Ngày nay những tiến bộ của khoa học kỹ thuật và sự bùng nổ của tri thức đã tác động sâu sắc đến sự phát triển của xã hội, đòi hỏi người lao động mới không những phải có trình độ văn hóa, trình độ nghề nghiệp nhất định mà còn phải có tính độc lập năng động và sáng tạo, có năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn. Chính vì vậy mà Nghị quyết hội nghị Ban ch ấp hành Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã chỉ rõ “Phát triển giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát tri ển toàn diện năng lực và phẩm chất người học; học đi đôi với hành; lí luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội” và “Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh (HS). Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn (VDKTVTT). Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời” 1. Trên cơ sở đó, chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 2020 đã đề ra giải pháp cụ thể cho giáo dục phổ thông là “Thực hiện đổi mới chương trình và sách giáo khoa từ sau năm 2015 theo định hướng phát triển năng lực cho HS. Chương trình phải hướng tới phát triển các năng lực chung mà mọi HS đều cần có trong cuộc sống như năng lực hợp tác, năng lực tự học, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề sáng tạo…đồng thời hướng tới phát triển các năng lực chuyên biệt liên quan tới từng môn học, từng lĩnh vực hoạt động giáo dục” 3. Trong nhà trường phổ thông, Vật lí là một môn khoa học TN, gắn liền với thực tế sản xuất và đời sống và có vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục. Mục tiêu giáo dục đòi hỏi một trong những định hướng đổi mới phương pháp dạy học vật lí là phải làm cho HS có ý thức và biết cách vận dụng các kiến thức vật lí vào thực tiễn đời sống nhằm nâng cao chất lượng c uộc sống; Hơn nữa HS cũng hiểu về vai trò và ý nghĩa của kiến thức vật lí đối với sản xuất, từ đó định hướng nghề nghiệp cho những em có năng khiếu, hứng thú và yêu thích môn Vật lí. Trong dạy học vật lí, phát triển năng lực VDKTVTT cho HS có nhiều giải pháp, trong đó việc sử dụng các bài tập có nội dung thực tế (BTCNDTT) được coi là phương pháp hiệu quả. Tuy nhiên để đạt được điều đó giáo viên (GV) cần có các biện pháp tích cực, lựa chọn và sử dụng các bài tập một cách phù hợp nhất trong quá trình dạy học. Mặc dù vậy, qua tìm hiểu thực trạng dạy học ở trường phổ thông hiện nay, chúng tui nhận thấy các GV rất ít chú trọng và sử dụng BTCNDTT mà thiên về bài tập có tính hàn lâm, hay các bài tập áp dụng công thức, tính toán; Việc vận dụng kiến thức vật lí vào thực tiễn đối với đa số HS (HS) còn rất nhiều hạn chế nếu không muốn nói là thực sự yếu kém. Chính vì vậy, việc dạy và học vật lí chưa đáp ứng được mục tiêu đề ra, sản phẩm co n người chưa đáp ứng được nhu cầu xã hội. Xuất phát từ những lí do trên và mong muốn đóng góp vào công cuộc đổi mới của ngành Giáo dục hiện nay, tui chọn đề tài “Phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn cho HS thông qua việc sử dụng bài tập có nội dung thực tế trong dạy học chương “Tĩnh học vật rắn” Vật lí 10 nâng cao”. 2.Lịch sử vấn đề nghiên cứu Vấn đề dạy học phát triển năng lực đã và đang trở thành vấn đề quan tâm hàng đầu của nhiều quốc gia. Tiếp cận năng lực được hình thành và phát triển tại Mĩ vào năm 1970, sau đó đến các quốc gia khác như Anh, Úc, New Zeland, xứ Wales,… vào những năm 1990. Năm 2000, có rất nhiều quốc gia đã phát triển chương trình theo tiếp cận năng lực như: Canada, Pháp, Hàn Quốc, Nhật Bản, Phần Lan, Thái Lan,… các nước trong tổ chức OECD, tuy có những cách gọi tên khác nhau như: dạy học (giáo dục) định hướng đầu ra dựa trên năng lực; dạy học (giáo dục) theo mô hình năng lực, nhưng dều có chung bản chất là: dạy học phát triển năng lực của người học; có hai thuật ngữ liên quan đến tên gọi được sử dụng phổ biến là: Competensybased Curriculum (Đỗ Ngọc Thống (2011) dịch là chương trình dựa trên cơ sở năng lực, gọi tắt là tiếp cận năng lực). Competencybased model (Nguyễn Hữu Lam (2007) dịch là mô hình dựa trên năng lực gọi tắt là mô hình năng lực). Tiếp cận năng lực là cơ sở, là công cụ để xây dựng nhiều chương trình đào tạo, kế hoạch dạy học ở các cấp độ khác nhau. Khái quát chương trình đào tạo, kế hoạch dạy học theo tiếp cận năng lực thực hiện theo chương trình ba khâu: + Xác định các năng lực + Phát triển các năng lực + Đánh giá các năng lực Hiện nay dạy học theo hướng phát triển năng lực vận dụng đang là một xu thế chủ yếu trong việc truyền tải kiến thức; Các giáo trình, các tài liệu nghiên cứu về dạy học theo hướng phát triển năng lực vận dụng của các môn khoa học tự nhiên ở một số nước phát triển tăng lên rất nhanh. Ở nước ta, dạy học theo hướng phát triển năng lực, trong đó việc phát triển năng lực VDKTVTT cũng đang được chú trọng hơn trong những năm gần đây; Đã có một số công trình nghiên cứu, tài liệu, luận văn đề cập đến vấn đề phát triển năng lực VDKTVTT cho HS và vai trò của bài tập, đặc biệt là BTCNDTT trong việc phát triển năng lực, như: Trong cuốn “Lí luận và dạy học hiện đại”, của Bernd Meie r, Nguyễn Văn Cường2 đề cập đến bài tập định hướng năng lực trong đó nhấn mạnh đến các đặc điểm quan trọng của bài tập định hướng các năng lực chung, xây dựng hệ thống bài tập nhằm định hướng năng lực. Tuy nhiên các tác giả chưa đề cập đến vai trò của BTCNDTT với phát triển năng lực vận dụng kiến thức. Trong đề tài “Rèn luyện kĩ năng VDKTVTT cho HS trong dạy học phần Sinh học tế bào, Sinh học 10” của Trần Thái Toàn25, tác giả cũng đã xây dựng một số biện pháp sư phạm nhằm rèn luyện kỹ năng VDKTVTT cho HS bậc THPT, tuy nhiên các biện pháp chưa thực sự cụ thể và không chú trọng đến vai trò của BTCNDTT trong phát triển năng lực VDKTVTT. Trong đề tài “Biên soạn và tổ chức dạy giải bài tập chương “Tĩnh học vật rắn” VL10THPT nhằm phát huy tính tích cực nhận thức về rèn luyện tư duy sáng tạo cho HS” của Hoàng Thanh Giang5, tác giả cũng đã nhấn mạnh về vai
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRẦN THỊ NHƯ QUỲNH
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VẬN DỤNG KIẾN THỨC VÀO THỰC TIỄN CHO HỌC SINH THÔNG QUA VIỆC SỬ DỤNG BÀI TẬP CÓ NỘI DUNG THỰC TẾ TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “TĨNH HỌC VẬT
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRẦN THỊ NHƯ QUỲNH
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VẬN DỤNG KIẾN THỨC VÀO THỰC TIỄN CHO HỌC SINH THÔNG QUA VIỆC SỬ DỤNG BÀI TẬP CÓ NỘI DUNG THỰC TẾ TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “TĨNH HỌC VẬT
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS LÊ CÔNG TRIÊM
Thừa Thiên Huế, năm 2017
Ket-noi.com kho tai lieu mien phi
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các sốliệu và kết quả nghiên cứu ghi trong luận văn là trung thực, được cácđồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng được công bố trong bất kỳmột công trình nào khác
TTHuế, ngày 18 tháng 9 năm 2017
Tác giả luận văn
Trần Thị Như Quỳnh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Những dòng đầu tiên của cuốn luận văn này, tôi muốn dành để bày tỏlòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS.Lê Công Triêm đã luôn luôn tạo điều kiện vàtận tình chỉ dẫn tôi từ khi hình thành ý tưởng đến khi có trong tay cuốn luận vănhoàn chỉnh
Tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy, cô giáo, Ban chủnhiệm khoa Vật lí, phòng Đào tạo Sau đại học - Trường Đại học Sư phạm Huế
đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, các thầy giáo, cô giáo tổ Vậtlí-KTCN, trường THPT Quảng Ninh và trường THPT Hùng Vương, tỉnh QuảngBình đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận vănnày
Cuối cùng tôi xin cảm ơn toàn thể gia đình và bạn bè đã động viên, giúp
đỡ tôi trong thời gian làm luận văn
Xin trân trọng cảm ơn!
TTHuế, ngày 18 tháng 9 năm 2017
Tác giả luận văn
Trần Thị Như QuỳnhKet-noi.com kho tai lieu mien phi
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.Lí do chọn đề tài 1
2.Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2
3.Mục tiêu nghiên cứu 4
4.Giả thuyết khoa học 4
5.Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
6.1 Đối tượng nghiên cứu 5
6.2 Phạm vi nghiên cứu 5
7.Phương pháp nghiên cứu 5
7.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết 5
7.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn 5
7.3 Các phương pháp toán học 5
8.Những đóng góp mới của đề tài 6
NỘI DUNG 7
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NLVDKTVTT 7
1.1 Cơ sở lí luận về năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn 7
1.1.1 Năng lực vận dụng kiến thức 7
1.1.2 Năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn 7
1.1.2.1 Khái niệm năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn 7
1.1.2.2 Các năng lực thành tố và biểu hiện của năng lực VDKTVTT 7
1.1.3 Một số công cụ đánh giá năng lực 8
1.1.3.1 Đánh giá qua quan sát 8
1.1.3.2 Đánh giá qua hồ sơ 9
1.1.3.3 Đánh giá thông qua nhìn lại quá trình (tự đánh giá) 10
1.1.3.4 Đánh giá đồng đẳng 11
1.1.3.5 Đánh giá qua các bài kiểm tra 11
1.1.4 Vai trò của năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn trong dạy học 11
Trang 61.2 Cơ sở lí luận về bài tập có nội dung thực tế trong dạy học vật lí 12
1.2.1 Khái niệm bài tập có nội dung thực tế trong dạy học vật lí 12
1.2.2 Phân loại bài tập có nội dung thực tế trong dạy học vật lí theo các 12
1.2.3 Phương pháp giải bài tập vật lí có nội dung thực tế 14
1.2.4 Một số nguyên tắc khi lựa chọn hệ thống bài tập có nội dung thực tế 15
1.2.4.1 Lựa chọn bài tập có nội dung thực tế trong dạy học vật lí 15
1.2.4.2 Yêu cầu của một hệ thống bài tập có nội dung thực tế trong dạy học17 1.2.5 Vai trò của bài tập có nội dung thực tế với phát triển năng lực 18
1.3 Biện pháp rèn luyện và phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào 19
1.4 Sử dụng bài tập có nội dung thực tế trong dạy học phát triển 24
1.4.1 Quy trình sử dụng hệ thống bài tập có nội dung thực tế trong dạy học 24 1.4.2 Sử dụng bài tập có nội dung thực tế trong các hoạt động dạy học 24
1.4.2.1 Sử dụng bài tập có nội dung thực tế trong tiết học nghiên cứu 25
1.4.2.2 Sử dụng bài tập có nội dung thực tế trong việc củng cố, 25
1.4.2.3 Sử dụng bài tập có nội dung thực tế cho phần giao nhiệm vụ 26
1.4.2.4 Sử dụng bài tập có nội dung thực tế trong giờ ôn tập, luyện tập 26
1.4.2.5 Sử dụng bài tập có nội dung thực tế trong kiểm tra, đánh giá 26
1.4.2.6 Sử dụng bài tập có nội dung thực tế trong các hoạt động 27
1.5 Đánh giá sự phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn 27
1.5.1 Sự cần thiết xây dựng công cụ đánh giá năng lực vận dụng 27
1.5.2 Hướng dẫn đánh giá năng lực theo tiêu chí(Rubric) 28
1.5.3 Xây dựng tiêu chí đánh giá năng lực vận dụng kiến thức vào 30
1.5.4 Thiết kế bảng kiểm quan sát 33
1.5.5 Thiết kế bài kiểm tra 34
Kết luận chương 1 34
CHƯƠNG II SỬ DỤNG BÀI TẬP CÓ NỘI DUNG THỰC TẾ CHƯƠNG “TĨNH HỌC VẬT RẮN” 36
2.1 Đặc điểm cấu trúc chương “Tĩnh học vật rắn” VL10NC 36
2.2 Hệ thống bài tập có nội dung thực tế chương “Tĩnh học vật rắn” 38
2.3 Thiết kế tiến trình dạy học một số bài chương “Tĩnh học vật rắn” 43
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 73 Ket-noi.com kho tai lieu mien phi
Trang 73.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 73
3.2 Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 73
3.3 Đối tượng thực nghiệm 73
3.4 Tiến trình và nội dung thực nghiệm sư phạm 74
3.4.1 Chọn lớp thực nghiệm và đối chứng 74
3.4.2 Trao đổi với GV dạy thực nghiệm 74
3.4.3 Tiến hành thực nghiệm 75
3.5 Kết quả thực nghiệm sư phạm 76
3.5.1 Phương pháp xử lí và đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 76
3.5.2 Phân tích định tính 76
3.5.3 Phân tích định lượng 77
3.5.3.1 Kết quả thông qua bài kiểm tra 77
Kết luận chương 3 84
KẾT LUẬN 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
BTCNDTT Bài tập có nội dung thực tế
TNSP Thực nghiệm sư phạmVDKTVTT Vận dụng kiến thức vào thực tiễnKet-noi.com kho tai lieu mien phi
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ
Bảng 1.1.Bảng mô tả các năng lực thành tố và biểu hiện của năng lựcVDKTVTT
Bảng 1.2 Tiêu chuẩn đánh giá một Rubric tốt
Bảng 1.3 Các tiêu chí và các mức độ đánh giá việc phát triển năng lựcvận dụng vào thực tiễn
Bảng 1.4 Bảng kiểm quan sát đánh giá năng lực VDKTVTT cho HSTHPT
Bảng 3.1 Kết quả bài kiểm tra lần 3 (kiểm tra 45p)
Bảng 3.2 Phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích bài kiểm tra lần 3Bảng 3.3.Tổng hợp kết quả học tập bài kiểm tra lần 3
Bảng 3.4 Tổng hợp các tham số đặc trưng của bài kiểm tra lần 3
Bảng 3.5 Kết quả tổng hợp 3 bài kiểm tra
Bảng 3.6 Phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích tổng hợp 3 bàikiểm tra
Bảng 3.7 Tổng hợp kết quả học tập của 3 bài kiểm tra
Bảng 3.8 Tổng hợp các tham số đặc trưng của 3 bài kiểm tra
Bảng 3.9 Bảng tổng hợp kết quả đánh giá năng lực VDKTVTT của HS(THPT Quảng Ninh) theo tỷ lệ % do GV đánh giá
Hình 3.1 Đồ thị phân phối tần suất bài kiểm tra lần 3
Hình 3.2 Đồ thị phân phối tần suất tích luỹ bài kiểm tra lần 3
Hình 3.3 Biểu đồ phân loại kết quả học tập bài kiểm tra lần 3
Hình 3.4 Đồ thị phân phối tần suất 3 bài kiểm tra
Hình 3.5 Đồ thị phân phối tần suất tích lũy 3 bài kiểm tra
Hình 3.6 Biểu đồ phân loại tổng hợp kết quả học tập của 3 bài kiểm traHình 3.7 Các biểu đồ so sánh kết quả đánh giá qua quan sát
Trang 10MỞ ĐẦU 1.Lí do chọn đề tài
Ngày nay những tiến bộ của khoa học kỹ thuật và sự bùng nổ của tri thức
đã tác động sâu sắc đến sự phát triển của xã hội, đòi hỏi người lao động mớikhông những phải có trình độ văn hóa, trình độ nghề nghiệp nhất định mà cònphải có tính độc lập năng động và sáng tạo, có năng lực giải quyết vấn đề thựctiễn Chính vì vậy mà Nghị quyết hội nghị Ban ch ấp hành Trung ương 8 khóa
XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã chỉ rõ “Phát triển giáo
dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triểntoàn diện năng lực và phẩm chất người học; học đi đôi với hành; lí luận gắn vớithực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội”
và “Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thànhphẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướngnghề nghiệp cho học sinh (HS) Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chútrọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học,năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn (VDKTVTT).Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời” [1] Trên
cơ sở đó, chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 -2020 đã đề ra giải pháp
cụ thể cho giáo dục phổ thông là “Thực hiện đổi mới chương trình và sách giáokhoa từ sau năm 2015 theo định hướng phát triển năng lực cho HS Chươngtrình phải hướng tới phát triển các năng lực chung mà mọi HS đều cần có trongcuộc sống như năng lực hợp tác, năng lực tự học, năng lực phát hiện và giảiquyết vấn đề sáng tạo…đồng thời hướng tới phát triển các năng lực chuyên biệtliên quan tới từng môn học, từng lĩnh vực hoạt động giáo dục” [3]
Trong nhà trường phổ thông, Vật lí là một môn khoa học TN, gắn liềnvới thực tế sản xuất và đời sống và có vai trò quan trọng trong việc thực hiệnmục tiêu giáo dục Mục tiêu giáo dục đòi hỏi một trong những định hướng đổimới phương pháp dạy học vật lí là phải làm cho HS có ý thức và biết cách vậndụng các kiến thức vật lí vào thực tiễn đời sống nhằm nâng cao chất lượng c uộcsống; Hơn nữa HS cũng hiểu về vai trò và ý nghĩa của kiến thức vật lí đối vớiKet-noi.com kho tai lieu mien phi
Trang 11sản xuất, từ đó định hướng nghề nghiệp cho những em có năng khiếu, hứng thú
và yêu thích môn Vật lí
Trong dạy học vật lí, phát triển năng lực VDKTVTT cho HS có nhiềugiải pháp, trong đó việc sử dụng các bài tập có nội dung thực tế (BTCNDTT)được coi là phương pháp hiệu quả Tuy nhiên để đạt được điều đó giáo viên(GV) cần có các biện pháp tích cực, lựa chọn và sử dụng các bài tập một cáchphù hợp nhất trong quá trình dạy học
Mặc dù vậy, qua tìm hiểu thực trạng dạy học ở trường phổ thông hiệnnay, chúng tôi nhận thấy các GV rất ít chú trọng và sử dụng BTCNDTT màthiên về bài tập có tính hàn lâm, hoặc các bài tập áp dụng công thức, tính toán;Việc vận dụng kiến thức vật lí vào thực tiễn đối với đa số HS (HS) còn rất nhiềuhạn chế nếu không muốn nói là thực sự yếu kém Chính vì vậy, việc dạy và họcvật lí chưa đáp ứng được mục tiêu đề ra, sản phẩm co n người chưa đáp ứngđược nhu cầu xã hội
Xuất phát từ những lí do trên và mong muốn đóng góp vào công cuộcđổi mới của ngành Giáo dục hiện nay, tôi chọn đề tài “Phát triển năng lực vậndụng kiến thức vào thực tiễn cho HS thông qua việc sử dụng bài tập có nội dung
thực tế trong dạy học chương “Tĩnh học vật rắn” Vật lí 10 nâng cao”.
2.Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Vấn đề dạy học phát triển năng lực đã và đang trở thành vấn đề quan tâmhàng đầu của nhiều quốc gia Tiếp cận năng lực được hình thành và phát triểntại Mĩ vào năm 1970, sau đó đến các quốc gia khác như Anh, Úc, New Zeland,
xứ Wales,… vào những năm 1990 Năm 2000, có rất nhiều quốc gia đã pháttriển chương trình theo tiếp cận năng lực như: Canada, Pháp, Hàn Quốc, NhậtBản, Phần Lan, Thái Lan,… các nước trong tổ chức OECD, tuy có những cáchgọi tên khác nhau như: dạy học (giáo dục) định hướng đầu ra dựa trên năng lực;dạy học (giáo dục) theo mô hình năng lực, nhưng dều có chung bản chất là: dạyhọc phát triển năng lực của người học; có hai thuật ngữ liên quan đến tên gọiđược sử dụng phổ biến là:
Competensy-based Curriculum (Đỗ Ngọc Thống (2011) dịch là chươngtrình dựa trên cơ sở năng lực, gọi tắt là tiếp cận năng lực)
Trang 12Competency-based model (Nguyễn Hữu Lam (2007) dịch là mô hìnhdựa trên năng lực - gọi tắt là mô hình năng lực).
Tiếp cận năng lực là cơ sở, là công cụ để xây dựng nhiều chương trìnhđào tạo, kế hoạch dạy học ở các cấp độ khác nhau Khái quát chương trình đàotạo, kế hoạch dạy học theo tiếp cận năng lực thực hiện theo chương trình bakhâu:
+ Xác định các năng lực+ Phát triển các năng lực+ Đánh giá các năng lựcHiện nay dạy học theo hướng phát triển năng lực vận dụng đang là một
xu thế chủ yếu trong việc truyền tải kiến thức; Các giáo trình, các tài liệunghiên cứu về dạy học theo hướng phát triển năng lực vận dụng của các mônkhoa học tự nhiên ở một số nước phát triển tăng lên rất nhanh
Ở nước ta, dạy học theo hướng phát triển năng lực, trong đó việc pháttriển năng lực VDKTVTT cũng đang được chú trọng hơn trong những năm gầnđây; Đã có một số công trình nghiên cứu, tài liệu, luận văn đề cập đến vấn đềphát triển năng lực VDKTVTT cho HS và vai trò của bài tập, đặc biệt làBTCNDTT trong việc phát triển năng lực, như:
Trong cuốn “Lí luận và dạy học hiện đại”, của Bernd Meie r, NguyễnVăn Cường[2] đề cập đến bài tập định hướng năng lực trong đó nhấn mạnh đếncác đặc điểm quan trọng của bài tập định hướng các năng lực chung, xây dựng
hệ thống bài tập nhằm định hướng năng lực Tuy nhiên các tác giả chưa đề cậpđến vai trò của BTCNDTT với phát triển năng lực vận dụng kiến thức
Trong đề tài “Rèn luyện kĩ năng VDKTVTT cho HS trong dạy học phầnSinh học tế bào, Sinh học 10” của Trần Thái Toàn[25], tác giả cũng đã xâydựng một số biện pháp sư phạm nhằm rèn luyện kỹ năng VDKTVTT cho HS bậcTHPT, tuy nhiên các biện pháp chưa thực sự cụ thể và không chú trọng đến vai tròcủa BTCNDTT trong phát triển năng lực VDKTVTT
Trong đề tài “Biên soạn và tổ chức dạy giải bài tập chương “Tĩnh học vậtrắn” VL10THPT nhằm phát huy tính tích cực nhận thức về rèn luyện tư duysáng tạo cho HS” của Hoàng Thanh Giang[5], tác giả cũng đã nhấn mạnh về vaiKet-noi.com kho tai lieu mien phi
Trang 13trò của bài tập với việc rèn luyện tư duy sáng tạo, nhưng không nhấn mạnh vềvai trò của nó với việc VDKTVTT.
Trong đề tài “Lựa chọn hệ thống bài tập và hướng dẫn hoạt động giải bàitập chương “ Tĩnh học vật rắn” Vật lí 10 THPT nhằm giúp HS nắm vững kiếnthức, góp phần phát triển tính tích cực và năng lực tự chủ” của Nguyễn ThịHương Liễu[19] tác giả đã xây dựng được một hệ thống bài tập và thông quahoạt động giải bài tập giúp HS nắm vững kiến thức, góp phần phát triển tínhtích cực và năng lực tự chủ, nhưng đề tài không đề cập đến vai trò củaBTCNDTT với phát triển năng lực vận dụng kiến thức
Tác giả Nguyễn Thanh Hải với luận văn “Nghiên cứu và sử dụng bài tậpđịnh tính và câu hỏi thực tế trong dạy học vật lí ở trường TH PT”[15] cũng đãxây dựng được hệ thống bài tập định tính và cách sử dụng bài tập định tínhtrong các giai đoạn của tiến trình dạy học, chứ chưa đề cập tới vấn đề phát triểnnăng lực cho HS
Như vậy, việc sử dụng bài tập để phát triển năng lực cho HS đã đượccác nhà giáo dục nghiên cứu dưới nhiều hình thức khác nhau,tuy nhiên chưa cócông trình nào đi sâu tìm hiểu và nghiên cứu việc sử dụng các bài tập vật lí cónội dung thực tế để phát triển năng lực VDKTVTT cho HS Đó là lí do tôiquyết định lựa chọn và giải quyết vấn đề này trong luận văn
3.Mục tiêu nghiên cứu
Đề xuất được các biện pháp phát triển năng lực vận dụng kiến thức vật lívào thực tiễn cho HS thông qua việc sử dụng các BTCNDTT trong dạy họcchương “Tĩnh học vật rắn” vật lí 10 NC
4.Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất được các biện pháp phát triển năng lực vận dụng kiến thứcvật lí vào thực tiễn cho HS thông qua việc sử dụng các BTCNDTT và vận dụngđược các biện pháp đó vào dạy học chương “Tĩnh học vật rắn” Vật lí 10 NC thì
có thể phát triển năng lực VDKTVTT cho HS, góp phần nâng cao chất lượngdạy học môn Vật lí
5.Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 14Nghiên cứu cơ sở lí luận về năng lực VDKTVTT và các biện pháp pháttriển năng lực đó trong dạy học vật lí ở trường phổ thông.
Nghiên cứu cơ sở lí luận về BTCNDTT và vai trò của nó trong phát triểnnăng lực VDKTVTT cho HS
Xây dựng các tiêu chí đánh giá năng lực VDKTVTT cho HS THPT
Đề xuất các biện phát triển năng lực vận dụng kiến thức vật lí vào thựctiễn cho HS thông qua việc sử dụng các BTCNDTT
Nghiên cứu đặc điểm của chương “Tĩnh học vật rắn” Vật lí 10NC
Khai thác và lựa chọn được kho tư liệu về BTCNDTT chương “Tĩnh họcvật rắn” Vật lí 10NC
Thiết kế tiến trình dạy học có sử dụng các biện pháp đã đề xuất trongchương “Tĩnh học vật rắn” Vật lí 10NC
Tiến hành thực nghiệm sư phạm (TNSP) ở trường THPT để đánh giá kếtquả và rút ra kết luận
6.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
6.1 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động dạy và học chương “Tĩnh học vật rắn” Vật lí 10NC ở trườngTHPT theo hướng phát triển năng lực VDKTVTT cho HS
7.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Thăm lớp, dự giờ, trò chuyện, trao đổi ý kiến với GV,HS Phỏng vấn một
số GV có kinh nghiệm giảng dạy lâu năm
Trang 158.Những đóng góp mới của đề tài
Xây dựng được các biện pháp cụ thể về việc sử dụng BTCNDTT để pháttriển năng lực VDKTVTT cho HS trong dạy học chương “Tĩnh học vật rắn” Vật
9.Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận vănđược chia làm ba chương
Chương 1 Cơ sở lí luận của việc phát triển năng lực VDKTVTT cho HS
trong dạy học vật lí thông qua việc sử dụng BTCNDTT
Chương 2 Sử dụng BTCNDTT chương “Tĩnh học vật rắn”Vật lí 10 NC
phát triển năng lực VDKTVTT cho HS
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm.
Trang 16NỘI DUNG CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VẬN DỤNG KIẾN THỨC VÀO THỰC TIỄN CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ THÔNG QUA VIỆC SỬ DỤNG BÀI TẬP CÓ NỘI DUNG THỰC TẾ
1.1 Cơ sở lí luận về năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn
1.1.1 Năng lực vận dụng kiến thức
Năng lực VDKTVTT của HS là khả năng của HS có thể vận dụng cáckiến thức đã học để giải quyết thành công các tình huống học tập hoặc tìnhhuống thực tiễn
Các tình huống học tập bao gồm: Tình huống xây dựng kiến thức mớicần vận dụng các kiến thức đã học Tình huống luyện tập giải các bài tập đòihỏi vận dụng linh hoạt, đầy đủ các kiến thức đã học
Tình huống thực tiễn là các tình huống thực gắn liền với thực tiễn cuộc
sống, gắn liền với hoạt động sống, lao động sản xuất của con người.
1.1.2 Năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn
1.1.2.1 Khái niệm năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn
Năng lực VDKTVTT của HS có thể hiểu là khả năng của bản thân ngườihọc huy động, sử dụng những kiến thức, kĩ năng đã học trên lớp hoặc học quatrải nghiệm thực tế của cuộc sống để giải quyết những vấn đề đặt ra trongnhững tình huống đa dạng và phức tạp của đời sống một cách hiệu quả và cókhả năng biến đổi nó Năng lực VDKTVTT thể hiện phẩm chất, nhân cách củacon người trong quá trình hoạt động để thỏa mãn nhu cầu chiếm lĩnh tri thức[22]
1.1.2.2 Các năng lực thành tố và biểu hiện của năng lực VDKTVTT
Với cách hiểu trên, năng lực VDKTVTT, theo chúng tôi có thể bao gồmcác năng lực thành tố và biểu hiện như sau:
Bảng 1.1.Bảng mô tả các năng lực thành tố và biểu hiện của năng lực VDKTVTT
Tái hiện được các kiến thức vật lí Trình bày được các kiến thức vật lí cơ bảnKet-noi.com kho tai lieu mien phi
Trang 17và hiểu được mối quan hệ giữa
Vận dụng kiến thức vào thực tiễn
để giải thích các nội dung thực tế
quen thuộc, không đổi, đơn giản
HS chỉ cần vận dụng một hoặc hai kiếnthức vật lí đơn giản phù hợp để giải thíchđược các các nội dung thực tế trong cuộcsống, ngoài thiên nhiên hay các việc làm,các cách xử lí tình huống đã có trong cuộcsống và sản xuất, chưa cần nhiều đến tưduy sáng tạo
Độc lập sáng tạo giải quyết tình
huống đặt ra trong thực tiễn cuộc
sống hay sản xuất
Khả năng tiếp cận, nhận thức, phát hiệnđược vấn đề trong nội dung bài học, trongbài tập có liên quan với thực tiễn; khảnăng vận dụng tổng hợp nhiều kiến thứcvật lí kết hợp với khả năng quan sát thựctế; khả năng độc lập, sáng tạo, giải quyếttình huống đặt ra
1.1.3 Một số công cụ đánh giá năng lực
1.1.3.1 Đánh giá qua quan sát
Trang 18Đánh giá qua quan sát là thông qua quan sát mà đánh giá các thao tác,động cơ, các hành vi, kĩ năng thực hành và kĩ năng nhận thức, chẳng hạn nhưcách giải quyết vấn đề trong một tình huống cụ thể[22].
Đặc điểm của đánh giá qua quan sát gồm có quan sát là sự tri giác, ghichép mọi nếu tố liên quan đến đối tượng nghiên cứu, phù hợp với mục tiêunghiên cứu nhằm mô tả, phân tích, nhận định và đánh giá về trường học, môitrường, văn hóa, và sự tương tác giữa những con người với nhau Trong quátrình dạy học thì đó là quan sát tương tác giữa HS - HS, HS – GV
Đánh giá quan sát sử dụng khi cần biết hiệu quả hoạt động của các trangthiết bị dạy học phục vụ mục tiêu học tập, khi cần biết năng lực dạy học của GV
và khi cần cung cấp thông tin định tính để bổ sung cho các thông tin định lượngtrong điều tra, thu thập minh chứng để đánh giá các tiêu chí
1.1.3.2 Đánh giá qua hồ sơ
Hồ sơ học tập là tài liệu minh chứng cho sự tiến bộ của HS, trong đó HS
tự đánh giá bản thân mình, nêu những điểm mạnh, điểm yếu, sở thích của mình,
tự ghi lại kết quả học tập trong quá trình học tập, tự đánh giá, đối chiếu với mụctiêu học tập đã đặt ra để nhận ra sự tiến bộ hoặc chưa tiến bộ, tìm nguyên nhân
và cách khắc phục trong thời gian tới … Để chứng minh cho sự tiến bộ, hoặcchưa tiến bộ HS tự lưu giữ những sản phẩm minh chứng cho kết quả đó cùngvới những lời nhận xét của GV và bạn học Hồ sơ học tập như một bằng chứng
về những điều mà các em đã tiếp thu được Hồ sơ học tập có thể được sử dụng
để xác định và điều chỉnh quá trình học tập của HS cũng như để đánh giá hoạtđộng và mức độ đạt được của HS Tùy vào mục tiêu dạy học, GV có thể yêucầu HS thực hiện tự xây dựng các loại hồ sơ học tập khác nhau nhằm mục đích
để HS tự xây dựng kế hoạch học tập, xác định động cơ nhiệm vụ học tập, mụctiêu cần hướng tới đồng thời các em tự kiểm soát, tự đánh giá quá trình học tậpcủa mình về sự tiến bộ hay giảm sút về kiến thức, kĩ năng và thái độ học tập.Trên cơ sở các kết quả đạt được trong quá trình học tập, HS tự điều chỉnh cáchhọc, động cơ học tập và mục tiêu cần hướng tới trong các giai đoạn tiếp theo.Các loại hồ sơ học tập: Hồ sơ tiến bộ, hồ sơ quá trình, hồ sơ mục tiêu, hồ sơthành tích Đánh giá qua hồ sơ học tập là sự theo dõi trao đổi ghi chép được củaKet-noi.com kho tai lieu mien phi
Trang 19chính HS những gì các em nói, hỏi, làm, cũng như thái độ, ý thức của HS vớiquá trình học tập của mình cũng như đối với mọi người…nhằm làm cho HSthấy được những tiến bộ rõ rệt của chính mình cũng như GV thấy được khảnăng của từng HS để từ đó GV có thể đưa ra hoặc điều chỉnh.
1.1.3.3 Đánh giá thông qua nhìn lại quá trình (tự đánh giá)
Đánh giá thông qua nhìn lại quá trình giúp HS tự đánh giá điểm mạnh,điểmbyếu trong quá trình học cũng như những khó khăn gặp phải và các giảipháp khắc phục nhằm cải thiện việc học để đạt được kết quả học tập cao hơn
Đánh giá qua việc nhìn lại quá trình dựa trên một số cơ sở sau: Trẻ cần
có sức mạnh nội tâm, cần biết tin vào chính mình, chấp nhận thất bại, khôngphấn đấu nếu thấy mình không có khả năng Trong quá trình học trẻ cần đượckhen đúng lúc, đúng chỗ và cần những thông tin phản hồi tích cực về hành vi,hành động của chúng.HS xây dựng lòng tự trọng trên cơ sở tự đánh giá Tựđánh giá của trẻ sẽ mang yếu tố tích cực khi dựa trên cảm xúc được mọi ngườiyêu thương và tôn trọng Nhận thức của trẻ càng chín chắn thì những khái niệm
về bản thân sẽ vượt ra ngoài sự tự đánh giá vì nó được xây dựng trên cơ sở nhậnthức đa chiều, từ nhiều góc nhìn khác nhau Tự tin là bước cần thiết đầu tiên để
tự điều chỉnh hành vi có hiệu quả Bước tiếp theo để đạt đến sự trưởng thành là
tự đánh giá chính xác và tự phê bình Trẻ cần được giúp đỡ để phát triển sự tựnhận thức đúng đắn về bản thân, biết tự đánh giá trung thực, chính xác về điểmmạnh, yếu của bản thân, biết nhận ra những giới hạn của mình Từ đó khuyếnkhích trẻ vượt lên những lĩnh vực còn yếu, biết tôn trọng NL của những ngườixuất sắc trong những lĩnh vực mà chúng không thể đạt được
Tự đánh giá trong học tập là một hình thức đánh giá mà HS tự liên hệphần nhiệm vụ đã thực hiện với các mục tiêu của quá trình học HS sẽ học cáchđánh giá các nỗ lực và tiến bộ cá nhân, nhìn lại quá trình và p hát hiện nhữngđiểm cần thay đổi để hoàn thiện bản thân Những thay đổi có thể là một cáchnhìn tổng quan mới về nội dung, yêu cầu giải thích thêm, thực hành các kĩ năngmới để đạt đến mức độ thuần thục Tự đánh giá không chỉ đơn thuần là tự mìnhcho điểm số mà là sự đánh giá những nỗ lực, quá trình và kết quả HS cần tham
Trang 20gia vào quá trình quyết định những tiêu chí có lợi cho việc học Tự đánh giá cómức độ cao hơn nhìn lại quá trình.
1.1.3.4 Đánh giá đồng đẳng
Đánh giá đồng đẳng giúp HS làm việc hợp tác, tự đánh giá công việc củanhau, học cách áp dụng các tiêu chí một cách khách quan Đánh giá đồng đẳngđòi hỏi kĩ năng giao tiếp tốt Các em cần đưa ra phản hồi cho các bạn bên cạnhcác nhận định mang tính tích cực Đánh giá đồng đẳng là một quá trình trong đócác nhóm HS cùng độ tuổi hoặc cùng lớp sẽ đánh giá công việc lẫn nhau Một
HS sẽ theo dõi bạn học của mình trong suốt quá trình học và do đó sẽ biết thêmcác kiến thức cụ thể về công việc của mình khi đối chiếu với GV Phương phápđánh giá này có thể được dùng như một biện pháp đánh giá kết quả, nhưng chủyếu được dùng để hỗ trợ HS trong quá trình học HS đánh giá lẫn nhau dựa theocác tiêu chí được định sẵn Các tiêu chí này cần được diễn giải bằng nhữngthuật ngữ cụ thể và quen thuộc Đánh giá đồng đẳng không nên được coi là mộtgiải pháp tiện lợi để giúp GV tiết kiệm thời gian Chúng ta không nên để HSquyết định tất cả việc đánh giá Vai trò của GV là hướng dẫn HS thực hiện đánhgiá đồng đẳng và coi đó như một phần của quá trình học tập
1.1.3.5 Đánh giá qua các bài kiểm tra
Bài kiểm tra là một phép lượng giá cụ thể mức độ, khả năng, thể hiệnhành vi trong lĩnh vực nào đó của một người Đánh giá qua các bài kiểm trađược chia làm ba loại gồm:
Quan sát: Giúp đánh giá các thao tác, hành vi, kĩ năng thực hành, nhậnthức, phản ánh vô thức
Kiểm tra vấn đáp: Có tác dụng đánh giá khả năng, đáp ứng câu hỏi đượcnêu trong một tình huống
Bài viết: Kiểm tra một lúc được nhiều HS, giúp đánh giá HS ở trình độcao gồm câu hỏi tự luận và câu hỏi trắc nghiệm
1.1.4 Vai trò của năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn trong dạy học
Phát triển năng lực VDKTVTT có thể giúp cho HS:
Ket-noi.com kho tai lieu mien phi
Trang 21Nắm vững kiến thức đã học để vận dụng giải quyết những bài tập hayxây dựng kiến thức cho bài học mới; nắm vững kiến thức đã học, có khả năngliên hệ, liên kết các kiến thức bởi những vấn đề thực tiễn liên quan đến kiếnthức khoa học.
Vận dụng các kiến thức, kĩ năng vào trong học tập, trong cuộc sống giúpcác em học đi đôi với hành Giúp HS xây dựng thái độ học tập đúng đắn,phương pháp học tập chủ động, tích cực, sáng tạo, lòng ham học, ham hiểu biết;năng lực tự học
Hình thành cho HS kĩ năng quan sát, thu thập, phân tích và xử lí thôngtin, hình thành phương pháp nghiên cứu khoa học; hình thành và phát triển kĩnăng nghiên cứu thực tiễn; Có tâm thế luôn luôn chủ động trong việc giải quyếtnhững vấn đề đặt ra trong thực tiễn
Giúp cho HS có được những hiểu biết về thế giới tự nhiên, chu kỳ hoạtđộng và tác động tích cực cũng như tiêu cực đối với cuộc sống con người cũngnhư ảnh hưởng của con người đến thế giới tự nhiên
Thông qua việc hiểu biết về thế giới tự nhiên bằng việc vận dụng kiếnthức đã học để tìm hiểu giúp các em ý thức được hoạt động của bản thân, cótrách nhiệm với chính mình, với gia đình, nhà trường và xã hội ngay trong cuộcsống hiện tại cũng như tương lai sau này của các em
Đem lại niềm vui, tạo hứng thú học tập cho HS Phát triển ở các em tínhtích cực, tự lập, sáng tạo để vượt qua khó khăn, tạo hứng thú trong học tập
1.2 Cơ sở lí luận về bài tập có nội dung thực tế trong dạy học vật lí
1.2.1 Khái niệm bài tập có nội dung thực tế trong dạy học vật lí
BTCNDTT là những bài tập có nội dung (những điều kiện và yêu cầu)xuất phát từ thực tế cuộc sống Quan trọng nhất là những bài tập vận dụng kiếnthức vật lí vào sản xuất và đời sống, góp phần giải quyết một số vấn đề đặt ra từthực tiễn
1.2.2 Phân loại bài tập có nội dung thực tế trong dạy học vật lí theo các mức độ nhận thức
Việc phân loại BTCNDTT cũng tương tự như bài tập vật lí nói chungđều xuất phát từ những mục tiêu và các tiêu chí nhất định Tuy nhiên dù dựa
Trang 22trên những tiêu chí nào, mục đích nào đ i nữa thì những sự phân loại đó cũng chỉmang tính tương đối, vì trong bất kì một loại bài tập nào cũng chứa đựngnhững yếu tố của một loại bài tập khác Trong dạy học vật lí, quá trình đi tìmlời giải cho các BTCNDTT thực chất là quá trình nhận thức của HS và vậndụng hầu hết các kiến thức vật lí có mối liên hệ chặt chẽ với thực tế cuộc sống;
Có nhiều cách phân loại bài tập vật lí có nội dung thực tế, hiện chưathống nhất, có thể theo nội dung của bài tập vật lí, theo phương thức cho điềukiện và phương thức giải, theo yêu cầu mức độ phát triển tư duy trong quá trìnhdạy học, theo hình thức gồm có bài tập tự luận (trắc nghiệm tự luận), bài tậptrắc nghiệm (trắc nghiệm khách quan)
Ngoài ra ta có thể phân loại bài tập vật lí có nội dung thực tế dựa vàolĩnh vực thực tiễn gắn với nội dung bài tập và dựa vào các mức độ nhận thứccủa HS cũng là các phương án tốt:
Dựa vào lĩnh vực thực tiễn được gắn với nội dung bài tập: Hệ thống cácbài tập mô tả công việc nghiên cứu vật lí trong phòng thí nghiệm ở nhà trườnghoặc ngoài xã hội Hệ thống các bài tập về các sự vật, hiện tượng thiên nhiên;giải thích, mô tả các sự vật, các hiện tượng tự nhiên Hệ thống bài tập về cácvấn đề trong đời sống, học tập, lao động sản xuất
Phân loại dựa theo mức độ nhận thức của HS, có tính đến mức độ nộidung bài tập gắn với thực tế:
- Mức 1(tương ứng với mức nhận biết trong thang Bloom): Những bàitập đơn giản, thuần túy, HS chỉ cần tái hiện kiến thức để trả lời chưa đề cập đến
ý nghĩa của các kiến thức đó trong đời sống hằng ngày
- Mức 2 (tương ứng với mức thông hiểu trong thang Bloom): Những bài
tập trong đó yêu cầu HS vận dụng kiến thức giải thích các tình huống khôngbiến đổi, đó là cách làm trong thực tế hay các cách xử lí đã có
- Mức 3(tương ứng với mức vận dụng trong thang Bloom): Những bàitập trong đó yêu cầu HS vận dụng kiến thức vật lí để giải quyết những tìnhhuống đặt ra trong thực tiễn
- Mức 4(tương ứng với các mức phân tích, đánh giá và sáng tạo trongthang Bloom ta có thể gọi là mức vận dụng cao): Vận dụng kiến thức vật lí đểKet-noi.com kho tai lieu mien phi
Trang 23phân tích, tổng hợp, đánh giá về một vấn đề thực tiễn có liên quan đến vật líhoặc vận dụng kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo vật lí để thực hiện một công trìnhnghiên cứu khoa học nhỏ, đơn giản, đề ra kế hoạch hành động cụ thể, viết báocáo.
Từng mức độ này có thể chia thành nhiều mức yêu cầu nhỏ hơn, phù hợpvới trình độ HS, đồng thời cũng thể hiện sự phân hóa HS trong một bài, trong
hệ thống BTCNDTT
1.2.3 Phương pháp giải bài tập vật lí có nội dung thực tế
Các dạng BTCNDTT khác nhau có quy trình giải cụ thể khác nhau Mặtkhác tuỳ mức độ nhận thức của HS, kinh nghiệm sống của họ mà các GV tự xâydựng quy trình giải cụ thể Ở đây xin đưa ra một quy trình giải chung nhất.Phương pháp giải bài tập vật lí có nội dung thực tế cũng có đầy đủ các bướcgiải giống như phương pháp giải bài tập vật lí nói chung
Bước 1: Tìm hiểu đề bài
- Đọc kĩ đề bài (nếu bài tập được thể hiện bằng lời), hoặc thông qua việcquan sát (nếu bài tập được thể hiện thông qua các hình ảnh, sơ đồ, hình vẽ,video clip, ) xem bài tập đề cập tới lĩnh vực nào trong thực tế có quen thuộcvới mình không
- Lựa chọn qua lời văn của bài tập để tìm ra những điều kiện và nhữngyêu cầu của bài tập
- Vận dụng sự hiểu biết thực tế và kinh nghiệm sống của bản thân đểphát hiện ra những dữ kiện khác và yêu cầu khác
- Đọc và ghi tóm tắt đề bài
- Vẽ hình minh hoạ cho bài toán
Bước 2: Phân tích hiện tượng của bài toán để xác lập các mối liên hệ cơbản
- Đối chiếu các dữ kiện đã cho và cái phải tìm, xét bản chất vật lí củahiện tượng để nhận ra các định luật, công thức lí thuyết có liên quan
-Xác lập các mối liên hệ cụ thể của cái đã biết và cái phải tìm (mối liên
hệ cơ bản)
Bước 3: Luận giải, tính toán các kết quả
Trang 24Từ mối liên hệ cơ bản đã xác lập, tiếp tục luận giải, tính toán rút ra kếtquả cần tìm.
Có những bài tập đơn giản sẽ không cần thực hiện đủ các bước trên.Những bài tập ở mức yêu cầu cao như viết thu hoạch, tiểu luận sẽ phải có quytrình riêng như nhận biết, xác định các vấn đề, thu thập thông tin, tổ chức thôngtin, đề xuất các giải
1.2.4 Một số nguyên tắc khi lựa chọn hệ thống bài tập có nội dung thực tế
1.2.4.1 Lựa chọn bài tập có nội dung thực tế trong dạy học vật lí
Cũng như các loại bài tập vật lí khác, việc lựa chọn để sử dụng cácVTCNDTT trong dạy học vật lí là hết sức quan trọng, nếu không làm tốt khâunày, quá trình dạy học khó có thể đạt hiệu quả cao Khi lựa chọn các bài tập vật
lí nói chung, cần đảm bảo rằng chúng phải phù hợp với nội dung dạy học, phùhợp với khả năng nhận thức của HSvà phải phục vụ ý đồ về mặt phương phápcủa GV, kiến thức trong mỗi bài tập phải nằm trong hệ thống kiến thức đư ợcquy định trong chương trình Đồng thời cũng phải xác định đúng vị trí của cácbài tập trong tiến trình dạy học để chúng trở thành một bộ phận hữu cơ của hệthống kiến thức cần truyền thụ BTCNDTT với tư cách là một loại bài tập trong
hệ thống bài tập vật lí nên cũng phải đạt được những yêu cầu chung như đã nêutrên Ngoài ra, do BTCNDTT có những đặc thù riêng nên việc xây dựng cũngcần phải thoả mãn thêm một số yêu cầu khác nữa Cụ thể phải thoả mãn cácnguyên tắc sau:
Ket-noi.com kho tai lieu mien phi
Trang 25BTCNDTT phải đảm bảo tính mục tiêu của chương trình, chuẩn kiếnthức, kĩ năng và định hướng phát triển năng lực VDKTVTT cho HS: Nếu bàitập thực tiễn có nội dung hoàn toàn mới về kiến thức vật lí thì sẽ không tạođược động lực cho HS để giải bài tập đó Đây là nguyên tắc đầu tiên, quan trọngnhất cần phải tuân theo vì nếu không đảm bảo mục tiêu dạy học và không thựchiện được chuẩn kiến thức, kĩ năng đã quy định trong chương trình thì coi nhưthất bại, không thành công.
Nội dung BTCNDTT phải đảm bảo tính chính xác, tính khoa học và tínhhiện đại: Trong dạy học vật lí, để có một hệ thống BTCNDTT tốt thì mỗi bàitập phải được biên soạn tốt và thoả mãn những yêu cầu nhất định Trong đó mỗibài tập phải có một nhiệm vụ và vị trí nhất định trong bài học, phải chứa đựngnhững kiến thức cơ bản, đảm bảo được tính chính xác, khoa học Diễn đạtBTCNDTT bằng lời sao cho đạt mục đích tốt nhất Đó là tìm cách phản ánh tốtnhất các điều kiện và yêu cầu của bài toán Nên tránh những bài tập còn đangtranh cãi đúng sai, kết quả chư a rõ ràng Trong một BTCNDTT, bên cạnh nộidung vật lí nó còn có những dữ liệu thực tế Những dữ liệu đó cần phải đưa vàomột cách chính xác phù hợp với thực tế, không tuỳ tiện thay đổi để nhằm mụcđích dễ tính toán được Tuy nhiên cũng phải có một số BTCNDTT yêu cầu các
em nêu chính kiến của mình về một hiện tượng, một vấn đề nào đó xảy ra trongthực tiễn và gây tranh cãi trong các em Một số bài tập có thể liên quan cả tớivấn đề đạo đức, giá trị, thái độ của người giải quyết (để lựa chọn phương án giảiquyết sao cho thích hợp nhất); lời giải cũng có thể không phải duy nhất mà còntuỳ vào bối cảnh, tình huống cụ thể GV khi đưa ra các bài tập này phải có sựhiểu biết đúng đắn và sâu rộng về vấn đề này trong thực tế để còn làm “trọngtài” cho các em và có kết quả xác đáng cuối cùng
BTCNDTT phải gần gũi với kinh nghiệm của HS: BTCNDTT phải chứađựng những tình huống gần gũi, thực tế phong phú, phải có nhiều bài tập chứađựng những vấn đề mang tính địa phương nơi người học đang sống, thậm chí
HS đã phát biểu được vấn đề đó và có nhu cầu giải quyết HS với kinh nghiệm
có được trong đời sống và kiến thức vật lí đã được học sẽ lựa chọn phương ántrả lời, giải thích sự lựa chọn của mình HS sẽ có sự háo hức chờ đợi thầy cô
Trang 26đưa ra đáp án đúng để khẳng định mình Trong bài tập này khi HS giải sẽ cómột số khả năng xảy ra như sau:
- HS phân tích và giải thích đúng Đây sẽ là niềm vui rất lớn đối với HS
vì kinh nghiệm của mình là đúng theo khoa học
- HS phân tích và giải thích gần đúng hoặc đúng một phần nào đó Khi
HS phân tích và giải thích gần đúng hoặc đúng một phần nào đó thì HS sẽ cảmthấy tiếc nuối vì bản thân đã gần tìm ra c âu trả lời, từ đó HS sẽ có động lực đểquan sát thực tiễn và vận dụng kiến thức vật lí một cách linh hoạt hơn để giảithích các tình huống thực tiễn hoặc thay đổi việc làm theo thói quen chưa đúngkhoa học của bản thân
BTCNDTT phải đảm bảo tính logic sư phạm : Các tình huống thực tiễngặp phải thường phức tạp hơn những kiến thức vật lí phổ thông trong chươngtrình nên khi xây dựng BTCNDTT cho HS phổ thông cần phải có bước xử lý sưphạm để làm đơn giản hoá tình huống thực tế Các yêu cầu giải BTCNDTTcũng phải phù hợp với trình độ, khả năng của HS Tóm lại tất cả các vấn đềthực tế khi muốn chuyển thành BTCNDTT phải qua khâu xử lý sư phạm
BTCNDTT phải có tính hệ thống, tính logic: Các BTCNDTT trongchương trình phải vừa được sắp xếp theo mức độ nhận thức của HS, vừa đượcsắp xếp theo chương, bài Trong mỗi chương, bài nên có tất cả các loại, dạngbài tập nếu có thể Trong quá trình dạy học thông qua kiểm tra, đánh giá, nếuthấy HS đạt mức này thì phải xây dựng những bài tập có mức phát triển caohơn Hệ thống BTCNDTT phải đa dạng, có bài tập đơn giản, có bài tập nângcao, sáng tạo ở nhiều mức độ khác nhau Quan điểm bao trùm khi xây dựngBTCNDTT luôn phải nhớ đến là bài tập nhất định phải gắn liền với những sựkiện, những hiện tượng thường gặp, thường xảy ra trong thực tế cuộc sống
1.2.4.2 Yêu cầu của một hệ thống bài tập có nội dung thực tế trong dạy học
Hệ thống BTCNDTT là các BTCNDTT được xây dựng thành hệ thống,thoả mãn các yêu cầu của một hệ thống bài tập vật lí Đó là:
Các bài tập phải đi từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp (phạm vi và
số lượng các kiến thức, kĩ năng cần vận dụng từ một đề tài đến nhiều đề tài, sốKet-noi.com kho tai lieu mien phi
Trang 27lượng các đại lượng cho biết và các đại lượng phải tìm, ) giúp HS có kĩ nănggiải được các loại bài tập điển hình.
Mỗi bài tập phải là một mắt xích trong hệ thống bài tập, đóng góp mộtphần nào đó vào việc củng cố, hoàn thiện và mở rộng kiến thức
Hệ thống bài tập phải đa dạng về thể loại: Bài tập định tính , bài tập tínhtoán, và về nội dung phải không được trùng lặp
Số lượng bài tập được lựa chọn phải phù hợp với sự phân bố thời gian
1.2.5 Vai trò của bài tập có nội dung thực tế với phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn cho HS trong dạy học vật lí
BTCNDTT với tư cách là một bộ phận của hệ thống bài tập vật lí, nênchúng có đầy đủ vai trò của bài tập vật lí nói chung Ngoài ra xuất phát từnhững đặc thù riêng nên có thể thấy BTCNDTT còn có một số vai trò quantrọng khác nữa đặc biệt đối với việc VDKTVTT cho HS
Để giải các bài tập thực tiễn HS phải vận dụng những kiến thức lí thuyếtvào thực tiễn, điều đó giúp các em củng cố kiến thức một cách thường xuyên,
hệ thống hoá được kiến thức, giúp khắc sâu hơn các khái niệm, những quy luậtvật lí, những hiện tượng vật lí
Các bài tập thực tiễn cũng có thể sử dụng nghiên cứu kiến thức mới vàhình thành tri thức vật lý mới, điều này sẽ giúp mở rộng, nâng cao kiến thức vật
BTCNDTT giúp HS thêm hiểu biết về thiên nhiên, môi trường sống, vềcác ngành sản xuất, cung cấp cho HS những số liệu mới về phát minh, nhữngứng dụng… giúp HS hòa nhập với sự phát triển khoa học kỹ thuật của thời đại,bắt kịp những vấn đề mang tính thời sự trong nước và quốc tế
Việc vận dụng kiến thức vào giải quyết BTCNDTT giúp rèn luyện cho
HS tính kiên nhẫn, tự giác, chủ động, chính xác, sáng tạo trong học tập và trong
Trang 28quá trình giải quyết các vấn đề thực tiễn Có thể nói bài tập thực tiễn là mộtphương tiện rất tốt để khắc phục các nhược điểm mà đa số HS đều mắc phải.
Bài tập thực tiễn còn là cơ hội để GV đề cập đến những kiến thức màtrong giờ học lý thuyết chưa có điều kiện để đề cập, qua đó bổ sung, mở rộng,nâng cao kiến thức một cách sinh động, phong phú mà không làm nặng nề khốilượng kiến thức của HS Vì vậy việc thường xuyên giải bài tập thực tiễn sẽ gópphần đáng kể trau dồi kiến thức vật lí cho HS
Bài tập có nội dung thực tiễn còn giúp HS bước đầu biết vận dụng kiếnthức vật lí để lí giải và cải tạo thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống
Thông qua giải quyết các BTCNDTT giúp HS thấy rõ lợi ích của việchọc môn vật lí từ đó tạo động cơ học tập tích cực, kích thích trí tò mò, óc quansát, sự ham hiểu biết, làm tăng hứng thú học môn học và từ đó có thể làm cho
HS say mê nghiên cứu khoa học và công nghệ giúp HS có những định hướngnghề nghiệp tương lai Ngoài ra, vì các bài tập thực tiễn gắn liền với đời sốngcủa chính bản thân HS, của gia đình, của địa phương và với môi trường xungquanh nên càng góp phần tăng động cơ học tập của HS, học tập để nâng caochất lượng cuộc sống của bản thân và của cộng đồng Với những kết quả banđầu của việc vận dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề thực tiễn HS thêm tựtin vào bản thân mình để tiếp tục học hỏi, tiếp tục phấn đấu và phát triển
Như vậy BTCNDTT được coi như là một nhiệm vụ học tập cần giảiquyết, giúp HS tìm tòi, nghiên cứu đi sâu vận dụng kiến thức vật lí một cáchsáng tạo từ đó giúp HS biến những kiến thức đã tiếp thu được qua bài giảngthành kiến thức của chính mình Kiến thức sẽ nhớ lâu khi được vận dụngthường xuyên như M.A Đanilôp nhận định: "Kiến thức sẽ được nắm vững thực
sự, nếu HS có thể vận dụng thành thạo chúng vào việc hoàn thành những bài tập
Trang 29Để rèn luyện và phát triển năng lực VDKTVTT của HS sử dụngBTCNDTT nên sử dụng một số biện pháp sau:
Hình thành cho HS một hệ thống kiến thức cơ bản vững vàng sâu sắc :Muốn giải được các BTCNDTT thì điều quan trọng đầu tiên đối với HS là cầnphải nắm được các khái niệm, quy tắc, công thức, định lý, quy luật vật lí Do
đó để góp phần giúp cho HS rèn luyện và phát triển năng lực VDKTVTT người
GV cần giúp cho HS nắm vững các kiến thức cơ bản Trước khi dạy học tiếthọc mới, cũng như vận dụng kiến thức cuối mỗi bài học GV cần yêu cầu HS ônlại các kiến thức; hoặc GV cũng cố lại các kiến thức liên quan đã được học để
HS nắm chắc được nội dung kiến thức đó Đặc biệt GV cần hệ thống lại nhữngkiến thức mà HS cần phải nắm được trong từng chương thông qua tiết ôn tậpchương Vì khi nắm được các kiến thức cơ bản thì HS mới có thể phát hiện rađược vấn đề cần giải quyết trong các bài toán thực tiễn và giải quyết chúng mộtcách chính xác và nhanh nhất
Ví dụ để giải quyết được yêu cầu bài toán đề ra “Khi gánh hai vật cókhối lượng khác nhau thì ta phải đặt gánh lên vai như thế nào? ” Đây là một bàitoán có nội dung thực tế, ngoài khả năng quan sát thực tiễn thì HS cần có kiếnthức về điều kiện cân bằng của vật rắn chịu tác dụng của ba lực song song
Rèn luyện cho HS năng lực tư duy logic, khả năng độc lập suy nghĩ:Trong quá trình giải quyết các tình huống cụ thể do các BTCNDTT đặt ra, HScần phải sử dụng các thao tác tư duy như phân tích, so sánh, đối chiếu, trừutượng hóa, cụ thể hóa, tổng hợp, khái quát hóa để giải quyết vấn đề
Ví dụ: khi giải bài tập sau “Trong các chất sau: nước sạch, rượu, thủyngân Chất nào có thể rót cao hơn miệng cốc thủy tinh sạch?” Khi tiến hà nh cácbước giải bài tập trên HS sẽ sử dụng các thao tác tư duy sau: Phân tích đề bàitìm ra dữ liệu đề bài cho (các chất: nước sạch, rượu, thủy ngân, thủy tinh sạch;
bề mặt chất lỏng cao hơn miệng cốc) và vấn đề mà đề bài hỏi (chất lỏng nào rótcao hơn miệng cốc) So sánh giữa các chất đã cho có nh ững đặc điểm gì giốngnhau, và khác nhau Trừu tượng hóa và đối chiếu với câu hỏi đề bài để giữ lạinhững đặc tính của sự vật chi phối hiện tượng đang khảo sát (rượu và nước dínhướt thủy tinh, thủy ngân không dính ướt thủy tinh), loại bỏ những đặc tính kh ác
Trang 30(chẳng hạn các chất như rượu, nước, thủy ngân đều có thể tích xác định, hìnhdạng không xác định, cốc thủy tinh có thể tích và hình dạng xác định…) Tổnghợp các dữ liệu đề bài cho và các dữ liệu đã tìm được để trả lời câu hỏi Nhưvậy, song song với quá trình vận dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề thựctiễn trong các các BTCNDTT thì các thao tác tư duy cần được sử dụng đan xen,
hỗ trợ lẫn nhau Do đó rèn luyện cho HS các thao tác tư duy cũng là một biệnpháp giúp HS tụ tin, linh hoạt hơn trong việc vận dụng các kiến thức vào thựctiễn
Rèn luyện năng lực VDKTVTT thông qua việc hướng dẫn HS tìm cácphương pháp giải của một BTCNDTT: Hướng dẫn HS tự mình tìm ra cách giảimột bài tập vật lí là một cách rất hữu ích trong việc rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo,VDKTVTT; rèn luyện thói quen vận dụng kiến thức khái quát đã thu nhậnđuợc để giải quyết các vấn đề của thực tiễn Đồng thời dựa vào mức độ giảiquyết các yêu cầu mà bài toán đặt ra, GV có thể đánh giá được mức độ nắmvững kiến thức của HS
Khai thác mọi khả năng gợi động cơ, hứng thú từ các BTCNDTT: Trongdạy học bộ môn Vật lí để HS tiếp thu tốt các kiến thức rất cần đến sự liên hệ cáckiến thức vật lí khô khan với những tình huống, những vấn đề thực tế NhữngBTCNDTT vừa có tác dụng rèn luyện năng lực VDKTVTT vừa giúp HS tíchcực hơn trong học tập để lĩnh hội kiến thức Trong quá trình dạy học gợi động
cơ là một trong những khâu quan trọng nhằm kích thích hứng thú học tập của
HS, làm cho việc học trở nên tự giác, tích cực, chủ động; Theo tác giả Nguyễn
Bá Kim, có ba cách gợi động cơ chính là gợi động cơ mở đầu, gợi động cơtrung gian, gợi động cơ kết thúc Việc khai thác các BTCNDTT trước khi trìnhbày kiến thức đó cũng là một cách gợi động cơ mở đầu xuất phát từ các tìnhhuống thực tế, rõ ràng đây là một cách gợi động cơ hấp dẫn, lôi cuốn HS, tạođiều kiện để các em thực hiện tốt các hoạt động tiếp nhận tri thức trong quátrình học tập
Ví dụ trước khi phần kiến thức cân bằng của một vật có mặt chân đế” cóthể gợi động cơ mở đầu bằng một trong các BTCNDTT sau: Động tác dangrộng tay và chân của các diễn viên xiếc trong tiết mục trên có tác dụng gì? TạiKet-noi.com kho tai lieu mien phi
Trang 31sao chân bàn, chân ghế, cái thang thường nghiêng ra ngoài? Tại sao nhữngchiếc đèn bàn thường có đế nặng? Quan sát các võ sĩ khi thi đấ u thì thấy họthường ở tư thế hơi khụy gối xuống và dang rộng chân hơn so với mức bìnhthường? Tư thế này có tác dụng gì? Đây là các tình huống rất gần gũi mà HSthường gặp hằng ngày, HS có thể đưa ra câu trả lời nhưng do hạn chế kiến thức,những câu trả lời đó có thể chưa chính xác và tạo nhu cầu hình thành, mở rộngkiến thức, tạo động cơ giải quyết vấn đề Sau khi học xong nội dung kiến thức
đó, GV có thể quay lại bài toán ban đầu, HS sẽ thấy thú vị khi được vận dụngcác kiến thức đang được học vào vấn đề thực tế mà các em có thể quan sát hằngngày và đây cũng là dịp để GV có thể cũng cố, vận dụng kiến thức cho HS
GV khuyến khích HS lập nhóm học tập, cùng tìm hiểu, nghiên cứu, thảoluận trong việc giải quyết các BTCNDTT, liên hệ các kiến thức đã học vào t hựctiễn: giải quyết các bài toán có nội dung thực tiễn thông qua hoạt động nhómgiúp HS có cơ hội trình bày quan điểm của mình, được nghe quan điểm của bạnkhác trong nhóm, trong lớp; được trao đổi, bàn luận về các ý kiến khác nhau vàđưa ra lời giải tối ưu cho bài toán Qua cách học đó, kiến thức của HS sẽ bớtphần chủ quan, phiến diện, làm tăng tính khách quan khoa học, tư duy phê pháncủa HS được rèn luyện và phát triển Các thành viên trong nhóm chia sẻ các suynghĩ, băn khoăn, kinh nghiệm, hiểu biết của bản thân, cùng nhau xây dựng nhậnthức, thái độ mới và học hỏi lẫn nhau Kiến thức nhờ thế mà trở nên sâu sắc,bền vững, dễ nhớ và nhớ nhanh hơn do được giao lưu, học hỏi giữa các thànhviên trong nhóm, được tham gia trao đổi, trình bày vấn đề nêu ra HS hào hứngkhi có sự đóng góp của mình vào thành công chung Nhờ không khí thảo luậncởi mở nên HS, đặc biệt là những em nhút nhát, trở nên bạo dạn hơn; các emhọc được trình bày ý kiến của mình, biết lắng nghe có phê phán ý kiến của bạn;
từ đó, giúp HS có cơ hội quý báu vận dụng các kiến thức đã được học để giảiquyết các vấn đề đặt ra, HS cũng dễ hòa nhập vào cộng đồng nhóm, tạo cho các
em sự tự tin, hứng thú trong học tập và sinh hoạt
Khi rèn luyện năng lực VDKTVTT cho HS khi tổ chức các giờ họcluyện tập GV có thể chia một lớp chia thành các nhóm nhỏ thường khoảng 4 - 6
HS Trong khoảng thời gian giới hạn, mỗi nhóm tự lực hoàn thành các nhiệm vụ
Trang 32học tập trên cơ sở phân công và hợp tác làm việc Kết quả làm việc của nhómsau đó được trình bày và đánh giá trước toàn lớp.
Lựa chọn được một hệ thống BTCNDTT phù hợp để phát triển năng lựcVDKTVTT cho HS: Để phát triển năng lực VDKTVTT cho HS cần lựa chọn,xây dựng được một hệ thống BTCNDTT đảm bảo các yêu cầu như đã trình bày
ở chương 1
Sử dụng các BTCNDTT một cách hợp lí về cả bài tập và mức độ bài tậptrong mỗi giai đoạn của tiến trình dạy học giúp phát triển năng lực VDKTVTTcho HS, ví dụ như:
- Giai đoạn nêu các sự kiện mở đầu: nên chọn là những sự kiện xảy ra
trong thực tế, gần gũi với đời sống, có liên hệ chặt chẽ với nhau và với kiếnthức muốn đề cập đến trong tiết học, có thể mô tả được một cách ngắn gọn, xúctích sao cho HS dễ dàng và nhanh chóng nhận ra sự mâu thuẫn giữa sự kiện vớinhững hiểu biết sẵn có
- Giai đoạn làm bộc lộ quan niệm có sẵn của HS: sử dụng cácBTCNDTT gần gũi với đời sống một cách khéo léo, dẫn dắt HS sao cho các emmạnh dạn lí giải theo “kinh nghiệm” của mình, đồng thời luôn tỏ rõ sự quantâm, khuyến khích HS ngay cả khi những lí giải đó là sai với kiến thức vật lí
- Giai đoạn xây dựng mô hình, giả thuyết: Việc sử dụng BTCNDTT có
tính chất hỗ trợ ban đầu vì việc xây dựng mô hình, giả thuyết cần đến cả những
dự đoán định lượng.Từ những bài tập thực tế GV sử dụng các câu hỏi gợi ý cho
HS dự đoán về những nguyên nhân chính, những mối quan hệ chính chi phốihiện tượng Các bài tập dùng trong trường hợp này cần đảm bảo các yêu cầusau: Nội dung phải là một phần hay một mắ t xích quan trọng của hiện tượng đãnêu ra trong sự kiện mở đầu Nếu bài tập phức tạp bản thân HS không thể tựgiải quyết thì GV cần đưa ra các các câu hỏi định hướng có tính lôgíc theo trình
tự diễn biến của hiện tượng đã nêu ra trong sự kiện mở đầu Các câu hỏi địnhhướng phải có nội dung ngắn, số lượng câu hỏi không quá nhiều (khoảng 3 đến
4 câu hỏi là thích hợp nhất), tránh trường hợp do phải trả lời nhiều câu hỏi màsau khi trả lời xong từng câu hỏi, HS không nhớ hết và không tự tổng hợp cáccâu trả lời để đưa ra những dự đoán định tính được)
Ket-noi.com kho tai lieu mien phi
Trang 33- Giai đoạn củng cố và vận dụng tri thức: Trong giai đoạn củng cố, vậndụng kiến thức, việc sử dụng các BTCNDTT là biện pháp mang lại hiệu quảcao nhất Việc dùng BTCNDTT củng cố, vận dụng kiến thức sẽ giúp HS dễdàng hơn trong việc phát hiện những kiến thức vật lý phù hợp để giải quyết cácvấn đề trong thực tiễn BTCNDTT đưa ra lúc này cũng nên đơn giản nhưng gầngũi với cuộc sống của người học.
1.4 Sử dụng bài tập có nội dung thực tế trong dạy học phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn cho HS
1.4.1 Quy trình sử dụng hệ thống bài tập có nội dung thực tế trong dạy học
Đối với môn vật lí, số lượng các bài tập là khá nhiều và khó Do đó việc
sử dụng hệ thống bài tập đã xây dựng cũng cần tuân theo các bước cụ thể Cácmức BTCNDTT đưa ra trong chương trình phải từ thấp đến cao Với mỗi mức
độ đưa ra phải thực hiện theo quy trình sau:
Bước 1: Đưa ra một loại BTCNDTT với mức độ yêu cầu mới Cho HSlàm - thảo luận trong nhóm - đánh giá của các HS khác trong lớp - GV kết luận,nêu một số điều cần chú ý, các yêu cầu khi sử dụng loại bài tập này Từ đó HSdần hình thành kĩ năng giải loại bài tập đó
Bước 2: Ở các bài tiếp theo, GV nên cho các BTCNDTT loại trên để HS
có điều kiện phát triển kĩ năng đó, đồng thời có thể cũng cố, khắc sâu, mở rộngkiến thức của bài vừa học và hiểu biết, đánh giá các vấn đề thực tế có liên quanđến bài học
Bước 3: Kiểm tra khả năng làm bài tập có nội dụng thực tế loại trên củahọc đã quen và hoàn thiện với mức BTCNDTT đó thì tiến hành đưa ra cácBTCNDTT ở mức độ tổng hợp cao hơn Đồng thời vẫn cho các bài tập mức cũnhưng ở các tình huống khác Đây cũng là điều kiện để cho GV dạy học phânhoá được HS Làm như thế sẽ phân phối được thời gian hợp lí hiệu quả của việc
sử dụng hệ thống BTCNDTT từ đó mà được nâng cao hơn
1.4.2 Sử dụng bài tập có nội dung thực tế trong các hoạt động dạy học khác nhau nhằm phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn
Trang 341.4.2.1 Sử dụng bài tập có nội dung thực tế trong tiết học nghiên cứu xây dựng kiến thức mới
Khi xây dựng kiến thức mới, GV thường hướng tới hai mục đích cơ bản:Thứ nhất là giúp HS tiếp thu được những kiến thức vật lí cơ bản và cần thiếtnhất, những kiến thức này phải đảm bảo tính chính xác, hiện đại và sát thực vớiđời sống thực tiễn Thứ hai là làm sao bài học phải lí thú thì các em mới tíchcực học tập và đọng lại trong trí tuệ, tâm hồn các em
BTCNDTT được sử dụng trong nghiên cứu tài liệu mới thường là nhữngbài tập nêu vấn đề, đề xuất những vấn đề sắp được nghiên cứu trong tiết học.Với những kiến thức đã có, người học thường chưa giải được hoặc mới chỉ giảiđược một phần của bài tập
Ưu điểm của BTCNDTT ở đây là nó chứa đựng những nội dung, tìnhhuống gần gũi với những tình huống nảy sinh trong cuộc sống mỗi người, k inhnghiệm của người học Trong nghiên cứu xây dựng kiến thức mới nên sử dụngnhững BTCNDTT tương đối dễ, GV cần chọn lựa một số bài tập thực tiễn chủyếu ở mức độ đơn giản như mức 1, 2 trong phân loại bài tập theo mức độ nhậnthức Những BTCNDTT ở đây là những bài tập chứa đựng tình huống nghịch lí,tình huống lựa chọn, tình huống “tại sao” Ở đây có thể dùng thí nghiệm để tạotình huống đưa ra bài tập để HS nghiên cứu tìm và xây dựng kiến thức mới
1.4.2.2 Sử dụng bài tập có nội dung thực tế trong việc củng cố, vận dụng kiến thức
Không chỉ xây dựng kiến thức mới cần dùng BTCNDTT mà khâu củng
cố, vận dụng sơ bộ kiến thức mới cần đưa ra BTCNDTT BTCNDTT phù hợpvới kiến thức vừa đưa ra sẽ giúp HS có những hình ảnh, những thể hiện thực tếlàm “chỗ tựa” cho nội dung kiến thức vừa mới xây dựng Từ đó hình thànhnhững biểu tượng ban đầu đúng đắn về nội dung kiến thức đó Việc dùngBTCNDTT củng cố kiến thức sẽ giúp HS dễ dàng hơn trong việc phát hiệnnhững kiến thức vật lý phù hợp để giải quyết các vấn đề trong thực tiễn.BTCNDTT đưa ra lúc này cũng nên đơn giản nhưng gần gũi với cuộc sống củangười học
Ket-noi.com kho tai lieu mien phi
Trang 351.4.2.3 Sử dụng bài tập có nội dung thực tế cho phần giao nhiệm vụ về nhà
Những BTCNDTT giao về nhà vừa có tác dụng tái hiện, củng cố kiếnthức cũ, vừa phải tạo ra những tình huống mới giúp HS vận dụng kiến thức vừahọc để giải quyết Các BTCNDTT ở đây cũng có độ khó cao hơn bài tập cho
HS giải quyết trong giờ học trên lớp giúp HS đạt được đầy đủ các mục tiêu đưa
ra trong bài Có thể sử dụng BTCNDTT phần về nhà để chuẩn bị cho giờ họcsau
1.4.2.4 Sử dụng bài tập có nội dung thực tế trong giờ ôn tập, luyện tập
Mục đích của giờ ôn tập, luyện tập là GV thường hướng tới hai việc:Thứ nhất là hệ thống hoá kiến thức, làm cho kiến thức trong chương hay mộtphần nào đó của chương trình có mối quan hệ hữu cơ với nhau và có quan hệvới các phần đã học trước và sau đó Thứ hai là đào sâu, nâng cao và vận dụngkiến thức để giải quyết các vấn đề lí thuyết và thực tiễn Các BTCNDTT đưa ratrong giờ nên có nội dung tổng hợp, liên quan tới nhiều kiến thức cần ôn tập,qua đó giúp HS khắc sâu, hệ thống và nâng cao các kiến thức đã học Các bàitập này cũng phải được thiết kế tương ứng với bốn loại đối tượ ng là giỏi, khá,trung bình, yếu kém Giờ ôn tập cũng nên cho nhiều dạng bài tập khác nhau Ởđây không nhất thiết tất cả các bài tập đưa ra đều là bài tập có nội dungBTCNDTT tế nhưng nếu càng có nhiều BTCNDTT càng tốt
1.4.2.5 Sử dụng bài tập có nội dung thực tế trong kiểm tra, đánh giá
Mục đích của việc kiểm tra, đánh giá là kiểm tra việc thực hiện mục tiêucủa môn học Khi đánh giá GV phải đối chiếu với mục tiêu của lớp, chương, bàinhằm thu được thông tin phản hồi giúp đánh giá kết quả học tập của HSđã đạtđược mục tiêu đề ra hay chưa Từ kết quả của kiểm tra, đánh giá, GV sẽ cónhững điều chỉnh thích hợp về nội dung, phương pháp dạy học nhằm thu đượckết quả tốt hơn, HS cũng sẽ có những điều chính thích hợp về phương pháp họctập để có kết quả cao hơn tức là nhớ, hiểu và vận dụng kiến thức tốt hơn Nộidung của kiểm tra, đánh giá cần chú ý cân đối tỉ lệ giữa sự nhớ, hiểu, vận dụngkiến thức tuỳ theo mức độ nhận thức của HS trong lớp có nâng dần tỉ trọng củacác BTCNDTT yêu cầu sự hiểu và vận dụng kiến thức Vì thời gian kiểm tra là
Trang 36hữu hạn nên các GV cần chọn số lượng BTCNDTT cũng như độ khó phù hợpvới trình độ của HS lớp đó.
1.4.2.6 Sử dụng bài tập có nội dung thực tế trong các hoạt động ngoại khóa
Một trong những hình thức phổ biến của công tác ngoại khoá về vật lí lànhóm giải bài tập Việc tổ chức những nhóm giải bài tập có tác dụng trực tiếpđến kết quả học tập của HS Trong đó phần lớn các bài tập đưa ra đều có thể làcác bài tập vật lí có nội dung thực tế
1.5 Đánh giá sự phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn của học sinh trong dạy học
1.5.1 Sự cần thiết xây dựng công cụ đánh giá năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn của học sinh
Tiêu chuẩn/tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục cần thiết cho bất cứ nềngiáo dục nào Ở các nước có nền giáo dục phát triển, cách làm việc hiệu quả đểxây dựng các tiêu chí đánh giá chất lượng học tập là sử dụng các nghiên cứugiáo dục kết hợp với kinh nghiệm thực tế của nhà trường, GV Ngày nay, nhiềungười nhận ra rằng các mục tiêu có tính vĩ mô, rộng, mặc dù vẫn hữu ích,nhưng không xác định, đầy đủ và hiệu quả việc học tập của HS Cần có các tiêuchí rõ ràng và cụ thể để có thể thông báo với HS, GV và phụ huynh một cáchchính xác những mong đợi của xã hội và nhà trường về việc HScần phải họcđược những gì
Các tiêu chí cụ thể sẽ làm rõ các dạng đánh giá kết quả học tập, các bàikiểm tra có thể đo lường sự tiến bộ của người học một cách chính xác Các dữliệu thu được từ các bài kiểm tra đó sẽ cung cấp thông tin cho các nhà giáo dục
và xã hội về tiến độ học tập của người học và các lĩnh vực cần phải được cảitiến
Năng lực kiến thức vào thực tiễn là mục tiêu hướng tới của quá trình dạyhọc Để đánh giá được kết quả quá trình dạy học một cách chính xác chúng tacần thiết phải xây dựng bộ tiêu chí rõ ràng, cụ thể
Ket-noi.com kho tai lieu mien phi
Trang 371.5.2 Hướng dẫn đánh giá năng lực theo tiêu chí(Rubric)
Rubric chính là bảng thang điểm chi tiết mô tả đầy đủ các tiêu chí màngười học cần phải đạt được Nó là một công cụ đánh giá chính xác mức độ đạtchuẩn của HSvà cung cấp thông tin phản hồi để HS tiến bộ không ngừng Mộttiêu chí tốt cần có những đặc trưng: Được phát biểu rõ ràng; Ngắn gọn; Quansát được; Mô tả hành vi; Được viết sao cho HS hiểu được Hơn nữa phải chắcchắn rằng mỗi tiêu chí là riêng biệt, đặc trưng cho dấu hiệu của bài kiểm tra
Nội dung Rubric là một tập hợp các tiêu chí liên hệ với mục tiêu học tập
và được sử dụng để đánh giá hoặc thông báo về sản phẩm, năng lực thực hiệnhoặc quá trình thực hiện nhiệm vụ học tập
Rubric bao gồm một hoặc nhiều khía cạnh như năng lực thực hiện đượcđánh giá, các khái niệm và/ hoặc ví dụ làm sáng tỏ yếu tố đang được đánh giá.Các khía cạnh được gọi là tiêu chí, thang đánh giá gọi là mức độ và định nghĩađược gọi là thông tin mô tả Nên giới hạn số tiêu chí 3 và 10 Nếu cần phânbiệt HS Đạt hoặc Không đạt thì sử dụng các mức độ theo số chẵn ( thường 4hoặc 6).Nếu muốn có mức năng lực trung bình thì sử dụng các mức độ theo số
lẻ GV cần cùng HS đặt tên cho các mức độ
Nguyên tắc thiết kế Rubric:
Các mô tả tiêu chí cần phải được diễn đạt theo phổ đi từ mức cao nhấtđến mức thấp nhất hoặc ngược lại
Các mô tả tiêu chí cần phải chỉ ra được ranh giới giữa các mức độ hoànthành đối với từng HSvà giữa các HSvới nhau
Các mô tả tiêu chí cần phải thể hiện được hết các đặc tính khía cạnh củahoạt động hoặc kết quả sản phẩm thực hiện theo mục tiêu
Các mô tả tiêu chí cần phải chỉ ra được những định hướng mà HS hoặc
GV cần hướng tới để thực hiện mục tiêu, giúp họ tự đánh giá và cùng đánh giá
Quy trình thiết kế Rubric:
Bước 1: Xác định chuẩn kiến thức kĩ năng của kiến thức ở nội dung bàihọc
Bước 2: Xác định mục tiêu dạy học theo cấp độ nhận thức, nhiệm vụcông việc
Trang 38Bước 3: Xác định các tiêu chí cùng HS
- Liệt kê các tiêu chí và thảo luận để lựa chọn, phân loại tiêu chí, từ đó
xác định các tiêu chí cần thiết
- Bổ sung thông tin cho từng tiêu chí
- Phân chia các mức độ của mỗi tiêu chí Các mức độ phân bậc này cần
mô tả chính xác mức độ chất lượng tương ứng
- Gắn điểm cho mỗi mức độ, điểm cao nhất ứng với mức cao nhất
- Lập bảng Rubric
Bước 4: Áp dụng thử HS thử nghiệm Rubric đối với các bài làm mẫu do
GV cung cấp Phần thực hành này có thể gây sự tự tin ở HS bằng cách chỉ cho
HS cách GV sử dụng Rubric để đánh giá bài làm của các em thế nào Đồng thời
nó cũng thúc đẩy sự thống nhất giữa HS và GV về độ tin cậy của Rubric;
Bước 5: Điều chỉnh Rubric cho phù hợp dựa trên thông tin phản hồi từviệc áp dụng thử
Bước 6: Sử dụng Rubric cho hoạt động dánh giá và tự đánh giá hoặcđánh giá đồng đẳng đối với HS và GV
Bảng 1.2 Tiêu chuẩn đánh giá một Rubric tốt
Phạm trù đánh giá Các tiêu chí đánh giá phản ánh đầy đủ nội
dung, mục tiêu học tập không?
Mức độ Hướng dẫn có các mức độ khác nhau được đặt
tên và giá trị điểm số phù hợp không?
Tiêu chí Các thông tin có mô tả rõ ràng, thể hiện theo
một chuỗi liên kết và đảm bảo cho sự pháttriển của HS không?
Thân thiện với HS Ngôn ngữ có rõ ràng, dễ hiểu đối với HS
không?
Thân thiện với GV Có dễ sử dụng với GV không?
Tính phù hợp Có thể đánh giá sản phẩm công việc được
không? Nó có thể được dụng dể đánh giá nhucầu không? HS có thể xác định dễ dàngKet-noi.com kho tai lieu mien phi
Trang 39những lĩnh vực phát triển cần thiết không?
Một số lưu ý khi xây dựng Rubric:
GV nên xác định tiêu chí cùng với HS
Việc lựa chọn tiêu chí nào đưa vào Rubric phụ thuộc vào mong đợi của
HS và mục tiêu của đánh giá
Rubric cần thể hiện rõ chức năng, không những đánh giá kiến thức kĩnăng mà còn dánh giá năng lực thực hiện và các năng lực khác nhau của HS
1.5.3 Xây dựng tiêu chí đánh giá năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn của học sinh
Chúng tôi sẽ sử dụng phương pháp đánh giá năng lực VDKTVTT theocác tiêu chí(Rubric)
Tiêu chí đánh giá việc năng lực VDKTVTT:
Tiêu chí đánh giá là những tính chất, dấu hiệu làm căn cứ để nhận biết,xếp loại một sự vật, một khái niệm Căn cứ vào tiêu chí mà có thể tiến hành đođạc, đánh giá được mức độ của năng lực Tiêu chí là dấu hiệu, tính chất đượcchọn làm căn cứ để so sánh, đối chiếu xác định mức độ đạt tới của đối tượngcần đánh giá
Ví dụ: Đạt – Không đạt
Không thành thạo - Thành thạo - Thành thạo ở mức cao
Mức 1-Mức 2- Mức 3-Mức 4 hoặc Mức A-Mức B- Mức C- MứcDKhông bao giờ - Thỉnh thoảng - Thường xuyên
Trong mỗi lĩnh vực, mỗi khía cạnh, cấp độ trong giáo dục đều có tiêu chíđánh giá riêng, việc lực chọn các tiêu chí đánh giá phải căn cứ vào các dấu hiệu
cơ bản, tiêu biểu cho bản chất của đối tượng thì đánh giá mới đảm bảo tínhchính xác
Khi xây dựng tiêu chí dù ở mức nào người t a cũng cố gắng đưa ra nhữngyêu cầu sao cho dễ quan sát, dễ đo đạc được Do đó việc xây dựng các tiêu chíđòi hỏi phải có sự tham gia của các chuyên gia
Trên cơ sở đề xuất các năng lực thành tố của năng lực VDKTVTT và cácmức độ tư duy chúng tôi thấy để đánh giá sự phát triển năng lực VDKTVTTcủa HS trong dạy học có sử dụng bài tập thực tế bao gồm các tiêu chí sau:
Trang 40- Năng lực tái hiện kiến thức
- Năng lực VDKTVTT để giải thích các nội dung thực tế không đổi, đơngiản
- Năng lực độc lập sáng tạo giải quyết tình huống đặt ra trong thực tiễncuộc sống hay sản xuất
- Năng lực vận dụng kiến thức vật lí để phân tích, tổng hợp, đánh giá vềmột vấn đề thực tiễn có liên quan đến vật lí hay thực hiện một công trình nghiêncứu khoa học nhỏ, đơn giản
Bảng 1.3 Các tiêu chí và các mức độ đánh giá việc phát triển năng lực
VDKTVTT
Năng lực thành tố Chỉ số hành vi Tiêu chí chất lượng
A.Tái hiệnđược cáckiến thức vật
lí và hiểuđược mốiquan hệ giữacác kiến thứcvật lí
Trình bày được cáckiến thức vật lí cơbản như khái niệm,biểu thức, định luật,nguyên lí và mốiquan hệ giữa cáckiến thức vật lí
Mức 4
A4.Trình bày được đầy đủcác kiến thức vật lí và mốiquan hệ giữa các kiến thức vật
lí
Mức 3
A3.Trình bày có sai sót nhỏchưa đầy đủ các kiến thức đãhọc và mối quan hệ giữa các
kiến thức vật lí
Mức 2
A2.Trình bày có nhiều sai sótcác kiến thức đã học và mốiquan hệ giữa các kiến thức vật
líMức 1
A1.Không trình bày đuợc cáckiến thức đã học và mối quan
hệ giữa các kiến thức vật líB.Vận dụng
kiến thứcvào thực tiễn
Sử dụng được kiếnthức đã học để giảithích được các nội
Mức 4
B4.Sử dụng được kiến thức đãhọc để giải thích được các nộidung thực tế quen thuộc,Ket-noi.com kho tai lieu mien phi