1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình theo luật hôn nhân và gia đình 2014

114 259 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ tình hình thực tiễn, trước đây, nhà nước đã đưa ra những quy định điều chỉnh về quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình được ghi nhận trong Bộ Luật Dân sự 2005 cũ

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN THỊ QUẾ ANH

HÀ NỘI – 2018

Trang 3

iii

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn “Quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình theo luật Hôn nhân gia đình 2014” là công trình nghiên

cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ trung thực, chính xác và tin cậy

Trân trọng cảm ơn

Tác giả luận văn

NGUYỄN THỊ ÚT QUỲNH

Trang 4

iv

LỜI CẢM ƠN

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới PGS.TS Nguyễn Thị Quế Anh – Khoa Luật – Trường Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ

em trong suốt quá trình thực hiện luận văn này

Đồng cảm ơn các Thầy, Cô Khoa Luật – Trường Đại học Quốc gia Hà Nội – những người đã truyền đạt những kiến thức quý báu trong quá trình

em học tập và rèn luyện tại trường

Cảm ơn gia đình và bạn bè đã luôn ủng hộ và động viên em

Tác giả luận văn

NGUYỄN THỊ ÚT QUỲNH

Trang 5

v

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUAN HỆ TÀI SẢN GIỮA CÁC THÀNH VIÊN TRONG GIA ĐÌNH 8

1.1 Khái niệm và đặc điểm về quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình 8

1.1.1 Khái niệm quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình 8

1.1.2 Phân loại quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình 12

1.1.3 Đặc điểm chung về quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình 16

1.2 Một số nét về quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình trong pháp luật một số quốc gia trên thế giới 18

1.2.1 Nhật Bản 18

1.2.2 Hoa Kỳ 20

1.2.3 Cộng Hòa Pháp 22

1.3 Sự phát triển về quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình theo pháp luật Việt Nam 24

1.3.1 Thời kỳ chế độ phong kiến 24

1.3.2 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1959 25

1.3.3 Giai đoạn từ năm 1959 đến nay 26

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 28

CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH VỀ QUAN HỆ TÀI SẢN GIỮA CÁC THÀNH VIÊN TRONG GIA ĐÌNH THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 2014 29

Trang 6

vi

2.1 Quan hệ sở hữu giữa các thành viên trong gia đình 29

2.1.1.Quan hệ sở hữu giữa vợ- chồng 30

2.1.2 Quan hệ sở hữu giữa cha mẹ- con 55

2.1.3 Quan hệ sở hữu giữa những thành viên khác trong gia đình 62

2.2 Quan hệ cấp dưỡng giữa các thành viên trong gia đình 64

2.2.1 Quan hệ cấp dưỡng giữa vợ- chồng khi ly hôn 64

2.2.2 Quan hệ cấp dưỡng giữa cha mẹ- con 67

2.2.3 Quan hệ cấp dưỡng giữa những thành viên khác trong gia đình 73

2.3 Quan hệ thừa kế giữa các thành viên trong gia đình 77

2.3.1 Quan hệ thừa kế giữa vợ- chồng 77

2.3.2 Quan hệ thừa kế giữa cha mẹ- con 81

2.3.3 Quan hệ thừa kế giữa những thành viên khác trong gia đình 83

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 85

CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014 VỀ QUAN HỆ TÀI SẢN GIỮA CÁC THÀNH VIÊN TRONG GIA ĐÌNH VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 86

3.1 Thực tiễn áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình 86

3.2 Một số hạn chế, bất cập và kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định về quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình trong Luật Hôn nhân và gia đình 2014 91

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 103

KẾT LUẬN 103

TÀI LIỆU THAM KHẢO 105

Trang 8

1

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là một nước mang truyền thống Á Đông, với đại đa số gia đình Việt Nam, hôn nhân và gia đình mang ý nghĩa rất quan trọng Gia đình

có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của cá nhân, trong việc thực hiện chức năng của xã hội, giữ gìn và chuyển giao các giá trị văn hóa dân tộc từ thế hệ này sang thế hệ khác Để xây dựng gia đình tốt thì nền tảng hôn nhân phải bên vững, ngoài việc được hình thành trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng, tiến bộ thì việc tạo lập tài sản là một trong những điều kiện tất yếu để nuôi sống gia đình, là điều kiện vật chất, cơ sở kinh tế cho hôn nhân tồn tại, bền vững Các quan hệ pháp luật hôn nhân gia đình xuất phát từ sự kiện kết hôn, từ huyết thống hoặc nuôi dưỡng là những sự kiện, trạng thái

có tính chất đặc biệt không giống như hợp đồng và nghĩa vụ dân sự Xuất phát từ bản chất của quan hệ hôn nhân gia đình là các quan hệ nhân thân phi tài sản gắn liền với chủ thể xác định, không thể tách rời và không có tính đền bù ngang giá, do đó, quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình là một vấn đề rất nhạy cảm do yếu tố tình cảm gắn bó với các chủ thể

là thành viên trong gia đình Thực tiễn cho thấy, rất nhiều trường hợp xảy

ra mâu thuẫn giữa các thành viên trong gia đình cũng xuất phát từ chính quan hệ tài sản

Xuất phát từ tình hình thực tiễn, trước đây, nhà nước đã đưa ra những quy định điều chỉnh về quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình được ghi nhận trong Bộ Luật Dân sự 2005 cũng như các quy định cụ thể trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 về chế định tài sản chung của

vợ chồng, chế định thừa kế giữa các thành viên trong gia đình cũng như cấp dưỡng giữa các thành viên trong gia đìnhtuy nhiênsau một thời gian áp

Trang 9

2

dụng đã bộc lộ những thiếu sót trong quy định của pháp luật, nhiều vấn đề còn bỏ ngỏ dẫn đến nhiều bất cập trong quá trình giải quyết Hiện nay, Luật Hôn nhân và gia đình 2014 mới ban hành đã có những quy định mới bổ sung, sửa đổi về quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình, thêm vào đó Bộ Luật Dân sự 2015 có hiệu lực ngày 1/1/2017 thay thế Bộ Luật dân sự 2005 cũng có những quy định mới ảnh hưởng đến vấn đề này Như vậy, vấn đề cần đặt ra là những quy định mới này có giải quyết những vấn

đề còn tồn tại hạy không?; cần có giải pháp nào để hoàn thiện những quy định về quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình để ổn định quan

hệ Hôn nhân và gia đình, góp phần thúc đẩy sự phát triển của toàn xã hội Chính vì vậy, tiếp tục nghiên cứu có hệ thống, đầy đủ và đảm bảo tính logic về vấn đề quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình là rất cần thiết, có ý nghĩa lý luận, thực tiễn lớn trong giai đoạn hiện nay; đây là vấn

đề cần được nghiên cứu và làm rõ hơn để phù hợp với tình hình thực tiễn

Vì vậy, tác giả đã chọn đề tài “Quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình theo luật Hôn nhân gia đình 2014”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu tổng quát:

Mục đích nghiên cứu của khóa luận là trên cơ sở nghiên cứu, tìm hiểu

lý luận và thực tiễn quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình, qua

đó tìm ra những khiếm khuyết về mặt lập pháp, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về vấn đề này

1.2.2.Mục tiêu cụ thể:

Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra là: -Nghiên cứu những vấn đề lý luận về quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình như khái niệm, đặc điểm, phân loại, cũng như quy định

về vấn đề này ở một số quốc gia trên thế giới, sự phát triển về quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình theo pháp luật Việt Nam

Trang 10

3

- Phân tích đánh giá những quy định của pháp luật về quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình trong Luật Hôn nhân và gia đình 2014 cũng như các quy định mới liên quan về vấn đề này trong Bộ Luật Dân sự

2015

- Những bất cập ở Việt Nam hiện nay khi áp dụng quy định của pháp luật về quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình theo Luật Hôn nhân và gia đình 2014

- Phương hướng và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định về quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình

1.3 Tính mới và đóng góp của đề tài

Luận văn là công trình nghiên cứu một cách toàn diện có hệ thống về

cơ sở lý luận các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 2014 về quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình qua đó có thể đưa ra một bức tranh tổng quát về quan hệ tài sản giữa vợ - chồng, cha mẹ - con, giữa các thành viên khác trong gia đình thông qua việc phân tích các chế định về quan hệ sở hữu, quan hệ cấp dưỡng và quan hệ thừa kế

Luận văn phân tích, đánh giá và chỉ ra những vướng mắc, bất cập thực

tế trong việc áp dụng các quy định của pháp luật về quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình để giải quyết những vụ việc về tranh chấp về vấn đề này Đồng thời đưa ra phương hướng và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật từ những vướng mắc, bất cập đã phân tích

Trước đây, đã có những luận văn nghiên cứu về vấn đề này, tuy nhiên mới được đề cập và phân tích thông qua quy định của Luật hôn nhân và gia đình 2000 và các quy định liên quan nằm trong Bộ luật Dân sự 2005, tuy nhiên, đây là công trình nghiên cứu đầu tiên một cách toàn diện về quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình với những quy định mới trong Luật Hôn nhân và gia đình 2014, thêm vào đó luận văn cũng đưa những

Trang 11

4

quy định mới có liên quan đến vấn đề này trong Bộ Luật Dân sự 2015 mới được sửa đổi bổ sung thay thế Bộ Luật Dân sự 2005 có hiệu lực vào 01/01/2017

Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan nhà nước trong việc xây dựng và thực hiện pháp luật có liên quan đến quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình Ngoài ra, luận văn còn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho hoạt động giảng dạy, nghiên cứu ở Khoa

Luật ĐHQG Hà Nội và các cơ sở đào tạo khác ở Việt Nam

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu cơ sở lý luận về quan hệ

tài sản giữa các thành viên trong gia đình, các quy định về quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình theo Luật Hôn nhân và gia đình 2014, những bất cập, hạn chế khi áp dụng vào thực tiễn hiện nay và đề xuất phương hướng và một số kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về vấn đề này trong Luật Hôn nhân và gia đình 2014

Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận tập trung nghiên cứu những quy định

của Luật hôn nhân và gia đình 2014 về quan hệ tài sản giữa vợ - chồng, cha

mẹ - con, giữa các thành viên khác trong gia đình thông qua việc phân tích các chế định về quan hệ sở hữu, quan hệ cấp dưỡng và quan hệ thừa kế

1.5 Tổng quan tài liệu:

Các quy định liên quan đến quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình được ghi nhận trong pháp luật nhiều nước trên thế giới như Thái Lan, Nhật Bản, và Việt Nam Nghiên cứu về quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình không hẳn là một vấn đề hoàn toàn mới Đã có nhiều công trình nghiên cứu trong nước liên quan đến vấn đề này Có thể

kể đến một số công trình nghiên cứu như “Chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam” của tác giả TS Nguyễn Văn Cừ [ Luận án tiến sỹ Luật học – Năm 2005], “Chế định cấp dưỡng trong luật

Trang 12

5

hôn nhân và gia đình Việt Nam- Lý luận và thực tiễn” của tác giả Ngô Thị Hường [ Luận án tiến sỹ luật học- Năm 2006], “Quyền và nghĩa vụ của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân” của tác giả Vũ Thị Chiêm [ Luận văn thạc

sỹ luật học- Năm 2013], “ Thừa kế theo pháp luật của cháu chắt theo quy định của pháp luật Việt Nam” của tác giả Lê Đức Bền [Luận văn thạc sỹ

luật học – năm 2009]

Và các bài báo đăng trên website và tạp chí điển hình như các bài viết

của tác giả TS Nguyễn Văn Cừ, “Chia tài sản chung của vợ chồng khi hôn nhân đang tồn tại ”[Tạp chí tòa án, số 9/2000] “Quyền sở hữu của vợ chồng theo Luật HN&GĐ năm 2000” [ Tạp chí luật học, số 6/2002],

“Quyền bình đẳng của vợ chồng đối với tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất theo Luật HN&GĐ năm 2000”[ Tạp chí nhà nước và pháp luật, số 5/2003] và các bài viết của tác giả Ngô Thị Hường như “Nghĩa vụ cấp dưỡng trong hệ thống pháp luật Việt Nam trước cách mạng tháng tám”[ Tạp chí Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Số 3/2004], “Mối quan hệ giữa nghĩa vụ nuôi dưỡng và nghĩa vụ cấp dưỡng trong luật hôn nhân gia đình” [ Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Bộ Tư pháp, Số 4/2005], “ Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi li hôn”[ Tạp chíLuật học, Trường Đại học

Luật Hà Nội, Số chuyên đề 3/2003], bài viết về thừa kế giữa các thành viên

trong gia đình như “ Về việc cháu, chắt nội, ngoại thừa kế thế vị và hưởng thừa kế di sản theo hàng của ông bà nội ngoại, các cụ nội, ngoại” của tác

giả Phùng Trung Tập [ Tạp chí Nhân dân, Số 24/2005]

Các công trình nghiên cứu cũng như các bài viết đã đề cập vấn đề dưới nhiều góc độ khác nhau, tuy nhiên, những công trình này chưa nghiên cứu một cách tổng quát về các quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình [quan hệ tài sản giữa vợ - chồng, cha mẹ - con, giữa các thành viên khác trong gia đình thông qua các chế định về quan hệ sở hữu, quan hệ cấp dưỡng và quan hệ thừa kế] Trước đây, đã có công trình nghiên cứu về “

Trang 13

vì vậy cần tiếp tục nghiên cứu và đưa ra giải pháp nhằm hoàn thiện chế định này với những quy định mới trong Luật Hôn nhân và gia đình 2014 cũng như các quy định liên quan tại Bộ Luật Dân sự 2015

2 Nội dung, địa điểm và phương pháp nghiên cứu

2.1 Nội dung nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu cơ sở lý luận về quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình, các quy định về quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình theo Luật Hôn nhân và gia đình 2014, những bất cập, hạn chế khi áp dụng vào thực tiễn hiện nay và đề xuất phương hướng và một số kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về vấn đề này trong Luật Hôn nhân

và gia đình 2014

2.2 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về Nhà nước và Pháp luật

Để đạt được các nghiên cứu mà đề tài đặt ra, trong quá trình nghiên cứu, luận văn đã sử dụng những phương pháp nêu trên đồng thời kết hợp linh hoạt với một số phương pháp nghiên cứu chung của khoa học xã hội

và các phương pháp đặc thù của luật học để nghiên cứu đề tài Các phương pháp chủ yếu bao gồm: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp phân loại,

Trang 14

7

- Phương pháp phân tích: Được sử dụng chủ yếu để làm sáng tỏ những quy định của pháp luật liên quan đến quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình

- Phương pháp tổng hợp: Được sử dụng để khái quát hóa nội dung nghiên cứu một cách hệ thống, làm cho vấn đề nghiên cứu trở nên hợp lý,

dễ hiểu

- Phương pháp so sánh: Được sử dụng để so sánh quy định của pháp luật hiện hành về quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình qua từng giai đoạn và so sánh với các quy định của một số nước khác

- Phương pháp phân loại: Phương pháp này dùng khi phân biệt các loại quan hệ tài sản giữa cá thành viên trong gia đình

- Phương pháp phân tích lịch sử: phương pháp này dùng để tìm hiểu tổng quát văn háo pháp lý của Việt Nam trước kia liên quan tới quan hệ tài sản giữa các thành viên khác trong gia đình

2.3 Địa điểm nghiên cứu:

Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội

Trang 15

8

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUAN HỆ TÀI SẢN GIỮA

CÁC THÀNH VIÊN TRONG GIA ĐÌNH 1.1 Khái niệm và đặc điểm về quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình

1.1.1 Khái niệm quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình

Khái niệm “ Tài sản”

Tài sản là một khái niệm được nhắc đến trong nhiều lĩnh vực như kinh tế, pháp lý, kế toán Ngay từ thời La Mã cổ đại đã đưa ra khái niệm về tài sản hay vật (res)là những vật chất đáp ứng nhu cầu của con người và có ý nghĩa kinh tế xã hội Thuật ngữ res được sử dụng trong ngôn ngữ pháp lý Latinh để chỉ một vật chất tồn tại theo tính chất của nó, một vật có biểu hiện vật chất và

cụ thể [1] Mặt khác, res cũng được hiểu như một quyền trừu tượng mà con người có được đối với vật Nếu vật là đối tượng của quyền thì con người là chủ thể của quyền Chính trong quan hệ đó mà vật được coi là tài sản Từ khái niệm tài sản đầu tiên trong Luật La Mã đã được pháp luật các nước Châu Âu sau này kế thừa và phát triển Trong hệ thống pháp luật các nước Châu Âu lục địa và hệ thống pháp luật Anh – Mỹ, khái niệm tài sản đều được đưa ra dựa vào sự phân loại Với trình độ khoa học pháp lý phát triển chậm hơn, các nước Châu Á cũng đã tiếp thu, học hỏi tinh hoa của Luật La Mã và pháp luật của Châu Âu trong đó có Việt Nam

Pháp luật Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắcbởi BLDS Napoleong của Pháp thông qua quá trình xâm lược của thực dân Pháp Tuy nhiên, qua từng giai đoạn phát triển của đất nước, BLDS Việt Nam đã có những thay đổi phù hợp với tình hình của đất nước Hiện nay, với BLDS 2015 đưa ra định nghĩa tài sản tại khoản 1 Điều 105 “ Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản” [2, Điều 105]

Khái niệm Quan hệ tài sản

Trang 16

9

Quan hệ tài sản là quan hệ giữa người với người thông qua một tài sản Quan hệ tài sản bao giờ cũng gắn với một tài sản nhất định được thể hiện dưới dạng này hay dạng khác [3] Khi đề cập đến tài sản không chỉ bó hẹp ở việc hiểu tài sản là gì mà còn hàm chứa nội dung xã hội là những quan hệ xã hội liên quan đến một tài sản ( như quan hệ mua bán, cho thuê…) Quan hệ tài sản giữa người với người không chỉ xác định vật thuộc về ai, do ai chiếm hữu, sử dụng, định đoạt mà còn bao gồm cả việc dịch chuyển những tài sản đó từ chủ thể này sang chủ thế khác, quyền yêu cầu của một hay nhiều chủ thể và nghĩa

vụ tương đương với quyền yêu cầu đó của một hay nhiều chủ thể khác trong quan hệ nghĩa vụ cũng được coi là tài sản Quan hệ tài sản bao gồm các quan

hệ như quan hệ về quyền sở hữu tài sản, quan hệ mua bán, tặng cho, thuê, vận chuyển, gửi giữ, gia công … Quan hệ tài sản rất đa dạng và phức tạp bởi các yếu tố cấu thành nên các quan hệ đó bao gồm: chủ thể tham gia, khách thể được tác động và nội dung các quan hệ đó

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, xã hội nhất là trong điều kiện nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, quan hệ tài sản cũng theo đó mà ngày càng phát triển biến hóa hơn

Khái niệm “Các thành viên trong gia đình”

Ngay từ thời nguyên thủy cho tới hiện nay, không phụ thuộc vào cách kiếm sống, gia đình luôn tồn tại và là nơi để đáp ứng những nhu cầu cơ bản cho các thành viên trong gia đình Xã hội đã trải qua nhiều hình thái gia đình khác nhau, gia đình là sản phẩm của xã hội, phát sinh và phát triển cùng sự phát triển của xã hội Gia đình là tế bào của xã hội, là hình ảnh thu nhỏ của xã hội, đồng thời nhân tố quyết định tính chất và kết cấu của gia đình đó là những điều kiện kinh tế xã hội trong từng giai đoạn nhất định C Mác và Ph Ăngghen đã chứng minh một cách khoa học rằng hôn nhân và gia đình là những phạm trù phát triển theo lịch sử, giữa chế độ kinh tế xã hội và tổ chức gia đình có mối quan hệ liên quan trực tiếp, chặt chẽ Trong tác phẩm “ Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và Nhà nước”, Ăngghen đã nhấn mạnh

Trang 17

10

rằng chế độ gia đình trong xã hội phụ thuộc vào quan hệ sở hữu thống trị trong

xã hội đó và bước chuyển từ hình thái gia đình này lên một hình thái gia đình khác cao hơn suy cho cùng được quyết định bởi những thay đổi trong điều kiện vật chất và đời sống xã hội [4] Bằng tác phẩm đó, Ăngghen đã làm thay đổi quan điểm trước đây về các hình thái hôn nhân và gia đình trong lịch sử

Từ trạng thái nguyên thủy, khi đó còn chưa có sự phân công lao động, xã hội chia thành các bộ lạc, lúc này không có hôn nhân, không có gia đình, bộ lạc là đơn vị duy nhất, xã hội loài người là quan hệ tính giao bừa bãi Tiếp theo đó, quá trình phát triển hình thái hôn nhân là chế độ quần hôn thể hiện ở hai hình thái chính là gia đình huyết tộc và một bước phát triển cao hơn là gia đình Pu-na-lu-an Trong gia đình huyết tộc, quan hệ hôn nhân được xây dựng theo thế

hệ (thế hệ cha mẹ và thế hệ các con) tạo thành những nhóm hôn nhân nhất định, trong đó, những người có quan hệ dòng máu trực hệ cấm giữa cha mẹ và các con Tuy nhiên, lúc bấy giờ, anh chị em đồng thời là vợ, là chồng của nhau Trong khi đó, ở gia đình Pu-na-lu-an, không những cấm giữa các thế hệ cha mẹ với thế hệ các con mà còn cấm giữa anh em trai với chị em gái trong cùng một gia đình, đó là một bước tiến bộ hơn gia đình huyết tộc Cơ sở kinh

tế của chế độ quần hôn là kinh tế gia đình tập thể, “thị tộc mẫu quyền” Bước phát triển tiếp theo là gia đình đối ngẫu, quan hệ hôn nhân ngày càng thu hẹp lại: từ chỗ anh em trai và chị em gái, bây giờ loại trừ cả anh em, chị em họ hàng ở hàng chú bác, cháu chắt và những người họ hàng xa khác Hôn nhân đối ngẫu không phải là hôn nhân một vợ một chồng và đây là một hình thức hôn nhân mới trong lịch sử đặc trưng cho một chế độ xã hội khác đó là sự phân công lao động cao nhất, xuất hiện của cải dư thừa, xuất hiện gia đình gia trưởng thay thế gia đình mẫu hệ [5] Trong mỗi hình thái kinh tế xã hội nhất định, tính chất và kết cấu của gia đình có những điểm đặc thù riêng biệt Chế

độ xã hội chủ nghĩa quyết định sự xuất hiện và phát triển của gia đình xã hội chủ nghĩa Quan hệ bình đẳng về mọi mặt giữa vợ và chồng trong gia đình xã hội chủ nghĩa phản ánh mối quan hệ bình đẳng giữa nam và nữ ngoài xã hội

Trang 18

11

Theo Khoản 2 Điều 3 Luật HN & GĐ năm 2014 định nghĩa “ Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định của Luật này” [6, Điều 3] Như vậy, có thể hiểu, thành viên trong gia đình là những người có quan hệ do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng

Khái niệm Quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình

Quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình là là mối quan hệ phát sinh giữa các thành viên trong gia đình về tài sản nhưng không phải là

sở hữu của từng thành viên trong gia đình mà là mối quan hệ về tài sản bị ràng buộc bởi quan hệ hôn nhân và gia đình xuất phát từ quan hệ huyết thống ( liên quan đến cấp dưỡng, thừa kế) mà còn xuất phát từ tình cảm yêu thương đùm bọc của các thành viên trong gia đình ( nuôi dưỡng ) Thêm vào đó, trong quan hệ xã hội của mình mỗi thành viên trong gia đình đều có sự kết nối với cá nhân, tổ chức khác trong xã hội thông qua các giao dịch dân sự như mua bán, chuyển nhượng [7]

Trong quan hệ hôn nhân và gia đình, ngoài quan hệ vợ chồng còn có các mối quan hệ khác như quan hệ giữa cha mẹ và con, quan hệ giữa ông bà nội ngoại và cháu, giữa anh chị em và các thành viên khác trong gia đình Có thể thấy đây là mối quan hệ rất rộng, bao trùm đến ba thế hệ, nó không chỉ nằm ở một gia đình nhỏ mà là đại gia đình Do đó, quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình cũng vô cùng phức tạp Quan hệ này không chỉ xuất phát

từ vấn đề huyết thống ( liên quan đến cấp dưỡng, thừa kế) mà còn xuất phát

từ tình thương, trách nhiệm giữa người nọ với người kia ( nuôi dưỡng, chăm sóc, giáodục…) Trong Luật hôn nhân và gia đình 2014 đưa ra định nghĩa tại Khoản 16 Điều 3: Thành viên gia đình bao gồm vợ, chồng; cha mẹ đẻ, cha

mẹ nuôi, cha dượng, mẹ kế, cha mẹ vợ, cha mẹ chồng; con đẻ, con nuôi, con riêng của vợ hoặc chồng, con dâu, con rể; anh, chị, em cùng cha mẹ, anh, chị,

em cùng cha khác mẹ, anh, chị, em cùng mẹ khác cha, anh rể, em rể, chị dâu,

Trang 19

12

em dâu của người cùng cha mẹ hoặc cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; ông bà nội, ông bà ngoại; cháu nội, cháu ngoại; cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột [6, Điều 3]

Như vậy, quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình là chế định thể hiện mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình về sở hữu tài sản và phương thức thực hiện quyền sở hữu tài sản của các thành viên trong gia đình Ở đây, quan hệ tài sản không chỉ thể hiện tài sản thuộc về ai, do ai chiếm hữu, sử dụng mà còn bao gồm cả việc dịch chuyển tài sản từ chủ thể này sang chủ thể khác Mỗi quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình

có những phương thức thực hiện quyền sở hữu riêng Phương thức này có thể

do các bên tự thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định Trong quan hệ hôn nhân

và gia đình, các thành viên trong gia đình có thể thỏa thuận mức đóng góp về tiền, tài sản, công sức… để đảm bảo cuộc sống chung của cả gia đình, họ có thể phân công lao động cho phù hợp với từng vị trí, vai trò của mỗi thành viên trong gia đình nhằm mục đích duy trì gia đình nói chung và sự tồn tại, phát triển của mỗi thành viên trong gia đình nói riêng Có thể nói, quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình được xây dựng dựa trên sự thỏa thuận của các bên không trái với pháp luật và đạo đức xã hội

Có thể thấy, quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình khác với quan hệ tài sản khác Quan hệ tài sản trong Luật Dân sự là quan hệ hàng hoá, tiền tệ và có tính chất đền bù ngang giá, còn trong quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình không mang tính chất ấy, do xuất phát từ mối quan

hệ giữa các thành viên trong gia đình từ sự kiện kết hôn, từ huyết thống hoặc nuôi dưỡng

1.1.2 Phân loại quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình

1.1.2.1 Dựa vào chủ thể của từng loại quan hệ tài sản

Dựa vào chủ thể của từng loại quan hệ, quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình được chia làm 3 loại đó là:

Trang 20

13

Thứ nhất, quan hệ tài sản giữa vợ- chồng:

Quan hệ tài sản giữa vợ và chồng là một loại quan hệ đặc biệt rang buộc hai người, vốn đã gắn bó với nhau do hiệu lực của hôn nhân, nghĩa là có đăng

ký kết hôn, lien quan đến tài sản, nói chung là đến các lợi ích vật chất có giá trị tiền tệ [8] Quan hệ tài sản vợ chồng được điều chỉnh bởi pháp luật dân sự

và luật hôn nhân gia đình Trong đó, luật dân sự quy định các quy tắc liên quan đến thành phần cấu tạo các khối tài sản, đến quyền của vợ chồng đối với các khối tài sản đó, cũng như đến các nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba hoặc đối với nhau Còn luật hôn nhân và gia đình, quy định các quy tắc mang tính đặc thù liên quan đến nghĩa vụ và bảo đảm thực hiện nghĩa

vụ bằng tài sản, cũng như đến việc xác lập quyền sở hữu đối với một số tài sản nhất định, áp dụng trong điều kiện người có tài sản, người có nghĩa vụ, là người có vợ (chồng)

Thứ hai, quan hệ tài sản giữa cha mẹ- con;

Quan hệ tài sản giữa cha mẹ và con chịu ảnh hưởng sâu sắc của tôn ti trật

tự gia đình và những chuẩn mực đạo đức xã hội Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền chăm sóc nuôi dưỡng con và ngược lại Con có quyền sở hữu tài sản riêng ngay trong thời gian sống chung với cha mẹ, tuy nhiên, cho đến khi con đạt đến một độ tuổi nhất định, các tài sản của con đặt dưới quyền quản lý của cha

mẹ, con có nghĩa vụ chăm lo đời sống chung của gia đình, đóng góp vào việc đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình nếu có thu nhập

Thứ ba, quan hệ tài sản giữa những thành viên khác trong gia đình

Ông bà và cháu là những thành viên trong gia đình và pháp luật cũng quy định trách nhiệm quan tâm, chăm sóc nhau giữa những thành viên này Trách nhiệm chung đối với gia đình không chỉ xuất phát từ những quy định của pháp luật mà chủ yếu là từ quan hệ tình cảm, huyết thống của những người trong gia đình

Trong gia đình, anh chị em là mối quan hệ ruột thịt rất gần gũi, họ đều

do cha mẹ sinh ra, cùng huyết thống với nhau, anh chị lớn thương yêu, quan

Trang 21

14

tâm, chăm sóc, nhường nhịn em nhỏ, ngược lại em cũng quan tâm chăm sóc anh chị lúc ốm đau, thiếu thốn, đùm bọc lẫn nhau Quan hệ này được điều chỉnh cả bởi đạo đức xã hội và pháp luật Do vậy, trách nhiệm quan tâm, chăm sóc lẫn nhau là điều hiển nhiên không chỉ pháp luật ghi nhận mà thực tế không thể phủ nhận Pháp luật không quy định một cách cụ thể về chế độ tài sản giữa các thành viên trong gia đình, nhưng tựu chung mỗi người đều có trách nhiệm đóng góp sức lực, tài sản, tiền bạc theo khả năng của mình để đảm bảo cuộc sống chung của gia đình và trong khả năng của mình, mỗi thành viên có trách nhiệm giúp và được quyền giúp đỡ từ những thành viên khác

Tương tự như vậy, gia đình Việt Nam luôn có truyền thống yêu thương đùm bọc lẫn nhau, đặc biệt đối với những người có chung huyết thống ruột thịt như cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột Khi cháu không còn cha mẹ, ông bà, cha mẹ cháu không đủ khả năng nuôi dưỡng…, cô, dì, chú, cậu, bác ruột là những người gần gũi nhất với cháu Đồng thời cháu ruột cũng là người thân của họ Do đó, việc yêu thương chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau là điều đương nhiên Không chỉ thế, pháp luật còn ghi nhận nghĩa vụ giữa họ đối với nhau, nhằm đảm bảo cuộc sống tốt nhất cho mỗi thành viên trong gia đình Trong quan hệ tài sản giữa các thành viên khác trong gia đình, giữa họ không thể phát sinh chế độ pháp lý như đối với quan hệ cha mẹ và con và trong quan hệ thừa kế thì anh chị em, ông bà chỉ thuộc hàng thừa kế thứ hai,

cô, dì, chú, cậu bác ruột, cháu ruột thuộc hàng thừa kế thứ ba, tức là chỉ được thừa kế tài sản của nhau khi không còn ai ở hàng thừa kế trước đó nữa Như vậy, quan hệ tài sản của những người trong nhóm này cũng không phải là trực tiếp, và trách nhiệm vật chất giữa họ chỉ phát sinh khi pháp luật quy định

1.1.2.2 Dựa trên đối tượng của loại quan hệ tài sản

- Quan hệ sở hữu:

Trang 22

- Quan hệ thừa kế:

Vợ chồng được thừa kế tài sản của nhau, con được thừa kế tài sản của cha mẹ theo di chúc và theo pháp luật và ngược lại, anh chị em được thừa kế tài sản của nhau khi không còn hàng thừa kế thứ nhất, cháu được thừa kế tài sản của ông bà và ngược lại khi không có hai hàng thừa kế trên, cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột được thừa của nhau thuộc hàng thừa kế thứ ba

- Quan hệ cấp dưỡng:

Cấp dưỡng là một thuật ngữ pháp lý được sử dụng trong pháp luật hôn nhân và gia đình để thể hiện mối quan tâm ràng buộc về quyền và nghĩa vụ giữa những người không sống chung với nhau nhưng đang có hoặc đã có quan

hệ gia đình trong việc bảo đảm cuộc sống cho những người chưa thành niên, người đã thành niên nhưng trong tình trạng mất hoặc bị giảm sút khả năng lao động, không có thu nhập và không có tài sản hoặc tuy có nhưng không đủ để bảo đảm cuộc sống của mình Cấp dưỡng còn là biện pháp chế tài đối với người có hành vi trốn tránh thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng [6, Điều 3]

Khái niệm này không chỉ nêu rõ mối quan hệ giữa các chủ thể của quan

hệ cấp dưỡng, thể hiện bản chất của quan hệ cấp dưỡng mà còn đặt cơ sở lý luận cho việc quy định nội dung của chế định cấp dưỡng và hoàn thiện luật về cấp dưỡng

Trang 23

16

1.1.3 Đặc điểm chung về quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình

Các thành viên trong gia đình cũng là thành viên của xã hội Vì vậy, quan

hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình trước hết là quan hệ xã hội, quan

hệ dân sự Khi quan hệ này được pháp luật điều chỉnh thì đó là quan hệ pháp luật Như vậy, quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình cũng mang những đặc điểm của quan hệ xã hội, quan hệ dân sự và quan hệ pháp luật.Tuy nhiên, là loại quan hệ tài sản đặc biệt gắn liền với hôn nhân và gia đình nên quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình có những điểm khác biệt

những quan hệ tài sản khác Điều đó thể hiện ở chỗ:

Thứ nhất, xuất phát từ tính chất và mục đích đặc biệt của quan hệ hôn

nhân gia đình được xác lập, đó là tính cộng đồng, do đó, các thành viên trong gia đình có quyền bình đẳng trong quan hệ tài sản này, quyền độc lập của mỗi người, quyền tự do cá nhân vì hạnh phúc chung của cả gia đình, vì sự ổn định, hòa thuận giữa các thành viên trong gia đình, mặt khác mỗi thành viên trong gia đình vừa là chủ thể của quan hệ hôn nhân và gia đình nhưng đồng thời cũng là chủ thể của các quan hệ pháp luật dân sự khác khi tham gia các quan hệ này

Thứ hai, về mặt chủ thể: các bên phải có quan hệ hôn nhân và gia đình,

có năng lực pháp luật và năng lực hành vi Khác với trong luật dân sự nói chung, năng lực pháp luật phát sinh từ lúc sinh ra thì năng lực pháp luật trong quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình chỉ phát sinh khi cá nhân đạt được đến một độ tuổi nhất định Tương tự như vậy, năng lực hành

vi về độ tuổi chỉ phát sinh khi cá nhân đạt được đến một độ tuổi nhất định, tuy nhiên, khả năng thực hiện quyền có thể sớm hơn

Thứ ba, căn cứ xác lập, thay đổi hay chấm dứt quan hệ tài sản giữa các

thành viên trong gia đình phụ thuộc vào sự kiện làm phát sinh, làm thay đổi hay chấm dứt của quan hệ hôn nhân gia đình Tức là chỉ khi nào có quan hệ hôn nhân gia đình thì mới làm phát sinh quan hệ tài sản giữa các thành viên

Trang 24

17

trong gia đình

Thứ tư, quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình mang những

đặc thù riêng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ thể Đối với tài sản chung của các thành viên trong gia đình thì bắt buộc mỗi thành viên khi tham gia các giao dịch dân sự, kinh tế phải xuất phát từ lợi ích chung của gia đình Khi các thành viên trong gia đình sử dụng tài sản chung để phục vụ mục đích thiết yếu của gia đình thì pháp luật coi là có sự thỏa thuận đương nhiên của các thành viên trong gia đình, trừ những tài sản chung có giá trị lớn

Thứ năm, khối tài sản của gia đình được hình thành từ sự đóng góp của

cải, vật chất của thành viên trong gia đình, nhằm duy trì cuộc sống chung của gia đình Tuy nhiên, có những trường hợp khối tài sản chung của các thành viên có nguồn gốc từ thừa kế, tặng cho chung hoặc mua chung… Trong trường hợp gia đình là một tổ sản xuất cùng tham gia sản xuất mang về lợi nhuận thì lợi nhuận đó thuộc sở hữu chung của các thành viên trong gia đình

Sở hữu chung của các thành viên trong gia đình là có thể phân chia được Bên cạnh những tài sản thuộc sở hữu chung thì mỗi thành viên đều có thể là chủ thể của sở hữu cá nhân do tài sản riêng của mỗi người được hình thành

do quan hệ xã hội, công việc, thu nhập riêng của họ

Thứ sáu, xuất phát từ vị trí, vai trò của gia đình đối với sự tồn tại và phát

triển của xã hội, cho nên các nhà làm luật khi quy định về quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình đều bắt đầu từ mục đích trước tiên và chủ yếu nhằm bảo đảm lợi ích chung của gia đình, trong đó có lợi ích của từng thành viên trong gia đình Hiện nay, BLDS 2015 đã có quy định về Sở hữu chung của các thành viên gia đình tại Điều 212 theo đó, tài sản của các thành viên gia đình cùng sống chung gồm tài sản do các thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập nên và những tài sản khác được xác lập quyền sở hữu và việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của các thành viên gia đình được thực hiện theo phương thức thỏa thuận Trường hợp định đoạt tài sản là bất động

Trang 25

18

sản, động sản có đăng ký, tài sản là nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình phải

có sự thỏa thuận của tất cả các thành viên gia đình là người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp luật có quy định khác.Thêm vào đó, trường hợp không có thỏa thuận thì áp dụng quy định về sở hữu chung theo phần được quy khi các thành viên trong gia đình muốn chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung trong gia đình trừ trường hợp sở hữ chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia ( Khoản 1, Điều 213 BLDS

2015)

1.2 Một số nét về quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình

trong pháp luật một số quốc gia trên thế giới

Thực tiễn ban hành và áp dụng pháp luật hôn nhân và gia đình của các nước trên thế giới cho thấy các nhà làm luật luôn hướng tới và thông qua luật pháp để duy trì quan hệ hôn nhân và gia đình như một thiết chế vững chắc làm nền tảng cho một xã hội ổn định Do đó, các quan hệ hôn nhân và gia đình ngày càng được điều chỉnh với các chế định pháp luật chặt chẽ hơn, cụ thể hơn, đặc biệt là quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình Điều đó được thể hiện thông qua các quy định trong pháp luật một số nước trên thế giới tiêu biểu như:

1.2.1 Nhật Bản

Nhật Bản là một quốc gia mang nặng nhiều biểu hiện phong kiến và bất bình đẳng giới Hôn nhân một vợ một chồng của Nhật Bản mới được ghi nhận khoảng 100 năm trước vào đầu thời kì Minh Trị, ngay cả đến thời điểm hiện nay Nhật Bản cũng chỉ cho phép phụ nữ được tái giá sau 6 tháng kể từ ngày cuộc hôn nhân trước của họ chấm dứt và người vợ khi kết hôn thì phải mang

họ chồng Về hình thức, không giống như pháp luật các quốc gia khác, Nhật Bản có riêng một văn bản pháp luật điều chỉnh về hình thức của hôn ước và vấn đề đăng kí hôn ước Mặc dù tên tiếng anh của văn bản này được dịch theo các cách khác nhau: “Family Registration Act” hay “Matrimonial property

Trang 26

19

agreement Registration Act” nhưng toàn bộ nội dung của nó chỉ nói về việc đăng kí hôn ước và hình thức của hôn ước Về nội dung, nội dung của của hôn ước được qui định trong bộ luật dân sự (Civil Code) Điều 755 Bộ luật dân sự Nhật Bản ghi nhận quyền được lập hôn ước của các cặp vợ chồng: các quyền

và nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng sẽ được tuân theo các qui định dưới đây nếu như vợ chồng không kí vào một hợp đồng qui định trước về tài sản của họ trước khi đăng kí kết hôn [9]

Trong quan hệ giữa cha mẹ và con cái: khi cha mẹ ly hôn thì con dưới 20 tuổi được giao cho một người nuôi dưỡng Ở Nhật Bản không có tập quán mà cha mẹ ly hôn thì cùng hợp tác nuôi dạy con, thường thì đứa trẻ còn nhỏ sẽ được giao cho người mẹ Việc thi hành nghĩa vụ nuôi dưỡng của người cha đối với những đứa con riêng không được thực hiện một cách triệt để Con rể

có thể nhận làm con nuôi của bố mẹ vợ, theo đó anh ta có trách nhiệm nuôi dưỡng bố mẹ của vợ, khi bố mẹ vợ chết thì anh ta cùng với người vợ trở thành người thừa kế Và nếu số người thừa kế tăng thì thuế thừa kế sẽ giảm Ngày nay tại Nhật Bản, nghĩa vụ của con cái nuôi dưỡng bố mẹ bị coi nhẹ hơn nghĩa vụ nuôi dưỡng vợ và con… [7]

Đối với vấn đề thừa kế, Nhật Bản cũng tuân theo hai hình thức thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật BLDS Nhật Bản hình thức di chúc bao gồm di chúc viết tay không công chứng, di chúc viết tay có công chứng, di chúc bí mật và di chúc theo thể thức khác Đối với thừa kế theo pháp luật diện thừa kế xuất phát theo huyết thống, theo hôn nhân và theo nuôi dưỡng ( Hàng thứ nhất gồm con, cháu của người chết ( nếu người thừa kế chết trước người

để lại di chúc hoặc mất quyền hưởng di chúc); hàng thứ hai là người cùng huyết thống trực hệ tôn (huyết thống bề trên); hàng thứ ba bao gồm anh chị

em ruột của người chết Tuy không được nhắc đến trong các hàng thừa kế nhưng vợ chồng của người để lại thừa kế trở thành người thừa kế trong mọi trường hợp, trong trường hợp bất cứ người nào trở thành người thừa kế phù

Trang 27

lệ, UPAA được chấp nhận ở đa số các bang của Hoa Kì, một số bang còn lại

có những qui định khác hay đặc biệt hơn so với UPAA Vấn đề về tài sản chung - riêng của vợ chồng, việc lập di chúc đối với tài sản tại Mỹ được quy định trong Luật Hôn nhân gia đình do từng tiểu bang quy định Hiện nay, trước xu hướng phân hóa trong đời sống hôn nhân- gia đình của người Mỹ, các khái niệm về gia đình truyền thống không còn đứng vững nữa, mà thay vào đó là theo hướng chi phối của chủ nghĩa cá nhân, theo đó, mặc dù là vợ là chồng với nhau, nhưng nhiều người vẫn muốn đứng tên sở hữu riêng tài sản,

và được tự do ký kết thỏa thuận về tài sản chung - riêng trước khi tiến tới hôn nhân… Bởi vậy quy định về tài sản chung - riêng là lĩnh vực khó nhất trong

Trang 28

Đối với con cái, theo luật pháp hiện hành, toà thụ lý thường ra lệnh bắt bên ly hôn không giữ con cái phải cung ứng một khoản tiền tương xứng căn

cứ vào bảng hướng dẫn cấp dưỡng nuối con cái chung Người này thường phải đóng góp khoảng từ 20% tới 40% số tiền lợi tức để cấp dưỡng từ 1 tới 4 đứa con Tiền cấp dưỡng con cái sẽ thay đổi căn cứ vào khả năng kiếm thêm tiền của người cung cấp Số tiền cấp dưỡng được trao cho người giữ và trông nom đứa trẻ để người này tiêu dùng trong việc nuôi dưỡng đứa trẻ.Tiền cấp dưỡng con cái chấm dứt sau khi con cái thành niên, hoặc mãn học và bắt đầu đi làm

để tự nuôi thân Chính quyền tiểu bang và liên bang có những biện pháp đôn đốc và cưỡng bách thi hành cấp dưỡng con cái, như khấu trừ lương lậu, tiền thuế thặng dư, thu bằng lái xe, xiết nợ trên bằng khoán v.v của đương sự không chiụ cấp dưỡng

Về thừa kế, hệ thống pháp luật Mỹ công nhận quyền của một người được định đoạt tài sản của mình như mong muốn Một cách phổ biến để làm điều này là thực hiện di chúc Nếu một người để lại một di chúc hợp lệ thì tòa án sẽ cưỡng chế thực hiện di chúc đó Tuy nhiên, nếu một người nào đó không để lại di chúc (hoặc lập di chúc không hợp lệ) thì người đó sẽ được coi là chết mà không để lại di chúc, và bang sẽ định đoạt tài sản Việc bang định đoạt tài sản

Trang 29

22

được thực hiện theo các quy định trong luật bang Theo luật pháp, tài sản của người chết không để lại di chúc được chuyển giao cho những người thừa kế của người đã chết – nghĩa là cho những người họ hàng gần nhất của người đó Đôi khi một người khi chết không để lại di chúc nhưng cũng không có họ hàng còn sống Trong trường hợp này, tài sản không có người thừa kế sẽ được sung công, hoặc chuyển giao cho bang nơi người chết cư trú Các đạo luật của bang thường cấm những người họ hàng xa, như anh chị họ hay bố của cô chú được thừa kế Ngày nay, người dân Mỹ càng có xu hướng soạn sẵn di chúc để bảo đảm rằng tài sản của họ sẽ được chuyển giao theo mong muốn của họ chứ không phải theo những quy định của bang Di chúc là một giấy tờ chính thức

Nó phải được soạn thảo cực kỳ cẩn thận, và ở hầu hết các bang nó phải có ít nhất hai người làm chứng [11]

1.2.3 Cộng Hòa Pháp

Nguyên tắc tự do lựa chọn chế độ tài sản trong hôn nhân bắt nguồn từ việc thực hiện nguyên tắc tự do ký kết hợp đồng đã được thừa nhận ở Pháp từ thế kỷ XVI, khi mà những quan hệ kinh tế, thương mại phát triển mạnh Từ thời kỳ đó, luật pháp và tập quán đã thừa nhận những sự thỏa thuận của vợ chồng về chế độ tài sản phù hợp với hoàn cảnh kinh tế của họ, như là một quyền tự do cá nhân Bộ luật dân sự 1804 ra đời đã kế thừa tinh thần này và duy trì nguyên tắc không thay đổi những thỏa thuận của vợ chồng về chế độ hôn sản

Hiện nay, nguyên tắc vợ chồng có quyền tự do lựa chọn chế độ tài sản được khẳng định ngay trong quy định đầu tiên của phần những quy định chung của Bộ luật dân sự về các chế độ tài sản của vợ chồng Điều 1387 quy định: “Luật pháp chỉ điều chỉnh quan hệ vợ chồng về tài sản khi không có thỏa thuận riêng, mà vợ chồng có thể làm vì cho rằng điều đó là cần thiết, miễn sao những thỏa thuận đó không trái với thuần phong mỹ tục và những quy định sau đây”

Trang 30

23

Thực tế, nhà lập pháp của Pháp đã đưa ra một hệ thống các chế độ tài sản của vợ chồng, bao gồm chế độ tài sản pháp định và các chế độ tài sản ước định Dưới ảnh hưởng của nguyên tắc tự do lựa chọn chế độ tài sản của vợ chồng, chế độ tài sản pháp định không có hiệu lực áp dụng một cách đương nhiên, trái lại, nó chỉ là một chế độ tùy nghi Những người kết hôn hoàn toàn

có quyền tự do thỏa thuận một chế độ tài sản cho riêng mình Nếu họ không thiết lập những thỏa thuận về vấn đề này, chế độ tài sản pháp định sẽ đương nhiên được áp dụng [9]

Bộ luật Dân sự Pháp quy định cha mẹ được quản lý và hưởng dụng các tài sản của con khi thực thi quyền của cha mẹ và trong các trường hợp khác, sẽ

do cha hoặc mẹ thực hiện dưới sự giám sát của Thẩm phán Việc hưởng dụng theo luật định gắn với việc quản lý theo luật định, việc hưởng dụng thuộc về

cả cha và mẹ hoặc người cha hay mẹ có trách nhiệm quản lý Việc hưởng dụng theo luật định không bao gồm những tài sản mà đứa con có được do lao động của mình, những tài sản được tặng cho hay di tặng kèm theo điều kiện rõ ràng là cha mẹ không được hưởng dụng [12, Điều 382, 383, 387]

Pháp luật về thừa kế của Pháp quy định về quan hệ thừa kế chủ yếu dựa trên quan hệ huyết thống bao gồm bốn hàng thừa kế theo thứ tự hàng thứ nhất

là nhứng người bề dưới ( con của người chết không phụ thuộc vào hình thức giới tính, hình thức hôn nhân của cha mẹ; hàng thứ hai là những người thừa kế phía trên ( đó là những người có quan hệ trực hệ, người ở bậc gần nhất sẽ loại trừ người ở bậc xa hơn và mỗi người hưởng một suất bằng nhau); hàng thứ ba bao gồm anh chị em của người chết và các con của người đó; hàng thứ tư bao gồm vợ, chồng người chết; vợ chồng mà bản án xử ly thân chưa có hiệu lực

pháp luật Như vậy, khác với môt số nước, vợ chồng không được đặt lên hàng

thừa kế đầu tiên do sự khác nhau về quan niệm cũng như đạo đức lối sống phóng khoáng của người phương tây Ngoài thừa kế theo pháp luật, Pháp luật cũng quy định về thừa kế theo di chúc từ điều 967 đến 1001 bao gồm ba dạng:

Di chúc viết tay, công chứng thư và di chúc bí mật [12]

Trang 31

24

1.3 Sự phát triển về quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình theo pháp luật Việt Nam

1.3.1 Thời kỳ chế độ phong kiến

Gia đình cổ Việt Nam được xây dựng trên cơ sở phương thức sản xuất phong kiến: ruộng đất và lao động nông nghiệp là nền tảng kinh tế và là điều kiện vật chất của việc duy trì và phát triển gia đình Bởi vậy: Ruộng đất phải được bảo tồn trong sản nghiệp gia đình; gia đình phát triển về quy mô đến mức có thể được trên cơ sở kinh tế là sản nghiệp nông nghiệp của mình Nói cách khác, quy mô của gia đình cổ tùy theo quy mô ruộng đất tích tụ: có nhiều ruộng đất, gia đình được duy trì với nhiều thế hệ chung sống trong cùng một nhà; có ít ruộng đất, gia đình được duy trì với một số thế hệ vừa phải Dưới thời Lê, có sự hòa hợp giữa luật viết và tục lệ trong lĩnh vực tổ chức và quản lý gia đình: quyền lực của chủ gia đình nằm trong tay cả cha và mẹ Dưới thời Nguyễn, luật viết xây dựng khuôn mẫu gia đình theo mô hình gia đình phụ quyền Trung Quốc: toàn bộ quyền lực của chủ gia đình nằm trong tay người cha trong gia đình; nếu người này chết, thì người mẹ góa không kết hôn lại giữ vị trí chủ gia đình dưới sự giám sát của gia tộc; nếu cả cha và mẹ đều chết, thì vai trò chủ gia đình do con trai trưởng đảm nhận [7]

Thời kỳ phong kiến có rất nhiều bộ luật đáng chú ý ra đời như Bộ luật Hồng Đức (1483), Bộ Luật Gia Long (1815), trong đó các bộ luật này điều chỉnh nhiều quan hệ xã hội thuộc đối tượng của nhiều ngành luật hiện nay, có thể kể đến các quy định về thừa kế tại Điều 390 Bộ Luật Hồng Đức quy định “ Cha mẹ làm chúc thư phân chia tài sản, thiết lập hương hoả trong chúc thư” [13, Điều 390], đồng thời còn quy định việc con trai, con gái, con nuôi đều có quyền thừa kế từ cha mẹ Khác với Bộ luật Hồng Đức, Bộ luật Gia Long không thừa nhận quyền thừa kế của con gái mà chú trọng đến quyền thừa kế của con trai Vấn đề thừa kế theo di chúc được đề cập tại Điều 388 quy định “ Nếu có mệnh lệnh của cha mẹ, phải theo đúng Vi phạm sẽ mất phần của

Trang 32

25

mình”[14, Điều 388] Quy định về thừa kế trong hai bộ luật này tương đối chặt chẽ và đầy đủ

1.3.2 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1959

Cách mạng tháng Tám thành công nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, cùng với việc ban hành Hiến pháp mới 1946 là sự ghi nhận quyền sở hữu hợp pháp của công dân Ngoài việc ban hành các văn bản pháp luật nhằm xoá

bỏ triệt để các hình thức sở hữu của chính quyền thực dân, quyền sở hữu của công dân được ghi nhận với tinh thần hoàn toàn mới đó là người ta chỉ được hưởng dụng và sử dụng các vật thuộc quyền sở hữu của mình một cách hợp pháp và không thiệt hại đến quyền lợi của nhân dân ( Điều 12, Sắc lệnh số 79/SL) Hiến pháp 1959 xác định chế độ sở hữu, thành phần kinh tế, nguyên tắc quản lý nền kinh tế là chính sách kinh tế của Nhà nước XHCN nhưng phù hợp với điều kiện đất nước có chiến tranh Chế độ công hữu về tư liệu sản xuất được xác lập cùng với nó là quan hệ sản xuất XHCN Vì vậy, Hiến pháp

1959 thừa nhận sự tồn tại của bốn hình thức sở hữu chủ yếu về tư liệu sản xuất, bao gồm sở hữu toàn dân, sở hữu hợp tác xã, sở hữu của những người lao động riêng lẻ và sở hữu của nhà tư sản dân tộc Nhà nước chỉ trưng mua, trưng dụng, trưng thu khi cần thiết vì lợi ích chung nhưng có bồi thường thích đáng Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, nền kinh tế Việt Nam phát triển theo cơ chế bao cấp, tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng được phân phối theo kế hoạch, cho nên các giao lưu dân sự không phát triển, vì vậy cá nhân có quyền sở hữu đối với tư liệu tiêu dùng để phục vụ nhu cầu sinh hoạt Như vậy mỗi thành viên trong gia đình đã có quyền sở hữu đối với cá nhân chính mình

mà không phải phụ thuộc vào gia đình như thời kỳ trước, nam nữ bình đẳng nhất là trong việc sở hữu ruộng đất

Riêng trong lĩnh vực thừa kế đã quy định vợ, chồng có quyền thừa kế tài sản của nhau; con trai, con gái đều có quyền hưởng thừa kế từ cha mẹ; chồng goá vợ goá, các con đã thành niên có quyền phân chia di sản; con, cháu, chồng

Trang 33

1.3.3 Giai đoạn từ năm 1959 đến nay

Do những nguyên nhân khách quan và điều kiện lịch sử cụ thể nên Luật Hôn nhân và gia đình trước đây (năm 1959) mới chỉ chú trọng đến vấn đề kết hôn, ly hôn, quan hệ giữa cha, mẹ và con cái; còn nhiều vấn đề trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình chưa được Luật điều chỉnh Kế thừa và phát huy nguyên tắc dân chủ, tiến bộ của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, Luật Hôn nhân

và gia đình năm 1986 đã ra đời trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới đã

đề cập đến nhiều vấn đề khác như quan hệ giữa ông bà và cháu, giữa anh chị

em trong gia đình Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 tiếp tục coi gia đình

hộ như là mô hình chính thức trong xã hội xã hội chủ nghĩa và tiếp tục hoàn thiện hệ thống quy tắc liên quan đến nghĩa vụ của cha mẹ đối với con Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 coi quan hệ nghĩa vụ giữa cha me và con là quan hệ nghĩa vụ hỗ tương: con từ 16 tuổi trở lên còn ở chung với cha mẹ có nghĩa vụ chăm lo đời sống chung của gia đình; nếu có thu nhập riêng, thì phải đóng góp vào nhu cầu của gia đình (Ðiều 23) Luật cũng có nhắc đến quan hệ giữa ông bà và cháu (Ðiều 27), nhưng không coi họ như các thành viên của cùng một gia đình hộ: quan hệ ông bà-cháu được luật chi phối trong hoàn cảnh

bi kịch - cháu không còn cha mẹ Cũng trong hoàn cảnh đó mà luật quan tâm điều chỉnh quan hệ anh-chị-em Sự thành lập gia đình gồm có ông bà và cháu hoặc gồm có anh, chị, em được coi như biện pháp cứu hộ đối với những con người bất hạnh Thực tiễn thi hành Luật Hôn nhân gia đình năm 1986 cho thấy một số quy định của Luật nhằm điều chỉnh các mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình còn mang tính nguyên tắc chung, thiếu cụ thể nên đã gây nên nhiều khó khăn khi vận dụng, thiếu thống nhất khi thi hành

Trang 34

27

Trên cơ sở kế thừa và phát huy những điểm tiến bộ của các luật hôn nhân và gia đình trước, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã có những quy định mới về quan hệ giữa các thành viên trong gia đình nhằm củng cố quan hệ gia đình vững chắc Mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình được quy định rõ hơn với mục đích khẳng định lại các quan hệ vốn thuộc phạm trù đạo đức, văn hóa truyền thống trong pháp luật nhằm thể hiện ý chí của Nhà nước

và xã hội trong việc đề cao, tôn trọng và bảo vệ các truyền thống tốt đẹp vốn

có của gia đình Việt Nam

Việc áp dụng chính sách đổi mới đã thúc đẩy quá trình tích lũy của cải trong khu vực tư nhân Theo một xu hướng tự nhiên, một khi việc thực hiện một kế hoạch đầu tư nào đó trong các lĩnh vực nông nghiệp, tiểu công nghiệp, dịch vụ vượt quá khả năng của một cá nhân, thì những người đầu tiên mà cá nhân muốn kêu gọi sự hợp tác chính là các thành viên trong gia đình Kế hoạch đầu tư càng quan trọng, các thành viên của gia đình được tập họp càng đông Sự gắn bó về kinh tế dẫn đến sự gắn bó về tình cảm và gia đình truyền thống dần dần được khôi phục, với quy mô được xác định tùy theo quy mô của hoạt động kinh tế chung của các thành viên Gia đình có nhiều thành viên

có tổ chức phức tạp hơn gia đình ít thành viên và các mối quan hệ nội bộ cũng

đa dạng hơn Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 tỏ ra không còn đủ sức đảm đương chức năng cơ sở pháp lý của gia đình trong thời kỳ đổi mới; trong khi

đó, tục lệ ghi nhận sự phát triển tự phát của những giá trị còn chưa được luật viết quan tâm đúng mức, nhưng có tác dụng tốt trong việc đặt nên móng cho

sự phát triển của gia đình nhiều thế hệ: nghĩa vợ chồng, quyền cha mẹ, chữ hiếu, Sự thay thế Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 bằng Luật hôn nhân

và gia đình năm 2000 diễn ra như một tất yếu

Ngày nay, người làm luật chính thức thừa nhận chủ trương khuyến khích sự nhân rộng mô hình gia đình nhiều thế hệ đồng thời cam kết tạo điều kiện thuận lợi cho việc duy trì và phát triển mô hình đó: Nhà nướïc khuyến khích và tạo điều kiện để các thế hệ trong gia đình chăm sóc, giúp đỡ nhau

Trang 35

28

nhằm giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam (Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Ðiều 49 khoản 2) Tuy nhiên, Luật Hôn nhân

và gia đình 2000 sau nhiều năm thi hành cũng bộc lộ nhiều hạn chế bất cập, do

đó, Luật Hôn nhân và gia đình 2014 ra đời là một tất yếu

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Lịch sử phát triển của nhân loại cho thấy chế độ hôn nhân và gia đình ở mỗi thời kỳ khác nhau thì cũng có những biểu hiện khác nhau thể hiện tính chất, kết cấu của xã hội thời kỳ đó Trong xã hội có giai cấp, các quan hệ pháp luật nói chung, các quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình nói riêng luôn thể hiện tính giai cấp và đấu tranh giai cấp sâu sắc, luôn chịu sự quy định của những biến đổi trong sản xuất, trong đời sống kinh tế - xã hội

Quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình được hiểu là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh về vấn đề tài sản của các thành viên trong gia đình, bao gồm: quan hệ sở hữu, quan hệ cấp dưỡng và quan hệ thừa kế giữa vợ và chồng, giữa bố mẹ và con, giữa ông bà và cháu, anh chị em với nhau, giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột với cháu ruột Quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình là quan hệ xã hội, quan hệ dân sự, quan hệ pháp luật nhưng có những nét đặc trưng khác biệt xuất phát từ quan hệ hôn nhân, nuôi dưỡng

Quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình là một chế định quan trọng trong pháp luật hôn nhân và gia đình trên nhiều nước trên thế giới như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Pháp… với những đặc trưng khác nhau theo truyền thống, quan điểm lập pháp của từng nước Một trong những đặc thù của pháp luật hôn nhân và gia đình phương Tây là đề cao quyền tự do cá nhân, tự do thỏa thuận và quyền tự định đoạt của các chủ thể trong quan hệ hôn nhân và gia

Trang 36

29

đình, đặc biệt trong quan hệ vợ chồng, họ quan niệm hôn nhân gần như một loại hợp đồng dân sự Ở Việt Nam, với đặc điểm truyền thống của người Việt, khi ghi nhận chế độ tài sản thoả thuận theo vợ chồng đã là một bước tiến quan trọng trong lịch sử phát triển của Luật Hôn nhân và gia đình mặc dù vẫn có những hạn chế nhất định đối với pháp luật Việt Nam

Trải qua nhiều thời kì, mà mới nhất là Luật Hôn nhân và gia đình 2014, chế định quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình ngày càng được hoàn thiện, được điều chỉnh chủ yếu bởi luật Hôn nhân và gia đình và bộ Luật dân sự với các quy định ngày càng cụ thể rõ ràng, ngày càng đảm bảo được quyền và lợi ích các bên, phù hợp với tình hình thực tiễn đất nước

CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH VỀ QUAN HỆ TÀI SẢN GIỮA CÁC THÀNH VIÊN TRONG GIA ĐÌNH THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

2014

2.1 Quan hệ sở hữu giữa các thành viên trong gia đình

Quan hệ sở hữu giữa các thành viên trong gia đình xuất phát từ hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng Quan hệ sở hữu giữa các thành viên trong gia đình bao gồm hai nhóm: quan hệ sở hữu đối với tài sản chung và quan hệ sở hữu

Trang 37

30

đối với tài sản riêng Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thừa nhận cả hai hình thức sở hữu này

2.1.1.Quan hệ sở hữu giữa vợ- chồng

Quan hệ sở hữu tài sản giữa vợ chồng được xem xét trong tổng thể các quy định pháp luật về vấn đề này, đó là quy định về xác lập quyền sở hữu đối với tài sản theo Bộ luật dân sự và các quy định của luật hôn nhân và gia đình Trải qua nhiều thời kì, các quy định về quan hệ sở hữu giữa vợ chồng ngày càng được các nhà làm luật chú trọng và hoàn thiện Trong điều kiện kinh tế thị trường như hiện nay, việc duy trì và phát triển đời sống gia đình đã thúc đẩy vợ chồng tham gia rộng rãi vào các giao dịch dân sự, thương mại, do đó, việc vụ thể hóa quyền sở hữu của vợ chồng càng đóng vai trò quan trọng, tạo

ra cơ sở pháp lý phân định rõ ràng trách nhiệm của vợ, chồng trong việc quản

lý, sử dụng, định đoạt tài sản trong gia đình Tạo điều kiện cho vợ chồng chủ động tham gia vào các giao dịch dân sự, thương mại đảm bảo thỏa mãn về nhu cầu vật chất và tinh thần của vợ chồng, cũng như bảo vệ quyền và lợi ích của

vợ chồng khi có tranh chấp

Điểm mới của Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2014 so với Luật HN&GĐ năm 2000 có thêm Mục 3 trong quy định về “ Chế độ tài sản của vợ chồng”

để quy định về sở hữu tài sản chung, tài sản riêng cũng như sự thỏa thuận của

vợ chồng trong thời kì hôn nhân và được hướng dẫn chi tết tại Nghị định 126/2014/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2014 Chế độ tài sản của vợ chồng thể hiện rõ nét quan hệ tài sản về quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong 32 điều

từ Điều 28 đến Điều 50, trong đó đã bổ sung nhiều điểm mới, chi tiết về các quan hệ tài sản vợ chồng có trước, trong và sau thời kì hôn nhân đã khắc phục được phần nào những lỗ hổng của Luật HN & GĐ năm 2000 Thêm vào

đó với những quy định mới của BLDS 2015 cũng góp phần hoàn thiện thêm quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình Qua các quy định này, có thể thấy, sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất có thể phân

Trang 38

31

chia, vợ chồng có quyền sở hữu đối với tài sản riêng Để xác định là tài sản thuộc quyền sở hữu chung hay riêng của vợ chồng cần căn cứ vào nguồn gốc hình thành tài sản đó

2.1.1.1 Nguồn gốc hình thành khối tài sản của vợ chồng:

* Nguồn gốc hình thành khối tài sản chung của vợ chồng

Căn cứ để xác lập quyền sở hữu chung của vợ chồng do kết hôn, do vợ chồng cùng tạo dựng trong thời kỳ hôn nhân hoặc do cùng được thừa kế chung (theo di chúc), cùng được tặng cho chung trong thời kỳ hôn nhân Sở hữu chung của vợ chồng thuộc loại sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia, điều này được quy định tại Điều 213 BLDS 2015

Tài sản chung của vợ chồng dùng vào việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh của cả gia đình Với tư cách đồng chủ sở hữu, vợ chồng bình đẳng với nhau trong việc sở hữu tài sản chung Trong gia đình vợ, chồng đều có quyền nắm giữ, quản lý tài sản thuộc sở hữu chung, đều

có quyền khai thác công dụng, hưởng lợi ích từ tài sản cũng như quyền định đoạt tài sản đó Vợ chồng phải bàn bạc với nhau, thỏa thuận sử dụng tài sản chung nhằm đảm bảo đời sống gia đình, đảm bảo nghĩa vụ nuôi dưỡng giáo dục con cái, cũng như quyền lợi của các thành viên khác Xuyên suốt các thời

kỳ phát triển xây dựng Luật HN & GĐ Việt Nam cho đến Luật HN&GĐ

2014, bình đẳng là một nguyên tắc xuyên suốt, đó cũng là đặc điểm của chế độ

sở hữu chung giữa vợ chồng Tài sản do vợ chồng làm ra trong thời kỳ hôn nhân, các khoản thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân không phụ thuộc vào việc ai làm ra nó, kể cả trong trường hợp, một trong hai người ở nhà nuôi dạy trông giữ con cái, nghỉ ở nhà có lý do chính đáng thì tài sản do người kia làm ra vẫn coi là tài sản chung của vợ chồng Thêm vào đó, khoản 3 Điều

33 Luật HN & GĐ Việt nam 2014 quy định: “Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung”, điều đó cho thấy

sự suy đoán tài sản chung của vợ chồng, đảm bảo lợi ích của hai bên

Trang 39

32

Như vậy, khi hôn nhân còn tồn tại, không thể xác định được phần tài sản của mỗi bên vợ, chồng trong khối tài sản chung Phần tài sản của mỗi người chỉ được xác định khi một trong hai bên vợ chồng chết hoặc một trongmột trong hai bên vợ chồng có quyết định có hiệu lực của Toàn án tuyên bố đã chết mà những người thừa kế có yêu cầu chia di sản thừa kế, hai bên thỏa thuận chia tài sản chung khi hôn nhân còn tồn tại để phục vụ cho các mục đích kinh tế của một trong hai bên, hoặc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn

Với những quy định mới vừa kế thừa vừa hoàn thiện quy định về tài sản chung của Luật HN & GĐ trước đó, Luật HN & GĐ 2014 thể hiện tại Điều 33 của Luật này về căn cứ, nguồn gốc, thành phần các loại trong khối tài sản chung, cùng với những quy định mới cụ thể như sau: Tại khoản 1 Điều 33, các nhà làm luật xây dựng theo hướng liệt kê một số loại tài sản được coi là tài sản chung của vợ chồng bao gồm:

Một là, tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản

xuất, kinh doanh, tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung

Hai là, “ hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng” là tài sản chung của

vợ chồng Trước đây, do Luật HN&GĐ năm 2000 không quy định cụ thể về vấn đề này nên đã có những quan điểm hiểu và áp dụng không thống nhất trong thực tiễn giải quyết các tranh chấp về tài sản chung của vợ chồng liên quan đến những hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên trong thời kỳ hôn nhân Có hai luồng quan điểm trái ngược nhau về vấn đề này Quan điểm thứ nhất cho rằng, những hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân vẫn thuộc tài sản riêng của vợ, chồng vì chỉ với tư cách chủ sở hữu mới có quyền hưởng hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đó Quan điểm thứ hai lại cho rằng, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân được coi là những thu nhập hợp pháp khác của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân thì về nguyên tắc phải được

Trang 40

33

xác định là tài sản chung của vợ chồng Luật Hôn nhân và gia đình 2014

đã đưa quy định mới “ hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng” vào thành

phần tài sản chung của vợ chồng vào luật Từ đó đã giúp hóa giải được sự không thống nhất lâu nay trong thực tiễn giải quyết các tranh chấp về tài sản chung của vợ chồng liên quan đến những hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên trong thời kỳ hôn nhân Khái niệm hoa lợi, lợi tức phát sinh

từ tài sản riêng của vợ, chồng được quy định rõ tại Điều 10 trong Nghị định 126/2014/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2014 như sau: hoa lợi phát sinh từ tài sản riêng của vợ, chồng là sản vật tự nhiên mà vợ, chồng có được từ tài sản riêng của mình; lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ, chồng là khoản lợi

mà vợ, chồng thu được từ việc khai thác tài sản riêng của mình.”

Ba là, “thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân” Đối với loại tài

sản này trước đây, Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23 tháng 12 năm

2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật HN & GĐ 2000 có quy định tuy nhiên còn chưa rõ ràng Với quy định mới tại Điều 11 Nghị định 126/2014/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2014 đã quy định chi tiết, thống nhất cách hiểu đó là khoản tiền thưởng, tiền trúng thưởng xổ số, tiền trợ cấp, trừ trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều 11 của Nghị định này; tài sản mà vợ, chồng được xác lập quyền sở hữu theo quy định của Bộ luật Dân sự đối với vật vô chủ, vật bị chôn giấu, bị chìm đắm, vật bị đánh rơi, bị bỏ quên, gia súc, gia cầm bị thất lạc, vật nuôi dưới nước; thu nhập hợp pháp khác theo quy định của pháp luật

Bốn là, đối với “quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết

hôn”

Quyền sử dụng đất là loại tài sản mang những nét đặc thù riêng Đất đai

là tài nguyên của quốc gia, con người không thể tạo ra mà chỉ có thể cải tạo

nó Đất đai có ý nghĩa rất lớn cho nhu cầu cuộc sống của mỗi người dân và của cả cộng đồng Do đó, quyền sử dụng đất trở thành một loại tài sản có giá trị lớn mà ai cũng muốn sở hữu Việc phân định đâu là tài sản chung, đâu là tài

Ngày đăng: 24/10/2018, 10:21

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w