Phân tích vai trò của LHQ được quy định của HCLHQ và quy chế hoạt động về vị trí, vai trò, thủ tục hoạt động của các thể chế LHQ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp của LHQ và những vấn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHAN VĂN MẠNH
VAI TRÒ CỦA LIÊN HỢP QUỐC TRONG GIẢI
QUYẾT TRANH CHẤP VỀ BIÊN GIỚI - LÃNH THỔ: VẬN DỤNG VÀO CÁC TRANH CHẤP Ở BIỂN ĐÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHAN VĂN MẠNH
VAI TRÒ CỦA LIÊN HỢP QUỐC TRONG GIẢI
QUYẾT TRANH CHẤP VỀ BIÊN GIỚI - LÃNH THỔ: VẬN DỤNG VÀO CÁC TRANH CHẤP Ở BIỂN ĐÔNG
Chuyên ngành : Luật Quốc tế
Mã số : 60 38 01 08
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS NGUYỄN BÁ DIẾN
Hà Nội - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn được công bố là thành quả của lao động khoa học nghiêm túc Các số liệu nêu trong luận án có nguồn gốc rõ ràng, đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực, Luận văn có tham khảo, nghiên cứu và kế thừa các công trình, ấn phẩm và các bài viết đã công bố có liên quan đến đề tài học viên nghiên cứu, kết quả luận văn đảm bảo đúng quy chế của Khoa Luật và Đại học Quốc gia
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Phan Văn Mạnh
Trang 4MỤC LỤC DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN CHUNG VỀ VAI TRÒ CỦA LIÊN HỢP QUỐC TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ BIÊN GIỚI - LÃNH THỔ……… 7
1.1.Cơ sở thực tiễn về vai trò của LHQ trong giải quyết tranh chấp về Biên giới - Lãnh thổ……….………… …7
1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của LHQ 7
1.1.2 Tôn chỉ mục đích và nguyên tắc hoạt động 10
1.1.3 Cơ cấu tổ chức của LHQ……… …11
1.1.4 Thành viên của LHQ ……… 19
1.2 Cơ sở pháp lý trong việc xác định vai trò của LHQ trong giải quyết tranh chấp về Biên giới - Lãnh thổ 20
1.2.1 Hiến chương LHQ 20
1.2.2 Nghị quyết, quyết định 23
1.2.3 Các quy định của Quy chế Tòa án Công lý quốc té về giải quyết tranh chấp……….25
1.2.4 Các Điều ước quốc tê song phương, đa phương 27
1.3 Những biện pháp được sử dụng trong cơ chế giải quyết tranh chấp của LHQ……….27
1.3.1 Nhóm các biện pháp ngoại giao ……… 30
1.3.2 Nhóm các biện pháp tư pháp ……… 32
1.3.3 Nhóm các biện pháp an ninh tập thể ………33
1.3.4 Lực lượng gìn giữ hòa bình ……… 34
1.4 Những thành thành tựu nổi bật và hạn chế của LHQ trong thực hiện vai trò giữ gìn hòa bình, an ninh của LHQ ……… 35
1.4.1 Thành tựu nổi bật ……… 35
Trang 51.4.2 Hạn chế ……….38
1.5 Khái quát tranh chấp chủ quyền Biên giới - Lãnh thổ trên biển ……….39
1.5.1 Khái niệm ……….39
1.5.2 Tranh chấp chủ quyền Biên giới - Lãnh thổ trên biển ……….43
1.5.3 Các tranh chấp quốc tế trên biển ……… 44
CHƯƠNG 2 - GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BIÊN GIỚI - LÃNH THỔ THÔNG QUA VAI TRÒ CÁC THỂ CHẾ CỦA LIÊN HỢP QUỐC 47
2.1 Đại hội đồng 47
2.1.1 Thành viên của ĐHĐ ………47
2.1.2 Chức năng, quyền hạn, cơ cấu, thủ tục hoạt động của ĐHĐ 47
2.1.2.1 Chức năng, quyền hạn của ĐHĐ 47
2.1.2.2 Các khóa họp của ĐHĐ 49
2.1.2.3 Cơ cấu của ĐHĐ 52
2.1.2.4 Thủ tục bỏ phiếu ………52
2.1.3 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của ĐHĐ 53
2.1.4 Giá trị pháp lý và thực tiễn của các Nghị quyết và tuyên bố của ĐHĐ 54 2.1.4.1 Quyết định 54
2.1.4.2 Khuyến nghị 55
2.1.4.3 Tuyên Bố 55
2.2 Hội đồng Bảo an 57
2.2.1 Thành viên của HĐBA ……….57
2.2.2 Chức năng, quyền hạn, cơ cấu, thủ tục hoạt động của HĐBA 57
2.2.2.1 Chức năng, quyền hạn của HĐBA 58
2.2.2.2 Cơ cấu của HHĐBA 59
2.2.2.3 Thủ tục hoạt động……… 59
2.2.2.4 Thủ tục bỏ phiếu ………63
2.1.3 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của HĐBA 70
2.1.4 Giá trị pháp lý và thực tiễn của các Nghị quyết và Quyết định của HĐBA 73
Trang 62.2.5 Vai trò của HĐBA nói chung và giải quyết tranh chấp Biên giới - Lãnh
thổ nói riêng 74
2.3 Tổng thư ký 77
2.3.1 Khái quát 77
2.3.2 Cơ cấu tổ chức 77
2.3.3 Chức năng, nhiệm vụ 78
2.4 Mối quan hệ biện chứng của các thể chế LHQ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp 79
2.4.1 Mối quan hệ tương sinh trong giải quyết tranh chấp giữa các thê chế LHQ 80
2.5.2 Sự tương khắc (kìm chế đối trọng) giữa các thể chế có thẩm quyền giải quyết tranh chấp của LHQ 81
CHƯƠNG 3 - MỘT SỐ KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP VỀ VIỆC VẬN DỤNG CÁC THIẾT CHẾ LHQ TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BIỂN, ĐẢO CHO VIỆT NAM 84
3.1 Tổng quan tình hình tranh chấp trên Biển Đông 85
3.1.1.Tranh chấp Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa 87
3.1.1.1 Quần Đảo Hoàng Sa ……… 87
3.1.1.2 Quần Đảo Trường Sa ……… 88
3.1.2 Tranh chấp các vùng biển chống lấn ……… 89
3.1.3 Tranh chấp về việc thực hiện các quyền về nghĩa vụ theo luật biển quốc tế ……… 90
3.1.4 Tranh chấp liên quan đến yêu sách đường lưỡi bò phi lý của Trung Quốc ……… 91
3.2 Kiến nghị giải pháp cho Việt Nam trong việc vận dụng vai trò các thiết chế của LHQ trong giải quyết tranh chấp ở Biển Đông nhằm mục đích quốc tế hóa tranh chấp 92
Trang 73.2.1 Kiến nghị giải pháp cho Việt Nam trong việc vận dụng vai trò của ĐHĐ LHQ trong giải quyết tranh chấp ở Biển Đông 94 3.2.2 Kiến nghị giải pháp cho Việt Nam trong việc vận dụng vai trò của HĐBA LHQ trong giải quyết tranh chấp ở Biển Đông 98
KẾT LUẬN 104 TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Nguyên văn tiếng Việt
TAQT, ICJ Toà án công lý quốc tế
PTAQT Pháp viện thường trực quốc tế TTK LHQ Tổng thư ký Liên hợp quốc
HCLHQ Hiến chương Liên hợp quốc
ECOSOC Hội đồng kinh tế - xã hội LHQ
Trang 9là sự kiện quan trọng đánh dấu sự xuất hiện của hoạt động ngoại giao đa phương hiện đại, một bước ngoặt trong lịch sử phát triển của nền ngoại giao
đa phương, sự đóng góp của LHQ đối với hòa bình an ninh quốc tế, sự phát triển kinh tế - xã hội của cộng đồng quốc tế là rất đáng kể Thế giới đã bước sang kỷ nguyên văn minh, mọi quan hệ quốc tế đều được thiết lập, giải quyết theo cách thức hòa bình, hữu nghị, hợp tác và cùng phát triển và LHQ đang có một vai trò to lớn, được đánh giá có khả năng tiến tới một siêu quyền lực
Các thể chế của LHQ đã đóng góp một vai trò quan trọng trong việc xây dựng và phát triển các quy định toàn cầu, trong đó việc giữ gìn hòa bình và an ninh quốc tế là mục đích hàng đầu được ghi nhận ngay từ lời nói đầu của Hiến chương LHQ Theo đó, “Chúng tôi, nhân dân các nước liên hợp lại, quyết tâm: phòng ngừa cho những thế hệ mai sau khỏi thảm họa của chiến tranh đã hai lần trong khoảng thời gian một đời người gây cho nhân loại những đau thương không kể xiết… Biểu thị sự khoan nhượng cùng nhau sống hòa bình trên tinh thần láng giềng thân thiện, cùng nhau góp sức để duy trì hòa bình và an ninh quốc tế”
Trang 102
Sau khi trở thành thành viên LHQ năm 1977, Việt Nam gia đóng góp tích cực, có trách nhiệm và đạt được thành công lớn khi được bầu vào vị trí ủy viên không thường trực của Hội đồng bảo an (HĐBA) nhiệm kỳ 2008-2009
Sự kiện này đánh dấu hơn 3 thập kỷ quan hệ Việt Nam - LHQ, thành tựu của việc thực hiện đường lối đối ngoại rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế Năm 2013, Việt Nam tuyên bố sẵn sàng tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của LHQ Việc Việt Nam tham gia tích cực và hiệu quả tại LHQ là cơ hội để Việt Nam có thể nhận được sự ủng hộ của các nước tại các diễn đàn và các cơ quan của LHQ nhằm nâng cao vị thế quốc tế và bảo vệ lợi ích quốc gia của Việt Nam
Bên cạnh những tranh chấp về tôn giáo, khủng bố, bệnh dịch đói nghèo, bệnh tật, suy thoái môi trường, tài nguyên thiên nhiên, nguy cơ phổ biến vũ khí hủy diệt, chủ nghĩa khủng bố, các tổ chức tội phạm xuyên quốc gia… thì tình hình tranh chấp biên giới, lãnh thổ trên nhiều khu vực trên thế giới nói chung và của Việt Nam với các nước láng giềng nói riêng đang có nhiều diễn biến phức tạp và kéo dài trong nhiều năm qua và đây đươc coi như
là một trong những nguy cơ có khả năng cao nhất dẫn đến bất ổn khu vực và thậm chí chiến tranh nếu không được giải quyết một cách thỏa đáng, thế giới
đã chứng kiến rất nhiều cuộc chiến tranh về lãnh thổ trên đất liền và giờ đây
là những tích tụ tranh chấp trên biển Hàng loạt hồ sơ của các nước châu Âu
và châu Á đang đă ̣t ra câu hỏi các tranh chấp sẽ được giải quyết ra sao vào thời điểm công nghê ̣ khai thác nguồn lợi tài nguyên đáy biển ngày càng tốt hơn Việt Nam phải làm gì trong xu thế vũ bão tiến ra biển và làm chủ biển, đặc biệt là bảo vệ thành công chủ quyền của mình trên hai quần đảo vì chủ quyền quốc gia trên biển không chỉ là vấn đề của hiện tại mà còn ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển của đất nước của các thế hệ mai sau Thực tế này yêu cầu LHQ phải không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động, đáp ứng
Trang 11vệ biên giới, lãnh thổ
Xuất phát từ vai trò, tôn chỉ mục đích cơ bản của LHQ là giải quyết hòa bình các tranh chấp nói chung và tranh chấp lãnh thổ nói riêng cũng như tình hình tranh chấp hiện nay của Việt Nam và các nước láng giềng học viên đã chọn đề tài “Vai trò của Liên Hợp Quốc trong giải quyết tranh chấp biên giới – lãnh thổ: vận dung vào tranh chấp ở Biển Đông” là hết sức cần thiết, có ý nghĩa thực tiễn nhằm mang lại cái nhìn rõ ràng, tổng quát hơn về vai trò của Liên Hợp Quốc trong giải quyết tranh chấp Việc nghiên cứu nhằm minh định
rõ cơ chế và thực tiễn hoạt động của các thể chế LHQ trong việc giải quyết tranh chấp, xác định xem liệu Việt Nam có thể áp dụng, hay có cơ hội như thế nào trong việc giải quyết tranh cấp chủ quyền lãnh thổ của mình trên Biển Đông thông qua các thể chế của LHQ, từ đó Việt Nam chuẩn bị và củng cố những điều cần thiết để bảo vệ lãnh thổ và chủ quyền của mình
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục tiêu nghiên cứu
+ Đề tài làm rõ các hoạt động cụ thể mà LHQ cần tiến hành nhằm thực hiện vai trò duy trì hòa bình an ninh quốc tế nói chung va giải quyết hòa bình tranh chấp biên giới – lãnh thổ nói riêng Luận văn nghiên cứu về vị trí, vai trò, thủ tục hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp của LHQ, bao gồm: ĐHĐ, HĐBA, TTK LHQ, mối quan hệ biện chứng của
Trang 12+ Việt Nam vận dụng vai trò các thể chế LHQ trong giải quyết tranh chấp chủ quyền biên giới - lãnh thổ trên Biển Đông
- Nhiệm vụ nghiên cứu
Khái quát tranh chấp biên giới – lãnh thổ nói chung và tranh chấp Biển Đông giữa Việt Nam với các nước láng giềng, nhất là Trung Quốc
Phân tích vai trò của LHQ được quy định của HCLHQ và quy chế hoạt động về vị trí, vai trò, thủ tục hoạt động của các thể chế LHQ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp của LHQ và những vấn đề phát sinh trong thực tiễn hoạt động của các thiết chế có ảnh hưởng đến việc giải quyết các tranh chấp quốc
tế
Nghiên cứu phân tích đánh giá, cách thức hoạt động của các thể chế có thẩm quyền giải quyết tranh chấp của LHQ dưới nhằm khai thác vai trò của LHQ trong việc giải quyết tranh chấp thông qua các thể chế của LHQ, qua đó tìm hiểu khả năng phát huy vai trò của các thể chế này đến đâu, qua đó kiến nghị giải pháp cho Việt Nam có thể tiếp cận việc sử dụng các thể chế của LHQ trong việc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biên giới – lãnh thổ
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn: Các quy định của Hiến chương, Thủ tục hoạt động và thực tiễn hoạt động của các thể chế có thẩm quyền giải quyết tranh chấp của LHQ bao gồm Đại hội đồng, Hội đồng bảo an, Tổng thư
ký LHQ
- Phạm vi nghiên cứu
Trang 135
Các thể chế có thẩm quyền giải quyết tranh chấp của LHQ bao gồm: Đại hội đồng, Hội đồng bảo an, Tòa án công lý quốc tế, Tổng thư ký LHQ Tuy nhiên, mục tiêu của luận văn không nghiên cứu về Tòa án công lý quốc
tế - là cơ quan tư pháp chính của LHQ nhăm mục đích chỉ tiếp cận vấn đề giải quyết các tranh chấp biên giới lãnh thổ trên nền tảng nghiên cứu về chức năng, vai trò, quyền hạn trong việc giải quyết tranh chấp ở ĐHĐ, HĐBA, và vai trò của Tổng thư ký theo quy định của HCLHQ, các văn bản có liên quan
và thực tiễn hoạt động Vì theo học viên nghiên cứu Tòa án công lý quốc tế nữa sẽ là quá rộng, riêng nghiên cứu về Tòa án công lý quốc tế là đã một đề tài quá lớn và rộng rồi
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp lịch sử, việc nghiên cứu theo phương pháp lịch sử mang lại một bối cảnh toàn diện về thực tiễn hoạt động của các
cơ quan thuộc LHQ qua các thời kỳ Phương pháp nghiên cứu biện chứng được sử dụng nhằm đưa ra một cái nhìn tổng thể về việc giải quyết các tranh chấp quốc tế tại ĐHĐ, HĐBA và mối quan hệ tổng thể, liên hệ qua lại, tương tác và chi phối trong thực hiện chức năng này tại các cơ quan Phương pháp nghiên cứu thực tiễn mang lại cho luận văn hình ảnh chân thực về hoạt động của LHQ, của các cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp trong suốt quá trình từ khi thành lập đến nay.Trong từng phần nghiên cứu, học viên kết hợp
sử dụng linh hoạt các phương pháp: kết hợp lý luận với thực tiễn, thu thập tài liệu, phân tích và so sánh, quy nạp, diễn giải, suy luận và dự báo nhằm đạt được kết quả cao cho công trình nghiên cứu
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của nghiên cứu
Nghiên cứu làm rõ hoạt động, cơ cấu tổ chức và vai trò cũng như hiệu quả thức tiễn của các thể chế LHQ góp phần hiểu rõ tầm quan trọng và ảnh
Trang 146
hưởng của LHQ trên thực tế, những bất cập còn tồn tại và yêu cầu đổi mới để đạt được một cơ chế hoạt động hiệu quả hơn
Nghiên cứu vai trò của LHQ trong duy trì hòa bình và an ninh quốc tế
và giải quyết hòa bình tranh chấp biên giới – lãnh thổ sẽ giúp Việt Nam với tư cách là thành viên của LHQ, hiểu rõ hoạt động của cơ quan này, chủ động trong tham gia hợp tác giải quyết các công việc ở các cơ quan LHQ cũng như chủ động hơn khi đưa tranh chấp ra trước cơ quan này
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các công trình khoa học pháp lý, tại liệu tham khảo cho học viên, sinh viên
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được bố trí kết cấu thành ba chương như sau:
Chương 1: “Tổng quan về vai trò của LHQ trong giải quyết tranh chấp
Trang 157
CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN VỀ VAI TRÒ CỦA LIÊN HỢP QUỐC TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ BIÊN GIỚI – LÃNH THỔ 1.1 Cơ sở thực tiễn về vai trò của Liên Hợp Quốc trong giải quyết tranh chấp về biên giới – lãnh thổ
1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Liên Hợp Quốc
Việc LHQ ra đời là một sự kiện quan trọng và là sự kết hợp của nhiều yếu tố khác nhau, như vai trò kém hiệu quả của Hội Quốc Liên trong việc giữ gìn hoà bình, an ninh quốc tế, sự bùng nổ của Chiến tranh thế giới thứ hai cùng những hậu
thân là Hội quốc liên (League of Nations) Hội quốc liên ra đời sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất (ký ngày 28/6/1919, có hiệu lực ngày 10/1/1920),
là một tổ chức phi chính phủ, lúc đầu bao gồm 44 nước Hiến chương Hội quốc liên là một bộ phận cấu thành của hệ thống Hòa ước Vécxây ký năm
1919 Mục tiêu của Hội quốc liên nêu trong Hiến chương là “duy trì hòa bình
và an ninh quốc tế, phát triển quan hệ hợp tác giữa các dân tộc…” Tuy nhiên, về thực chất, tổ chức này không phải là một hệ thống an ninh tập thể rộng rãi, không phải một tổ chức quốc tế toàn cầu như LHQ, mà là một tổ chức nhằm bảo đảm thực thi các Hòa ước Vécxây, tức là bảo vệ quyền lợi của các cường quốc thắng trận Hội quốc liên đã gặp phải khá nhiều vấn đề như
Mỹ không phê chuẩn Hòa ước Vécxây, cũng không ra nhập Hội quốc liên để rảnh tay hành động Bên cạnh đó, quy định mọi thành viên của Hội đồng có quyền phủ quyết khiến Hội quốc liên không thể phản ứng hiệu quả trước việc các quốc gia gây chiến[12]. Thực tế, Hội quốc liên đã tỏ ra bất lực trước việc hai thành viên thường trực của Hội quốc liên là Ý và Nhật Bản đã cùng Đức Quốc xã gây nên một cuộc xung đột toàn cầu năm 1930 Đặc biệt, ngay từ đầu, Hội quốc liên đã không cấm chiến tranh hoàn toàn mà chỉ yêu cầu các thành viên chờ 3 tháng trước khi tiến hành chiến tranh, điều này được lý giải
Trang 16Việc Liên hợp quốc ra đời là một sự kiện quan trọng và là sự kết hợp của nhiều yếu tố khác nhau, như: Vai trò kém hiệu quả của Hội quốc liên trong việc giữ gìn hoà bình, an ninh quốc tế, sự bùng nổ của Chiến tranh thế giới thứ hai cùng những hậu quả thảm khốc đối với loài người và nỗ lực lớn lao của các nước trong việc thiết lập một thể chế toàn cầu có vai trò hiệu quả hơn đối với hoà bình và an ninh quốc tế
Sự thất bại của Hội quốc liên (tiền thân của Liên hợp quốc) đã đặt ra yêu cầu phải thiết lập một thể chế đa phương hữu hiệu có tính toàn cầu, nhằm duy trì hoà bình và an ninh quốc tế Trong một thời gian dài, hệ thống an ninh tập thể của Hội quốc liên tỏ ra không hiệu quả vì không được
sự quan tâm ủng hộ của các cường quốc Những nỗi kinh hoàng của Chiến tranh thế giới thứ nhất chưa đủ sức thuyết phục các quốc gia hiểu rằng quyền lợi hòa bình của họ đòi hỏi cần có một trật tự quốc tế với các quyền lợi quốc gia truyền thống làm ưu tiên hàng đầu Hội quốc liên trở thành một thể chế cứng nhắc, không thể hiện được chức năng dàn xếp hoặc thiết lập các liên minh năng động, nhằm ngăn chặn các hoạt động bành trướng quyền lực của một số cường quốc
Trang 179
Với ý định chuẩn bị cho thời kỳ hậu chiến, nhằm loại trừ khả năng xảy
ra một cuộc chiến tranh thế giới thứ ba và bảo đảm một thế cân bằng mới trong quan hệ quốc tế sau chiến tranh, ba cường quốc chính của phe Đồng minh - Anh, Mỹ và Liên Xô, đã tiến hành hai hội nghị thượng đỉnh quan trọng tại Tê-hê-ran (tháng 11/1943) và I-an-ta (tháng 2/1945) Nội dung trao đổi chính giữa Trớc-trin, Xta-lin và Ru-dơ-ven bao gồm số phận Châu Âu và tương lai của Liên hợp quốc Việc Liên Xô tán thành thiết lập Tổ chức Liên hợp quốc tại Hội nghị I-an-ta mở ra khả năng hợp tác giữa các nước đồng minh trong việc xây dựng một trật tự thế giới mới sau chiến tranh Tại I-an-ta,
ba cường quốc trên đã thống nhất với nhau về một số điểm then chốt trong việc thiết lập tổ chức Liên hợp quốc: Chấp nhận ghế thành viên riêng rẽ của U-cờ-rai-na và Bạch Nga (nay là Bê-la-rút), dành quyền phủ quyết cho các thành viên thường trực của Hội đồng bảo an, Liên hợp quốc có quyền giám sát việc tạo dựng trật tự Châu Âu Đến Hội nghị Pốt-xđam từ 17/7 đến 2/8/1945, ba cường quốc (thực chất chủ yếu là Mỹ và Liên Xô, vì Anh đã bị suy yếu) thoả thuận thành lập cơ chế để giải quyết các vấn đề sau chiến tranh, như vấn đề bồi thường chiến tranh của Đức và xác định lại biên giới các quốc gia Hội đồng Ngoại trưởng 5 nước gồm Nga, Mỹ, Anh, Pháp và Trung Quốc được thành lập Trên cơ sở thoả thuận tại Hội nghị I-an-ta, đại biểu của 50 quốc gia đã tham dự Hội nghị Xan Phran-xít-xcô tháng 4/1945 và dự thảo Hiến chương Liên hợp quốc Trên cơ sở Hiến chương, Tổ chức Liên hợp quốc
đã chính thức được thành lập với sự tham gia của 51 quốc gia sáng lập Sự ra đời của Liên hợp quốc đã chấm dứt hoàn toàn cơ chế cân bằng quyền lực giữa các cường quốc Châu Âu dựa trên cơ sở của Hội nghị Viên năm 1815 Cân bằng quyền lực trên cơ sở Liên hợp quốc là thế cân bằng linh hoạt dựa trên tương tác trong từng vấn đề giữa ba cạnh: Hòa hợp quyền lực giữa 5 thành viên thường trực Hội đồng bảo an (còn gọi là P5), tập hợp các nước phương
Trang 181.1.2 Tôn chỉ mục đích và nguyên tắc hoạt động
Năm 1945, những người sáng lập LHQ đã soạn thảo một chương trình nghị sự to lớn và đầy tham vọng cho tổ chức mới này của thế giới Theo Hiến chương LHQ, các quốc gia sáng lập đã quyết tâm thiết lập LHQ thành một tổ chức quốc tế toàn cầu với mục tiêu hàng đầu là bảo đảm một nền hoà bình và trật tự thế giới bền vững Theo Điều 1 của Hiến chương, LHQ được thành lập nhằm 4 mục tiêu: (1) Duy trì hoà bình và an ninh quốc tế ; (2) Thúc đẩy quan
hệ hữu nghị giữa các quốc gia trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc bình đẳng về quyền lợi giữa các dân tộc và nguyên tắc dân tộc tự quyết; (3) Thực hiện hợp tác quốc tế thông qua giải quyết các vấn đề quốc tế trên các lĩnh vực kinh tế,
xã hội, văn hoá và nhân đạo trên cơ sở tôn trọng các quyền con người và
Trang 1911
quyền tự do cơ bản cho tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, màu da, ngôn ngữ và tôn giáo; (4) Xây dựng LHQ làm trung tâm điều hoà các nỗ lực quốc tế vì các mục tiêu chung Cả bốn nhiệm vụ trên đều không có giới hạn Mỗi nhiệm vụ đều đòi hỏi chúng ta phải liên tục kiên trì theo đuổi và nỗ lực chừng nào LHQ còn tồn tại [13]
Để bảo đảm LHQ là một tổ chức quốc tế thực sự phục vụ mục tiêu chung của cộng đồng quốc tế, Hiến chương LHQ cũng quy định các nguyên tắc hoạt động của Tổ chức LHQ, các nguyên tắc chủ đạo gồm: (1) Bình đẳng
về chủ quyền quốc gia; (2) Tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ và độc lập chính trị quốc gia; (3) Cấm đe doạ sử dụng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế; (4) Không can thiệp vào công việc nội bộ các nước; (5) Tôn trọng các nghĩa vụ quốc tế và luật pháp quốc tế; (6) Giải quyết các tranh chấp quốc
tế bằng biện pháp hoà bình [24]
Các mục tiêu và nguyên tắc hoạt động trên của LHQ mang tính bao quát, phản ánh mối quan tâm toàn diện của các quốc gia Các quan tâm ưu tiên này thay đổi tuỳ theo sự chuyển biến cán cân lực lượng chính trị bên trong tổ chức này Thời gian đầu khi mới ra đời, cùng với sự tăng vọt về số lượng thành viên, LHQ tập trung vào các vấn đề phi thực dân hoá, quyền tự quyết dân tộc và chủ nghĩa phân biệt chủng tộc Apácthai Trong thời kỳ gần đây LHQ ngày càng quan tâm nhiều hơn tới các vấn đề kinh tế và phát triển Hoạt động của LHQ trong gần 70 năm qua cho thấy trọng tâm chính của LHQ
là duy trì hòa bình an ninh quốc tế và giúp đỡ sự nghiệp phát triển của các quốc gia thành viên
1.1 3 Cơ cấu tổ chức của LHQ
Trang 2012
LHQ gồm 6 cơ quan chính là: ĐHĐ, HĐBA, Hội đồng Kinh tế–Xã hội, Hội đồng Quản thác, Toà án Quốc tế và Ban Thư ký và các cơ quan chuyên môn:
Hội đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc là cơ quan chính của Liên Hiệp
Quốc, một cơ quan có quyền hành pháp…(nghiên cứu tại chương 2 luận văn)
1.1.3.3 Hội đồng Kinh tế - Xã hội LHQ
1.1.3.3.1 Cơ sở pháp lý và tôn chỉ mục đích
Hội Đồng Kinh tế Xã Hội LHQ (Economic and Social Council - ECOSOC) là một trong 6 cơ quan chính của LHQ Theo Hiến chương LHQ, một trong những mục tiêu chính của Tổ chức này là: "Thực hiện hợp tác quốc
tế trong việc giải quyết những vấn đề quốc tế về kinh tế, xã hội, văn hóa hoặc nhân đạo, thúc đẩy và khuyến khích sự tôn trọng nhân quyền và những quyền
tự do căn bản cho tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ hoặc tôn giáo" (Chương I, điều 1, điểm 3) Cụ thể, LHQ sẽ thúc đẩy (Chương IX, điều 55, điểm a,b,c) [18] :
- Nâng cao mức sống, đầy đủ việc làm, tiến bộ và phát triển kinh tế xã hội
- Giải quyết những vấn đề quốc tế về kinh tế, xã hội, y tế và các vấn đề liên quan, và sự hợp tác quốc tế về văn hóa và giáo dục, và
- Tôn trọng và thực hiện quyền con người và các quyền tự do cơ bản cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ hoặc tôn
Trang 2113
giáo Trách nhiệm thực hiện những chức năng trên trước hết thuộc về ĐHĐ LHQ Theo điều 60 của Hiến chương LHQ, ECOSOC được đặt dưới quyền của ĐHĐ và được ĐHĐ giao trách nhiệm trực tiếp thực hiện các chức năng về kinh tế, xã hội của LHQ
1.1.3.3.2 Thành viên
Số thành viên ban đầu của ECOSOC là 18 Từ tháng 8/1965 tăng lên 27
và từ tháng 10/1973 cho đến nay là 54 nước thành viên LHQ do ĐHĐ bầu Các ghế được phân theo khu vực địa lý : 14 nước Châu Phi, 11 nước Châu Á,
6 nước Đông Âu, 10 nước Mỹ La tinh và Caribe, 13 nước Tây Âu và các nước khác Hàng năm ĐHĐ LHQ phải bầu lại 18 nước thành viên ECOSOC với nhiệm kỳ 3 năm, thông thường bắt đầu từ 1/1 đến 31/12 Nước thành viên vừa hết nhiệm kỳ có thể tái ứng cử ĐHĐ thường thông qua không bỏ phiếu bầu các nước đã được các nhóm khu vực nhất trí đề cử (Endorsement) Nếu các nước không thống nhất được trong nhóm thì ĐHĐ phải bỏ phiếu bầu [18]
1.1.3.3.3 Chức năng và quyền hạn
ECOSOC là cơ quan soạn thảo và điều phối các chính sách thúc đẩy hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội và nhân quyền của LHQ Phần lớn các Nghị quyết và Quyết định của ĐHĐ LHQ về kinh tế, xã hội, nhân quyền, nhân đạo đều bắt nguồn từ các khuyến nghị do ECOSOC trình lên
Theo Hiến chương LHQ, ECOSOC có những chức năng và quyền hạn chính sau:
- Thực hiện hoặc đề xuất những nghiên cứu, điều tra và làm báo cáo về các vấn đề quốc tế trong lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, và giáo dục, y tế và những vấn đề liên quan khác, và có thể đưa ra những khuyến nghị về các vấn
đề đó đối với ĐHĐ, các nước thành viên LHQ và các tổ chức chuyên môn hữu quan;
Trang 2214
- ECOSOC có thể đưa ra những khuyến nghị nhằm thúc đẩy tôn trọng
và thực hiện quyền con người;
- ECOSOC soạn thảo các văn kiện và điều ước quốc tế về những vấn đề thuộc thẩm quyền của mình để trình ĐHĐ và có thể triệu tập các Hội nghị quốc tế về những vấn đề đó, theo các thủ tục của LHQ;
- ECOSOC có thể phối hợp hoạt động với những tổ chức chuyên môn của LHQ, thông qua tham khảo và khuyến nghị với các tổ chức đó, cũng như bằng cách khuyến nghị với ĐHĐ và các thành viên LHQ;
- ECOSOC có quyền tiến hành mọi biện pháp thích hợp để các tổ chức chuyên môn phải báo cáo đều đặn cho mình những công việc của họ Hội đồng có thể thỏa thuận với các thành viên LHQ và các tổ chức chuyên môn về việc các thành viên và các tổ chức này báo cáo về những biện pháp đã được
áp dụng trong việc thi hành những khuyến nghị của Hội đồng và trong việc thi hành những khuyến nghị của ĐHĐ về những vấn đề thuộc thẩm quyền của ECOSOC;
- Với sự đồng ý của ĐHĐ, ECOSOC có thể làm những việc do các thành viên LHQ, hoặc các tổ chức chuyên môn yêu cầu;
- ECOSOC sẽ mời bất cứ nước thành viên LHQ nào tham dự, không bỏ phiếu, các cuộc thảo luâ ̣n của ĐHĐ về vấn đề liên quan đến nước thành viên đó;
- ECOSOC có thể thu xếp cho đại diện các tổ chức chuyên môn LHQ tham dự, không bỏ phiếu, các cuộc thảo luận của ĐHĐ và các cuộc thảo luận của các Ủy ban do HĐ lập ra, và cho các đại diện của ĐHĐ tham gia các cuộc thảo luận của các tổ chức chuyên môn LHQ;
- ECOSOC có thể có những thu xếp thích hợp để tham khảo các tổ chức phi chính phủ liên quan đến những vấn đề thuộc thẩm quyền của ĐHĐ,
Trang 23và Geneva, và trước đó là phiên họp về tổ chức (organizational session) diễn
ra trong 4 ngày thường vào đầu tháng 2 và được họp lại vào khoảng cuối tháng 4, đầu tháng 5 hàng năm [18]
1.1.3.3.5 Các cơ quan trực thuộc ECOSOC
Điều 68 của Hiến chương LHQ quy định rằng: "ECOSOC sẽ thành lập những Ủy ban trong lĩnh vực kinh tế, xã hội và thúc đẩy nhân quyền, và các
Ủy ban khác theo nhu cầu để thực hiện chức năng của HĐ"
Có 5 loại cơ quan trực thuộc ECOSOC: Ủy ban chức năng (Funtional
Commission); Ủy ban khu vực (Regional Commission); Ủy ban thường trực (Standing Committee); Cơ quan chuyên môn (Expert Bodies) Ủy ban hành chính điều phối (Administrative Committee on Coordination)
1.1.3.4 Hội đồng Quản thác
1.1.3.4.1 Cơ sở pháp lý
Theo Chương XII Hiến chương LHQ, Hệ thống Quản thác với nhiệm
vụ giám sát các vùng Lãnh thổ quản thác được đặt trong Hệ thống theo các thoả thuận riêng với quốc gia quản lý các vùng lãnh thổ này Hệ thống này áp dụng với: (i) các vùng lãnh thổ nằm trong nhiệm vụ quản lý do Hội quốc liên
Trang 2416
đưa ra; (ii) các vùng lãnh thổ tách ra từ các quốc gia kẻ thù sau Chiến tranh thế giới thứ hai; các vùng lãnh thổ do các quốc gia có trách nhiệm quản lý được tự nguyện đặt trong Hệ thống Mục tiêu căn bản của Hệ thống là thúc đẩy tiến bộ chính trị, kinh tế, xã hội tại các vùng lãnh thổ quản thác và sự phát triển của các vùng này hướng tới chính phủ tự quản và độc lập [18]
1.1.3.4.2 Thành phần
Hội đồng Quản thác gồm những thành viên sau đây của LHQ:
* Những thành viên được quyền quản lý những vùng lãnh thổ quản thác;
* Những thành viên thường trực của HĐBA;
* Một số thành viên do ĐHĐ bầu ra trong thời hạn 3 năm để đảm bảo
đủ số lượng thành viên của Hội đồng;
* Quản thác được phân bổ ngang nhau giữa những thành viên LHQ quản lý các lãnh thổ quản thác và những thành viên không quản lý những lãnh thổ đó
Trang 25án quốc tế thường trực Quy chế của tòa án quốc tế thường trực Quy chế của Tòa án quốc tế kèm theo Hiến chương này là một bộ phận cấu thành hiến chương.” TACLQT trước hết là một cơ quan chính của LHQ Điều 7 Hiến chương LHQ qui định các cơ quan chính của LHQ là ĐHĐ, HĐBA, Hội đồng kinh tế và xã hội (ACOSOC), Hội đồng quản thác, Ban thư ký và TACLQT (Tòa án quốc tế)
Trang 2618
chấp nhận như luật; các nguyên tắc chung của luật pháp được các quốc gia công nhận; các phán quyết của tòa án
Tòa án cũng khuyến nghị ĐHĐ, HĐBA về lĩnh vực luật pháp, các vấn
đề luật pháp nổi lên trong phạm vi hoạt động của các cơ quan này, khuyến nghị các cơ quan khác của LHQ, các cơ quan chuyên môn với sự Ủy quyền của ĐHĐ
1.1.3.5.4 Hoạt động
Cơ quan chính của LHQ giải quyết các tranh chấp là Toà án quốc tế
Kể từ khi thành lập năm 1946, đến nay đã có 72 vụ được các nước đưa ra trước Toà án quốc tế, 22 trường hợp hỏi ý kiến của các tổ chức quốc tế Hầu hết các trường hợp được Toà giải quyết song kể từ năm 1981, đã có 4 trường hợp được chuyển cho các Ủy ban đặc biệt giải quyết theo đề nghị của các bên liên quan 11 trường hợp vẫn chưa được giải quyết
1.1.3.6 Ban Thư ký Liên hiệp quốc
Ban thư ký là cơ quan chủ chốt của LHQ, đứng đầu là tổng thư ký LHQ
(nghiên cứu tại chương 2 luận văn)
1.1.3.7 Các chương trình và các cơ quan chuyên môn của LHQ
LHQ có 32 chương trình và cơ quan chuyên môn:
Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp LHQ (FAO)
Tổ chức Hàng không Dân dụng Quốc tế (ICAO)
Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO)
Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO)
Trung tâm Thương mại Quốc tế (ITC)
Ủy ban liên Chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC)
Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAFA)
Tổ chức Phát triển Công nghiệp LHQ (UNIDO)
Liên Minh Viễn thông Quốc tế (ITU)
Trang 2719
Chương trình chung của LHQ về HIV/AIDS (UNAIDS)
Ủy ban LHQ về Luật thương mại Quốc tế (UNCITRAL)
Chương trình phát triển LHQ (UNDP)
Chương trình Môi trường LHQ (UNEP)
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa LHQ (UNESCO)
Quỹ Dân số LHQ (UNFPA)
(UN-HABITAT)
Văn phòng Cao ủy Nhân quyền LHQ (OHCHR)
Cao ủy LHQ về Người tị nạn (UNHCR)
Hội đồng Nhân quyền LHQ (UNHRC)
Quỹ Nhi đồng LHQ (UNICEF)
Viện Nghiên cứu Giải trừ Quân bị LHQ (UNDIR)
Văn phòng LHQ về Ma túy và Tội phạm (UNODC)
Đại học LHQ (UNU)
Tình nguyên viên LHQ (UNV)
Phụ nữ LHQ (UNW)
Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO)
Liên minh Bưu chính LHQ (UPU)
Chương trình Lương thực Thế giới (WFP)
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO)
1.1.4.Thành viên của Liên hợp quốc
Liên hợp quốc được xây dựng trên nguyên tắc bình đẳng chủ quyền của tất cả các quốc gia thành viên
Hiến chương Liên hợp quốc quy định muốn trở thành thành viên của Liên hợp quốc thì các quốc gia phải thỏa mãn các tiêu chuẩn như: Phải là quốc gia yêu chuộng hòa bình và thừa nhận những nghĩa vụ ghi trong Hiến chương; phải được Liên hợp quốc xét có đủ khả năng và tự nguyện làm tròn
Trang 2820
những nghĩa vụ đó Hiến chương còn quy định việc kết nạp bất kỳ một quốc gia nào vào Liên hợp quốc sẽ được tiến hành bằng nghị quyết của Đại hội đồng, theo đề nghị của Hội đồng bảo an
Theo điều 4 của Hiến Chương Liên hợp quốc: “Tất cả các quốc gia yêu
chuộng hoà bình khác thừa nhận những nghĩa vụ quy định trong Hiến chương này và được Liên hợp quốc xét có đủ khả năng và tự nguyện làm tròn những nghĩa vụ ấy, đều có thể trở thành thành viên của Liên hợp quốc;” “Việc kết nạp bất cứ một quốc gia nào nói trên vào Liên hợp quốc sẽ được tiến hành
Tuy nhiên Hiến chương Liên hợp quốc cũng quy định Quốc gia thành viên nào bị Hội đồng bảo an áp dụng một biện pháp phòng ngừa hay cưỡng chế thì Đại hội đồng có quyền, theo kiến nghị của Hội đồng bảo an, đình chỉ việc sử dụng các quyền và ưu đãi của thành viên đó Việc sử dụng các quyền
ưu đãi đó có thể được Hội đồng bảo an cho phục hồi Nếu một thành viên
Liên hợp quốc vi phạm một cách có hệ thống những nguyên tắc nêu trong Hiến chương này thì có thể bị Đại hội đồng khai trừ khỏi Liên hợp quốc, theo kiến nghị của Hội đồng bảo an Năm 2011 có 193 quốc gia là thành viên của Liên hợp quốc, gồm tất cả các quốc gia độc lập được thế giới công nhận Liên
sử dụng 6 ngôn ngữ chính thức: Tiếng Ả Rập, tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Trung
1.2 Cơ sở pháp lý trong việc xác định vai trò của Liên Hợp Quốc trong giải quyết tranh chấp về biên giới – lãnh thổ
1.2.1 Hiến chương Liên hợp quốc
Một trong những thành tựu lớn nhất của LHQ trong thế kỷ 20 là lần đầu tiên con người trong lịch sử của mình đã tạo dựng được một hệ thống pháp luật quốc tế điều chỉnh quan hệ quôc tế chủ yếu bao gồm những điều ước được thể hiện ở các hiến chương, công ước… có giá trị pháp lý rang buộc các
Trang 29193 quốc gia thành viên LHQ ký kết, bao gồm 19 chương, gồm lời nói đầu và
110 Điều và Quy chế TAQT gồm 70 Điều là một phần không thể tách rời Ngay từ lời nói đầu của Hiến chương đã ghi rõ việc giữ gìn hòa bình và an ninh quốc tế là mục đích hàng đầu của LHQ Theo đó, “Chúng tôi, nhân dân các nước liên hợp lại, quyết tâm: phòng ngừa cho những thế hệ mai sau khỏi thảm họa của chiến tranh đã hai lần trong khoảng thời gian một đời người gây cho nhân loại những đau thương không kể xiết… Biểu thị sự khoan nhượng cùng nhau sống hòa bình trên tinh thần láng giềng thân thiện, cùng nhau góp sức để duy trì hòa bình và an ninh quốc tế” [25].Thi hành những biện pháp tập thể hiệu quả để phòng ngừa và loại trừ các mối đe dọa hòa bình, cấm mọi hành vi xâm lược và phá hoại họa bình khác; dán xếp hoặc giải quyết tranh chấp hoặc tình thế có tính quốc tế có thể dẫn đến việc phá hoại hòa bình bằng phương pháp hòa bình phù hợp
Để đạt được mục đích duy trì hòa bình và an ninh, Hiến chương có quy định tỉ mỉ những tổ chức và biện pháp thích hợp để giải quyết bằng những biện pháp hòa bình các tranh chấp hoặc những tình thế có thể đưa đến sự phá
Trang 3022
hoại hòa bình, và đồng thời trừng trị mọi hoạt động xâm lược hay mọi hành động phá hoại hòa bình khác Ngay Điều 1 Hiến chương xác định LHQ cần dùng những biện pháp tập thể có hiệu quả nhằm phòng ngừa và loại trừ mọi mối đe dọa hòa bình, trừng trị mọi hành động xâm lược hay phá hoại hòa bình khác, và điều chỉnh hoặc giải quyết bằng những biện pháp hòa bình theo đúng những nguyên tắc của công lý và pháp luật quốc tế những vụ tranh chấp hoặc những tình huống có tính chất quốc tế, có thể dẫn đến phá hoại hòa bình
Phát triển mối quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc, trong lời nói đầu của bản Hiến chương, nhân dân các nước thành viên, thông qua Chính phủ của họ,
đã nhất trí “thừa nhận những nguyên tắc và xác định những phương pháp bảo đảm không dùng vũ lực, trừ trường hợp vì lợi ích chung” Các biện pháp giải quyết tranh chấp được sử dụng trong các cơ chế giải quyết tranh chấp của LHQ có thể được chia làm 3 loại: một là, nhóm biện pháp liên quan đến vai trò chính trị của LHQ trong việc giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế chủ yếu được quy định tại chương VI của HCLHQ; hai là, nhóm biện pháp cưỡng chế theo các quy định tại chương VII của HCLHQ; ba là, biện pháp liên quan đến việc thành lập lực lượng gìn giữ hòa bình của LHQ thường được xem là dựa trên “chương VI rưỡi” của Hiến chương vì không có cơ sở pháp lý quy định rõ ràng về lực lượng này trong Hiến chương nhưng đã hình thành trên thực tiễn và hoạt động của nằm giữa hai chương VI và VII của Hiến chương
Điều 33 HCLHQ nêu rõ các bên đương sự trong mọi cuộc tranh chấp, nếu để kéo dài có thể đe dọa sự duy trì hòa bình và an ninh thế giới, phải tìm
ra giải pháp, trước hết bằng con đường đàm phán, điều tra, trung gian, hòa giải, trọng tài, tòa án, sử dụng những tổ chức hoặc những hiệp định khu vực, hoặc những biện pháp hòa bình khác tùy các quốc gia lựa chọn
Trang 3123
Vai trò của LHQ trong việc giải quyết các tranh chấp quốc tế được quy định tại chương VI của Hiến chương LHQ Theo quy định của Hiến chương LHQ, các cơ quan chính của LHQ ở các mức độ khác nhau, vị trí khác nhau đều tham gia vào quá trình giải quyết tranh chấp quốc tê với vai trò khác nhau Nhằm loại bỏ mối nguy hại đến hòa bình và an ninh thế giới, Liên Hợp Quốc đã thiết lập một cơ chế giải quyết tranh chấp bao gồm những cơ quan sau:
- Đại hội đồng
- Hội đồng bảo an
- Tòa công lý quốc tế
Ngoài ra, trong một số trường hợp, TTK LHQ cũng đóng vai trò hòa giải tranh chấp giữa các bên
Để đạt được sự chấp thuận thông qua của các quốc gia trên thế giới, một số điều khoản của Hiến chương được quy định ở mức khá chung chung, trong đó khái niệm và nội hàm chưa được thể hiện rõ ràng, thấu đáo Thực trạng này để ngỏ cho các quốc gia và cơ quan của LHQ khả năng chủ động giải thích, vận dụng Hiến chương Mặc dù, các quốc gia có nghĩa vụ giải thích Hiến chương một cách tận tâm và thiện chí, nhưng trên thực tế việc vận dụng những quy định chưa rõ ràng vẫn tạo nên lợi thế hoặc bất lợi cho các nước thành viên[32].
Trang 3224
Theo nghị quyết 14(I)(1946) của Đại hội đồng, Ủy ban tư vấn về các vấn đề hành chính và ngân sách được thành lập tại phiên họp đầu tiên của Đại hội đồng có trách nhiệm kiểm tra và báo cáo về ngân sách thường của LHQ
và ngân sách của việc gìn giữ hòa bình và các tài khoản của LHQ, ngân sách hành chính của các cơ quan chuyên môn Ủy ban này cũng tư vấn cho Đại hội đồng về các vấn đề hành chính và tài chính khác
Theo Nghị quyết 48/26(1993) của Đại hội đồng, nhóm làm việc về đại diện bình đẳng được thành lập
Theo Nghị quyết 54/234 (1999) của Đại hội đồng Nhóm làm việc về nguyên nhân xung đột và thúc đẩy một nền hòa bình và phát triển bền vững ở Châu Phi được thành lập và đình chỉ hoạt động năm 2001
Nghị quyết 1701 của Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc là một nghị quyết nhằm giải quyết xung đột Israel-Liban năm 2006 Nghị quyết này đã được Hội đồng Bảo an nhất trí thông qua ngày 11 tháng 8 năm 2006 Nội các Liban đã chấp nhận Nghị quyết này ngày 12 tháng 8 năm 2006
Nghị quyết 1559(2004), 1680 (2006) và 1701 (2006) vì mục đích giải quyết hòa bình toàn diện, lâu dài cho khu vực Trung Đông
Nghị quyết 1973 của Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc thông qua đối với chính quyền Libya Nội dung của Nghị quyết quyết là thiết lập vùng cấm bay
và cho phép sử dụng vũ lực đối với chính quyền Muammar Gaddafi trong cuộc nổi dậy tại Libya năm 2011
Các nghị quyết của Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc nhằm thực hiện tốt chức năng duy trì hòa bình và an ninh quốc tế trong những năm qua, Hội đồng Bảo an đã ra nhiều nghị quyết có tính bắt buộc đối với các quốc gia thành viên như Nghị quyết 340, 341 (1973) về thành lập lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hiệp quốc và xác định nguyên tắc, phương châm hoạt động của lực lượng giữ gìn hòa bình
Trang 33lý cần được các bên đưa lên TAQT HCLHQ đã dành cả Chương XIV từ Điều 92 đến Điều 96 quy định những nét cơ bản về TAQT Trong đó, Điều
92 HCLHQ đã nhấn mạnh:
“Tòa án Công lý quốc tế là cơ quan tài phán chính của LHQ Tòa án hoạt động phù hợp với một quy chế kèm theo, được xây dựng trên cơ sở Quy chế Pháp viện thường trực quốc tế
Quy chế của Tòa án Công lý quốc tế kèm theo Hiến chương này và là một bộ phận hợp thành của Hiến chương”
Quy chế TAQT thể hiện một số nguyên tắc cơ bản trong chương XIV của Hiến chương, được phát triển trên cơ sở Quy chế của Pháp viện, bao gồm
70 Điều trong 5 Chương, gồm: “Tổ chức của Tòa”, “Thẩm quyền của Tòa”,
“thủ tục”, “Kết luận tư vấn”, “Sửa đổi”
TAQT có hai dạng thẩm quyền: thẩm quyền giải quyết các tranh chấp quốc tế và thẩm quyền tư vấn
Khoản 1 Điều 36 Quy chế TAQT quy đi ̣nh : Tòa có thẩm quyền xét xử tòa tất cả vụ việc mà các bên đưa ra và tất cả các vấn đề được nêu riêng trong HCLHQ hoặc trong các hiệp ước, công ước quốc tế hiê ̣n hành
Tòa giải quyết các tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể là các quốc gia, không phân biệt quốc gia đó có phải là thành viên LHQ hay không Trong mọi
Trang 3426
trường hợp xảy ra tranh chấp , thẩm quyền của tòa được xác định trên cơ sở ý chí của chủ thể đang tranh chấp (các bên tranh chấp ) Khi thẩm quyền của Tòa được xác lập thì thẩm quyền này là độc lập , dựa trên ý chí tự nguyện từ các bên hữu quan, mà không bị bất cứ sức ép chính trị hay kinh tế nào[25]
Ngoài thẩm quyền xét xử , TAQT còn có thẩm quyền tư vấn theo yêu cầu của các cơ quan chính của Liên hợp quốc và các tổ chức chuyên môn được Đại hội đồng cho phép Thẩm quyền này được quy đi ̣nh ta ̣i điều
96 HCLHQ:
ĐHĐ hay HĐBA có thể yêu cầu TAQT cho ý kiến tư vấn về mo ̣i vấn đề pháp lý Các cơ quan khác của LHQ và các tổ chức chuyên môn, mà lúc nào được Đa ̣i hô ̣i đồng cho phép yêu cầu (Điều 65, Quy chế của Tòa), cũng có quyền hỏi ý kiến tư vấn của TAQT về những vấn đề pháp lý có thể đă ̣t ra trong hoa ̣t đô ̣ng của mình Các tổ chức quốc tế khác và các quốc gia không được sử dụng cơ chế tư vấn này của Tòa
Mă ̣c dù chỉ mang tính chất tham khảo và không có tính ràng buô ̣c , những ý kiến tư vấn của TAQT có uy tín cũng như giá trị pháp lý rất lớn Chúng góp phần phát triển luật pháp quốc tế và thúc đẩy quan hệ hòa bình giữa các quốc gia Phán quyết của Toàn án không thể được xem là một nguồn chính thức, nhưng rõ ràng các phán quyết này cung cấp những bằng chứng có căn cứ xác đáng về pháp luật Nhiều phán quyết của TAQT đã đóng góp cho
sự phát triển tiến bộ của luật quốc tế Những phán quyết quan trọng của TAQT đối với quá trình xây dựng luật quốc tế như trong vụ Bồi thường các thiệt hai (giải thích Hiến chương Liên hợp quốc, thực tiễn hoạt động của các quốc gia và xác lập tư cách pháp lý của LHQ và sau đó là các tổ chức quốc tế khác); Vụ Tội diệt chủng (nêu rõ tính chất của bảo lưu điều ước); và Vụ Đánh
cá ở Na Uy, mà trong đó đã xác định vai trò của hành động phản đối liên tục đối với sự hình thành tập quán mới, cũng như yêu cầu phải có sự đồng ý hay
Trang 3527
chấp thuận ngầm những tuyên bố đơn phương xâm phạm các quyền hiện có tại các khu vực quốc tế[26]. Có thể nói, các phán quyết của TAQT đã góp phần làm sáng tỏ các học thuyết về nguồn và pháp luật, đồng thời đưa ra bằng chứng về thực tiễn hoạt động của các quốc gia
1.2.4 Các Điều ước quốc tế song phương, đa phương
Các điều ước quốc tế được ký kết do LHQ đề xuất, khởi xướng hoặc thông qua trong khuôn khổ LHQ rất là quan trọng góp phần duy trì và bảo vệ hòa bình an ninh quốc tế Có thể kể đến một số Công ước tiêu biểu như: Công ước về cấm nghiên cứu, sản xuất, tàng trữ vũ khí vi trùng, vũ khí độc hại và phá hủy chúng năm 1972; Công ước về bảo vệ an toàn vật liệu hạt nhân năm 1979; Công ước về đánh dấu vật liệu nổ để nhân biết năm 1991 Công ước về cấm nghiên cứu, sản xuất, tàng trữ, sử dụng vũ khí hóa học và ơhas hủy chúng năm 1993; Công ước về trừng trị những hành vi khủng bố bằng hạt nhân năm 2005; Hiệp ước về cấm vũ khí hạt nhân trong khí quyển, trong vũ trụ và dưới nước năm 1963; Hiệp ước về không phổ biến vũ khí hạt nhân năm 1968; Hiệp ước về cấm đặt vũ khí hạt nhân và các vũ khí giết người hang loạt
ở đáy biển, đáy đại dương năm 1971 Hiệp ước về cấm thử hạt nhân toàn diện năm 1996; Quy tắc quốc tế về phòng ngừa va chạm trên biển, 1972; Công ước của Liên hiệp quốc về Luật biển, 1982; Nghị đinh thư sữa đổi năm 2005 của Công ước về ngăn ngừa các hành vi bất hợp pháp với an toàn hang hải năm 1998; Ngoài ra còn nhiều Công ước, Hiệp định quan trọng khác…[22].
1.3 Những biện pháp được sử dụng trong cơ chế giải quyết tranh chấp của Liên hiệp quốc
Việc giải quyết các tranh chấp giữa các quốc gia bằng biện pháp hòa bình là xu hướng tất yếu không thể phủ nhận và được tuyệt đại đa số các nước trên thế giới ủng hộ Trong đó, không thể không nói tới phi tài phán như là một trong những phương thức quan trọng trong việc giải quyết một cách hòa
Trang 3628
bình tranh chấp quốc tế nói chung và tranh chấp trên biển nói riêng Phương thức này bao gồm nhiều biện pháp như: Biện pháp đàm phán, thương lượng; các biện pháp có sự tham gia của bên thứ ba, biện pháp thông qua tổ chức quốc tế, ngoại giao công chúng… tùy thuộc vào bản chất hoặc bối cảnh của từng tranh chấp các bên tham gia sẽ lựa chọn biện pháp thích hợp để giải quyết tranh chấp đó Khác với các biện pháp giải quyết tranh chấp bằng phương thức tài phán, các biện pháp giải quyết tranh chấp bằng phương thức
phi tài phán có ưu điểm: thứ nhất, phương thức này được thiết lập trên cơ sở
sự hiểu biết, tin cậy và tôn trọng nhau, vì vậy khả năng thực hiện rất cao; thứ
hai, với đặc tính mềm dẻo, linh hoạt và được tiếp cận trên cơ sở phù hợp với
những điều kiện thực tế, những nhu cầu, mong muốn thiết thực của các bên vì
những lợi ích chung mà hai bên cùng quan tâm, do đó, phương thức này có
thể hướng các bên tới một kết quả khả quan trong việc giải quyết tranh chấp;
thứ ba, phương thức phi tài phán được tiến hành đơn giản, thuận tiện và ít tốn
kém, bảo đảm được bí mật và uy tín cho các bên Thông qua một trong các biện pháp trong phương thức phi tài phán, các bên giải quyết được những bất đồng trong việc giải quyết tranh chấp trên biển Việc giải quyết tranh chấp trên biển thông qua phương thức phi tài phán còn tiết kiệm các chi phí đáng
kể về thời gian và vật chất cho các bên Đây cũng là một trong những cách giải quyết tranh chấp một cách thân thiện bởi nó giúp các bên có thêm cơ hội hiểu biết lẫn nhau và cùng nhau giải quyết vấn đề một cách tự nguyện hơn Ngoài ra, kết quả từ việc giải quyết tranh chấp thông qua phương thức phi tài phán có thể giúp các bên tranh chấp không cảm thấy bị coi là thua cuộc, không dẫn đến tình trạng đối đầu, thắng thua như kết cục thường diễn ra sau quá trình tranh tụng thông qua phương thức tài phán [09]
Tuy nhiên cũng giống như trường hợp các biện pháp tài phán, việc sử dụng đàm phán, bên thứ ba hay các tổ chức quốc tế,… để giải quyết tranh
Trang 3729
chấp cũng đòi hỏi phải có sự thỏa thuận, chấp nhận của tất cả các bên
Nhằm thực hiện những nhiệm vụ chính của LHQ là duy trì hòa bình và
an ninh quốc tế, ngay tại khoản 1 điều 1 của Hiến chương LHQ đã đề cập đến một trong những mục đích thành lập tổ chức này là duy trì hòa bình và an ninh quốc tế bằng cách thi hành những biện pháp tập thể có hiệu quả để phòng ngừa và loại trừ các mối đe dọa đến hòa bình, cấm mọi hành vi xâm lược hoặc phá hoại hòa bình khác; điều chỉnh hoặc giải quyết các vụ tranh chấp hoặc những tình thế có tính chất quốc tế có thể dẫn đến sự phá hoại hòa bình bằng các biện pháp hòa bình phù hợp với nguyên tắc công lý và luật pháp quốc tế; Khoản 3 và khoản 4 điều 2 của Hiến chương LHQ đã đề cập đến những nghĩa vụ mà các thành viên Liên hiệp quốc cần tuân thủ khi giải quyết tranh chấp quốc tế, theo đó, các thành viên LHQ cần giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình và từ bỏ đe dọa bằng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực Hiến chương Liên hiệp quốc đã quy định những biện pháp giải quyết tranh chấp được sử dụng trong các cơ chế giải quyết tranh chấp của LHQ Các biện pháp chia làm ba loại: nhóm biện pháp liên quan đến vai trò chính trị của LHQ, chủ yếu quy định tại chương VI của Hiến chương Liên hiệp quốc; nhóm biện pháp cưỡng chế, chủ yếu được quy định tại chương VII của Hiến chương Liên hiệp quốc; nhóm biện pháp liên quan đến việc thành lập lực lượng gìn giữ hòa bình của LHQ, chủ yếu được quy định tại chương VI và chương VII của Hiến chương Liên hiệp quốc [09]
Khoản 1 điều 33 quy định về các biện pháp hòa bình mà các bên tranh chấp có thể sử dụng, bao gồm: đàm phán, điều tra, trung gian, hòa giải, trọng tài, tòa án, sử dụng những tổ chức hoặc những hiệp định khu vực, hoặc các biện pháp hòa bình khác tùy theo sự lựa chọn của các bên
Có thể thấy rằng nguyên tắc giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế được thực hiện thông qua các biện pháp cơ bản sau:
Trang 3830
1.3.1 Nhóm các biện pháp ngoại giao
Thứ nhất biện pháp đàm phán: thường là biện pháp đầu tiên và thường trực mà các quốc gia sử dụng nhăm giải quyết các bất đồng thông qua sự dung hòa ý chí của các bên mà còn nhằm tránh việc phải sử dụng tới các biện pháp tư pháp (trọng tài , tòa án) có thể tổn hại tới lợi ích của một bên nào đó
do buộc phải chấp nhận của một phán quyết nhất định Tại Điều 15, Công ước Luật Biển 1982 về việc hoạch định ranh giới lãnh hải giữa các quốc gia có bờ biển kề nhau hoặc đối diện nhau, không quốc gia nào được quyền mở rộng lãnh hải ra quá đường trung tuyến mà mọi điểm nằm trên đó cách đều ra các điểm gần nhất của các đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của mỗi quốc gia, trừ khi có sự thỏa thuận ngược lại…
Trong nhiều trường hợp, đàm phán không nhất thiết phải đi đến một giải pháp cuối cùng mà đơn thuần đóng vai trò như một diễn đàn chung để các bên liên quan trao đổi ý kiến, xác định các vấn đề chưa đạt được nhất trí chung cũng như thảo luận, đàm phán những vấn đề cốt lõi và thủ tục cho việc
áp dụng các biện pháp giải quyết tranh chấp khác về sau [09]
Việc đàm phán có thể được tiến hành trong quá trình thực hiện các biện pháp giải quyết tranh chấp khác, hoặc sau khi các biện pháp đó đã thất bại Thực tế, có nhiều tranh chấp về vấn đề trong Công ước, đặc biệt là về vấn đề phân định biển đã được giải quyết thông qua con đường đàm phán
Thứ hai biện pháp môi giới, trung gian, hòa giải: là phương thức đặc biệt của việc giải quyết các tranh chấp trên biển theo phương thức phi tài phán thông qua con đường ngoại giao
Với vị trí là bên thứ ba, các quốc gia, tổ chức quốc tế hay cá nhân (Tổng thư ký Liên hợp quốc, các chính khách nổi tiếng, nhà thương lượng quốc tế) Với sự nhất trí tin cậy của các bên tranh chấp, bên môi giới sẽ đảm nhận việc thuyết phục các bên tranh chấp ngồi vào bàn đàm phán
Trang 3931
Trung gian là một hình thức giải quyết tranh chấp, bất đồng giữa hai hay nhiều bên bằng việc bên trung gian cùng các bên tranh chấp ngồi lại với nhau để thảo luận về vấn đề của các bên tranh chấp trong một cuộc họp riêng
tư, không nghi thức, và cố gắng đạt tới một thỏa thuận Liên hợp quốc và một
số tổ chức khu vực đều có quy định về giải quyết tranh chấp như một trong những mục tiêu của tổ chức và do vậy, Tổng thư ký và những người đồng nhiệm ở các tổ chức khu vực thường đóng vai trò trung gian Trung gian với vai trò là một kênh thông tin có thể tìm hiểu mục đích của các bên tranh chấp, nhắc nhở họ về mục đích này trong quá trình giải quyết tranh chấp, khuyến khích họ cân nhắc các giải pháp, gợi ý các phương án thỏa hiệp Tuy nhiên trung gian không tham gia trực tiếp vào quá trình đàm phán của các bên mà mục đích cuối cùng là khuyến khích hoặc gợi ý để các bên đàm phán đi đến một giải pháp giải quyết tranh chấp Vai trò này đặc biệt có ý nghĩa trong trường hợp các bên không muốn gặp trực tiếp với nhau Nhiệm vụ của bên trung gian là khuyến khích động viên các quốc gia có liên quan đến tranh chấp bằng biện pháp hòa bình nào đó, cụ thể là việc tác động để các bên tranh chấp tiếp xúc ngoại giao và tiến hành các cuộc đàm phán chính thức Bên trung gian không tham gia vào các cuộc đàm phán và không đưa ra các điều kiện để giải quyết tranh chấp Giải quyết tranh chấp thông qua trung gian thực chất là các bên chấp nhận sự tham gia của bên thứ ba Bên thứ ba có thể là một hoặc là một số quốc gia; một hoặc một số cá nhân có uy tín cũng có thể là thông qua cơ quan của tổ chức quốc tế Trung gian có thể được thành lập do các bên tranh chấp hay do sáng kiến của bên thứ ba, việc lựa chọn cơ quan đóng vai trò trung gian hết sức quan trọng, mặc dù các đề nghị, khuyến cáo của các cơ quan trung gian chỉ có thể làm cơ sở cho các cuộc đàm phán
Công ước Luật Biển 1982 rất chú trọng đến biện pháp giải quyết tranh chấp thông qua hòa giải với những quy định cụ thể tại Điều 284 cũng như
Trang 4032
dành toàn bộ phụ lục V cho các quy định về hòa giải Theo quy định của Công ước, biện pháp hòa giải có thể được tiến hành theo hai hình thức: hòa giải tự nguyện và hòa giải bắt buộc giải quyết tranh chấp thông qua biện pháp hòa giải thể hiện những ưu điểm như: Sự tham gia của hòa giải trong quan hệ tranh chấp, tạo điều kiện để các bên nỗ lực giải quyết tranh chấp và thực hiện kết quả giải quyết tranh chấp Do đó sự tham gia của bên thứ ba thông qua biện pháp hòa giải có thể phác thảo, lên ý tưởng để đề xuất cách giải quyết tranh chấp nên tỉ lệ thành công cao; uy tín của bên thứ ba với vai trò hòa giải nên việc thực hiện kết quả tranh chấp được các bên nỗ lực thực hiện nếu không muốn mất uy tín [09]
Thứ ba Biện pháp thành lập các Ủy ban điều tra: Ủy ban điều tra cũng
là một hình thức tham gia của bên thứ ba vào quá trình giải quyết một tranh chấp quốc tế nói chung và giải quyết tranh chấp quốc tế về chủ quyền biển, đảo nói riêng Đây là một biện pháp có nguồn gốc tập quán, được pháp điển hóa trong Công ước La Haye năm 1907 và hiện nay được ghi nhận trong Điều
33 của Hiến chương Liên hợp quốc cũng như trong nhiều văn kiện pháp lý quốc tế quan trọng khác Ủy ban điều tra không có vai trò trực tiếp trong việc tìm kiếm các giải pháp cho cuộc tranh chấp, mà chỉ giới hạn việc tìm kiếm, xác định những sự kiện, tình huống khách quan là nguyên nhân hay bối cảnh của tranh chấp Việc thành lập Ủy ban điều tra không phải là nghĩa vụ bắt buộc đối với các bên trong một tranh chấp Trong trường hợp các bên tranh chấp cho rằng việc thành lập một Ủy ban điều tra là cần thiết thì họ sẽ ký kết một thỏa thuận, trong đó xác định rõ cách thức thành lập, thành phần của Ủy ban, các sự việc cần điều tra, thời hạn và giới hạn điều tra[25]
1.3.2 Nhóm các biện pháp tƣ pháp
Thứ nhất biện pháp trọng tài: thủ tục trọng tài thường được các bên lựa chọn hơn là thủ tục tòa án vì các bên có thể hạn chế được phạm vi các vấn đề