1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

So sánh các quy định pháp luật việt nam và quy định pháp luật một số nước về lãi suất trong hợp đồng vay

94 208 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với đề tài này, Tác giả muốn đi sâu vào nghiên cứu quy định về lãi suất trần trong hợp đồng vay tiền theo pháp luật dân sự Việt Nam và so sánh với quy định của các nước phát triển tr

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Quế Anh

Hà nội – 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn “So sánh các quy định Pháp luật Việt Nam

và quy định pháp luật một số nước về lãi suất trong hợp đồng vay” là công

trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ trung thực, chính xác và tin cậy

Trân trọng cảm ơn

Tác giả luận văn

BÙI THỊ THU HÀ

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới PGS.TS Nguyễn Thị Quế Anh – Khoa Luật Đại Học Quốc Gia Hà Nội đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện luận văn này

Đồng cảm ơn các Thầy, Cô Khoa Luật – Trường Đại học Quốc gia Hà Nội – những người đã truyền đạt những kiến thức quý báu trong quá trình em học tập

và rèn luyện tại trường

Cảm ơn gia đình và bạn bè đã luôn ủng hộ và động viên em

Tác giả luận văn

BÙI THỊ THU HÀ

Trang 5

MỤC LỤC

Trang bìa phụ

Lời cam đoan

Mục lục

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LÃI SUẤT TRONG HỢP ĐỒNG VAY 7

1.1 Khái quát về hợp đồng vay tiền 7

1.1.1 Khái niệm Hợp đồng vay tiền 8

1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng vay tiền 9

1.1.3 Đối tượng của Hợp đồng vay tiền 10

1.1.4 Phân loại hợp đồng vay tiền 12

1.1.5 Quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng vay tiền 16

1.2 Khái quát về lãi suất trong hợp đồng vay tiền 18

1.2.1 Khái niệm lãi suất 19

1.2.2 Đặc điểm của lãi suất 19

1.2.3 Lãi suất trần cho vay 20

1.3 Hợp đồng vay tiền dân sự và Hợp đồng vay tiền tín dụng 21

1.3.1 Khái niệm 21

1.3.2 Đặc điểm 22

1.3.3 Pháp luật điều chỉnh 26

1.4 Các tiêu chí so sánh quy định lãi suất trong hợp đồng vay tiền của Pháp luật Việt Nam và Pháp luật một số nước trên thế giới 27

CHƯƠNG II: ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ PHÁP LUẬT MỘT SỐ NƯỚC VỀ LÃI SUẤT TRONG HỢP ĐỒNG VAY 31

2.1 Nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật đối với lãi suất trong hợp đồng vay tiền 31 2.1.1 Những điểm tương đồng 31

Trang 6

2.1.2 Sự khác biệt 34

2.2 Các yếu tố tác động đến việc xây dựng quy định về lãi suất trong hợp đồng vay tiền 41

2.2.1 Những điểm tương đồng 41

2.2.2 Sự khác biệt 45

2.3 Thực trạng các quy định của pháp luật 51

2.3.1 Về giới hạn mức lãi suất thỏa thuận 51

2.3.2 Chế tài đối với các trường hợp vi phạm quy định về giới hạn mức lãi suất thỏa thuận 58

2.4 Nguồn gốc sự khác biệt 67

CHƯƠNG III: ĐÁNH GIÁ QUY ĐỊNH VỀ LÃI SUẤT TẠI HỢP ĐỒNG VAY CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ KIẾN NGHỊ HƯỚNG HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH 71

3.1 Lãi suất trong hợp đồng vay tiền ngoài tổ chức tín dụng hay lãi suất trong hợp đồng vay tiền của Bộ luật dân sự năm 2015 71

3.1.1 Thành tựu 71

3.1.2 Hạn chế 74

3.1.3 Kiến nghị hướng hoàn thiện 75

3.2 Lãi suất trong hợp đồng vay tiền của tổ chức tín dụng 77

3.2.1 Thành tựu 78

3.2.2 Hạn chế 79

3.2.3 Kiến nghị hướng hoàn thiện 80

KẾT LUẬN 83

Trang 7

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Quan hệ vay mượn là một quan hệ tất yếu trong giao lưu đời sống xã hội, đặc biệt trong nền kinh tế thị trường, giao dịch dân sự này ngày càng phát triển với hình thức đa dạng, phong phú Nước ta mới bước vào cuộc thử nghiệm kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từ đầu những năm 90 của thế kỷ trước, cuộc thử nghiệm này mở ra nhiều tiềm năng và cơ hội phát triển, do đó nhu cầu

về vốn lại càng trở nên thiết yếu Cùng với việc cải tổ hệ thống ngân hàng, các ngân hàng không chỉ là công cụ để thực hiện chính sách nhà nước, đáp ứng nhu cầu tài chính của ngân sách và các doanh nghiệp nhà nước và sự xuất hiện của các ngân hàng thương mại quốc doanh, ngân hàng thương mại cổ phần, rồi dần dần quan hệ vay vốn không chỉ diễn ra với các tổ chức tín dụng mà còn diễn ra giữa các tổ chức, cá nhân ngoài tổ chức tín dụng Để đảm bảo các giao dịch dân

sự này hoạt động hiệu quả, khai thác được nguồn vốn nhàn rỗi, nhưng vẫn đảm bảo lành mạnh, không làm méo mó thị trường tín dụng bởi hoạt động cho vay nặng lãi, điều này đã đặt ra nhu cầu quy định về lãi suất trong Bộ luật dân sự

Ngay từ Bộ luật dân sự năm 1995 – Bộ luật dân sự đầu tiên của thời kỳ đổi mới, đã quy định giới hạn mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng vay Trải qua quá trình thực tiễn áp dụng, nảy sinh nhiều bất cập, quy định này được tiếp tục sửa đổi trong Bộ luật dân sự năm 2005 - thay đổi về mức lãi suất trần tối đa trong hợp đồng vay Và bây giờ là Bộ luật dân sự năm 2015, các nhà làm luật một lần nữa nâng mức lãi suất trần thỏa thuận này lên để phù hợp với nhu cầu của thị trường Thực tiễn cho thấy, lãi suất trong hợp đồng vay tiền là một vấn đề hết sức quan trọng, luôn luôn thu hút được sự quan tâm, tranh luận, đóng góp của

Trang 8

2

các chuyên gia trong các cuộc hội thảo, cũng như đề án sửa đổi, bổ sung luật Vấn đề đặt ra là: quy định về lãi suất trong hợp đồng vay tiền của pháp luật Việt Nam đã phù hợp với nhu cầu của thị trường chưa và cần phải so sánh với pháp luật với các nước trên thế giới để tìm ra yếu tố nào phù hợp nhằm vận dụng, học hỏi, yếu tố nào bất hợp lý thì cần loại bỏ

Mặt khác, quy định về lãi suất trong hợp đồng vay tiền ở Bộ luật dân sự còn liên quan đến đối tượng chịu sự điều chỉnh của Bộ luật này Về mặt lý thuyết, Bộ luật dân sự là bộ luật gốc trong lĩnh vực luật tư, chi phối tất cả các giao dịch dân sự Tuy nhiên, nếu áp dụng mức trần lãi suất thỏa thuận trong Bộ luật dân sự cho cả các tổ chức tín dụng thì dường như đang đi ngược lại chủ trương tự do hóa lãi suất mà Đảng và Nhà nước ta đã đề ra, đi ngược lại nguyên tắc thị trường và không phù hợp với các chuẩn mực, thông lệ quốc tế Vì vậy, ta nên phân biệt rạch ròi hai vấn đề: mức lãi suất thỏa thuận tối đa trong Bộ luật dân sự (lãi suất trần cho vay) và lãi suất trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng đang trong tiến trình tự do hóa, là hai lĩnh vực hoàn toàn khác nhau Đây cũng là một

lý do để Tác giả chọn đề tài nghiên cứu “So sánh các quy định của Pháp luật Việt Nam và quy định pháp luật một số nước về lãi suất trong Hợp đồng vay”,

để tìm hiểu cách thức điểu chỉnh của các nước có nền kinh tế phát triển, học hỏi

kỹ thuật lập pháp của họ

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Đã có nhiều Tác giả nghiên cứu về lãi suất trong hợp đồng vay tiền của pháp luật Việt Nam Tuy nhiên, hầu hết các bài viết này đều đi sâu vào lĩnh vực kinh tế nhiều hơn là luật học Các bài viết này thường nghiên cứu lãi suất với tư cách là công cụ điều tiết nền kinh tế, liên quan đến các loại lãi suất đặc thù như:

Trang 9

3

lãi suất chiết khấu, tái chiết khấu, lãi suất cơ bản, lãi suất liên ngân hàng v v Dưới góc độ pháp luật dân sự, nghiên cứu mức lãi suất thỏa thuận tối đa được phép (lãi suất trần cho vay) và đặc biệt là so sánh với quy định của các nước nước trên thế giới thì hầu như chưa có công trình hoặc bài nghiên cứu nào

Đối với đề tài này, Tác giả muốn đi sâu vào nghiên cứu quy định về lãi suất trần trong hợp đồng vay tiền theo pháp luật dân sự Việt Nam và so sánh với quy định của các nước phát triển trên thế giới để học hỏi, áp dụng những kinh nghiệm của các quốc gia đi trước, nhằm cụ thể hóa đối tượng chịu sự điều chỉnh của quy định về lãi suất trong bộ luật dân sự, cũng như cách thức quy định mức lãi suất thỏa thuận tối đa được phép trong hợp đồng vay tiền mà các nước áp dụng Góp phần phát huy và tăng hiệu quả của các quy định này, làm lành mạnh thị trường giao dịch vay vốn phi ngân hàng, hạn chế cho vay nặng lãi

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về hợp đồng vay tiền, lãi suất trong hợp đồng vay, so sánh quy định về lãi suất trong hợp đồng vay tiền của pháp luật Việt Nam và một số nước trên thế giới Trên cơ sở so sánh với quy định của các quốc gia phát triển như Mỹ, Anh, Pháp v v, tìm ra những điểm tương đồng, khác biệt, giải thích nguồn gốc sự khác biệt và đưa ra kiến nghị đối với các chính sách, quy định của pháp luật Việt Nam

Để thực hiện mục tiêu trên, Tác giả cần hoàn thành những nhiệm vụ cụ thể như sau:

Trang 10

4

- Làm rõ những vấn đề lý luận về điều chỉnh bằng pháp luật đối với lãi suất trong hợp đồng vay tiền như khái niệm, đặc điểm của hợp đồng vay tiền, khái niệm, đặc điểm lãi suất, khái niệm lãi suất trần cho vay v v

- Phân tích lý luận về hợp đồng vay tiền trong dân sự và hợp đồng vay tiền trong tín dụng ngân hàng

- Nghiên cứu các quy định về lãi suất trong hợp đồng vay tiền ở một số nước châu Âu, Hoa Kỳ So sánh với pháp luật Việt Nam qua các tiêu chí: nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật đối với lãi suất trong hợp đồng vay tiền; các yếu tố tác động đến việc xây dựng quy định về lãi suất trong hợp đồng vay tiền; nội dung các quy định của pháp luật

- Rút ra nguồn gốc sự khác biệt trong quy định của Việt Nam và các nước Đồng thời kiến nghị hướng hoàn thiện cho pháp luật Việt Nam

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Trong khuôn khổ của đề tài, đối tượng nghiên cứu của luận văn là: quy

định về lãi suất trong hợp đồng vay tiền của Pháp luật Việt Nam trong dân sự và trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng, so sánh quy định về lãi suất trong hợp đồng vay tiền của Pháp luật một số nước trên thế giới; các quan điểm khoa học, các bài nghiên cứu chuyên sâu được đăng trên báo, tạp chí, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước

Ngoài ra, trên cơ sở các văn bản pháp luật của Nhà nước, các văn bản hướng dẫn, giải thích áp dụng thống nhất pháp luật dân sự do Tòa án nhân dân tối cao hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành liên quan đến hợp đồng vay tiềnvà lãi suất trong hợp đồng vay; Các văn bản luật chuyên ngành điều

Trang 11

5

chỉnh trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng; Luận văn đã nghiên cứu, phân tích, so sánh, tổng hợp để rút ra các tri thức khoa học và luận chứng trong đề tài

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận: đề tài này được viết dựa trên phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong vấn đề cải cách tư pháp nói chung và xây dựng quy định phù hợp với thị trường về lãi suất trong hợp đồng vay tiềnnói riêng

Phương pháp chung: So sánh, phân tích, tổng hợp khái quát Nghiên cứu lịch sử, thực tiễn việc áp dụng quy định về lãi suất trong Bộ luật dân sự qua các thời kỳ, phân loại, thu thập, đánh giá, xử lý số liệu thống kê, rút ra những kết luận có giá trị cho đề tài

6 Những đóng góp của luận văn

Luận văn là công trình nghiên cứu có tính hệ thống các quy định về lãi suất trong hợp đồng vay tiền tại Bộ luật dân sự qua các thời kỳ và so sánh các quy định của pháp luật hiện hành với một số nước trên thế giới

Kết quả của luận văn không chỉ tổng kết, so sánh quy định về lãi suất trong hợp đồng vay tiềnmà còn rút ra những rút ra và lý giải nguyên nhân sự khác biệt, trên cơ sở đó đánh giá tính hiệu quả của các quy định, học hỏi những yếu tố hợp lý, tiến bộ trong quy định của các nước trên thế giới Trên cơ sở đó, góp phần hoàn thiện hơn nữa quy định về lãi suất trong hợp đồng vay tiền của

Bộ luật dân sự, góp phần làm lành mạnh hóa, trong sạch thị trường tín dụng phi ngân hàng Đây cũng là một trong những hoạt động nhằm thực hiện tốt mục tiêu cải cách tư pháp đến năm 2020 theo đúng lộ trình của Nghị quyết số 49/NQ –

TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị

Trang 12

6

Nội dung và kết quả của luận văn này cũng có thể sử dụng làm tài liệu nghiên cứu, giảng dạy, tài liệu tham khảo bổ ích đối với những sinh viên, giảng viên chuyên ngành luật dân sự, cán bộ công tác tại cơ quan nhà nước hoặc những người đang hoạt động tại các doanh nghiệp, tổ chức tín dụng, ngân hàng v v

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn gồm 3 chương:

Chương I: Những vấn đề lý luận về điều chỉnh bằng pháp luật đối với lãi suất trong hợp đồng vay;

Chương II: Điểm tương đồng và khác biệt giữa Pháp luật Việt Nam và Pháp luật một số nước trên thế giới về lãi suất trong hợp đồng vay;

Chương III: Đánh giá về nguồn gốc sự khác biệt và kiến nghị hướng hoàn thiện đối với quy định về lãi suất trong hợp đồng vay tiền của pháp luật Việt Nam

Trang 13

có thể đánh giá được quy định của luật thực định Xuất phát từ đối tượng nghiên cứu của đề tài, trong chương này Tác giả xin trình bày, phân tích các vấn đề nội hàm về mặt lý luận của Hợp đồng vay tiền, khái niệm Lãi suất và lãi suất trần, phân tích lý luận về hợp đồng vay tiền dân sự và tín dụng Đồng thời, Tác giả cũng đưa ra các tiêu chí so sánh, lý giải lý do lựa chọn các tiêu chí này để so sánh quy định về lãi suất trong Hợp đồng vay tiền của Pháp luật Việt Nam và Pháp luật một số nước trên thế giới

1.1 Khái quát về hợp đồng vay tiền

Trong đời sống xã hội nói chung, việc chuyển giao tài sản và quyền sở hữu tài sản là một nhu cầu tất yếu để đáp ứng nhu cầu của các cá nhân Các nhu cầu này được thỏa mãn thông qua một chuỗi các giao dịch dân sự có tính chất trao đổi Hợp đồng vay tiền là một giao dịch dân sự mang đầy đủ đặc điểm, tính chất chung của hợp đồng vay tài sản Đồng thời, do đối tượng của Hợp đồng vay tiền là một đối tượng đặc thù nên nó có những đặc trưng riêng biệt

Trang 14

8

1.1.1 Khái niệm Hợp đồng vay tiền

Theo quan điểm chủ nghĩa Mác- Lênin thì tiền tệ là hàng hoá đặc biệt, dùng làm vật ngang giá chung cho tất cả các hàng hoá, là sự thể hiện chung của giá trị và thể hiện lao động xã hội; đồng thời tiền tệ biểu hiện quan hệ sản xuất giữa những người sản xuất hàng hoá, do quá trình phát triển lâu dài của trao đổi hàng hoá tạo ra Tiền với cách hiểu chung nhất là bất cứ cái gì được chấp nhận trong thanh toán để lấy hàng hoá hoặc trong việc hoàn trả các khoản nợ

Trong khái niệm về tài sản thì tiền là một trong số các loại tài sản được liệt

kê Vậy ta cần hiểu hợp đồng vay tài sản là gì, từ đó suy luận ra khái niệm hợp đồng vay tiền

Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”

(Điều 463)

Hợp đồng vay tiền là một dạng hợp đồng vay tài sản, dựa theo khái niệm

trên, ta có thể hiểu tương tự về khái niệm hợp đồng vay tiền: “Hợp đồng vay tiền

là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tiền cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tiền theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định” Như

vậy, về cơ bản hợp đồng vay tiền gồm các yếu tố sau:

Thứ nhất: Chủ thể của hợp đồng bao giờ cũng có hai bên tham gia, bao

gồm bên vay và bên cho vay Bên cho vay là cá nhân, tổ chức có khoản tiền muốn cho cá nhân, tổ chức khác sử dụng để thỏa mãn nhu cầu vật chất hoặc tinh

Trang 15

9

thần của mình Còn bên vay là bên cần sử dụng tiền của người khác để thỏa mãn nhu cầu kinh doanh hoặc tiêu dùng của mình

Thứ hai: Hình thức pháp lý của hợp đồng vay tiền có thể bằng văn bản

hoặc lời nói và được thực hiện trên những nguyên tắc cơ bản của hợp đồng như: nguyên tắc tự do ý chí, nguyên tắc tự định đoạt…

Thứ ba: Sự kiện cho vay được phát sinh bởi hai hành vi ứng trước và hoàn

trả một số tiền nhất định Thời hạn thanh toán khoản vay và hiệu lực hợp đồng

do các bên thỏa thuận

Thứ tư: Bên vay chỉ phải trả lãi suất nếu các bên có thỏa thuận hoặc theo

luật định

Về cơ bản, hợp đồng vay tiền mang những yếu tố chung của các hợp đồng dân sự khác: chủ thể, khách thể, sự kiện pháp lý Tuy nhiên, xuất phát từ đối tượng của loại hợp đồng này là “tiền” – đối tượng hết sức đặc thù nên hợp đồng vay tiền cũng có đặc trưng riêng

1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng vay tiền

Dựa vào khái niệm, phân tích nêu trên, có thể rút ra được đặc điểm của hợp đồng vay tiền:

Thứ nhất: Hợp đồng vay tiền là hợp đồng chuyển quyền sở hữu đối với

số tiền vay, kể từ thời điểm chuyển giao tiền, bên vay có toàn quyền sử dụng, định đoạt đối với số tiền đó, trừ trường hợp hợp đồng có quy định về điều kiện

sử dụng

Thứ hai: Hợp đồng vay tiền có lãi suất là hợp đồng song vụ, các bên tham

gia vào hợp đồng vừa có quyền vừa có nghĩa vụ Bên cho vay có nghĩa vụ

Trang 16

10

chuyển giao tiền đúng thời hạn, bên vay có nghĩa vụ trả đủ tiền gốc và tiền lãi đúng hạn Bên nào vi phạm nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm dân sự

Thứ ba: Hợp đồng vay tiền là hợp đồng có đền bù hoặc không có đền bù

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, tập trung nghiên cứu lãi suất trong hợp đồng vay tiền nên hợp đồng vay tiền có lãi suất là hợp đồng vay tiềncó đền bù Các bên chủ thể sau khi thực hiện cho bên kia một lợi ích sẽ nhận được từ bên kia một lợi ích tương ứng Chúng ta biết rằng bản chất của các giao dịch dân sự mang tính đền bù tương đương và đặc điểm cơ bản của quan hệ tài sản trong giao lưu dân sự là sự trao đổi ngang giá Khi cho vay một khoản tiền nhất định thì trong một thời hạn có thể do các bên thoả thuận hoặc do pháp luật quy định phải có một khoản tiền phát sinh để đền bù cho sự đầu tư cho vay tiền của bên

cho vay nhằm thoả mãn nhu cầu của bên cho vay [30]

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, bên cạnh việc cho vay của các tổ chức tín dụng thì quan hệ cho vay giữa cá tổ chức, cá nhân với nhau cũng diễn ra hết sức đa dạng, phong phú với nhiều hình thức và mức lãi suất thỏa thuận Tuy nhiên, không phải giao dịch vay tiền nào cũng đảm bảo được các yếu tố, điều khoản cần thiết của hợp đồng vay tiền, nên rất dễ phát sinh tranh chấp Khi đó,

hệ thống các quy định pháp luật phải dự liệu đầy đủ các tình huống để thẩm phán

có thể giải quyết tất cả các vấn đề từ trả nợ gốc, nợ lãi, bao gồm cả lãi suất và thời gian tính lãi nợ quá hạn kể từ khi hết hạn vay, với hợp đồng vay tiền không

có thời hạn thì thời gian tính lãi nợ quá hạn kể từ khi đòi nợ

1.1.3 Đối tƣợng của Hợp đồng vay tiền

Theo quy định tại Khoản 1, Điều 105 Bộ luật dân sự năm 2015 thì “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản” Đối tượng của Hợp đồng vay

Trang 17

11

tiền là Tiền – một loại tài sản đặc biệt trong giao dịch dân sự Tuy nhiên, hiện nay trong Bộ luật dân sự chưa có một định nghĩa, quy định cụ thể về Tiền Điều này dẫn đến các cách hiểu không thống nhất về Tiền, gây ra khó khăn trong thực tiễn áp dụng Dưới góc độ luật dân sự thì Tiền là loại tài sản có đặc điểm pháp lý khác biệt so với Vật, có thể kể đến sự khác biệt đó như sau:

Đối với vật thì chúng ta có thể khai thác công dụng hữu ích từ chính vật

đó (dùng nhà để ở, dùng xe máy để đi lại, dùng bút để viết, …) Còn đối với tiền thì không thể khai thác công dụng hữu ích từ chính tờ tiền hay đồng tiền xu đó Tiền thực hiện ba chức năng chính là: công cụ thanh toán đa năng, công cụ tích lũy tài sản và công cụ định giá các loại tài sản khác Khái niệm “quyền sử dụng” chỉ được áp dụng một cách trọn vẹn cho vật chứ không áp dụng được cho tiền

Các vật thông thường có thể do rất nhiều chủ thể khác nhau tạo ra, còn tiền do Nhà nước độc quyền phát hành Việc phát hành tiền được coi là một trong những biểu hiện của chủ quyền của mỗi quốc gia

Vật được xác định số lượng bằng những đơn vị đo lường thông dụng, còn tiền lại được xác định số lượng thông qua mệnh giá của nó

Chủ sở hữu vật được toàn quyền tiêu hủy vật thuộc sở hữu của mình, còn chủ sở hữu tiền lại không được tiêu hủy tiền (không được xé, đốt, sửa chữa, thay đổi hình dạng, kích thước, làm giả,…)

Dưới góc độ kinh tế thì việc sử dụng tiền được hiểu thông qua hành vi đầu

tư tiền vào các hoạt động kinh doanh (mua bán thiết bị, cho vay lấy lãi, góp vốn,

…) hay tiêu dùng Nhưng dưới góc độ luật dân sự thì các hành vi đầu tư hay tiêu dùng đó lại phải được hiểu là hành vi thực hiện quyền định đoạt tiền (chuyển giao quyền sở hữu tiền cho chủ thể khác), chứ không phải là thực hiện quyền sử dụng

Trang 18

12

Dưới góc độ kinh tế, việc gửi tiền vào các tổ chức tín dụng (gửi tiền vào tài khoản của mình trong Ngân hàng) thường được coi là hành vi cất giữ tiền của mình Còn dưới góc độ luật dân sự thì việc gửi tiền vào Ngân hàng hay các tổ chức tín dụng lại phải luôn được hiểu là hợp đồng cho vay tài sản Bởi lẽ sau khi gửi vào Ngân hàng thì chính Ngân hàng sẽ trở thành chủ sở hữu khoản tiền đó và phải chịu rủi ro đối với nó Người gửi khi đó chấm dứt quyền sở hữu đối với số tiền vừa gửi, trở thành bên cho vay, có quyền yêu cầu Ngân hàng thanh toán khoản tiền khác tương đương theo thời hạn thỏa thuận Tuỳ theo từng trường hợp

cụ thể mà hợp đồng vay tiềnđó có thể có thời hạn hoặc không thời hạn, có thể có lãi hoặc không có lãi

Nói cách khác, dưới góc độ kinh tế thì không có sự khác biệt cơ bản về bản chất giữa tiền mặt với tiền trong tài khoản, nhưng dưới góc độ luật dân sự thì

“tiền trong tài khoản” lại được hiểu là quyền tài sản (quyền yêu cầu) – một loại tài sản khác chứ không phải là tiền

Trong pháp luật dân sự, tiền có tính năng đặc biệt (khác với vật) là khi chuyển giao tiền thì bao giờ cũng kèm theo chuyển giao quyền sở hữu, trừ trường hợp khi chuyển giao ta đặc định hóa gói tiền thông qua việc niêm phong gói tiền lại [26]

1.1.4 Phân loại hợp đồng vay tiền

Có nhiều tiêu chí được đưa ra để phân loại hợp đồng dân sự nói chung và hợp đồng vay tiền nói riêng Căn cứ vào thời điểm có hiệu lực, hợp đồng được phân loại thành hợp đồng ưng thuận và hợp đồng thực tế

Hợp đồng thực tế: là những hợp đồng mà sau khi thoả thuận các bên phải trao cho nhau đối tượng của hợp đồng (cho vay, cho mượn, gửi giữ ) Hợp đồng

Trang 19

13

ưng thuận là những hợp đồng được coi là kí kết khi các bên đã thoả thuận xong

các điều khoản cơ bản của hợp đồng [25]

Vậy hợp đồng vay tiền là hợp đồng ưng thuận hay hợp đống thực tế? Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này

Tác giả Phạm Văn Tuyết cho rằng: hợp đồng vay tài sản là hợp đồng thực

tế, việc hứa cho vay không phải là căn cứ phát sinh quyền yêu cầu của bên đi vay trong hợp đồng [23]

Tác giả Bùi Đăng Hiếu lại có quan điểm khác: hợp đồng vay tài sản là hợp đồng ưng thuận, có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết [24] Tác giả Nguyễn Ngọc Điện cũng đưa ra nhận xét: hợp đồng vay tiền trong luật Việt Nam hiện hành là hợp đồng ưng thuận, tuy nhiên để buộc bên cho vay phải chuyển giao số tiền vay như đã cam kết là rất khó thi hành trên thực tế, kể cả bên vay có theo đuổi các thủ tục tư pháp; hậu quả nhiều lắm là bên vay chỉ có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại [21]

Tập thể tác giả Nguyễn Xuân Quang, Lê Nết, Nguyễn Hồ Bích Hằng cho rằng: hợp đồng vay tài sản có thể là hợp đồng thực tế hoặc hợp đồng ưng thuận nhưng các tác giả này không đưa ra giải thích cụ thể cho quan điểm đó của mình [22]

Dựa trên những ý kiến của các Nhà nghiên cứu nêu trên, có thể thấy để khẳng định hợp đồng vay tài sản hay hợp đồng vay tiền là hợp đồng thực tế hay ưng thuận ta phải xác định: quyền và nghĩa vụ của các chủ thể phát sinh khi nào: khi giao kết hay khi chuyển giao tài sản vay cho nhau?

“Pháp luật hiện hành không có quy định cụ thể về thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng vay tài sản Điều 465 của Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về nghĩa vụ của bên cho vay như sau: “ 1 Giao tài sản cho bên vay đầy đủ, đúng

Trang 20

14

chất lượng, số lượng vào thời điểm và địa điểm đã thoả thuận; ” Như vậy, theo quy định trên thì hợp đồng vay tài sản mang tính chất của hợp đồng ưng thuận, được phát sinh tại thời điểm giao kết Cụ thể là nếu hợp đồng vay được kí kết dưới hình thức miệng thì phát sinh hiệu lực khi đã thoả thuận xong nội dung cơ bản của hợp đồng (như số tiền cho vay, thời hạn giao tiền, lãi suất, thời hạn ); nếu hợp đồng vay được kí kết dưới hình thức văn bản thì phát sinh hiệu lực khi bên sau cùng kí vào văn bản Như vậy, sau 2 thời điểm nêu trên thì bên vay có quyền yêu cầu bên cho vay phải thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết, trong đó có nghĩa vụ buộc phải chuyển giao khoản tiền vay Nếu bên vay từ chối không chuyển giao tiền vay như đã cam kết thì sẽ chịu trách nhiệm dân sự gì trước bên vay:

- Buộc phải chuyển giao tài sản cho vay như đã cam kết nếu không các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ áp dụng các biện pháp cưỡng chế bắt buộc phải chuyển giao?

- Hay chỉ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại nếu bên vay chứng minh được những thiệt hại đã thực tế xảy ra hay chắc chắn xảy ra nếu không có được số tiền vay như đã thoả thuận với bên cho vay?

- Hoặc phải chịu đồng thời cả hai trách nhiệm dân sự nêu trên?

Theo lí luận về trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng thì bên cho vay phải buộc chuyển giao tài sản vay và bồi thường thiệt hại nếu có Nhưng thực tế giải quyết tranh chấp trên đã cho thấy phương án thứ nhất và phương án thứ ba không thể thực hiện được, chỉ có thể áp dụng được cách giải quyết thứ hai Nếu bên vi phạm nghĩa vụ (bên cho vay) chứng minh là họ không

có khả năng tiếp tục thực hiện nghĩa vụ (không có tiền để cho vay nữa) thì chỉ phải bồi thường những thiệt hại thực tế đã xảy ra cho bên đi vay do không vay

Trang 21

15

được số tiền như đã cam kết Thực tế cơ quan thi hành án cũng không thể kê biên, niêm phong, bán đấu giá nhà ở hoặc các tài sản khác thuộc sở hữu của bên cho vay để lấy tiền chuyển cho bên đi vay như hợp đồng đã kí kết

Liên quan đến thời điểm phát sinh hiệu lực hợp đồng của hợp đồng vay tài sản đó là vấn đề chứng cứ để chứng minh về sự tồn tại của hợp đồng đó trên thực

tế Nếu hợp đồng vay được kí kết bằng văn bản thì bên vay mới có thể yêu cầu bên cho vay chịu trách nhiệm nêu trên nếu vi phạm nghĩa vụ giao tiền vay vì đó

là thuộc loại hợp đồng ưng thuận Còn nếu hợp đồng vay chỉ được giao kết bằng miệng thì sẽ không có chứng cứ để buộc bên cho vay phải chịu trách nhiệm và khi đó coi như hợp đồng vay chưa phát sinh hiệu lực pháp luật Hợp đồng vay giao kết bằng miệng chỉ phát sinh hiệu lực khi bên cho vay đã chuyển giao tiền vay cho bên vay và giấy biên nhận tiền vay sẽ là bằng chứng của việc giao kết hợp đồng – lúc này hợp đồng vay mang đặc điểm của loại hợp đồng thực tế Tuy nhiên, trong trường hợp hợp đồng giao kết bằng miệng nhưng có các chứng cứ khác chứng minh được sự tồn tại của quan hệ vay tiền (như có ít nhất 2 người làm chứng hoặc các bên thừa nhận hợp đồng vay giao kết miệng ) thì bên cho vay vẫn phải chịu trách nhiệm về lời cam kết của mình vì hợp đồng đã phát sinh hiệu lực kể từ thời điểm giao kết Từ sự phân tích trên, chúng tôi có thể đưa ra kết luận như sau: Theo quy định của pháp luật hiện hành thì hợp đồng vay tài sản mang bản chất pháp lí của loại hợp đồng ưng thuận; tuy nhiên khi buộc bên cho vay phải chịu trách nhiệm về việc chuyển giao tiền vay còn phụ thuộc vào vấn đề các chứng cứ pháp lí để chứng minh sự tồn tại của hợp đồng vay đó [42]

Đối với vấn đề này, Tác giả có cùng quan điểm với Thạc sỹ Vũ Thị Hồng Yến trong bài phân tích nêu trên

Trang 22

16

1.1.5 Quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng vay tiền

Quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng dân sự nói riêng và trong khoa học pháp lý nói chung là cặp khái niệm luôn song hành cùng nhau Trong hợp đồng vay tiềntài sản, quyền sở hữu tài sản là quyền gốc để có thực hiện được việc cho vay Quyền sở hữu tài sản là một thuật ngữ pháp lý tốn nhiều bút mực của các Chuyên gia, Nhà phân tích Từ thời La Mã cho đến nay, các nhà làm luật cũng khó thể đưa ra được khái niệm chung nhất về quyền sở hữu tài sản Tuy nhiên,

về cơ bản chúng ta đã xây dựng tương đối đầy đủ những quyền năng của chủ sở hữu hợp pháp, đặc biệt là những quy định về quyền chiếm hữu tài sản đã trở thành căn cứ pháp lí quan trọng để chủ sở hữu tài sản khi có tài sản bị xâm hại có

cơ sở để bảo vệ quyền tài sản của mình và người xét xử có cơ sở pháp lí để bảo

vệ quyền của chủ sở hữu tài sản hợp pháp

Trong nội dung này, Tác giả chỉ đưa ra một tập hợp hết sức cơ bản, ngắn gọn các quyền năng của chủ sở hữu tài sản theo Pháp luật Việt Nam và phân tích nghĩa vụ của các bên khi tham gia vào Hợp đồng vay tiềntiền

a Quyền sở hữu tài sản vay

Quyền sở hữu là một khái niệm cơ bản, cốt lõi của Luật dân sự Khái niệm quyền sở hữu hình thành từ rất sớm và trải qua nhiều giai đoạn phát triển, gắn liền với sự phát triển của lịch sử xã hội, lịch sử lập pháp của mỗi quốc gia Tại

Điều 164 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định “Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật.”

Tiền là một tài sản đặc biệt có chức năng trao đổi, nó chỉ mang lại lợi ích cho chủ sở hữu khi chủ sở hữu chuyển giao cho chủ thể khác kèm theo việc

Trang 23

b Nghĩa vụ của các chủ thể tham gia vào hợp đồng vay tiền

 Nghĩa vụ của Bên cho vay

Bên cho vay có nghĩa vụ giao tiền đầy đủ, đúng số lượng vào thời gian và địa điểm mà các bên đã thống nhất

Bên cho vay có nghĩa vụ bồi thường cho Bên vay nếu giao tiền không đúng yêu cầu mà không báo cho Bên vay biết, trừ trường hợp Bên vay biết mà vẫn nhận tài sản

Bên cho vay có nghĩa vụ tuân thủ thời hạn cho vay, không được yêu cầu Bên vay trả lại tiền trước thời hạn Trừ trường hợp cho vay không lãi và có kỳ hạn thì Bên cho vay được đòi lại tiền nếu Bên vay đồng ý

 Nghĩa vụ của Bên vay

Là người cần đến sự giúp đỡ vật chất của bên cho vay do vậy khi hết thời hạn của hợp đồng phải tự giác thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình phát sinh

từ hợp đồng đã ký kết Phải trả đủ tiền gốc và tiền lãi theo thoả thuận hoặc theo pháp luật quy định Nếu hợp đồng cho vay không kỳ hạn, khi bên cho vay yêu cầu trả nợ thì bên vay phải thực hiện hợp đồng trong thời gian thoả thuận Bên vay cũng có thể thực hiện hợp đồng bất cứ thời gian nào Thời điểm này được coi là thời điểm chấm dứt hợp đồng cho vay tiền không kỳ hạn Trường hợp các bên có thoả thuận về mục đích vay, bên cho vay có quyền kiểm tra việc sử dụng

Trang 24

18

tiền của bên vay có đúng mục đích như thoả thuận hay không Nếu sử dụng tiền không đúng mục đích như đã thoả thuận, bên cho vay có quyền huỷ hợp đồng (Điều 467 – Bộ luật dân sự năm 2015) [30]

1.2 Khái quát về lãi suất trong hợp đồng vay tiền

Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường, dòng vốn lưu chuyển một cách liên tục, lợi nhuận được tối đa hóa thì hầu hết các trong giao dịch vay tiền, người vay thường phải trả thêm một phần giá trị ngoài phần vốn gốc ban đầu để thỏa mãn nhu cầu vật chất của người cho vay Tỉ lệ phần trăm của phần tăng thêm này so với vốn gốc vay ban đầu được coi là lãi suất (interest rate) Việc phải trả lãi suất xuất phát từ vấn đề là đồng tiền ngày hôm nay có giá hơn đồng tiền nhận được ngày mai khi tính đến giá trị thời gian của tiền tệ Khi một người chuyển giao quyền sử dụng tiền của mình cho người khác, tức là họ đã hy sinh quyền sử dụng tiền tệ ngày hôm nay của mình với hy vọng có được lượng tiền lớn hơn vào ngày mai Đặc biệt, khi mục đích khi vay tiền của người vay là nhằm thỏa mãn nhu cầu kinh doanh hoặc tiêu dùng của mình, tức là họ được hưởng một lợi ích từ việc sử dụng tiền của người khác thì việc trả lãi là điều đương nhiên Nếu không

có phần lớn lên thêm sau mỗi lần chuyển nhượng vốn thì có lẽ giao dịch này sẽ không thể phát triển

Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường, khi kinh doanh tài chính, tiền tệ ngày càng trở nên sôi động thì việc giới hạn tỷ lệ phần trăm tăng thêm so với gốc vay ban đầu là hết sức cần thiết để duy trì một nền tài chính ổn định và lành mạnh Do đó, trong mục này Tác giả xin đưa ra và phân tích khái niệm lãi suất, khái niệm lãi suất trần cho vay, cũng như đặc điểm của lãi suất trong giao dịch dân sự

Trang 25

19

1.2.1 Khái niệm lãi suất

Có nhiều định nghĩa về lãi suất, ở tầm vĩ mô, lãi suất là một công cụ điều tiết kinh tế rất nhạy bén và hiệu quả của chính sách tiền tệ quốc gia Thông qua việc thay đổi mức và cơ cấu lãi suất trong từng thời kỳ nhất định, Chính phủ có thể tác động đến quy mô và tỷ trọng các loại vốn đầu tư, do vậy mà có thể tác động đến quá trình điều chỉnh cơ cấu, đến tốc độ tăng trưởng, sản lượng, tỷ lệ thất nghiệp và tình trạng lạm phát trong nước

Theo Quy định phương pháp tính và hoạch toán thu, trả lãi của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các tổ chức tín dụng Ban hành kèm theo Quyết định số 652/2001/QĐ-NHNN ngày 17-5-2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước thì

“ Lãi suất là khoản tiền bên vay, huy động vốn hoăc bên thuê trả cho bên vay, đầu tư chứng khoán, gửi tiền hoặc bên cho thuê về việc sử dụng vốn vay, vốn huy động hoặc tài sản cho thuê Lãi được tính toán căn cứ vào số vốn, thời gian sử dụng vốn và lãi suất”

Hoặc theo định nghĩa của giáo trình Học viện Ngân hàng thì: lãi suất là

giá cả của quyền được sử dụng vốn vay trong một thời gian nhất định mà người

sử dụng vốn phải trả cho người sở hữu vốn

Từ những định nghĩa trên, có thể hiểu Lãi suất là tỉ lệ phần trăm nhất định

mà bên vay phải trả thêm vào số tiền gốc đã vay tính theo đơn vị thời gian Thông thường, đơn vị thời gian tính lãi suất là tháng, tuy nhiên cũng có thể là tuần, ngày v v theo thỏa thuận của các bên

1.2.2 Đặc điểm của lãi suất

Với cách hiểu là giá cả của quyền sử dụng vốn vay trong một thời gian nhất định, lãi suất có những đặc điểm cơ bản sau:

Trang 26

20

Một là, lãi suất được phát sinh chủ yếu trong hợp đồng vay tiền: Trên thực

tế thì lãi suất suất hiện trong rất nhiều hợp đồng đầu tư, thương mại, môi giới và

là cơ sở quan trọng để tính lãi Tuy nhiên, lãi suất vẫn chủ yếu tồn tại trong các hợp đồng vay, vì tại loại hợp đồng này, bên vay chỉ phải trả lại tài sản vay sau một thời gian nhất định nên cần phải có một tỉ lệ phần trăm xác định để tính lãi tương ứng với thời hạn vay Còn đối với các hợp đồng kinh tế, thương mại thì còn phải phụ thuộc vào quá trình thực hiện hợp đồng thực tế giữa hai bên, thời điểm vi phạm, căn cứ vi phạm

Hai là, lãi suất chỉ phát sinh do thỏa thuận của các bên hoặc theo luật

định Lãi suất là tỉ lệ phần trăm nhất định mà bên vay phải trả cho bên cho vay dựa vào số tiền gốc ban đầu Do đó, nó không thể tồn tại độc lập mà không có số tiền gốc

Ba là, lãi suất được tính trên số tiền gốc và thời hạn vay Tùy theo số tiền

gốc và thời hạn vay mà các bên có thể thỏa thuận tỉ lệ lãi suất cho phù hợp với nhu cầu của các bên

Như vậy, lãi suất là một khái niệm hết sức đặc thù, xuất phát từ đối tượng nghiên cứu của đề tài, Tác giả sẽ tiếp tục làm rõ khái niêm lãi suất trần, qua đó

có cơ sở so sánh mức lãi suất được quy định trong Bộ luật dân sự năm 2015 và pháp luật một số nước trên thế giới

1.2.3 Lãi suất trần cho vay

Lãi suất trần là giới hạn mức lãi suất cao nhất mà bên cho vay không được thỏa thuận vượt quá Việc Bộ luật dân sự năm 2015 giới hạn mức lãi suất mà các bên thỏa thuận không vượt quá 20%/năm của khoản vay được hiểu đây chính là mức lãi suất trần mà các chủ thể không được phép vượt quá Lãi suất trần đã tồn

Trang 27

21

tại rất lâu trong thực tế pháp luật dân sự của nước ta nhưng vấn đề này lại không được quy định rõ ràng về khái niệm lãi suất trần trong văn bản quy phạm pháp luật Điều này xuất phát từ thực trạng nền kinh tế và chính sách xã hội của Nhà nước Lãi suất trần đóng vai trò điều tiết và cân bằng thị trường, bảo vệ người tiêu dùng trong quan hệ vay vốn

1.3 Hợp đồng vay tiền dân sự và Hợp đồng vay tiền tín dụng

Trên cơ sở lý luận khái niệm, đặc điểm của Hợp đồng vay tiền; khái niệm, đặc điểm của lãi suất đã phân tích ở trên, dựa trên thực tế quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện nay đang cần có sự phân biệt hợp đồng vay tiền dân sự và hợp đồng vay tiền tín dụng Tác giả xin phân tích những vấn đề lý luận của hợp đồng vay tiền trong hai lĩnh vực này Từ đó có sự so sánh chính xác và rút ra giải pháp hoàn thiện pháp luật ở những chương sau

Tuy nhiên, xuất phát từ đặc thù về chủ thể tham gia, cơ chế điều chỉnh… nên ngoài những yếu tố chung nêu trên, hợp đồng vay tiền trong lĩnh vực tín dụng (hay còn gọi là hợp đồng tín dụng ngân hàng) được định nghĩa như sau:

Trang 28

22

Hợp đồng tín dụng ngân hàng là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa ngân hàng (bên cho vay) với tổ chức, cá nhân có đủ những điều kiện do luật định (bên vay) Căn cứ vào hợp đồng, ngân hàng chuyển giao một số tiền cho bên vay sử dụng trong một thời hạn nhất định, với điều kiện hoàn trả cả gốc và lãi

Việc ký kết và thực hiện hợp đồng tín dụng ngân hàng giữa đôi bên phải dựa trên nguyên tắc: Tự nguyện, cùng có lợi, bình đẳng về quyền và nghĩa vụ, trực tiếp chịu trách nhiệm về tài sản và không trái với pháp luật

1.3.2 Đặc điểm

a Đặc điểm của Hợp đồng vay tiền trong dân sự

Thứ nhất: Chủ thể tham gia vào giao dịch vay tiền trong dân sự rất đa

dạng, phong phú, có thể là bất kỳ tổ chức, cá nhân nào có nhu cầu vay vốn hoặc

có vốn nhàn rỗi Các chủ thể tham gia vào giao dịch này chỉ cần đáp ứng các điều kiện cơ bản theo quy định của Bộ luật dân sự khi tham gia vào giao dịch

dân sự: “Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập; Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn

tự nguyện”[Khoản 1, Điều 117 Bộ luật dân sự năm 2015]

Ngoài các yếu tố trên, pháp luật không quy định thêm bất cứ yêu cầu gì đối với hoạt động cho vay tiền trong dân sự

Thứ hai: Hình thức của giao dịch vay tiền trong dân sự có thể được giao

kết bằng miệng, văn bản hoặc hành vi Sự đa dạng về hình thức của giao dịch vay tiền trong dân sự này xuất phát từ mục đích của việc cho vay không chỉ nhằm mục đích sinh lời mà còn xuất phát từ nhiều yếu tố như: tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau, tình cảm…Bên cho vay trong rất nhiều trường hợp không thỏa thuận

về lãi suất, hết thời hạn vay Bên vay chỉ cần trả đầy đủ khoản tiền gốc Do đó,

Trang 29

23

hiện nay pháp luật không quy định cứng nhắc hình thức mà để các chủ thể tự do lựa chọn cho phù hợp với nhu cầu của các bên

Thứ ba: Đối tượng của hợp đồng vay tiền trong dân sự là tiền Như đã

phân tích ở Mục 1.1.3, hiện nay pháp luật Việt Nam chưa có sự quy định cụ thể

về khái niệm tiền, đây là một lỗ hổng pháp lý cần được hoàn thiện Căn cứ vào thực tiễn thì trong giao dịch dân sự các chủ thể có thể cho vay tiền (Việt Nam đồng) hoặc ngoại tệ Việc cho vay ngoại tệ trong dân sự hiện nay cũng chưa được quy định cụ thể mà Nhà nước mới chỉ ban hành quy chế cho vay ngoại tệ trong lĩnh vực tín dụng Đối tượng của hợp đồng vay tiền là Việt Nam đồng hay ngoại tệ là một trong những yếu tố chi phối tới lãi suất thỏa thuận giữa các bên

Thứ tư: Hợp đồng vay tiền trong dân sự không luôn luôn hướng tới mục

đích sinh lời Các chủ thể tham gia vào giao dịch có thể cho vay để thỏa mãn nhu cầu tình cảm, sự tương thân tương ái, hỗ trợ nhau trong những giai đoạn khó khăn Nói cách khác, trong giao dịch dân sự, mục đích sinh lời không phải là mục đích duy nhất của hợp đồng vay tiền

b Đặc điểm của Hợp đồng vay tiền trong tín dụng ngân hàng

Thứ nhất: Một bên chủ thể tham gia vào giao dịch này luôn là ngân hàng

với đầy đủ các điều kiện về thành lập, vốn pháp định, điều lệ do Ngân hàng Nhà nước phê chuẩn và đại diện hợp pháp khi ký kết hợp đồng Các điều kiện khắt khe này xuất phát từ quy mô hoạt động của các ngân hàng là rất lớn, tập hợp các ngân hàng thương mại tạo thành thị trường tài chính vô cùng sôi động, ảnh hưởng và chi phối rất lớn đến nền kinh tế Việc quy định các tiêu chuẩn đối với chủ thể tham gia là ngân hàng góp phần lành mạnh quan hệ tín dụng, bảo vệ lợi

Trang 30

vì mục đích xã hội là chính

Không chỉ Bên cho vay là các tổ chức tín dụng phải đáp ứng điều kiện ngặt nghèo mà Bên vay cũng cần đạt được những yêu cầu nhất định bao gồm: điều kiện và mục đích vay vốn, tài sản bảo đảm, dư nợ tín dụng v v Đây là đặc điểm khác biệt cơ bản giữa hợp đồng vay tiền trong dân sự và hợp đồng vay tiềntiền trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng

Thứ hai: Hợp đồng vay tiềntrong lĩnh vực tín dụng ngân hàng phải luôn

được ký kết dưới hình thức văn bản

Đặc trưng cơ bản của hoạt động tín dụng ngân hàng là đi vay để cho vay, vì vậy, để cho vay lại ngân hàng phải có trách nhiệm bảo toàn nguồn vốn tín dụng của mình Để thực hiện điều này thì quyền và nghĩa vụ của các bên (ngân hàng

và bên đi vay) phải cụ thể Pháp luật quy định các chủ thể khi tham gia vào quan

hệ tín dụng ngân hàng phải thỏa thuận bằng văn bản các quyền và nghĩa vụ của mình Thực ra quy định này nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên

Trang 31

là cơ sở để quy trách nhiệm cho các bên

Thứ ba: Cũng giống như đối tượng của hợp đồng vay tiền trong dân sự, đối

tượng của hợp đồng tín dụng luôn là tiền, có thể là tiền Việt Nam đồng hoặc

ngoại tệ Ngoài ra, các tổ chức tín dụng còn có thể cho vay bằng vàng

Thứ tư: Hợp đồng tín dụng ngân hàng luôn nhằm mục đích sinh lợi Tính

chất sinh lợi của hợp đồng tín dụng ngân hàng luôn được biểu hiện qua tỷ số chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động vốn của ngân hàng Lãi suất cho vay luôn cao hơn lãi suất huy động vốn và sự chênh lệch này luôn phụ thuộc vào cung cầu về vốn trên thị trường tùy thuộc vào từng thời điểm cụ thể, hiện nay mức lãi suất trong hợp đồng tín dụng ngân hàng do các bên thỏa thuận Ngân hàng hoạt động theo các quy định của Luật các Tổ chức tín dụng và các quy định của pháp luật có liên quan nên mục đích tìm kiếm lợi nhuận không chỉ

là điều tất yếu mà còn là động lực giúp ngân hàng duy trì hoạt động kinh doanh của mình Khách hàng càng nhiều, hợp đồng càng tăng thì lợi nhuận của ngân hàng càng sinh sôi, phát triển Vì vậy, vận mệnh của ngân hàng luôn gắn với khả

Trang 32

a Pháp luật điều chỉnh Hợp đồng vay tiền trong dân sự

Ngày 24/11/2015, Bộ luật dân sự năm 2015 được Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 10 thông qua và có hiệu lực từ ngày 01/01/2017 Tại bộ luật này có rất nhiều điểm mới, trong đó liên quan đến vấn đề lãi suất phải kể đến các quy định tại Điều 357, Điều 466, Điều 468, Điều 469, Điều 470

Đối với mức lãi suất thỏa thuận tối đa thì tại Bộ luật năm 2015 quy định:

“Lãi suất vay do các bên thỏa thuận Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác Căn cứ tình hình thực

tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.” (Khoản 1, Điều 468) Quy

định này là một thay đổi quan trọng, có thể hạn chế được những bất cập trong quy định về lãi suất theo Bộ luật dân sự năm 2005 Lãi suất tối đa các bên thỏa thuận không vượt quá 20%/năm tương đương 1,7%/tháng Mức lãi suất này so với tỉ lệ lãi suất thỏa thuận tối đa 150% theo Bộ luật dân sự năm 2005 đã được nâng cao lên để đảm bảo sự bình đằng giữa các chủ thể tham gia giao dịch Ngoài ra, một bước ngoặt nữa phải kể đến trong quy định này đó là sự tách biệt

Trang 33

27

giữa quy định về mức lãi suất trần cho vay trong giao dịch dân sự và lãi suất cho vay trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng

b Pháp luật điều chỉnh hợp đồng vay tiền trong tín dụng ngân hàng

Bộ luật dân sự năm 2015 kết hợp với Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Thông tư 39/2016/TT – NHNN quy định về hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng là một cơ chế phối hợp đồng bộ để tách biệt vấn đề lãi suất trần trong hợp đồng vay tiền dân sự và tự do thỏa thuận lãi suất trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng Theo đó, tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận về lãi suất cho vay theo cung cầu vốn thị trường, nhu cầu vay vốn và mức độ tín nhiệm của khách hàng, trừ trường hợp áp dụng mức lãi suất tối đa đối với cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam đối với 05 lĩnh vực ưu tiên do Thống đốc Ngân hàng nhà nước quyết định trong từng thời kỳ Quy định mới này của Ngân hàng Nhà nước thực sự đã gỡ được nút thắt trong một thời gian dài từ Bộ luật dân sự năm 1995 đến nay, phản ánh đúng nhu cầu của thị trường và là một bước tiến quan trọng trong tiến trình tự do hóa lãi suất của nước ta

1.4 Các tiêu chí so sánh quy định lãi suất trong hợp đồng vay tiền của Pháp luật Việt Nam và Pháp luật một số nước trên thế giới

Trên cơ sở các vấn đề lý luận về đối tượng của hợp đồng vay tiền, đặc điểm của hợp đồng vay tiền; khái niệm, đặc điểm của lãi suất; phân tích hợp đồng vay tiền trong dân sự và hợp đồng vay tiền trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng Tác giả xin đưa ra các tiêu chí để so sánh lãi suất trong hợp đồng vay tiền dân sự của pháp luật Việt Nam và pháp luật một số nước trên thế giới:

Thứ nhất: Nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật đối với lãi suất trong hợp đồng vay tiền

Trang 34

28

Nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật đối với lãi suất trong hợp đồng vay là nhu cầu tất yếu trong quản lý Nhà nước đối với các giao dịch tài chính trong nền kinh tế thị trường Thông qua quy phạm pháp luật, Nhà nước định hướng giao dịch tài chính đảm bảo sự thị trường lành mạnh, đảm bảo dòng vốn, tiền tệ đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế Khi kinh tế càng phát triển, các hoạt động đầu tư, sản xuất gia tăng, thị trường tiền tệ sôi động, nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật đối với lãi suất trong hợp đồng vay tiền càng bức thiết và chính đáng Đặc biệt ở nước ta, không có sự đồng đều trong mức độ đô thị hóa, một số vùng dân cư và đối tượng dân cư không có cơ hội, điều kiện để tiếp xúc với thị trường tài chính chính thống Tuy nhiên, việc quy định giới hạn mức lãi suất như thế nào để các chủ thể tham gia giao dịch có thể linh hoạt, không bị can thiệp thô bạo, hành chính hóa là một vấn đề không hề dễ dàng Các mục tiêu kinh tế, xã hội, chính trị cần được cân đối hài hòa trong quy định của pháp luật đối với lãi suất trong hợp đồng vay Ở Việt Nam, trình độ phát triển của các thành phần kinh tế, trình độ nhận thức của người dân cũng là vấn đề quan trọng được cân nhắc đến Chúng ta cần hội nhập với thế giới nhưng cần có lộ trình thích hợp, từng bước tự do hóa lãi suất để người dân và các thành phần kinh tế có sự thích nghi Tỷ lệ giới hạn lãi suất được các nhà làm luật đưa ra còn được căn cứ vào giá cả của việc sử dụng vốn để đảm bảo sự công bằng nhưng vẫn có thể bảo vệ được người tiêu dùng – người đi vay (những người được coi là yếu thế hơn so với người cho vay) v v Xuất phát từ thực tiễn thị trường đặt ra nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật đối với lãi suất trong hợp đồng vay

Thứ hai: Các yếu tố tác động đến việc xây dựng lãi suất trong hợp đồng vay tiền

Trang 35

29

Quy định các bên thỏa thuận lãi suất không vượt quá “50% của lãi suất cao nhất do Ngân hàng nhà nước quy định đối với loại cho vay tương ứng” [Điều 473, Bộ luật dân sự năm 1995] hay “150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với các loại cho vay tương ứng” [Điều 476 Bộ luật dân sự năm 2005] và đến nay là “20%/năm của khoản tiền vay” [Điều 468 Bộ

luật dân sự năm 2015], được các nhà làm luật đưa ra dựa trên cơ sở nào Các yếu

tố nào ảnh hưởng đến tỉ lệ lãi suất này là một vấn đề cần nghiên cứu để xác định được tỉ lệ hợp lý, đáp ứng được nhu cầu của thị trường

Thứ ba: Thực trạng các quy định về lãi suất trong hợp đồng vay tiền

Nội dung này tập trung đi vào phân tích quy định mức giới hạn lãi suất trong hợp đồng vay tiền giữa Việt Nam và một số các quốc gia trên thế giới Và cuối cùng là các chế tài được đưa ra để răn đe với các vi phạm giới hạn mức lãi suất trong hợp đồng vay tiền mà pháp luật quy định Tùy theo từng quốc gia mà các biện pháp dân sự, hành chính, hình sự được áp dụng theo mức độ vi phạm khác nhau Chế tài được thực thi để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, tạo

cơ sở để phòng ngừa, răn đe người dân, bảo vệ người tiêu dùng

Trên đây là mạch logic mà Tác giả đã đi theo để lựa chọn các tiêu chí so sánh quy định về lãi suất trong hợp đồng vay tiền của Pháp luật Việt Nam và Pháp luật một số nước trên thế giới

Kết luận chương: Như vậy, tại Chương I luận văn phân tích đối tượng,

đặc điểm của hợp đồng vay tiền và lãi suất trong hợp đồng vay Phân tích một số vấn đề lý luận của hợp đồng vay tiền dân sự và hợp đồng vay tiền tín dụng, từ đó giúp làm sáng tỏ đối tượng nghiên cứu của đề tài Đồng thời, đưa ra các tiêu chí

Trang 36

30

để so sánh lãi suất trong hợp đồng vay tiền giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật một số nước trên thế giới

Trang 37

31

CHƯƠNG II: ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ PHÁP LUẬT MỘT SỐ NƯỚC VỀ LÃI SUẤT

TRONG HỢP ĐỒNG VAY

Như đã giới thiệu sơ lược ở Chương I, tại chương này, Luận văn sẽ đi sâu

so sánh quy định lãi suất trong hợp đồng vay tiền của Pháp luật Việt Nam và Pháp luật một số nước trên thế giới dựa trên ba tiêu chí: Nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật đối với lãi suất trong hợp đồng vay; Các yếu tố tác động đến việc xây dựng quy định về lãi suất trong hợp đồng vay; Nội dung các quy định về lãi suất trong hợp đồng vay Đồng thời, Tác giả cũng nghiên cứu và lý giải nguồn gốc của sự khác biệt trong quy định lãi suất hợp đồng vay tiền giữa Việt Nam và một

số nước trên thế giới

2.1 Nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật đối với lãi suất trong hợp đồng vay tiền

Nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật đối với lãi suất trong hợp đồng vay tiềnlà trạng thái cần sự can thiệp của Nhà nước bằng pháp luật vào hoạt động cho vay của thị trường để cân bằng quyền lợi và định hướng các chủ thể tham gia

vào hợp đồng vay

2.1.1 Những điểm tương đồng

Trong nền kinh tế hiện đại, nguồn vốn là một yếu tố vô cùng quan trọng trong sự phát triển kinh tế của một đất nước Đứng trên phương diện một quốc gia, không có vốn (tiền) chúng ta không thể làm gì được, nguồn vốn giúp ta khai thác được các nguồn lực tự nhiên cũng như con người, gia tăng tài sản, thực hiện các chính sách, mục tiêu kinh tế - xã hội của Nhà nước Còn đối với từng cá nhân thì việc vay vốn phục vụ rất nhiều mục đích: tiêu dùng, đầu tư kinh

Trang 38

32

doanh v v Vấn đề đặt ra là làm sao để kích thích, hỗ trợ các giao dịch về vốn trong dân chúng, phát huy tối đa các nguồn vốn nhàn rỗi trong dân, thúc đẩy nền kinh tế thị trường, đồng thời quy hoạch quản lý sao cho các hoạt động này không

bị biến tướng, lợi dụng để thu lợi nhuận bất chính

Việc điều chỉnh lãi suất trong hợp đồng vay tiền của Việt Nam cũng như hầu hết các nước trên thế giới đều đều có điểm tương đồng là xuất phát từ nhu cầu: hạn chế cho vay nặng lãi Khái niệm “Cho vay nặng lãi” chưa được quy định trong pháp luật dân sự ở Việt Nam mà chỉ được mô tả trong quy định trong

Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi năm 2009 tại Điều 163: “Người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột …”

Ở Áo, cho vay nặng lãi được hiểu là “lợi dụng sự bất lợi, tình trạng thiếu thốn về tài chính để đòi hỏi một lợi nhuận lớn hơn thông thường” (Mục 879 Dân luật và Mục 1 Luật cho vay nặng lãi (WucherG), Điều 154, Điều 155 Bộ luật hình sự Áo).[38]

Tại Pháp, cho vay nặng lãi được mô tả là lãi suất quá cao, bất kỳ khoản vay theo hợp đồng nào đảm bảo 1% lãi suất thường niên mà vào thời gian đảm bảo nó cao hơn 1/3 tỷ lệ phần trăm trung bình được áp dụng bởi tổ chức tín dụng trong suốt quý đầu của khoản vay cùng loại thể hiện yếu tố rủi ro tương tự, tạo thành khoản vay nặng lãi (Điều 313 – 3 Luật người tiêu dùng) [38]

Bộ luật hình sự Đức, Điều 291 viết rằng: “Cho vay nặng lãi: (1) Bất kỳ ai lợi dụng tình trạng khó khăn, thiếu kinh nghiệm, thiếu sự phán đoán suy xét hoặc

sự yếu đuối về ý chí của người khác bằng cách cho phép lợi ích được đảm bảo khiến anh ta hoặc bên thứ 3: 1) Cho thuê chỗ ở hoặc dịch vụ phát sinh liên quan;

Trang 39

33

2) Đảm bảo tín dụng; 3) Cho bất kỳ dịch vụ nào khác hoặc 4) Cho sự thu được của người mà sử dụng dịch vụ trước đấy, mất cân đối sâu sắc đối với giá trị của dịch vụ…” [38]

Bồ Đào Nha gọi cho vay nặng lãi là “usura”, được hiểu là một người với ý

đồ thu lợi ích về tiền bạc cho mình hoặc cho người khác, lợi dụng tình cảnh túng thiếu, ốm đau, mất khả năng, thiếu trình độ, thiếu kinh nghiệm, lợi ích mất cân đối một cách rõ ràng, vượt quá hoặc phi lý [38]

Như vậy, ta thấy rằng có điểm tương đồng giữa các nước trong khái niệm, cách hiểu về cho vay nặng lãi là tình trạng thu lợi bất chính, lợi dụng tình trạng khó khăn, túng quẫn của người khác, đưa ra mức lãi suất cho vay cao hơn mức lãi suất quy định trên thị trường Cho vay nặng lãi phản ánh sự bất bình đẳng và không công bằng Chính vì vậy, nhu cầu điều chỉnh bằng lãi suất trong hợp đồng vay tiềntài sản là hạn chế tín dụng đen, bảo vệ người tiêu dùng, những người, những tầng lớp yếu thế trong xã hội

Xét ở góc độ Bên vay, là những người đang có nhu cầu về vốn, đang thiếu vốn (có thể là thiếu vốn kinh doanh hoặc tiêu dùng v v), tức là họ đang yếu thế hơn Bên cho vay (bên có vốn nhàn rỗi) trong giao dịch này, do đó họ rất dễ bị Bên cho vay lợi dụng, chèn ép để đạt được khoản lợi nhuận tối đa, thậm chí vượt mức trung bình trên thị trường Điều này dẫn đến sự bất bình đẳng khi tham gia giao dịch Việc điều chỉnh trần lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng vay tiềngóp phần đảm bảo sự bình đẳng khi tham gia vào giao dịch dân sự giữa bên vay và bên cho vay Nó đưa ra giới hạn có thể chịu đựng hợp lý và có khả năng thanh toán của Bên vay (người tiêu dùng) đối với khoản tín dụng Nói cách khác, quy

Trang 40

xã hội Những hậu quả của việc cho vay nặng lãi hay tín dụng đen là vô cùng khó lường, để lại nhiều hệ lụy về mặt xã hội và kinh tế Về mặt kinh tế vĩ mô, cho vay nặng lãi có thể chi phối tới giá cả hàng hóa, dịch vụ (khi các doanh nghiệp phải gồng mình để chịu đựng mức lãi suất quá cao và họ phải hạch toán khoản chi phí này vào giá cả hàng hóa), dẫn đến mất cân đối giữa giá cả và giá trị hoặc dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh toán của các doanh nghiệp, tổ chức Về mặt vi mô thì cho vay nặng lãi tác động rất lớn đến tầng lớp người dân nghèo, yếu thế và dễ bị tổn thương trong xã hội mà pháp luật các nước với chính sách nhân đạo đều bảo vệ những tầng lớp này

Tóm lại, việc điều chỉnh lãi suất trong hợp đồng vay tiền của Việt Nam cũng một số nước trên thế giới đều có điểm tương đồng là xuất phát từ nhu cầu hạn chế cho vay nặng lãi, bảo vệ người tiêu dùng và lành mạnh hóa thị trường vốn

2.1.2 Sự khác biệt

Mặc dù có những điểm giống nhau trong nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật đối với lãi suất trong hợp đồng vay Tuy nhiên, do xuất phát từ những đặc trưng về lịch sử, văn hóa nên giữa nước ta và một số nước trên thế giới mà cụ thể

là một số nước ở Châu Âu cũng có điểm khác biệt rõ nét

Ngày đăng: 24/10/2018, 10:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w