LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÂN LOẠI TÀI NGUYÊN SINH KHÍ HẬU VÀ QUY HOẠCH KHÔNG GIAN CANH TÁC MỘT SỐ LOÀI CÂY TRỒNG PHÙ HỢP VỚI ĐIỀU KIỆN SINH KHÍ HẬU TỈNH BẮC KẠN CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC MÔI TRƯ
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ
PHÂN LOẠI TÀI NGUYÊN SINH KHÍ HẬU VÀ QUY HOẠCH KHÔNG GIAN CANH TÁC MỘT SỐ LOÀI CÂY TRỒNG PHÙ HỢP
VỚI ĐIỀU KIỆN SINH KHÍ HẬU TỈNH BẮC KẠN
CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
HOÀNG NGỌC YẾN
HÀ NỘI, NĂM 2018
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ
PHÂN LOẠI TÀI NGUYÊN SINH KHÍ HẬU VÀ QUY HOẠCH KHÔNG GIAN CANH TÁC MỘT SỐ LOÀI CÂY TRỒNG PHÙ HỢP
VỚI ĐIỀU KIỆN SINH KHÍ HẬU TỈNH BẮC KẠN
CHUYÊN NGÀNH : KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Trang 3Cán bộ hướng dẫn chính:PGS.TS Nguyễn Thế Hưng
Cán bộ hướng dẫn phụ :TS Hoàng Lưu Thu Thủy
Cán bộ chấm phản biện 1: PGS.TS Nguyễn Thị Hồng Hạnh
Cán bộ chấm phản biện 2: TS Phạm Thị Việt Anh
Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại:
HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN THẠC SĨ TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
Ngày 1 tháng 10 năm 2018
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan các nội dung,sốliệu,kếtquả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Hoàng Ngọc Yến
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Luận văn thạc sĩ “Phân loại tài nguyên sinh khí hậu và quy hoạch không gian canh tác một số loài cây trồng phù hợp với điều kiện sinh khí hậu tỉnh Bắc Kạn” đã được hoàn thành tại KhoaMôi trường- Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội.Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tác giả đã nhận được sự giúp đỡrất nhiều của các thầy cô, bạn
bè và gia đình
Đầu tiên, tác giả xin được gửi lời cảmơnchân thành đếnPGS.TS Nguyễn Thế Hưng vàTS Hoàng Lưu Thu Thủyđã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tác giả trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn
Tác giảxin cảmơntớitập thể phòng Địa lý Khí hậu, Viện Địa lý, Viện Hàm lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã hỗ trợ chuyên môn, thu thập tài liệu liên quan để có thể hoàn thành được luận văn
Tác giả cũng xin được gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo Khoa Môi trường-Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội và toàn thể các thầy cô giáo đã giảng dạy, tạo mọi điều kiện thuận lợicho tác giả trong thời gian học tập cũng như khi thực hiện luận văn
Trong khuôn khổ của một luận văn, do thời gian cũng như điều kiện hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tác giả rất mong nhận được nhữngý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô và các đồng nghiệp
Xin trân trọng cảm ơn !
Hà Nội, tháng 12 năm 2018
Tác giả
Hoàng Ngọc Yến
Trang 6THÔNG TIN LUẬN VĂN
Họ và tên học viên: Hoàng Ngọc Yến
Lớp: CH2B.MT Khoá:2016-2018
Cán bộ hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thế Hưng
TS Hoàng Lưu Thu Thủy
Tên đề tài:Phân loại tài nguyên sinh khí hậu và quy hoạch không gian canh tác một số loài cây trồng phù hợp với điều kiện sinh khí hậu tỉnh Bắc Kạn
Nội dung chủ yếu của đề tài: Thu thập số liệu về các yếu tố khí hậu và phân tích về các biểu hiện của biến đổi khí hậu tạitỉnh Bắc Kạn Xây dựng hệ thống chỉ tiêu (hệ chỉ tiêu nhiệt và hệ chỉ tiêu ẩm)đểthành lập bản đồ sinh khí hậu tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 1961 – 2016, tỷ lệ 1:100.000
Căn cứ vào điều kiện sinh khí hậu và đặc điểm sinh thái của cây trồng, đánh giámức độ phù hợp của ba loài cây trồng chủ lực (cam, chè, mía) với sinh khí hậu tỉnh Bắc Kạn vàquy hoạch không gian canh tác cho các loài cây trồng phù hợpvới điều kiện sinh khí hậu tỉnh Bắc Kạn trong bối cảnhBĐKH
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
phẩm quốc nội)
Change (Ủy ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu)
Trang 8MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
THÔNG TIN LUẬN VĂN iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Nội dung nghiên cứu 3
4 Đóng góp mới của luận văn 3
Chương 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU 4
1.1 Cơ sở lý thuyết của vấn đề nghiên cứu 4
1.1.1 Một số khái niệm có liên quan đến vấn đề nghiên cứu 4
1.1.1.1 Khí hậu 4
1.1.1.2 Khí hậu ứng dụng và Sinh khí hậu 5
1.1.1.3 Biến đổi khí hậu 6
1.1.2 Vai trò cuả các yếu tố sinh khí hậu đối với đời sống và sự phân bố cây trồng 6
1.1.3 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông – lâm nghiệp 8
1.2 Tổng quan các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến SKH 10
1.2.1 Nghiên cứu sinh khí hậu trên thế giới 10
1.2.2 Nghiên cứu SKH ở Việt Nam 13
1.3 Đặc điểm khu vực nghiên cứu 16
1.3.1 Vị trí địa lý tỉnh Bắc Kạn 16
1.3.2 Đặc điểm địa hình 17
1.3.3 Khí hậu 18
1.3.4 Điều kiện kinh tế xã hội tỉnh Bắc Kạn 22
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
Trang 92.1 Đối tượng nghiên cứu 28
2.2 Phạm vi nghiên cứu 28
2.3 Phương pháp nghiên cứu 28
2.3.1 Phương pháp thu thập, phân tích, xử lí tài liệu 28
2.3.2 Phương pháp tham vấn chuyên gia 29
2.3.3 Phương pháp phân loại sinh khí hậu 29
2.3.4 Phương pháp đánh giá mức độ phù hợp của cây trồng với điều kiện tỉnh Bắc Kạn 29
2.3.5 Phương pháp phân tích thống kê 32
2.3.6 Phương pháp bản đồ và thông tin địa lý (GIS) 33
2.4 Cấu trúc của luận văn 33
Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 36
3.1 Các biểu hiện của biến đổi khí hậu ở Bắc Kạn 36
3.2 Nghiên cứu và thành lập bản đồ sinh khí hậu tỉnh Bắc Kạn 42
3.2.1 Vai trò, ý nghĩa của việc nghiên cứu và thành lập bản đồ sinh khí hậu 42 3.2.2 Nguyên tắc thành lập bản đồ sinh khí hậu 42
3.2.3 Hệ thống chỉ tiêu khí hậu phục vụ thành lập bản đồ sinh khí hậu tỉnh Bắc Kạn 43
3.3 Đánh giá mức độ phù hợp của các loài cây trồng chủ lực với điều kiện SKH tỉnh Bắc Kạn 51
3.3.1 Đánh giá mức độ phù hợp của cây mía bầu với điều kiện SKH tỉnh Bắc Kạn 51
3.3.2 Đánh giá mức độ phù hợp của cây chè trung du với điều kiện SKH tỉnh Bắc Kạn 58
3.3.3 Đánh giá mức độ phù hợp của cây cam sành với điều kiện SKH tỉnh Bắc Kạn 64
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 70
Kết luận 70
Kiến nghị: 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
Trang 10DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Nhiệt độ không khí trung bình tháng và nămtại 19
tỉnh Bắc Kạn(°C)giai đoạn 1961-2016 19
Bảng 1.2: Lượng mưa trung bình năm tại Bắc Kạn (mm) 20
giai đoạn 1961-2016 20
Bảng 1.3: Diện tích, sản lượng cây lương thực có hạt năm 2016 24
Bảng 1.4: Diện tích, sản lượng cây trồng hàng năm 2016 24
Bảng 1.5: Diện tích,sản lượng và phân bố một số cây trồng 25
Bảng 2.1: Phân cấp mức độ phù hợp của cây trồng với các yếu tố SKH tỉnh Bắc Kạn 31
Bảng 3.1: Phân cấp nhiệt độ để xây dựng bản đồ SKH tỉnh Bắc Kạn 44
Bảng 3.2: Phân cấp chỉ tiêu độ dài mùa lạnh (N) ở tỉnh Bắc Kạn 44
Bảng 3.3: Phân cấp Tổng lượng mưa năm (R) ở tỉnh Bắc Kạn 45
Bảng 3.4: Phân cấp độ dài mùa khô tỉnh Bắc Kạn 45
Bảng 3.5: Hệ chỉ tiêu tổng hợp và các loại SKH tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 1961 – 2016 46
Bảng 3.6: Cơ sở đánh giá mức độ phù hợp của cây mía bầu vớicác yếu tốSKHở tỉnh Bắc Kạn 53
Bảng 3.7 Phân cấp mức độ phù hợp của cây mía bầu với 54
điều kiện SKHtỉnh Bắc Kạn 54
Bảng 3.8: Mức độ phù hợp của cây mía bầu với các loại 55
SKH trên địa bàntỉnh Bắc Kạn 55
Bảng 3.9: Bảng cơ sở đánh giá mức độ phù hợp của cây chè trung du với điều kiện SKH tỉnh Bắc Kạn 60
Bảng 3.10: Phân cấp các mức độ phù hợp cây chè trung du với điều kiện SKH tỉnh Bắc Kạn 61
Bảng 3.11: Mức độ thuận lợi của các loại SKH đối với cây chè trung du 61
Bảng 3.12: Cơ sở đánh giá mức độ phù hợp của cây cam sành với các yếu tố SKH chính ở tỉnh Bắc Kạn 66
Bảng 3.13: Phân cấp mức độ phù hợp của cây cam sànhvới điều kiện SKH 67 Bảng 3.14: Mức độ phù hợp của cây cam sànhvới các loại SKH tỉnh Bắc Kạn 67
Trang 11DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Bản đồ hành chính huyện Bắc Kạn 16 Hình 3.1: Bản đồ nhiệt độ trung bình năm tỉnh Bắc Kạn thời kỳ 1961 – 2016 37 Hình 3.2: Sự thay đổi nhiệt độ trung bình năm tại trạm Chợ Rã, Ngân Sơn, Bắc Kạn (tỉnh Bắc Kạn) thời kỳ 1961 – 2016 38 Hình 3.3: Lượng mưa trung bình năm tỉnh Bắc Kạn thời kỳ 1961 – 2016 40 Hình 3.4: Sự thay đổi lượng mưa trung bình năm tại trạm Chợ Rã, Bắc Kạn, Ngân Sơn (tỉnh Bắc Kạn) thời kỳ 1961 – 2016 41 Hình 3.5: Bản đồ sinh khí hậu tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 1961-2016 47 Hình 3.6: Chú giải bản đồ sinh khí hậu tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 1961-2016 48 Hình 3.7: Bản đồ mức độ phù hợp của cây mía bầu với điều kiện SKH tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 1961 – 2016, tỉ lệ 1: 100.000 57 Hình 3.8: Bản đồ mức độ phù hợp của cây chè trung du với điều kiện SKHtỉnh Bắc Kạn giai đoạn 1961 - 2015, tỉ lệ 1:100.000 63 Hình 3.9: Bản đồ mức độ phù hợp của cây cam sành với điều kiện SKH tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 1961 - 2016, tỉ lệ 1: 100.000 69
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngày nay, khu vực Đông Nam Áchịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu nhiều hơn so với các khu vực khác, với sự gia tăng về tần suất và cường độ của các hiện tượng thời tiết cực đoan; sự giảm năng suất cây trồng; việc mất
đi các rừng; thảm họa xảy đến đối với tài nguyên vùng ven biển; sự gia tăng bùng phát các dịch bệnh; và các liên minh kinh tế bị phá vỡ và sự chịu đựng của con người [40].Để nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố khí hậu, thời tiết
đối với thành phần sống của hệ sinh thái (quần xã sinh vật), người ta nghiên cứu về Sinh khí hậu, đó là hướng nghiên cứu về điều kiện khí hậu, thời tiết
đặc thù của mỗi một vùng lãnh thổ đối với sự tồn tại, phát triển và khả năng cho năng suất sinh học của quần xã sinh vật,nhằm khai thác sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường Trong nghiên cứu sinh khí hậu,ngôn ngữ bản đồ thể hiện sự phân hoá các điều kiện khí hậu, làm cơ sở khoa học cho việc quy hoạch, khai thác tài nguyên thiên nhiên, sử dụng lãnh thổ một cách hợp lý
Bắc Kạn có khí hậu thuận lợi để phát triển một tập đoàn cây trồng, vật nuôi đa dạng, đặc biệt là cây công nghiệp, cây ăn quả, chăn nuôi đại gia súc Đây là lợi thế để phát triển một nền nông nghiệp sinh thái,tạo ra các sản phẩm tập trung phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 20-22oC, trung bình cao nhất từ 25-28oC, trung bình thấp nhất từ 10-
11oC Với chế độ nhiệt như vậy, đã hình thành trên địa bàn tỉnh nhiều tiểu vùng khí hậu đất đai khác nhau, thích hợp với nhiều loại cây trồng, vật nuôi, tạo thế mạnh cho từng khu vực, với các loại sản phẩm đặc trưng của vùng nhiệt đới và á nhiệt đới.[9]
Tuy nhiên, trong thời gian qua, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến tỉnh
Trang 13Bắc Kạn cũng ngày một rõ nét, gây ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế-xã hội, cũng như ngành trồng trọt nông lâm ngiệp
Hiện nay, mục tiêu phát triển bền vững cần phải đáp ứng yêu cầu cả về
“kinh tế”,“xã hội” và “môi trường” đang là vấn đề được xem trọng ở nước
ta Trong đó, đối với lĩnh vực trồng trọt, tái cơ cấu theo hướng phát triển sản xuất quy mô lớn, tập trung gắn với bảo quản, chế biến và tiêu thụ theo chuỗi giá trị trên cơ sở phát huy lợi thế sản phẩm và lợi thế vùng, miền; đẩy mạnh
áp dụng khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ cao nhằm tăng năng suất, chất lượng,giảm giá thành và thích ứng với biến đổi khí hậu; tập trung đầu tư phát triển công nghiệp chế biếnvà bảo quản sau thu hoạch theo hướng hiện đại, nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch và nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm
Trong nghị quyết về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế-xã hội, đảm bảo quốc phòng-an ninh 5 năm (2015-2020) của tỉnh Bắc Kạn đã
xác định: “Tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm gắn với bảo quản, chế biến, tiêu thụ và sức cạnh tranh trên thị trường Đẩy mạnh áp dụng khoa học công nghệ nhằm tăng năng suất, chất lượng, giảm giá thành và thích ứng với biến đổi khí hậu.Tập trung đầu tư hạ tầng phục vụ sản xuất nông, lâm nghiệp.”[30]
Trước thực trạng trên, nhằm đề xuất các giải pháp chuyển dịch cơ cấu cây trồng của tỉnh Bắc Kạn theo hướng chất lượng, hiệu quả,phát triển bền
vững,chúng tôi lựa chọn đề tài: “Phân loại tài nguyên sinh khí hậu và quy
hoạch không gian canh tác một số loại cây trồng phù hợp với điều kiện sinh khí hậu tỉnh Bắc Kạn”nhằm đề xuất những định hướng quy hoạch
không gian phát triển sản xuất cây trồng hợp lý trong bối cảnh biến đổi khí
hậu
Trang 142 Mục tiêu nghiên cứu
- Phân loại được tài nguyên sinh khí hậu tỉnh Bắc Kạn theo hệ chỉ tiêu nhiệt và ẩm
- Đánh giá được mức độ phù hợp của một số loài cây trồng chủ lực với điều kiện sinh khí hậu tỉnh Bắc Kạn (cây mía bầu, cam, chè)
- Đề xuất định hướng bố trí canh tác cây trồng hợp lý mang lại hiệu quả kinh tế cao, đảm bảo phát triển ngành nông nghiệptỉnh Bắc Kạn bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu (BĐKH)
3 Nội dung nghiên cứu
3.1 Các biểu hiện biến đổi khí hậu ở Bắc Kạn
3.2 Nghiên cứu và thành lập bản đồ sinh khí hậu tỉnh Bắc Kạn tỉ lệ 1:100.000
3.3 Đánh giá mức độ phù hợp của các loài cây trồng phù hợp với điều kiện sinh khí hậu tỉnh Bắc Kạn
4 Đóng góp mới của luận văn
- Cho đến nay,chưa có công trình nghiên cứu, thành lập bản đồ SKH, đánh giá mức độ phù hợp của một số loài cây trồng có giá trị kinh tế cao đối với tài nguyên SKH tỉnh Bắc Kạn Đây là hướng nghiên cứu Sinh thái học ứng dụng có ý nghĩa thực tiễn, phục vụ kịp thời việc phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển sản xuất ngành nông nghiệp đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 theo Quyết định số 124/QĐ-TTg ngày 02/02/2012 của Thủ tướng Chính Phủ[25]
- Kết quả nghiên cứu của đề tài không chỉ là cơ sở khoa học giúp các nhà quản lý hoạch định chính sách về phát triển nông – lâm nghiệp, mà còn là cơ sở khoa học trong việc chỉ đạo kỹ thuật canh tác hệ thống cây trồng phù hợp với điều kiện sinh khí hậu của tỉnh Bắc Kạn, đảm bảo phát triển ngành nông nghiệp bền vững
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở lý thuyết của vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Một số khái niệm có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
1.1.1.1 Khí hậu
Khí hậu bao gồm các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, áp suất khí
quyển, các hiện tượng xảy ra trong khí quyển và nhiều yếu tố khí tượng khác trong khoảng thời gian dài ở một vùng,miền xác định Điều này trái ngược với
khái niệm thời tiết về mặt thời gian Khí hậu của một khu vực ảnh hưởng bởi
tọa độ địa lý, địa hình, độ cao, độ ổn định của băng tuyết bao phủ cũng như các dòng nước lưu ở các đại dương lân cận Khí hậu phân ra các kiểu khác nhau dựa trên các thông số chính xác về nhiệt độ và lượng mưa[40]
Khí hậu là định nghĩa phổ biến về thời tiết trung bình trong khoảng thời gian dài, khoảng vài thập kỷ[40]
Từ điển thuật ngữ của Ban Liên chính phủ (The Intergovernmental Panel on
Climate Change - IPCC) về biến đổi khí hậu định nghĩa như sau: Khí hậu trong nghĩa hẹp thường định nghĩa là "Thời tiết trung bình", hoặc chính xác hơn, là bảng thống kê mô tả định kì về ý nghĩa các sự thay đổi về số lượng có liên quan trong khoảng thời gian khác nhau, từ hàng tháng cho đến hàng nghìn, hàng triệu năm[36] Khoảng thời gian truyền thống là 30 năm, theo như định
nghĩa của Tổ chức Khí tượng Thế giới (World Meteorological Organization - WMO) Các số liệu thường xuyên được đưa ra là các biến đổi về nhiệt độ, lượng mưa và gió Khí hậu trong nghĩa rộng hơn là một trạng thái, gồm thống kê mô tả của hệ thống khí hậu[10]
Theo Nguyễn Công Minh (2007)[17], khí hậu và những đặc điểm địa lý
và các thành phần của cảnh quan địa lý có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Hoàn cảnh địa lí không những chỉ vị trí của địa phương tức là vĩ độ, kinh độ
Trang 16và độ cao trên mực biển mà còn chỉ đặc điểm của mặt đất, địa hình, lớp phủ thổ nhưỡng, lớp phủ thực vật Do đó, khí hậu có đặc tính tương đối ổn định và
là một trong những đặc trưng địa lí tự nhiên của địa phương
1.1.1.2 Khí hậu ứng dụng và Sinh khí hậu
Các lĩnh vực sử dụng số liệu khí hậu thu thập được phục vụ cho các công việc mang tính nghiệp vụ của các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, y
học, kỹ thuật, xây dựng, giao thông, hàng không… được gọi là Khí hậu ứng dụng
Các lĩnh vực khí hậu ứng dụng phục vụ rất đa dạng, bao gồm:
- Khí hậu lâm nghiệp
- Khí hậu nông nghiệp
- Khí hậu y học
- Khí hậu du lịch
- Khí hậu xây dựng
- Khí hậu giao thông vận tải, quân sự
Trong các lĩnh vực trên,nhóm chuyên nghiên cứu về ảnh hưởng của khí hậu đến thế giới sinh vật và con người như khí hậu lâm nghiệp, nông nghiệp,
y học, du lịch, xây dựng hay nói cách khác, khí hậu liên quan đến hợp phần sinh học của các đơn vị tự nhiên trong Tổng hợp thể tự nhiên hoặc Hệ sinh thái được gọi làSinh khí hậu.Trong trường hợp này, các yếu tố khí hậu, thời
tiết như bức xạ Mặt Trời, nhiệt độ, độ ẩm không khí, mưa, gió…được gọi là
các yếu tố sinh khí hậu Đối tượng nghiên cứu của SKH khá đa dạng, bao
gồm rất nhiều lĩnh vực của các khoa học về sự sống cũng như các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế mà có thể kể đến như trong y học, nông nghiệp, khoa học kiến trúc – xây dựng, khoa học du lịch, khí hậu học sinh thái, SKH thảm thực vật tự nhiên, SKH người Tuy nhiên, khócó thể tách bạch được nghiên cứu và ứng dụng của SKH khỏi các khoa học nói chung vì bản chất
Trang 17của SKH là bộ môn khoa học liên ngành (Nguyễn Thanh Vân,2006)[33] Nói cách khác, sinh khí hậu là bộ môn khoa học nghiên cứu giữa khí hậu học và những thành phần trong hệ sinh thái Bản chất của các tác động khí hậu, thời tiết lên các cơ thể sống
1.1.1.3 Biến đổi khí hậu
Định nghĩa chung nhất cho biến đổi khí hậu là sự thay đổi các đặc điểm
mang tính thống kê của hệ thống khí hậu khi xét đến những chu kỳ dài hàng thập kỷ hoặc lâu hơn, mà không kể đến các nguyên nhân[39],[40]
Theo IPCC (2007)[40], Biến đổi khí hậu (BĐKH) là sự biến đổi trạng
thái của hệ thống khí hậu, có thể được nhận biết qua sự biến đổi về trung bình
và sự biến động của các thuộc tính của nó, được duy trì trong một thời gian đủ dài, điển hình là hàng thập kỷ hoặc dài hơn
Theo Phạm Văn Cự (2011)[10], nếu coi trạng thái cân bằng của hệ thống khí hậu là điều kiện thời tiết trung bình và những biến động của nó trong khoảng vài thập kỷ hoặc dài hơn, thì BĐKH là sự biến đổi từ trạng thái cân
bằng này sang trạng thái cân bằng khác của hệ thống khí hậu
1.1.2 Vai trò cuả các yếu tố sinh khí hậu đối với đời sống và sự phân bố cây trồng
Các yếu tố thời tiết, khí hậu sẽ tác động đến năng suất và chất lượng của cây trồng
Theo từ điển bách khoa nông nghiệp(2004)[28]: “Sinh khí hậu học chú
trọng nghiên cứu tác động của các yếu tố khí hậu (bức xạ, nhiệt độ, độ ẩm…) trong thời gian dài và theo dõi tác động của thời tiết trong từng ngày, từng tháng Nghiên cứu khí hậu trong phạm vi vùng và trong từng khu vực nhỏ (vi khí hậu), trong cảnh quan và thiết bị chuồng trại do con người tạo nên cho cây trồng, vật nuôi Nghiên cứu sinh khí hậu là cơ sở cho việc nghiên cứu mức độ phù hợp của
sinh vật đểnâng cao sức sản xuất của một môi trường nhất định”
Trang 18độ chiếu sáng được xem xét theo quan điểm sinh học trong mối liên hệ với
đời sống thực vật để biểu thị được đồng thời tất cả ba loại đặc trưng của một chế độ SKH, đáp ứng những yêu cầu nghiên cứu về trồng rừng
+ Nhiệt độ: Mỗi loài sinh vậtphù hợp với một giới hạn về nhiệt độ nhất định Loài ưa nhiệt thường phân bổ ở vùng nhiệt đới xích đạo; những loài chịu lạnh lại chỉ phân bố ở các vĩ độ cao và các vùng núi cao Nơi có nhiệt độ thích hợp, sinh vật sẽ phát triển nhanh và thuận lợi hơn Sự diễn biến của nhiệt
độ có ý nghĩa quyết định đến cơ cấu thời vụ gieo trồng khi các điều kiện khác
được đảm bảo Theo Xelianinop G.T thì“Cây trồng bắt đầu sinh trưởng ở nhiệt
độ nào thì kết thúc sinh trưởng ở nhiệt độ đó” (Nguyễn Khanh Vân, 2006)[33]
+ Nước và độ ẩm không khí: Những nơi có điều kiện nhiệt, ẩm và nước thuận lợi như các vùng xích đạo, nhiệt đới ẩm, cận nhiệt ẩm, ôn đới ẩm và ấm
là những môi trường tốt để sinh vật phát triển Trái lại, ở hoang mạc do khô khan nên ít loài sinh vật có thể sinh sống ở đây Mưa là một yếu tố biến động rất lớn theo không gian và thời gian Các chỉ tiêu lượng mưa trung bình hàng tháng hay hàng năm thể hiện đặc trưng của một vùng khí hậu nhất định, có thể coi là công cụ đánh giá hữu ích đối với chế độ mưa của một khu vực đồng nhất Do đó, việc đánh giá chế độ mưa - ẩm của một khu vực cụ thể có ý nghĩa thiết thực trong việc quy hoạch, bố trí cây trồng hợp lý [35] +Ánh sáng quyết định quá trình quang hợp của cây xanh Bên cạnh việc
sử dụng ánh sáng trong suốt thời gian sinh trưởng, thì thực vật cũng khá mẫn cảm với cường độ và thời gian chiếu sáng Những cây ưa sáng thường sống và phát triển tốt ở nơi có đầy đủ ánh sáng Những cây chịu bóng thường sống
Trang 19trong bóng râm, dưới tán lá của các cây khác Do vậy, khi nghiên cứu vai trò của ánh sáng đối với cây trồng phải xem xét độ dài ngày theo mùa sinh trưởng của cây trồng [35]
- Đất
Theo Dacutraep: “Đất và khí hậu là những yếu tố cơ bản và quan trọng nhất của nông nghiệp, đó là điều kiện ban đầu và không thể thiếu được của mùa màng” (Theo Nguyễn Khanh Vân, 2006)[33]
Các yếu tố khí hậu có ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành đất và các đặc tính vật lí, hoá học, sinh học của đất
Ví dụ: Đất ngập mặn thích hợp với các loài cây ưa mặn như sú, vẹt, đước, vì vậy rừng ngập mặn chỉ phát triển và phân bố ở khu vực ven biển Đất đỏ vàng ở dưới rừng xích đạo có tầng dày, độ ẩm và tính chất vật lí tốt, nên nhiều loài cây lá rộng sinh trưởng và phát triển
- Địa hình
Ở vùng núi, độ cao và hướng sườn ảnh hưởng tới sự phân bố thực vật Khi lên cao, nhiệt độ và độ ẩm thay đổi, do đó thành phần thực vật cũng thay đổi theo Thực vật sẽ phân bố thành các vành đai khác nhau Hướng sườn khác nhau cũng tạo nên sự khác biệt về nhiệt, ẩm và chế độ chiếu sáng, do đó cũng ảnh hưởng tới độ cao xuất hiện và kết thúc của các vành đai thực vật[34]
Các yếu tố khí hậu đều tác động đến sự phát triển và năng suất của cây trồng nhưng yếu tố nhiệt độ, lượng mưa là yếu tố biến đổi liên tục nhiều nhất
và tác động trực tiếp đến đời sống cây trồng
1.1.3 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông – lâm nghiệp
Khí hậu đãvà đang biến đổi và cónhững tác động bất lợi đến phát triển Biến đổi khí hậu không chỉ là vấn đề của một ngành riêng lẻ mà chính là vấn
đề của những ngành, những lĩnh vực và liên quan tới phát triển bền vững
Trang 20Tác động của biến đối khí hậu đối với lĩnh vực nông lâm nghiệp là rất lớn Biểu hiện rõ nhất của BĐKH là việc tăng tần suất của các hiện tượng thiên tai như bão, lũ lụt gây nguy cơ ngập lụt đối với các vùng vốn bị nhiễm mặn, nhiễm phèn, chua úng trên diện rộng, làm xói lở đất ảnh hưởng xấu đến mùa màng, tài sản và con người Hậu quả nghiêm trọng do BĐKH gây ra chính là hạn hán Đối với sản xuất nông lâm nghiệp, đây là loại thiên tai tồi tệ nhất, xảy ra ngày càng nghiêm trọng, với tần suất và quy mô ngày càng lớn, gây nhiều thiệt hại và kéo dài dai dẳng nhất
Nhiệt độ ấm hơn có thể làm cho nhiều loại cây trồng nhiệt đới phát triển nhanh hơn, nhưng nhiệt độ ấm hơn cũng có thể làm giảm sản lượng các loại cây trồng Nhiều cỏ dại, sâu bệnh và nấm phát triển mạnh trong điều kiện nhiệt độ ấm hơn, khí hậu ẩm ướt hơn và nồng độ CO2 tăng BĐKH còn gây các bệnh dịch mới đến vật nuôi và cây trồng
Nhìn chung, những tác động đó được thể hiện muôn màu, muôn vẻ, có
cả những bất lợi và thuận lợi: “Trong thiên nhiên tất cả đều đẹp đẽ, ngay cả một số nhân tố bất lợi, kẻ thù của sản xuất nông nghiệp như gió lớn, mưa to, hạn hán, gió khô nóng, bão lốc, tố….sở dĩ là đáng sợ, vì chúng ta chưa hiểu biết nó và chưa biết khống chế hay né tránh nó Nó không hung dữ và chỉ cần chúng ta nghiên cứu biết được cách phòng tránh thì lúc đó nó sẽ có lợi cho chúng ta”( Nguyễn Văn Viết, 2012)[35]
Do vậy, để thu được lợi nhuận cao nhất, đồng thời cũng bảo đảm được
sự phát triển bền vững của các hệ sinh thái, thì các nhà nông nghiệp và sinh học phải biết sử dụng, khai thác hữu hiệu tài nguyên khí hậu để nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp và phòng tránh thiên tai Trong sản xuất nông nghiệp, nếu không hiểu biết về những yêu cầu của cây trồng với các nhân tố khí hậu thì những dữ liệu về khí tượng vô cùng, vô tận được lưu trữ trong kho chỉ là vô nghĩa
Trang 211.2 Tổng quan các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến SKH
1.2.1 Nghiên cứu sinh khí hậu trên thế giới
Ở phương Tây, ngành Sinh khí hậu học thành lập vào khoảng năm 1753 bởi một nhà thực vật học người Thụy Điển, được coi là ông tổ của Khí hậu học Nhà thực vật học người Bỉ Morren đưa ra khái niệm khí hậu học lần đầu
tiên vào năm 1853 Một trăm năm trước khi khái niệm được hình thành trong thời đại của Linnaeus, khí hậu học tập trung vào các hiện tượng theo mùa và
có chu kỳ mà các sinh vật sống thể hiện ra và được gọi là Sinh khí hậu họckinh điển theo mùa.[19]
Nội hàm của Khí hậu học được thay đổi liên tục do các phát hiện mới về
sinh khí hậu được tìm ra.Giữa thế kỷ 18 khi Linnaeus thành lập mạng lưới theo dõi khí hậu đầu tiên tại Thụy Điển và nhấn mạnh vai trò và tầm quan trọng của
việc theo dõi khí hậu trong cuốn sách Philosophia Botanica Nhờ đó, sinh khí
hậu tại phương Tây sau này trở thành một môn khoa học chính thức.[19] Ban đầu, người cổ xưa đã phát triển sinh khí hậu học bằng việc ghi chép lại mối tương quan giữa các hiện tượng sinh học dựa theo các theo dõi hàng năm được thực hiện trong các mùa trồng trọt và kinh nghiệm sống liên quan Ngoài ra, con người cũng tạo ra được âm lịch và lịch sinh khí hậu Do đó, việc phát triển nghiên cứu sinh khí hậu trong lịch sử tập trung vào các hiện tượng nông nghiệp và nhiều thông số sinh học được ghi chép lại trong lịch sinh khí hậu của các nền văn minh khác nhau được sử dụng làm một hệ thống cho việc ra quyết định phòng tránh thiên tai.[19]
Theo nhà thực vật học Chyi – Rong Chiou 2015[36], đã có nghiên cứu
về các mô hình sinh khí hậu thực vật trong bối cảnh BĐKH Khoảng 3000 năm trước, sinh khí hậu đã được thực hiện các quan sát tại Trung Quốc Các
nhà khoa học tại Nhật Bản nghiên cứu về các sinh vật và các mùa, từ đó đã
Trang 22nhận ra rằng các thay đổi của sinh vật sống tuân thủ theo sự thay đổi định kỳ của khí hậu
Nhà khoa học SalvadorRivas-Mart´ınez(1981)[19] đã nghiên cứu về hệ thống phân loại sinh khí hậu với nghiên cứu chính trong pham vi khoa học thực vật,để thực hiện phân loại sinh khí hậu trên toàn thế giới Trong mỗi loại sinh khí hậu, tác giả nghiên cứu về chế độ nhiệt và lượng mưa khác nhau Tác giả chia ra thành 5 nhóm sinh khí hậu vĩ mô (Nhiệt đới, Địa Trung Hải, Ôn
đới, phía Bắc và Bắc Cực), từ đó chia ra thành 27 loại sinh khí hậu và 5 loại biến thể
Nhiều nhà khí hậu học, thực vật học như C.W.Thorthwaite (1931), Gaussen (1967), Köppen (1931), Alisov (1954) đã nghiên cứu về lớp phủ thực vật và căn cứ vào sự phân bố của thảm thực vật để đặt tên cho các miền khí hậu khác nhau trên Trái Đất (Nguyễn Khanh Vân,2006)[33]
Năm 1874, nhà khoa học De Candolle đã căn cứ vào ảnh hưởng của khí hậu đối với thực vật để chia ra thành 6 đới khí hậu khác nhau, thông qua chỉ tiêu nhiệt độ trung bình năm (Nguyễn Đức Nguyên, 2002)[19]
Cho đến nay, hệ thống phân loại khí hậu Köppen là một trong những hệ thống phân loại khí hậu được sử dụng rộng rãi nhất Tác giả Köppenđã đưa ra phân loại khí hậu gắn liền với các vùng địa lý – thực vật Trong sự phân loại này, tên gọi của các loại khí hậu trùng với các cảnh quan địa lý nhất định (rừng nhiệt đới, xa- van, hoang mạc…) Tác giả nêu lên những điểm rõ ràng
về mặt định lượng cho các loại khí hậu khác nhau Sự phân loại này được các nhà địa thực vật công nhận và tin tưởng áp dụng rộng rãi trên thế giới.(Nguyễn Đức Nguyên, 2002)[19]
Nhà thổ nhưỡng học Lăng, đã dùng chỉ số lượng mưa R = r/Tnăm (trong
đó, r là lượng mưa trung bình và Tnăm là nhiệt độ trung bình năm) để phân chia các đới khí hậu vào năm 1915 (Nguyễn Đức Nguyên, 2002)[19]
Trang 23Theo như nhà khoa học Berg (1925), đưa ra phân loại khí hậu dựa trên quan điểm cảnh quan học Berg lấy các vùng cảnh quan như đài nguyên, tai
ga làm cơ sở cho sự phân loại của mình và phân chia vùng khí hậu tương ứng với các vùng cảnh quan đó Sự phân loại liên quan chặt chẽ và tác dụng lẫn nhau giữa khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng và thực vật Kết hợp những nhân
tố đó tạo nên những cảnh quan tiêu biểu nhất định ở các vùng khác nhau, trong đó khí hậu giữ một vai trò quan trọng.[19]
Trong phương pháp phân loại Thornthwaite - nhà thực vật học (1931)[19] chỉ ra rằng, sự sinh trưởng của thực vật không những phụ thuộc vào lượng mưa mà còn có quan hệ chặt chẽ với lượng bốc hơi Từ mối quan hệ giữa sự sinh trưởng của thực vật với nhiệt độ, ông thiết kế hiệu ứng nhiệt của các chỉ số và chia Trái đất ra làm 6 khu vực nhiệt độ: Vùng nhiệt đới; Vùng nhiệt độ ấm áp; Vùng nhiệt độ lạnh; Vùng Taiga; Vùng đài nguyên; Vùng băng nguyên
Nhìn chung, các phương pháp phân loại SKH kể trên đều dựa trên nhiệt độ và lượng mưa, cân bằng nhiệt lượng và cân bằng nước để hình thành nên SKH lãnh thổ
Theo nhà khoa học Buduko (1948), đã nghiên cứu về chỉ số khô ráo (B/L.r) được tạo nên bởi tỉ số giữa cân bằng bức xạ năm B và lượng nhiệt cần cho bốc hơi lượng mưa năm L.r (L:Tiềm năng hóa hơi; r: Lượng mưa) làm chỉ tiêu kiểm nghiệm Kết quả phân chia khí hậu của Buduko khá phù hợp với các khu vực địa lý tự nhiên.[19]
Ở một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu SKH cũng được đẩy mạnh xuất phát từ những nhu cầu cụ thể về nghiên cứu, khai thác và phục hồi rừng
- Trong khu vực, hướng nghiên cứu SKH thảm thực vật tự nhiên
đã được các nhà khí hậu học, địa thực vật người Pháp tiến hành từ
Trang 24những năm nửa đầu thế kỷ XX:
Năm 1931, hai nhà địa thực vật học P.Dop và H.Gaussen-hai nhà địa thực vật học người Pháp đã đưa ra kết quả nghiên cứu thảm thực vật Đông Dương trong mối liên hệ với lượng mưa[19]
Trong khoảng gần 20 năm (1930 – 1949), P.Carton và một số nhà nghiên cứu khác đã đưa racác quan điểm sinh thái học dựa trên kết quả nghiên cứu về khí hậu, SKH và mối liên hệ của chúng với sự hình thành, phát triển của các kiểu rừng ở Đông Dương[19]
1.2.2 Nghiên cứu SKH ở Việt Nam
Đối tượng mà các lĩnh vực khí hậu ứng dụng phục vụ rất đa dạng, nên việc nghiên cứu, phân vùng khí hậu có ý nghĩa thiết thực nhằm sử dụng hợp
lý và hiệu quả tài nguyên khí hậu trong mọi mặt của đời sống
Tác giả "Khí hậu và tài nguyên khí hậu Việt Nam" là Nguyễn Đức Ngữ
và Nguyễn Trọng Hiệu (2004)[19] đã đánh giá cụ thể về tài nguyên khí hậu với 7 vùng khí hậu là: Đông Bắc, Tây Bắc, Đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung
Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ, từ đó đúc kết ra những điều kiện thuận lợi, khó khăn về khí hậu cho từng vùng lãnh thổ Công trình nghiên cứu “Cảnh quan địa lý Miền Bắc Việt Nam” của Vũ
Tự Lập (1976)[16] cũng trình bày các kết quả nghiên cứu về chỉ tiêu phân kiểu SKH trong phân kiểu cảnh quan Ông đưa thêm vào chỉ tiêu độ dài thời
kỳ lạnh mà không dùng nhiệt độ tháng lạnh nhất làm chỉ tiêu phân chia Phân kiểu SKH mà Vũ Tự Lập đã sử dụng trong nghiên cứu cảnh quan địa lý miền Bắc Việt Nam là một hệ phân loại có hệ thống được dựa trên cơ sở lý thuyết cao[14]
Trong tác phẩm “Cơ sở khoa học xác định cơ cấu cây trồng”, Đào Thế
Tuấn (1987)[27] đã nghiên cứu về các tập đoàn cây trồng nông-công nghiệp Tác giả xác định các yếu tố khí tượng là một trong các hệ thống phụ của một
hệ sinh thái ruộng cây trồng Các yếu tố bức xạ Mặt Trời, nhiệt độ, mưa, độ
ẩm không khí…tác động lẫn nhau, tác động vào đất và cây trồng, quần thể
Trang 25sinh vật, tạo nên vi khí hậu của ruộng cây trồng
Công trình “Thảm thực vật rừng Việt Nam” của Thái Văn Trừng (1962)
[31], là một trong những công trình nghiên cứu về thảm thực vật Việt Nam có liên quan chặt chẽ với phân loại SKH Tác giả đã kết hợp những tổ hợp chế
độ nhiệt - khô - ẩm Bao gồm: tổng lượng mưa, chỉ số khô hạn và độ ẩm trung bình thấp nhất Phức hệ này là tác nhân, quyết định sự hình thành các thảm
thực vật tự nhiên ở Việt Nam
Lâm Công Định với công trình“Sinh khí hậu ứng dụng trong lâm nghiệp” (1992) [13], khẳng định khí hậu đóng vai trò to lớn đối với sự phân
bố các loại cây, sự hình thành các loại rừng, sự biến đổi các thảm thực vật qua các vị trí và đặc trưng địa lý khác nhau…Tác giả đề xuất công thức sinh
khí hậu Nhiệt - Ẩm - Quang, là sự tổng hợp của ba yếu tố khí hậu chủ đạo,
đáp ứng được việc biểu thị đầy đủ ba đặc trưng của một chế độ sinh khí hậu
Tác phẩm“Cơ sở sinh khí hậu“Nguyễn Khanh Vân (2006) trình bày kết
quảnghiên cứu liên quan đến việc thành lập các bản đồ SKH, tổng hợp trong
nhiều công trình”:[33]
- Bản đồ sinh khí hậu Tây Nguyên tỉ lệ 1/250.000: Được thành lập năm
1988 với 12 kiểu và 33 phụ kiểu sinh khí hậu Dựa trên hệ thống chỉ nhiệt độ không khí trung bình năm, tổng lượng mưa năm, cường độ mùa khô (số tháng
có lượng mưa < 25mm), và lượng mưa trung bình của các tháng khô
- Bản đồ sinh khí hậu dải ven biển Việt Nam tỉ lệ 1/1.000.000 được thực
hiện năm 1990 với thống chỉ tiêu nhiệt và ẩm để phân vùng:
+ Chỉ tiêu nhiệt độ không khí trung bình thángvà biên độ nhiệt độ năm để
phân vùng nghiên cứu thành 2 miền (Bắc và Nam đèo Hải Vân)
+ Chỉ tiêu tổng lượng mưa năm và hệ số thuỷ nhiệt Xelianhinốp cải tiến
(tính cho tháng) phân định vùng nghiên cứu thành 27 đơn vị sinh khí hậu
- Bản đồ sinh khí hậu tỉnh Hà Tây (cũ) tỉ lệ 1/100.000 được thành lập năm 1991 Ngoài những chỉ tiêu nhiệt độ trung bình năm, độ dài thời kì mùa lạnh, tổng lượng mưa năm, độ dài mùa khô, các tác giả còn sử dụng một số
Trang 26chỉ tiêu phụ liên quan đến tần suất xuất hiện của một số dạng thiên tai thời tiết như: gió Tây khô nóng - gió Lào hay sương muối để chia lãnh thổ tỉnh Hà Tây cũ thành 6 kiểu sinh khí hậu
- Bản đồ sinh khí hậu vùng hồ Hoà Bình tỉ lệ 1/50.000 được thành lập
năm 1991 Vùng chứa hồ Hoà Bình được chia thành 7 kiểu sinh khí hậu thảm thực vật tự nhiên Dựa trên hệ thống các chỉ tiêu sinh khí hậu như sau: chỉ tiêu
nhiệt (nhiệt độ trung bình năm), chỉ tiêu ẩm (tổng lượng mưa năm, độ dài mùa khô) và số ngày có gió khô nóng
- Bản đồ sinh khí hậu thảm thực vật tự nhiên toàn quốc, tỉ lệ 1/1.000.000: được thực hiện năm 1992 để chia lãnh thổ Việt Nam thành 5
nhóm kiểu sinh khí hậu khác nhau từ Bắc vào Nam, từ Đông sang Tây, và từ
vùng thấp lên vùng cao dựa trên hệ thống chỉ tiêu phân vùng là nhiệt độ trung bình năm, độ dài mùa lạnh (tháng có nhiệt độ trung bình tháng dưới 180C) và
tổng lượng mưa năm
Một số nghiên cứu về điều kiện sinh khí hậu được thực hiện đối với từng loại cây trồng cụ thể:[1]
Đỗ Thị Vân Hương và cộng sự (2009) với công trình ”Nghiên cứu Sinh khí hậu huyện ĐạiTừ tỉnh TháiNguyên phục vụ phát triển Nông Lâm Nghiệp”;
Đỗ Thị Vân Hương và cộng sự (2012) với công trình “Đánh giátài
nguyên sinh khí hậu tỉnh Thái Nguyên phục vụ phát triển cây nhãn, cây quế”; Dương Văn Khảm và cộng sự (2012) với công trình "Nghiên cứu xây dựng bản đồ sương muối phục vụ phát triển cao su và cà phê ở một số tỉnh vùng miền núi phía Bắc bằng công nghệ GIS và viễn thám”
Đỗ Thị Vân Hương và cộng sự (2014)với công trình “Nghiên cứu, đánh giá tài nguyên sinh khí hậu vùng Đông Bắc Việt Nam phục vụ phát triển một số cây trồng nông, lâm nghiệp có giá trị kinh tế” …
Trang 271.3 Đặc điểm khu vực nghiên cứu
1.3.1 Vị trí địa lý tỉnh Bắc Kạn
Bắc Kạn là tỉnh miền núi, nằm ở vùng Đông Bắc Việt Nam, giáp với tỉnh: Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên và Tuyên Quang TỉnhBắc Kạn được tái lập ngày 01 tháng 01 năm 1997, hiện có 8 đơn vị hành chính (7 huyện, 1 thị xã) với 122 xã, phường, thị trấn Diện tích đất tự nhiên 4.859 km2, dân số 300.000 người, gồm 7 dân tộc anh em (Tày, Nùng, Kinh, Dao, Mông, Hoa và Sán Chay), trong đó dân tộc thiểu số chiếm hơn 80% [11]
Thành phố Bắc Kạn là trung tâm chính trị - kinh tế của tỉnh, cách thủ đô
Hà Nội 170km theo đường Quốc lộ 3 Khoảng cách từ tỉnh Bắc Kạn đến cửa khẩu Quốc tế Hữu Nghị và cửa khẩu Tân Thanh - tỉnh Lạng Sơn khoảng 200km; từ Bắc Kạn đến sân bay Nội Bài (Hà Nội) và cảng Hải Phòng chỉ trên 200km Do đó, việc giao thông, trao đổi hàng hóa từ Bắc Kạn đến các tỉnh lân cận là khá thuận tiện Quốc lộ 3 nối từ Hà Nội đến cửa khẩu Tà Lùng (Cao Bằng) hiện đã được cải tạo,nâng cấp Đặc biệt, tuyến đường Thái Nguyên - Chợ Mới đã đưa vào sử dụng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho giao thông và thông thường là hàng hóa[11]
Hình 1.1: Bản đồ hành chính huyện Bắc Kạn
Trang 28Cánh cung sông Gâm kéo dài dọc theo phía Tây của tỉnh Cấu tạo chủ yếu là đá phiến thạch anh, đá vôi, có lớp dài là đá kết tinh rất cổ Khu vực này
có nhiều đỉnh núi có chiều cao khác nhau, trong đó có đỉnh Phja Boóc cao 1.502m và nhiều đỉnh cao trên 1.000m.[11]
Xen giữa hai cánh cung là nếp lõm thuộc hệ thống thung lũng các con sông [3]
Bắc Kạn là một tỉnh miền núi cao, địa hình bị chi phối bởi những dãy núi vòng cung quay lưng về phía Đông xen lẫn với những thung lũng Bắc Kạn có thể phân thành 3 vùng như sau:
Vùng phía Tây và Tây Bắc: bao gồm các mạch núi thuộc khu vực huyện Chợ Đồn, Pác Nặm, Ba Bể chạy theo hướng vòng cung Tây Bắc – Đông Nam, định ra hướng của hệ thống dòng chảy lưu vực sông Cầu Dãy núi cao nhất là Phia Bjóoc ( cao 1578m)
Vùng phía Đông và Đông Bắc: hệ thống núi thuộc cánh cung Ngân Sơn chạy theo hướng Bắc - Nam, mở rộng thung lũng về phía Đông Bắc
Vùng Trung tâm: vùng địa hình thấp, kẹp giữa một bên là dãy núi cao
Trang 29thuộc cánh cung sông Gâm ở phía Tây, với một bên là cánh cung Ngân Sơn ở phía Đông
1.3.3 Khí hậu
Bắc Kạn nằm hoàn toàn trong vành đai nhiệt đới khu vực gió mùa Đông Nam Á Ở vị trí này, Bắc Kạn có sự phân hóa khí hậu theo mùa rõ rệt
Mùa mưa nóng ẩm từ tháng 5 đến tháng 10(chiếm 70 - 80% lượng mưa
cả năm); mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau (lượng mưa chỉ chiếm khoảng 20 - 25%tổng lượng mưa trong năm)
Do nằm giữa hai hệ thống núi cánh cung miền Đông Bắc, nên Bắc Kạn chịu ảnh hưởng mạnh của khí hậu lục địa châu Á, thời tiết lạnh về mùa Đông, đồng thời hạn chế ảnh hưởng mưa bão về mùa Hạ[3]
- Chế độ nắng
Số giờ nắng trung bình toàn tỉnh Bắc Kạn tương đối thấp Kết quả quan trắc được từ ba trạm khí tượng Bắc Kạn, Chợ Rã, Ngân Sơn cho thấy, tổng số giờ nắng trung bình có giá trị trong khoảng 1300 – 1400 giờ/năm Số giờ nắng
có sự chênh lệch theo địa phương và giữa các mùa Các tháng 1, 2, 3 được ghi nhận là các tháng có số giờ nắng ít nhất trong năm, do ảnh hưởng của kiểu thời tiết mưa phùn và sương mù, số giờ nắng trung bình toàn tỉnh vào khoảng
60 giờ/ tháng (tức là chỉ có 2 giờ nắng/ngày) Ngược lại, trong các tháng mùa
Hè và mùa Thu, số giờ nắng cao nhất (tháng 5 – tháng 9), số giờ nắng trung bình xấp xỉ 152 giờ/tháng (tức là khoảng 5 giờ nắng/ngày)
- Chế độ mây
Lượng mây tổng quan toàn tỉnh từ kết quả quan trắc trung bình trên ba trạm khí tượng Bắc Kạn, Chợ Rã, Ngân Sơn tương đối lớn (khoảng 7,5/10- 8/10 bầu trời) Lượng mây không có sự biến đổi nhiều giữa các tháng trong năm; các tháng ít mây nhất có lượng mây vào khoảng 6,8/10-7,4/10 bầu trời, rơi vào các tháng cuối mùa Thu, đầu Đông (tháng 9, 10, 11, 12) và các tháng
Trang 30cuối mùa Đông (tháng 1,2, 3, 4) nhiều mây hơn, khoảng 8-9/10 bầu trời, trùng với thời kỳ mưa phùn và sương mù
- Nhiệt độ
Nhiệt độ trung bình hàng năm đạt 20 - 220C Nhiệt độ cao nhất trung bình 26-270C (tháng 5-9), trùng với số ngày nắng nhất của năm, thấp nhất trung bình từ 12-140C; tháng lạnh nhất là tháng 11 và 12 (âm lịch), gây ra các hiện tượng sương mù
Bảng 1.1: Nhiệt độ không khí trung bình tháng và nămtại
Nguồn: Số liệu khí tượng thuỷ văn các trạm tỉnh Bắc Kạn lưu trữ Phòng Khí
hậu, Viện Địa lý
Sự biến thiên nhiệt độ tuân theo quy luật càng lên cao nhiệt độ càng giảm, ở một số khu vực thuộc Huyện Chợ Đồn và Huyện Ngân Sơn (có độ cao khoảng 200-600m), nhiệt độ không khí giảm xuống (khoảng 20-210C)
- Chế độ mưa
Qua phân tích số liệu của ba trạm khí tượng trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn cho thấy tổng lượng mưa trung bình toàn tỉnh vào khoảng 1500mm/năm Tổng lượng mưa năm phân bố không đồng đều giữa các trạm khí tượng và có
sự phân hóa rõ rệt theo thời gian Mùa mưa ở tỉnh Bắc Kạn thường bắt đầu từ tháng 4 và kết thúc vào tháng 11, ở cả ba trạm quan trắc đều cho thấy tháng 6,7,8 là các tháng có tổng lượng mưa lớn nhất trong năm (trên dưới 300mm/tháng)
Trang 31Bảng 1.2: Lượng mưa trung bình năm tại Bắc Kạn (mm)
Bắc
Kạn 23.9 28.0 52.0 103.1 192.4 256.3 294.5 269.0 157.2 72.3 41.4 19.8 1509.9 Chợ
Rã 25.3 20.9 46.5 93.7 182.2 230.2 263.4 243.6 130.0 75.9 43.2 20.4 1375.2 Ngân
Sơn 30.1 31.7 57.7 98.8 221.1 272.0 333.2 287.6 164.0 90.2 55.1 26.9 1668.3
Nguồn: Số liệu khí tượng thuỷ văn các trạm tỉnh Bắc Kạn lưu trữ Phòng Khí
hậu, Viện Địa lý
Dữ liệu lượng mưa trung bình giai đoạn từ 1961 – 2016 tại các trạm Thuần Mang, trạm Yên Lạc, Na Rì (Huyện Na Rì), trạm Chợ Rã (huyện Ba Bể), trạm Thác Riềng (Thị xã Bắc Kạn), trạm Chợ Đồn (Huyện Chợ Đồn) trong khoảng 1200-1900 mm Trong đó, lượng mưa trung bình cao nhất là tại trạm Chợ Đồn (1839 mm) và trạm Thạch Thành (1913,3 mm), thấp nhất là trạm Yên Lạc, Na Rì (1242 mm)
- Độ ẩm không khí: Nhìn chung, độ ẩm không khí trung bình toàn tỉnh
cao và không có biến động (vào khoảng 83% - 85%)
- Khả năng bốc - thoát hơi nước
Bốc thoát hơi Piche ở tỉnh trong khoảng 730-800 mm/năm Lượng bốc thoát hơi biến động rõ rệt theo mùa: tăng lên vào mùa Hè (tháng 5-9) khoảng 65-80 mm/tháng, là thời kỳ có nhiệt độ cao và chế độ bức xạ Mặt Trời phong phú Trong khi đó, các tháng mùa Đông (tháng 12-3) có lượng bốc hơi trung bình thấp nhất trong năm (khoảng 55-60 mm/tháng)
Trang 32- Các hiện tượng thời tiết đặc biệt
+ Dông
Bắc Kạn là khu vực có tần suất dông tương đối lớn Dông xuất hiện trong tất cả các tháng và xảy ra nhiều nhất từ tháng 5 đến tháng 8, trùng với thời kỳ mùa mưa bão Dông thường kèm theo gió mạnh và mưa rào, lượng mưa dông chiếm tỷ trọng khá lớn trong lượng mưa năm
+ Mưa phùn
Mưa phùn có tần suất xảy ra toàn tỉnh không lớn (khoảng 12-15 ngày mưa phùn/năm).Tuy nhiên, lượng mưa phùn phân bố không đều ở các khu vực Tại các trạm Bắc Kạn (huyện Bạch Thông), trạm Chợ Rã (huyện Ba Bể) lượng mưa phùn trung bình khoảng 10-15 ngày/năm Ở trạm Ngân Sơn (huyện Ngân Sơn), lượng mưa phùn lên đến 37 ngày/năm Mưa phùn xuất hiện nhiều vào mùa Đông, đặc biệt là nửa cuối mùa Đông (từ tháng 1 đến tháng 3)
Số ngày có sương mù của Bắc Kạn tương đối lớn, dao động từ 15 đến
74 ngày/năm tuỳ theo các điểm quan trắc Sương mù xuất hiện gần như ở các tháng, nhiều nhất từ tháng 7 đến tháng 12 (khoảng 3 đến 13 ngày/tháng, tuỳ vào các điểm quan trắc), ít nhất vào tháng 3 đến tháng 5 (khoảng 2 ngày/tháng)
Tuy nhiên ở khu vực trạm Ngân Sơn (huyện Ngân Sơn), số ngày có sương mùa xuất hiện đều vào tất cả các tháng (khoảng 0,5-1 ngày/tháng, trung bình 15 ngày/năm)
+ Sương muối
Ở tỉnh Bắc Kạn sương muối xuất hiện ít chỉ xuất hiện nhiều vào tháng 12, 1,
Trang 332 những ngày nhiệt độ thấp (khoảng 0,4-3,2 ngày/năm) Sương muối xuất hiện nhiều nhất ở trạm Ngân Sơn (với tần suất 3,2 ngày/năm, từ tháng 11 đến tháng
3)
Sông ngòi
Mạng lưới sông ngòi Bắc Kạn tương đối phong phú nhưng đa số là các nhánh thượng nguồn với đặc điểm chung là ngắn, dốc, thủy chế thất thường Bắc Kạn là đầu nguồn của 5 con sông lớn của vùng Đông Bắc là sông Lô, sông Gâm, sông Kỳ Cùng, sông Bằng, sông Cầu Hệ thống sông ngòi có ý nghĩa quan trọng đối với sản xuất và đời sống của nhân dân tỉnh Bắc Kạn Ngoài hệ thống sông ngòi, Bắc Kạn còn nổi tiếng với hồ Ba Bể Đây là một trong những hồ kiến tạo đẹp và lớn nhất nước ta Hồ Ba Bể được hình thành từ một vùng đá vôi bị sụt xuống do nước chảy ngầm đã đục rỗng lòng khối núi Diện tích mặt hồ khoảng 500 ha, là nơi hợp lưu của ba con sông (Ta Han, Nam Cương và Cho Leng) Hồ có ba nhánh thông nhau, nên gọi là Ba
Bể Hồ Ba Bể đã được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia (năm 1996); xếp hạng là di tích danh thắng Quốc gia đặc biệt (năm 2012)[3]
1.3.4 Điều kiện kinh tế xã hội tỉnh Bắc Kạn
Bắc Kạn được thiên nhiên ưu đãi cho nhiều tiềm năng phát triển kinh tế-xã hội với nguồn tài nguyên rừng, đất rừng, khoáng sản phong phú và vườn Quốc gia Ba Bể, nơi có hồ Ba Bể - một trong 20 hồ nước ngọt lớn trên thế giới…
Tiềm năng phát triển công nghiệp
Tỉnh Bắc Kạn có tiềm năng phát triển công nghiệp khai thác nông lâm sản dựa trên lợi thế về rừng Khu công nghiệp Thanh Bình thuộc địa bàn xã Thanh Bình, huyện Chợ Mới, nằm dọc trên trục đường quốc lộ 3 cách trung tâm Hà Nội 130km, là nơi đáp ứng nhu cầu của các nhà đầu tư vào tỉnh, đặc biệt là vào lĩnh vực công nghiệp khai thác nông lâm sản Hiện nay, nhà máy chế biến gỗ Sahabak tại Khu công nghiệp đã cho sản phẩm ổn định, giải quyết
Trang 34việc làm cho gần 500 công nhân, với thu nhập bình quân đầu người trên 3 triệu đồng/tháng Giá trị sản xuất công nghiệp đã đóng góp lớn cho sự phát triển lĩnh vực công nghiệp của tỉnh Khu Công nghiệp Thanh Bình được kỳ vọng sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm cho người lao động, tạo động lực, môi trường thu hút các dự án đầu
tư, phát huy tiềm năng thế mạnh của tỉnh.[3]
Bắc Kạn còn có tiềm năng phát triển công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản, vật liệu xây dựng Trên địa bàn tỉnh có 165 mỏ và điểm quặng, các loại khoáng sản có trữ lượng lớn là: chì kẽm 70 mỏ và điểm quặng, trữ lượng khoảng 4 triệu tấn; sắt có 13 mỏ và điểm mỏ, trữ lượng khoảng 22 triệu tấn; vàng có 17 mỏ và điểm quặng, trữ lượng khoảng 39 tấn; đá vôi xi măng
150 triệu m3; đá trắng, thạch anh khoảng 460 triệu m3; sét xi măng trên 10 triệu m3, ngoài ra còn có antimon, titan, kaolin, silic [3]
Hiện nay, đã có một số doanh nghiệp đầu tư xây dựng nhà máy chế biến quặng chì, kẽm ở quy mô nhỏ, sản phẩm mới chỉ đạt ở mức tinh quặng chì kẽm và chưa luyện được thành kẽm thỏi có hàm lượng cao
Với trữ lượng khoáng sản lớn, Bắc Kạn có triển vọng đầu tư chế biến sâu ở quy mô vừa và nhỏ để nâng giá trị các loại khoáng sản tốt hơn, phục vụ cho các ngành công nghiệp trong nước và tiến đến xuất khẩu Đặc biệt là ngành sản xuất vật liệu xây dựng như: xi măng, đá ốp lát, bột đá công nghiệp, rất có triển vọng ở Bắc Kạn.[9]
Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn còn có nhiều hệ suối là đầu nguồn sông Đáy, sông Gâm, sông Chu… lưu vực nhỏ, độ dốc dòng chảy lớn, lòng hẹp và có nhiều thác ghềnh thuận tiện cho việc đầu tư các công trình thuỷ điện nhỏ.[9]
Tiềm năng phát triển nông lâm nghiệp
1 Trồng trọt
Diện tích cây lương thực đạt và vượt chỉ tiêu kế hoạch đề ra; tổng sản lượng lương thực có hạt ước đạt 177.742 tấn, bằng 101,5% kế hoạch, trong đó vụ
Trang 35xuân 90.761 tấn bằng 103% kế hoạch, vụ mùa ước đạt 86.981 tấn bằng 100%kế hoạch
(Nguồn: Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn, 2017)[32]
Bảng 1.3: Diện tích, sản lượng cây lương thực có hạt năm 2017 STT Tên cây trồng Diện tích (ha) Sản lượng
(tấn)
Năng suất (tạ/ha)
Nguồn: Niên giám thống kê Bắc Kạn 2017 [2]
Bảng 1.4: Diện tích, sản lượng cây trồng hàng năm 2017
STT Tên cây trồng Diện tích (ha) Sản lượng
(tấn)
Năng suất (tạ/ha)
Trang 36Bảng 1.5: Diện tích,sản lượng và phân bố một số cây trồng
Thông
Ngân Sơn
Na Rì Chợ
Mới
Chợ Đồn
Pác Nặm
Nguồn: Niên giám thống kê Bắc Kạn 2017 [2]
Trang 372 Chăn nuôi, thủy sản
- Chăn nuôi
+ Đàn đại gia súc (trâu, bò, ngựa): 87.187 con đạt 104% kế hoạch năm,
so với cùng kỳ năm 2016 tăng 4,1%; số con xuất bán, giết mổ trên 4.653 con Ước cả năm tổng đàn đại gia súc là 87.250 con đạt 104% kế hoạch và số đại gia súc giết mổ khoảng 24.000 con
+ Đàn lợn: 196.547 con đạt 87,3% kế hoạch năm; số con xuất bán giết
mổ là 43.224 con.Tổng đàn lợn cả năm ước đạt 225.000 con, số lượng giết mổ 265.000 con
+ Đàn gia cầm: 1.535.797 con, đạt 85% kế hoạch năm; ước tổng đàn gia cầm cả năm 1.800.000 con, số con giết mổ 22.503 con
- Thủy sản: Diện tích ao nuôi 1.283 ha đạt 98% kế hoạch Diện tích nuôi chủ yếu là ao nuôi hộ gia đình và một số diện tích ruộng chủ động nước, sản lượng cả năm ước đạt 1.755 tấn
(Nguồn: Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn, 2017)[31]
3 Lâm nghiệp
- Tính đến ngày 15/8/2017 trên địa bàn toàn tỉnh trồng được 7.221,2 ha rừng đạt 112,83% kế hoạch, trong đó trồng rừng theo dự án Bảo vệ phát triển rừng là 6.343,65 ha; trồng lại rừng sau khai thác 877,55 ha và người dân tự trồng rừng 259,35 ha
- Diện tích trồng rừng đang được chăm sóc sau trồng là 16.940,67 ha; bảo vệ rừng tự nhiên phòng hộ và rừng đặc dụng 80.856 ha và khoanh nuôi tái sinh rừng tự nhiên 19.785,1 ha
Tỉnh Bắc Kạn có diện tích đất cây công nghiệp lâu năm và cây ăn quả thấp, do điều kiện giao thông khó khăn và trình độ dân trí hạn chế Để thích ứng và giảm thiểu những tác động tiêu cực của BĐKH, hướng ưu tiên vào cây
ăn quả đặc sản và cây công nghiệp dài ngày được cho là giải pháp phù hợp cho tỉnh Bắc Kạn
(Nguồn: Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn, 2017)[32]
Trang 38Tiềm năng phát triển du lịch
Tỉnh Bắc Kạn được thiên nhiên ban tặng cho nhiều danh lam thắng cảnh,
là điều kiện phát triển du lịch
Hồ Ba Bể là một trong 20 hồ nước ngọt tự nhiên lớn nhất thế giới Hồ có diện tích rộng 500 ha, nằm trong khu vực Vườn Quốc gia Ba Bể, có hệ thống rừng nguyên sinh trên núi đá vôi với 417 loài thực vật, 299 loài động vật có xương sống, trong hồ có 49 loài cá nước ngọt Hồ Ba Bể đã được công nhận
là di tích danh thắng Quốc gia đặc biệt Năm 2003, Vườn quốc gia Ba Bể được công nhận là vườn di sản ASEAN, năm 2011 được công nhận là khu RAMSAR thứ 3 của Việt Nam Hiện nay đang lập hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận là di sản thế giới
Bắc Kạn là xứ sở của các dạng địa hình Caxtơ điển hình, tiêu biểu là các hang động kỳ vĩ như: Động Puông, động Hua Mạ, động Nàng Tiên, động Thạch Long… Diện tích hang động có nơi rộng từ hàng trăm đến hàng nghìn mét vuông, với các nhũ đá, cột đá hình thù sinh động, độc đáo
Đến Bắc Kạn, du khách còn được tham quan các điểm du lịch khác như: Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ, Đền Thắm, chùa Thạch Long, du ngoạn trên sông Cầu, sông Năng… Đặc biệt, du khách còn được đến thăm các bản làng dân tộc với những nét văn hoá truyền thống đặc sắc, được thưởng thức những nông sản đặc biệt của núi rừng Việt Bắc.[3]
Trang 39Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Các đối tượng được lựa chọn để đánh giá mức độ phù hợp sinh thái với điều kiện sinh khí hậu của tỉnh Bắc Kạn trong bối cảnh BĐKH là ba loại cây trồng: mía bầu, cam và chè Đây là ba loại cây trồng có giá trị kinh tế, năng suất, chất lượng cao, có khả năng chống chịu tốt với dịch bệnh, điều kiện thời
tiết khắc nghiệt, phục vụ cho mục tiêu chuyển đổi cơ cấu cây trồng nhằm tái
cơ cấu kinh tế nông, lâm nghiệp giai đoạn 2015- 2020 theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, giai đoạn 2015 – 2020 [31]
Đề tài chỉ nghiên cứu, đánh giá nhu cầu và mức độ phù hợp của một số loài cây trồng với điều kiện sinh khí hậu của tỉnh Bắc Kạn, mà không xét đến các yếu tố sinh thái khác (thổ nhưỡng, địa hình, địa chất…)
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp thu thập, phân tích, xử lí tài liệu
Thu thập, phân tích, xử lý tài liệu là công việc quan trọng trong quá trình nghiên cứu, đánh giá Trên cơ sở mục tiêu của đề tài, chúng tôi đã xác định các tài liệu, số liệu cần thu thập tại khu vực nghiên cứu như điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, các số liệu quan trắc từ các trạm khí tượng trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn trong khoảng thời gian đủ dài (1961-2016) để đảm bảo độ tin
Trang 40cậy của kết quả nghiên cứu Các tài liệu, số liệu được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau: Báo cáo tổng kết của UBND tỉnh Bắc Kạn; số liệu quan trắc khí tượng của từng trạm (Chợ Rã, Ngân Sơn, Bắc Kạn) trong chuỗi từ năm 1961-2016; các đề án, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bắc Kạn, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến vấn đề nghiên cứu…
2.3.2 Phương pháp tham vấn chuyên gia
Đề tài đánh giá mức độ phù hợp của một số loài cây trồng chủ lực với điều kiện sinh khí hậu của tỉnh Bắc Kạn, đặc biệt trong bối cảnh BĐKH hiện nay là một nội dung có ý nghĩa thực tế,mang tính liên ngành Trong đề tài, tác giả có tham vấn nhiều kiến thức, ý kiến tham vấn từ các chuyên gia về đối tượng nghiên cứu (xác định các loại cây trồng chủ lực), về nhu cầu sinh thái
và ngưỡng sinh thái đối với từng loại cây trồng được lựa chọn
2.3.3 Phương pháp phân loại sinh khí hậu
Cấp phân vị cơ sở của bản đồ SKH đối với một tỉnh là cấp loại SKH,
phản ánh sự phân hoá về yếu tố nhiệt, mưa-ẩm của lãnh thổ, quyết định sự tồn tại và phát triển của các kiểu TTV tự nhiên Phân loại SKH được tiến hành dựa trên các nguyên tắc cơ bản:
-Phải phản ánh khách quan đặc điểm phân hóa khí hậu của vùng lãnh thổ; -Phải thể hiện được đặc điểm sinh thái TTV tự nhiên của chính lãnh thổ đó
Phương pháp này dùng để phân cấp các hệ chỉ tiêu nhiệt (nhiệt độ trung bình năm, chỉ tiêu độ dài mùa lạnh) và phân cấp các hệ chỉ tiêu ẩm (tổng lượng mưa năm, độ dài mùa khô)
2.3.4 Phương pháp đánh giá mức độ phù hợp của cây trồng với điều kiện tỉnh Bắc Kạn
Mỗi loài cây trồng có giới hạn sinh thái khác nhau đối với từng nhân tố sinh thái, nên mức độ phù hợp với điều kiện SKH được đánh giá riêng cho