Pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán không chỉ giúp người quản lý doanh nghiệp điều hòa được tình hình tài chính thông qua việc giám sát thực hiện các nghiệp vụ kế toán phát
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THỊ THÙY DƯƠNG
PH¸P LUËT VÒ Xö Lý VI PH¹M TRONG LÜNH VùC KÕ TO¸N ë VIÖT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THỊ THÙY DƯƠNG
PH¸P LUËT VÒ Xö Lý VI PH¹M
TRONG LÜNH VùC KÕ TO¸N ë VIÖT NAM
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG
HÀ NỘI - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Lê Thị Thùy Dương
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục từ viết tắt
Danh mục bảng
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XỬ LÝ VI PHẠM TRONG LĨNH VỰC KẾ TOÁN VÀ PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM TRONG LĨNH VỰC KẾ TOÁN 8
1.1 Những vấn đề lý luận về xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán 8
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại vi phạm trong lĩnh vực kế toán 8
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm của xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán 17
1.2 Những vấn đề lý luận pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán 20
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán 20
1.2.2 Chủ thể xử lý vi phạm và chủ thể bị xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán 24
1.2.3 Các biện pháp xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán 26
1.2.4 Thủ tục xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán 30
Kết luận chương 1 31
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM TRONG LĨNH VỰC KẾ TOÁN Ở VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN XỬ LÝ VI PHẠM KẾ TOÁN CỦA DOANH NGHIỆP 32
2.1 Thực trạng quy định về xử lý vi phạm hóa đơn và thực tiễn xử lý vi phạm về hóa đơn của doanh nghiệp 32
2.1.1 Thực trạng quy định về xử lý vi phạm hóa đơn 32
2.1.2 Thực tiễn xử lý vi phạm về hóa đơn của doanh nghiệp 44
Trang 52.2 Thực trạng quy định về xử lý vi phạm báo cáo tài chính và thực
tiễn xử lý vi phạm về báo cáo tài chính của doanh nghiệp 51
2.2.1 Thực trạng quy định về xử lý vi phạm báo cáo tài chính 51
2.2.2 Thực tiễn xử lý vi phạm về báo cáo tài chính của doanh nghiệp 60
2.3 Thực trạng quy định về xử lý vi phạm quản lý sổ kế toán và thực tiễn xử lý vi phạm về quản lý sổ kế toán của doanh nghiệp 69
2.3.1 Thực trạng quy định về xử lý vi phạm quản lý sổ kế toán 69
2.3.2 Thực tiễn xử lý vi phạm về quản lý sổ kế toán của doanh nghiệp 73
Kết luận chương 2 76
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM TRONG LĨNH VỰC KẾ TOÁN Ở VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN XỬ LÝ VI PHẠM KẾ TOÁN CỦA DOANH NGHIỆP VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ XỬ LÝ VI PHẠM 77
3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán ở Việt Nam từ thực tiễn xử lý vi phạm kế toán của doanh nghiệp 77
3.1.1 Bảo đảm tính răn đe của biện pháp xử lý vi phạm 78
3.1.2 Bảo đảm đáp ứng yêu cầu bao quát các hành vi vi phạm và biện pháp xử lý 79
3.1.3 Bảo đảm khắc phục những bất cập của pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán 80
3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán ở Việt Nam từ thực tiễn xử lý vi phạm kế toán của doanh nghiệp 80
3.2.1 Xử lý vi phạm về hóa đơn của doanh nghiệp 80
3.2.2 Xử lý vi phạm về báo cáo tài chính của doanh nghiệp 82
3.2.3 Xử lý vi phạm về quản lý sổ kế toán của doanh nghiệp 88
KẾT LUẬN 92
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCTC: Báo cáo tài chính BKS: Ban kiểm soát CTCP: Công ty cổ phần DN: Doanh nghiệp ĐHĐCĐ: Đại hội đồng cổ đông GTGT: Giá trị gia tăng
HĐXX: Hội đồng xét xử KSND: Kiểm sát nhân dân NDT: Nhà đầu tư
NSNN: Ngân sách Nhà nước TAND: Tòa án nhân dân TNDN: Thu nhập doanh nghiệp UBCK: Uỷ ban Chứng khoán UBND: Ủy ban nhân dân VAT: Vale Added Tax (Thuế giá trị gia tăng) VPHC: Vi phạm hành chính
VPPL: Vi phạm pháp luật XLVPPL: Xử lý vi phạm pháp luật
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Báo cáo kết quả chương trình đánh giá chất lượng công bố
thông tin và minh bạch cho các DN niêm yết trên HNX
Trang 8
1
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Lịch sử tài chính thế giới đã chứng kiến nhiều sự sụp đổ của những tập đoàn lớn trong lĩnh vực kế toán liên quan đến sự gian lận báo cáo tài chính như Enron (Hoa Kỳ), Worldcom (Hoa Kỳ) hay Vivendi (Pháp) Enron là công
ty khí tự nhiên lớn nhất Bắc Mỹ thập niên 90, giá cổ phiếu Enron tăng vùn vụt qua các năm (tăng 311% từ 1990 đến 1998), là ngôi sao sáng chói trên thị trường chứng khoán Mỹ [32] Tuy nhiên sự tăng trưởng không ngừng đó lại
đi kèm với gian lận Ban điều hành đã khai thác những khe hở kế toán, sử dụng các thể chế đặc thù và các báo cáo tài chính không trung thực để đẩy giá
cổ phiếu, gây áp lực với công ty kiểm toán bỏ qua các vấn đề rủi ro ở Enron Khi mọi việc vỡ lở đã làm công ty phá sản, giá cổ phiếu đang từ mức đỉnh cao
90 USD năm 2000 rơi xuống còn chưa tới 1 USD vào cuối tháng 11 năm
2011, các nhà đầu tư mất trắng hàng tỷ USD và khoảng 20.000 nhân viên mất việc làm Vụ bê bối này đã đánh động tới các nhà chức trách ban hành luật mới nhằm tăng cường tính chính xác của báo cáo tài chính nói riêng, thông tin
kế toán nói chung và đặc biệt là xây dựng hệ thống chế tài nghiêm minh xử lý các hành vi vi phạm trong lĩnh vực kế toán
Thực tế tại Việt Nam, năm 2016 đánh dấu một năm kỉ lục của những sự kiện gian lận kế toán bị phanh phui, từ việc thất thoát gần 1.000 tỷ đồng giá trị hàng tồn kho của CTCP Gỗ Trường Thành (TTF) hay thất thoát 400 tỷ hàng tồn kho tại công ty Ntaco (ATA) và mới đây nhất báo cáo soát xét của công ty Dầu thực vật Sài Gòn (SGO) cũng sai lệch và công ty phải đính chính lại số liệu sau một tháng [30] Vậy nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do đâu? Theo đánh giá của các nhà làm luật, một trong những nguyên nhân chủ yếu của những vụ thất thoát ngân sách nhà nước là do chế tài xử lý vi phạm
Trang 92
trong lĩnh vực kế toán còn nhiều bất cập và không có tính răn đe dẫn đến nhiều lỗ hổng kế toán, tạo môi trường cho những cá nhân, tổ chức lạm quyền thực hiện hành vi bất hợp pháp gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức có liên quan nói riêng và cho Nhà nước nói chung
Trong thời gian qua, hệ thống pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực
kế toán ở Việt Nam đang từng bước hoàn thiện và góp phần không nhỏ nâng cao chất lượng quản lý trong lĩnh vực kế toán Pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán không chỉ giúp người quản lý doanh nghiệp điều hòa được tình hình tài chính thông qua việc giám sát thực hiện các nghiệp vụ kế toán phát sinh mà còn có vai trò quan trọng đối với Nhà nước trong việc theo dõi sự phát triển của các ngành sản xuất kinh doanh, tổng hợp được sự phát triển của nền kinh tế; là cơ sở để giải quyết tranh chấp về quyền lợi giữa các doanh nghiệp, cung cấp thông tin để tìm ra cách tính thuế tốt nhất, hạn chế thất thu thuế, hạn chế sai lầm trong chính sách thuế…
Thực tiễn cho thấy, việc đảm bảo thực hiện pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán bên cạnh những ưu điểm đã bộc lộ nhiều bất cập như
có nhiều qui định pháp luật còn chồng chéo, không thống nhất, chưa phù hợp với thực tế và thiếu tính khả thi Cụ thể như việc xử lý loại tội phạm liên quan đến hóa đơn trong thời gian qua cho thấy một số hạn chế được nhìn nhận cả
từ phía cơ quan thuế và các cơ quan tiến hành tố tụng Với cơ quan thuế, đó là tình trạng thất thu thuế khi DN bán hàng không xuất hóa đơn VAT cho người tiêu dùng, hoặc DN hợp thức hóa các khoản chi phí bằng việc mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ Tuy nhiên, để xử lý cơ quan thuế địa phương gặp không ít khó khăn vì thủ tục kiểm tra phức tạp và mức xử phạt thấp (muốn kiểm tra, cơ quan thuế phải thông báo cho DN biết trước 3 ngày, khi phát hiện
DN bán hàng không xuất hoá đơn kịp thời, nếu phạt cũng chỉ 10 triệu đồng, còn nếu không xuất hoá đơn thì có thể bị phạt về hành vi trốn thuế, nhưng mức phạt chỉ bằng 3 lần số tiền thuế trên số hàng bán không xuất hoá đơn)…
Trang 103
Hoạt động giải thích pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán
đã triển khai song hiệu quả chưa cao dẫn đến việc áp dụng các biện pháp xử lý
vi phạm ở nhiều nơi còn tùy tiện hoặc dung túng bao che, không xử lý hoặc xử
lý không kịp thời, làm nảy sinh tâm lý coi thường luật pháp Hơn nữa các cơ quan có nhiệm vụ xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán còn lơ là trong việc rà soát một cách trung thực tất cả các đơn vị kinh doanh trên cả nước, điều này làm chất xúc tác cho hoạt động buôn bán hóa đơn chứng từ khống, trốn thuế… càng gia tăng
Về mặt lý luận, vấn đề đảm bảo thực hiện pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán đã được đặt ra nhưng chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu nào Một số công trình được công bố chỉ nghiên cứu về pháp luật kế toán công chưa đi sâu vào xử lý các vi phạm cụ thể cũng như chưa đưa
ra được sự đánh giá tổng quan nhất về hệ thống pháp luật xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán ở nước ta
Có thể thấy, cả về mặt lý luận và thực tiễn, việc nghiên cứu toàn diện vấn đề đảm bảo thực hiện pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán,
tác giả đã mạnh dạn chọn đề tài: “Pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực
kế toán ở Việt Nam” để nghiên cứu
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong thời kỳ đổi mới cũng có khá nhiều tác giả nghiên cứu về pháp luật kế toán, có thể kể đến những công trình nghiên cứu sau:
Vũ Quốc Việt (2015), Thực trạng pháp luật kế toán ở Việt Nam hiện
nay và hướng hoàn thiện, Viện Đại học mở Hà Nội, Luận văn Thạc sĩ ngành
Luật Kinh tế, 2015 Luận vănnghiên cứu hệ thống pháp luật kế toán, đánh giá thực trạng, xác định những mặt tích cực, các vấn đề hạn chế, nguyên nhân tồn tại và đưa ra giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật kế toán Việt Nam, qua
đó góp phần nâng cao chất lượng hoạt động kế toán - kiểm toán trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế
Trang 114
Nguyễn Trần Nguyên Trân (2014), Nghiên cứu về sai sót trong báo cáo
tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, Đại
học Đà Nẵng, Luận văn Thạc sĩ ngành Quản trị kinh doanh, 2014 Luận văn nghiên cứu tổng hợp các thủ thuật được sử dụng để làm đẹp báo cáo tài chính của công ty niêm yết và chỉ ra kỹ thuật phát hiện sai sót trọng yếu do gian lận,
từ đó giúp cho kiểm toán viên, nhà đầu tư và ban quản lý định hướng đúng đắn để ứng phó với gian lận báo cáo tài chính theo hướng hiệu quả, chính xác
và nhanh chóng hơn
Chu Thị Ngọc (2014), Xử lý vi phạm pháp luật về thuế thu nhập doanh
nghiệp ở Việt Nam, Khoa Luật, Luận văn Thạc sĩ ngành Luật Kinh tế, 2014
Luận văn đánh giá thực trạng quy định của pháp luật và thực tiễn thực hiện xử
lý vi phạm pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp, qua đó chỉ ra những điểm còn hạn chế, khó khăn, vướng mắc và đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật
về xử lý vi phạm pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam
Hoàng Thị Thanh Hải (2014), Pháp luật về hóa đơn giá trị gia tăng ở
Việt Nam, Khoa Luật, Luận văn Thạc sĩ ngành Luật Kinh tế, 2014 Luận văn
khái quát những vấn đề cơ bản về hóa đơn, hóa đơn GTGT, pháp luật về hóa đơn GTGT và đánh giá thực trạng quản lý, sử dụng hóa đơn GTGT ở Việt Nam; qua đó đưa ra hướng hoàn thiện và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về hóa đơn GTGT
Trần Quốc Hùng (2011), Pháp luật về hoàn thuế giá trị gia tăng ở
Việt Nam, Khoa Luật, Luận văn Thạc sĩ ngành Luật Kinh tế, 2011 Luận văn
nghiên cứu khái quát chung về khấu trừ, hoàn thuế GTGT và pháp luật về hoàn thuế GTGT, tác giả đánh giá thực trạng pháp luật về hoàn thuế GTGT
ở Việt Nam, qua đó đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật về hoàn thuế GTGT ở Việt Nam
Trang 125
Về cơ bản, các công trình nghiên cứu nêu trên mới chỉ dừng lại ở việc phân tích các quy định về kế toán nói chung, về pháp luật thuế, về nhận diện các sai sót trong báo cáo tài chính, về lĩnh vực hóa đơn mà chưa đi sâu vào nghiên cứu các vấn đề lý luận cũng như thực trạng pháp luật, thực tiễn áp dụng pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán… Trong khi đó, xử lý
vi phạm trong lĩnh vực kế toán được coi là một công cụ trong hoạt động quản
lý nhà nước liên quan đến lĩnh vực thuế nhưng vẫn chưa nhận được sự quan tâm, nghiên cứu nhiều
Với cấp độ luận văn thạc sĩ luật học, đây là công trình tập trung vào nghiên cứu các vấn đề cả về lý luận và thực tiễn pháp luật liên quan đến hoạt động xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán ở Việt Nam Để phù hợp với mã số chuyên ngành Luật Kinh tế, tác giả tập trung nghiên cứu pháp luật về xử lý vi phạm kế toán của doanh nghiệp
3 Mục đích nghiên cứu của luận văn
Luận văn nghiên cứu những vấn đề cơ bản nhất về vi phạm pháp luật kế toán và pháp luật xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận, luận văn tập trung đánh giá thực trạng pháp luật về xử lý
vi phạm trong lĩnh vực kế toán ở Việt nam từ thực tiễn áp dụng chế tài để xử lý
vi phạm trong lĩnh vực kế toán của doanh nghiệp Qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán
4 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn: Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực trạng pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn: Trong khuôn khổ có hạn, luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề cơ bản pháp luật về xử lý vi phạm trong
Trang 136
lĩnh vực kế toán, quan đó nghiên cứu thực trạng pháp luật về xử lý vi phạm kế toán của doanh nghiệp và thực tiễn xử lý vi phạm hành chính và vi phạm hình
sự đối với các vi phạm về hóa đơn, báo cáo tài chính và quản lý sổ kế toán
- Về phương pháp nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp chính như phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn, phân tích và tổng hợp Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khác như phương pháp so sánh
5 Những đóng góp mới của luận văn
Điểm mới nhất của luận văn là nghiên cứu có hệ thống pháp luật về
xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán và thực trạng xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán từ thực tiễn xử lý vi phạm về hóa đơn, về báo cáo tài chính, về quản lý sổ kế toán của doanh nghiệp Ngoài ra làm sáng tỏ môi trường pháp
lý ảnh hưởng đến việc áp dụng pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực
kế toán Từ đó, tác giả đưa ra các giải pháp mang tính toàn diện có ý nghĩa
to lớn đảm bảo thực hiện pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán
từ thực tiễn xử lý vi phạm kế toán của doanh nghiệp, góp phần hoàn thiện
cơ chế thực hiện và bảo vệ pháp luật, giáo dục pháp luật theo chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Ý nghĩa về mặt lý luận: Luận văn góp phần xây dựng hệ thống các khái niệm, đặc điểm của pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán và môi trường pháp lý ảnh hưởng đến việc đảm bảo thực hiện pháp luật về xử lý
vi phạm trong lĩnh vực kế toán
- Ý nghĩa về mặt thực tiễn: Luận văn góp phần hoàn thiện cơ chế kiểm soát vi phạm trong lĩnh vực kế toán Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo để nghiên cứu thực hiện pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán
Trang 147
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục chữ viết tắt, danh mục bảng và
danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 03 chương:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận về xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế
toán và pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán
- Chương 2: Thực trạng pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế
toán ở Việt Nam từ thực tiễn xử lý vi phạm kế toán của doanh nghiệp
- Chương 3: Định hướng hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm trong
lĩnh vực kế toán ở Việt Nam từ thực tiễn xử lý vi phạm kế toán của doanh nghiệp và một số giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm
Trang 158
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XỬ LÝ VI PHẠM TRONG
LĨNH VỰC KẾ TOÁN VÀ PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM
TRONG LĨNH VỰC KẾ TOÁN
1.1 Những vấn đề lý luận về xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại vi phạm trong lĩnh vực kế toán
1.1.1.1 Khái niệm vi phạm trong lĩnh vực kế toán
Cơ sở của việc xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán là có hành vi vi phạm pháp luật kế toán được pháp luật quy định Việc nghiên cứu về khái niệm vi phạm trong lĩnh vực kế toán có ý nghĩa lý luận quan trọng và mang tính thực tiễn sâu sắc, bởi lẽ, chỉ khi định nghĩa đúng về vi phạm pháp luật kế toán mới có thể xác định được các hành vi vi phạm cụ thể Khi truy cứu trách nhiệm pháp lý bắt buộc phải xác định đúng hành vi vi phạm thì mới có căn cứ đưa ra biện pháp xử phạt một cách đúng đắn, điều này có ý nghĩa to lớn trong việc đảm bảo cho quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia hoạt động kế toán được thực thi một cách công bằng, hợp lý Mặt khác, một khi xác định được biện pháp xử lý vi phạm đúng người đúng tội sẽ phát huy được hiệu quả của pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán, quan trọng hơn là góp phần lập lại trật tự quản lý nhà nước bị xâm hại, tăng cường giáo dục người vi phạm; cảnh báo, phòng ngừa vi phạm có thể xảy ra và hạn chế tối đa những bất cập trong việc xử phạt
Theo Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật:
Vi phạm pháp luật là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến các lợi ích được bảo vệ bằng ngành luật tương ứng hoặc trái với các quy định được quy định trong ngành ấy, do người có năng lực trách nhiệm pháp lý và đủ tuổi chịu trách nhiệm pháp lý thực hiện một cách có lỗi [20, tr.537]
Trang 169
Còn theo giáo trình Luật Thuế Việt Nam:
Vi phạm pháp luật được hiểu là hành vi làm trái các quy định của pháp luật, do tổ chức hoặc cá nhân thực hiện với một lỗi xác định (cố ý hoặc vô ý), gây thiệt hại đến lơi ích chung và do đó phải chịu trách nhiệm pháp lý về hành vi đó của mình [26, tr.331]
Có thể nói, vi phạm pháp luật được hiểu là hành vi làm trái các quy
định của pháp luật, do một chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ
và do đó phải chịu các biện pháp xử lý của pháp luật
Xuất phát từ khái niệm vi phạm pháp luật nêu trên thì vi phạm trong
lĩnh vực kế toán được hiểu là hành vi làm trái các quy định của pháp luật về
kế toán, do chủ thể pháp luật là tổ chức, cá nhân thực hiện với lỗi cố ý hoặc
vô ý, gây phương hại đến quyền và lợi ích của các cá nhân, tổ chức được pháp luật kế toán bảo vệ và do đó phải gánh chịu các chế tài tương ứng theo quy định của pháp luật
Nhìn từ góc độ pháp lý, vi phạm trong lĩnh vực kế toán là hệ quả không mong muốn, đồng thời là hệ quả bất lợi của quá trình xây dựng và thực hiện pháp luật về kế toán Còn xét từ góc độ xã hội học, vi phạm trong lĩnh vực kế toán là xu hướng khó tránh khỏi, bởi lẽ việc thực thi pháp luật về kế toán thường liên quan ít nhiều đến những lợi ích vật chất của các chủ thể Do sự thúc đẩy của những động cơ cá nhân và vì mục đích vụ lợi, các chủ thể pháp luật này có thể thực hiện những hành vi trái với thể chế pháp luật hiện hành trong lĩnh vực kế toán của nhà nước, mặc dù họ biết hoặc buộc phải biết rằng những hành vi đó là bất hợp pháp và có thể phải bị truy cứu trách nhiệm pháp
lý theo quy định của pháp luật
Nhìn một cách tổng quát, có thể khẳng định vi phạm trong lĩnh vực kế toán là một loại vi phạm pháp luật Nó mang đầy đủ những dấu hiện đặc trưng
Trang 1710
của vi phạm pháp luật, đó là hành vi khách quan được thể hiện thông qua hành động hoặc không hành động của con người trái với các quy tắc xử sự chung do nhà nước đặt ra bằng các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành; hành vi
đó thể hiện ý chí của chủ thể vi phạm bằng sự cố ý hoặc vô ý đối với việc thực hiện và xâm hại đến lợi ích của cộng đồng, trật tự xã hội, lợi ích của nhà nước
và bị áp dụng chế tài pháp lý mang tính cưỡng chế nhà nước
1.1.1.2 Đặc điểm của vi phạm trong lĩnh vực kế toán
Xuất phát từ bản chất vi phạm trong lĩnh vực kế toán là một loại vi phạm pháp luật, do vậy có thể nhận diện vi phạm trong lĩnh vực kế toán bằng các đặc
điểm sau đây:
Về phương diện khách quan, vi phạm trong lĩnh vực kế toán là hành vi có
tính trái pháp luật kế toán được thực hiện dưới hình thức hành động là làm điều pháp luật cấm, ví dụ, cố ý cung cấp thông tin, số liệu kế toán sai sự thật; dưới hình thức không hành động là không thực hiện đúng nghĩa vụ mà pháp luật đã quy định mặc dù cần phải và có thể thực hiện nghĩa vụ đó ví dụ hành vi trốn thuế Các hành vi này dù thể hiện dưới dạng nào đều xâm hại đến trật tự pháp luật kế toán, gây thiệt hại cho các chủ thể quản lý kinh tế hay cho các đối tượng
sử dụng thông tin kế toán và thiệt hại này là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật gây ra Thiệt hại có thể là vật chất hoặc tinh thần cho từng chủ thể trong xã hội và việc xác định được dấu hiệu của vi phạm là rất cần thiết trong việc áp
dụng các biện pháp xử lý đối với từng loại vi phạm cụ thể
Về phương diện khách thể, vi phạm trong lĩnh vực kế toán xâm hại đến
những quan hệ xã hội được pháp luật kế toán điều chỉnh và bảo vệ hay nói cách khác đó chính là xâm hại đến lợi ích cụ thể như lợi ích riêng của tổ chức,
cá nhân hoặc lợi ích chung của toàn xã hội Tùy thuộc vào mức độ xâm hại của hành vi vi phạm đến lợi ích mà người ta xác định được mức độ cũng như biện pháp xử lý áp dụng đối với hành vi đó Ví dụ, đối với hành vi trốn thuế,
Trang 1811
tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của hành vi (thường được xác định dựa vào mức tiền trốn thuế) mà hành vi này có thể bị xử lý hành chính theo luật
xử lý hành chính hoặc xử lý hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự
Về phương diện chủ quan, vi phạm trong lĩnh vực kế toán được đặc
trưng bởi yếu tố lỗi, có liên quan đến động cơ, mục đích của chủ thể thực hiện
vi phạm Lỗi này thể hiện dưới hai hình thức là lỗi cố ý và lỗi vô ý, chúng có thể được xác định thông qua việc đánh giá mối quan hệ giữa khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của chủ thể thực hiện hành vi đối với hậu quả xảy
ra cho nền kinh tế, cho xã hội bởi hành vi đó
Về phương diện chủ thể, vi phạm trong lĩnh vực kế toán là hành vi được
thực hiện bởi chủ thể là tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động kế toán Các chủ thể này thường vi phạm trong khi thực hiện các quyền hay nghĩa vụ pháp lý của mình theo quy định của pháp luật Trên thực tế mức độ vi phạm của mỗi chủ thể có thể khác nhau và do đó các biện pháp xử lý áp dụng cũng
sẽ khác nhau
Tóm lại, về bản chất có thể nhận thấy vi phạm pháp luật nói chung và
vi phạm trong lĩnh vực kế toán nói riêng vừa phản ánh động thái tâm lý của người vi phạm theo xu hướng chống lại lợi ích chung, vừa thể hiện những hành vi không phù hợp với trật tự xã hội và do đó không được pháp luật thừa nhận và bảo hộ
1.1.1.3 Phân loại vi phạm trong lĩnh vực kế toán
Trong thực tế hiện nay, các vi phạm trong lĩnh vực kế toán diễn ra rất
đa dạng, tinh vi và phức tạp với nhiều hình thức khác nhau Việc phân loại các vi phạm không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn rất quan trọng, đặc biệt là giúp cho các nhà làm luật xây dựng được cơ chế phù hợp, thỏa đáng đối với từng nhóm vi phạm Việc phân loại vi phạm căn
cứ vào nhiều phương diện khác nhau, cụ thể như sau:
Trang 1912
* Phân loại theo chủ thể vi phạm
Phân loại vi phạm pháp luật theo từng chủ thể có ý nghĩa quan trọng bởi trên thực tế, một số biện pháp xử lý chỉ được áp dụng đối với nhóm chủ thể xác định Có thể liệt kê như sau:
- Vi phạm của người làm công tác kế toán trong doanh nghiệp như kế toán viên, kế toán trưởng, cá nhân khác có liên quan đến kế toán trong doanh nghiệp Các hành vi vi phạm gồm: giả mạo, khai man, thỏa thuận, tẩy xóa tài liệu kế toán hoặc lập hai hệ thống sổ kế toán tài chính trở lên nhằm bỏ ngoài
sổ kế toán tài sản, nguồn vốn, kinh phí của đơn vị kế toán…
- Vi phạm của cơ quan có thẩm quyền, người có thẩm quyền và trách nhiệm xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán như thanh tra tài chính, cơ quan kiểm toán…
- Vi phạm của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị sự nghiệp sử dụng ngân sách nhà nước; tổ chức, đơn vị sự nghiệp không sử dụng ngân sách nhà nước; doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam; chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam; hợp tác xã, liên hợp tác xã; hộ kinh doanh; tổ chức hoạt động kinh doanh dịch vụ
kế toán tại Việt Nam
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả tập trung nghiên cứu các
vi phạm trong lĩnh vực kế toán từ thực tiễn xử lý vi phạm của doanh nghiệp
* Phân loại theo tính chất của vi phạm
i Vi phạm về hóa đơn
Đối với doanh nghiệp, hóa đơn là một bằng chứng chủ yếu cho nghiệp
vụ kinh doanh và có tính chất quyết định đến nghĩa vụ nộp thuế của doanh nghiệp, vì vậy, việc quản lý phát hành và sử dụng hóa đơn có ý nghĩa to lớn không chỉ đối với Nhà nước mà đối với cả bản thân doanh nghiệp Việc quản
lý và xử phạt vi phạm hóa đơn nếu không được kiểm soát chặt chẽ có thể dẫn
Trang 20ii Vi phạm về lập báo cáo tài chính
Từ trước đến nay, báo cáo tài chính dù đã kiểm toán hay chưa, luôn là một trong những thông tin quan trọng và tin cậy để nhà đầu tư phân tích, đánh giá cổ phiếu và ra quyết định đầu tư, tuy nhiên, trong những năm gần đây, tình trạng chênh lệch về lợi nhuận giữa báo cáo tài chính trước và sau khi kiểm toán lại khá phổ biến Việc doanh nghiệp đang từ lãi nhiều thành lãi ít, đang từ lãi thành lỗ đã làm giảm sút nghiêm trọng niềm tin của nhà đầu tư vào doanh nghiệp, vào thị trường chứng khoán, gây thiệt hại cho nhà đầu tư, và hơn cả là làm lũng đoạn cả nền kinh tế Trong doanh nghiệp, các vi phạm báo cáo tài chính được thực hiện bằng các thủ thuật rất tinh vi như che dấu công
nợ và chi phí; ghi nhận doanh thu không có thật hay khai cao doanh thu; định giá sai tài sản; không khai báo đầy đủ thông tin…
iii Vi phạm về quản lý sổ kế toán
Trong quá trình hoạt động của các doanh nghiệp, các nghiệp vụ kinh tế phát sinh và hoàn tất một cách thường xuyên, do vậy việc quản lý sổ kế toán
là nhiệm vụ rất quan trọng đối với người làm công tác kế toán Ghi chép sổ sách là công việc hàng ngày, hàng tháng, hàng kỳ của người làm kế toán và
Trang 2114
quá trình ghi chép, trình bày sổ sách kế toán không tránh khỏi những sai sót
do lỗi vô ý hoặc cố ý gây ảnh hưởng đến thông tin kế toán của doanh nghiệp Hơn nữa, tình trạng các doanh nghiệp cố ý lập 02 đến 03 hệ thống sổ kế toán đang diễn ra rất phổ biến hiện nay và cần có một chế tài xử lý nghiêm minh hơn nữa các đối tượng vi phạm Vi phạm về quản lý số sách kế toán gồm các hành vi lập sổ kế toán không đầy đủ các nội dung theo quy định; mở sổ kế toán ngoài hệ thống sổ kế toán chính thức của đơn vị; giả mạo sổ kế toán; thỏa thuận hoặc ép buộc người khác giả mạo sổ kế toán; cố ý để ngoài sổ kế toán tài sản của đơn vị hoặc tài sản có liên quan đến đơn vị…
* Phân loại theo mức độ nghiêm trọng của hành vi
i Vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán
Về mặt lý thuyết, vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán được hiểu
là những hành vi cố ý hoặc vô ý làm trái các quy định pháp luật hành chính
trong lĩnh vực kế toán, do tổ chức, cá nhân thực hiện nhằm xâm hại đến những lợi ích đang được pháp luật bảo vệ nhưng chưa đến mức xử lý hình sự
và do đó phải chịu trách nhiệm hành chính Về mặt lý luận, có thể phân biệt
loại vi phạm này với vi phạm hình sự hay các loại hình vi phạm khác về kế toán thông qua những đặc trưng cơ bản sau đây:
Chủ thể vi phạm là cá nhân, tổ chức trong nước và nước ngoài vi phạm
quy định của pháp luật về kế toán trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam, nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì bị xử phạt vi phạm hành chính
Tính chất vi phạm, các hành vi vi phạm này đều có một điểm chung là
chúng tác động đến trật tự pháp luật hành chính trong lĩnh vực kế toán đã được thiết lập và đảm bảo thực hiện bởi Nhà nước gồm các vi phạm sau: vi phạm về hóa đơn, vi phạm về báo cáo tài chính, vi phạm về quản lý sổ kế toán…
Biện pháp xử lý áp dụng đối với vi phạm hành chính về kế toán là xử lý
hành chính gồm hình thức phạt cảnh cáo, phạt tiền Ngoài ra, tùy thuộc vào tính
Trang 2215
chất và mức độ vi phạm mà người vi phạm còn có thể bị áp dụng biện pháp xử phạt bổ sung là đình chỉ hoạt động có thời hạn; tịch thu tang vật… và các biện pháp khắc phục hậu quả khi có thiệt hại thực tế do hành vi vi phạm gây ra
ii Vi phạm hình sự trong lĩnh vực kế toán
Trong lĩnh vực kế toán, các vi phạm có tính chất hình sự tuy không nhiều như vi phạm hành chính song tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của loại vi phạm này là rất lớn Do vai trò quan trọng của việc bảo vệ nền pháp chế nên pháp luật hình sự các nước đều tìm cách quy định những hành
vi nguy hiểm cho xã hội nào trong lĩnh vực kế toán là tội phạm Nói cách khác, vi phạm hình sự trong lĩnh vực kế toán thực chất chính là những tội phạm do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện trong quá trình tham gia vào hoạt động tài chính kế toán
Xuất phát từ nền tảng định nghĩa về tội phạm nói chung trong luật hình
sự, có thể định nghĩa vi phạm hình sự trong lĩnh vực kế toán là những hành vi
trái pháp luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý, xâm hại đến các quan hệ xã hội trong lĩnh vực kế toán được luật hình sự bảo vệ và do đó phải chịu trách nhiệm hình sự Vi phạm
hình sự trong lĩnh vực kế toán có những đặc trưng cơ bản sau đây để phân biệt với các loại hình vi phạm khác trong lĩnh vực kế toán:
Chủ thể vi phạm là các tổ chức, cá nhân trực tiếp tham gia vào các hoạt
động tài chính, kế toán; hoạt động quản lý nhà nước về kế toán Trong thực tế, tuy người thực hiện các hành vi phạm tội trong lĩnh vực kế toán có thể bao gồm cả tổ chức và cá nhân nhưng theo pháp luật hình sự Việt Nam sửa đổi và
bổ sung năm 2009, các tổ chức không được coi là chủ thể của tội phạm và do
đó không bị truy cứu trách nhiệm hình sự Quy định này tỏ ra không phù hợp với thực tế đời sống xã hội đương đại, khi mà hầu hết các nước trên thế giới đều thừa nhận các pháp nhân (tổ chức) là chủ thể của tội phạm và phải chịu
Trang 2316
trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự Đứng trước những bất cập này, Bộ Luật Hình sự năm 2015 đã đưa ra các quy định về Pháp nhân thương mại cũng phải chịu trách nhiệm hình sự đối với một số tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế như tội trốn thuế; tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ…
Tính chất vi phạm, vi phạm quy định của Bộ luật hình sự về các tội
phạm trong lĩnh vực kinh tế, tài chính, kế toán hay tội phạm về chức vụ Những quy định này có nhiệm vụ bảo vệ cho lợi ích của các chủ thể kinh tế phát sinh
từ những quan hệ tài chính, kế toán hay lợi ích chung của xã hội Ngoài phạm
vi tác động là các quy định của pháp luật hình sự, những hành vi vi phạm hình
sự trong lĩnh vực kế toán còn tác động đến các quy định của Luật kế toán, luật Thuế, và các văn bản pháp luật khác có liên quan đến kế toán
Biện pháp xử lý các hành vi vi phạm hình sự trong lĩnh vực kế toán là áp
dụng các hình phạt đối với người phạm tội Tuy nhiên, do đặc thù của các hành
vi vi phạm hình sự trong lĩnh vực kế toán là thường gây ra các thiệt hại về vật chất cho Nhà nước và xã hội nên việc áp dụng các hình phạt đối với người phạm tội trong lĩnh vực kế toán cũng thường có thiên hướng sử dụng các chế tài vật chất, ví dụ hình phạt tiền Khi chủ thể vi phạm có đủ yếu tố cấu thành tội phạm, phụ thuộc vào mức độ gây thiệt hại có giá trị lớn thì người phạm tội sẽ bị phạt tù
và bồi thường thiệt hại cho các bên liên quan
iii Các loại vi phạm khác
Vi phạm dân sự trong lĩnh vực kế toán được hiểu là những hành vi trái
pháp luật dân sự, do tổ chức, cá nhân thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý nhằm gây thiệt hại về vật chất, tài sản cho Nhà nước hoặc tổ chức, cá nhân khác trong quá trình tham gia vào hoạt động kế toán và do đó phải chịu trách nhiệm dân sự
(trách nhiệm bồi thường thiệt hại) về hành vi của mình Các hành vi vi phạm
gây thiệt hại cho quyền tài sản hay lợi ích kinh tế của một trong các chủ thể
Trang 24Vi phạm kỷ luật trong lĩnh vực kế toán được hiểu là hành vi vi phạm
quy chế công chức, do cá nhân công chức thực hiện trong khi thi hành công
vụ trong hoạt động kế toán và do đó phải chịu trách nhiệm kỷ luật theo quyết định xử lý kỷ luật của người có thẩm quyền trong hoạt động quản lý công chức Ví dụ điển hình cho hình thức vi phạm này là trường hợp công chức
cơ quan Thuế, Hải quan vi phạm nội quy, quy chế của cơ quan hay các quy định của ngành về quyền, nghĩa vụ của công chức trong khi thi hành công
vụ Do có hành vi vi phạm này, công chức sẽ phải chịu trách nhiệm kỷ luật theo quyết định của người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về quản lý công chức
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm của xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán
1.1.2.1 Khái niệm xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán
Trong danh từ tiếng Việt, “xử lý” được giải nghĩa là việc xử trí và chỉnh lý [19, tr.1485], còn theo từ điển Hán Việt của Giáo sư Nguyễn Lân thì
“xử lý” được giải nghĩa là việc áp dụng các biện pháp trừng phạt đối với một hành vi phạm pháp [18, tr.857] Nếu quy nạp từ hai cách giải nghĩa này, từ góc độ pháp lý có thể định nghĩa “xử lý” chính là việc một chủ thể dùng lý trí
để phán xét một hành vi và áp dụng các biện pháp thích hợp để chỉnh lý đối với hành vi đó cho hợp với lẽ phải hay lẽ công bằng
Trong lĩnh vực luật học, khái niệm “xử lý” thường được nhắc đến
Trang 2518
trong cụm từ “xử lý vi phạm pháp luật” – với tính chất là một khái niệm pháp lý và trên thực tế khái niệm này đã gây ra khá nhiều tranh luận trong giới luật học Sự tranh luận này chủ yếu xoay quanh các vấn đề cơ bản như: chủ thể xử lý vi phạm pháp luật là ai (chỉ là Nhà nước hay còn bao gồm cả các chủ thể khác không phải là Nhà nước); khách thể của hành vi xử lý vi phạm pháp luật là lợi ích nào (lợi ích công hay lợi ích tư); đối tượng tác động của việc xử lý vi phạm pháp luật là hành vi phạm pháp hay chính bản thân người phạm pháp; các biện pháp xử lý vi phạm pháp luật có thể áp dụng đối với người vi phạm là biện pháp cưỡng chế hành chính hay cưỡng chế tư pháp Việc áp dụng đúng đắn các biện pháp xử lý vi phạm không những đảm bảo sự tuân thủ pháp luật kế toán mà còn tác động đến các luật
có liên quan khác như luật thuế, luật chứng khoán…
Xuất phát từ khái niệm xử phạt vi phạm hành chính là việc người có
thẩm quyền xử phạt áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính Và luật cũng quy định ba nhóm biện pháp có thể được áp dụng đối với vi phạm hành chính gồm các hình thức
xử phạt hành chính, các biện pháp khắc phục hậu quả, các biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính và đảm bảo việc xử phạt vi phạm hành chính Mặt
khác, về khái niệm xử lý vi phạm hình sự trong lĩnh vực kế toán mặc dù chưa
được định nghĩa cụ thể nhưng bộ luật hình sự cũng đã nêu ra các tội danh liên quan đến lĩnh vực kế toán trong chương tội phạm kinh tế, ví dụ như tội trốn thuế, theo đó, khi người nộp thuế có hành vi vi phạm nghiêm trọng tới mức truy cứu trách nhiệm hình sự với tội trốn thuế thì sẽ bị xử phạt với hình thức
xử phạt chính là phạt tiền hoặc phạt tù
Như vậy, có thể kết luận xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán là việc
Trang 2619
các cơ quan Nhà nước, người có thẩm quyền áp dụng các biện pháp xử lý (xử
lý hành chính, xử lý hình sự, chế tài dân sự, chế tài kỷ luật) đối với những cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật kế toán, nhằm mục đích trừng phạt đối với người vi phạm và tìm cách khắc phục các hậu quả thiệt hại cho
xã hội do hành vi phạm pháp của người đó gây ra
1.1.2.2 Đặc điểm của xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán
Trong thực tiễn pháp lý, vấn đề xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán được biết đến là việc Nhà nước áp dụng các biện pháp xử lý đối với người có hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực kế toán, nhằm mục đích trừng phạt đối với người vi phạm và tìm cách khắc phục hậu quả thiệt hại cho xã hội do hành vi phạm pháp của chủ thể vi phạm Như vậy, từ khái niệm xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán, ta có thể đề cập đến bốn đặc điểm sau đây:
Thứ hai, hoạt động xử lý vi phạm chủ yếu do các cơ quan quản lý nhà
nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, vi phạm hình sự, vi phạm dân sự, vi phạm kỷ luật, trong đó vi phạm hành chính và vi phạm hình sự là chủ yếu và được áp dụng theo một trình tự thủ tục chặt chẽ và thống nhất
Thứ ba, hoạt động xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán không chỉ
nhằm đảm bảo thực hiện các quy định của pháp luật kế toán mà còn đảm bảo thực hiện các quy định của các ngành luật khác có liên quan như luật thuế, luật chứng khoán, luật đầu tư, luật doanh nghiệp…
Thứ tư, giữa cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền thực hiện xử lý vi
Trang 2720
phạm trong lĩnh vực kế toán và chủ thể bị áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm này không có quan hệ trực thuộc Đây là đặc điểm quan trọng phân biệt việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính, xử lý hình sự so với biện pháp cưỡng chế kỷ luật và do vậy, hai biện pháp xử lý này được áp dụng phổ biến trong xử lý vi phạm kế toán của doanh nghiệp
1.2 Những vấn đề lý luận pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán
1.2.1.1 Khái niệm pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán
Việc thiết lập một hệ thống quy phạm về xử lý vi phạm trong lĩnh vực
kế toán là xu hướng tất yếu của các quốc gia trên thế giới bởi làm được tốt điều này không những phát huy vai trò tích cực của kế toán trong quản lý kinh
tế, mà còn đảm bảo xử lý nghiêm minh các vi phạm diễn ra ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của các chủ thể kinh tế và đặc biệt là góp phần đấu tranh, phòng chống các hành vi trốn thuế, tham nhũng… gây thất thoát ngân sách nhà nước Một hệ thống pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán được thiết lập vừa có tác dụng điều chỉnh hoạt động kế toán hiệu quả theo đúng quỹ đạo, vừa tạo ra nền tảng cho các thông lệ kế toán thống nhất đảm bảo hiệu lực pháp lý cùng độ tin cậy cho thông tin kế toán và bảo vệ được lợi ích của các chủ thể sử dụng thông tin kế toán Mặt khác pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán góp phần bảo đảm cho kế toán trở thành công cụ quản lý, giám sát chặt chẽ, có hiệu quả mọi hoạt động kinh tế, tài chính đáp ứng yêu cầu tổ chức, quản lý điều hành của cơ quan nhà nước, doanh nghiệp,
tổ chức và cá nhân
Trong những năm vừa qua, cùng với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thị trường kèm theo sự gia tăng của các loại hình doanh nghiệp trong
Trang 2821
và ngoài nước thì tình trạng vi phạm trong lĩnh vực kế toán cũng ngày càng diễn ra phổ biến và đa dạng về hình thức biểu hiện, gây ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của nền kinh tế nói chung và ảnh hưởng nghiêm trọng đến hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực kế toán cũng như trong công tác quản lý thuế nói riêng Trước thực trạng các vi phạm trong lĩnh vực kế toán diễn ra hết sức tinh vi, phức tạp như vậy, Nhà nước ta đã dần hoàn thiện hệ thống pháp luật
về xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán đáp ứng những yêu cầu cấp thiết hiện nay Từ khi kế toán được sử dụng rộng rãi và trở thành một công cụ phản ánh, giám sát hiệu quả các hoạt động kinh tế cùng với việc sử dụng vốn của nhà nước thì vấn đề xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán đã được đặt ra Văn bản đầu tiên có điều khoản chính thức quy định về xử lý vi phạm trong lĩnh vực
kế toán là Pháp lệnh kế toán và thống kê, cụ thể là “Người nào vi phạm chế độ
kế toán và thống kê thì bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính theo quy định của Hội đồng bộ trưởng hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của
Bộ luật hình sự” Tuy nhiên, việc quy định các vi phạm cũng như biện pháp
xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán được quy định rải rác trong nhiều văn bản khác nhau mà chưa thành hệ thống, chưa có tính tổng thể, toàn diện Đây
là điều tất yếu dẫn đến việc nhà nước phải ban hành hàng loạt các văn bản pháp luật bao gồm các nghị định, thông tư quy định và hướng dẫn cụ thể các biện pháp xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán Mặc dù trên thực tế, việc áp dụng các quy định này còn nhiều khó khăn, bất cập, nhưng cũng cho thấy Nhà nước đã ý thức được tầm quan trọng của việc hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán nói riêng và xử lý vi phạm pháp luật nói chung
Như vậy, có thể định nghĩa pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế
toán là một hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán (tức là việc cơ
quan nhà nước, người có thẩm quyền áp dụng những biện pháp xử lý như xử
Trang 2922
lý hành chính, xử lý hình sự, xử lý dân sự hay kỷ luật đối với những cá nhân,
tổ chức thực hiện hành vi vi phạm trong lĩnh vực kế toán nhằm đảm bảo trật
tự và kỷ cương trong quản lý kinh tế của nhà nước)
Qua khái niệm pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán nêu trên, có thể nhận thấy các chủ thể chịu sự điều chỉnh của pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán gồm các đơn vị kế toán như các cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức có sử dụng kinh phí ngân sách Nhà nước; đơn
vị sự nghiệp, tổ chức không sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước; doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế được thành lập và hoạt động tại Việt Nam; người làm công tác kế toán…
Xuất phát từ định nghĩa doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh, như vậy, dù doanh nghiệp thuộc loại hình nào (công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh hay doanh nghiệp tư nhân…), gắn với ngành nghề cụ thể nào thì kinh doanh sinh lời vẫn
là mục tiêu và cũng là hoạt động chủ đạo của doanh nghiệp Trong khi đó, kế toán là một trong những công cụ quản lý với chức năng chính là tổ chức hệ thống thông tin về tài sản, nguồn vốn, tình hình quản lý và sử dụng các loại tài sản, tiền vốn cũng như phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trên các loại báo cáo tài chính nhằm cung cấp những thông tin cần thiết phục vụ cho các đối tượng sử dụng trong và ngoài doanh nghiệp
So sánh với kế toán của đơn vị hành chính sự nghiệp, do tính chất, đặc điểm hoạt động của các đơn vị hành chính sự nghiệp rất đa dạng, phạm vi rộng và chủ yếu nguồn chi cho hoạt động của các đơn vị này được trang trải thông qua nguồn kinh phí cấp phát của Nhà nước Xuất phát từ đặc điểm nguồn kinh phí đảm bảo sự hoạt động theo chức năng của các đơn vị hành chính sự nghiệp và yêu cầu tăng cường quản lý kinh tế tài chính của bản thân
Trang 3023
đơn vị, cơ quan chủ thể mà các khoản chi tiêu cho đơn vị chủ yếu là chi cho tiêu dùng, vì vậy kế toán đơn vị hành chính sự nghiệp phải đảm bảo chấp hành chế độ quản lý tài chính nghiêm ngặt, do vậy các vi phạm kế toán trong đơn vị hành chính sự nghiệp khó có thể xảy ra hoặc có xảy ra nhưng không nhiều hoặc khó phát hiện do cơ chế đặc thù của đơn vị hành chính sự nghiệp
là có sự can thiệp của Nhà nước nên việc tiếp cận thông tin có phần bị hạn chế hơn so với các vi phạm trong lĩnh vực kế toán của doanh nghiệp
Vì vậy, việc tìm hiểu pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán của doanh nghiệp có ý nghĩa rất lớn xuất phát từ thực tiễn xử lý vi phạm kế toán của doanh nghiệp còn nhiều bất cập cần phải được hoàn thiện hơn, theo
đó, tìm hiểu pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán của doanh nghiệp chủ yếu là tìm hiểu các quy định pháp luật về vi phạm kế toán và xử lý
vi phạm kế toán phát sinh trong hoạt động kinh doanh của tổ chức kinh tế này Mặt khác, xuất phát từ bản chất của kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi nên các vi phạm trong lĩnh vực kế toán của doanh nghiệp rất đa dạng và phức tạp, gắn liền với nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khác nhau, được điều chỉnh bởi rất nhiều văn bản pháp luật khác nhau Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, luận văn tập trung nghiên cứu các biện pháp xử lý hành chính và
xử lý hình sự đối với các vi phạm về hóa đơn, vi phạm về báo cáo tài chính và
vi phạm về quản lý sổ kế toán của doanh nghiệp
1.2.1.2 Đặc điểm của pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán Thứ nhất, chủ thể có thẩm quyền áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm
trong lĩnh vực kế toán chỉ có thể là Nhà nước, với tư cách là chủ thể quản lý
xã hội bằng pháp luật, đồng thời là chủ thể có bổn phận giữ cho kỷ cương, phép nước được tôn trọng Nói như vậy có nghĩa rằng việc xử lý vi phạm
Trang 31sự, chế tài kỷ luật đối với vi phạm kỷ luật, xử lý hành chính đối với vi phạm hành chính và xử lý hình sự đối với vi phạm hình sự, trong số đó thì biện pháp xử lý hành chính và xử lý hình sự được xem là hai biện pháp chủ yếu được Nhà nước sử dụng để xử lý các vi phạm trong lĩnh vực kế toán
Thứ hai, pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán được thiết
lập nhằm hướng tới mục tiêu bảo vệ lợi ích chung hay trật tự công cộng bởi lẽ pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán được tạo ra là để làm khuôn khổ pháp lý an toàn và đầy đủ cho nền kinh tế, tài chính ở mỗi quốc gia, hơn thế nữa, nó còn là công cụ hữu hiệu nhất để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh tế khỏi bị ảnh hưởng bất lợi bởi những hành vi xâm hại của các chủ thể vi phạm
Thứ ba, việc xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán tạo ra các hậu quả
pháp lý bất lợi cho chủ thể thực hiện hành vi vi phạm về kế toán Các hậu quả pháp lý bất lợi này có thể ảnh hưởng ở nhiều mức độ khác nhau đối với quyền
và lợi ích cơ bản của người vi phạm (bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản), tuỳ theo tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm pháp luật kế toán
1.2.2 Chủ thể xử lý vi phạm và chủ thể bị xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán
* Chủ thể xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán
Trên thực tế các vi phạm trong lĩnh vực kế toán thường bị xử lý hành
Trang 3225
chính nhiều hơn là xử lý hình sự do hậu quả của hành vi vi phạm phần lớn là ảnh hưởng đến tình hình tài chính của các đơn vị kinh tế hay ảnh hưởng đến lợi ích của các nhóm chủ thể có liên quan như nhà đầu tư, cổ đông… và chỉ khi hành vi vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng, tái phạm nhiều lần hoặc có tính chất chuyên nghiệp, vi phạm với số lượng lớn, có đủ yếu tố cấu thành tội phạm liên quan đến lĩnh vực kế toán như tội trốn thuế, tội phạm về hóa đơn, chứng từ… thì sẽ bị xử lý hình sự
Theo quy định của pháp luật hiện hành thì chủ thể có thẩm quyền xử lý
vi phạm hành chính và xử lý tội phạm là khác nhau, thể hiện ở chỗ việc xử lý người phạm tội được giao cho cơ quan duy nhất là Tòa án, còn việc xử lý đối tượng vi phạm hành chính được giao cho rất nhiều cơ quan và người có thẩm quyền, trong đó chủ yếu là cơ quan quản lý hành chính nhà nước Việc xử phạt vi phạm hành chính của Tòa án chỉ được áp dụng trong phạm vi rất hẹp
Nhà nước trao thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
kế toán cho Thanh tra tài chính và Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện hình phạt cảnh cáo, phạt tiền, áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán ở mức độ nhỏ, vi phạm lần đầu hoặc có nhiều tình tiết giảm nhẹ Ngoài ra, Chánh thanh tra Sở Tài chính, Chánh thanh tra Bộ Tài chính, Chủ tịch UBND huyện, chủ tịch UBND tỉnh có thẩm quyền áp dụng hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định của pháp luật Công chức, viên chức, sĩ quan công an nhân dân, sĩ quan quân đội nhân dân được cơ quan giao nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra việc tổ chức thực hiện công tác kế toán, hoạt động nghề nghiệp kế toán của đơn vị kinh doanh theo luật định
* Chủ thể bị xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán
Chủ thể bị xử lý vi phạm hành chính là cá nhân, tổ chức vi phạm quy
Trang 3326
định của pháp luật trong lĩnh vực kế toán nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự Chủ thể là cá nhân vi phạm bao gồm người làm kế toán, người hành nghề kế toán, người khác có liên quan đến kế toán thuộc lĩnh vực kế toán nhà nước hoặc thuộc hoạt động kinh doanh Chủ thể là cơ quan, tổ chức bao gồm cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức có sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước và đơn vị sự nghiệp, tổ chức không sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước; các tổ chức hoạt động kinh doanh
Chủ thể thực hiện tội phạm bị xử lý hình sự theo quy định của pháp luật hình sự thì chỉ có thể là cá nhân, cụ thể trong lĩnh vực kế toán gồm người làm công tác kế toán như kế toán trưởng, thủ quỹ, kế toán viên…hay người quản
lý công ty như giám đốc công ty Pháp luật hình sự đang hoàn thiện các quy định về trách nhiệm hình sự của nhóm chủ thể là pháp nhân thương mại, đây
là một bước tiến quan trọng có ý nghĩa to lớn trong công cuộc đấu tranh và phòng chống tội phạm trong lĩnh vực kế toán nói riêng và tội phạm nói chung của nhà nước ta
1.2.3 Các biện pháp xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán
* Xử lý hành chính
Về mặt lý luận, biện pháp xử lý hành chính là hậu quả của hành vi VPPL hành chính và được thể hiện trong việc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền áp dụng đối với người vi phạm một hoặc nhiều chế tài xử lý của Nhà nước do pháp luật hành chính quy định
Trên nguyên tắc, biện pháp xử lý hành chính chỉ được áp dụng cho các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán Biện pháp xử lý này có thể tước đi một số quyền lợi về kinh tế như phạt tiền hoặc quyền lợi về tinh thần như cảnh cáo đối với người vi phạm, nhằm khôi phục các hậu quả xảy ra
và răn đe, giáo dục ý thức pháp luật đối với người vi phạm pháp luật về kế toán Biện pháp xử lý hành chính trong lĩnh vực kế toán được áp dụng bởi cơ
Trang 3427
quan hành chính hoặc nhân viên hành chính có thẩm quyền đối với người vi phạm mà bằng chứng của việc áp dụng chế tài này là quyết định xử phạt vi phạm hành chính Quyết định này đặt người vi phạm vào tình trạng bất lợi về kinh tế (nếu hình thức xử phạt hành chính là phạt tiền) hoặc bất lợi về tinh thần (nếu hình thức xử phạt hành chính là cảnh cáo); hoặc bị buộc phải chấp hành các hình thức xử phạt bổ sung như tước quyền sử dụng giấy phép; tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm và thậm chí có thể bị buộc phải thực hiện một số biện pháp khắc phục hậu quả thiệt hại do hành vi vi phạm gây ra Việc xử phạt vi phạm hành chính áp dụng đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức trong nước và nước ngoài hoạt động tại Việt Nam có hành vi cố
ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về kế toán mà không phải là tội phạm thì bị xử phạt vi phạm hành chính
* Xử lý hình sự
Biện pháp xử lý hình sự là trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất và đây là hậu quả của việc thực hiện tội phạm được thể hiện trong việc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền áp dụng đối với chủ thể phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do pháp luật quy định Trong quá trình áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán, nếu hành vi vi phạm
đủ yếu tố cấu thành tội phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự thì chủ thể
vi phạm sẽ phải gánh chịu các biện pháp xử lý hình sự Về mặt lý luận, biện pháp xử lý hình sự là trách nhiệm pháp lý mà Nhà nước áp dụng đối với người có hành vi vi phạm pháp luật hình sự Những hành vi này đều có đặc điểm chung là do người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến lĩnh vực kế toán thực hiện một cách cố hoặc vô ý nhằm xâm hại đến các lợi ích phát sinh trong quan hệ về kế toán được pháp luật hình sự bảo vệ
Trên nguyên tắc, mọi hành vi vi phạm hành chính về kế toán, nếu có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất cao, đến mức không thể dừng
Trang 3528
lại ở việc xử lý hành chính thì cơ quan có thẩm quyền (tòa án) có thể xem xét để xử lý bằng biện pháp hình sự nhằm trừng phạt thỏa đáng đối với chủ thể vi phạm và răn đe, phòng ngừa các hành vi vi phạm mới Trong thực tiễn, các hành vi vi phạm trong lĩnh vực kế toán bị coi là tội phạm thường xảy ra khá đa dạng và phức tạp, dưới nhiều hình thức khác nhau và có thể được thực hiện bởi những người làm công tác kế toán như kế toán trưởng, thủ quỹ…hay những người làm công tác kiểm toán của công ty kiểm toán hay người có thẩm quyền thanh tra, kiểm tra hoạt động kế toán doanh nghiệp như thanh tra thuế…
Ở nhiều nước trên thế giới, hành vi phạm tội trong lĩnh vực kế toán có thể do một tổ chức hoặc cá nhân thực hiện và do đó cả hai loại chủ thể này đều có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự và bị áp dụng chế tài hình sự Tuy nhiên, ở Việt Nam các chế tài hình sự chỉ được đặt ra đối với cá nhân vi phạm pháp luật hình sự, mặc dù trên thực tế các hành vi trái pháp luật hình sự không chỉ do cá nhân thực hiện mà còn do cả tổ chức thực hiện Sự vắng bóng các quy định về truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân trong pháp luật hình sự Việt Nam có thể xem là một bất cập cần phải được hoàn thiện bằng việc bổ sung những quy định này trong chế định trách nhiệm hình sự của pháp luật Việt Nam hiện tại Điều này không những nâng cao mức độ hoàn thiện cho pháp luật hình sự Việt Nam mà còn đảm bảo tính tương thích cần thiết với pháp luật hình sự của các nước khác ở trong và ngoài khu vực, khi
mà Việt Nam đã chính thức tham gia vào quá trình hội nhập toàn cầu về mọi phương diện, trong đó bao gồm cả sự hội nhập về phương diện pháp luật
Các tội danh thường được biết đến trong thực tiễn tư pháp ở nước ta có liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật về kế toán như tội trốn thuế; tội in, phát hành, mua bán trái phép hoá đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước; tội vi phạm quy định về bảo quản, quản lý hoá đơn, chứng từ thu nộp ngân
Trang 3629
sách nhà nước; tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu sự thật trong hoạt động chứng khoán; tội sử dụng thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán; tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản…
* Các biện pháp xử lý khác
+ Chế tài dân sự
Về mặt lý luận, chế tài dân sự chỉ áp dụng khi có hành vi vi phạm, có thiệt hại thực tế và hành vi vi phạm này là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại cho các chủ thể tham gia quan hệ kế toán Quyền tài sản và lợi ích kinh tế của tất
cả các chủ thể tham gia vào hoạt động kế toán đều được pháp luật ghi nhận, tôn trọng và bảo vệ như nhau, mọi hành vi gây thiệt hại của chủ thể này cho chủ thể khác trong quá trình thực hiện các quyền, nghĩa vụ khi tham gia hoạt động kế toán đều phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bên bị thiệt hại
+ Chế tài kỷ luật
So với các loại chế tài khác như chế tài hành chính hay chế tài hình sự thì chế tài kỷ luật có phạm vi áp dụng khá hẹp, vì đối tượng áp dụng chế tài này chỉ là công chức, viên chức nhà nước vi phạm kỷ luật công tác Mặt khác, chế tài kỷ luật cũng có mức độ hiệu lực tương đối hạn chế, bởi lẽ người có thẩm quyền áp dụng chế tài kỷ luật chỉ có thể là người đứng đầu cơ quan, tổ chức đang trực tiếp quản lý công chức, viên chức có hành vi vi phạm kỷ luật Do tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của vi phạm kỷ luật chỉ ở mức độ thấp (chủ yếu là vi phạm chế độ công vụ của công chức, viên chức) và có phạm vi hẹp (trong khuôn khổ một cơ quan, đơn vị hay tổ chức, đoàn thể) nên loại chế tài này chủ yếu nhằm hạn chế và tước bỏ một số quyền lợi của người vi phạm mà hầu hết những quyền lợi này đều gắn với chức vụ và công vụ của người vi phạm như khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, hạ ngạch, cách chức, buộc thôi việc
Có thể nói, trên nguyên tắc mọi vi phạm trong lĩnh vực kế toán phải bị
Trang 3730
xử lý Tuy nhiên, do mỗi hành vi vi phạm có bản chất pháp lý khác nhau hoặc
có tính chất, mức độ khác nhau nên biện pháp xử lý áp dụng đối với các hành
vi vi phạm đó cũng khác nhau nhằm đảm bảo tính hợp lý, công bằng trong việc xử lý vi phạm pháp luật Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả sẽ tập trung nghiên cứu về biện pháp xử lý hành chính và xử lý hình sự trong xử
lý vi phạm pháp luật kế toán của doanh nghiệp
1.2.4 Thủ tục xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán
Thủ tục xử lý đối tượng vi phạm hành chính và tội phạm là hoàn toàn khác nhau Người phạm tội bị truy tố trước Tòa án theo thủ tục tố tụng tư pháp, có sự tham gia của bên bào chữa nhằm bảo đảm đến mức cao nhất quyền của công dân chỉ bị kết tội bởi bản án hình sự khi có các chứng cứ đầy đủ, rõ ràng và sau những thủ tục tranh tụng công khai và bình đẳng Còn thủ tục xử phạt vi phạm hành chính phần nhiều mang tính quyền lực đơn phương từ phía cơ quan hành chính nhà nước, dù pháp luật có quy định quyền khiếu nại, tố cáo của đối tượng bị xử lý vi phạm hành chính Điều này xuất phát từ đặc điểm của các biện pháp xử lý vi phạm hành chính có mức
độ nhẹ hơn nhiều so với biện pháp xử lý vi phạm hình sự, xử lý hành chính chủ yếu đánh vào yếu tố vật chất, tinh thần của người vi phạm (cảnh cáo, phạt tiền…), trong khi đó, xử lý hình sự phần nhiều bao gồm những hình phạt liên quan đến tước quyền tự do của người phạm tội Trong thủ tục xử lý
vi phạm hành chính, phụ thuộc vào mức độ nguy hiểm và hậu quả thiệt hại
do hành vi vi phạm gây ra cho các chủ thể kinh tế thì đối tượng vi phạm sẽ
bị xử lý bằng thủ tục thông thường hoặc thủ tục đơn giản theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính
Trang 3831
Kết luận chương 1
Pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán có vị trí quan trọng trong công tác quản lý của mọi tổ chức, hoạt động xã hội nói chung và các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế nói riêng, vì vậy, hoạt động đấu tranh phòng chống các vi phạm pháp luật kế toán luôn là nhiệm vụ trọng yếu của nước ta Trong bối cảnh hiện nay, hệ thống pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn, còn tồn tại nhiều bất cập như chế tài xử lý vi phạm quá nhẹ, không bao quát mọi hành vi vi phạm, các quy định của luật còn nhiều lỗ hổng, không rõ ràng, chồng chéo… dẫn đến tình trạng doanh nghiệp vi phạm ngày càng nhiều với thủ đoạn tinh vi hơn Điển hình là các vi phạm về quản lý hóa đơn, lập báo cáo tài chính, quản
lý sổ kế toán nhằm gian lận thuế gây thất thoát ngân sách Nhà nước hàng nghìn tỷ đồng, đồng thời làm mất niềm tin của nhà đầu tư vào doanh nghiệp nhưng chế tài xử lý lại quá nhẹ… thực trạng này sẽ được tác giả nghiên cứu trong chương 2
Trang 3932
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM
TRONG LĨNH VỰC KẾ TOÁN Ở VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN XỬ LÝ VI PHẠM KẾ TOÁN CỦA DOANH NGHIỆP
2.1 Thực trạng quy định về xử lý vi phạm hóa đơn và thực tiễn xử
lý vi phạm về hóa đơn của doanh nghiệp
2.1.1 Thực trạng quy định về xử lý vi phạm hóa đơn
2.1.1.1 Thực trạng quy định về hóa đơn
Hóa đơn là chứng từ thương mại thể hiện quan hệ mua bán, trao đổi giữa các chủ thể trong một nền kinh tế Một số nhà nước khi áp dụng chế độ kế toán cho các hoạt động kinh doanh của các thực thể thường dựa vào hóa đơn để làm chứng từ gốc trong kế toán, nên trong trường hợp này hóa đơn còn có vai trò là một chứng từ kế toán Một số nhà nước khi áp dụng chế độ thuế khóa, để xác định doanh thu hay thu nhập tính thuế thường căn cứ vào hóa đơn để xác định, trong trường hợp này hóa đơn có vai trò là một chứng từ thuế
Hoá đơn là một bộ phận ấn chỉ thuế được in theo chỉ định tại các Luật thuế và các văn bản pháp luật khác dùng để quản lý thu thuế cho NSNN được
sử dụng để mua bán hàng hóa – dịch vụ, là chứng từ để đảm bảo chất lượng hàng hóa – dịch vụ và bảo hành hàng hóa
Đối với mối quan hệ giữa cơ quan thuế và doanh nghiệp thì hoá đơn là chứng từ cơ sở ban đầu dùng để kê khai nộp thuế, khấu trừ, hạch toán chi phí thực tế phát sinh, hoàn thuế và xác định chi phí hợp lý khi tính thuế, nhất là các loại thuế trực thu, đảm bảo tính chính xác và chống thất thoát tiền Ngân sách Nhà nước
* Đặc điểm của hóa đơn
- Hóa đơn được lập trên cơ sở các giao dịch phát sinh trong hoạt động
Trang 4033
mua bán hàng hóa giữa bên mua và bên bán Theo đó hóa đơn phải chứa đựng các thông tin về loại hóa đơn, số hóa đơn để có thể chứng nhận là hóa đơn được in, phát hành một cách hợp pháp; ngày lập hóa đơn; chữ ký người mua
để chứng minh hóa đơn được lập một cách hợp pháp, theo đúng quy định của pháp luật, mặt khác, hóa đơn phải có đầy đủ thông tin về người bán, thông tin
về hàng hóa, dịch vụ bán hoặc cung ứng; thông tin về người mua
- Hóa đơn phải tuân theo quy định của pháp luật về hình thức, nội dung của hóa đơn và quy định về chế độ in ấn, phát hành, mua bán, quản lý, sử dụng, kiểm tra, quyết toán hóa đơn; tùy từng loại quan hệ giao dịch giữa các chủ thể, nhà nước có những quy định phù hợp mang tính chất bắt buộc hay mang tính hướng dẫn
* Hóa đơn hợp pháp, hợp lệ, hợp lý và hóa đơn bất hợp pháp
Hóa đơn hợp pháp là hóa đơn đảm bảo đúng, đầy đủ về hình thức và nội dung theo quy định của pháp luật về hoá đơn Các loại hóa đơn đều phải được lập theo mẫu ban hành kèm theo Thông tư 119/2014/TT-BTC về hóa đơn bán hàng, hóa đơn giá trị gia tăng, các loại hóa đơn khác…Về hình thức hóa đơn phải tuân theo quy định của hóa đơn tự in, hóa đơn điện tử và hóa đơn đặt in Hóa đơn hợp pháp phải do Bộ Tài chính phát hành hoặc hóa đơn do doanh nghiệp tự tạo theo quy định của Chính phủ và Bộ Tài chính về in ấn, phát hành, quản lý và sử dụng hóa đơn Hóa đơn hợp pháp đã được doanh nghiệp làm thủ tục thông báo phát hành hóa đơn theo đúng quy định về phát hành hóa đơn, nếu chưa thông báo phát hành mà đã sử dụng hóa đơn thì đó là hóa đơn bất hợp pháp
Hóa đơn hợp lệ phải phù hợp với các thông lệ, tức là phải đảm bảo đầy
đủ nội dung các chỉ tiêu và yêu cầu ghi trên hóa đơn như: ngày tháng năm lập hóa đơn, họ tên người mua, địa chỉ công ty mua bán, mã số thuế, hình thức thanh toán; tổng tiền thanh toán; phải có chữ ký người mua, người bán, chữ