp và nguồn cung cấp dễ dàng Kim loại cũng có thể được kết tủa dưới dạng muối cacbonat hoặc Sulfit
Với phương pháp kết tủa, đa số các kim loại đều cần điều kiện pH kiềm để tạo
ra muối của hydroxit Do vậy, cần tốn hóa chất để nâng pH của nước thải lên Chi phí cho quá trình nâng pH khá cao do phần lớn các dòng thải chứa kim loại với nồng độ cao đều có pH axit như nước thải từ quá trình mạ bản mạch, xử lý bề mặt hay nước thải
từ quá trình khai khoáng Phương pháp kết tủa cũng có một nhược điểm lớn nữa là sinh nhiều bùn dạng vô cơ nguy hại Đây là dạng bùn chỉ xử lý được bằng phương pháp đóng rắn nên về lâu dài sẽ gây tác động tiêu cực tới môi trường
- Phương pháp điện hóa
Nguyên tắc của phương pháp điện hóa trong xử lý nước thải nói chung và nước thải chứa kim loại nặng nói riêng là sử dụng các quá trình oxi hóa ở anot và khử ở catot, đông tụ điện, kết tủa khi cho dòng điện một chiều đi qua 2 cực anot
và catot Các phương pháp điện hóa chính dùng trong xử lý kim loại bao gồm:
- Kết tủa điện hóa
- Thẩm tách điện hóa
- Đông tụ điện hóa
- Trao đổi ion điện hóa
Phương pháp điện hóa cho phép xử lý kim loại với hiệu suất cao, tuy nhiên, phương pháp này ít được ứng dụng trong thực tế về xử lý nước thải do chi phí vận
Trang 17hành đắt và đầu tư tốn kém Phương pháp được ứng dụng trong một số trường hợp đặc biệt cần thu hồi kim loại quý
- Phương pháp hấp phụ
Hấp phụ là quá trình hút khí bay hơi hoặc chất hòa tan trong chất lỏng lên bề mặt chất rắn xốp gọi là quá trình hấp phụ Phương pháp hấp phụ được ứng dụng khá phổ biến trong xử lý nước thải chứa kim loại với nồng độ thấp Ở nồng độ cao, phương pháp này ít có tính khả thi do vật liệu hấp phụ nhanh bị bão hòa, sinh nhiều chất thải rắn cần xử lý Hiện nay người ta đã tìm ra nhiều loại vật liệu có khả năng hấp phụ kim loại nặng như: than hoạt tính, than bùn, các loại vật liệu vô cơ như oxit sắt, oxit mangan, tro bay, xỉ than, bằng các vật liệu polyme hóa học hay polyme sinh học Sau khi bão hòa, vật liệu có thể được hoàn nguyên, tái sinh (đối với các loại vật liệu hấp phụ có giá trị, và nhất thiết phải có kích thước đủ lớn để có thể hoàn nguyên được) và trong nhiều trường hợp có thể thu hồi những cấu tử quý
Chất hấp phụ dạng polymer: Người ta sử dụng nhiều chất polyme làm chất hấp phụ Các chất polymer thường có các nhóm chức có khả năng hút hoặc giữ các kim loại vào trong thành phần liên kết
Chất hấp phụ sinh học: chất hấp phụ sinh học là những chất có bắt nguồn từ sinh học do vậy nó rất đa dạng và phong phú Các chất sinh học được sử dụng để làm chất hấp phụ sinh học thường là các polymer sinh học
- Phương pháp trao đổi ion
Phương pháp trao đổi ion là một trong những phương pháp phổ biến để xử lý các ion kim loại trong nước thải như Ni2+, Fe2+, Fe3+, Cu2+, Zn2+ Phương pháp này khá hiệu quả trong việc xử lý kim loại nặng đặc biệt là có thể thu hồi hiệu quả một
số kim loại có giá trị Quá trình trao đổi ion diễn ra giữa 2 pha lỏng - rắn, giữa các ion có trong dung dịch và các ion có trong pha rắn Thực chất phương pháp trao đổi ion cũng là một phần của phương pháp hấp phụ, nhưng là quá trình hấp phụ có kèm theo trao đổi ion giữa chất hấp phụ với ion của dung dịch Có thể nói trao đổi ion là một quá trình trong đó các ion trên bề mặt của chất rắn trao đổi với ion có cùng điện
Trang 18tích trong dung dịch khi tiếp xúc với nhau Các chất này gọi là các ionit (chất trao đổi ion), chúng hoàn toàn không tan trong nước
- Phương pháp sinh học
Phương pháp sinh học là một trong những phương pháp có nhiều hứa hẹn mang lại những hiệu quả tích cực cho việc xử lý kim loại đồng Đặc biệt tại Việt Nam ngày càng có nhiều hơn các công trình nghiên cứu về ứng dụng của phương pháp sinh học trong xử lý nước thải có chứa kim loại nặng Sở dĩ phương pháp sinh học đang ngàyđược quan tâm bởi vì nhưng ưu điểm nổi trội của nó so với các phương pháp khác như: tính gần gũi với tự nhiên, ít tạo ra các ô nhiễm thứ cấp Nhiều các loài sinh vật trong tự nhiên đã được các nhà khoa học phát hiện và ứng dụng trong xử lý nước thải kim loại Phương pháp hấp thu sinh học là phương pháp
sử dụng các loài sinh vật trong tự nhiên hoặc các loại vật chất có nguồn gốc sinh học có khả năng giữ lại trên bề mặt hoặc thu nhận bên trong các tế bào của chúng các kim loại nặng khi đưa chúng vào môi trường nước thải có chứa kim loại nặng Hiện nay người ta đã tìm ra nhiều loại sinh vật có khả năng hấp thu các kim loại nặng đặc biệt là các loại thực vật thủy sinh như bèo lục bình, rong đuôi chó, bèo
tấm, loài tảo Chlorella sp
Nói chung, phương pháp xử lý kim loại nặng bằng phương pháp hấp thu sinh học là phương pháp còn khá mới mẻ và nhiều tiềm năng
- Hấp thu sinh học
- Chuyển hóa sinh học
- Bãi lọc ngập nước, thủy thực vật
- Các quá trình sử dụng enzyme khác
Cu là một trong những kim loại phát sinh nhiều trong hoạt động sản xuất công nghiệp và sinh hoạt Đây cũng là kim loại nặng có tiềm năng gây ảnh hưởng tới môi trường Hiện nay, nhiều công nghệ khác nhau đã được phát triển và ứng dụng để xử lý kim loại đồng trong đó, phương pháp kết tủa là phương pháp được sử dụng nhiều nhất Các nghiên cứu gần đây cho thấy, EPS có khả năng ứng dụng tốt
Trang 19để hấp phụ và xử lý nhiều kim loại khác nhau Các tính chất chung và đặc điểm của EPS được trình bày chi tiết ở mục tiếp theo của luận văn
1.3 Tổng quan về EPS
1.3.1 Khái niệm chung về EPS
Extracellular polymeric substances (EPS) là một hỗn hợp phức tạp của các polymer ngoại bào có khối lượng phân tử từ 10 đến 30 kDa được sinh tổng hợp bởi
vi sinh vật [1] EPS là một trong những thành phần quan trọng trong quần thể vi sinh vật Nó có tác dụng gắn kết chặt chẽ các vi khuẩn lại với nhau hình thành nên bông bùn sinh học Ngoài ra EPS có thể sử dụng như là nguồn dinh dưỡng dự trữ cho vi khuẩn trong điều kiện môi trường nghèo dinh dưỡng [1]
Có nhiều cách phân loại EPS khác nhau, tuy nhiên EPS có thể được chia thành 2 dạng là EPS liên kết (Bound EPS) và EPS hòa tan (Soluble EPS) [2] EPS liên kết có liên kết chặt chẽ với các tế bào, ngược lại EPS hòa tan lại có liên kết yếu với các tế bào hoặc tồn tại ở trạng thái hòa tan trong dung dịch Trong đó, cấu trúc của EPS liên kết gồm 2 lớp [2] Lớp bên trong là EPS liên kết mạnh (TB-EPS) và lớp bên ngoài là EPS liên kết yếu (LB-EPS) Hai lớp EPS này có thể được tách ra bằng cách ly tâm, LB-EPS sẽ nằm trong pha lỏng còn TB-EPS nằm trong pha rắn cùng với các tế bào vi sinh vật
1.3.2 Đặc điểm thành phần hóa học của EPS
EPS có thành phần hóa học rất phức tạp do thành phần của EPS phụ thuộc nhiều vào quần thể vi sinh vật, pha sinh trưởng, nguồn dinh dưỡng, điều kiện môi trường, loại thiết bị phản ứng, công cụ và cả phương pháp phân tích [3] EPS chứa một lượng lớn các chất hữu cơ có khối lượng phân tử cao, trong đó, carbohydrate (chiếm từ 40-95% tổng khối lượng của EPS) và protein (chiếm từ 1-60% tổng khối lượng của EPS) là hai thành phần chính của EPS [4] Đối với bùn của thiết bị xử lý sinh học, humic có thể là một thành phần quan trọng của EPS và nó có thể chiếm tới 20% tổng khối lượng [4] Ngoài ra EPS còn chứa một số hợp chất khác như nucleic axit (chiếm 1 – 10%), lipit (chiếm 1 – 10%), uronic axit và các hợp chất khác [4]
Các số liệu tổng hợp được thể hiện ở Bảng 1.2
Trang 20Bảng 1.2 Thành phần hóa học của EPS
Nước thải
tham khảo
Polysaccharide Protein DNA Humic
axit
Uronic axit
EPS có khả năng hấp phụ kim loại và các chất hữu cơ, Nguyên nhân là do sự
có mặt của nhiều nhóm chức khác nhau mang điện tích trong cấu trúc của EPS, chẳng hạn như nhóm carboxyl, phosphoric, phenolic, hydroxyl và các nhóm phân cực (chất
thơm, chất béo có trong protein, các vùng kỵ nước trong carbohydrates) (Flemming
and Leis, 2003)[12] Các nhóm chức này có khả năng tạo phức với các kim loại nặng
trong môi trường nước, cũng như tạo điều kiện thuận lơi cho quá trình hấp phụ các
chất hữu cơ (Ha et al., 2010; Joshi and Juwarkar, 2009; Liu and Fang, 2002)[13]
Các nhóm chức carboxyl và hydroxyl trong cấu trúc của EPS được cho là có
khả năng liên kết rất cao với các kim loại nặng (Guibauda et al., 2003) Các thành
phần như Protein, Carbohydrate và Acid nucleic trong EPS đều có khả năng tạo
Trang 21hấp phụ kim loại nặng thường tuân theo phương trình Langmuir hoặc Freundlich
(Bhaskar and Bhosle, 2006; Moon et al., 2006; Zhang et al., 2006)[15,16] Hơn
nữa, EPS hòa tan có khả năng hấp phụ kim loại năng tốt hơn so với EPS liên kết từ
nước thải bùn (Comte et al., 2006a)[17]
Một vài loại khác của ion kim loại có trong môi trường xung quanh liên kết được với EPS Sự liên kết giữa EPS và cation hóa trị II, chẳng hạn như Ca2+ và
Mg2+ là một trong những liên kết quan trọng nhằm duy trì cấu trúc tổng hợp của vi
sinh vật (Mayer et al., 1999)[18] Trong suốt quá trình hấp phụ kim loại nặng vào
bùn hoạt tính, một số nghiên cứu đã cho thấy rằng, nồng độ của Ca2+ và Mg2+ có trong dung dịch tăng lên, điều này cho thấy cơ chế xử lý kim loại nặng có thể la cơ chế trao đổi ion với Ca2+ và Mg2+ đã liên kết trước đó với thành phần EPS trong bùn
thải sinh học (Yuncu et al., 2006)
Khả năng phân hủy sinh học của EPS
Do thành phần chính của EPS là Carbohydrate và protein nên vi sinh vật có thể sử dụng EPS được sinh ra từ các v khuẩn khác trong quần thể cho các hoạt động chuyển hóa của mình [19] Theo nghiên cứu của Wang (2007) cho rằng chỉ có phần EPS nằm bên trong là có khả năng phân hủy sinh hoạc, còn phần EPS nằm bên ngoài không bị phân hủy sinh học [19] Park và Novak (2007) báo cáo rằng EPS khi được tách chiết bằng các phương pháp khác nhau thì sẽ có khả năng phân hủy sinh học khác nhau [12] Ví dụ, EPS chiết bằng nhựa trao đổi ion (CER - Cation Exchange Rasin) có khả năng phân hủy bằng phương pháp hiếu khí, trong khi EPS tách chiết bằng phương pháp Sunfit lại có khả năng phân hủy bằng phương pháp kị khí
Trong điều kiện cạn kiệt dinh dưỡng, vi sinh vật có thể sử dụng chính các chất có phân tử nhỏ được sinh ta từ quá trình phân hủy EPS của mình làm nguồn cacbon và nguồn năng lượng cho sự tăng trưởng của tế bào Quá trình phân hủy của EPS làm giảm khả năng tạo bông của vi sinh vật Một phần EPS không bị phân hủy
có thể chảy cùng với nước thải từ các bể phản ứng và làm giảm chất lượng của nước thải sau xử lý [7]
Trang 221.3.4 Các phương pháp tách EPS
EPS liên kết với tế bào vi sinh vật thông qua các liên kết như disulfide nối cộng hóa trị nối các mạch phụ (nhóm R) lại với nhau, hay thông qua cầu nối cation hóa trị II (Mg2+, Ca2+) v.v…[4] Để tách được EPS ra khỏi tế bào vi sinh vật, cần phá vỡ các liên kết này bằng các tác nhân lý học, hóa học hoặc sinh học khác nhau
Có nhiều phương pháp tách khác nhau được sử dụng để tách EPS từ sinh khối của
vi sinh vật Nguyên lý, ưu nhược điểm của các phương pháp tách được tóm tắt ở
Bảng 1.3
Theo Nielsen và Jahn (1999), quy trình tách EPS có thể được chia làm 3 bước chính: (Bước 1) tiền xử lý mẫu, bao gồm công đoạn lấy mẫu, lưu giữ mẫu, làm sạch mẫu và đồng nhất mẫu Bước này có tác dụng làm phân tán các tế bào vi khuẩn Đối với trường hợp tách EPS từ màng sinh học và từ các loại vi khuẩn dạng hạt, có kích thước nhỏ thì bước đồng nhất mẫu là quan trọng nhất (Bước 2) tách EPS từ mẫu môi trường sau khi đã được xử lý sơ bộ (Bước 3) phân tích các thành phần có trong EPS tinh sạch Trong ba bước trên, bước tách EPS là khâu quan trọng nhất Tùy thuộc vào thành phần cấu tạo của EPS mà nên lựa chọn sử dụng các phương pháp tách chiết phù hợp để mang lại hiệu quả cao nhất Đối với loại EPS có thể hòa tan và EPS có liên kết yếu với tế bào vi sinh vật thì phương pháp ly tâm được sử dụng phổ biến nhất Ngược lại, đối với loại EPS liên kết, người ta thường phải sử dụng các phương pháp tách có tác động mạnh hơn tới liên kết của EPS với
tế bào vi sinh vật như siêu âm, nhiệt độ cao, hay các tác nhân hóa học (axit, bazơ v.v.) [20]
Các phương pháp tách có thể được chia thành 3 nhóm chính: các phương pháp vật lý, các phương pháp hóa học và phương pháp sinh học Ngoài ra, còn có các phương pháp kết hợp giữa nhiều tác nhân hóa lý sinh học khác nhau Các phương pháp vật lý sử dụng chủ yếu tác dụng của ngoại lực được tạo ra bởi sóng siêu âm, lực ly tâm hay nhiệt độ nhằm kích thích EPS tách ra khỏi tế bào vi sinh vật
và tan trong dung dịch Các phương pháp hóa học dựa trên tác động hóa học là sự kết hợp giữa các hóa chất có khả năng phá vỡ liên kết của EPS với tế bào, đẩy
Trang 23nhanh sự phân tách giữa EPS với tế bào (ví dụ như phương pháp NaOH, phương pháp H2SO4, phương pháp EDTA, phương pháp ethanol, phương pháp trichloroacetic, phương pháp HCHO, phương pháp glutaraldehyde, …) Các phương pháp sinh học thì dựa trên cơ chế phân hủy carbohydrate và protein bằng enzyme nhờ đó, phá vỡ cấu trúc bông bùn và giải phóng EPS vào môi trường
Dựa vào kết quả của nhiều báo cáo, hiệu quả tách EPS của phương pháp tổng hợp và phương pháp hóa học thường cao hơn so với phương pháp vật lí Tuy nhiên, các phương pháp hóa học cũng gặp phải vấn đề như ô nhiễm mẫu khi thêm một số hóa chất phản ứng với EPS, hay gây ra những thay đổi trong thành phần hóa học và tính chất của EPS Vì thế mà việc lựa chọn ra được phương pháp tách chiết EPS phù hợp với từng mục tiêu nghiên cứu/ứng dụng là rất cần thiết
Trang 24Bảng 1.3 Các phương pháp tách EPS
Tên phương pháp Tác nhân
- Ít ảnh hưởng đến tế bào, ít gây vỡ tế bào
- Chỉ tách được lượng EPS bên ngoài tế bào
Nhiệt Nhiệt
Dưới tác động của nhiệt độ cao, các phân tử của EPS dao động và hòa tan vào trong dung dịch
- Tách được đáng kể một lượng EPS từ tế bào
Siêu âm Sóng siêu
âm
Dưới tác dụng của các dao động tạo ra bởi song siêu âm, liên kết của EPS với sinh khối được phá vỡ
- Phân hủy bông bùn
và enzyme đạt hiệu quả cao
- Đây là phương pháp phổ biến nhất
để tách EPS từ bùn đặc
tế bào
- Phân hủy bông bùn một cách có hiệu quả
Bổ sung thêm gốc
Na làm cho liên kết giữa EPS với các cation hóa trị II yếu
đi, giảm hoạt tính tạo bông của EPS
- Làm tăng khả năng hòa tan EPS trong dung dịch
- Hiệu quả tách EPS khỏi tế bào cao
Trang 25CER Trao đổi ion
Loại bỏ các cation hóa trị II, do đó tách được EPS ra khỏi tế bào
- Tính chọn lọc cao đối với liên kết giữa EPS với Ca, Mg
Cation hóa trị II đóng vai trò quan trọng trong liên kết EPS với tế bào
EDTA tạo phức tan với cation hóa trị II nhờ đó phá vỡ liên kết của EPS với tế bào
- Hiệu quả tách EPS cao
- Lượng dư của EDTA có thể gây ra
ô nhiễm EPS sau khi tách
- Gây sai số với việc xác định protein trong EPS bằng
Lowry
Enzymes Enzymes
Sử dụng các enzyme có khả năng thủy phân carbohydrate và protein để phá vỡ cấu trúc bùn và giải phóng EPS
- Hiệu suất chiết tách EPS thấp
Ethanol Ethanol
Làm EPS biến tính
và giảm lực liên kết giữa các tế bào,
do đó EPS được tách ra
- Sử dụng đối với bùn lỏng
- Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến
NaCl nồng độ cao
có tác dụng thúc đẩy quá trình trao đổi cation, vì vậy EPS được tách dễ dàng
- Sử dụng đối với bùn lỏng
- Là phương pháp tiết kiệm kinh tế
Lưu
huỳnh Lưu huỳnh
Hình thành liên kết với FeS, phá vỡ liên kết giữa EPS
và tế bào
- Tính chọn lọc cao đơi với liên kết giữa EPS và Fe
Trang 26Formaldehyde cố định tế bào nhờ đó, làm giảm ảnh hưởng của NaOH tới tế bào vi sinh vật khi tách EPS
- HCHO có thể làm thay đổi đặc tính của EPS và ảnh hưởng không tốt đến thành phần của EPS như protein,
Đây là phương pháp kết hợp nhằm điều chỉnh pH và trao đổi ion để nâng cao hiệu quả chiết tách
- Hiệu quả phân hủy bông bùn cao
1.3.5 Ứng dụng của EPS trong xử lý kim loại
EPS có khả năng gắn kết cao với ion kim loại nên tiềm năng xử lý hay loại bỏ kim loại của EPS là rất lớn Theo Flemming và cộng sự (2000) [6] đã chứng minh rằng EPS có khả năng loại bỏ kim loại Pb (0.13 mMol/mg EPS) và kim loại Cu (22ng/mg EPS) Các hằng số ổn định Ni, Cu, Pb, Cd và Zn tạo phức vớ EPS phụ thuộc chủ yếu vào pH EPS hấp phụ kim loại với dung lượng tới 25% tính theo trọng lượng ẩm EPS
được sản xuất bởi một số loài vi sinh vật chẳng hạn như Bacillus, Halomonas, Herbaspirillum, Pseudomonas và Paenibacillus cũng được công nhận là các chất keo
tụ có tiềm năng loại bỏ kim loại trong nước thải (Lin and Harichund, 2012) Trong
nghiên cứu này cho thấy, EPS với hàm lượng từ 1-10mg/L có thể xử lý một lượng lớn kim loại như Pb2+, Zn2+, và Hg2+ (lớn hơn 50%) Cũng loại EPS đó ở nồng độ 10000 mg/L có thể loại bỏ được kim loại Cd2+ ra khỏi nước thải với hiệu suất lên tới 95% Khi các ion kim loại xuất hiện với nồng độ cao (từ 300 ppm đến 800 ppm), EPS của
Zoogloea 115, Zoogloea 116M có khả năng hấp phụ các ion Co2+, Cu2+, Fe3+ và Ni2+
khi các nồng độ các ion này có mặt trong môi trường với nồng độ cao (từ 300 ppm –
800 ppm) Nghiên cứu của Ducan và các cộng sự (1987) cho thấy các vi sinh vật như
Zoogloea 115, P denitrifican, và Z filipendula có khả năng hấp phụ tốt các kim loại như
Cd2+, Cu2+, Zn2+, Co2+, Cr3+, Al3+, Ni2+ và Hg2+
Trang 27Nội dung trình bày ở phần nghiên cứu tổng quan cho thấy ô nhiễm kim loại nói chung và Cu nói riêng đang là vấn đề nhức nhối ở nhiều nhà máy sản xuất công nghiệp, đặc biệt là các nhà máy liên quan tới sản xuất bản mạch điện tử Nhiều phương pháp xử
lý kim loại khác nhau đã được áp dụng và nghiên cứu Trong đó, EPS, một dạng biopolymer sinh học, là một trong những vật liệu hấp phụ có tiềm năng lớn trong xử lý kim loại Đây cũng là vật liệu nguồn gốc sinh học nên có tính thân thiện môi trường cao Các công trình xử lý nước thải hiện đang phải xử lý lượng lớn bùn sinh học dư với chi phí chiếm tới 1/3 chi phí vận hành của toàn hệ thống Khi lượng bùn sinh học này
có thể được tận dụng để tách và thu hồi EPS nhằm mục đích xử lý kim loại sẽ là một giải pháp tốt, thân thiện môi trường và tránh lãng phí tài nguyên
Trang 28CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
- Bio-polymer tách từ bùn thải sinh học
- Kim loại (ion Cu2+) trong nước thải
- Bùn thải sinh học được nuôi cấy từ hệ thống xử lý nước thải
Phạm vi nghiên cứu
- Quy mô trong phòng phí nghiệm
- Địa điểm: Luận văn được thực thiện tại Phòng thí nghiệm Phòng giải pháp công nghệ cải thiện môi trường - Viện Công nghệ Môi Trường
- Thời gian: Luận văn được thực hiện từ tháng 10/2-16 đến tháng 12/2017
2.2 Vật liệu thí nghiệm
2.2.1 Bùn thải
Bùn thải sử dụng trong nghiên cứu được nuôi dưỡng từ hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt trên qui mô phòng thí nghiệm Bùn được lắng, gạn bỏ phần nước trong và cô đặc tới nồng độ 13,5 g MLSS/L và bảo quản trong tủ lạnh ở điều kiện nhiệt độ -40C để phục vụ cho các nghiên cứu tiếp theo
Ưu điểm của việc nuôi cấy bùn thải trong phòng thí nghiệm là có thể chủ động được lượng bùn, kiểm soát tốt được các thông số, chất lượng bùn, cũng như các tính chất của bùn không bị thay đổi
Trang 29nghệ Cải thiện Môi trường – Viện Công nghệ Môi trường Nước thải sử dụng chạy pilot được lấy từ sông Tô Lịch, đoạn đầu nguồn khu vực Hoàng Quốc Việt Thiết bị pilot được duy trì chạy tới khi ổn định, hàm lượng MLSS đạt 1500 – 2000 mg/L (sau thời gian 2 tháng) Tính ổn định của hệ bùn xử lý được đánh giá thông qua hàm lượng MLSS, hiệu quả xử lý COD và N Sau khi thiết bị chạy ổn định, bùn được rút
ra lưu giữ trong tủ lạnh ở 4oC để phục vụ cho nghiên cứu tách chiết EPS và đánh giá khả năng xử lý Cu của EPS
2.3.2 Phương pháp tách thu EPS từ bùn thải sinh học nuôi cấy
Trước khi tách EPS, bùn được rửa sạch 2 lần bằng nước, cô đặc lại tới nồng
độ 13.5 g/L Quy trình cụ thể của các phương pháp tách được mô tả trên Hình 2.1