Việc xác định trách nhiệm bồi thường của người chưa thành niên là vấn đề hết sức phức tạp bởi họ được coi là những chủ thể chưa có đủ năng lực hành vi dân sự, và do vậy bắt họ phải chịu
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN MINH ĐỨC
TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG DO NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN GÂY RA THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN MINH ĐỨC
TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG DO NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN GÂY RA THEO
PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật dân sự và tố tụng dân sự
Mã số: 60 38 01 03
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN VĂN CỪ
HÀ NỘI - 2018
Trang 3LỜI CÁM ĐOAN
Tôi xin cám đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cám đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo
vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CÁM ĐOAN
Nguyễn Minh Đức
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLDS BLHS BTTH BTTHNHĐ
Bộ luật dân sự
Bộ luật hình sự Bồi thường thiệt hại Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Trang 5MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNGDO NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN GÂY RA 8
1.1 Khái niệm về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do người chưa thành niên gây ra 8
1.1.1 Khái niệm người chưa thành niên 8
1.1.2 Khái niệm về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do người chưa thành niên gây ra 13
1.2 Pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do người chưa thành niên gây ra 15
1.2.1 Khái niệm pháp luật về trách nhiệm BTTHNHĐ do người chưa thành niên gây ra 15
1.2.2 Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về trách nhiệm BTTHNHĐ do người chưa thành niên gây ra 16
1.2.3 Vai trò và ý nghĩa của pháp luật về trách nhiệm BTTHNHĐ do người chưa thành niên gây ra 20
Tiểu kết chương I 23
CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH CỦA VIỆT NAM VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG DO NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN GÂY RA 24
2.1 Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra 24
2.1.1 Có thiệt hại xảy ra 25
2.1.2 Có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại 29
2.1.3 Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và thiệt hại 32
2.1.4 Có lỗi 36
2.2 Năng lực bồi thường thiệt hại của người chưa thành niên 40
2.2.1 Người chưa thành niên dưới 15 tuổi gây thiệt hại 40
2.2.2 Người chưa thành niên từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi gây thiệt hại 45
2.2.3 Trường hợp người chưa thành niên có người giám hộ gây thiệt hại 48
2.2.4 Bồi thường thiệt hại do người dưới 15 tuổi gây ra trong thời gian trường học trực tiếp quản lý 51
2.3 Nguyên tắc bồi thường thiệt hại, xác định thiệt hại và mức bồi thường thiệt hại của người chưa thành niên 52
Trang 62.3.1 Nguyên tắc bồi thường thiệt hại 52
2.3.2 Xác định thiệt hại do người chưa thành niên gây ra 57
2.3.3 Mức bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra 65
2.4 Quy định về những trường hợp được miễn hoặc giảm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra 67
2.4.1 Trường hợp được miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người chưa thành niên 68
2.4.1.1 Gây thiệt hại trong trường hợp phòng vệ chính đáng 68
2.4.1.2 Gây thiệt hại trong trường hợp tình thế cấp thiết 69
2.4.2 Trường hợp được giảm trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người chưa thành niên 71
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 73
CHƯƠNG III 74
THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT 74
VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG 74
DO NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN GÂY RA 74
3.1 Đánh giá các quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay về vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra 74
3.1.1 Những điểm đã đạt được 74
3.1.2 Những vướng mắc còn tồn tại và nguyên nhân 76
3.2 Thực tiễn áp dụng luật thông qua một số vụ việc điển hình 77
3.2.1 Vụ án thứ nhất 77
3.2.2 Vụ án thứ hai 81
3.3 Định hướng và giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do người chưa thành niên gây ra 82
3.3.1 Định hướng hoàn thiện quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do người chưa thành niên gây ra 82
3.3.2 Một số giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra 87
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 93
KẾT LUẬN 94
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chế định BTTHNHĐ là một trong những chế định xuất hiện sớm trong pháp luật dân sự BTTHNHĐ được hiểu là trách nhiệm dân sự do gây thiệt hại
mà trước đó giữa bên bị thiệt hại và bên gây thiệt hại không có sự thoả thuận hoặc có sự thoả thuận nhưng sự thoả thuận đó không liên quan đến hậu quả thiệt hại Việc gây thiệt hại cho người khác và phải bồi thường thiệt hại là điều mang tính tất yếu trong xã hội, trong số đó có cả người chưa thành niên gây ra thiệt hại cho người khác
Đối với người chưa thành niên, với quan điểm nhất quán trong việc bảo vệ đối tượng này, Nhà nước đã thúc đẩy việc hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo vệ quyền của người chưa thành niên, bên cạnh đó Nhà nước cũng xác định rõ ràng trách nhiệm của họ khi tham gia vào các quan hệ pháp luật cụ thể, trong đó đã dành sự quan tâm đặc biệt cho đối tượng là những trường hợp người chưa thành niên gây ra thiệt hại cho người khác Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra là một nội dung trong chế định BTTHNHĐ Việc xác định trách nhiệm bồi thường của người chưa thành niên là vấn đề hết sức phức tạp bởi họ được coi là những chủ thể chưa có đủ năng lực hành vi dân sự, và do vậy bắt họ phải chịu một mức bồi thường thiệt hại cụ thể lại là điều còn khó khăn hơn, khi mà truyền thông và thói quen ở Viêt Nam, những người chưa thành niên hầu hết là không có tài sản riêng để tự chịu trách nhiệm do hành vi của mình Vấn đề xác định trách nhiệm dân sự của người chưa thành niên đối với những thiệt hại do họ gây ra cho xã hội ngày càng có ý nghĩa thực tế quan trọng Các quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây
ra đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng để giải quyết các tranh chấp liên quan đến thiệt hại do họ gây ra Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành
Trang 8niên gây ra đã mở ra một hướng giải quyết tranh chấp, theo đó, khi người chưa thành niên gây ra thiệt hại, thì cha, mẹ (nếu còn), người giám hộ, người quản lý hợp pháp của người chưa thành niên đương nhiên bị coi là có lỗi Với quy định
về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra, quyền lợi của người bị thiệt hại được bảo đảm Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra cũng nhằm nâng cáo ý thức trách nhiệm của cha mẹ, gia đình, người có trách nhiệm quản lý và trách nhiệm của cả nhà nước và xã hội trong việc chăm sóc, giáo dục, quản lý người chưa thành niên - thế hệ trẻ được coi là chủ nhân tương lai của đất nước
Mục đích của việc giải quyết bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra không đơn thuần chỉ là hoạt động bồi thường một khoản tiền cho người bị thiệt hại như quan hệ ngang giá mà quan trọng là giáo dục cho bản thân người chưa thành niên biết cách ứng xử và điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp Đồng thời cũng xác định, nhắc nhở cha mẹ, nhà trường, người giám hộ, quản lý phải có trách nhiệm cáo hơn đối với con em, người chưa thành niên thuộc quyền quản lý của họ Mặt khác, sự đặc thù trong khi tiến hành giải quyết các các tranh chấp liên quan đến bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra, những người tiến hành tố tụng phải coi trọng vấn đề hoà giải, thoả thuận, đưa vấn đề hoà giải, thoả thuận lên hàng đầu, tạo điều cho người chưa thành niên tránh khỏi những mặc cảm tâm lý tiêu cực, ảnh hưởng tới cuộc sống sau này Do
đó, tác giả đã lựa chọn đề tài “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
do người chưa thành niên gây ra theo quy định của Luật Việt Nam” làm nội dung Luận văn của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trang 9Trong những năm qua, tại Việt Nam đã có những công trình nghiên cứu, tiếp cận vấn đề BTTHNHĐ nói chung và bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra nói riêng dưới những phương diện khác nhau, cụ thể:
- Luận văn thạc sĩ Luật học của Phạm Kim Anh về đề tài: “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”
- Luận án tiến sĩ Luật học của Lê Mai Anh về đề tài: “Những vấn đề cơ bản
về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong BLDS”
- Luận văn thạc sĩ Luật học của Trần Thị Thu Hiền về đề tài: “Những nguyên tắc bồi thường thiệt hại trong luật dân sự Việt Nam”
- Luận văn thạc sĩ Luật học của Lê Kim Loan về đề tài: “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo BLDS Việt Nam”
- Một số bài viết của Nguyễn Đức Giao về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
- Luận văn thạc sĩ Nguyễn Đức Mai về: “Người giám hộ và trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra” đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân, Tạp chí Dân chủ và pháp luật cũng như các giáo trình Luật dân sự đề cập vấn đề này
- Bài viết của thạc sĩ Mai Thanh Hiếu về: “Xác đi ̣nh trách nhiệm bồi thường của cha, mẹ bị cáo đối với thiệt hại do bi ̣ cáo thực hiện hành vi phạm tội là người chưa thành niên gây ra và tư cách tố tu ̣ng của ho ̣”
- Cuốn sách chuyên khảo: “Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản, sức khỏe và tính mạng” của Tiến sĩ Phùng Trung T ập - Nhà xuất bản Hà Nội
2009
- Luận văn thạc sĩ Vũ Ngọc Chuẩn về “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra theo pháp luật Việt Nam”
Trang 10Về cơ bản, các công trình khoa học đã công bố tại Việt Nam đã giải quyết được nhiều vấn đề lý luận ở các khía cạnh khác nhau liên quan đến nội dung vấn
đề bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra dưới góc độ pháp lý
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu của Luận văn là đưa ra các luận cứ khoa học nhằm phân tích, làm
rõ việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi của người chưa thành niên gây ra, đồng thời thông qua việc luận giải cơ sở lý luận cũng như thực tiễn vấn đề này trong pháp luật Việt Nam nói chung và trọng tâm là BLDS năm
2015 cũng như thực tiễn đời sống xã hội để từ đó đưa ra một số đánh giá, đề xuất giải pháp xây dựng hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong vấn đề này
Để đạt được mục tiêu tổng quát nêu trên, Luận văn có những nhiệm vụ cụ thể sau:
Thứ nhất, phân tích khái niệm, các nguyên tắc và căn cứ phát sinh trách
nhiệm BTTHNHĐ Đồng thời, phân tích khái niệm về người chưa thành niên theo quy định của pháp luật hiện hành;
Thứ hai, nghiên cứu những quy định của pháp luật Việt Nam, trọng tâm là
BLDS 2015 về việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người chưa thành niên Phân tích, so sánh, đối chiếu các quy định của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về cùng vấn đề này, từ đó đưa ra một số đánh giá, nhận xét;
Thứ ba, xuất phát từ thực tiễn các quan hệ xã hội phát sinh có liên quan và
hoạt động áp dụng BLDS tại các cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc xác định trách nhiệm pháp lý của người chưa thành niên trong việc bồi thường thiệt hại, đánh giá tính phù hợp và khả thi của pháp luật Việt Nam nói chung và BLDS 2015 nói riêng để từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện, nâng cáo hiệu quả thực thi pháp luật trong vấn đề này
4 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Trang 11Tiếp cận đối tượng nghiên cứu là trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra dưới khía cạnh pháp lý, cơ sở lý luận và thực tiễn tại Việt Nam qua từng giai đoạn lịch sử, qua đó đưa ra một số giải pháp pháp lý nhằm giải quyết mặt tiêu cực của đối tượng nghiên cứu Luận văn tập trung nghiên cứu những quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên
gây ra theo quy định của BLDS 2015
5 Phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Luận văn được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lenin, bao gồm phép biện chứng duy vật và phương pháp luận duy vật lịch sử Theo đó, vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra được nghiên cứu luôn ở trạng thái vận động và phát triển trong mối quan hệ không tách rời với các yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội Trong quá trình nghiên cứu, luận văn còn dựa trên cơ sở các quan điểm, định hướng của Đảng và Nhà nước ta về quan hệ trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong đời sống
xã hội tại Việt Nam
Luận văn sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau bao gồm:
- Trước tiên là phương pháp nghiên cứu lý thuyết có phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp phân loại và hệ thống và phương pháp lịch sử Đối với phương pháp phân tích và tổng hợp giúp luận văn đi vào phân tích các vấn đề một cách sâu sắc đồng thời có tính liên kết từng mặt, từng yếu tố thành một tổng hòa thống nhất Phương pháp lịch sử được đánh giá cáo khi áp dụng để tìm nguồn gốc phát sinh, quá trình phát triển của đối tương nghiên cứu để từ đó rút ra bản chất và quy luật của đối tượng
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn có: Phương pháp quan sát khoa học, phương pháp điều tra và phương pháp phân tích tổng kết kinh nghiệm Đây là
Trang 12các phương pháp tác động trực tiếp đến đối tượng có trong thực tiễn để làm rõ bản chất và các quy luật của đối tượng Mỗi phương pháp đều tỏ ra hiệu quả đối với từng vấn đề nghiên cứu, điển hình là phương pháp điều tra Đây là phương pháp mà luận văn sử dụng khá nhiều để tìm ra quy luật của vấn đề khi thực hiện khảo sát vấn đề trên diện rộng Đồng thời phương pháp phân tích tổng kết kinh nghiệm được sử dụng triệt để để đánh giá thực tiễn rút ra những kiến nghị đề xuất hiệu quả
Ngoài ra, hệ thống phương pháp nghiên cứu trên, luận văn còn sử dụng một số phương pháp khác như so sánh, đánh giá hệ thống, thu thập thông tin… Mỗi phương pháp đều có những ưu điểm riêng để đạt được hiệu quả cáo nhất Luận văn kết hợp hài hòa các phương pháp này
6 Kết quả nghiên cứu mới của Luận văn
Trước hết, khi nghiên cứu và thực hiện đề tài này, tác giả mong muốn trang
bị thêm kiến thức chuyên sâu cho bản thân, nâng cáo hiệu quả công việc trong vị
trí công tác hiện tại
Đồng thời, các kết quả nghiên cứu của Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tuyên truyền, phổ biến kiến thức pháp luật góp phần nâng cáo nhận thức
về người dân Việt Nam trong vấn đề bồi thường thiệt hại nói chung và bồi thường trong trường hợp thiệt hại xảy ra do hành vi của người chưa thành niên Ngoài ra, Luận văn cũng có giá trị tham khảo cho việc nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật dân sự trong các trường đại học chuyên ngành
Luận văn được thực hiện dựa trên việc kế thừa, phát triển các luận cứ khoa học từ các công trình nghiên cứu trước đó trong lĩnh vực về BTTHNHĐ Trong vấn đề liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra, mặc dù đã có một số đề tài nghiên cứu nhưng Luận văn là đề tài nghiên cứu đầu tiên về vấn đề này kể từ khi BLDS 2015 chính thức được thông qua và
Trang 13có hiệu lực thi hành, cập nhật các văn bản mới nhất, nghiên cứu toàn diện vấn
đề, trong mối tương quan với lịch sử phát triển của chế định BTTHNHĐ cũng như năng lực chủ thể của người chưa thành niên
7 Bố cục của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung của Luận văn bao gồm 3 Chương:
Chương 1 Tổng quan chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra
Chương 2 Pháp luật hiện hành của Việt Nam về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra
Chương 3 Thực tiễn áp dụng và hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra
Trang 14CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNGDO NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN GÂY
RA
1.1 Khái niệm về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do người chưa thành niên gây ra
1.1.1 Khái niệm người chưa thành niên
Vấn đề người chưa thành niên trên thế giới đang được cộng đồng quốc tế quan tâm ngày càng nhiều trong vài thập kỷ qua Đã có những cám kết quốc tế
và những cố gắng bước đầu được thực hiện để đem lại cho người chưa thành niên một tương lai tốt đẹp Tuy nhiên, để đưa ra một khái niệm hoàn chỉnh về người chưa thành niên là điều không đơn giản, bởi hệ thống chính trị, điều kiện phát triển kinh tế, nền văn hóa và hoàn cảnh sống của mỗi quốc gia khác nhau nên khái niệm về người chưa thành niên ở mỗi quốc gia cũng được hiểu không giống nhau Dưới góc độ khoa học, khái niệm người chưa thành niên được tiếp cận theo nhiều cách thức khác nhau, xuất phát từ tính đặc thù của mỗi chuyên ngành, ví dụ:
- Theo quan điểm của ngành nhân trắc học thường dùng chỉ số đo chiều
cáo đứng và chiều cáo ngồi để xác định sự phát triển của con người, người chưa thành niên là người ở trong giai đoạn phát triển nhanh nhất về chiều cáo Dựa trên quá trình phát triển về nhân trắc thì có hai mốc quan trọng đáng chú ý về người chưa thành niên Mốc thứ nhất, từ tuổi dậy thì, bắt đầu từ tuổi 12 đến tuổi
17 ở nữ và tuổi 18 với nam, đây là tuổi người chưa thành niên bắt đầu chuyển sang tuổi trưởng thành Mốc thứ hai, từ tuổi dậy thì bắt đầu từ tuổi 12 đến tuổi 19-20 ở nữ và 21-22 ở nam là tuổi thể lực của hai giới cũng đã bắt đầu đạt mức trung bình của người trưởng thành Theo ngành này, tuổi 19-20 ở nữ và tuổi 21-
Trang 1522 ở nam được đánh dấu là điểm giới hạn của người chưa thành niên chuyển thành người trưởng thành, vì điểm giới hạn này đã đạt tới chỉ số cuối cùng đo chiều cáo đứng và chiều cáo ngồi khi xác định sự phát triển của con người [30]
- Theo quan điểm ngành tâm lý học là ngành thường dựa trên sự phát triển
về cảm xúc, tư duy để phân biệt các giai đoạn phát triển khác nhau của con người, người chưa thành niên được coi là những người trong nhóm từ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi Các nhà tâm lý học cho rằng, giai đoạn này, người chưa thành niên đã nắm được các thao tác trí tuệ phức tạp, có vốn kiến thức khá phong phú làm cho hoạt động trí tuệ của họ trở nên bền vững và có hiệu quả Xuất phát từ đòi hỏi của nội dung chương trình, tính chất hoạt động học tập, học sinh cần nắm các kỹ năng suy nghĩ độc lập, nắm được các phương pháp và kỹ thuật hoạt động trí tuệ độc lập từ đó thúc đẩy sự phát triển tư duy ở người chưa thành niên Họ đã hoàn toàn có khả năng tư duy lý luận và tư duy trừu tượng một cách độc lập, sáng tạo về đối tượng quen biết đã được học ở trường hoặc chưa được học Năng lực quan sát, phân tích, tổng hợp có tính logic hơn Năng lực trí tuệ tiếp tục phát triển và hoàn thiện tối đa 100% và muốn sáng tạo theo sự tưởng tượng của mình
Ở tuổi này người chưa thành niên bắt đầu có suy nghĩ về hướng nghiệp một cách hiện thưc, nhiều em còn có khả năng tạo ra của cải vật chất và kiếm tiền Đây là những đặc điểm trí tuệ nổi bật của người chưa thành niên và được xem là những khả năng ban đầu có thể đáp ứng được những yêu cầu trong các linh vực hoạt động của người lớn Do đó có thể nói, bước qua tuổi 18, người chưa thành niên
có đủ năng lực trí tuệ để đảm đương trách nhiệm của một người trưởng thành [30]
- Theo quan điểm của ngành sinh học, tương tự quan niệm của ngành tâm
lý học, người chưa thành niên là những người trong lứa tuổi từ 15 tuổi đến dưới
18 tuổi Theo họ, đây là giai đoạn con người đang ở thời kỳ hoàn thiện và chín
Trang 16muồi về mặt thể chất Đa số nữ và nam bước vào thời kỳ này đã sau dậy thì, nhưng vẫn phải “hoàn thành nốt” nhiệm vụ và khắc phục tình trạng mất cân đối
do sự chín muồi không đồng đều Đến cuối thời kỳ này, trong đa số trường hợp các quá trình chín muồi sinh học cơ bản đã được hoàn thiện đến mức có thể coi
sự phát triển về sau là thuộc tính về chu kỳ người lớn
Ở Việt Nam, từ 15 tuổi đến 18 tuổi thường tương ứng với lứa tuổi học sinh lớn, học sinh trung học phổ thông Ở cuối lứa tuổi này, cơ thể của nam, nữ đã trưởng thành và sự phát triển thể chất của họ ít khác với sự phát triển của người lớn Thời kỳ trưởng thành và phát triển cơ thể mạnh mẽ và không đồng đều đặc trưng cho lứa tuổi chưa thành niên đã kết thúc và bắt đầu thời kỳ phát triển tương đối êm ả về mặt thể chất Ở cuối tuổi này, những yếu tố thể lực như chiều cáo, trọng lượng đã tương đối ổn định Nhịp độ phát triển chiều cáo chậm lại một cách rõ rệt Sức mạnh cơ bắp và khả năng làm việc tăng tiến rõ rệt, thể tích lồng ngực tăng lên, hệ xương và các xương ống đã hoàn toàn được cốt hoá, sự hình thành và phát triển về mặt chức năng của các mô và các cơ quan đã kết thúc Do vậy, vào cuối tuổi 18, về mặt thể chất, con người đã đủ khả năng thực hiện các nhiệm vụ đòi hỏi về sức khoẻ như sinh sản, lao động [30]
- Theo quan điểm luật học thuật ngữ người chưa thành niên được sử dụng
để nhấn mạnh tới những giới hạn về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý đối với đối tượng đặc thù này, thông qua đó để có những quy định cụ thể, phù hợp nhằm phân biệt với những nhóm đối tượng khác Với tính chất như vậy, người chưa thành niên có thể gồm tất cả những người dưới 18 tuổi (hoặc trên dưới một
độ tuổi nhất định), nhóm tuổi về cơ bản chưa phải chịu hoặc chịu một phần trách nhiệm pháp lý đối với hành vi của mình hoặc bị giới hạn về một số quyền và nghĩa vụ
Trang 17Điều này có thể thấy rõ trong các văn bản pháp luật quốc tế như: Bản quy tắc của Liên hợp quốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 14/12/1990, tại Mục II, điểm 11 (a)
quy định “người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi Giới hạn tuổi dưới mức
này cần phải được pháp luật xác định và không được tước quyền tự do của người chưa thành niên” Hay Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989 chỉ
đưa ra ngưỡng độ tuổi cáo nhất là 18 tuổi để xác định tuổi của trẻ em: “Trẻ em là
những người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi trưởng thành niên sớm hơn” Như vậy, khi đưa khái niệm người chưa
thành niên, pháp luật quốc tế không dựa hoàn toàn, trực tiếp vào đặc điểm tâm, sinh lý hay sự phát triển thể chất, tinh thần… mà trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua việc xác định độ tuổi Đồng thời pháp luật quốc tế cũng đưa ra khả năng
“mở” cho các quốc gia tùy điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa, truyền thống riêng
có thể quy định độ tuổi thành niên sớm hoặc muộn hơn
Ở nhiều quốc gia bao gồm Úc, Ấn Độ, Philipines, Brazil, Croatia và Colombia, trẻ vị thành niên xác định là một người dưới tuổi 18 [34] Trong khi Nhật Bản, Đài Loan, Thái Lan và Hàn Quốc, trẻ vị thành niên là người dưới
20 tuổi Pháp luật New Zealand quy định trẻ vị thành niên là người dưới 18 tuổi
là thích hợp, nhưng hầu hết các quyền của tuổi trưởng thành được giả định ở độ tuổi thấp hơn: ví dụ, giao kết hợp đồng và có một ý chí là có thể hợp pháp ở tuổi
15 [35]
Tóm lại, từ việc lựa chọn phương pháp tính tuổi thời gian làm cơ sở cho việc xác định người chưa thành niên đến việc xác định giới hạn độ tuổi tối đa hay tối thiểu của người chưa thành niên của mỗi chuyên ngành trong điều kiện khác nhau ta thấy được một điểm chung của người chưa thành niên là người chưa trưởng thành, chưa phát triển đầy đủ về mặt thể chất, tinh thần và đa số các quan
Trang 18điểm lấy giới hạn độ tuổi tối đa là 18 tuổi Như vậy theo cách hiểu thông dụng có
thể đưa ra khái niệm: người chưa thành niên là những người dưới 18 tuổi
Khái niệm người chưa thành niên khác với khái niệm trẻ em Trong thực tiễn cuộc sống, con người hiểu giai đoạn để coi là trẻ em mang một ý nghĩa trừu tượng không thống nhất Về mặt khoa học thì trẻ em là: Giai đoạn phát triển của đời người từ lúc sơ sinh cho đến tuổi trưởng thành Có đặc điểm nổi bật là sự tăng trưởng và phát triển liên tục về thể chất và tâm thần Quá trình phát triển của trẻ em trải qua các thời kì: sơ sinh, bú mẹ, trước khi đi học, đi học và tuổi dậy thì Ở mỗi thời kì, có những đặc điểm sinh học khác nhau nên việc nuôi dưỡng, giáo dục, chăm sóc sức khỏe cung khác nhau, phù hợp với những đặc
điểm của mỗi thời kỳ [25]
Trong hệ thống pháp luật hiện hành của nước ta, có rất nhiều đạo luật đề cập tới trẻ em nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cũng như sự ưu đãi nhất định cho các em trong một số lĩnh vực Tuy nhiên, cũng chính trong các đạo luật này, độ tuổi của trẻ em lại đang có sự vênh nhau khá nhiều Ví dụ theo BLDS
2015 tại Điều 21 về người chưa thành niên không đưa ra định nghĩa hay khái niệm về trẻ em Nhưng điều luật có đưa ra ba phạm vi độ tuổi khác nhau để xác định năng lực chịu trách nhiệm của người chưa thành niên đó là: chưa đủ 6 tuổi,
từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi và từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi Trong khi
đó, Điều 90 BLHS 2015 quy định người từ đủ 14 tuổi đến 18 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự Hai quy định này cho thấy sự lệch nhau giữa hai bộ luật về khả năng chịu trách nhiệm pháp luật của người chưa thành niên cũng như
mốc tuổi được quan niệm là trẻ em
Theo Nghị định thư của Liên hợp quốc về phòng ngừa, trấn áp và trừng trị buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em đã được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua, có hiệu lực từ ngày 25/12/2003 thì trẻ em là người dưới 18 tuổi
Trang 19Tương tự, các công ước, văn kiện quốc tế liên quan đến việc bảo vệ quyền con người, quyền của phụ nữ và trẻ em mà Việt Nam đã tham gia ký kết và là thành viên như: Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ, Công ước về quyền trẻ em, Nghị định thư không bắt buộc bổ sung cho Công ước
về quyền trẻ em về buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em, các thỏa thuận, ghi nhớ với một số nước có chung đường biên giới với nước ta về hợp tác chống buôn bán phụ nữ, trẻ em, và hiện Việt Nam đang nghiên cứu các điều kiện để phê chuẩn Công ước về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia và các Nghị định thư bổ sung về chống buôn bán phụ nữ, trẻ em
và chống đưa người di cư trái phép… đều có quy định tương tự Trong khi đó, định nghĩa trẻ em của pháp luật Việt Nam coi trẻ em là người dưới 16 tuổi Như vậy là sự không tương thích đã thể hiện rõ ràng
Nhưng có thể ngầm hiểu rằng, khái niệm người chưa thành niên bao hàm
cả trẻ em, nhưng khái niệm trẻ em thì bao gồm cả người chưa thành niên nhưng
không phải là tất cả
1.1.2 Khái niệm về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do người chưa thành niên gây ra
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại là chế định quan trọng của pháp luật Dân
sự quốc tế nói chung và của Việt Nam nói riêng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho những người bị thiệt hại từ hành vi vi phạm nghĩa vụ của chủ thể khác Ở các nước khác nhau thì vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại được quy định khác nhau về hình thức bồi thường và cách xác định thiệt hại Tuy
nhiên, tất cả đều hướng tới một nguyên tắc thống nhất: "Người gây thiệt hại phải
bồi thường thiệt hại" Cụ thể:
Điều 1382 BLDS Pháp quy định: "Bất cứ hành vi nào của một người gây
thiệt hại cho người khác thì người đã gây thiệt hại do lỗi của mình phải bồi
Trang 20thường thiệt hại" Điều 1383 BLDS Pháp cũng quy định: "Mỗi người phải chịu trách nhiệm về thiệt hại do mình gây ra, không những do hành vi mà còn do sự cẩu thả hoặc không thận trọng" [3]
Điều 420 BLDS Thái Lan quy định: "Một người cố tình hay vô tình làm
tổn thương một cách trái pháp luật đến đời sống thân thể, sức khỏe, tự do, tài sản hoặc bất cứ quyền nào của người khác thì bị coi là phạm một hành vi sai trái
và có nghĩa vụ bồi thường tổn thương đó" [5]
Điều 709 BLDS Nhật Bản quy định: Yêu cầu bồi thường thiệt hại sẽ có
giá trị đối với việc bồi thường các thiệt hại mà bình thường sẽ xảy ra do việc không thực hiện nghĩa vụ Trái chủ có quyền được bồi thường cả những thiệt hại xảy ra trong những tình huống đặc biệt, nếu các bên biết trước hoặc phải biết trước những tình huống đó [4]
Trong BLDS Việt Nam năm 2005, vấn đề trách nhiệm BTTHNHĐ được
quy định thành một chương riêng (chương XXI) Theo Điều 604: "người nào do
lỗi cố ý hoặc vô ý xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy
tín, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm đến danh
dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc các chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường" [11]
Như vậy, trách nhiệm BTTHNHĐ theo quan niệm pháp lý của Việt Nam
và hầu hết các quốc gia trên thế giới đều được hiểu là hình thức trách nhiệm dân
sự mang tính tài sản áp dụng đối với chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại nhằm bù đắp những tổn thất về vật chất và tinh thần cho bên bị thiệt hại
Từ khái niệm trách nhiệm BTTHNHĐ kết hợp với khái niệm người chưa thành niên nói trên có thể rút ra khái niệm trách nhiệm BTTHNHĐ do người chưa thành niên gây ra như sau: Trách nhiệm BTTHNHĐ do người chưa thành
Trang 21niên gây ra là hình thức trách nhiệm dân sự mang tính tài sản áp dụng đối với
chủ thể là người dưới 18 tuổi có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại nhằm
bù đắp những tổn thất về vật chất và tinh thần cho bên bị thiệt hại
1.2 Pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do người chưa thành niên gây ra
1.2.1 Khái niệm pháp luật về trách nhiệm BTTHNHĐ do người chưa thành niên gây ra
Trong số các biện pháp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại thì biện pháp pháp lý giữ vai trò cũng như tầm quan trọng đặc trưng Pháp luật với tư cách là hệ thống quy phạm điều chỉnh hành vi xử sự con người
sẽ có tác dụng cũng như ảnh hưởng rất lớn đến chủ thể có hành vi gây thiệt hại cho người khác Hiện nay, pháp luật trách nhiệm BTTHNHĐ do người chưa thành niên gây ra chưa được quy định thành một chế định riêng biệt mà nằm trong hệ thống pháp luật dân sự về bồi thường thiệt hại
Pháp luật bồi thường thiệt hại là một bộ phận của hệ thống pháp luật dân
sự, nó bao gồm toàn bộ những quy định về Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại; Nguyên tắc bồi thường thiệt hại; Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại; Xác định thiệt hại; Bồi thường thiệt hại trong một số trường hợp cụ thể
Từ những phân tích trên có thể đi tới khái niệm pháp luật bảo vệ và phát
triển rừng như sau: Pháp luật trách nhiệm BTTHNHĐ do người chưa thành niên
gây ra là tổng thể các quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa các cơ quan QLNN, các tổ chức, cá nhân và những người có liên quan tới hành vi gây thiệt hại do người chưa thành niên gây ra và bảo đảm thực hiện bằng cưỡng chế nhà nước
Trang 221.2.2 Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về trách nhiệm BTTHNHĐ do người chưa thành niên gây ra
Pháp luật về trách nhiệm BTTHNHĐ là một trong những chế định pháp luật có lịch sử hình thành lâu đời của pháp luật dân sự Việt Nam Sự phát triển của hệ thống pháp luật dân sự nói chung và pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói riêng gắn liền với lịch sử về văn hóa, dân tộc cũng như quá trình phát triển kinh tế, chính trị, xã hội của dân tộc Việt Nam Bởi pháp luật về trách nhiệm BTTHNHĐ do người chưa thành niên gây ra không được quy định thành một hệ thống pháp luật độc lập, tách biệt mà được quy định nằm trong hệ thống pháp luật dân sự về bồi thường thiệt hại Vì vậy cho nên quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về trách nhiệm BTTHNHĐ do người chưa thành niên gây ra cũng gắn liền với quá trình hình thành và pháp triển của hệ thống pháp luật dân sự về bồi thường thiệt hại cụ thể như sau:
1.2.2.1 Giai đoạn trước năm 1945
Ở Việt Nam trước năm 1945, trách nhiệm dân sự do hành vi gây thiệt hại
về tài sản, sức khỏe, tính mạng cũng được hình thành từ rất sớm, được thể hiện trong các Bộ luật cổ của Việt Nam Một trong số đó, quy định về vấn đề này được thể hiện rõ nhất trong Luật Hồng Ðức (Hay còn được gọi là Quốc Triều Hình Luật) Liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người chưa thành niên gây ra thì tại Bộ luật Hồng Đức quy định trách nhiệm dân sự của cha
mẹ phải bồi thường những thiệt hại do các con còn nhỏ gây ra cho người khác và trách nhiệm của ông chủ, bà chủ về tài sản trong trường hợp đầy tớ của mình gây
ra thiệt hại Chẳng hạn, Điều 475 của Quốc triều hình luật quy định trách nhiệm của cha mẹ phải bồi thường tang vật thay cho con khi con vi phạm những điều
mà pháp luật cấm Cụ thể: “Các con ở nhà với cha mẹ, mà đi ăn trộm, thì cha bị
xử tội biếm; ăn cướp thì cha bị xử tội đồ; nặng thì xử tăng thêm tội; và đều phải
Trang 23bồi thường thay cho con những tang vật ăn trộm ăn cướp” Với quy định này Bộ luật Hồng Đức đã để lại những dấu ấn sâu đậm cho đến tận ngày nay với trình độ lập pháp vượt xa các thời đại phong kiến khác khi đề cập đến năng lực trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cha mẹ khi con chưa thành niên vi phạm pháp luật
1.2.2.2 Giai đoạn từ năm 1945 đến trước năm 1995
Bộ dân luật Bắc kỳ được áp dụng ở miền Bắc nước ta đến cuối năm 1959
và sau đó tòa án áp dụng đường lối xét xử được Tòa án nhân dân tối cáo tổng kết kinh nghiệm xét xử hàng năm và các văn bản hướng dẫn xét xử của Tòa án nhân dân tối cáo Trong lĩnh vực bồi thường thiệt hại có Thông tư 173-UBTP ngày 23/3/1972 của Tòa án nhân dân tối cáo hướng dẫn xét xử về BTTHNHĐ và vấn
đề này đã được quy định một cách rõ nét hơn Trách nhiệm bồi thường thiệt hại
do người vị thành niên hoặc người mới trưởng thành gây ra, có sự phân biệt trách nhiệm của pháp nhân và cá nhân Thông tư còn hướng dẫn cách tính toán thiệt hại và ấn định mức bồi thường sức khỏe, tính mạng bị xâm phạm Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả chú trọng phân tích vào phần bồi thường trách nhiệm thiệt hại do cá nhân là người vị thành niên hoặc người mới trưởng thành gây ra quy định tại mục 2 phần B trong thông tư 173/TANDTC để so sánh với các quy định hiện hành Đối với người vị thành niên có hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại thì không có trách nhiệm bồi thường; còn người đã thành niên (đủ 18 tuổi trở lên) phải có trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại Tuy nhiên, cần chú ý một số vấn đề sau đây: “a) Trách nhiệm về bồi thường thiệt hại do người vị thành niên gây ra Người vị thành niên không hiểu được ý nghĩa hành vi dân sự của mình nên họ không có năng lực hành vi dân sự, do đó không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại
do họ gây ra Vì vậy, cha mẹ (hay người giám hộ) là những người có nghĩa vụ
Trang 24nuôi nấng, giáo dục con cái (Điều 17 của Luật hôn nhân và gia đình) phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do con cái còn vị thành niên gây ra[24]
Tuy nhiên, trong thời gian một tổ chức trách nhiệm quản lý người vị thành niên, rõ ràng là có lỗi đối với thiệt hại xảy ra, thì tổ chức đó phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người vị thành niên gây nên (thí dụ: theo chủ trương của nhà trường phổ thông, giáo viên dẫn học sinh đi dỡ trường cũ lấy gạch về xây thêm lớp, giáo viên đặt kế hoạch dỡ tường không cẩn thận, học sinh
dỡ đổ tường làm cho hai em chết, một em bị thương) Riêng người vị thành niên nào vào khoảng 16 tuổi, đã có sức lao động sản xuất, có công việc làm, phần nào
đã hiểu được ý nghĩa hành vi dân sự của mình, tuy chưa hiểu biết đầy đủ, nên họ
đã có một phần năng lực hành vi dân sự, do đó phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do họ gây ra bằng thu thập hay tài sản của họ Nếu họ bồi thường không
đủ, thì cha mẹ (hay người giám hộ) phải bù phần còn thiếu
* Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra theo
Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 20/1/1988 của Hội đồng thẩm phán hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình Trên tinh thần hướng dẫn việc áp dụng các quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình, trong đó
có vấn đề nghĩa vụ của cha mẹ đối với con cái, Điểm B, mục 4 của Nghị quyết quy định:
B Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của con chưa thành niên gây ra (Điều 25)
Xuất phát từ yêu cầu là phải bảo đảm quyền lợi của người bị thiệt hại và trách nhiệm của cha mẹ là phải giáo dục, quản lý con chưa thành niên, nên trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của con chưa thành niên gây ra như sau:
Trang 25- Về nguyên tắc, cha mẹ chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của con dưới 16 tuổi gây ra Tuy nhiên, nếu con có tài sản riêng
mà cha mẹ không có khả năng bồi thường đầy đủ hoặc không có khả năng bồi thường thì lấy tài sản của con để bồi thường cho đủ
- Con chưa thành niên từ 16 đến 18 tuổi mà có tài sản riêng thì phải bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của mình gây ra bằng tài sản riêng Nếu tài sản riêng của con không đủ để bồi thường hoặc không có tài sản riêng thì cha mẹ phải bồi thường cho đủ Con đã thành niên mà có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho người khác thì con phải bồi thường, cha mẹ không có trách nhiệm bồi thường cho con Nếu con còn ở chung với cha mẹ có đóng góp vào tài sản chung của gia đình thì phần đóng góp đó được coi là tài sản của con, được trích ra để bồi thường Tuy nhiên, nếu con đã thành niên nhưng không có năng lực hành vi như mắc bệnh tâm thần mà cha mẹ có trách nhiệm trông giữ thì cha
mẹ phải bồi thường thiệt hại do con gây ra
Người chưa thành niên dưới 16 tuổi gây thiệt hại cho người khác thì cha
mẹ là bị đơn, nhưng Tòa án có thể hỏi người chưa thành niên để điều tra
Người chưa thành niên từ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi chịu trách nhiệm bồi thường bằng tài sản riêng của mình thì họ là bị đơn, nhưng cha mẹ phải được tham gia tố tụng với tư cách là đại diện hợp pháp của bị đơn Nếu tài sản của con không đủ để bồi thường thì cha mẹ là đồng bị đơn, nếu con không có tài sản thì cha mẹ là bị đơn [9]
1.2.2.3 Giai đoạn từ năm 1995 đến nay
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra theo quy định của BLDS 1995 và 2005 Trong BLDS 1995 và được sửa đổi bổ sung năm 2005, các quy định về bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra
Trang 26không thay đổi, bổ sung mà thay đổi số các điều luật Quy định bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra gồm các điều luật sau đây:
Điều 611 BLDS 1995 quy định: Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân; Điều 625 Bồi thường thiệt hại do người dưới mười lăm tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự gây ra trong thời gian trường học, bệnh viện, các tổ chức khác trực tiếp quản lý
Kế thừa những quy định này, Điều 606 BLDS 2005 quy định: Năng lực
chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân; tiếp đó, Điều 621 quy định: Bồi thường thiệt hại do người dưới mười lăm tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự gây ra trong thời gian trường học, bệnh viện, tổ chức khác trực tiếp quản
Trong đời sống thưc ̣ tế hi ện nay bên cạnh những thiệt hại do hành vi của những người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự gây ra, thì cũng có không nhỏ những thiệt hại do người chưa thành niên gây ra, thực tế có những thiệt hại rất lớn, để lại hậu quả ảnh hưởng nghiêm trọng cho chính nạn nhân, gia đình nạn nhân, nhà nước và toàn xã hội, bởi khi gây ra những thiệt hại đó, người chưa thành niên vẫn chưa có đầy đủ năng lực để nhận thức và điều khiển được hành vi của mình một cách đúng đắn
Trang 27Vấn đề xác định trách nhiệm dân sự của người chưa thành niên đối với những thiệt hại do họ gây ra cho xã hội ngày càng có ý nghĩa thưc ̣ tế quan trọng Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng pháp luật nhiều vấn đề mới đã xuất hiện và gây khó khăn trong thực thi pháp luật khi phải áp dụng trách nhiệm dân sự Để đối phó với tình trạng này, từ lâu các luật gia trên thế giới đã bàn luận nhiều về chủ đề: làm sao có thể tạo thêm những điều kiện thuận lợi nhất để bảo vệ nhanh
và kịp thời khi các quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể bị xâm hại Nhất là trong điều kiện chủ thể gây ra thiệt hại là người không có năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, vậy vấn đề đó sẽ được giải quyết như thế nào cho thỏa đáng? Các quy định của pháp luật về BTTHNHĐ do người chưa thành niên gây ra đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng để giải quyết các tranh chấp liên quan đến thiệt hại do họ gây ra Vì vậy, việc nghiên cứu và đề xuất giảm nhẹ trách nhiệm cung cấp chứng cứ và chứng minh của bên bị thiệt hại là xu thế được quan tâm Ngoài ra, cơ sở của trách nhiệm dân sự nói chung còn được xây dựng trên nguyên tắc lỗi Theo nguyên lý truyền thống, người bị thiệt hại muốn được bồi thường còn phải dẫn chứng lỗi của người gây thiệt hại; ngoài ra họ còn có trách nhiệm chứng minh sự thiệt hại (những tổn thất thực tế) do người có hành vi vi phạm pháp luật gây ra phải gánh chịu khi do chính lỗi của người đó gây ra Trách nhiệm BTTHNHĐ do người chưa thành niên gây ra đã mở ra một hướng giải quyết tranh chấp, theo đó, khi người chưa thành niên gây ra thiệt hại, thì cha,
mẹ (nếu còn), người giám hộ, người quản lý hợp pháp của người chưa thành niên đương nhiên bị coi là có lỗi
Với quy định về trách nhiệm BTTHNHĐ do người chưa thành niên gây ra, quyền lợi của người bị thiệt hại được bảo đảm Việc xác định trách nhiệm trên nguyên tắc lỗi và trách nhiệm chứng minh của người có quyền, lợi ích bị xâm phạm nhiều khi rất phức tạp và có thể còn có những bất lợi cho người bị thiệt
Trang 28hại Những trường hợp thiệt hại thực tế xảy ra do hành vi của người chưa thành niên mang lại, nhưng họ lại không có lỗi Vì vậy, trong những trường hợp này, nếu bắt buộc người bị thiệt hại phải dẫn chứng lỗi tức là đã gián tiếp hạn chế quyền được đòi bồi thường của họ
Trách nhiệm BTTHNHĐ do người chưa thành niên gây ra cũng nhằm nâng cáo ý thức trách nhiệm của cha mẹ, gia đình, người có trách nhiệm quản lý
và trách nhiệm của cả nhà nước và xã hội trong việc chăm sóc, giáo dục, quản lý người chưa thành niên - thế hệ trẻ được coi là chủ nhân tương lai của đất nước Cha mẹ, gia đình, người có trách nhiệm quản lý phải chú ý tới con cái, người mình giám hộ, quản lý gây thiệt hại cho người khác Để thực hiện nghĩa vụ đó,
họ phải tuân thủ các quy tắc và có tinh thần trách nhiệm trong việc chăm sóc, giáo dục, quản lý con cái, người mà mình giám hộ, quản lý cáo hơn nữa chính là nêu cáo trách nhiệm của nhà nước và của toàn xã hội trong việc giáo dục, nâng cáo ý thức chấp hành pháp luật của người chưa thành niên để thánh những nguy
cơ và hậu quả đáng tiếc cho chính những người chưa thành niên, gia đình và cả
xã hội
Trang 29Tiểu kết chương I
Bằng phương pháp nghiên cứu, phân tích, tiếp cận khoa học để xác định những nội dung lý luận quan trọng về Trách nhiệm BTTHNHĐ của người chưa thành niên, tác giả đã tập trung làm rõ các khái niệm liên quan Dưới góc độ luật học, luận văn đã luận giải và xây dựng khái niệm, nội dung, đặc điểm, ý nghĩa và tóm lược nội dung pháp luật của Trách nhiệm BTTHNHĐ của người chưa thành niên
Ngoài ra, ở chương này tác giả còn tóm lược được quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về Trách nhiệm BTTHNHĐ của người chưa thành niên qua các giai đoạn lịch sử của pháp luật nước ta: Luật Hồng Đức; Giai đoạn tồn tại Luật Gia Long; Giai đoạn hình thành các Bộ Dân luật và giai đoạn pháp luật Việt Nam hiện đại
Những vấn đề tác giả trình bày, phân tích ở Chương 1 sẽ là tiền đề, cơ sở
để để tiếp tục nghiên cứu và luận giải thực trạng pháp luật, thực tiễn thực hiện pháp luật về Trách nhiệm BTTHNHĐ của người chưa thành niên ở Việt Nam thời gian qua, đồng thời cũng là cơ sở để kiến nghị hoàn thiện pháp thời gian tới
Trang 30CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH CỦA VIỆT NAM VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG DO NGƯỜI
CHƯA THÀNH NIÊN GÂY RA 2.1 Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra
BTTH do người chưa thành niên gây ra là một loại trách nhiệm pháp lý
nên ngoài những đặc điểm của trách nhiệm pháp lý nói chung như do cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng, áp dụng đối với người có hành vi vi phạm pháp luật, luôn mang đến hậu quả bất lợi cho người bị áp dụng, được đảm bảo thực hiện bằng cưỡng chế nhà nước… thì trách nhiệm BTTH do NTCN gây ra còn có những đặc điểm riêng là chịu sự điều chỉnh của BLDS (Điều 599 Chương XX), các văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành, về căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH cũng như năng lực chịu trách nhiệm của chủ thể gây thiệt hại
Căn cứ để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại là cơ sở làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho một hoặc nhiều chủ thể nhất định trước một hoặc nhiều chủ thể bị gây thiệt hại Mặc dù các căn cứ này BLDS không quy định cụ thể, tuy nhiên chúng có thể được nhận diện thông qua quy định sau:
Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường [13] Thông qua quy định này có thể rút ra được các yếu tố làm
căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm : phải có thiệt hại xảy ra; Phải có hành vi trái pháp luật; Phải có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại Nhưng đối với người chưa thành niên gây thiệt hại thì như
đã phân tích ở chương 1, các căn cứ để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại
do họ gây ra có thể được xác định dưa trên các điều kiện sau: Có thiệt hại xảy ra;
có hành vi trái pháp luật; có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và
Trang 31thiệt hại xảy ra; có yếu tố lỗi (của cha, mẹ, người giám hộ, quản lý người chưa thành niên)
2.1.1 Có thiệt hại xảy ra
Xác định được thiệt hại trong BTTHNHĐ được coi là một trong những điểm cốt lõi và quan trọng cần phải biết trước tiên Mức độ của thiệt hại trên thực tế sẽ quyết định phạm vi trách nhiệm bồi thường thiệt hại Trong Từ điển Tiếng Việt xuất bản năm 2006 của Nhà xuất bản Đà Nẵng, thiệt hại được hiểu là những sự mất mát về người, về của cải vật chất hoặc tinh thần Khái niệm thiệt hại theo pháp luật dân sự Việt Nam là sự giảm sút các lợi ích tài sản hoặc các lợi ích nhân thân so với tình trạng hiện hữu hoặc sự giảm sút các lợi ích mà chủ thể
bị thiệt hại sẽ chắc chắn có được trong tương lai trong một điều kiện bình thường nếu không có việc gây thiệt hại xảy ra Tuy nhiên, để xác định đúng thiệt hại nhằm ấn định mức bồi thường cụ thể cho chủ thể gây thiệt hại lại là một vấn đề không hề đơn giản
3 Thiệt hại về tinh thần là tổn thất về tinh thần do bị xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín và các lợi ích nhân thân khác của một chủ thể
Quy định trên cho thấy thiệt hại gồm có hai loại:
- Thiệt hại về vật chất: Gồm thiệt hại vật chất do tài sản, do sức khỏe, tính
mạng, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm: các lọai thực hiện này được quy
Trang 32định cụ thể trong BLDS từ các Điều 589 đến 592 Ngòai các Điều luật này, BLDS 2015 còn có các quy định mới được bổ sung tại các Điều 606 và 607 về bồi thường do xâm phạm thi thể và xâm phạm mồ mả dẫn đến cách hiểu rằng còn có những dạng thực hiện khác Điều này là hoàn toàn dễ hiểu khi mà mồ mả
và thi thể không thể được coi là tài sản theo nghĩa truyền thống cũng như thực tế
Trong số các thiệt hại về vật chất có hai loại thiệt hại Thứ nhất là thiệt hại trực tiếp, là những thiệt hại bên bị thiệt hại đã phải gánh chịu Thứ hai là thiệt hại gián tiếp, là những lợi nhuận mà họ bị mất do việc vi phạm Như vậy, khái niệm
về tổn thất phải gánh chịu cần được hiểu theo nghĩa rộng Nó bao gồm việc hư hao tài sản của bên bị thiệt hại, hoặc là việc bên này phải gánh chịu những nghĩa
vụ, khi bên này, do không được nhận được lợi ích từ bên có nghĩa vụ, buộc phải hoàn thành công việc của mình Thiệt hại về lợi nluận, hoặc còn gọi là hậu quả thiệt hại, là những lợi nhuận mà đáng lẽ bên bị vi phạm đã có được, nếu như thỏa thuận được thực hiện một cách nghiêm chỉnh Việc xác định thiệt hại về lợi nhuận này thường là dự đoán, nên việc xác định chính xác cũng rất khó kliăn Ví dụ: A - một cá sĩ, huỷ bỏ hợp đồng với B - người tổ chức chương trình A phải bồi thường thiệt hại cho B không nhũng chi phí mà B đã trả cho việc chuẩn bị buổi hoà nhạc, mà cả thiệt hại về lợi nhuận do việc huỷ bỏ buổi hoà nhạc này
- Thiệt hại về tinh thần: Theo Điểm 1.1, Mục 1, Phần I Nghị quyết
03/2006/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán ngày 08/7/2006 hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLDS 2005 về BTTHNHĐ, các thiệt hại tinh thần được hiểu như sau:
+ Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của cá nhân được hiểu là do sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm mà người bị thiệt hại hoặc do tính mạng bị xâm phạm mà người thân thích gần gũi nhất của nạn nhân phải chịu đau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm, bị
Trang 33giảm sút hoặc mất uy tín, bị bạn bè xa lánh do bị hiểu nhầm và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà họ phải chịu (mô tả qua các tình huống phát tán ảnh khỏa thân để đánh ghen, việc hủy họai khuôn mặt dẫn đến khó khăn trong giao tiếp hay trong họat động nghề nghiệp …)
+ Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của pháp nhân và các chủ thể khác không phải là pháp nhân (gọi chung là tổ chức) được hiểu là do danh
dự, uy tín bị xâm phạm, tổ chức đó bị giảm sút hoặc mất đi sự tín nhiệm, lòng tin vì bị hiểu nhầm và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà tổ chức phải chịu Lưu ý là sự giảm sút
uy tín này thực sự có ảnh hưởng đến họat động bình thường của tố chức, đó có thể là uy tín và thu nhập trong kinh doanh của doanh nghiệp hoặc hình ảnh xã hội của các tổ chức từ thiện
Nguyên tắc của việc tính toán thiệt hại là những thiệt hại về vật chất (thiệt hại về tài sản) hoặc là những chi phí những thu nhập thực tế bị giảm sút hay bị mất do có sự thiệt hại về tính mạng, sức khỏe đưa đến Hoặc là những lợi ích vật chất thực tế khác bị mất đido người vi phạm đã gây ra cho người bị thiệt hại Một số luật gia Sài Gòn trước đây và một số luật gia phương tây cho rằng việc xác định thiệt hại phải có đủ ba điều kiện sau đây:
- Sự thiệt hại phải là sự đụng chạm đến quyền lợi chính đáng Tức là quyền lợi đó phải phù hợp với quy định của pháp luật
- Sự thiệt hại phải chắc chắn hoặc có đủ các yếu tố để ước lượng nó là có thật hoặc sẽ có trên một cơ sở khoa học
- Sự thiệt hại phải trực tiếp, vì rằng pháp luật không thể bắt buộc người gây thiệt hại phải gánh chịu tất cả hậu quả của hành vi của mình một cách vô tận
Trang 34(không có giới hạn) mà chỉ là thiệt hại trực tiếp do kết quả của hành vi có lỗi và trái pháp luật
Một số án lệ của Pháp còn xác định thiệt hại thành một khoản tiền nhất định và người có hành vi xâm hại đến các giá trị tinh thần như: tôn giáo, tín ngưỡng phải bồi thường Tuy nhiên, quan điểm này cũng gặp phải những chỉ trích của dư luận xã hội [17]
Còn trong pháp luật Việt Nam hiện hành, thiệt hại với tư cách là căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường phải có các đặc tính sau:
- Là thiệt hại thực tế: thiệt hại là có thực, có thể nhận thức được và không phải là các thiệt hại có tính chất tưởng tượng và cũng không phải là các sự giảm sút lợi ích mà không chắn chắn có được
- Thiệt hại phải có thể được tính thành tiền: dù qua bất kỳ phương tiện nào
và cách thức tính toán nào thì thiệt hại phải được tính tóan thành một lượng tiền
tệ nhất định, làm cơ sở đầu tiên cho việc bồi thường
- Thiệt hại phải có quan hệ mật thiết với hành vi gây thiệt hại: nói cách khác quan hệ giữa hai yếu tố này là không tách biệt quá xa Pháp luật Anh - Mỹ
có nhiều quy định và án lệ về vấn đề này
Mọi thiệt hại đều tồn tại khách quan, không phụ thuộc ý thức chủ quan của người đánh giá Song, việc đánh giá thiệt hại khách quan lại được thông qua ý thức chủ quan của con người Nghĩa là, con người sống trong thế giới khách quan, bị thế giới khách quan đó tác động, chi phối nên khả năng đánh giá thiệt hại khách quan phụ thuộc vào nhiều yếu tố Tuy nhiên, không có nghĩa là những người có thẩm quyền đánh giá thiệt hại trong các vụ án có thể tùy tiện đánh giá
mà việc đánh giá đó phải diễn ra một cách khách quan dựa trên cơ sở khoa học Trên thực tế, trong hầu hết các vụ việc có tranh chấp liên quan đến bồi thường luôn có xu hướng và xung đột về ý chí và lợi ích giữa bên bị thiệt hại và bên gây
Trang 35thiệt hại Bên bị thiệt hại có xu hướng làm tang mức độ thiệt hại Ngược lại, bên gây ra thiệt hại lại có xu hướng làm giảm mức độ thiệt hại Vì vậy, yêu cầu đặt ra đối với những người làm công tác giám định chuyên môn và những người làm công tác áp dụng pháp luật thực sự phải công tâm, khách quan đánh giá mức độ thiệt hại xảy ra và áp dụng các quy phạm pháp luật vào các vụ án cụ thể Bên cạnh đó, thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần có đặc tính khác nhau nên không thể sử dụng cùng cách đánh giá chung duy nhất áp dụng cho mọi trường hợp
2.1.2 Có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại
Hành vi trái pháp luật được hiểu là xử sự của con người trong điều kiện, hoàn cảnh cụ thể không phù hợp với các quy định của pháp luật Hành vi trái pháp luật gây thiệt hại là hành vi gây ra thiệt hại cho các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ Hành vi trái pháp luật đó có thể là vi phạm điều cấm của pháp luật, hoặc không thực hiện, thực hiện không đúng những gì mà pháp luật yêu cầu chúng ta phải thực hiện và hậu quả dẫn tới gây thiệt hại Con người là chủ thể thực hiện hành vi gây thiệt hại và gây thiệt hại thông qua hành vi của chính mình Nó có thể được thể hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động, nhưng cho dù dưới hình thức nào thì nó đều thể hiện ý thức chủ quan trong khả năng kiểm soát, điều khiển hành vi của chủ thể và đều có khả năng làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động, gây thiệt hại cho quan hệ xã hội được pháp được pháp luật bảo vệ Hành động gây thiệt hại có thể là tác động trực tiếp hoặc có thể là tác động gián tiếp của chủ thể vào đối tượng thông qua công
cụ, phương tiện gây thiệt hại Không hành động gây thiệt hại là một hình thức của hành vi gây thiệt hại cho khách thể bằng việc chủ thể không làm một việc mà pháp luật quy định bắt buộc phải làm, mặc dù có đầy đủ các điều kiện để làm việc đó Thực tế thì việc xác định hành vi gây thiệt hại bằng hành động là rất dễ
Trang 36dàng, bởi vì nó tác động trực tiếp đến đối tượng bị thiệt hại như: bắn, đâm, chém Nhưng ở dạng không hành động thì việc xác định khó khăn hơn và cần phải xác định mối quan hệ giữa thiệt hại với hành vi của người gây thiệt hại và trách nhiệm, nghĩa vụ của họ đối với thiệt hại xảy ra
Luật pháp của một số nước Châu Âu quy định "Hành vi trái pháp luật là
hành vi vi phạm một quy phạm phap luật cụ thể hay xâm phạm quyền chủ quản của người khác " Trong luật Nhật Bản, Thái Lan thì việc xem xét tính trái luật
của hành vi nào đó cần phải tính đến cả thiệt hại xảy ra cũng như hành vi xâm phạm như thế nào Ví dụ: tại Điều 420 BLDS và Thương mại Thái Lan quy định hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín và tự do:
"Một người cố tình hay vô tình làm tổn thương một cách trai phap luật đến đời sống, thân thể, sức khỏe, tự do, tài sản hoặc bất cứ quyền nào của con người thì
bi coi là phạm một hành vi sai trai và có nghĩa vụ bồi thường cho sự tổn thương đó" Hoặc Điều 723 BLDS Nhật Bản quy định: "Nếu một người gây thiệt hại cho
uy tín của người khác thì theo yêu cầu của người này Tòa án buộc người gây thiệt hại tiến hành các biện pháp cần thiết nhằm khôi phục uy tín của người bi thiệt hại hoặc vừa bồi thường thiệt hại, vừa khôi phục uy tín" [4]
Đối với Việt Nam, ở miền Bắc trước giải phóng và trên cả nước sau ngày thống nhất, ngành Tòa án căn cứ vào Thông tư số 173/UBTP-TANDTC ngày 23/3/1972 của Toà án nhân dân tối cáo để xác định thế nào là hành vi trái pháp luật trong quan hệ BTTHNHĐ Theo nội dung Thông tư thì hành vi trái pháp
luật: " có thể là một việc về hình sự, một vi phạm pháp luật về dân sự, một vi
phạm đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước hoặc một vi phạm một quy tắc xã hội" Hiện nay, dù BLDS năm 2015 không có điều luật quy định giải
nghĩa thế nào là hành vi trái pháp luật, nhưng theo Điều 584, có thể hiểu, những
Trang 37hành vi trái luật là những hành vi" xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự,
nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác …"
Như vậy, hành vi trái pháp luật gây thiệt hại làm cơ sở phát sinh trách nhiệm BTTHNHĐ có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, hành vi gây thiệt hại phải trái pháp luật, nếu không trái pháp
luật thì không phải chịu trách nhiệm bồi thường, không phụ thuộc vào việc có hay không có thiệt hại thực tế xảy ra Hành vi trái pháp luật ở đây được hiểu là hành vi vi phạm các quy định của pháp luật Trường hợp người nào bị thiệt hại hoặc thiệt hại cho những người thân thích của người đó do hành vi gây hại mang tính hợp pháp được thực hiện theo yêu cầu của nghề nghiệp hoặc thi hành các quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì không bị coi là hành vi trái pháp luật Ngoài ra, pháp luật cũng dự liệu một số tình huống cho phép các chủ thể ở trong trường hợp đó có thể gây thiệt hại mà không phải bồi thường như: sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại
Hành vi gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm và uy tín của cá nhân do người chưa thành niên gây ra là hành vi trái pháp luật, xâm phạm đến các quan hệ được luật dân sự bảo vệ, gây hậu quả xấu
là làm cho bản thân người bị thiệt hại và những người thân thích của người bị hại những tổn thất nhất định Ví dụ: hành vi bắt các thiếu nữ để hiếp dâm, cướp tài sản và bán họ làm gái mại dâm Mặc dù người chưa thành niên được coi là chưa có đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi nhưng những hành vi do họ thực hiện cũng là trái pháp luật
Thứ hai, hình thức biểu hiện ra bên ngoài của hành vi trái pháp luật có thể
dưới dạng hành động hoặc không hành động Dù được biểu hiện ra bên ngoài bằng hình thức nào thì hành vi đó có một điểm chung là gây tổn thất cho chủ thể khác và cho xã hội Tất nhiên, như đã phân tích ở phần trên, hành vi thể hiện
Trang 38dưới dạng hành động gây thiệt hại thì việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại sẽ dễ hơn, song nếu hành vi thể hiện dưới dạng không hành động thì việc xác định trách nhiệm bồi thường là khó khăn hơn Ví dụ: Trường hợp không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng theo quy định của Điều 132 - BLHS năm 2015 của Việt Nam dẫn đến thiệt hại về tính mạng của người không được cứu giúp Trong trường hợp như vậy, việc yêu cầu người có hành vi không cứu giúp phải bồi thường thiệt hại cho những người thân thích của nạn nhân là thiếu chính xác trừ trường hợp chính người không cứu giúp là người tạo ra tình trạng nguy hiểm đến tính mạng cho người bị hại
Hành vi trái pháp luật là một yếu tố thuộc mặt khách quan trong cấu thành
vi phạm pháp luật và là một trong những căn cứ quan trọng để xác định cũng như xem xét trách nhiệm bồi thường thiệt hại Vì vậy, khi áp dụng pháp luật, những người có thẩm quyền phải thận trọng, xem xét yếu tố này một cách khách quan, toàn diện, đặt hành vi trái pháp luật đó trong hoàn cảnh, không gian cụ thể
2.1.3 Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và thiệt hại
Theo quan điểm triết học, quan hệ nhân quả được hiểu là mối liên hệ phổ biến giữa các sự vật và hiện tượng trong tự nhiên và trong xã hội Qua định nghĩa có thể thấy quan hệ nhân quả là yếu tố khách quan, tồn tại ngoài ý thức của con người Nó là mối quan hệ nội tại tất yếu giữa các sự kiện, hiện tượng nối tiếp nhau trong một không gian và trong khoảng thời gian xác định Do vậy, giữa nguyên nhân và kết quả phải có mối liên hệ nội tại, tất yếu Tính tất yếu thể hiện: hành vi là nguyên nhân đương nhiên xuất hiện kết quả nhất định: gây ra thiệt hại thực tế Nguyên nhân và kết quả phải xảy ra trong một không gian xác định, nối tiếp nhau trong một thời gian nhất định và bao giờ nguyên nhân cũng phải diễn
ra trước kết quả
Trang 39Quan hệ nhân quả có ý nghĩa quan trọng trong kết luận trách nhiệm bồi thường thiệt hại Cho nên, khi xem xét và đánh giá mối quan hệ nhân quả cần phân biệt nguyên nhân với điều kiện, nguyên nhân trực tiếp và nguyên nhân gián tiếp Chỉ khi nào xác định được rõ ràng rằng hành vi trái pháp luật của người gây thiệt hại có ý nghĩa quyết định trong việc làm phát sinh thiệt hại thực tế, thì người đó mới phải chịu trách nhiệm bồi thường Mối quan hệ nhân quả là sự liên
hệ mật thiết giữa hai hiện tượng có sự tác động, chuyển hóa lẫn nhau, trong đó một hiện tượng là nguyên nhân, hiện tượng còn lại là kết quả của nguyên nhân
Trong khoa học pháp luật dân sự không đưa ra lý luận riêng về mối quan
hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và hậu quả thiệt hại xảy ra Mối quan hệ nhân quả trong pháp luật dân sự được xây dựng trên cơ sở cặp phạm trù nhân quả của chủ nghĩa duy vật biện chứng của triết học Mác - Lênin để xem xét trách nhiệm bồi thường thiệt hại Theo đó, mối quan hệ nhân quả ở đây được hiểu là mối quan hệ giữa hành vi khách quan - hành vi trái pháp luật - với hậu quả - thiệt hại thực tế xảy ra Nếu coi hành vi trái pháp luật là biểu hiện của nguyên nhân thì thiệt hại xảy ra là biểu hiện của kết quả và biểu hiện cho mối liên hệ ấy chính là mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật với hậu quả thiệt hại xảy ra Về nguyên tắc, hành vi trái pháp luật phải xảy ra trước thiệt hại trong một không gian và khoảng thời gian xác định Nếu không thỏa mãn điều kiện này thì chúng
ta phải loại trừ khả năng tồn tại mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật với thiệt hại xảy ra hoặc chắc chắn xảy ra Trong pháp luật dân sự, việc làm rõ mối quan hệ nhân quả có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc giải đáp các câu hỏi sau khi xem xét trách nhiệm bồi thường, đó là:
- Có hay không có trách nhiệm bồi thường thiệt hại?
Trang 40- Nếu nhiều người gây thiệt hại cho một người hoặc cả người gây thiệt hại
và người bị thiệt hại có lỗi thì mức bồi thường thiệt hại được xác định như thế nào?
Trước khi BLDS được ban hành, Thông tư số 173/UBTPTANDTC ngày 23/3/1972 của Toàn án nhân dân tối cáo hướng dẫn BTTHNHĐ đã có hướng dẫn cho việc xem xét mối quan hệ nhân quả khi giải quyết việc bồi thường thiệt hại:
Thiệt hại xảy ra phải đúng là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật, hay ngược lại, hành vi trái pháp luật thực sự là nguyên nhân trực tiếp, hoặc nguyên nhân có ý nghĩa quyết định đối với thiệt hại xảy ra
Có trường hợp tuy hành vi trái pháp luật không phải là nguyên nhân trực tiếp của thiệt hại xảy ra, nhưng lại có ý nghĩa quyết định đối với thiệt hại và được coi là quan hệ nhân quả với thiệt hại
Trên thực tế, để xác định mối quan hệ giữa hành vi trái pháp luật với hậu quả thiệt hại xảy ra tương đối phức tạp, biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau Có hai dạng phổ biến là: Dạng nhân quả đơn trực tiếp và dạng nhân quả kép trực tiếp Nếu như ở dạng nhân quả đơn trực tiếp thì việc xác định trách nhiệm bồi thường sẽ rất đơn giản, vì ở đó chỉ có một hành vi trái pháp luật đóng vai trò là nguyên nhân Và thiệt hại xảy ra chính là hậu quả trực tiếp từ nguyên nhân hành vi trái pháp luật đó
Còn dạng nhân quả kép trực tiếp thì việc xác định trách nhiệm bồi thường
sẽ rất khó khăn, phức tạp hơn, vì ở đó có nhiều hành vi trái pháp luật đóng vai trò là nguyên nhân đối với một thiệt hại xảy ra Mặt khác, trong dạng quan hệ nhân quả kép, có trường hợp một thiệt hại xảy ra có thể do nhiều hành vi trái pháp luật của một chủ thể hoặc nhiều chủ thể khác nhau làm phát sinh hậu quả thiệt hại hoặc có trường hợp mà thiệt hại xảy ra lại do một hành vi trái pháp luật khác xen vào Ví dụ: A bị D dùng gạch đập vào đầu A bị thương được đưa đi