Theo Đông y, Linh chi có tác dụng kiện não, bảo an, cường tâm, giải độc… Theo Tây y, từ Linh chi người ta cũng đã bào chế được thuốc chữa nhiều bệnh, đáng quan tâm như bệnh tiểu đường,
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong đồ án này hoàn toàn trung thực, chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các thông tin, tài liệu trích dẫn trong đồ án này đều được ghi rõ nguồn gốc
Tp Hồ Chí Minh, tháng 8 năm 2016
Sinh viên thực hiện
Vũ Trường Giang
Trang 2bạn đã giúp tôi hoàn thành tốt đồ án này Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất của mình đến:
Ban giám hiệu Trường Đại học Công nghệ Tp Hồ Chí Minh – HUTECH đã tạo
cơ hội cho tôi được học tập tại trường
Cảm ơn quý thầy cô trong khoa Công nghệ sinh học – Thực phẩm – Môi trường
đã truyền đạt lại những tri thức quý báu cho chúng tôi trong thời gian học tập tại trường
Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến TS Nguyễn Hoài Hương, người
đã tận tình trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo để tôi có thể hoàn thành đồ án tốt nghiệp này Cùng với đó, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, các anh chị và các bạn học đã có những động viên to lớn, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành chương trình học tại trường một cách tốt nhất
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện
Vũ Trường Giang
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC HÌNH ẢNH iii
DANH MỤC BẢNG v
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 1
2 Mục đích của đề tài 2
3 Mục tiêu của đề tài 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Kết quả thu được của đề tài 2
6 Hạn chế của đề tài 2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3
1.1 Tổng quan về nấm linh chi 3
1.1.1 Nguồn gốc và sự phân bố 3
1.1.2 Bào tử nấm Linh chi 9
1.2 Thành phần hóa học chủ yếu 12
1.2.1 Các polysaccharide và các peptidoglycan 14
1.2.2 Triterpenes 16
1.2.3 Saponin 22
1.2.4 Những thành phần khác 24
1.3 Sử dụng 25
1.3.1 Phòng ngừa ung thư 26
1.3.2 Tăng cường khả năng miễn dịch 26
1.3.3 Khả năng chống oxy hoá 27
1.3.4 Điều trị bệnh đái tháo đường 27
1.3.5 Tác dụng đối với các bệnh về tim mạch 28
CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP 29
2.1 Phương tiện nghiên cứu 29
2.1.1 Vật liệu 29
2.1.2 Nơi thực hiện 29
Trang 42.1.3 Thời gian thực hiện 29
2.2 Vật liệu thí nghiệm 29
2.2.1 Thiết bị và dụng cụ 29
2.2.2 Hóa chất 30
2.3 Phương pháp nghiên cứu 31
2.3.1 Phá vách bào tử nấm Linh chi bằng phương pháp lạnh đông kết hợp sử dụng C20032 10% và dịch tăng sinh nấm Trichoderma harzianum T2 32
2.3.2 Quy trình trích ly các hợp chất có trong bào tử nấm linh chi 34
2.3.3 Định tính một số hoạt chất có trong mẫu bào tử nấm linh chi 34
2.3.4 Định lượng một số hoạt chất có trong mẫu bào tử nấm linh chi 37
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN 41
3.1 Định tính các hợp chất sau khi trích ly 42
3.1.1 Bào tử 42
3.1.2 Dịch 47
3.2 Định lượng hoạt chất có trong mẫu bào tử nấm linh chi 53
3.2.1 Bào tử 53
3.2.2 Dịch 54
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 58
4.1 Kết luận 58
4.2 Kiến nghị 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
Trang 5DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1.1: Nấm linh chi đỏ (Ganoderma lucidum) (A) nấm mọc trong tự nhiên
(B) và nấm trồng (C) 4
Hình 1.2: a) Bào tử nấm linh chi dưới kính hiển vi được phóng to 3000 lần b) Bào tử nấm linh chi bị phá vỡ vách 10
Hình 1.3 Các kiểu hình bào tử đặc thù của họ nấm linh chi 11
Hình 1.4 Cấu trúc không gian của Polysaccharide trong nấm Linh chi 15
Hình 1.5: Công thức của một số triterpene trong nấm linh chi 17
Hình 1.6: Cấu trúc không gian của 29 loại triterpenoids trong bào tử nấm Linh chi (Bingji Ma et al (2011)) 19
Hình 1.7: Tên của 29 triterpenoids trong bào tử nấm Linh chi (Bingji Ma et al.(2011) Triterpenoids được cô lập từ bào tử của nấm Linh chi 20
Hình 2.1 Quy trình thí nghiệm 32
Hình 2.2 Quy trình phá vỡ vách bào tử nấm linh chi bằng phương pháp lạnh đông kết hợp enzyme nuôi cấy 34
Hình 3.1 Quy trình trích ly các hợp chất có trong bào tử nấm Linh chi 42
Phần bào tử Hình 3.1 Phản ứng định tính Alkaloid bằng thuốc thử Mayer 43
Hình 3.2 Phản ứng định tính Alkaloid bằng thuốc thử Dragendorff 44
Hình 3.3 Thử nghiệm tính tạo bọt 45
Hình 3.5 Phản ứng Liebermann – Burchard 46
Hình 3.6 Thử nghiệm phản ứng với thuốc thử Molish 47
Phần dịch trích ly Hình 3.7 Phản ứng định tính Alkaloid bằng thuốc thử Mayer 48
Hình 3.8 Phản ứng định tính Alkaloid bằng thuốc thử Dragendorff 49
Hình 3.9 Thử nghiệm tính tạo bọt 50
Hình 3.10 Thử nghiệm Fontan –Kaudel 51
Trang 6Hình 3.11 Phản ứng Liebermann – Burchard 52 Hình 3.12 Thử nghiệm phản ứng với thuốc thử Molish 53 Hình 3.14 Đường hồi quy tuyến tính biểu diễn sự phụ thuộc của mật độ quang
vào nồng độ D-glucose 55
Hình 4.1 Quy trình tổng kết 61
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Đặc điểm của một số loại nấm linh chi ở Đài Loan 7
Bảng 1.2 Thành phần dược tính của nấm Linh chi 12
Bảng 1.3 Cấu trúc không gian của một số nhóm chất saponin 24
Bảng 3.1 Bảng kết quả thí nghiệm 57
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, dược liệu thiên nhiên ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc phòng bệnh, chữa bệnh và nâng cao sức khỏe Từ lâu nấm Linh chi đã
là thảo dược quý hiếm, được xem như một loại “Thần dược” Theo Đông y, Linh chi có tác dụng kiện não, bảo an, cường tâm, giải độc… Theo Tây y, từ Linh chi người ta cũng đã bào chế được thuốc chữa nhiều bệnh, đáng quan tâm như bệnh tiểu đường, viêm gan, ung thư…
Trong những năm vừa qua, các phương pháp phân tích hiện đại đã cho phép xác định lượng lớn các hợp chất hóa học có trong quả thể, tơ và bào tử nấm Linh chi như: triterpenoid, steroid, polysaccharide, saponin, chất khoáng, amino acid… trong đó polysaccharide, triterpenoid được xem là thành phần chính mang nhiều hoạt tính sinh học của nấm Tuy các hoạt chất sinh học đã được tìm ra nhưng việc phân tích, chiết xuất các hoạt chất sinh học này chủ yếu được thực hiện trên quả thể và tơ nấm Linh chi, có rất ít nghiên cứu về việc thực hiện trên bào tử nấm Linh chi bởi bào tử nấm Linh chi được cấu tạo bởi lớp vách đôi rất bền vững, làm giảm khả năng chiết xuất các chất Vì vậy việc phá vỡ vách bào tử nấm Linh chi và xác định sự hiện diện của các hợp chất hóa học có trong bào tử nấm Linh chi là giai đoạn quan trọng
Để đóng góp một phần nhỏ của mình vào việc nghiên cứu xác định các hoạt chất
có trong bào tử nấm linh chi, tôi đã có những nghiên cứu sơ bộ được thực hiện trong đồ
án tốt nghiệp: “Khảo sát sơ bộ các thành phần có trong bào tử nấm Linh chi phá vỡ
Trang 9một số phòng thí nghiệm ở Hoa Kỳ và vùng Đông Nam Á cũng bắt đầu tham gia vào tiến trình này
Năm 1988, Nhật Bản đã điều trị thành công bệnh nhược cơ bằng Linh chi theo nguyên tắc điều hoà miễn dịch Bệnh viện Sơn Đông, Trung Quốc dùng “xúp” Linh chi
để giải độc và bổ gan có kết quả tốt, trong 70.000 ca trên 90% khỏi bệnh (Lui Xing Jia, 1994) Tác giả cho rằng nấm Linh chi có tác dụng tốt đối với đường tiết niệu, điều hoà rối loạn tuần hoàn não, tránh các cơn kịch phát nghẽn mạch và làm dịu thần kinh,
Năm 2010, Chaiyavat Chaiyasut*, Chakkrapong Kruatama and Sasithorn Sirilun
đã công bố công trình nghiên cứu phá vách bào tử nấm Linh chi bằng quá trình lên men
vi khuẩn Lactobacillus plantarum và bào tử nấm Linh chi
2 Mục đích của đề tài
Trích ly các hợp chất bên trong bào tử nấm linh chi
Xác định được sự hiện diện của các hợp chất có trong bào tử nấm linh chi khi đã
bị phá vách
3 Mục tiêu của đề tài
Định tính và định lượng các hoạt chất có trong dịch trích ly bào từ nấm linh chi được phá vỡ bằng enzyme
4 Phương pháp nghiên cứu
Tổng quan tài liệu và tiến hành thực nghiệm
5 Kết quả thu được của đề tài
Định tính được alkaloid, saponin, triterpenoid, polysaccharide có trong bào tử nấm linh chi sau phá vỡ
Định lượng polysaccharide, tổng chất béo có trong bào tử nấm linh chi sau phá
vỡ
6 Hạn chế của đề tài
Nghiên cứu được tiến hành sơ bộ, chưa định lượng chính xác được toàn bộ các thành phần hoạt chất có trong dịch trích ly bào tử nấm linh chi
Trang 10CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1 Tổng quan về nấm linh chi
1.1.1 Nguồn gốc và sự phân bố
Nấm linh chi (Ganoderma lucidum) là một loài nấm thường được tìm thấy ở các
nước Á Đông Từ xưa đến nay, ở Trung Quốc, Nhật Bản và một số nước châu Á khác
đã sử dụng nấm linh chi như một loại thảo dược để giúp tăng cường sức khỏe và kéo dài tuổi thọ của con người Đây là một loại nấm lớn, màu tối, vỏ ngoài nhẵn bóng và
nhìn giống như một khúc gỗ Trong tiếng Latin thì lucidus có nghĩa là «sáng bóng »
hay «rực rỡ » và điều này cũng tương thích với hình dáng bên ngoài của nấm linh chi Nấm được phân bố rộng rãi ở các nước Á Đông và thường mọc trên các thân cây khô
hoặc đã chết Những loại nấm linh chi được sử dụng rộng rãi trong y học gồm: G
lucidum, G luteum Steyaert, G atrum Zhao, Xu and Zhang, G tsugae Murrill, G applanatum (Pers.: Wallr.) Pat., G australe (Fr.) Pat., G capense (Lloyd) Teng, G tropicum (Jungh.) Bres., G tenue Zhao, Xu and Zhang, and G sinense Zhao, Xu and
Zhang
Ở mỗi nơi nấm linh chi được gọi bằng nhiều tên khác nhau như Reishi (Nhật Bản), Lingzhi (Trung Quốc), Yeongji (Hàn Quốc) và Ling-Chih (Đài Loan) Ngoài ra còn một số tên gọi khác như nấm vạn niên (Nhật bản) hay nấm trường sinh (Trung Quốc) Theo 2 cuốc sách rất nổi tiếng mô tả về các loại dược thảo của Trung Quốc,
“Shen Nong Ben Cao Jing” (25- 220 trước Công nguyên, thuộc triều đại Đông Hán) và
“Ben Cao Gang Mil” của Li Shi Zhen (1590 trước Công nguyên, thuộc triều đại nhà Minh), có 6 chủng nấm được biết đến tại thời điểm lúc bấy giờ Trong đó có hơn 250 loại nấm linh chi được đề cập Tuy nhiên, trong các văn bản cổ chỉ đề cập nhiều đến khả năng chữa bệnh của nấm linh chi đỏ
Trang 11Hình 1.1: Nấm linh chi đỏ (Ganoderma lucidum) (A)
nấm mọc trong tự nhiên (B) và nấm trồng (C)
Từ thời cổ xưa có rất nhiều nhà nghiên cứu (cả ở Trung Quốc và phương Tây) đã tìm hiểu về loại nấm này và họ cũng đã đưa ra rất nhiều hệ thống để phân loại nấm linh chi Những nhà nghiên cứu Trung Quốc cổ đại đã chia nấm linh chi thành rất nhiều loại khác nhau dựa vào quả thể cũng như hình dáng bên ngoài của nấm
Ở phương Tây, theo bảng phân loại của Alexopolus năm 1979, Lingzhi thuộc giống nấm linh chi và là thành viên của họ Myceteae, lớp Basidiomycetes chi Aphyllophorales và thuộc họ Polyporaceae Đầu năm 1881, Karsten, nhà thực vật học người Phần Lan, đã đưa ra đặc điểm phân loại của nấm linh chi dựa vào lớp biểu bì bên
Trang 12ngoài của nấm Kể từ đó nấm linh chi đỏ đã trở thành một đại diện tiêu biểu cho chủng loại nấm này Về sau, đặc điểm phân loại của nấm linh chi đã được thay đổi bởi một số nhà khoa học khác như Donk, Murrill, Furtano và Steyaert, … sau khi họ đã tìm ra những đặc tính khác của nấm linh chi như các bào tử của nấm linh chi có hình quả trứng, lớp ngoài của thành tế bào tương đối mỏng và trong suốt, ngược lại lớp trong của thành tế bào lại dày, màu vàng nâu và có nhiều nốt nhỏ Cũng từ đó, nấm linh chi không còn được phân loại dựa vào màu sắc hay hình dạng bên ngoài nữa
Ngày nay, theo phân loại nấm linh chi của Trung Quốc, nhà nghiên cứu Zhao Jiding, người đã dành gần 50 năm nghiên cứu về lĩnh vực này, đã chia nấm linh chi ra làm 6 loại:
Huo Ganoderma lucidum là đại diện chính cho loài nấm này Những đặc điểm của
nấm linh chi đỏ chính là nắp nấm có hình dạng giống như quả thận hoặc hình bán nguyệt, màu nâu đỏ Thân nấm có dạng giống như một thân cây, cùng màu hoặc đậm hơn so với nắp nấm
• Nấm linh chi tím: còn được biết đến với tên gọi là linh chi gỗ Đặc điểm của loại nấm này là nắp nấm có màu nâu hoặc nâu tím Quả thể có màu nâu, bào tử của chúng
lớn hơn nấm linh chi đỏ.Ganoderma sinense là đại diện của loài nấm này
Một cây nấm lớn có thể nặng khoảng 5 kg hoặc hơn, còn cây nấm non thì nặng khoảng
1,5 đến 2 kg Laetiporus sulphureus là đại diện của loài nấm này Khi tươi thì nấm này
sẽ chứa rất nhiều nước
tả thì đây là loại nấm không có chất béo, Fomitopsis officinalis là đại diện cho loài nấm
này Loại nấm này có quả thể màu trắng, hình dáng giống như một cái móng ngựa Một cây nấm lớn có thể nặng đến nhiều kilogram Loại nấm này thường mọc trên cây thông
và một số loại cây lá kim khác
Trang 13• Linh chi đen: còn được gọi là nấm linh chi xuân Loại nấm này thường mọc ở trong những thung lũng, nắp nấm bên ngoài có màu đen bên trong có màu đỏ, thường
mọc trên các thân cây, có vị mặn và đắng Amauroderma rugosum và Polyporus
melanopus là 2 đại diện chính của loài nấm này Cả cuống và nắp của 2 loại nấm này
đều có màu đen
nấm linh chi xanh có hình dáng giống như những sợi lông của chim bói cá Coriolus
versicolar là đại diện tiêu biểu cho loài nấm này Đặc điểm của loài này là mũ nấm
cứng và bề mặt được bao phủ bởi những sợi lông ngắn
Trong mỗi loài nấm linh chi lại được chia ra rất nhiều loại khác nhau Ví dụ như
nấm linh chi đỏ thì có Ganoderma lucidum và Ganoderma tsugae được biết đến nhiều nhất Đối với linh chi tím thì cóGanoderma neojaponicum và Ganoderma sinense Tuy
nhiên, trong lĩnh vực trồng trọt, y dược và nha khoa, người ta chỉ tập trung nghiên cứu
2 loại đó là linh chi đỏ và linh chi tím Bảng 1.1 dưới đây mô tả đặc điểm của một số loài nấm linh chi phổ biến ở Đài Loan
Trang 14Bảng 1.1: Đặc điểm của một số loại nấm linh chi ở Đài Loan
Độ
bóng
Kích thước (um)
Xám trắng đến xám nâu
Bán nguyệt
Không
có
7-10×
6.2
Gần giống hình tròn, hình quả thận
Có thể quan sát được
11.5-13
×7-8.5
Đầu nấm có dạng lồi trong suốt
Cây phong
Linh chi tím, linh chi đen, linh chi xuân
Nâu đỏ, nâu
Gần giống hình tròn, hình quả
Yếu
10.4 × 5.2-7
rộng
Linh chi đỏ không cuống
Trang 15Hình bán nguyệt, hình quả thận
Có thể quan sát được
11.2
Có thể quan sát được
12.5 × 7-8.5
10-Đầu nấm lồi trong suốt
Tre nứa
Linh chi tre
đỏ, linh chi tre tím, linh chi tím
Bán nguyệt, hình phễu
Yếu
11.5
8.5-× 6.9
đậu
Linh chi đỏ, linh chi đỏ ở chân đồi, cây keo linh chi
Có thể quan sát được
Trang 16Lingzhi G
microsporum
Hseu
có hoặc rất ngắn
đồng, đen
vỏ trứng
quan sát được
×
4.5-5
nấm nhô lên, trong suốt
xanh
Nấm Linh Chi là một loại nấm hóa mộc, cứng khi khô nhưng khi tiếp xúc với
nước trở nên hơi mềm Quả thể nấm linh chi gồm:
tầng, hình ống nếu cắt ngang có dạng tổ ong Ngoài thiên nhiên, nấm luôn có dạng bất đối xứng, tức là cuống nấm thường ở một bên như vị trí tay quạt Đối với nấm trồng,
mũ nấm tròn và gần như đối xứng, cuống nấm ở lệch giữa trung tâm do được trồng theo từng đơn vị, không có sự chèn ép và ảnh hưởng môi trường bên ngoài
tử sẽ nảy mầm cho ra khuẩn ty ăn luồn vào thân cây
• Chân nấm: bám vào đài vật như thân cây Chân nấm có thể dài cũng có thể ngắn, là bộ phận giúp nấm lấy chất dinh dưỡng
mới cho ra cuống nấm và mủ nấm lộ ra ngoài
Bên cạnh những lợi ích to lớn mà nấm linh chi đem đến cho sức khoẻ, cũng vì sự quý hiếm của nó mà ngày xưa nấm linh chi được xem như một sản phẩm rất quý và đắt tiền Mãi đến năm 1970, người ta mới bắt đầu trồng nấm linh chi và đến năm 1980 thì ngành trồng nấm linh chi đã phát triển rất nhanh chóng ở Trung Quốc
1.1.2 Bào tử nấm Linh chi
Cũng như các loài nấm khác, nấm Linh chi khi trưởng thành sẽ sản sinh ra bào tử, tức là hạt giống hữu ích cho đời sau Bào tử thường được mô tả có dạng trứng cụt Đôi khi có tác giả mô tả là dạng hình trứng có đầu chóp tròn – nhọn Thực ra đó là do chụp
Trang 17phủ lớp nảy mầm hoặc phồng căng, hoặc lõm thụt vào mà tạo thành Mỗi bào tử được bao phủ với hai lớp tường rất khó khăn gọi là sporoderm (FDA 1.8.1999), màu vàng mật ong sáng, chính giữa khối nội chất tụ lại một giọt hình cầu, dạng giọt dầu, kích thước bào tử rất nhỏ dao động ít nhiều khoảng từ 5-6 x 8,5 – 12 μm Vỏ bào tử khá dày, cỡ 0,7 – 1,2 μm, có cấu trúc phức tạp Bào tử nấm Linh chi có hai lớp vỏ rất cứng, khó nảy mầm Bào tử Linh chi có chứa các thành phần giống nấm Linh chi: Polysacharide, triterpenoid, acid béo, acid amin, vitamin, các nguyên tố vi lượng, với hàm lượng đậm đặc hơn Linh chi từ 7 – 20 lần (Nguyễn Thị Sáu, 2014)
Khi Linh chi phóng thích bào tử, nhìn xuyên qua ánh nắng sẽ thấy từng đợt bào tử bay qua như khói bám vào bề mặt nấm tạo thành một lớp bụi mỏng màu nâu đỏ rất mịn Tuy vậy số lượng bào tử linh chi rất ít Khi thu hoạch 1 tấn nấm Linh chi sẽ chỉ thu được 1 kg bào tử
Điều hết sức lý thú, mặc dù hình thái bên ngoài rất biến đổi, đa dạng, song về cấu tạo tinh vi của bào tử thì có độ ổn định rất cao, dù là chủng nuôi trồng ở Nhật, Trung Quốc, chủng nấm Lim Hà Bắc hay chủng Đà Lạt
Hình 1.2: a) Bào tử nấm linh chi dưới kính hiển vi được phóng to 3000 lần
b) Bào tử nấm linh chi bị phá vỡ vách
Trang 18Hình 1.3 Các kiểu hình bào tử đặc thù của họ nấm linh chi
1: Kiểu miệng rộng, gặp ở Ganoderma và Humphrey a (có mấu lồi đáy bào tử) 2: Kiểu miệng tiêu giảm, gặp ở Haddowia và Amauroderma (lưu ý kiểu bào tử xẻ múi ở Haddowia rất tương đồng với kiểu xẻ rãnh ở Ganoderma
Lớp vỏ trong mỏng hơn, sát ngay bên dưới tầng nền của lớp vỏ bào tử, thường cản quang mạnh do vậy thấy đậm màu dưới kính hiển vi quang học Cấu trúc của lớp
vỏ trong cho đến nay còn chưa được biết rõ Cần lưu ý rằng: khái niệm “gai chống nhọn” từ màng trong đâm sát màng ngoài của hầu hết các mô tả trước đây không chính xác Thực chất các gai hay chính các cột chống hầu như không nhọn, mà phình đầu
Trang 19thành các u lồi – và chính các u lồi này đội lớp màng phủ trong suốt ngoài cùng
(episporium, exosporium hay chính là tầng phủ tectum), tạo thành các kiến trúc gò hạt – mụn cóc – u nhú trên bề mặt vỏ bào tử Điều này Heim (1962), Hansen (1958),
Perreau (1973), Mims et al (1989) đã từng phân tích và thảo luận nhiều
Trang 20lượng của protein trong nấm linh chi khoảng 7- 8%, thấp hơn so với nhiều loại nấm khác (Chang et al (1996); Mau et al (2001)) Đặc biệt thành phần protein của nấm linh chi có rất nhiều các amino acid thiết yếu nhất là lysine và leucine Hàm lượng chất béo tổng thấp nhưng chứa nhiều acid béo không bão hòa nhiều nối đôi, đây là các hợp chất rất có lợi cho sức khỏe của con người (Chang et al (1996) ; Borchers et al (1999) ; Sanodiya et al (2009)) Ngoài ra trong nấm còn chứa các glycoprotein và các polysaccharide
Bên cạnh đó, nấm linh chi có chứa rất nhiều những phân tử có hoạt tính sinh học như các terpenoid, các steroid, các phenol, các nucleotide và những dẫn xuất của chúng Hoạt tính sinh học của nấm linh chi có được chủ yếu là do các polysaccharide, peptidoglycan và các triterpene mang lại (Boh et al (2007) ; Zhou et al (2007)) Về mặt định lượng, trong một thí nghiệm, Chan et al (2008) đã phân tích thành phần của
11 mẫu nấm linh chi thương mại (được mua tại Hồng Kông) và nhận thấy có sự khác biệt về hàm lượng các triterpene cũng như các polysaccharide giữa các mẫu, trong đó các triterpen dao động trong khoảng từ 0- 7,8% và các polysaccharide thay đổi từ 1,1- 5,8% Theo các tác giả này, có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt về hàm lượng của hai nhóm hoạt chất này, một trong những nguyên nhân chính là sự khác biệt về giống loài, ngoài ra điều kiện môi trường trong quá trình nấm phát triển cũng ảnh hưởng khá lớn đến thành phần hoạt chất của nấm
Địa điểm sinh trưởng của nấm linh chi cũng được xem là yếu tố ảnh hưởng đến hàm lượng của các hoạt chất sinh học có trong nấm linh chi Trong một nghiên cứu về hoạt tính sinh học của 11 mẫu sản phẩm nấm linh chi được trồng ở Nhật Bản, người ta nhận thấy sự chênh lệch về hàm lượng triterpenoid giữa các mẫu dao động trong khoảng từ 0- 7,8% và hàm lượng các polysaccharide dao động trong khoảng từ 1,1- 5,8% (Lu et al (2012)) Sự khác nhau về hàm lượng của các hoạt tính sinh học trong các sản phẩm thương mại cũng chịu ảnh hưởng bởi quá trình chế biến hoặc chiết xuất, qua đó cho thấy chiết xuất bằng nước sẽ cho hàm lượng triterpenoid ít hơn khi chiết
Trang 21xuất bằng ethanol (Lu et al (2012)) Bên cạnh đó, điều kiện sinh trưởng cũng ảnh hưởng đến hàm lượng của các hoạt chất sinh học có trong nấm linh chi (Lu et al (2012))
1.2.1 Các polysaccharide và các peptidoglycan
Hàm lượng carbonhydrate và hàm lượng chất xơ có trong nấm linh chi được xác định lần lượt từ 26- 28% và 59% (Mau et al (2001)) Nấm linh chi có chứa rất nhiều polysaccharide có khối lượng phân tử lớn, các hợp chất này mang hoạt tính sinh học và được tìm thấy ở tất cả các bộ phận của nấm linh chi Nhiều nhóm polysaccharide có thể được chiết xuất từ thân nấm, bào tử và khuẩn ty Các polysaccharide của nấm linh chi
có tác dụng sinh học như chống viêm, hạ đường huyết, chống loét, chống lại sự hình thành khối u và tăng cường khả năng miễn dịch (Miyazaki et al (1981); Hikino et al (1985); Tomoda et al (1986); Bao et al (2001); Wachtel-Galor et al (2004)) Người ta thường chiết xuất các polysaccharide trong nấm linh chi bằng nước nóng sau đó tiến hành kết tủa chúng bằng dung dịch ethanol hoặc methanol Đôi khi cũng có thể chiết xuất bằng nước và dung dịch kiềm Theo kết quả phân tích, thành phần chủ yếu trong polysaccharide của nấm linh chi (Ganoderma lucidum- polysaccharides: GL- PSs) là đường glucose (Bao et al (2001); Wang et al (2002)) Ngoài ra, GL- PSs cũng có cấu trúc polymer mạch thẳng, bao gồm: xylose, mannose, galactose và fucose với nhiều vị trí liên kết β hoặc α khác nhau như 1- 3, 1- 4 và 1- 6 với các dạng đồng phân - D hay L (Lee et al (1999); Bao et al (2002)) Khả năng chống lại sự hình thành khối u của GL- PSs phụ thuộc vào cấu hình mạch nhánh cũng như tính tan của polysaccharide này (Bao et al (2001); Zhang et al (2001)) Ngoài ra, nấm linh chi cũng có chứa một mạng lưới chitin, đây là thành phần mà cơ thể người không tiêu hóa được và đóng vai trò tạo nên độ cứng cho nấm linh chi (Upton et al (2000))
Có rất nhiều peptidoglycan có hoạt tính sinh học trong nấm linh chi đã được phân lập, bao gồm proteoglycan (GLPG) có tác dụng kháng virus (Li et al (2005)), tăng
Trang 22cường miễn dịch (Ji et al (2007)) và F3 là một glycoprotein trong cấu trúc có chứa fucose (Chien et al (2004))
Hình 1.4 Cấu trúc không gian của Polysaccharide trong nấm Linh chi
Trang 231.2.2 Triterpenes
Terpenoid là nhóm chất tự nhiên, có độ dài mạch carbon là một bội số của 5, ví dụ như menthol (monoterpene) và β- carotene (tetraterpene) Phần lớn các terpenoid thuộc nhóm alkene, một số có chứa những nhóm chức năng, đa phần các terpenoid có cấu trúc mạch vòng Những hợp chất này được tìm thấy trên rất nhiều loài thực vật Terpenoid có tác dụng chống viêm, chống lại sự hình thành các khối u và giúp giảm hàm lượng chất béo Terpenoid được tìm thấy trong các loại thực vật thuộc nhóm bạch
quả, ví dụ như hương thảo (Rosemarinus officinalis) và nhân sâm (Panax ginseng) có
tác dụng tăng cường sức khỏe (Mahato et al (1997); Mashour et al (1998); Haralampidis et al (2002))
Triterpene là một phân lớp của terpenoid và có độ dài mạch carbon là 30 Khối lượng phân tử khoảng từ 400 đến 600 kDa, triterpene có cấu trúc hóa học phức tạp và
có khả năng bị oxy hóa cao (Mahato et al (1997); Zhou et al (2007)) Nhiều loài cây
có khả năng tổng hợp triterpene trong quá trình sinh trưởng và phát triển Một số có chứa nhiều triterpene trong nhựa, qua đó giúp các cây này chống lại các loại bệnh Mặc dù có hàng trăm loại triterpene đã được phân lập từ rất nhiều loại thực vật khác nhau và phân nhóm này cũng đã cho thấy có rất nhiều tiềm năng nhưng hiện nay có rất ít những ứng dụng của triterpene được sử dụng trong thực tế
Trong nấm linh chi, cấu trúc hóa học của triterpene có dạng lanostane, đây là chất tham gia vào quá trình tổng hợp nên lanosterol, quá trình sinh tổng hợp giúp hình thành nên các squalene mạch vòng (Haralampidis et al (2002)) Trong quá trình chiết xuất triterpene, người ta thường sử dụng các dung môi hữu cơ như methanol, ethanol, acetone, chloroform, ether hoặc là hỗn hợp của chúng Dịch chiết sau đó sẽ được phân tách bằng nhiều phương pháp khác nhau, có thể dùng HPLC thông thường hoặc HPLC pha nghịch đảo (Chen et al (1999); Su et al (2001)) Những triterpene đầu tiên được Kubota phân tách từ nấm linh chi là ganoderic acid A và B (Kubota et al (1982)) Kể
từ khi đó, hơn 100 loại triterpene cùng với cấu hình của chúng đã được tìm ra Trong
Trang 24số đó, có hơn 50 loại là đặc trưng chỉ được tìm thấy trong nấm linh chi Đa số các triterpene là các ganoderic và lucidenic acid, nhưng cũng có một số loại khác như là ganoderal, ganoderiol và ganodermic acid (Nishitoba et al (1984); Sato et al (1986); Budavari et al (1989); Gonzalez et al (1999); Ma et al (2002);Akihisa et al (2007); Zhou et al (2007); Jiang et al (2008); Chen et al (2010))
Hình 1.5: Công thức của một số triterpene trong nấm linh chi (Kubota et al (1982);
Helv Chim Acta 65: 611-9; Nishitoba et al (1984); Agric Biol Chem 48: 2905-7; Sato
et al (1986); Agric Biol Chem 50: 2887- 90; Budavari et al (1989))
Nấm linh chi rất giàu hàm lượng các triterpene, những chất này cũng góp phần tạo nên vị đắng của nấm linh chi Chúng mang nhiều hoạt tính sinh học có lợi cho sức khỏe, như khả năng chống oxy hóa và giảm hàm lượng chất béo trong cơ thể Tuy nhiên, hàm lượng triterpene trong nấm linh chi lại không ổn định Chúng phụ thuộc rất nhiều vào giống, loài, nơi trồng, điều kiện canh tác cũng như phương pháp chế biến, điều này đã được thể hiện trong một nghiên cứu của Chen và Su được tiến hành vào năm 1999 và 2001 (Chen et al (1999); Su et al (2001))
Trang 25Cho đến nay, hơn 150 triterpenoids đã được tìm thấy từ quả thể của nấm Linh chi đại diện cho năm lớp cấu trúc chính So với quả thể của nấm Linh chi, các nghiên cứu
về bào tử của nấm Linh chi mới bắt đầu từ năm 1988 ( Hou CY et al (1988)), cho đến nay đã có 29 loại triterpenoids đã được tìm thấy trong bào tử này Với những tiến bộ gần đây trong quang phổ và trắc phổ kỹ thuật hiện đại, một loạt các triterpenoids được phân lập từ các bào tử của nấm Linh chi và đã thu hút được sự chú ý của các nhà hóa học và dược sĩ Tất cả các triterpenoids trong các bào tử của nấm Linh chi có quá trình tổng hợp tương tự nhau, cụ thể là con đường acid movalonic (MVA) (Bingji Ma et al (2011)) Các Triterpenoids này được bắt đầu từ trans - squalene và sau đó đã được thay đổi bởi quá trình oxy hóa, giảm, khử acid, tạo vòng, sắp xếp lại, tạo ra nhiều loại cấu hình triterpenoids trong bào tử của nấm Linh chi
Triterpenoids được cô lập từ bào tử Linh chi cho thấy khả năng kháng HIV-1 protease, chống khối u, và các hoạt động chống bổ sung Triterpenoids này là thành phần hoạt chất chính của bào tử Linh chi và biểu thị cho các hoạt tính sinh học khác nhau được sử dụng trong dược liệu
Trang 26Hình 1.6: Cấu trúc không gian của 29 loại triterpenoids trong bào tử nấm Linh chi
(Bingji Ma et al (2011))
Trang 27Hình 1.7: Tên của 29 triterpenoids trong bào tử nấm Linh chi (Bingji Ma et al.(2011)
Triterpenoids được cô lập từ bào tử của nấm Linh chi Năm triterpenoids đã được cô lập từ phần trong ether - tan của bào tử của nấm Linh chi và trên cơ sở tính chất hóa học và dữ liệu quang phổ, acid ganopsoreric A (1),
Trang 28acid ganoderic B (2), acid ganoderic C1 (3), acid ganoderic E (4) và ganodermanontriol (5) được xác định tương ứng (Bingji Ma et al (2011)) Thí nghiệm dược lý cho thấy acid ganopsoreric A có có hoạt tính GTP thấp đối với gan chuột bị tổn thương bởi CCl4 và GaNI (Chen RY et al (1993)) Hai triterpenoids pentacyclic mới, có tên ganosporelactone A (6) và B (7) được cô lập từ bào tử của nấm Linh chi, có thể được bắt nguồn từ khung lanostane thông qua việc hình thành liên kết C18 và C23(Chen RY
et al (1991)) Hai triterpenes lanostane kiểu mới, lucidumol A (8) và β - acid ganoderic (9), cùng với một lucidumol B (10) và bảy triterpenoids đã biết, ganodermanondiol (11), ganoderiol F (12), acid ganoderic A (13), acid ganolucidic A (14), và 2, 3, 5 Trong số các hợp chất cô lập, các hợp chất 5, 10, 11 và 14 cho thấy khả năng kháng virus gây suy giảm miễn dịch (kháng HIV) - 1 protease hoạt động đáng kể với giá trị IC50 với giá trị 20 - 90 mM (Min BS et al (1998))
Sáu triterpenes lanostane loại oxy hóa cao mới, được gọi là ganoderic acid γ (15), acid ganoderic δ (16), acid ganoderic ε (17), acid ganoderic ξ (18), acid ganoderic η (19), acid ganoderic θ (20 ), cùng với ganolucidic axit D (21) và axit ganoderic C2 (22) được phân lập từ các bào tử nấm Các khả năng gây độc của các hợp chất 15-21 đã được thực hiện trong ống nghiệm chống Meth - A và LLC dòng tế bào ung thư (Min
BS et al (1998)) Một terpenoid C27 oxy hóa cao mới, lucidenic axit SP1 (23), được phân lập từ một phần CHCl3-tan của bào tử nấm Linh chi cùng với 11 triterpenoids, acid ganoderic C6 (24), acid ganoderic G (25), và 2 , 3, 5, 8, 9, 11, 12, 13, 14
Trang 291.2.3 Saponin
Saponin còn gọi là saponosid do chữ latin sapo = xà phòng (vì tạo bọt như xà phòng), là một nhóm glycosid lớn, gặp rộng rãi trong thực vật Người ta cũng phân lập được saponin trong động vật như hải sâm, cá sao
Saponin có một số tính chất đặc biệt:
- Làm giảm sức căng bề mặt, tạo bọt nhiều khi lắc với nước, có tác dụng nhũ hoá
và tẩy sạch
- Làm vỡ hồng cầu ngay ở những nồng độ rất loãng
- Độc với cá vì saponin làm tăng tính thấm của biểu mô đường hô hấp nên làm mất các chất điện giải cần thiết, ngoài ra có tác dụng diệt các loài thân mềm như giun, sán, ốc sên
- Kích ứng niêm mạc gây hắt hơi, đỏ mắt, có tác dụng long đờm, lợi tiểu; liều cao gây nôn mửa, đi lỏng
- Có thể tạo phức với cholesterol hoặc với các chất 3-b -hydroxysteroid khác Tuy vậy một vài tính chất trên không thể hiện ở một vài saponin.Ví dụ: sarsaparillosid thì không có tính phá huyết cũng như tính tạo phức với cholesterol Saponin đa số có vị đắng trừ một số như glycyrrhizin có trong cam thảo bắc,
abrusosid trong cam thảo dây, oslandin trong cây Polypodium vulgare có vị ngọt
Saponin tan trong nước, alcol, rất ít tan trong aceton, ether, hexan do đó người ta dùng 3 dung môi này để tủa saponin Saponin có thể bị tủa bởi chì acetat, bari hydroxyd, ammoni sulfat
Saponin khó bị thẩm tích, người ta dựa vào tính chất này để tinh chế saponin trong quá trình chiết xuất
Phần genin tức là sapogenin và dẫn chất acetyl sapogenin thường dễ kết tinh hơn saponin
Saponin triterpenoid thì có loại trung tính và loại acid, saponin steroid thì có loại trung tính và loại kiềm
Trang 30Về mặt phân loại, dựa theo cấu trúc hoá học có thể chia ra: saponin triterpenoid
và saponin steroid
Bảng 1.3 Cấu trúc không gian của một số nhóm chất saponin
Saponin Triterpenoid Nhóm olean: Phần lớn các saponin
triterpenoid trong tự nhiên đều thuộc
nhóm này Phần aglycon thường có 5
vòng và thường là dẫn chất của
3-b hydroxy olean 12 - ene, tức là 3-
b-amyrin
Nhóm ursan: Cấu trúc của nhóm ursan
cũng tương tự như nhóm olean chỉ khác
là nhóm methyl ở C-30 không đính vào
vị trí C-20 mà lại đính ở vị trí C-19
Những saponin của nhóm này ít gặp hơn
nhóm olean
Nhóm dammaran: Ðại diện là các
saponin của nhân sâm Phần aglycon
gồm 4 vòng và một mạch nhánh Khi tác
dụng bởi acid thì mạch nhánh đóng vòng
tạo thành vòng tetrahydropyran
Trang 31Saponin Steroid Nhóm spirostan: Những chất này có 27
carbon như cholesterol, nhưng mạch
nhánh từ C 20-27 tạo thành 2 vòng có
oxy (16,22 và 22,26 diepoxy), một vòng
là hydrofuran (vòng E) và một vòng là
hydropyran (vòng F) Hai vòng này nối
với nhau bởi 1 carbon chung ở C-22
Nhóm solanidan: Solanin có trong mầm
khoai tây thuộc nhóm này Ở đây 2
vòng E và F cùng chung 1C và 1N
1.2.4 Những thành phần khác
Tiến hành phân tích thân nấm linh chi, người ta còn tìm thấy thành phần chất khoáng như phospho, silicon, sulfur, kali, calcium và magnesium chiếm một tỉ lệ khá cao Bên cạnh đó còn có sắt, nhôm, kẽm, đồng, mangan và strontium với hàm lượng thấp hơn Ngoài ra còn có một số kim loại nặng như chì, cadmium và thủy ngân (Chen
et al (1998)) Trong một nghiên cứu của Chiu được tiến hành vào năm 2000, khi phân
tích nấm linh chi hoang thuộc loài Ganoderma spp, ông đã xác định được trong hàm
lượng chất khoáng của loại nấm này có chứa 10,2% là kali, calcium và magnesium Cũng trong một nghiên cứu khác thì Falandysz đã không tìm thấy cadmium và thủy ngân trong những mẫu nấm linh chi, nhưng hàm lượng selenium được xác định là 72 µg/g
Trang 32Trong thành phần của nấm linh chi (Ganoderma spp) có một chất cũng nhận được
rất nhiều sự quan tâm, đó là germanium Đây là chất có hàm lượng nhiều thứ 5 trong các chất khoáng (489 µg/g) có trong nấm linh chi Chất này tồn tại rất ít ở các loại thực vật trong tự nhiên, chỉ một phần rất nhỏ được tìm thấy trong nhân sâm, lô hội và tỏi (Mino et al (1980)) Mặc dù germanium không phải là thành phần thiết yếu, nhưng chỉ cần một liều lượng thấp cũng đã có tác dụng tăng cường khả năng miễn dịch, kháng khối u, chống oxy hóa và chống đột biến (Kolesnikova et al (1997))
Những hợp chất khác cũng được tìm thấy trong nấm linh chi đó là các loại enzyme như metalloprotease (đây là loại enzyme có tác dụng trì hoãn quá trình đông máu) Ngoài ra, ergosterol (provitamin D2), các nucleoside và các nucleotide (như adenosine và guanosine) (Wasser et al (2005); Paterson et al (2006); Kim et al (2004)) cũng đã được tìm thấy trong nấm linh chi, đây là những hợp chất có tác dụng
ức chế thuận nghịch α-glucosidase và SKG-3
1.3 Sử dụng
Từ xưa đến nay, ở các nước như Trung Quốc, Nhật Bản và một số nước châu Á khác đã sử dụng nấm linh chi để giúp tăng cường sức khỏe và kéo dài tuổi thọ của con
người Trong Dược điển Trung Quốc xuất bản vào năm 2000 đã công bố nấm linh chi
có tác dụng giảm căng thẳng, giảm ho và hen suyễn, được sử dụng để điều trị chóng mặt, mất ngủ, hồi hộp và khó thở Ngày nay, nấm linh chi còn được biết đến với tác dụng phòng và chống ung thư, kháng khuẩn, chống nấm, kháng virus (đặc biệt tốt trong điều trị mụn giộp và HIV), chống viêm, tăng cường khả năng miễn dịch và giúp kéo dài tuổi thọ Nấm linh chi đã trở thành loại nấm thảo dược được sử dụng phổ biến nhất ngay cả trong các bài thuốc của người Hàn Quốc và Nhật Bản
Trước những lợi ích mà nấm linh chi mang lại, hiện nay nấm linh chi đã được sử dụng trong việc phát triển những phương thuốc điều trị bệnh hoặc các loại thực phẩm chức năng Đã có rất nhiều nghiên cứu được tiến hành trên động vật, trong các mô hình
Trang 33nuôi cấy tế bào trong các ống nghiệm và đã chứng minh được những tác động tích cực của nấm linh chi đối với sức khoẻ con người
1.3.1 Phòng ngừa ung thư
Nấm linh chi được sử dụng phổ biến trong quá trình hỗ trợ điều trị ung thư nhằm giúp tăng cường khả năng miễn dịch cho các bệnh nhân bên cạnh áp dụng những liệu pháp chữa trị thông thường Mặc dù hiện nay quá trình điều trị bệnh ung thư đã có những tiến bộ nhất định thông qua việc chẩn đoán bệnh sớm cũng như những phương pháp hoá trị hiện đại, tuy nhiên việc chữa dứt điểm các căn bệnh này vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn thử thách (theo WHO 2008) Trong quá trình tìm kiếm những phương pháp điều trị và những tác nhân hoá trị mới, người ta đã tìm ra trong hàng trăm loài thực vật, trong đó có cả nấm linh chi, những hoạt chất sinh học có khả năng ngăn chặn quá trình hình thành khối u (Wasser et al (1999); Borchers et al (2008)) Trong nấm linh chi có một lượng lớn những hợp chất hoá học có thể được chiết xuất từ thân nấm, sợi nấm và bào tử Trong đó, các polysaccharide và triterpene là 2 nhóm hợp chất chính trong nấm linh chi có tác dụng ngăn ngừa ung thư và ngăn chặn quá trình hình thành khối u, điều này đã được chứng minh trong những nghiên cứu của Yuen et al (2005) cũng như của Zaidman et al (2005) Một trong những tác dụng mới được tìm thấy của dịch chiết nấm linh chi là có khả năng hỗ trợ điều trị cho các căn bệnh mãn tính, ví dụ như bệnh ung thư và bệnh liên quan đến gan (Bao et al (2005)) Những thí nghiệm trên động vật đã cho thấy hiệu quả đáng kể trong việc ức chế sự hình thành và
di căn của các tế bào ung thư Tuy nhiên, việc tiến hành những thí nghiệm này trên cơ thể người vẫn còn hạn chế
1.3.2 Tăng cường khả năng miễn dịch
Những tác nhân giúp làm tăng khả năng hoạt động của hệ miễn dịch cũng có tác dụng tăng cường sức khoẻ, qua đó giúp ngăn ngừa bệnh tật Nhiều thành phần trong
Trang 34nấm linh chi đã được chứng minh có tác dụng tăng cường sự sinh trưởng và phát triển của các tế bào lympho, các bạch cầu đơn nhân, các tế bào NK (natural killer cells) (Bao
et al (2001); Cao et al (2002); Zhu et al (2007); Ma et al (2008)) Trong một nghiên cứu của Chang et al (2009) được tiến hành trên chuột BALB/c cho thấy dịch chiết nấm linh chi chứa nhiều polysaccharide có tác dụng tăng cường sự sinh trưởng và phát triển của các tế bào spleno và hoạt tính của các đại thực bào và các tế bào NK
Trong một nghiên cứu khác của Wang et al (1997), polysaccharide có trong nấm linh chi có tác dụng làm tăng khả năng hoạt động của các tế bào lympho T và các đại thực bào, bằng cách làm tăng hàm lượng IL- 1β, TNF-α và IL-6 Cũng trong một nghiên cứu khác, quá trình ủ của các đại thực bào và các tế bào lympho T bằng các polysaccharide đã cho thấy hàm lượng TNF- α và INF- γ tăng lên (Zhang et al (1999))
1.3.3 Khả năng chống oxy hoá
Những hợp chất chống oxi hoá trong thực vật có tác dụng ngăn ngừa ung thư cũng như những căn bệnh nan y khác (Collins et al (2005); Benzie et al (2009)) Những hợp chất này có tác dụng bảo vệ các thành phần có trong màng tế bào chống lại những tổn thương do quá trình oxy hoá gây nên, qua đó giúp làm giảm những nguy cơ gây ra đột biến và ung thư cũng như góp phần bảo vệ các tế bào miễn dịch Những hợp chất có trong nấm linh chi chủ yếu là các polysaccharide và các triterpene cũng có tác dụng chống lại quá trình oxy hoá tế bào (Lee et al (2001); Lin et al (2002); Shi et al (2002); Wachtel-Galor et al (2005); Yuen et al (2008); Saltarelli et
al (2009); Wu et al (2009))
1.3.4 Điều trị bệnh đái tháo đường
Những thành phần của nấm linh chi đã được chứng minh là có tác dụng hạ đường huyết đối với động vật Các ganoderan A và B là hai polysaccharide được chiết tách từ thân nấm linh chi, sau khi được tiêm cho chuột bị tiểu đường với liều lượng 100
Trang 35mg/kg, cho thấy hàm lượng glucose trong máu giảm và tác dụng hạ đường huyết vẫn tiếp tục kéo dài suốt 24 giờ (Hikiko et al (1985)) Cũng trong một thí nghiệm trên chuột, ganoderan B có tác dụng làm tăng lượng insulin, qua đó làm giảm hàm lượng glucose trong máu và điều chỉnh quá trình tổng hợp glucose dưới tác dụng của các enzyme có sẵn trong gan (Hikiko et al (1989)) Trong một nghiên cứu khác cũng được tiến hành trên chuột, người ta đã chứng minh được rằng một polysaccharide khác có trong nấm linh chi được gọi là ganoderan C cũng có tác dụng hạ đường huyết (Hikiko
et al (1989); Tomoda et al (1986))
1.3.5 Tác dụng đối với các bệnh về tim mạch
Chống nhiễm mỡ, xơ mạch và các biến chứng (bệnh xơ vữa động mạch vành) Có tác dụng đặc biệt trong việc loại trừ chất cholesterol trong máu và các thành mạch, trợ tim, lọc sạch máu, làm giảm cholesterol, giảm xơ cứng thành động mạch, thúc đẩy quá trình lưu thông máu, tăng cường tuần hoàn máu
Làm giảm mệt mỏi, hỗ trợ thần kinh, chống đau đầu và tứ chi, điều hòa kinh
nguyệt
Nấm Linh chi đã được cho là có đặc tính hạ huyết áp và tăng huyết áp (homeostasis) Một peptidoglycan có tác dụng hạ huyết áp nhẹ trên chuột SHR (bẩm sinh tăng huyết áp) đã được phân lập từ dịch chiết nước nóng của Linh chi Theo một báo cáo, huyết áp của khoảng một nửa số bệnh nhân tăng huyết áp được giảm khi được tiêm chiết xuất từ Linh chi Điều đá đã được báo cáo rằng bệnh nhân cao huyết áp liên quan đến angiotensin-I-converting enzyme bị ức chế bởi acid ganoderic(B,D,F,H), ganoderal A trong nấm Linh chi