1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá hiện trạng tài nguyên ốc cạn ở khu du lịch sinh thái tràng an, tỉnh ninh bình

77 170 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 1,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

v THÔNG TIN LUẬN VĂN Họ và tên: Nguyễn Phương Anh Luận văn “Đánh giá hiện trạng tài nguyên ốc cạn ở khu du lịch sinh thái Tràng An, tỉnh Ninh Bình” với mục tiêu xác định được thành phầ

Trang 1

3

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG TÀI NGUYÊN ỐC CẠN Ở KHU

DU LỊCH SINH THÁI TRÀNG AN, TỈNH NINH BÌNH

CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

NGUYỄN PHƯƠNG ANH

HÀ NỘI, NĂM 2018

Hà Nội - Năm 20

Trang 2

4

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

NGUYỄN PHƯƠNG ANH

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG TÀI NGUYÊN ỐC CẠN Ở KHU

DU LỊCH SINH THÁI TRÀNG AN, TỈNH NINH BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ MÔI TRƯỜNG Chuyên ngành: Khoa học môi trường

Mã số: 8440301

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS HOÀNG NGỌC KHẮC

Hà Nội - Năm 2018

Trang 3

Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại:

HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN THẠC SĨ TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

Ngày 30 tháng 9 năm 2018

Trang 4

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan các nội dung, số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung

thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Phương Anh

Trang 5

ii

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn trước tiên tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban lãnh đạo trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, các thầy cô giáo, các cán bộ trong khoa Môi trường đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Hoàng Ngọc Khắc đã trực tiếp hướng dẫn, truyền đạt kiến thức thực tế, phương pháp luận, quan tâm, đôn đốc kiểm tra trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn

Ngoài ra, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới thầy cô trung tâm nghiên cứu Động Vật Đất trường Đại học Sư phạm Hà Nội, người thân, bạn bè và cán bộ, người dân khu du lịch sinh thái Tràng An, đặc biệt là gia đình ông Nguyễn Đăng Khoa ở xã Gia Sinh, tỉnh Ninh Bình đã tạo điều kiện giúp đỡ, cung cấp những tài liệu, thông tin, cơ sở vật chất cần thiết cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 17 tháng 9 năm 2018

Học viên

Nguyễn Phương Anh

Trang 6

iii

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC BẢNG vii

DANH MỤC HÌNH viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Nội dung nghiên cứu 2

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 Tổng quan về khu du lịch sinh thái Tràng An, tỉnh Ninh Bình 3

1.1.1 Điều kiện tự nhiên 3

1.1.2 Kinh tế xã hội 6

1.2 Tổng quan về ốc cạn 8

1.2.1 Vị trí phân loại và đặc điểm hình thái 8

1.2.2 Đặc điểm sinh học và sinh thái học 10

1.3 Lịch sử nghiên cứu ốc cạn 11

1.3.1 Tình hình nghiên cứu ốc cạn trên thế giới 11

1.3.2 Tình hình nghiên cứu ốc cạn tại Việt Nam 13

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 16

2.2 Địa điểm nghiên cứu 16

2.3 Phương pháp nghiên cứu 18

2.3.1 Sơ đồ nghiên cứu 18

2.3.2 Thiết bị nghiên cứu 18

2.3.3 Phương pháp điều tra xã hội học 19

2.3.4 Phương pháp thu thập tài liệu 19

2.3.5 Phương pháp nghiên cứu thực địa 19

2.3.6 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm 21

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 24

3.1 Đa dạng sinh học loài tại khu du lịch sinh thái Tràng An, tỉnh Ninh Bình 24

3.1.1 Cấu trúc thành phần loài ốc cạn 24

Trang 7

iv 3.1.2 Độ đa dạng sinh học loài tại khu du lịch sinh thái Tràng An, tỉnh Ninh Bình 33 3.2 Đặc điểm phân bố loài ốc cạn theo sinh cảnh ở khu vực nghiên cứu 38 3.3 Giá trị thực tiễn và hiện trạng các loài ốc cạn ở khu du lịch sinh thái Tràng

An, tỉnh Ninh Bình 42 3.3.1 Giá trị thực tiễn của ốc cạn ở khu du lịch sinh thái Tràng An, tỉnh Ninh Bình 42 3.3.2 Hiện trạng tài nguyên ốc cạn tại khu du lịch sinh thái Tràng An, tỉnh Ninh Bình 50 3.4 Đề xuất giải pháp quản lý, biện pháp bảo tồn các loài ốc cạn tại khu du lịch sinh thái Tràng An, tỉnh Ninh Bình 54

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 57 TÀI LIỆU THAM KHẢO 59 PHỤ LỤC Error! Bookmark not defined

Trang 8

v

THÔNG TIN LUẬN VĂN

Họ và tên: Nguyễn Phương Anh

Luận văn “Đánh giá hiện trạng tài nguyên ốc cạn ở khu du lịch sinh thái

Tràng An, tỉnh Ninh Bình” với mục tiêu xác định được thành phần loài, phân bố,

hiện trạng tài nguyên ốc cạn và đề xuất biện pháp quản lý, bảo tồn, phát triển đa dạng sinh học của ốc cạn ở khu du lịch sinh thái Tràng An, tỉnh Ninh Bình Mẫu

ốc cạn được thu định tính và định lượng từ tháng 4/2018 đến tháng 6/2018 chia làm 3 đợt (31/3 -1/4; 30/4 – 1/5; 1/6 – 2/6) ở khu vực xã Gia Sinh, huyện Gia Viễn và xã Ninh Xuân, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình trong 3 sinh cảnh: nhân tác, rừng tự nhiên trên núi đất và rừng tự nhiên trên núi đá vôi Qua phân tích

2001 cá thể ốc cạn đã xác định được 61 loài và phân loài thuộc 34 giống, 14 họ,

3 bộ và 2 phân lớp; trong đó có 7 taxon chưa xác định được tới tên khoa học đến

loài (Cyclophorus sp., Pterocyclus sp., Pupina sp., Microcystina sp., Camaena sp., Haploptychius sp, Zingis sp.) Phân lớp Có phổi có 33 loài (chiếm 56,25%)

đa dạng hơn phân lớp Mang trước có 28 loài (chiếm 43,75%), họ Cyclophoridae

có nhiều loài nhất (18 loài), giống Macrochlamys chiếm ưu thế trong tất cả các

sinh cảnh ở khu vực nghiên cứu Kết quả nghiên cứu cũng đã xác định được 15 loài có giá trị như làm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi gia cầm gia súc, làm nguyên liệu trong y dược, mỹ phẩm và 9 loài gây hại phá hoại cây trồng của người dân Qua tính toán từ số liệu phỏng vấn người dân và quản lý, chúng tôi ước tính trữ lượng tức thời của loài ốc cạn khu vực nghiên cứu là 86.648 kg và sản lượng khai thác ốc cạn trong một năm là 11.340 kg/năm Với trữ lượng ước tính tức thời cùng với sản lượng khai thác hàng năm thì có thể người dân sẽ không thể khai thác nhiều và liên tục với cách thức khai thác trực tiếp từ tự nhiên như hiện nay trong nhiều năm tới vì thế cần có các biện pháp quản lý việc khai thác, duy trì đa dạng sinh học ốc cạn khu du lịch sinh thái Tràng An, tỉnh Ninh Bình Đặc biệt quan tâm tới việc nghiên cứu các đặc điểm sinh học, sinh thái học của các loài ốc cạn có giá trị kinh tế cao để phát triển gây nuôi phục vụ bảo tồn và phát triển bền vững

Trang 9

vi

DANH MỤC CHŨ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Giải thích

Trang 10

vii

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Các vị trí lấy mẫu 17

Bảng 3.1 Thành phần các loài ốc cạn tại khu vực nghiên cứu 24

Bảng 3.2 Cấu trúc ốc cạn ở khu du lịch sinh thái Tràng An, tỉnh Ninh Bình 27

Bảng 3.3 Mật độ, tần số bắt gặp và độ phong phú của các loài ốc cạn tại khu du lịch sinh thái Tràng An, tỉnh Ninh Bình 34

Bảng 3.4 Đặc điểm sinh cảnh ở vị trí lấy mẫu 39

Bảng 3.5 Kết quả phỏng vấn người dân 43

Bảng 3.6 Kết quả phỏng vấn cán bộ 44

Bảng 3.7 Danh sách các loài ốc có giá trị và gây hại 45

Bảng 3.8 Trữ lượng tài nguyên ốc tức thời tại khu du lịch sinh thái Tràng An, tỉnh Ninh Bình 53

Trang 11

viii

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Sơ đồ tổng quan khu du lịch sinh thái Tràng An, tỉnh Ninh Bình 4 Hình 1.2 Sơ đồ cấu tạo vỏ ốc cạn 9 Hình 2.1 Các vị trí lấy mẫu tại khu du lịch sinh thái Tràng An, tỉnh Ninh Bình 18 Hình 2.3 Xây dựng các ô tiêu chuẩn 20 Hình 3.1 Sơ đồ cấu trúc phân loại ốc cạn ở khu vực nghiên cứu 28 Hình 3.2 Số lượng thành phần của các bộ ốc cạn ở khu du lịch sinh thái Tràng

An, tỉnh Ninh Bình 30 Hình 3.3 Tỷ lệ (%) các giống ốc cạn thuộc phân lớp Mang trước tại khu vực

nghiên cứu 31 Hình 3.4 Tỷ lệ (%) các giống ốc cạn thuộc phân lớp Mang trước tại khu vực

nghiên cứu 31 Hình 3.5 Số lượng loài các họ ốc cạn thuộc phân lớp Mang trước ở khu du lịch

sinh thái Tràng An, tỉnh Ninh Bình 32 Hình 3.6 Số lượng loài các họ ốc cạn thuộc phân lớp Có phổi ở khu du lịch sinh

thái Tràng An, tỉnh Ninh Bình 33 Hình 3.7 Tương quan số lượng loài, số lượng cá thể và chỉ số đa dạng của ốc cạn

trong khu vực nghiên cứu 42

Trang 12

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngành Thân mềm (Mollusca) là ngành động vật có nhiều chủng loại rất phong phú và đa dạng Ngành Thân mềm có hơn 90 nghìn loài hiện hữu và được xếp vào 7 lớp trong đó Chân bụng là lớp duy nhất trong ngành Thân mềm có đại diện sống ở biển, nước ngọt và trên cạn và một số kí sinh cơ thể ngoài động vật Lớp Chân bụng bao gồm tất cả các loài ốc và sên trần với mọi kích cỡ từ nhỏ đến khá lớn

Ốc cạn là nhóm động vật đa dạng thuộc ngành Thân mềm, thường sinh sống nơi ẩm ướt và thức ăn chủ yếu là mùn bã hữu cơ Trong chu trình phân giải vật chất, ốc cạn là nhóm ăn thực vật bậc thấp và mùn bã ở tầng thảm mục Đối với hệ sinh thái, ốc cạn là thành phần vô cùng quan trọng và không thể thiếu trong chuỗi và lưới thức ăn, đặc biệt với một số loài chim, loài thú ăn thịt nhỏ Tuy nhiên nhiều loài trong số chúng là vật chủ trung gian, lan truyền gây bệnh cho con người và động vật, một số loài ăn lá, thân cây phá hoại mùa màng của người dân Bên cạnh đó, ốc cạn được coi là đối tượng của các nhà khảo cổ có ý nghĩa quan trọng để xác định các thời kì địa chất và lịch sử phát triển loài người,

do cấu trúc vỏ là lớp đá vôi, được lưu giữ khá lâu trong môi trường

Ninh Bình được tự nhiên ưu đãi cho nhiều tiềm năng phát triển kinh tế xã hội đặc biệt là ngành du lịch với hệ sinh thái đa dạng phong phú và địa hình rừng núi (vùng núi đá vôi với diện tích 1,2 vạn ha; rừng tự nhiên 11,392 ha) [1] Địa hình Ninh Bình khá đa dạng và là nơi tập trung của nhiều núi đá vôi, trong đó có khu du lịch sinh thái Tràng An có sinh cảnh phù hợp với môi trường sống của ốc cạn

Ở Việt Nam đã có những dẫn liệu về thành phần loài, giá trị thực tiễn của

ốc cạn như của các tác giả Nguyễn Thanh Bình, Hoàng Ngọc Khắc, Hoàng Văn Ngọc (2017) ở khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – Phượng Hoàng, tỉnh Thái Nguyên [2]; Nguyễn Thanh Bình (2015) ở khu vực xã La Hiên, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên [3], Nguyễn Văn Bé (2015) ở các đảo thuộc huyện Kiên Hải tỉnh Kiên Giang [4] Những năm gần đây xu hướng sử dụng đặc sản của các

Trang 13

2

vùng ngày càng cao như các loài ốc cạn ở trên núi đá vôi vì chúng có nguồn thức ăn sạch, tự nhiên, không hóa chất nên rất được ưa chuộng Cũng chính vì thế nhu cầu khai thác của con người cũng tăng theo, loài ốc cạn đang bị khai thác rất nhiều ở các khu vực núi ở khắp nơi như Sơn La, Điện Biên, và đặc biệt đặc sản ốc núi Bà Đen đang đứng trước nguy cơ tận diệt vì hành vi khai thác quá mức của con người [5]

Các nghiên cứu về ốc cạn tại khu vực tỉnh Ninh Bình và khu vực lân cận được các tác giả trong và ngoài nước chú ý đến như Vermeulen and Masseen (2003) [1]; Đỗ Văn Nhượng, Đỗ Ngọc Huyền, Bùi Thùy Linh, Phạm Thị Ngân,

Đỗ Đức Sáng (2016) [6]; dẫn liệu về ốc cạn ở khu vực Tràng An Cổ, Trường Yên, Hoa Lư bước đầu đã có của Đỗ Văn Nhượng, Lưu Thị Thanh Hương, Đỗ Ngọc Huyền (2014) gồm 59 loài thuộc 23 họ, 41 giống, 2 phân lớp [6], tuy nhiên chưa có nhiều dẫn liệu về ốc cạn ở khu du lịch sinh thái Tràng An, tỉnh Ninh Bình hay các nghiên cứu cụ thể về hiện trạng tài nguyên ốc cạn ở Việt Nam cũng như ở khu vực nghiên cứu Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi

chọn đề tài “Đánh giá hiện trạng tài nguyên ốc cạn ở khu du lịch sinh thái Tràng An, tỉnh Ninh Bình”

2 Mục tiêu nghiên cứu

Xác định được đa dạng thành phần loài, phân bố, hiện trạng tài nguyên ốc cạn và đề xuất biện pháp quản lý, bảo tồn, phát triển đa dạng sinh học của ốc cạn

ở khu du lịch sinh thái Tràng An

3 Nội dung nghiên cứu

Nội dung 1: Nghiên cứu đa dạng của thành phần loài, đặc điểm phân bố ốc

cạn ở khu du lịch sinh thái Tràng An, tỉnh Ninh Bình

Nội dung 2: Nghiên cứu về hiện trạng tài nguyên ốc cạn (xác định loài có

giá trị, trữ lượng, tình trạng khai thác) tại khu du lịch sinh thái Tràng An

Nội dung 3: Đề xuất giải pháp quản lý, bảo tồn tài nguyên ốc cạn tại khu

du lịch sinh thái Tràng An, Ninh Bình

Trang 14

3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan về khu du lịch sinh thái Tràng An, tỉnh Ninh Bình

1.1.1 Điều kiện tự nhiên

 Vị trí địa lý

Khu du lịch sinh thái Tràng An có diện tích 2.168 ha nằm về phía Đông Bắc tỉnh Ninh Bình cách Hà Nội hơn 90 km về phía Bắc, được chia thành 4 khu chính: Khu bảo tồn đặc biệt (khu cố đô Hoa Lư), khu trung tâm, khu hang động, khu văn hóa tâm linh (chùa Bái Đính) [7]

Khu du lịch sinh thái Tràng An nằm trên địa bàn 8 xã, phường thuộc huyện Hoa Lư, huyện Gia Viễn và thành phố Ninh Bình Trong đó: xã Trường Yên: 772,12 ha; xã Ninh Xuân: 375,56 ha; xã Gia Sinh: 529,6 ha; xã Ninh Hải: 159,6 ha; xã Ninh Hoà: 74 ha; xã Ninh Nhất: 182,41 ha; phường Ninh Khánh: 31,56 ha; phường Tân Thành: 43,68 ha

Quần thể danh thắng Tràng An nằm gần các quốc lộ 1A, QL38B, QL12B

và được giới hạn bởi các sông:

- Sông Hoàng Long ở phía Bắc

- Sông Vo ở phía Nam

- Sông Mới ở phía Đông

- Sông Đáy ở phía Tây

Trang 15

- Vùng núi đá vôi: bao gồm những dải núi đá vôi chủ yếu nằm ở phía Tây Nam huyện Hoa Lư và Đông Bắc huyện Gia Viễn Địa hình phức tạp có nhiều dãy núi đá vôi vách dựng đứng ôm trọn cả thung lũng, dưới chân các dãy núi đá vôi có rất nhiều hàm ếch, cửa hang là dấu tích sự xâm thực của nước biển [7]

Địa chất

Các nhà địa chất khẳng định khu Tràng An xưa là một vùng biển cổ, qua quá trình vận động địa chất mà kiến tạo nên Tràng An minh chứng cho các giai đoạn cuối cùng của quá trình tiến hóa karst trong môi trường khí hậu nhiệt đới

Trang 16

5

ẩm Sự đa dạng địa chất địa mạo hiện diện tại khu du lịch Tràng An là kết quả từ các hoạt động địa chất liên tục qua hàng trăm triệu năm từ kỷ Trias đến Đệ Tứ Khu vực Tràng An được bao bọc bởi các dãy núi đá vôi hình cánh cung và những dãy núi đá hoặc khối đá vôi cao 150 - 200m có đỉnh dạng tháp, vòm, chuông, sườn vách dốc đứng giữa vùng chiêm trũng ngập nước đã trải qua thời gian dài biến đổi địa chất tạo thành Phần rìa khối là các thung lũng bằng phẳng

dễ úng ngập vào mùa mưa [8]

 Khí hậu

Khí hậu của khu du lịch sinh thái Tràng An mang đặc trưng của tiểu đồng bằng sông Hồng, chịu ảnh hưởng sâu sắc của gió mùa Đông Bắc, Đông Nam Thời tiết chia làm hai mùa rõ rệt: mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 Theo Thông báo khí tượng nông nghiệp [9]:

- Lượng mưa trung bình hàng năm: 1.400 -1.900 mm

- Nhiệt độ trung bình: 24,2°C

- Số giờ nắng trong năm: 1.600 -1.700 giờ

- Độ ẩm tương đối trung bình: 80 - 85%

 Tài nguyên sinh vật:

Khu du lịch sinh thái Tràng An có hai hệ thống sinh thái chính đó là hệ sinh thái trên đá vôi và hệ sinh thái thủy vực [8]:

- Hệ sinh thái trên núi đá vôi: các dãy núi đá vôi được tạo thành qua nhiều thế kỉ Trên thung có các hốc đá và khe đá tạo thành nơi chứa nhiều mùn để cho các loại thực vật bám rễ và phát triển Điều kiện của khu du lịch sinh thái Tràng

An rất thuận lợi cho các loài thực vật sống trên núi đá vôi Thảm thực vật bao gồm tràng cây bụi thứ sinh trên núi đá vôi, tràng cây bụi thứ sinh trên đất dày Thảm thực vật tự nhiên ở Hoa Lư là rừng trên núi đá vôi và rừng thường xanh trên đất thấp ở các thung lũng đan xen giữa các vùng đá vôi Do đặc điểm môi trường tự nhiên, khu du lịch sinh thái Tràng An có hệ động, thực vật phong phú, tính đa dạng sinh học cao, theo kết quả điều tra của Viện Điều tra Quy hoạch Rừng (FIPI) và Chi cục Kiểm lâm Ninh Bình thống kê được 577 loài thực vật trong đó có 10 loài nằm trong sách đỏ Việt Nam cần được bảo vệ Đặc biệt

Trang 17

6

tài nguyên cây thuốc ở đây đa dạng, quý hiếm đã có 311 loài có thể dùng làm thuốc, thực vật làm cây cảnh có 76 loài các cây gỗ quý như kiềng kiềng, đinh, sến, lát rất ít và ở những nơi khó đến, còn lại hiện nay trên núi đá vôi là những thực vật ít giá trị về kinh tế Động vật thuỷ sinh trong vùng ngập nước Tràng

An tương đối phong phú, bao gồm 30 loài động vật nổi, 40 loài động vật đáy,

đặc biệt là rùa cổ sọc (Ocadia sinensis) được coi là động vật quý hiếm cần

được bảo vệ [8]

 Động vật trên cạn:

Tuy chưa có thống kê đầy đủ nhưng hiện nay nhân dân địa phương đôi khi

cả khách du lịch vẫn còn gặp những bầy khỉ, sơn dương, tắc kè, mèo rừng, vọoc, trăn, rắn; các loài chim như sáo, vẹt, khiếu, cò, đặc biệt là phượng hoàng đất – một loài chim quý hiếm sống thành bầy đàn

1.1.2 Kinh tế xã hội

- Cơ sở vật chất

Cơ sở vật chất của khu du lịch sinh thái Tràng An được chia làm hai khu: khu trung tâm và khu dịch vụ du lịch Khu trung tâm có vị trí thuận lợi, cảnh quan thiên nhiên đẹp Khu dịch vụ du lịch là khu quy hoạch chia lô dành cho các nhà đầu tư, khai thác hoặc thuê đất đai để kinh doanh

- Công nghiệp

Sản xuất công nghiệp ở tỉnh Ninh Bình 5 tháng đầu năm 2018 tiếp tục duy trì đà tăng trưởng khá, giá trị sản xuất đạt gần 4.493 tỷ đồng, tăng 35% so với cùng kỳ năm 2017; lũy kế 5 tháng đầu năm đạt 20.784 tỷ đồng, tăng 23,3%; chỉ

số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 19,75% so với cùng kỳ năm 2017 Một số sản phẩm công nghiệp chủ lực có mức tăng trưởng mạnh như: kính nổi đạt 118.1 nghìn tấn, gấp hơn 3,5 lần; Xi măng + Clanke đạt 5.072,9 nghìn tấn, tăng 10,4%… [10]

Hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp trong các khu công nghiệp duy trì ổn định, góp phần tạo việc làm nâng cao đời sống người dân

- Du lịch

Hoạt động du lịch diễn ra sôi động, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội,

Trang 18

7

vệ sinh môi trường tại các khu, điểm du lịch được đảm bảo Tổng số lượt khách

5 tháng đầu năm đạt 4,9 triệu lượt khách, tăng 5,8% so với cùng kỳ năm 2017 Trong đó: khách trong nước đạt gần 4.514,1 nghìn lượt khách, tăng 6,0%; khách quốc tế 370,5 nghìn lượt khách, tăng 2,8%

Doanh thu từ hoạt động du lịch 5 tháng đầu năm 2018 đạt 1.736,9 tỷ đồng, tăng 18,3% so với cùng kỳ năm trước Trong đó: doanh thu lưu trú 324,0 tỷ đồng, tăng 15,2%; doanh thu ăn uống 643,3 tỷ đồng, tăng 15,7%; doanh thu vận chuyển khách du lịch đạt 248,9 tỷ đồng, tăng 28,9%; doanh thu bán hàng đạt 242,4 tỷ đồng, tăng 25,1%; doanh thu dịch vụ khác 278,4

tỷ đồng, tăng 14,3% [11]

Người dân tại các khu vực khu du lịch sinh thái Tràng An có thêm những nguồn thu nhập từ ngành du lịch bên cạnh ngành thu nhập chính là nông nghiệp Điều này có thể làm giảm sự tác động tới đa dạng sinh học tại khu du lịch sinh thái Tràng An do các hoạt động sinh kế của người dân nơi đây

- Các giá trị văn hóa

Khu du lịch sinh thái Tràng An không chỉ có giá trị về mặt sinh thái tự nhiên, các giá trị khảo cổ học mà còn chứa đựng nhiều yếu tố văn hóa, tâm linh Mỗi hang động có một tên riêng gắn liền với một truyền thuyết riêng

- Lễ hội:

Do được hình thành trong một không gian văn hóa lại nằm trên một mảnh đất truyền thống hàng ngàn năm lịch sử - Cố đô Hoa Lư nên khu du lịch sinh thái Tràng An là nơi chứng kiến và có nhiều lễ hội truyền thống gắn với các di tích lịch sử có ý nghĩa như [7]:

+ Lễ hội Cố đô Hoa Lư (Lễ hội Trường Yên): được tổ chức từ mùng 8 đến 13/3 hàng năm tại xã Trường Yên Đây là một lễ hội truyền thống được mở ra để suy tôn công lao các vị anh hùng dân tộc đã xây dựng kinh đô Hoa Lư lập ra nhà nước Đại Cồ Việt thế kỉ X mà tiêu biểu là hai vị vua Đinh Tiên Hoàng và Lê Đại Hành Lễ hội diễn ra tại quảng trường trung tâm khu di tích cố đô Hoa Lư và các

di tich Đây là một lễ hội truyền thống hướng về cội nguồn của dân tộc

+ Lễ hội chùa Bái Đính: lễ hội được tổ chức từ mùng 6 tháng Giêng đến hết

Trang 19

8 tháng ba âm lịch hàng năm, khởi đầu cho những cuộc hành hương về mảnh đất

cố đô Hoa Lư Lễ hội được tổ chức để tưởng nhớ các vị anh hùng có công với nước với dân tại thôn Sinh Dược, xã Gia Sinh, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình

- Cảnh quan [7]:

+ Khu Kênh Gà (Gia Viễn) và động Vân Trình (Nho Quan): Từ những năm

60 của thế kỷ trước, nước suối Kênh Gà đã nổi tiếng ở miền Bắc nhờ khả năng chữa trị được một số loại bệnh, giúp phát triển loại hình du lịch nghỉ dưỡng Động Vân Trình cũng là một địa danh đẹp để cùng với các hang động khác tạo nên sự độc đáo thu hút khách du lịch

+ Khu Tam Cốc - Bích Động - Tràng An - Cố đô Hoa Lư: là quần thể hang động và các di tích lịch sử - văn hóa – tâm linh rất phong phú, độc đáo, với khu

du lịch sinh thái Tràng An, chùa Bái Đính, khu cố đô Hoa Lư, khu hang động Tam Cốc - Bích Động, tuyến Linh Cốc - Hải Nham và Thạch Bích - Thung Nắng

Việc tổ chức các lễ hội truyền thống góp phần vào việc khai thác các giá trị văn hóa đưa vào phục vụ du lịch, giao lưu văn hóa với các nơi khác

1.2 Tổng quan về ốc cạn

1.2.1 Vị trí phân loại và đặc điểm hình thái

Lớp Thân mềm Chân bụng (Gastropoda) là một trong 7 lớp thuộc ngành Thân mềm (Mollusca) Trong lớp Chân bụng có 3 phân lớp: phân lớp Mang sau (Opisthobranchia), phân lớp Mang trước (Prosobranchia) và phân lớp Có phổi (Pulmonata) Trong 3 phân lớp này, phân lớp Mang sau hoàn toàn ở biển, phân lớp Mang trước tỷ lệ loài sống ở nước chiếm phần lớn còn một số ở cạn, phân lớp Có phổi sống trên cạn

Hầu hết các loài ốc cạn được phát hiện có thể xác định dựa vào các đặc điểm hình thái của vỏ, các dấu hiệu được sử dụng nhiều trong mô tả, sự xoắn của vỏ ốc là tính chất phức tạp trong vỏ ốc Sự tiến hóa hay thoái hóa của dạng ống đã tạo nên vỏ xoắn quen gọi là vòng xoắn Các vòng xoắn chụm lại ở giữa trục (axis), trục này chạy xuyên suốt trung tâm gọi là trụ giữa (central pillar) của

vỏ Vòng xoắn có thể rộng nhanh hay chậm và được tách ra thành đường liên tục

Trang 20

9 gọi là đường xoắn (suture) Một vài loài vỏ mỏng có đường thứ sinh hay một đường rộng (broad), thêm vào một dãy mờ đục (opaque) bên cạnh đường xoắn như đường xoắn kép Hầu như trong các mẫu vỏ, vòng xoắn rộng nhất là vòng xoắn cuối (last whorl) Đỉnh của vòng xoắn (apex), đối diện với đáy (base) Phần

mở ra bên ngoài của vỏ gọi là miệng vỏ (aperture) [12]

Hình 1.2 Sơ đồ cấu tạo vỏ ốc cạn

(Nguồn: http://thesistut.com/snail-anatomy-diagram.html)

- Vỏ ốc (Shell): là một ống rỗng dài chứa cơ thể ốc, cuộn vòng quanh một trục tạo nên các vòng xoắn, khởi đầu từ đỉnh vỏ và kết thúc ở miệng vỏ Hình dáng vỏ rất đa dạng có thể là hình cầu, hình nón, dạng tháp xoắn, hình trụ, dạng con quay, dạng xoắn dài, dạng cuộn trong… Vỏ có màu sắc rất đa dạng, mỗi loài, thậm chí mỗi cá thể trong loài có màu sắc khác nhau

Thông thường vỏ cuộn có các dạng như: Dạng chóp dài, dạng hình trụ, dạng nón ovan, dạng ovan dài, dạng xoắn ốc dẹt, dạng xoắn ốc, dạng xoắn ốc nón [13]

- Đỉnh vỏ (apex): là điểm khởi đầu của các vòng xoắn, là nơi hình thành các vòng xoắn đầu tiên của vỏ (còn gọi là vòng xoắn phôi), các vòng xoắn này

Chiều rộng vỏ

Chiều cao miệng vỏ Chiều cao vỏ

Vành miệng

Trang 21

10 thường rất nhỏ và nhẵn Đỉnh vỏ có thể nhọn hoặc tù

- Kích thước vỏ là đặc điểm dùng nhiều trong mô tả và nhận dạng các bậc loài, giống Các số đo quan trọng về kích thước của vỏ ốc cạn gồm: Chiều cao hay chiều dài, chiều rộng, chiều cao tháp ốc và chiều rộng miệng vỏ

- Các vòng xoắn (spira): bao gồm các vòng xoắn tính từ đỉnh vỏ tới vòng xoắn cuối cùng, trừ lỗ miệng Các vòng xoắn có thể là thuận hay ngược chiều kim đồng hồ, có nhiều loài ốc xoắn ngược và có nhiều loài có cả hai kiểu xoắn Các vòng xoắn có khi nhẵn, có khía; gờ dọc, gờ vòng hay gờ hình cánh cung Giữa các vòng xoắn có rãnh ngăn cách gọi là rãnh xoắn (sutura) Trên các vòng xoắn có thể có hay không có hoa văn trang trí, đường viền có gai hay nốt sần, có lông hoặc không Số vòng xoắn của vỏ ốc cũng thay đổi từ con non đến trưởng thành [13]

- Miệng vỏ (aperture): là nơi vỏ ốc thông với bên ngoài Hình dạng lỗ miệng thay đổi, có thể xiên, bầu dục, hình thoi, hình thang, hình ovan, hình bán nguyệt, hình quả lê… Bờ viền của miệng là vành miệng (môi) Vùng miệng vỏ

có thể phân biệt bờ trụ (bờ trong hay bờ dưới) và vành miệng ngoài (bờ ngoài hay bờ trên) Miệng có thể một hay nhiều hơn các mấu chìa ra gọi là răng, tên của nó có thể tùy theo vị trí của chúng Gờ vành miệng ngoài có thể liên tục hay ngắt quãng ở bờ trụ Lỗ miệng có nắp miệng hay không [13]

- Trụ ốc (columella) và lỗ rốn (umbilical):

Trụ ốc là do các vòng xoắn chập lại với nhau tạo nên Trụ ốc có thể rỗng và

mở ra ngoài gần miệng tạo thành lỗ rốn, có khi trụ ốc lại đặc không tạo lỗ rốn Rốn có thể rộng hay hẹp, có thể nông hay sâu Trong định loại và nhận dạng, có thể phân biệt các dạng lỗ rốn: dạng đóng, dạng vết lõm và dạng mở [12]

1.2.2 Đặc điểm sinh học và sinh thái học

Các loài ốc cạn phân bố rộng ở nhiều dạng địa hình và sinh cảnh khác nhau Trên môi trường cạn, ốc và sên trần thường ưa sống ở những nơi ẩm ướt, giàu mùn

bã thực vật, rêu và tảo Trong số các môi trường sống, rừng tự nhiên, rừng trên núi

đá vôi có nhiều yếu tố thuận lợi cho ốc cạn sinh sống như tầng thảm mục dày, độ

ẩm cao, có nhiều khe đá ẩm ướt, hàm lượng canxi cao giúp hình thành lớp vỏ

Trang 22

11 Vào mùa mưa, các hoạt động kiếm ăn, sinh sản của ốc cạn diễn ra mạnh hơn Trong khi đó, với mùa lạnh và khô, do môi trường sống không thuận lợi (về nhiệt

độ, độ ẩm, thức ăn ) chúng có thời kỳ ngừng hoạt động (ngủ đông) Nhiều loài trong nhóm ốc có phổi, lỗ miệng không có nắp miệng được bít kín bằng một màng được làm bằng chất nhày do chúng tiết ra [14]

Trong tự nhiên, các loài ốc cạn thường hoạt động mạnh vào ban đêm vì thời tiết ẩm ướt, mát mẻ nên nên khi trời mưa, trời nhiều mây hoặc vào ban đêm

sẽ có thể dễ dàng tìm thấy ốc cạn Ở vùng núi, phần lớn các loài ốc cạn tập trung phân bố (cả số lượng loài và số lượng cá thể trong mỗi loài) ở khu vực chân núi

và sườn núi, tính đa dạng giảm rõ rệt ở khu vực đỉnh núi do điều kiện tự nhiên không thuận lợi [15]

Các sinh cảnh tự nhiên như núi đá vôi, hang động có rất nhiều yếu tố thuận lợi cho ốc cạn sinh sống Bên cạnh đó, môi trường tác nhân do các hoạt động sinh kế của con người theo hướng bất lợi cho sinh vật đã làm giảm tính đa dạng sinh học, nhiều đặc tính của môi trường bị biến đổi Phân bố của ốc cạn giữa sinh cảnh tự nhiên và nhân tác có sự khác nhau rõ rệt Sự phát tán của ốc cạn thường mang tính chủ động, chúng di chuyển và mở rộng khu vực sống tìm môi trường thích hợp để sinh sống

Ốc cạn có giá trị thực tiễn đối với con người cũng như hệ sinh thái Một số loài ốc cạn được sử dụng như nguồn thực phẩm cho con người, thức ăn cho gia cầm, làm nguyên liệu nghiên cứu trong y dược và làm đẹp Bên cạnh những giá trị thực tiễn đó là mặt gây hại, ốc cạn ăn nhiều loại thức ăn khác nhau, thức ăn của hầu hết các loài ốc cạn bao gồm các loại lá, thân cây, trái cây, nấm - đó là lý do tại sao một số loài ốc cạn được gọi là loài gây hại vườn tuy nhiên cũng có một số loài ăn thịt hoặc ăn tạp

1.3 Lịch sử nghiên cứu ốc cạn

1.3.1 Tình hình nghiên cứu ốc cạn trên thế giới

Việc nghiên cứu ốc cạn trên thế giới về phân loại, đặc điểm sinh học, phân

bố và sinh sản đã được tiến hành khá sớm và rộng rãi ở nhiều quốc gia thuộc châu Âu, châu Mỹ, châu Úc và một số nước xung quanh Việt Nam như Trung

Trang 23

12 Quốc, Philippines, Malaysia, Ấn Độ, Thái Lan… Theo Baker (2001), có khoảng

35 nghìn loài chân bụng ở cạn được ghi nhận [16] Nghiên cứu sớm nhất có thể

kể đến nhà khoa học người Hy Lạp, Aristotle (384 -322 trước công nguyên) và sau đó người đưa ra hệ thống phân loại sinh vật chuẩn xác hơn là nhà khoa học nổi tiếng Linnaeus trong ấn phẩm “Hệ thống tự nhiên”, xuất bản lần đầu tiên năm 1735 [17] Đây là giai đoạn khởi đầu của nghiên cứu cơ bản về sinh vật nói chung và về ốc trên cạn nói riêng vì thế số lượng nhà nghiên cứu còn ít, phạm vi nghiên cứu hẹp, chủ yếu thực hiện trong các bảo tàng và một số quốc gia Châu Âu [17]

Từ cuối thế kỷ XVIII, bằng việc sắp xếp hệ thống tên cho các bậc phân loại, Linnaeus (1758) đã định tên cho ngành Thân mềm (Mollusca), Cuvier (1795) đã xác định tên cho lớp Chân bụng (Gastropoda) Trong thế kỷ XVIII, kết quả nghiên cứu về ốc cạn chỉ mới dừng lại trong phạm vi xây dựng hệ thống phân loại tới ngành và lớp là chủ yếu, các nghiên cứu sâu hơn về giải phẫu học

và phân loại tới giống, loài hầu như chưa có nghiên cứu kĩ càng [19],[68]

Đầu thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XXI là thời kỳ phát triển mạnh của ngành khoa học nghiên cứu cơ bản về sinh vật nói chung và ốc cạn nói riêng Hầu hết các phát hiện trong giai đoạn này có số lượng lớn, được công bố bởi nhiều nhà khoa học, tiến hành trên phạm vi rộng khắp thế giới, tiêu biểu có các công trình

có ý nghĩa và có giá trị khoa học cao thuộc các tác giả: Pfeiffer (1848-1877); Fischer và Dautzenberg (1904); Mabille (1887)… Giai đoạn này nhiều bảo tàng trên thế giới đã thu thập được một số khối lượng mẫu lớn, các tác giả đã công bố được các mô tả chi tiết hơn về hình thái và giải phẫu Quá trình nghiên cứu trong giai đoạn này đã tạo đà nghiên cứu sâu và rộng hơn về ốc cạn trên toàn thế giới Tuy nhiên vì kết quả nghiên cứu và các công bố trước đây (cả mẫu vật và tài liệu

in ấn) chỉ tập trung ở một số bảo tàng lớn trên thế giới nên việc tiếp cận và sử dụng các tài liệu này còn hạn chế và không phổ biến [20],[21],[22]

Khu hệ ốc cạn của các nước lân cận Việt Nam cũng được quan tâm nghiên cứu nhưng ở các mức độ khác nhau giữa các quốc gia Khu hệ Thân mềm Chân bụng Trung Quốc được công bố bởi nhiều tác giả, tiêu biểu như Moellendorff

Trang 24

13 (1882, 1885, 1886), Fischer và Dautzenberg (1904), Teng Chieng Yen (1939,

1941, 1948), Shannon’s & Weiner, 1963 [18],[23],[24],[25]

Năm 2009, dẫn liệu có tính tổng quan về khu hệ ốc cạn của Thái Lan được công bố bởi Panha và ctv [26]

Crosse và Fischer công bố lần đầu về dẫn liệu về ốc cạn của Lào và Campuchia năm 1863 cùng với dẫn liệu về nhóm trai ốc nước ngọt, những nghiên cứu ban đầu này là những hoạt động khảo sát chung trong cả vùng Đông Dương [26] Thành phần loài được tìm thấy và công bố trong các công trình nghiên cứu chung về trai ốc nước ngọt, ở cạn và ở biển của vùng Đông Dương

từ đầu thế kỷ XIX tới năm 1900 đã được tổng hợp trong công trình tổng quan của Fischer (1891) về danh mục và phân bố địa lý của ốc ở cạn, nước ngọt và ốc sống ở biển Tiếp sau đó, có trong báo cáo của Fischer và Dautzenberg thuộc đoàn khảo sát Pavie tiến hành trong thời gian 1879-1895, danh mục thống kê của các tác giả ghi nhận 448 loài và phân loài Thành phần loài được bổ sung về sau bởi nhiều chuyên gia và số loài ghi nhận cho khu vực này khoảng 810 loài [2]

1.3.2 Tình hình nghiên cứu ốc cạn tại Việt Nam

Từ cuối thế kỉ XVII, ở Việt Nam đã bắt đầu có những điều tra nghiên cứu

ốc cạn ban đầu, tuy nhiên những nghiên cứu về ốc cạn thực sự bắt đầu vào những năm cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX và chủ yếu do các tác giả nước ngoài thực hiện Theo tài liệu của Fischer và Dautzenberg (1891), các dẫn liệu đầu tiên

về ốc cạn ở Việt Nam đã ghi nhận một số loài ốc cạn ở khu vực miền Trung Việt

Nam (Đà Nẵng) như họ Streptaxidae (loài Streptaxis aberratus và Streptaxis

deflexus) [23] Thời gian năm 1848 – 1877 đã được L Pfeiffer phát hiện tới hàng

chục loài mới như: Nanina cambojiensis, Nanina distincta, Nesta cochinchinensis,

Trochomorpha saigonesis… ở các vùng khác ở Nam Bộ bao gồm cả các đảo như

Côn Đảo, Phú Quốc [28]

Từ những năm cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, những nghiên cứu về

ốc cạn ở vùng Nam Bộ và Trung Bộ được tiếp tục nghiên cứu đến những năm

60 của thế kỷ XIX như công trình của Crosse và Fischer (1863, 1864, 1869), Mabille và Mesle (1866), Crosse (1867) [27],[29],[30],[31] Thời gian đầu thế kỉ

Trang 25

14

XX do chiến tranh mà việc nghiên cứu về ốc cạn cũng như các nhóm ốc khác ở Việt Nam và Đông Dương hầu như bị ngừng lại, chỉ có một số ít công trình kết hợp với khảo sát địa chất ở các đảo như: Hoàng Sa, Bạch Long Vĩ (Saurin,

1955, 1960) và một số điểm khác ở Bắc Bộ (S Jaeckel, 1950; Varga, 1963) Sau chiến tranh rất lâu, các công trình về ốc cạn mới tiếp tục được nghiên cứu, với một số công trình của các tác giả nước ngoài như công trình khảo sát về thành phần loài và phân bố ốc cạn ở một số khu vực phía Bắc Việt Nam: Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông (Thanh Hóa), vườn quốc gia Cúc Phương (Ninh Bình), Phủ Lý (Hà Nam), một số đảo thuộc Vịnh Hạ Long, dãy núi đá vôi khu vực Cẩm Phả (Quảng Ninh) và ở đảo Cát Bà của Vermeulen và Maassen (2003) trong chương trình khoa học quốc tế FFI (Flora and Fauna International) Thời gian và địa bàn khảo sát còn hạn chế, tuy nhiên công trình đã công bố 259 loài và phân loài thuộc 23 họ, 77 giống [32]

Trong giai đoạn 2007 đến 2013, một số công trình nghiên cứu trên diện rộng từ miền Trung ra miền Bắc như: Nghiên cứu khu hệ ốc cạn miền Bắc Việt Nam của nhóm nghiên cứu Ohara, Okubo, Otani, Lương Văn Hào (2008) phát hiện được 107 loài thuộc 17 họ; Ohara, Okubo, Ishibe, Nakahra, Otani, Lương Văn Hào, Phạm Văn Sáng (2007 - 2013) với số lượng loài tới gần 200 loài thuộc 20 họ được thực hiện là một số công trình nghiên cứu có sự kết hợp chặt chẽ giữa Việt Nam và nước ngoài [33]

Năm 2011, Schileyko đã tu chỉnh toàn bộ các loài ốc ở cạn thuộc bộ Stylommatophra, phân lớp ốc Có phổi (Pulmonata) được các tác giả trước thu thập

và nghiên cứu tại Việt Nam từ giữa thế kỷ XIX đến thế kỷ XX [34]

Từ năm 2009 đến năm 2014, Đỗ Văn Nhượng và nhóm nghiên cứu thuộc Trung tâm Động vật đất, trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã có hàng loạt công bố

về thành phần loài ở một số khu vực phía Bắc Việt Nam như: 36 loài ở núi Voi (An Lão, Hải Phòng) thuộc 28 giống, 14 họ và 4 bộ trong đó họ Ariophantidae (7 loài, 6 giống), Camaenidae (6 loài, 5 giống), Subulinidae (6 loài, 4 giống), Cyclophoridae (6 loài, 2 giống) chiếm ưu thế về thành phần loài; 54 loài và phân loài ở khu vực Tây Trang, tỉnh Điện Biên thuộc 35 giống, 15 họ, 3 bộ và 2 phân

Trang 26

15 lớp, trong đó họ Cyclophoridae cũng phong phú nhất với 8 giống, 11 loài; 73 loài thu thập ở thành phố Sơn La, trong đó mới xác định tên khoa học được 50 loài; 52 loài và phân loài ở vườn quốc gia Tam Đảo (tỉnh Vĩnh Phúc) thuộc 31 giống, 14

họ, trong đó họ Cyclophoridae và Clausiliidae có số loài nhiều nhất [15],[35],[36] Cũng trong giai đoạn này, các khóa luận tốt nghiệp và luận văn thạc sĩ bắt đầu nghiên cứu về ốc cạn như: Thành phần loài ốc núi miệng tròn – Cyclophoridae (Gastropoda: Prosobranchia) ở khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – Phượng Hoàng, tỉnh Thái Nguyên [2], Nghiên cứu về ốc trên cạn khu vực Tây Trang, tỉnh Điện Biên [15], Dẫn liệu về Ốc cạn (Mollusca: Gastropoda) dọc sông Đà, đoạn từ Sơn La đến Hòa Bình [37], Ốc cạn (Gastropoda) ở vườn Quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc [38], Những nghiên cứu đóng góp trên rất có ý nghĩa để sau này có dẫn liệu về thành phần loài, phân bố và giá trị thực tiễn về ốc cạn ở Việt Nam nói chung

Đã có nhiều nghiên cứu về thành phần loài cùng giá trị thực tiễn của ốc cạn ở Việt Nam như: Thành phần loài ốc núi miệng tròn – Cyclophoridae (Gastropoda: Prosobranchia) ở khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – Phượng Hoàng, tỉnh Thái Nguyên [2], Nghiên cứu đa dạng sinh học ốc cạn (Land Snails) ở khu vực xã La Hiên, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên [3], Nghiên cứu thành phần và đặc điểm phân bố của ốc cạn (Mollusca: Gastropoda) ở các đảo thuộc huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang [4], Dẫn liệu về ốc (Gastropoda) trên cạn khu vực Tây Trang, tỉnh Điện Biên [15] Dù vậy vẫn chưa có nghiên cứu cụ thể nào về hiện trạng tài nguyên ốc cạn ở Việt Nam

Từ những tài liệu thu thập được cho thấy những nghiên cứu về ốc cạn ở Việt Nam đã được thực hiện ở nhiều nơi và cũng có những nghiên cứu về đa dạng thành phần loài ốc cạn ở Ninh Bình như: nghiên cứu Thân mềm Chân bụng (Gastropoda) khu vực Tràng An Cổ, Trường Yên, Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình [6] tuy nhiên cho tới thời điểm hiện tại thì chưa có nghiên cứu hay tài liệu nào về hiện trạng tài nguyên ốc cạn ở khu du lịch sinh thái Tràng An, tỉnh Ninh Bình

Trang 27

16

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

 Đối tượng khảo sát: Các loài ốc cạn (Mollusca: Gastropoda) thu lượm ở khu vực nghiên cứu

 Thời gian nghiên cứu:

- Thời điểm thu mẫu và phân tích mẫu: các mẫu ốc cạn được thu định tính

và định lượng từ tháng 4 đến tháng 6 chia làm 3 đợt (31/3 -1/4; 30/4 – 1/5; 1/6 – 2/6)

- Thực hiện viết luận văn: từ tháng 5 đến tháng 8

 Phạm vi nghiên cứu: khu du lịch sinh thái Tràng An thuộc khu vực xã Gia Sinh, huyện Gia Viễn và xã Ninh Xuân, huyện Hoa Lư

2.2 Địa điểm nghiên cứu

Các vị trí được lựa chọn để lấy mẫu nghiên cứu là những vị trí đại diện, được xác định dựa trên việc khảo sát hiện trường Mẫu ốc trên cạn được thu theo các sinh cảnh và theo tuyến Các sinh cảnh gồm: sinh cảnh nhân tác, rừng tự nhiên trên núi đất, rừng tự nhiên trên núi đá vôi được thể hiện trong bảng 2.1:

Trang 28

Số 3 TA3 20°12'04.3"N

105°54'39.6"E

Xã Ninh Xuân, huyện Hoa

Lư, Tp Ninh Bình Nhân tác

Số 4 TA4 20°13'35.0"N

105°53'15.0"E

Xã Trường Yên, huyện Hoa

Lư, Tp Ninh Bình Nhân tác

Trang 29

18

Bước 4: Xử lý

số liệu

Lập bảng thành phần loài Đặc điểm phân bố Hiện trạng tài nguyên ốc cạn Định hướng

Phân tích mẫu: Mô tả hình

thái, số lượng cá thể, cân khối lượng

Định danh:

Hình thái, các tài liệu sử dụng trong định danh, cách sắp xếp hệ thống phân loại

Hình 2.1 Các vị trí lấy mẫu tại khu du lịch sinh thái Tràng An, tỉnh Ninh Bình

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Sơ đồ nghiên cứu

Hình 2.2 Sơ đồ nghiên cứu

2.3.2 Thiết bị nghiên cứu

Bước 2: Xử lý mẫu

• Rửa sạch mẫu

• Phơi khô

• Đối với mẫu trong đất: sàng, rửa sạch rồi phơi khô

• Đối với mẫu

trong cồn 90 0

Trang 30

19 Thiết bị cần thiết cho phương pháp thu thập bao gồm:

- Dụng cụ thu mẫu gồm: Cồn 900, xẻng nhỏ đào đất, túi polyethylene (túi zip từ cỡ 0 đến 6) đựng mẫu, bạt có kích thước 1m2, sàng (mắt lưới từ 3 - 5mm)

để chọn các mẫu đất dễ dàng hơn, thùng xốp, giấy ghi nhãn, sổ tay ghi chép, bút mực, bút chì, thước dây, điện thoại có chức năng định vị GPS và máy ảnh

- Dụng cụ phân tích mẫu gồm: kính lúp, thước palme, panh, hộp nhựa nhỏ

có nắp kín để lưu trữ mẫu

2.3.3 Phương pháp điều tra xã hội học

Điều tra phỏng vấn cán bộ, người dân đang sinh sống tại khu vực xã Ninh Xuân, huyện Hoa Lư và xã Gia Sinh, huyện Gia Viễn thông qua phiếu điều tra nhằm thu thập các số liệu hoặc thông tin sơ cấp và tổng hợp các ý kiến và số liệu cần thiết cho tính toán về sử dụng, trữ lượng mật độ, hiện trạng khai thác loài ốc cạn tại khu du lịch sinh thái Tràng An, tỉnh Ninh Bình (10 phiếu phỏng vấn cho quản lý, 50 phiếu phỏng vấn cho người dân) (Phụ Lục I)

2.3.4 Phương pháp thu thập tài liệu

- Phương pháp ghi chép thực địa: Ghi chép lại những thông tin quan trọng, hữu ích đối với đề tài mà đã thu thập được từ người dân, cán bộ hoặc do quan sát như: khối lượng khai thác, giá bán trung bình, cách thức thu bắt ốc,

- Phương pháp kế thừa: Kế thừa tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội; các tài liệu về đa dạng sinh học, đặc điểm sinh học, sinh thái của ốc cạn; các văn bản pháp lý để xác định loài quý hiếm, loài có giá trị bảo tồn như: Thông tư 04/2017/TT – BNNPTNT Danh mục động thực vật hoang dã quy định trong các phụ lục của công ước về buôn bán Quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp; Nghị định 32/2006/NĐ- CP Về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm; Sách đỏ IUCN;

2.3.5 Phương pháp nghiên cứu thực địa

 Quan sát, ghi chép và chụp ảnh

Quan sát, ghi chép các thông tin về sinh cảnh: nhiệt độ, độ ẩm, độ cao, thảm mục… của ốc cạn Ghi chép đầy đủ các thông tin về thời gian, địa điểm thu mẫu, mẫu vật vào nhãn của từng mẫu Tiến hành lưu tọa độ vị trí lấy mẫu,

Trang 31

20 chụp ảnh thực địa Ảnh được lưu giữ và có ghi chép đầy đủ về thời gian, địa điểm chụp

 Thu mẫu ốc

Các mẫu định lượng và định tính được thu theo Vermeulen & Masseen (2003) [39]

 Phương pháp thu mẫu định lượng

Thu mẫu định lượng là thu toàn bộ mẫu hiện diện trong diện tích ô tiêu chuẩn, diện tích được sử dụng với ô tiêu chuẩn là 1m2 Giá trị của mẫu định lượng cho biết mật độ, sự phong phú về số lượng hoặc sự đa dạng về thành phần loài của khu vực nghiên cứu (cá thể/m2) [39] Mỗi một khu vực nghiên cứu tiến hành trên 5 ô tiêu chuẩn với diện tích 1m2 (Hình 2.3)

Hình 2.3 Xây dựng các ô tiêu chuẩn

Thu tất cả các mẫu có trong ô tiêu chuẩn (trên cây, tầng thảm mục, hốc đá, trên mặt đất) Thu mẫu mùn đất trong ô mẫu đựng vào túi zip để tìm ốc nhỏ Nếu mẫu có lẫn thảm mục thì phải dùng sàng để loại bỏ những vụn lá, tạp chất và tiến hành thu mẫu Đối với các mẫu ốc nhỏ lẫn trong đất hoặc mùn ở các

kẽ đá hoặc trong hang, có thể sử dụng phương pháp tách mẫu đất để lấy mẫu ốc Các mẫu sống được bảo quản trong cồn 900

Tất cả các mẫu thu định lượng đều được bảo quản trong các túi nylon riêng,

có ghi ký hiệu nhãn theo từng sinh cảnh và các lưu ý cần thiết khác (nếu có) Nhãn ghi các thông tin: Kí hiệu mẫu, địa điểm, thời gian, người thu mẫu…

1 m

Trang 32

21 Nhãn cho từng mẫu thu được:

 Phương pháp thu mẫu định tính

Mẫu định tính được thu ngẫu nhiên ở tất cả các sinh cảnh khác nhau, phạm

vi thường rộng hơn so với mẫu định lượng với mục đích bổ sung thành phần loài cho mẫu định lượng

Các bước được tiến hành thu mẫu theo Vermeulen và Masseen [39]:

Đối với mẫu có kích thước lớn có thể nhặt bằng tay hoặc dùng panh kẹp để thu mẫu Đối với các mẫu nhỏ dùng sàng có mắt lưới cỡ 3 mm, 5 mm, 8 mm bằng kim loại để sàng các lá mục; nếu có ốc nhỏ bám dưới lá mục, khi sàng mẫu

sẽ rơi xuống và có thể dùng kính lúp cầm tay hoặc nhìn bằng mắt nhặt mẫu Đối với các mẫu ốc nhỏ lẫn trong đất hoặc mùn ở các kẽ đá hoặc trong hang, sử dụng phương pháp tách đất lấy mẫu

Tất cả các mẫu thu định tính đều được bảo quản trong các lọ hoặc túi nylon riêng, có ghi ký hiệu cẩn thận theo từng sinh cảnh và các lưu ý cần thiết khác

2.3.6 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm

Sinh cảnh nơi lấy mẫu:

Địa điểm lấy mẫu:

Ngày lấy mẫu:

Người thu mẫu:

Trang 33

22 vành miệng, miệng vỏ, lỗ rốn) và kích thước (kích thước được đo chiều cao vỏ (H), chiều rộng vỏ (D) bằng thước kẹp palme có sai số 0,1 mm) của vỏ ốc được phân tích và so sánh làm căn cứ định danh loài Ngoài ra, một số đặc điểm có giá trị tham khảo để định danh như sự phân bố, các khía, hoa văn trên vỏ ốc + Hệ thống phân loại Phân lớp Có phổi (Pulmonata) được sắp xếp theo Schileyko A.A (2011); Phân lớp Mang trước (Prosobranchia) được sắp xếp theo Kantor er al (2009) [34],[42]

V: là mật độ của loài ốc cạn i trong khu vực nghiên cứu

Σni: là tổng số cá thể loài ốc cạn i trong các ô nghiên cứu

ΣSi: là tổng số các ô nghiên cứu

Độ phong phú của loài:

Được tính theo công thức của Kreds (1989) [43]

n% = 𝐧𝐢

𝚺𝐧 x 100

ni: là số lượng cá thể loài thứ i trong ô nghiên cứu

Σn: là tổng số cá thể trong các ô nghiên cứu

Trang 34

23 P: là tổng số các địa điểm thu mẫu khi nghiên cứu

Đánh giá tần số bắt gặp theo giá trị của C’: Loài thường gặp C’ > 50%, loài

ít gặp 25% ≤ C’ ≤ 50%, loài ngẫu nhiên C’ < 25%

Chỉ số đa dạng loài H’

Được tính theo chỉ số đa dạng Shannon’s (Shannon’s diversity index):

H’ = − ∑ 𝐧𝐢

𝐍 𝐥𝐧𝐧𝐢𝐍

𝐒 𝐢=𝟏Trong đó:

H’: chỉ số đa dạng loài

ni: số lượng cá thể của loài thứ i

N: tổng số cá thể của tất cả các loài tại vị trí nghiên cứu

Trữ lượng tức thời (W)

Ước tính trữ lượng tức thời tài nguyên ốc cạn tại khu vực nghiên cứu [44]:

W = B x S

Trong đó:

W: Trữ lượng tức thời loài ốc cạn

B: Khối lượng sinh vật trung bình thu được của loài ốc cạn trên một đơn vị diện tích (g/m2)

S: Diện tích loài ốc có giá trị phân bố (m2)

Sản lượng khai thác (Y)

Ước tính sản lượng thu bắt loài ốc cạn trong một năm ở khu vực nghiên cứu [44]:

Y = E x N x D Trong đó:

Y: Tổng sản lượng khai thác loài ốc cạn ở khu vực nghiên cứu

E: Sản lượng trung bình của mỗi người thu bắt trong một ngày

N: Số người thu bắt ở khu du lịch sinh thái Tràng An

D: Số ngày thu bắt trong năm

Trang 35

24

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Đa dạng sinh học loài tại khu du lịch sinh thái Tràng An, tỉnh Ninh Bình

giống: Cyclophorus, Cyclotus, Dioryx, Ptychopoma, Pterocyclos, Lagocheilus,

Scabrina, Diplommatina, Pupina, Moussonia, Elasmias, Megaustenia, Sivella, Zingis, Acusta, Aegista, Geotrochatella, Achatina, Macrochlamys, Bradybaena, Camaena, Neocepolis, Haploptychius, Lamellaxis, Cupedora, Oospira, Tropidauchenia, Ptychauchenia, Megalauchenia, Kaliella, Oxychilus, Allopeas, Sinoennea và 2 phân lớp Mang trước (Prosobranchia), Có phổi (Pulmonata);

phân loại ốc cạn thể hiện ở bảng 3.1:

Bảng 3.1 Thành phần các loài ốc cạn tại khu vực nghiên cứu

Trang 36

25

Bộ - Neritopsina

Họ - Helicinidae

Phân lớp Có phổi - PULMONATA

Trang 37

38 Aegista lautsi lautsi

Họ - Camaenidae

41 Camaena duporti

42 Camaena gabriellae subhainanensis

43 Camaena gabriellae platytaenia

(Mӧllendorff in Dautzenberg & Hamonville,

1908)

+

Họ - Clausiliidae

47 Oospira vanbuensis

48 Tropidauchenia dorri

50 Ptychauchenia panhai euclista

51 Megalauchenia proctostoma forceps

54 Allopeas brevispira (Pilsbry & Hirase, 1904) +

Họ - Streptaxidae

Trang 38

27

58 Haploptychius blaisei

Ghi chú:

RTNTNĐ: rừng tự nhiên trên núi đất

RTNTNĐV: rừng tự nhiên trên núi đá vôi

NT: Nhân tác

+ : có mẫu ốc cạn tại khu vực nghiên cứu

Cấu trúc loài ốc cạn ở khu du lịch sinh thái Tràng An

Kết quả nghiên cứu ở khu du lịch sinh thái Tràng An, tỉnh Ninh Bình xác định được 61 loài và phân loài thuộc 34 giống được xếp vào 14 họ: Cyclophoridae, Diplommatinidae, Pupinidae, Helicinidae, Achatinidae, Achatinellidae, Ariophantidae, Bradybaenidae, Camaenidae, Clausiliidae, Euconulidae, Oxychiliadae, Streptaxidae, Subulinidae; 3 bộ: Architaenioglossa, Neritopsina, Stylommatophora và 2 phân lớp Mang trước (Prosobranchia), Có phổi (Pulmonata)

Cấu trúc về bậc phân lớp, bộ, họ, giống, loài ốc cạn tại khu du lịch sinh thái Tràng An, tỉnh Ninh Bình được thể hiện trong bảng 3.2

Bảng 3.2 Cấu trúc ốc cạn ở khu du lịch sinh thái Tràng An, tỉnh Ninh Bình

Ngày đăng: 24/10/2018, 18:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Văn Nhượng, Đỗ Ngọc Huyền, Bùi Thùy Linh, Phạm Thị Ngân, Kiều Thanh Huyền, Đỗ Đức Sáng (2016), “Dẫn liệu bước đầu về Chân bụng (Mollusca: Gastropoda trên cạn vùng núi đá vôi tỉnh Hòa Bình”, Báo cáo khoa học về Nghiên cứu và Giảng dạy Sinh học ở Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 607 – 615 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn liệu bước đầu về Chân bụng (Mollusca: Gastropoda trên cạn vùng núi đá vôi tỉnh Hòa Bình”, "Báo cáo khoa học về Nghiên cứu và Giảng dạy Sinh học ở Việt Nam
Tác giả: Đỗ Văn Nhượng, Đỗ Ngọc Huyền, Bùi Thùy Linh, Phạm Thị Ngân, Kiều Thanh Huyền, Đỗ Đức Sáng
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2016
2. Nguyễn Thanh Bình, Hoàng Ngọc Khắc, Hoàng Văn Ngọc (2017), “Thành phần loài ốc núi miệng tròn – Cyclophoidae (Gastropoda:Prosobranchia) ở khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – Phượng Hoàng, tỉnh Thái Nguyên”, Tạp chí khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội, 33(1S), tr. 34 - 41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phần loài ốc núi miệng tròn – Cyclophoidae (Gastropoda: Prosobranchia) ở khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – Phượng Hoàng, tỉnh Thái Nguyên”, "Tạp chí khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình, Hoàng Ngọc Khắc, Hoàng Văn Ngọc
Năm: 2017
3. Nguyễn Thanh Bình (2015), “Nghiên cứu đa dạng sinh học ốc cạn (Land Snails) ở khu vực xã La Hiên, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên”, Luận văn thạc sĩ Sinh học, Sinh thái học, Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đa dạng sinh học ốc cạn (Land Snails) ở khu vực xã La Hiên, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên”, "Luận văn thạc sĩ Sinh học, Sinh thái học
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Năm: 2015
4. Nguyễn Văn Bé (2015), “Nghiên cứu thành phần và đặc điểm phân bố của ốc cạn (Mollusca: Gastropoda) ở các đảo thuộc huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang”, Luận văn Thạc sĩ Sinh học, Sinh thái học, Đại học Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thành phần và đặc điểm phân bố của ốc cạn (Mollusca: Gastropoda) ở các đảo thuộc huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang”, "Luận văn Thạc sĩ Sinh học, Sinh thái học
Tác giả: Nguyễn Văn Bé
Năm: 2015
6. Đỗ Văn Nhượng, Đỗ Ngọc Huyền và Lưu Thị Thanh Hương (2014), “Dẫn liệu bước đầu về Thân mềm Chân bụng (Gastropoda) khu vực Tràng An Cổ, Trường Yên, Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình”, Tạp chí khoa học, Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn liệu bước đầu về Thân mềm Chân bụng (Gastropoda) khu vực Tràng An Cổ, Trường Yên, Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình”, "Tạp chí khoa học
Tác giả: Đỗ Văn Nhượng, Đỗ Ngọc Huyền và Lưu Thị Thanh Hương
Năm: 2014
7. Vũ Thị Hường (2014), “Phân tích hiện trạng phát triển du lịch của khu du lịch sinh thái Tràng An – tỉnh Ninh Bình”, Bài thu hoạch Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích hiện trạng phát triển du lịch của khu du lịch sinh thái Tràng An – tỉnh Ninh Bình
Tác giả: Vũ Thị Hường
Năm: 2014
9. Viện khoa học khí tượng thủy văn và biến đổi khí hậu (2018), Thông báo khí tượng nông nghiệp, Bộ Tài nguyên và Môi trường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông báo khí tượng nông nghiệp
Tác giả: Viện khoa học khí tượng thủy văn và biến đổi khí hậu
Năm: 2018
12. Mayr, E. (1974), Những nguyên tắc hoạt động phân loại học, Người dịch: Phan Thế Việt, Nxb Khoa học Kỹ thuật Hà Nội, Hà Nội, tr.3 - 309 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nguyên tắc hoạt động phân loại học
Tác giả: Mayr, E
Nhà XB: Nxb Khoa học Kỹ thuật Hà Nội
Năm: 1974
13. Thái Trần Bái (2004), Động vật học không xương sống, Nxb Giáo dục Việt Nam, tr. 170 - 211 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Động vật học không xương sống
Tác giả: Thái Trần Bái
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2004
14. Nguyễn Văn Đĩnh (2005), Giáo trình động vật hại nông nghiệp, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, tr. 3 - 23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình động vật hại nông nghiệp
Tác giả: Nguyễn Văn Đĩnh
Năm: 2005
15. Đỗ Văn Nhượng, Đinh Phương Dung (2012), “Dẫn liệu về ốc (Gastropoda) trên cạn khu vực Tây Trang, tỉnh Điện Biên”, Tạp chí sinh học, tr.397 – 404 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn liệu về ốc (Gastropoda) trên cạn khu vực Tây Trang, tỉnh Điện Biên”, "Tạp chí sinh học
Tác giả: Đỗ Văn Nhượng, Đinh Phương Dung
Năm: 2012
16. Barker G.M (2001), Gastropods on land: Phylogeny, Diversity and Adaptive Morphology, CAB International, pp: 1 – 101 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gastropods on land: Phylogeny, Diversity and Adaptive Morphology
Tác giả: Barker G.M
Năm: 2001
17. Louise R. Page (2006), "Modern insights on gastropod development: Reevaluation of the evolution of a novel body plan", Integrative and Comparative Biology, 46(2): 134 – 143 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Modern insights on gastropod development: Reevaluation of the evolution of a novel body plan
Tác giả: Louise R. Page
Năm: 2006
5. Nhân Phạm Hoài, 2012. Đặc sản núi Bà trước nguy cơ tận diệt,http://www.vncgarden.com/du-ky-ngam-nghi-luu-tru/tay-ninh/dhacsannuibatruocnguycotandiet, ngày 10/4/2018 Link
8. Nguyễn Ngọc Luyên, 2011. Khu du lịch sinh thái Tràng An, http://www.dulichninhbinh.com.vn/ninhbinh-attractions/Khu-du-lich-sinh-thai- Trang-An.html, ngày 6/6/2018 Link
10. UBND tỉnh Ninh Bình, 2018. Kết quả sản xuất công nghiệp tháng 5/2018, http://www.ninhbinh.gov.vn/ubnd-ninhbinh/Kinh-te/Ket-qua-san-xuat-cong-nghiep-thang-5-2018.aspx, ngày 7/6/2018 Link
11. UBND tỉnh Ninh Bình, 2018. UBND tỉnh tổ chức Hội nghị phiên thường kỳ tháng 6/2018, http://www.ninhbinh.gov.vn/ubnd-ninhbinh/Tin-noi-bat/UBND-tinh-to-chuc-Hoi-nghi-phien-thuong-ky-thang-6-2018-aspx,ngày6/6/2018 Link
46. Tuấn Kiệt 2015, Lý giải việc ăn ốc sên bị ngộ độc dẫn đến tử vong, http://doanhnghiepvn.vn/ly-giai-viec-an-oc-sen-bi-ngo-doc-dan-den-tu-vongd47197.html, ngày 6/7/2018 Link
48. Báo Nông thôn ngày nay, 2005. Cách diệt trừ ốc sên hại cây hiệu quả, http://yeucaycanh.com/Sau-benh/104-Cach-diet-tru-oc-sen-hai-cay-hieu-qua,ngày 21/8/20 Link
49. Hà Phương, 2012. Di chỉ khảo cổ học Hang Bói, http://baoninhbinh.org.vn/di-chi-khao-co-hoc-hang-boi20120523094500000p15c43.htm, ngày 21/8/2018 Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w