1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải tại tòa án cấp sơ thẩm theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự 2015

106 894 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 1,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đóng góp đề tài về mặt khoa học cũng nhƣ thực tiễn: Xây dựng quan điểm pháp lý tiến bộ và hiện đại về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và vai t

Trang 1

TỤNG DÂN SỰ 2015

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

TỤNG DÂN SỰ 2015

Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự

Mã số: 60.38.01.03

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGÔ HUY CƯƠNG

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

iii

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

PHẠM NHƯ HOÀNG HẢI

Trang 4

iv

MỤC LỤC

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp

cận, công khai chứng cứ và hòa giải tại cấp sơ thẩm 1

1.1.Khái niệm, đặc điểm , bản chất phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải tại cấp sơ thẩm 1

1.1.1.Khái niệm Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải tại cấp sơ thẩm 1

1.1.2.Đặc điểm và bản chất của phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải tại cấp sơ thẩm 14

1.2.Nội dung phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải tại cấp sơ thẩm: 19

1.2.1.Nội dung việc kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải: 19

1.2.2.Quá trình vận hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải tại cấp sơ thẩm 23

1.3.Vai trò của phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải tại cấp sơ thẩm 27

1.3.1.Đối với tiến trình tố tụng: 27

1.3.2.Đối với quan hệ pháp luật dân sự có tranh chấp: 30

1.3.3.Đảm bảo quyền con người dưới khía cạnh pháp luật tố tụng dân sự 32

1.4 Quan điểm về Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải tại cấp sơ thẩm trước đây 34

Trang 5

v

Chương 2: Pháp luật về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải tại cấp sơ thẩm theo quy định của Bộ Luật Tố

Tụng dân sự 2015 và thực tiễn áp dụng 40

2.1.Quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải tại cấp sơ thẩm 40

2.1.1.Những quy định chung 40

2.1.2.Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ 44

2.1.3.Phiên hòa giải tại cấp sơ thẩm 47

2.2.Những vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật về Phiên họp Kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải tại cấp sơ thẩm theo quy định của Bộ Luật Tố Tụng dân sự 2015 53

Chương 3: Kiến nghị và hoàn thiện pháp luật về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải tại cấp sơ thẩm 66

3.1.Hoàn thiện chung về Pháp luật tố tụng dân sự 66

3.2.Hoàn thiện chế định về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải tại cấp sơ thẩm theo quy định của Bộ Luật Tố Tụng dân sự 2015 69

3.3.Kiến nghị nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải tại cấp sơ thẩm theo quy định của Bộ Luật Tố Tụng dân sự 2015 73

DANH MUC TÀI LIỆU THAM KHAO 89

Trang 6

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Sự đột phá của thể chế kinh tế về quyền tự do kinh doanh của công dân

đã tạo điều kiện cho các chủ thể được tham gia các quan hệ giao lưu dân sự một cách chủ động và mạnh mẽ hơn Từ sự tham gia mạnh mẽ này, các giao dịch dân sự liên quan xuất hiện, đồng thời những tranh chấp xung quanh nó xảy ra là điều không thể tránh khỏi Để giải quyết được những xung đột về quyền và lợi ích này giữa các bên, buộc phải hình thành một cơ chế giải quyết tranh chấp chung đó là cơ chế tố tụng tại tòa án Tuy nhiên, nếu như vận hành cả tiến trình

tố tụng vào tất cả các vụ việc, trong một vài trường hợp, đó không phải là cách thức tối ưu nhất, do đó, để không phải kéo giải quá trình giải quyết tranh chấp này cũng như tạo được hiệu quả tốt nhất, cơ chế hòa giải trong giai đoạn đầu của tố tụng được hình thành

Bắt đầu từ những năm đầu trong quá trình hình thành và phát tiển của dân tộc Việt nam, giải quyết các tranh chấp bằng phương thức hòa giải đã trở thành một trong những bước đi hiệu quả cho việc giải quyết tranh chấp , mâu thuẫn giữa các bên trong quan hệ có xung đột quyền và lợi ích đồng thời góp phần gìn giữ sự hòa thuận cho từng gia đình, bình yên cho từng xóm làng và kỷ cương, trật tự cho quốc gia và toàn xã hội trong mỗi giai đoạn Phương thức này đã tồn tại và không ngừng phát triển, phát huy vai trò to lớn cho toàn xã hội đến ngày nay

Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã thừa kế và phát huy một cách hiệu quả truyền thống đẩy mạnh giải quyết tranh chấp bằng phương thức hòa giải Giống như lời chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Xét xử đúng là tốt, nhưng nếu không phải xét xử thì càng tốt hơn”.Cho đến nay, hòa giải đã trở thành nguyên tắc, thủ tục trong tố tụng dân sự nhằm bảo đảm quyền tự định đoạt của đương sự trong việc giải quyết các tranh chấp và thể hiện trách nhiệm

Trang 7

Về mặt lý luận cho thấy vẫn còn nhiều bất cập về kỹ thuật pháp lý, cũng như tư tưởng pháp lý liên quan tới việc hòa giải và công khai chứng cứ, tài liệu trong các văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam, nhất là trong Bộ luật tố tụng Dân sự 2015 Thực tiễn việc hòa giải và công khai chứng cứ ở Việt Nam thời gian qua cho thấy: Hòa giải hầu hết được xem như thủ tục, mà không có tự thỏa thuận tự nguyện, chủ động giữa các bên Trong khi đó, xu hướng cải cách tư pháp hiện nay, ngành tư pháp khuyến khích các bên tự nguyện, thiện chí hòa giải Những tranh chấp về quyền và lợi ích giữa các bên ngày càng tăng, vì vậy,

sự không hiểu biết trong một chừng mực nào đó về pháp luật hòa giải có thể dẫn đến những hậu quả đáng tiếc về quyền lợi, cũng như về mối quan hệ dân sự đang diễn ra Trong các vấn đề pháp lý cần có trong việc giải quyết tranh chấp dân sự, sự thỏa thuận hay thiện chí thống nhất ý chí giải quyết tranh chấp bằng phương thức hòa giải có ý nghĩa rất quan trọng

Nghị quyết 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng

đến năm 2020 đã chỉ rõ cần phải “Cải cách mạnh mẽ các thủ tục tố tụng tư pháp

theo hướng dân chủ, bình đẳng, công khai, minh bạch, chặt chẽ, nhưng thuận

Trang 8

3

tiện, bảo đảm sự tham gia và giám sát của nhân dân đối với hoạt động tư pháp; bảo đảm chất lượng tranh tụng tại các phiên toà xét xử, lấy kết quả tranh tụng tại toà làm căn cứ quan trọng để phán quyết bản án, coi đây là khâu đột phá để nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp… “ Tiếp theo đó, Nghị quyết 49-

NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến

năm 2020 đã chỉ rõ: “…Xây dựng cơ chế xét xử theo thủ tục rút gọn đối với

những vụ án có đủ một số điều kiện nhất định”; “Tiếp tục hoàn thiện thủ tục tố tụng dân sự…”, “Nghiên cứu chế định thừa phát lại (thừa hành viên); trước mắt, có thể tổ chức thí điểm tại một số địa phương” Thực hiện đường hướng về

cải cách thủ tục tố tụng tư pháp nói trên, cần phải có sự nghiên cứu và đánh giá hết sức thận trọng về những ưu điểm, nhược điểm của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành trong mối liên hệ với truyền thống lập pháp, đặc điểm văn hoá, tâm lý dân tộc và thành tựu khoa học tố tụng trên thế giới

Với những lý do nêu trên, tôi quyết định chọn đề tài "Phiên họp kiểm tra

việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải tại cấp sơ thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015" làm đề tài luận văn thạc sĩ với

mong muốn giúp cho mọi người hiểu rõ và sâu sắc hơn về bản chất, thủ tục kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải tại Việt Nam

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

2.1 Mục tiêu tổng quát

Mục đích của Luận văn là làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn, từ đó đưa ra giải pháp để khắc phục và hoàn thiện phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải tại cấp sơ thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015

2.2 Mục tiêu cụ thể

Để thực hiện mục tiêu trên, Luận văn đề ra các mục tiêu cụ thể sau:

Trang 9

 Đưa ra giải pháp để khắc phục và hoàn thiện vấn đề phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải tại Việt Nam

3 Tính mới và những đóng góp của đề tài

Tính mới của đề tài: Luận văn là công trình khoa học ở cấp độ thạc sĩ

đề cập đến vấn đề kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải tại Việt Nam phân tích ưu điểm, nhược điểm thủ tục hành chính, bản chất

về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và khắc phục nhược điểm, hoàn thiện pháp luật kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải tại Việt Nam trong xã hội dân sự tương lai

Đóng góp đề tài về mặt khoa học cũng nhƣ thực tiễn:

Xây dựng quan điểm pháp lý tiến bộ và hiện đại về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và vai trò của phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải tại Việt Nam trong mối quan hệ với các lĩnh vực pháp luật khác của hệ thống pháp luật dân

sự, tố tụng Việt Nam

Chỉ rõ bất cập, quy định không phù hợp với thực tiễn, gây khó khăn, phiền hà, ảnh hưởng đến hoạt động thường ngày của cá nhân, tổ chức làm giảm hiệu quả và nguồn vốn GDP thúc đẩy kinh doanh

Trang 10

5

Đề xuất quan điểm tiến bộ và hiện đại về pháp luật phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải trong hoạt động giải quyết tranh chấp tại Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của Luận văn: Các quan điểm, tư tưởng luật học

về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Các văn bản pháp luật ở Việt Nam điều chỉnh về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải tại Việt Nam; Thực tiễn việc xây dựng, sửa đổi về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải tại Việt Nam theo quy định của pháp luật hiện nay, những ưu điểm và mặt hạn chế khi

áp dụng vào thực tiễn

Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu những nội dung cơ

bản về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải trong hoạt động xét xử tại tòa án cấp sơ thẩm theo quy định pháp luật

5 Phương pháp nghiên cứu

Để làm rõ các vấn đề cần nghiên cứu nêu trên, Luận văn sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau, như phương pháp tổng hợp và phân tích, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh và đối chiếu, kết hợp nghiên cứu lý luận và thực tiễn … Các phương pháp nghiên cứu trong Luận văn được thực hiện trên nền tảng của phương pháp duy vật lịch sử, duy vật biện chứng; trên cơ sở các quan điểm, đường lối về chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam

6 Tình hình nghiên cứu

Hoạt động xét xử tại tòa án cấp sơ thẩm là một nội dung quan trọng trong

hệ thống pháp luật cũng như thực tế tại Việt Nam Hàng ngày, rất nhiều các

Trang 11

6

tranh chấp trong quan hệ dân sự các bên không thể tự mình giải quyết mà phải

có một bên thứ ba đứng ra giải quyết tranh chấp đó là Tòa án nhưng trên thực tế việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải chưa được

cụ thể hóa vả về bản chất và thủ tục Vì vậy nội dung về “kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải tại Việt Nam” là vấn đế rất mới

mẻ, cần được nghiên cứu để hạn chế các vướng mắc trong việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải tại Việt Nam

Từ trước đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến vấn đề hòa giải một cách trực tiếp và gián tiếp:

- Về sách và giáo trình: Các cuốn giáo trình tiêu biểu là Giáo trình

Luật Tố tụng dân sự Việt Nam - Đại học Quốc gia Hà Nội Khoa Luật ; Bùi Thị

Thanh Hằng chủ biên Giáo trình luật tố tụng dân sự Việt Nam do Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội biên soạn là giáo trình được được xây dựng theo nội dung

của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011); Giáo trình

Luật Tố tụng Dân sự Việt Nam - Trường Đại học Luật Hà Nội; Nguyễn Công

Bình chủ biên, Nxb Tư Pháp, Tái bản lần thứ 4 2007 Nội dung cuốn giáo trình gồm hai phần chính: Phần những vấn đề chung về luật tố tụng dân sự, phần thủ

tục giải quyết vụ việc dân sự; Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng Dân sự Việt

Nam 2015, Nhà xuất bản Lao Động xuất bản cuốn sách này (Dành cho thẩm

phán, hội thẩm, thẩm tra viên, kiểm sát viên, luật sư và các học viên tư pháp)”

do Thạc sỹ luật Đoàn Tấn Minh và luật gia Nguyễn Ngọc Điệp là những người

có nhiều kinh nghiệm trong công tác xét xử đối với án dân sự biên soạn …

- Về Công trình nghiên cứu cấp Bộ của Viện Nghiên cứ Khoa học xét xử, tòa án nhân dân tối cao: “Một số vấn đề về cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng Bộ luật Tố tụng dân sự” (1996) đã đề cập đến vấn đề lý luận và thực tiễn chung của việc xây dựng Bộ luật tố tụng dân sự, trong đó đã đánh giá thực trạng của chế định hòa giải từ năm 1945 đến này và hướng hoàn thiện chế định này

Trang 12

7

- Về Luận án, Luận văn và các công trình nghiên cứu khoa học:

"Chế định hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự, Một số vấn đề lý luận và

thực tiễn", Luận án tiến sĩ Luật học -Trần Văn Quảng, Trường Đại học Luật Hà

Nội, 2004.Một số vấn đề về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự theo quy định

của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, Luận văn thạc sĩ luật học - Nguyễn Thị

Ngọc Mai, Khoa luật ĐHQG HN, 2014; Thụ lý và chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ

án dân sự, Luận văn thạc sĩ luật học - Nguyễn Thị Việt Nga, Khoa luật ĐHQG

HN, 2012; Chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự, Luận văn thạc sĩ, Nguyễn

Thị Thúy Hòa, Đại học Luật Hà Nội, 2010; Các cấp xét xử trong tố tụng dân sự

Việt Nam, Luận văn thạc sĩ - Lê Thị Hà, Đại học Luật hà Nội, 1997; Một số

nhận xét đối với công tác xét xử sơ thẩm của tòa án địa phương thông qua công

tác xét xử phúc thẩm - Toàn án nhân dân tối cao TP Hồ Chí Minh, Tòa án nhân

dân tối cao, Số 1/2015, tr.41-44; Hoàn thiện chế định hòa giải trong tố tụng dân

sự, Đào Thị Mai Hường, Tạp chí TAND, số 1, 1998; Hòa giải và tự thỏa thuận

trong tố tụng dân sự, kinh tế và lao động", Phan Hữu Thư, Tạp chí Dân chủ và

pháp luật, số 2, 1999; Vai trò và thủ tục hòa giải trong xét xử các tranh chấp

lao động, Lê Văn Luật, Tạp chí TAND, số 16, 2004; Việc áp dụng các quy định

về hòa giải trong tố tụng dân sự, Nguyễn Thị Thanh Hương, Tạp chí Kiểm sát,

số 5, 2006; Tòa án ra quyết định phụ thuộc vào sự thỏa thuận của các đương

sự, Nguyễn Quốc Phong, Báo Công lý, số 72, ngày 06/9/2008; Hòa giải trong

tố tụng dân sự của Việt Nam và Nhật Bản nhìn từ góc độ so sánh, Dương

Quỳnh Hoa, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 02, 2008; Các giai đoạn tố tụng

theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam 2015, Khóa luận cử nhân –

Phạm Văn Anh, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, 2017 …

Tuy nhiên vấn đề về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải là quy định mới của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015,

hiện chưa có một công trình nghiên cứu nào về phiên họp kiểm tra việc giao

nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải

Trang 13

8

Luận văn này là công trình đầu tiên nghiên cứu về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải tại cấp sơ thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự Việt nam với cấp độ luận văn thạc sĩ luật học

7 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, Luận văn gồm 3 chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải tại Việt Nam

Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải tại cấp sơ thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015

Chương 3: Kiến nghị hoàn thiện các quy định pháp luật về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải tại Việt Nam

Trang 14

Dưới góc độ khoa học pháp lý, tố tụng dân sự (Civil Procedure) [46, 59] được hiểu đơn giản là một quá trình được thực hiện theo trình tự, thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự, trình tự, thủ tục thi hành án dân sự nhằm tìm được tỉ

lệ quyền lợi cân bằng hợp lý nhất giữa các bên chủ thể xảy ra tranh chấp Như một lẽ thông thường, trong quá trình giao lưu dân sự, các chủ thể trong xã hội dân sự luôn có sự tương tác với nhau thông qua vật hoặc các quyền và nghĩa

vụ Những sự tương tác này tác động trực tiếp và mạnh mẽ tới quyền và lợi ích của các bên, điều này dẫn đến những bất đồng và mâu thuẫn về quyền và lợi ích chính đáng của mỗi bên Để có thể giải quyết bất đồng, buộc người ta phải tìm ra một công cụ và phương thức nào đó để chấm dứt sự bất đồng cũng như

Trang 15

2

giải quyết được việc phân chia quyền lợi trong quan hệ tranh chấp như thế nào cho hợp lý Tố tụng dân sự ra đời nhằm thực hiện vai trò này [30] Bởi hoạt động này có sự tham gia của một chủ thể thứ ba nằm ngoài quan hệ dân sự tranh chấp, với mục đích giải quyết các tranh chấp nên một chuẩn mực về các hành vi phải được ban hành nhằm định hướng cho các chủ thể tham gia các bước thực hiện để đi tới được công lý và bình đẳng Các chuẩn mực hành vi này được thực hiện trong một thời gian dài từ khi các bên nêu ra sự việc tranh chấp với bên thứ ba giải quyết cho đến khi kết quả của việc phân xử, giải quyết được thể hiện ra thực tế (tiêu biểu là thể hiện qua bản án), đây được xem như một khung xương cho hoạt động xét xử, giải quyết các tranh chấp dân sự Trong quá trình này, có thể phân loại được loạt các hành vi tương tự, có liên quan và các hành vi khác biệt có liên quan tạo nên các giai đoạn của hoạt động

tố tụng

Các giai đoạn tố tụng nói chung và phiên họp kiểm tra, giao nộp, tiếp cận chứng cứ và hòa giải nói riêng ra đời được xem như sự định hướng và phối hợp của các bên trong việc giải quyết các tranh chấp dân sự trong mỗi khoảng thời gian nhất định Mỗi giai đoạn sẽ có vai trò và giá trị riêng nhằm nêu vấn

đề tranh chấp hoặc làm rõ quyền, nghĩa vụ của các bên cũng như đưa ra được kết quả cuối cùng cho sự phân xử Việc phân chia các giai đoạn như vậy giúp cho hoạt động xét xử tìm ra công lý một cách đúng đắn và nhanh chóng nhất Từng giai đoạn, vụ việc được nêu ra một cách rõ ràng, sau đó được chứng minh cũng như làm rõ quyền lợi giữa các bên đồng thời thống nhất các giải pháp mà các bên đưa ra để thỏa thuận nhằm bù đắp hoặc giải quyết các tranh chấp đó [45, 28]

Xét xử tại cấp sơ thẩm bao gồm cả phiên họp kiểm tra việc tiếp cận, giao nộp, công khai chứng cứ và hòa giải là bước xét xử giải quyết vụ án dân sự lần đầu tại Tòa án Tất cả các vụ án dân sự nếu đã phải đưa ra xét xử thì đều phải

Trang 16

3

trải qua cấp xét xử sơ thẩm, và để đến được với hoạt động xét xử sơ thẩm tại tòa, việc tiến hành phiên họp kiểm tra việc tiếp cận, giao nộp, công khai chứng

cứ và hòa giải và thủ tục bắt buộc phải được tiến hành Đặc điểm của phiên

tòa sơ thẩm nói chung và phiên tòa sơ thẩm dân sự nói riêng là được tiến hành trong một thời điểm, thời gian nhất định Phiên tòa là nơi diễn ra một cách tập trung các hoạt động tố tụng của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng như Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án, đương sự và người bảo vệ quyền lợi của đương sự v.v

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án sử dụng chứng cứ thu được từ nhiều hoạt động khác nhau phục vụ việc giải quyết vụ án Bên cạnh việc Tòa án

sử dụng chứng cứ thu được qua hoạt động thụ lý hồ sơ vụ án, thông qua hòa giải, xét xử tại phiên tòa dân sự sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm để giải quyết vụ

án cũng như hoạt động thu giữ chứng cứ do đương sự cung cấp các chứng cứ cũng được bổ sung [54] Đối với chứng cứ, hoạt động đầu tiên của Tòa án là hoạt động tiếp nhận tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn nộp kèm theo đơn khởi

kiện (chưa thụ lý vụ án) Đó là việc "Người khởi kiện phải gửi kèm theo đơn

khởi kiện tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho những yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp” Sau đó, các chứng cứ này sẽ được đưa vào quá trình tố

tụng làm căn cứ bảo vệ quyền và lợi ích cho các bên đương sự

Trước khi bước tới giai đoạn chuẩn bị xét xử và xét xử, với nguyên tắc

“việc dân sự cốt ở đôi bên”, quy trình tố tụng luôn dành ra một khoảng thời gian pháp lý nhằm trước hết là giúp các đương sự xác định lại tình trạng tranh chấp của quan hệ pháp luật, bên cạnh đó, các đương sự cũng cần được biết vị thế của mình trong quan hệ tranh chấp hiện tại như thế nào thông qua những tài liệu, chứng cứ mà các bên cung cấp trong hồ sơ khởi kiện [33] Điều này đảm bảo cho việc các bên nắm chắc hơn về tình trạng xung đột lợi ích, thúc đẩy việc giải quyết tranh chấp một cách nhanh chóng và hiệu quả hơn dựa trên

Trang 17

4

những căn cứ đã được xác định Hoạt động này được gọi với tên là kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và là một hoạt động tố tụng đặc thù được thực hiện dưới hình thức một phiên họp

Sau khi giúp các đương sự nắm bắt được tình trạng xung đột trong quan

hệ tranh chấp, tòa án sẽ là chủ thể thứ ba đúng ra tổ chức cho các bên đương sự

có sự trao đổi, trình bày ý kiến và đưa ra phương thức giải quyết tranh chấp này một cách nhanh chóng Dựa trên những căn cứ pháp lý trong hồ sơ, chứng

cứ, các bên có thể trình bày quan điểm, ý kiến của mình về quyền và lợi ích trong quan hệ xung đột lợi ích trên, đồng thời đưa ra các phương án giải quyết

có thể thống nhất được Hoạt động này được gọi là hoạt động hòa giải

1.1.1.1.Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ tại cấp sơ thẩm

Tại bất kỳ phiên tòa xét xử nào, Hội đồng xét xử với nguyên tắc quyết định theo đa số sẽ phải nghe các bên đương sự trình bày, nghe các bên tranh luận về chứng cứ và dựa vào pháp luật để bảo vệ cho những yêu cầu của mình

Vì vậy, Tòa án nhân dân phải kiểm tra xác minh toàn bộ các tài liệu, chứng cứ của vụ án một cách toàn diện, khách quan, trên cơ sở đó đưa ra những nhận định, quyết định về chủ trương giải quyết vụ án được đúng đắn, chính xác

Bởi vậy, trước đó Tòa án trong công tác sau khi thụ lý vụ án phải tập trung vào những vấn đề cơ bản trước khi tiến hành phiên tòa sơ thẩm, đó là cần giải quyết và xem xét những tài liệu, chứng cứ của vụ án đã được giao nộp và thẩm tra xác minh kỹ lưỡng chưa và những quyền, nghĩa vụ cụ thể của các bên đương sự được giải quyết như thế nào cho hợp lý, hợp pháp, nhanh chóng và hiệu quả [44, 36]

Trang 18

5

Đối với tố tụng dân sự, giao nộp tài liệu chứng cứ vừa là quyền và nghĩa

vụ của đương sự và công khai, tiếp cận chứng cứ cũng là quyền và nghĩa vụ của các bên Việc giao nộp chứng cứ là một trong những nội dung quan trọng của tranh tụng cho nên đương sự phải giao nộp đầy đủ và công khai các tài liệu chứng cứ, trừ trường hợp quy định được giữ bí mật, đồng thời, đây cũng là cơ

sở để chứng cứ được công khai và bên còn lại dễ dàng tiếp cận chứng cứ Xuất phát từ quan điểm đó khi tiến hành tố tụng đương sự có quyền và nghĩa vụ giao nộp, tiếp cận, công khai, tài liệu, chứng cứ cho Tòa án và các bên đương sự thông qua các hoạt động: Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự đương sự phải giao nộp tài liệu chứng cứ liên quan đến vấn đề tranh chấp; Trường hợp tài liệu, chứng cứ đã được giao nộp chưa bảo đảm đủ cơ sở để giải quyết vụ việc thì Thẩm phán yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ [40] Đương sự phải giao nộp, nếu đương sự không giao nộp hoặc giao nộp không đầy đủ tài liệu, chứng cứ do Tòa án yêu cầu mà không có lý do chính đáng thì Tòa án căn cứ vào tài liệu, chứng cứ mà đương sự đã giao nộp

và Tòa án đã thu thập để giải quyết vụ việc dân sự

Theo quy định tại Điều 93 BLTTDS 2015, "Chứng cứ trong vụ việc dân

sự là những gì có thật được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Toà án trong quá trình tố tụng hoặc do Toà án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và được Toà án sử dụng dùng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp” [49]

Từ khái niệm trên có thể khẳng định, chứng cứ trong phiên họp phải bảo đảm 03 thuộc tính là tính khách quan (là những gì có thật); tính liên quan (được dùng làm căn cứ để xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ

và hợp pháp hay không cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự) và tính hợp pháp (được giao nộp hoặc thu thập

Trang 19

6

theo trình tự, thủ tục do BLTTDS quy định) Như vậy, những gì được xác định

là chứng cứ thì chúng phải đảm bảo 03 thuộc tính của chứng cứ được nêu trên Cũng vì đó, vai trò của chứng cứ trở nên vô cùng quan trọng cho quá trình giải quyết vụ án

Khi người khởi kiện nộp đơn trong đó có nộp tài liệu, chứng cứ thì điều này đã tạo nên căn cứ để Tòa án phải tiến hành thu thập và lập biên bản giao nhận chứng cứ Ngoài ra không chỉ trước giai đoạn thụ lý vụ án, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử chứng cứ cũng sẽ dần được bổ sung và hoàn thiện Và bên cạnh đó, ý kiến của đương sự và thỏa thuận, không thỏa thuận không chỉ giới hạn trong các ý kiến đã trình bày ở bản tự khai, biên bản ghi lời khai Chứng cứ còn được lấy từ một nguồn khác đó là thông qua các hoạt động tố tụng tại cấp sơ thẩm, Toà án phải trực tiếp xác định những tình tiết của vụ án bằng cách (1) hỏi và nghe lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện hợp pháp, người bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và những người tham gia tố tụng khác; (2) xem xét, kiểm tra tài liệu, chứng cứ đã thu thập được [51]

Như vậy, phiên họp không chỉ là quá trình xem xét, kiểm tra tài liệu, chứng cứ đã thu thập được, ý kiến mà đương sự, người tham gia tố tụng khác

đã trình bày mà nó còn là quá trình xem xét, kiểm tra tài liệu, chứng cứ được cung cấp tại phiên họp và những ý kiến mà đương sự, người tham gia tố tụng khác bổ sung nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và làm rõ các tính tiết khách quan của vụ án Chính vì vậy, phiên hợp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ là kết quả hiển nhiên của quá trình thu thập chứng

cứ, tạo lập và hoàn thiện hồ sơ giải quyết vụ án

Ở tòa án Anh, nghĩa vụ chứng minh hoàn toàn thuộc về các đương sự Vai trò của thẩm phán giải quyết vụ án tại tòa án Anh đối với vấn đề chứng cứ hoàn toàn khác ở tòa án Việt Nam Tòa án có quyền đưa ra yêu cầu về những

Trang 20

7

vấn đề cần được cung cấp chứng cứ, bản chất của các chứng cứ được yêu cầu, cách thức chứng cứ được trình trước tòa (Điều 32.1 CPR) Khác với tòa án Việt Nam, tòa án Anh sẽ không tự mình thu thập chứng cứ cho các đương sự, mặc dù tòa có thể hỗ trợ các đương sự bằng cách cho áp dụng một số biện pháp khẩn cấp tạm thời như ban hành lệnh tìm kiếm để buộc một bên cho phép bên kia vào nơi cư trú/làm việc của mình để tìm chứng cứ Như vậy, luật tố tụng Anh trao cho các bên hoàn toàn quyền chủ động cũng như nghĩa vụ trong việc thu thập và cung cấp chứng cứ cho tòa án giải quyết tranh chấp Vì vấn đề chứng cứ rất quan trọng và phức tạp nên thông thường, các đương sự không thể biết cách thu thập và cung cấp chứng cứ một cách hiệu quả, đúng luật nếu không có sự trợ giúp pháp lý chuyên nghiệp [35]

Khi tham gia tố tụng tại tòa án Anh, các bên sẽ phải công bố chứng cứ, tài liệu mình có, bằng cách cho biết tài liệu đó tồn tại hoặc đã từng tồn tại Điều 31.2 CPR Việc công bố tài liệu phải được thực hiện theo trình tự luật định Tòa án sẽ ra lệnh yêu cầu các bên phải công bố chứng cứ, trong đó đưa ra tiêu chuẩn về việc công bố Tiêu chuẩn này có thể được tòa án điều chỉnh, hoặc các bên có thể thỏa thuận về giới hạn và phân chia tiêu chuẩn đó Mỗi bên phải gửi cho bên kia danh sách các tài liệu được công bố Điều 31.10 CPR Thông thường, các bên không những phải công bố các chứng cứ có lợi cho mình, mà

cả các chứng cứ có lợi cho đối phương và các tài liệu khác mà các quy tắc tố tụng bắt buộc phải công bố Điều 31.6 CPR Đây là một điểm khác biệt đáng chú ý so với quá trình tố tụng tại tòa án Việt Nam khi mà các đương sự không

có nghĩa vụ phải công bố chứng cứ, nhất là chứng cứ bất lợi cho mình thì ở tòa

án Anh, đương sự không thể giấu giếm chứng cứ mà phải công bố tất cả theo hướng dẫn của luật và của tòa án

Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự Hoa Kỳ, Các bên đương sự phải tự mình tìm kiếm, thu thập mọi chứng cứ cần thiết để bảo vệ quyền lợi

Trang 21

8

của mình như thu thập các chứng cứ viết, các vật chứng, đề xuất toà án triệu tập những người làm chứng cần thiết… Theo pháp luật tố tụng dân sự Hoa Kỳ, các bên đương sự có quyền và nghĩa vụ trao đổi chứng cứ với nhau và quyền được biết toàn bộ các chứng cứ của bên kia [37] Nếu một bên từ chối không cung cấp chứng cứ hoặc không trả lời về vấn đề nào đó thì thẩm phán sẽ ban hành lệnh buộc người từ chối phải cung cấp chứng cứ hoặc áp dụng các biện pháp chế tài cần thiết Nếu người không cung cấp chứng cứ là bị đơn thì thẩm phán sẽ quyết định giải quyết vụ kiện hoàn toàn trên chứng cứ do nguyên đơn xuất trình trước toà án Trong trường hợp thẩm phán thấy rằng chứng cứ mà các đương sự xuất trình chưa đầy đủ để giải quyết vụ việc thì thẩm phán yêu cầu các bên đương sự cung cấp thêm chứng cứ chứ thẩm phán không bao giờ

tự mình thu thập chứng cứ Sau khi các bên thu thập được đầy đủ thông tin, chứng cứ thì họ phải gặp nhau theo lệnh của thẩm phán, chủ toạ phiên toà Tại đây, thẩm phán có thể tiến hành hoà giải để các đương sự thoả thuận với nhau

về việc giải quyết vụ việc hoặc thống nhất những vấn đề cần tranh tụng tại phiên toà (những vấn đề các đương sự còn mâu thuẫn, những thông tin, tài liệu nào mà các bên không đồng ý là chứng cứ hoặc một bên không đồng ý là chứng cứ để đưa ra trước toà trong vụ việc đó, triệu tập người làm chứng, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan… tham gia phiên toà) [30]

Tại Nga, quá trình tố tụng giải quyết vụ án dân sự cũng phải tiến hành một “Phiên tòa sơ bộ” theo Điều 152 Phiên toà sơ bộ: 1.Phiên toà xét xử sơ bộ

có mục đích nhằm củng cố vê mặt tố tụng những hành vi mà các bên dã thực hiện trong quá trình chuẩn bị xét xử, xác định những tình tiết có ý nghĩa để giải quyết đúng đắn vụ án, xác định tính đầy dủ của các chứng cứ, xem xét những

sự kiện đã quá thời hạn tố tụng và quá thời hiệu 2 Phiên toà xét xử sơ bộ phải được tiến hành theo chế độ một Thẩm phán các bên được thông báo về thời gian và địa điểm tiến hành phiên tòa sơ bộ Trong phiên toà sơ bộ, các bên có quyền đưa ra chứng cứ, lập luận, yêu cầu [4]

Trang 22

9

Cũng như ở giai đoạn tố tụng khác, đây là hoạt động tố tụng đặc thù nên chúng được tách biệt, không thuộc phạm vi của hoạt động thu thập chứng cứ cũng như phạm vi của hoạt động hòa giải như thường được quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự Vì lẽ đó, một vụ án dân sự được đem ra giải quyết ở tòa

án, khi có sự trình bày, thảo luận giữa các đương sự về vấn đề tranh chấp, tài liệu, chứng được đã được đưa ra tòa và lời khai của đương sự cũng như tài liệu, chứng cứ được nộp trong giai đoạn khởi kiện, tại phiên họp Tòa án cùng các đương sự phải có sự kiểm tra, đánh giá và sử dụng chứng cứ đã được xem xét (đã thu thập trong giai đoạn thụ lý vụ án và chuẩn bị xét xử) để bước đầu định hướng giải quyết tranh chấp giữa các đương sự

Để bảo đảm mọi chứng cứ được công khai, các đương sự đều có quyền được biết các tài liệu chứng cứ của vụ án để thực hiện quyền tranh tụng, quyền bảo vệ hoặc tự bảo vệ các lợi ích chính đáng của mình, cho nên ngoài nghĩa vụ giao nộp tài liệu chứng cứ cho Tòa án thì nguyên đơn cũng phải gửi bản sao cho đương sự khác Do vậy, phải có phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ trước khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử Tuy nhiên để hạn chế việc phát sinh thêm thủ tục không cần thiết, nên đã ghép phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ với phiên hòa giải Trường hợp vụ án dân sự không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được thì Thẩm phán tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ mà không tiến hành hòa giải

1.1.1.2.Hòa giải tại cấp sơ thẩm

Hòa giải là việc Tòa án nhân dân hướng dẫn các đương sự tự thoả thuận, thương lượng để giải quyết vụ án theo đúng đường lối, chính sách và pháp luật Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, hòa giải là một thủ tục cần thiết và bắt buộc ( trừ một số vụ án như khiếu nại danh sách cử tri, tuyên bố mất tích, chết) Hòa giải là hành vi thuyết phục các bên đồng ý chấm dứt xung đột hoặc

Trang 23

10

xích mích một cách ổn thỏa Hòa giải cũng là giải quyết các tranh chấp, bất đồng giữa hai hay nhiều bên tranh chấp bằng việc các bên dàn xếp, thương lượng với nhau có sự tham gia của bên thứ ba (không phải là bên tranh chấp) Hòa giải còn được hiểu ở góc độ rộng hơn là một quá trình, trong đó bên thứ

ba giúp hai bên tranh chấp ngồi lại với nhau để cùng giải quyết vấn đề của

họ.[2] Hòa giải cũng được coi là sự tiếp nối của quá trình thương lượng, trong

đó các bên cố gắng làm điều hoà những ý kiến bất đồng [25, 18]

Theo Từ điển tiếng Việt thì hòa giải là “thuyết phục các bên đồng ý

chấm dứt xung đột hoặc xích mích một cách ổn thỏa” Khái niệm này đề cập

đến hành động và mục đích của hòa giải nhưng chưa nêu được các yếu tố như bản chất, nội dung và chủ thể của hòa giải [23]

Trong Từ điển pháp lý của Rothenberg, hòa giải (reconciliation) là

“hành vi thỏa hiệp giữa các bên sau khi có tranh chấp, mỗi bên nhượng bộ một ít” [62, tr.410] Còn Từ điển luật học của Black cho rằng, hòa giải là “sự can thiệp; sự làm trung gian hòa giải; hành vi của người thứ ba làm trung gian giữa hai bên tranh chấp nhằm thuyết phục dàn xếp hoặc tranh chấp giữa họ”.[61, tr.152]

Hòa giải có ý nghĩa lớn, nó là cho những tranh chấp, xung đột, mâu thuẫn, xích mích được giập tắt hoặc không vượt qua giới hạn sự nghiêm trọng, giúp cho các bên tránh được một sự xung đột được giải quyết bằng bạo lực hoặc chiến tranh Giúp các bên hiểu biết lẫn nhau, giữ gìn cục diện ổn định… Chính vì vai trò to lớn này nên trong quy định pháp luật, các nước thường đặt

ra vấn đề hòa giải trong giải quyết các tranh chấp Và ở góc độ quốc tế, hòa giải cũng là một trong những nguyên tắc hàng đầu trong việc giải quyết tranh chấp quốc tế được quy định tại Hiến Chương Liên Hiệp quốc

Trang 24

11

Hòa giải là một chế định quan trọng trong tố tụng dân sự Là hoạt động

do Tòa án tiến hành nhằm giúp đỡ các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án dân sự (VADS) Việc hòa giải có ý nghĩa hết sức quan trọng,

nó vừa đảm bảo tiết kiệm chi phí cho Nhà nước và công dân, giảm bớt giai đoạn tố tụng kéo dài, vừa giải quyết triệt để các mâu thuẫn giữa các đương sự… Do đó, nếu chế định hòa giải không được quan tâm trong việc giải quyết VADS thì quyền và lợi ích của các bên đương sự sẽ không được bảo đảm [45]

Sau khi thụ lý vụ án, để giải quyết vụ án tòa án tiến hành giải thích pháp luật, giúp đỡ các đương sự giải quyết mâu thuẫn, thỏa thuận với nhau về việc giải quyết các vấn đề của VADS có tranh chấp Hoạt động này của tòa án được

gọi là hòa giải VADS Hòa giải vụ án dân sự là hoạt động tố tụng do tòa án

tiến hành nhằm giúp đỡ các đương sự thỏa thuận với nhau về giải quyết vụ án dân sự

Cơ sở của hòa giải VADS là quyền tự định đoạt của các đương sự Để giải quyết VADS bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, tòa án không chỉ xét xử mà còn hòa giải VADS Điều 10 Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) quy định, tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án dân sự theo quy định của Bộ luật này

Tại khoản 1 Điều 180 BLTTDS quy định trách nhiệm hòa giải của tòa

án: “Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, Toà án tiến hành hoà giải

để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, trừ những vụ án không được hoà giải hoặc không tiến hành hoà giải được quy định tại Điều

181 và Điều 182 của Bộ luật này” Do vậy, hòa giải tiến hành với việc giải

quyết hầu hết VADS, trừ những trường hợp không hòa giải được hoặc pháp luật quy định không được hòa giải [49]

Trang 25

12

Trước khi tiến hành phiên hòa giải, tòa án phải thông báo cho các đương

sự, người đại diện hợp pháp của đương sự về thời gian, địa điểm tiến hành phiên hòa giải, nội dung các vấn đề cần hòa giải Khi tiến hành hòa giải, Thẩm phán phổ biến cho các đương sự biết các quy định của pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án để các bên liên hệ đến quyền, nghĩa vụ của mình, phân tích hậu quả pháp lý của việc hoà giải thành để họ tự nguyện thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án

Khi đã có đầy đủ điều kiện để tiến hành hòa giải thì thẩm phán được phân công giải quyết vụ án có cán bộ thư ký tòa án giúp việc ghi biên bản sẽ tiến hành giải phiên hòa giải Thẩm phán công bố nội dung vụ án tranh chấp, phổ biến cho các đương sự biết các quy định của pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án để các bên liên hệ đến quyền và nghĩa vụ của mình Thẩm phán phân tích hậu quả pháp lý của việc hòa giải thành hoặc không thành để các bên đương sự tự nguyện thương lượng thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án

Sau khi được thẩm phán hướng dẫn và nghe giải thích pháp luật có liên quan đến vụ án đang tranh chấp, đến lượt nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phát biểu quan điểm của họ về vấn đề đang tranh chấp

và đưa ra định hướng giải quyết Đối với những ý kiến của đương sự đưa ra cách giải quyết bất hợp lý như khởi kiện tài sản không có căn cứ, yêu cầu bồi thường quá đáng thì thẩm phán chủ trì phải kịp thời phân tích, thẳng thắn chỉ cho họ biết yêu cầu của họ đưa ra là không hợp lý để họ cân nhắc lại

Khi đương sự thỏa thuận được với nhau về các vấn đề phải giải quyết trong vụ án thì toà án lập biên bản hòa giải thành, trong đó nêu rõ nội dung tranh chấp và những nội dung đã được đương sự thỏa thuận Biên bản này chưa

có giá trị pháp lý, nó chỉ là tài liệu văn bản xác nhận một sự kiện và nó là cơ sở

để tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự Biên bản hòa

Trang 26

13

giải phải có các nội dung theo quy định tại khoản 1 Điều 186 BLTTDS Ngoài

ra, biên bản phải có đầy đủ chữ ký hoặc điểm chỉ của các đương sự có mặt trong phiên hòa giải, chữ ký của thư ký toà án ghi biên bản và của thẩm phán chủ trì phiên hòa giải Biên bản này được gửi ngay cho các đương sự tham gia hòa giải

Tại Mỹ, sau khi các bên thu thập được đầy đủ thông tin, chứng cứ thì họ phải gặp nhau theo lệnh của thẩm phán, chủ toạ phiên toà Tại đây, thẩm phán

có thể tiến hành hoà giải để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc hoặc thống nhất những vấn đề cần tranh tụng tại phiên toà (những vấn đề các đương sự còn mâu thuẫn, những thông tin, tài liệu nào mà các bên không đồng ý là chứng cứ hoặc một bên không đồng ý là chứng cứ để đưa ra trước toà trong vụ việc đó, triệu tập người làm chứng, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan… tham gia phiên toà) [40]

Tại Nhật Bản, khác với Việt Nam, hòa giải trong tòa án của Nhật được thực hiện bởi một hội đồng Hội đồng này bao gồm một thẩm phán do tòa án chỉ định và hai hòa giải viên trở lên Sự tham gia của các hòa giải viên giúp cho thẩm phán tiến hành hòa giải được nhanh chóng, chính xác và hiệu quả hơn Tại phiên hòa giải, các hòa giải viên được xem như là tiếng nói của người dân, xuất phát từ lợi ích chung của các bên để giải quyết tranh chấp một cách triệt để Các hòa giải viên này được lựa chọn là những người thướng sống ngay chính trong cộng đồng nơi mà các bên xảy ra tranh chấp sinh sống Khác với Việt Nam, khi tiến hành hòa giải, các bên phải tự mình tìm ra vấn đề và cùng nhau giải quyết, và đôi khi tòa án và thẩm phán không thể giúp cho các bên nhận ra được vấn đề tranh chấp thực sự, vấn đề cốt lõi của xung đột Mục đích của hòa giải tại Nhật Bản là để đưa những kinh nghiệm trong cuộc sống hàng ngày vào trong quá trình tố tụng Hòa giải ở Nhật Bản được tiến hành bằng nhiều buổi gặp gỡ giữa các bên Buổi đầu tiên, hội đồng hòa giải sẽ thông báo

Trang 27

14

cho các bên về thủ tục hòa giải Các buổi tiếp theo Hội đồng này sẽ gặp từng bên để từ đó tìm ra bản chất của vấn đề và những vấn đề liên quan Mặc dù trong Luật hòa giải của Nhật Bản không có quy định rõ ràng là Hội đồng hòa giải gặp cả hai bên một lúc hay là gặp từng bên nhưng trên thực tế hòa giải chỉ được tiến hành bằng việc gặp từng bên của Hội đồng hòa giải Với cách tổ chức như vậy, các bên có thể cởi mở hơn trong quá trình trao đổi ý kiến với hội đồng hòa giải và đặc biệt là đảm bảo được bí mật thông tin [19, 39]

1.1.2.Đặc điểm và bản chất của phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải tại cấp sơ thẩm

1.1.2.1.Đặc điểm và bản chất của phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải

Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ được xây dựng với bản chất là biện pháp đảm bảo cho sự công khai, minh bạch về thông tin liên quan đến các tài liệu, chứng cứ được sử dụng trong quá trình giải quyết

vụ án Là căn cứ để các bên sử dụng cho việc bảo vệ quyền và lợi ích trong quan hệ tranh chấp của mình xuyên suốt quá trình xét xử tại tòa án Phiên họp được tiến hành với các nội dung về đánh giá các hoạt động giao nộp, thu thập

và công khai chứng cứ của các bên cho tòa án và đương sự khác được tiến hành ra sao, đã đảm bảo được quyền và thực hiện đúng nghĩa vụ về giao nộp, thu thập chứng cứ theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự hay chưa

Phiên họp này phải được tiến hành sau khi vụ án được thụ lý và trước khi đưa ra xét xử nên nó cần được thực hiện một cách công khai và đầy đủ sự

có mặt của các bên đương sự Bởi vậy, phiên họp này mang nhiều đặc điểm riêng biệt của một hoạt động tố tụng dân sự

Trước hết, phiên họp này là buổi làm việc được tổ chức bởi bên thứ 3 – toà án Khi các bên đương sự thực hiện các nghĩa vụ trong quan hệ dân sự không đầy đủ hoặc không đúng và phát sinh tranh chấp về quyền và lợi ích, các

Trang 28

15

bên không thể tự mình thống nhất ý chí cho việc giải quyết xung đột trên thì các bên cùng nhau đến tòa án để có được sự phân định quyền và lợi ích một cách minh bạch, công bằng nhất Khi các bên đương sự đến với tòa án để yêu cầu giải quyết tranh chấp bằng thủ tục nộp đơn khởi kiện, sau khi thụ lý, tòa án tiến hành thủ tục mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhằm giải quyết sơ bộ tranh chấp mà các bên đương sự đưa ra Do vậy, tòa án đương nhiên trở thành bên thứ ba, tổ chức việc giải quyết tranh chấp cho hai bên đương sự khi họ không thể tự mình giải quyết xung đột

Thứ hai, với tư cách là một hoạt động đặc thù trong một giai đoạn riêng biệt của quá trình tố tụng, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ được tổ chức thông qua hình thức của một phiên họp Với phiên hợp này, sự tham gia đầy đủ của các bên đương sự là yếu tố bắt buộc Nếu như vắng mặt một trong hai bên đương sự, phiên hợp không thể được tiến hành, bởi bản chất của phiên hợp là sự bảo đảm tính công khai, minh bạch về thông tin, tài liệu chứng cứ cho tất cả các bên đương sự Phiên hợp cũng phải được tiến hành với nghi thức và các bước luật định Để đảm bảo tính trang nghiêm của hoạt động tố tụng nói chung cũng như đảm bảo hiệu quả của phiên họp nói riêng, việc các bên phải tuân thủ theo thủ tục của phiên họp mà pháp luật quy định là điều đúng đắn Các thủ tục được quy định xoay quanh vấn đề đánh giá

sự tiếp cận, thu thập cũng như việc giao nộp chứng cứ cho tòa án và cho các bên đương sự

Thứ ba, tại phiên họp, Các bên được quyền Theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đương sự có các quyền, nghĩa vụ tương ứng của mình với giai đoạn sau thụ lý Với những chứng cứ chưa được tiếp cận, tại phiên họp đương

sự có quyền yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức đang lưu giữ, quản lý chứng cứ cung cấp chứng cứ đó cho mình để giao nộp cho Tòa án Bên cạnh đó, để có

Trang 29

16

được sự phối hợp của các chủ thể khác cũng như đảm bảo cho việc thu thập chứng cứ được hiệu quả, đương sự có quyền trình bày hoàn cảnh, khó khăn trong việc thu thập chứng cứ và đề nghị Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ của vụ án mà tự mình không thể thực hiện được hoặc đề nghị Tòa án triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định, định giá Ngoài ra, khiếu nại với Viện kiểm sát về những chứng cứ mà Tòa án đã xác minh, thu thập do đương sự khác yêu cầu khi yêu cầu này không hợp pháp cũng là một quyền đặc trưng trong giai đoạn kiểm tra chứng cứ này Đặc biệt, quyền lợi xuyên suốt trong hoạt động này của các đương sự đó là được biết và ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ do các đương sự khác xuất trình hoặc do Tòa án thu thập Đây chính

là quyền lợi cao nhất của các bên đương sự nhằm đảm bảo tính công khai, minh bạch chứng cứ và đảm bảo quyền và lợi ích của mình được bảo vệ một cách cụ thể, rõ ràng

Cuối cùng, phiên họp được tiến hành không chỉ để đảm bảo việc tuân thủ pháp luật về chứng cứ và pháp luật tố tụng của tất cả các chủ thể trong hoạt động tố tụng, mà nó còn là biện pháp nhằm xác định lại căn cứ bảo đảm cho quyền và nghĩa vụ trong tranh chấp Khi các bên đã xác định được vị trí, chất lượng và vai trò của các tài liệu, chứng cứ được công khai tại phiên họp, từ đó, tòa án hoặc tự các đương sự có thể giải thích được yêu cầu giải quyết tranh chấp có thể dựa trên các tài liệu, chứng cứ đã giao nộp hay không, và hoạt động giải quyết tranh chấp này sẽ được đi tới đâu dựa trên các căn cứ mà các bên đã đưa ra Hay nói chính xác hơn là quyền và lợi ích của các bên sẽ được bảo vệ đến đâu nhờ vào những chứng cứ, tài liệu này Do vậy, để có thể bảo đảm quyền và lợi ích hợp lý nhất cho các bên đương sự, tài liệu tại phiên họp cần được tập hợp đầy đủ, và các bên đương sự được tự do tiếp cận các chứng

cứ, tài liệu trên

Trang 30

17

1.1.2.1.Đặc điểm và bản chất của hòa giải tại cấp sơ thẩm:

Hòa giải trong tố tụng dân sự là một hoạt động đặc thù và đặc trưng riêng biệt của tiến trình tố tụng dân sự Bản chất của hòa giải là việc đẩy mạnh

sự tự thỏa thuận lại của các bên xảy ra tranh chấp, và bản chất của hòa giải trong tố tụng dân sự là sự khuyến khích của tòa án để các bên đương sự một lần nữa thống nhất về việc giải quyết các xung đột xảy ra trong quan hệ có tranh chấp Hòa giải là một biện pháp thỏa thuận lại giữa các bên đương sự, khi

mà trước đó họ chưa thể tìm được tiếng nói chung thống nhất cho việc giải quyết tranh chấp, tuy nhiên, đôi khi hòa giải chỉ là thủ tục bắt buộc tòa án tiến hành để các bên đương sự thực hiện nếu muốn đi đến quá trình xét xử Tuy nhiên, trong phạm vi phiên hòa giải, việc hòa giải vẫn mang bản chất là đề cao tính tự do, tự nguyện và thống nhất ý chí của các bên đương sự trong việc giải quyết các mâu thuẫn lợi ích trong quan hệ dân sự giữa các bên đương sự [18]

Cũng giống với việc tiến hành kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận và công khai chứng cứ, hòa giải cũng được thực hiện bởi bên thứ ba không nằm trong quan hệ có tranh chấp Tòa án là bên thứ ba thực hiện hoạt động hòa giải khi các bên đương sự phát sinh tranh chấp trong quan hệ dân sự trước đó và sau nhiều lần làm việc, các bên không thể tìm ra cho mình một biện pháp chung cho việc giải quyết tranh chấp này Hòa giải tại tòa án, với vai trò và vị trí của người trung gian, tòa án đem sự công bằng, ngay tình và hợp pháp ra để giải thích cho các đương sự biết về tranh chấp trong quan hệ Sau đó, tòa án đưa ra những phương thức để các bên có thể chấp nhận sử dụng là phương án hòa giải, hoặc các bên tự đưa ra những phương án giải quyết và tòa án xem xét tính hợp pháp, hợp lý của biện pháp này Tất cả các hoạt động trên đều phải được thực hiện dựa trên nguyên tắc tự nguyện, tự do ý chí và nguyên tắc pháp quyền

Trang 31

18

Với vai trò là một hoạt động đặc thù của tiến trình tố tụng dân sự, phiên hòa giải được và phải được tổ chức thông qua hình thức là một phiên họp tại tòa Với đặc tính giải quyết tranh chấp thông qua chủ thể thứ ba đại diện cho quyền lực nhà nước, việc tiến hành một phiên họp là hình thức bắt buộc cho các bên Phiên họp là hình thức tiến hành tổng hợp ý kiến giữa các bên một cách nhanh chóng và dễ dàng nhất Đồng thời, nó cũng mang lại tính công khai

và minh bạch cao nhất Do vậy, với yêu cầu là sự công khai, minh bạch là tiền

đề cho sự công bằng, phiên hòa giải được tiến hành dưới hình thức một phiên họp là điều đương nhiên Tại phiên hòa giải, khi các bên đương sự có mặt đầy

đủ, các bên có thể tự do thể hiện ý chí của mình với bên kia và tòa án, đồng thời, có thể tự mình đề ra các phương án cho việc giải quyết tranh chấp của hai bên Tòa án dựa trên những tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ, và xem xét ý kiến, phương án của các bên sau đó đưa ra phương án giải quyết hợp lý nhất cho các bên để các đương sự thống nhất và thỏa thuận tiến hành thực hiện Kết quả của phiên hòa giải chính là căn cứ để các bên thực hiện các bước tiếp theo nhằm bảo vệ cho quyền và lợi ích của mình [26]

Phiên hòa giải suy cho cùng chính là nơi các bên đương sự đưa ra sự thỏa thuận, thống nhất ý chí về việc giải quyết tranh chấp Theo quy định của

Bộ luật tố tụng dân sự, đương sự có các quyền đề nghị Tòa án quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án; Tham gia hòa giải do Tòa án tiến hành Tại phiên hòa giải, các bên đương

sự cùng nhau đưa ra ý kiến của mình về nội dung tranh chấp, về phương án giải quyết tranh chấp, từ đó các bên cùng nhau bàn bạc, thuyết phục bên kia về việc thống nhất quan điểm cũng như ý chí cho các biện pháp giải quyết tranh chấp được đưa ra trong quan hệ dân sự có xung đột Các bên đương sự được thể hiện ý chí của mình một cách tuyệt đối tự nguyện, toàn án khi tiến hành hòa giải cũng phải đảm bảm được sự tự do, tự nguyện duy ý chí của các bên

Trang 32

hệ tranh chấp, tình trạng tranh chấp và phương án giải quyết được các bên thỏa thuận thi thành Biên bản hòa giải được lập là kết quả thuận lợi của một phiên hòa giải hiệu quả Sự thỏa thuận của các bên tại phiên họp sẽ được thẩm phán

và tòa án ghi nhận Với việc công nhận sự thỏa thuận giữa các bên bằng quyết định công nhận sự thỏa thuận của tòa án, các nội dung được ghi trong biên bản hòa giải chính thức có giá trị pháp lý hợp pháp và có tính ràng buộc đối với các bên Sự ràng buộc này bắt buộc các bên phải tuân thủ những gì đã thỏa thuận, bởi bản thỏa thuận bây giờ không chỉ đơn thuần là sự thỏa thuận của hai bên tranh chấp, mà nó còn có thể được coi là luật bắt buộc cho các bên bởi nó đã được toàn án – đại diện cho quyền lực của nhà nước và pháp luật ghi nhận Khi không tuân thủ đúng như thỏa thuận, bên có quyền được phép yêu cầu cơ quan thi hành án thi hành quyết định mà tòa án đã công nhận [29] Do vậy, thỏa thuận tại tòa án mang tính ràng buộc bắt buộc với các bên đương sự, mang đặc trưng của hoạt động tố tụng dân sự

1.2.Nội dung phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng

cứ và hòa giải tại cấp sơ thẩm:

1.2.1.Nội dung việc kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải:

Mục đích của phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhằm xác định, đánh giá các tài liệu, chứng cứ đã giao nộp cho Tòa án và việc gửi tài liệu chứng cứ cho đương sự khác; bổ sung tài

Trang 33

20

liệu, chứng cứ; yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu chứng cứ; yêu cầu Tòa án triệu tập đương sự khác, người làm chứng và người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa Đồng thời, đây cũng là thời điểm các bên đương sự xác định lại yêu cầu và phạm vi khởi kiện, xem xét việc sửa đổi, bổ sung, thay đổi, rút yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa

vụ liên quan; những vấn đề đã thống nhất, chưa thống nhất yêu cầu Tòa án giải quyết; Đây cũng là quy định nhằm nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa, tạo sự công bằng trong tiếp cận chứng cứ đối với đương sự để họ có sự chuẩn bị cần thiết cho việc tranh tụng với nhau tại phiên tòa Về phía Tòa án, thông qua phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thẩm phán cũng chốt được yêu cầu của đương sự, có hay không có yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập, đánh giá việc thu thập chứng cứ đã đầy đủ hay chưa [15, 36]

Đối với việc xác định lại yêu cầu và phạm vi khởi kiện, khi nguyên đơn nộp đơn khởi kiện tại tòa án, với những tài liệu và chứng cứ được nộp kèm theo, yêu cầu khởi kiện cũng đồng thời được xác định được đem ra để giải quyết tại tòa án Trong quá trình thụ lý và tiến hành phiên họp trước khi xét xử,

hồ sơ vụ án ngày một được bổ sung đầy đủ và hoàn thiện, quan hệ tranh chấp ngày càng được làm rõ dựa trên những chứng cứ và tài liệu được bổ sung Dựa trên những căn cứ đó, yêu cầu khởi kiện được xác định lại một cách chính xác

và đầy đủ hơn Bên cạnh đó, phạm vi khởi kiện cũng được tòa án và xác bên xác định cụ thể, các quyền và lợi ích thực tế bị xung đột được làm rõ hơn, giúp xác bên đi vào việc giải quyết các vấn đề trọng tâm còn chưa được thống nhất

Đối với việc sửa đổi, bổ sung, thay đổi, rút yêu cầu khởi kiện, dựa trên những tài liệu và chứng cứ thu thập được, các bên đương sự được phép trình bày ý kiến của mình về việc tiếp tục thực hiện quá trình tố tụng như thế nào Sau khi xác định lại được yêu cầu và phạm vi khởi kiện, trong trường hợp

Trang 34

Về vấn đề đưa ra yêu cầu độc lập của người có quyền và nghĩa vụ liên quan, tại phiên họp, quyền và nghĩa vụ của người liên quan cũng được xác định

rõ ràng, những quyền lợi và nghĩa vụ trong quan hệ tranh chấp này cũng được đem ra bàn luận và đánh giá và giải quyết, nhằm tạo được cái nhìn khách quan cũng như toàn diện cho toàn bộ vụ án Bên cạnh đó, những vấn đề đã được thống nhất và chưa được thống nhất yêu cầu tòa giải quyết cũng được xác định lại một cách rõ ràng Những vấn đề đã được thống nhất, các bên tự nguyện thỏa thuận và thống nhất làm theo Những vấn đề chưa được thống nhất, tòa án

và các bên xác định rõ ràng vấn đề chưa được giải quyết này và tìm ra phương

án giải quyết hợp lý cho từng vấn đề, nếu phương án được đưa ra và được chấp

Trang 35

Sau khi tiến hành việc kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ

và tiến hành xác định sơ bộ các vấn đề liên quan đến yêu cầu khởi kiện, tòa án lấy đó là cơ sở tiến hành hòa giải Hòa giải được xem là phần thứ hai của phiên họp, tại phần này, các bên đương sự được trình bày quan điểm, ý kiến của mình về nội dung các tranh chấp trong quan hệ giữa các bên, đề xuất các phương án giải quyết nếu có Khi trình bày ý kiến của mình về các vấn đề tranh chấp, các bên đương sự dựa vào các tài liệu, chứng cứ của mình hoặc bên kia cung cấp trong hồ sơ vụ án làm cơ sở lập luận bảo vệ cho quan điểm của mình Các quyền và lợi ích được bảo vệ phải xuất phát từ các căn cứ trên và quy định của pháp luật có liên quan Khi trình bày về phương án giải quyết tranh chấp, dựa trên nguyên tắc các bên tự nguyện thỏa thuận, tự do thống nhất

ý chí, tòa án không được áp đặt các phương án giải quyết cho các bên đương

Trang 36

23

sự tham chiếu, đồng thời, ý kiến đề xuất của các bên đương sự cũng không được xem là phương án bắt buộc và ràng buộc cho bên còn lại, trừ trường hợp

có sự thống nhất của bên còn lại và thỏa thuận này hợp pháp [25]

Tuy nhiên, không phải tất cả các vụ án đều được đưa ra hòa giải và có thể tiến hành phiên họp hòa giải Đối với một số vụ án dân sự yêu cầu đòi bồi thường vì lý do gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước; vụ án phát sinh từ giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội thì không được hòa giải Đối với một số vụ án liên quan đến hôn nhân và gia đình, khi mà một trong hai bên là người mất năng lực hành vi dân sự, bị đơn được tòa án triệu tập nhiều lần mà cố tình không thực hiện, hay các bên thống nhất việc trực tiếp đưa vụ án ra giải quyết tại phiên tòa,… thì phiên họp sẽ không tiến hành hòa giải nữa

Hoạt động kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải là hai hoạt động tố tụng độc lập được gộp chung lại thành một phiên họp Trên thực tế, khi tổ chức phiên họp, Thẩm phán phải tách thành hai phần độc lập, có thể tổ chức trong cùng một buổi hoặc trong một ngày

1.2.2.Quá trình vận hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải tại cấp sơ thẩm

Với bản chất là một thủ tục tố tụng dân sự được tiến hành bởi bên thứ

ba độc lập, phiên họp phải được tiến hành với sự tham gia đầy đủ của ba bên Đối với bên thứ ba, cũng là bên tổ chức ra phiên họp này, sự tham gia của Thẩm phán và Thư ký tòa án và điều bắt buộc Tại phiên họp, thẩm phán có vai trò chủ trì phiên họp, điều chỉnh và thúc đẩy phiên hợp đi theo tiến trình luật định, trong khi đó, thư ký tòa án sẽ thực hiện nhiệm vụ ghi nhận những việc được diễn ra tại phiên họp Với tính chất của quan hệ dân sự và đặc điểm “việc dân sự cốt ở đôi bên”, do đó, để hòa giải, bắt buộc phải có sự góp mặt của các

Trang 37

24

đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của các đương sự; Đại diện tổ chức đại diện tập thể lao động đối với vụ án lao động khi có yêu cầu của người lao động, trừ vụ án lao động đã có tổ chức đại diện tập thể người lao động là người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho tập thể người lao động, người lao động Trường hợp đại diện tổ chức đại diện tập thể lao động không tham gia hòa giải thì phải có ý kiến bằng văn bản; Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự (nếu có); Người phiên dịch (nếu có) [45]

Trường hợp cần làm rõ các tình tiết trong vụ án, Thẩm phán yêu cầu cá nhân, cơ quan tổ chức có liên quan tham gia phiên họp nhằm giải trình và chứng minh các vấn đề còn chưa được sáng tỏ Đối với vụ án về hôn nhân và gia đình, đại diện cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam cũng có thể là những thành phần được tham gia phiên họp theo yêu cầu của thẩm phán nhằm đảm bảo sự đánh giá khách quan về vụ án, bảo đảm quyền lợi của phụ nữ và trẻ em một cách tối đa Nếu họ vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành phiên họp Trong vụ án

có nhiều đương sự mà có đương sự vắng mặt, nhưng các đương sự có mặt vẫn đồng ý tiến hành phiên họp và việc tiến hành phiên họp đó không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt thì Thẩm phán có thể tiến hành phiên họp giữa các đương sự có mặt; trong trường hợp các đương sự đề nghị hoãn phiên hòa giải để có mặt tất cả các đương sự trong vụ án thì Thẩm phán phải hoãn phiên họp Thẩm phán phải thông báo việc hoãn phiên họp và việc

mở lại phiên họp cho đương sự [36]

Như vậy thành phần phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngoài đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự, còn có sự tham gia của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của đương sự (nếu có) Việc quy định người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự tham gia phiên họp nhằm bảo vệ tối đa quyền, lợi ích của đương sự tại phiên họp,

Trang 38

Đối với những vụ án không tiến hành hòa giải, thì nội dung phiên họp chỉ gồm hai phần

Phần thứ nhất, phần khai mạc phiên họp Trước khi tiến hành phiên họp, các thủ tục đề kiểm tra tư cách các thành phần tham gia phiên họp và phổ biến nội dung cũng như chương trình của phiên họp được thực hiện Thư ký phiên họp là người có trách nhiệm báo cáo Thẩm phán về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia phiên họp đã được Tòa án thông báo Thẩm phán chủ trì phiên họp kiểm tra lại sự có mặt và căn cước của những người tham gia Tiếp đến, Thẩm phán khai mạc và giới thiệu thành phần tham gia phiên họp Thẩm phán cần giới thiệu ngắn gọn, nhưng đầy đủ, rõ ràng, tránh việc nói lắp, nói vấp Sau đó, Thẩm phán phổ biến cho các đươg sự về quyền và nghĩa vụ của những người tham gia phiên họp theo quy định của BLTTDS

Tại phần thứ hai, phần kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng

cứ, đây là giai đoạn thẩm phán cũng các bên đương sự bắt đầu kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ bằng việc công bố tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án Các đương sự sẽ được trình bày ý kiến của mình dưới sự dẫn dắt của thẩm phán về những vấn đề: (1) Yêu cầu và phạm vi khởi kiện, việc sửa đổi, bổ sung, thay đổi, rút yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập; những vấn đề đã thống nhất, chưa thống nhất yêu cầu Tòa án giải quyết; (2) Tài liệu, chứng cứ đã giao nộp cho Tòa án và việc gửi tài liệu, chứng

Trang 39

26

cứ cho đương sự khác; (3) Bổ sung tài liệu, chứng cứ; Yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ; Yêu cầu Tòa án án triệu tập đương sự khác, người làm chứng và người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa; (4) Những vấn đề khác mà đương sự thấy cần thiết [44]

Sau khi các đương sự trình bày xong, các ý kiến của các bên đương sự sẽ được đưa ra xem xét và thảo luận, đồng thời thẩm phán và các bên tham gia phiên họp cùng nhau giải quyết các yêu cầu của đương sự như đưa ra ý kiến về việc chấp nhận hay không chấp nhận việc sửa đổi, bổ sung, thay đổi, rút yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập; nhận tài liệu, chứng cứ đương

sự nộp bổ sung; giải quyết yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ… Nội dung của phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ phải được ghi vào biên bản về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ Những người có quyền và nghĩa vụ liên quan mà vắng mặt trong phiên họp này cũng sẽ được tòa án thông báo về nội dung và kết quả của phiên họp

Đối với đa số các vụ án dân sự được đưa ra tố tụng tại tòa án, trong phiên họp được các bên tiến hành, phần hòa giải sẽ là phần thứ ba Tại phần này, bên thứ ba ngày tình (Tòa án - Thẩm phán) bắt đầu tiến hành hòa giải bằng việc phổ biến cho các đương sự về quy định của pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án để các đương sự liên hệ đến quyền, nghĩa vụ của mình; phân tích hậu quả pháp lý của việc hòa giải thành để họ tự nguyện thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án Tùy từng vụ việc, căn cứ vào tình tiết

vụ án, Thẩm phán xác định các vấn đề cần phải hòa giải để giải quyết vụ án và nêu các vấn đề để đương sự thỏa thuận với nhau [25]

Sau khi đã phổ biến pháp luật, nêu các vấn đề cần hòa giải, Thẩm phán yêu cầu các đương sự hoặc đại diện hợp pháp của đương sự trình bày ý kiến

Trang 40

Sau khi các đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trình bày hết ý kiến của mình, Thẩm phán xác định những vấn đề các đương sự

đã thống nhất, chưa thống nhất và yêu cầu các đương sự trình bày bổ sung về những nội dung chưa rõ, chưa thống nhất Thẩm phán kết luận những vấn đề đương sự đã thống nhất, chưa thống nhất [28]

Mặc dù là một phiên họp, nhưng việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải là hai hoạt động tố tụng khác nhau

1.3.Vai trò của phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải tại cấp sơ thẩm

Nhìn vào từng khía cạnh, vai trò của phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải có những đóng góp đặc biệt không thể phủ nhận

1.3.1.Đối với tiến trình tố tụng:

Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ là một phần của tiến trình tố tụng dân sự Trong tố tụng nói chung, việc kiểm tra, đánh giá, thẩm định chứng cứ là vô cùng quan trọng, và đương nhiên, chứng cứ có

Ngày đăng: 24/10/2018, 10:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w