1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá nhận thức, hành vi tiêu dùng xanh của người tiêu dùng thành phố hồ chí minh tại các siêu thị và đề xuất phương án thúc đẩy tiêu dùng xanh

156 785 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 156
Dung lượng 2,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam, đang trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tích lũy nguồn vốn quốc gia, công tác bảo vệ môi trường sẽ g

Trang 1

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP ĐÁNH GIÁ NHẬN THỨC, HÀNH VI TIÊU DÙNG XANH CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TẠI CÁC SIÊU THỊ VÀ ĐỀ XUẤT PHƯƠNG ÁN THÚC

ĐẨY TIÊU DÙNG XANH

Ngành: Môi trường

Chuyên ngành: Kỹ thuật Môi trường

Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS Thái Văn Nam Sinh viên thực hiện : Đoàn Thị Bảo Trâm MSSV: 1311090643 Lớp: 13DMT02

Trang 2

của PGS.TS Thái Văn Nam Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo

Ngoài ra, trong luận văn còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả khác, cơ quan tổ chức khác đều có trích dẫn và chú thích nguồn gốc Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung luận văn của mình Trường đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh không liên quan đến những vi phạm tác quyền, bản quyền do tôi gây ra trong quá trình thực

Trang 3

bạn bè và người thân dành cho em Em xin gửi lời cảm ơn chân thành của mình đến tất

cả mọi người

Với tình cảm chân thành, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy PGS.TS Thái Văn Nam, người đã tận tình hướng dẫn và khuyến khích em phát triển vấn đề nghiên cứu theo hướng đi phù hợp Nhờ sự giúp đỡ của thầy em cảm thấy thêm trân trọng và thích thú với bài báo cáo này, dù nó là một sản phẩm còn nhiều thiếu sót Bên cạnh đó, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến tất cả thầy cô giáo khoa Công nghệ Sinh học- Thực phẩm- Môi trường, trường Đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, đã giảng dạy và truyền thụ cho chúng em những kiến thức, kỹ năng cần thiết để chúng em thực hiện được đề tài này

Em xin gửi lời cảm ơn của mình đến các anh/chị làm việc tại các hệ thống siêu thị SAIGON CO.OP đã tạo mọi điều kiện để cho em hoàn thành đề tài Cuối cùng, em xin cảm ơn những người bạn đã luôn chia sẻ ý tưởng, góp ý và quan tâm đến đề tài nghiên cứu này Gia đình đã giúp đỡ, động viên và tạo những điều kiện tốt nhất Sự giúp đỡ này

là nguồn động viên quý giá để em vượt qua những khó khăn và hoàn thành báo cáo đề tài tốt nghiệp

TP.Hồ Chí Minh, tháng 7, năm 2017

Sinh viên Đoàn Thị Bảo Trâm

SV lớp 13DMT02 khoa CN SH- TP- MT

Trang 4

MỤC LỤC DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT IIV DANH MỤC BẢNG VI DANH MỤC HÌNH ẢNH VIII

MỞ ĐẦU 1

1 TÍNH CẤP THIẾT ĐỀ TÀI 1

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2

3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2

3.1.Đối tượng 2

3.2.Phạm vi nghiên cứu 2

3.3 Phạm vi về sản phẩm 5

3.4 Tính mới của đề tài 5

3.5.Ý nghĩa đề tài 6

3.6.Cấu trúc đồ án 6

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU 8

1.1 CÁC KHÁI NIỆM TRONG LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU 8

1.1.1 Tiêu dùng bền vững 8

1.1.1.1 Khái niệm tiêu dùng bền vững 8

1.1.1.2 Tầm quan trọng của tiêu dùng bền vững 9

1.1.1.3 Các chính sách nhằm thực hiện phát triển bền vững ở Việt Nam 10

1.1.2 Tiêu dùng xanh 11

1.1.2.1 Khái niệm tiêu dùng xanh 11

1.1.2.2 Ý định và hành vi tiêu dùng xanh 13

1.1.2.3 Thực trạng tiêu dùng xanh 13

1.1.3 Sản phẩm thân thiện môi trường 23

1.1.3.1 Khái niệm 23

1.1.3.2 Ý nghĩa 24

1.1.4 Sản phẩm xanh 26

1.1.5 Nhãn sinh thái- nhãn môi trường 30

Trang 5

1.2 TỔNG QUAN HIỆN TRẠNG TIÊU DÙNG XANH Ở VIỆT NAM 34

1.2.1 Đặc điểm của thị trường người tiêu dùng Việt Nam 34

1.2.2 Đặc điểm của thị trường tiêu dùng TP.HCM 34

1.2.3 Xu hướng sử dụng sản phẩm thân thiện với môi trường 35

1.2.4 Phân loại các sản phẩm xanh có trên thị trường ở TP.HCM 37

1.2.5 Thực trạng tiêu dùng xanh ở Việt Nam 37

1.2.6.Những khó khăn của người tiêu dùng trong việc tiếp cận sản phẩm thân thiện với môi trường 39

1.2.6.1 Khó khăn trong việc lựa chọn sản phẩm 39

1.2.6.2.Cân nhắc giữa giá cả và những lợi ích đi kèm 41

1.3 CÁC CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY TIÊU DÙNG XANH 42

1.3.1.Trên Thế giới 42

1.3.2 Tại Việt Nam 43

1.4.TỔNG QUAN CÁC HỆ THỐNG SIÊU THỊ VÀ CỬA HÀNG TIỆN LỢI 45

1.4.1 Hiện trạng các siêu thị và cửa hàng tiện lợi tại Việt Nam 45

1.4.2 Sơ lược các hệ thống siêu thị và cửa hàng tiện lợi phổ biến tại TP.HCM 47

1.4.3.Hiện trạng phân phối tại các cửa hàng và siêu thị sơ bộ 51

1.5.CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN VỀ TIÊU DÙNG XANH 52

1.5.1.Nghiên cứu của tác giả ngoài nước 52

1.5.2.Nghiên cứu của tác giả trong nước 55

CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 62

2.1 CÁC NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 62

2.2 SƠ LƯỢC VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 62

2.3 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 68

2.3.1 Phương pháp luận 68

2.3.2 Phương pháp cụ thể 69

2.3.2.1 Phương pháp quan sát 69

2.3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin (điều tra bằng bảng hỏi): 69

2.3.2.3 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu: 70

Trang 6

2.3.2.4 Phương pháp phân tích thống kê, đánh giá tác động (định lượng) 71

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 72

3.1 HIỆN TRẠNG PHÂN PHỐI SẢN PHẨM XANH TẠI CÁC SIÊU THỊ 72

3.2 NHẬN THỨC VÀ HÀNH VI TIÊU DÙNG SẢN PHẨM XANH CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG TP.HCM 72

3.2.1 Thông tin, đặc điểm đối tượng khảo sát 72

3.2.2 Nhận thức về tiêu dùng xanh, sản phẩm xanh 74

3.2.3 Hành vi tiêu dùng xanh của người tiêu dùng 78

3.2.4 Kênh truyền thông và sự sẵn lòng trả thêm để mua sản phẩm xanh 82

3.2.4.1 Kênh truyền thông 82

3.2.4.2 Sự sẵn lòng trả thêm để mua sản phẩm xanh 84

3.2.5 Phân tích nhân tố 85

3.3 MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA HÀNH VI NGƯỜI TIÊU DÙNG XANH VỚI CÁC BÊN LIÊN QUAN 94

3.4 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY TIÊU DÙNG XANH 95

3.4.1 Các giải pháp đối với chính phủ 95

3.4.2 Các đề xuất đối với doanh nghiệp 98

3.4.3 Giải pháp từ phía người tiêu dùng 99

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 102

KẾTLUẬN 102

KIẾNNGHỊ 103

TÀI LIỆU THAM KHẢO 105

TÀILIỆUTRONGNƯỚC 105

TÀILIỆUNƯỚCNGOÀI 106

TÀILIỆUTRÍCHDẪNTỪINTERNET 106

PHỤ LỤC 107

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

1 ATM Máy rút tiền tự động

2 BĐKH Biến đổi khí hậu

3 BVMT Bảo vệ Môi trường

4 C4E Đạp xe vì Môi trường

5 CFC Chlorofluorocarbon

6 EU Các nước liên minh Châu Âu

7 FAO Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc

8 GDP Gross Domestic Product

9 GEN Mạng lưới nhãn sinh thái toàn cầu

10 GPP Green Public Procurement

11 HEPS Hiệu suất năng lượng

12 HTX Hợp tác xã

13 ILO Tổ chức Lao động Quốc tế

14 IMO Tổ chức Hàng hải Quốc tế

15 ISO Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế

16 ITU Tổ chức Viễn thông Quốc tế

17 LHQ Liên Hiệp Quốc

18 NDRC Uỷ ban Cải cách và Phát triển Quốc gia Trung Quốc

19 OEF Organisation Environmental Footprint

20 PEF Product Enviromental Footprint

21 PTBV Phát triển bền vững

22 RCEE Trung tâm nghiên cứu Năng lượng và Môi trường

23 SCP Kế hoạch về sản xuất và tiêu thụ bền vững của EU

24 SIP Chính sách công nghiệp bền vững của EU

25 TN&MT Tài nguyên và Môi trường

26 TNHH Trách nhiệm hữu hạn

27 TP.HCM Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 8

28 UBND Uỷ ban nhân dân

29 UNEP Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc

30 UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp

Quốc

31 UNFPA Quỹ dân số Liên Hiệp Quốc

32 UN-HABITAT Chương trình Nhân cư Liên Hiệp Quốc

33 UNIDO Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hiệp Quốc

34 UNWTO Tổ chức Du lịch Thế giới

35 WB Ngân hàng Thế giới

36 WCED World Commission on Environment and Development

37 WHO Tổ chức Y tế Thế giới

38 WIPO Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới

39 WTO Tổ chức Thương mại Thế giới

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Danh sách các sản phẩm xanh 28

Bảng 1.2: Tóm tắt các chính sách/chương trình thúc đẩy tiêu dùng xanh ở một số quốc gia trên Thế giới 45

Bảng 1.3: Số lượng siêu thị và cửa hàng tiện lợi tại Việt Nam 45

Bảng 1.4: Điểm trung bình của kết quả nghiên cứu 59

Bảng 1.5: Kết quả hồi quy với ý định mua sản phẩm xanh là biến phụ thuộc 60

Bảng 1.6: Kết quả hồi quy với hành vi mua sản phẩm xanh là biến phụ thuộc 61

Bảng 3.1: Thông tin cá nhân các mẫu khảo sát 73

Bảng 3.2: Kết quả nhận thức về phát triển bền vững của người tiêu dùng TP.HCM 76 Bảng 3.3: Kết quả nhận thức về sản phẩm thân thiện môi trường của người tiêu dùng TP.HCM 76

Bảng 3.4: Kết quả nhận thức về nhãn năng lượng so sánh của người tiêu dùng TP.HCM 76

Bảng 3.5: Kết quả nhận thức về các nhãn sinh thái của người tiêu dùng TP.HCM 77

Bảng 3.6: Kết quả về hành động tiêu dùng xanh của người tiêu dùng TP.HCM 79

Bảng 3.7: Kết quả về hành động sử dụng sản phẩm xanh của người tiêu dùng TP.HCM 79

Bảng 3.8: Kênh truyền thông giúp người tiêu dùng biết đến sản phẩm xanh 84

Bảng 3.9: Sự sẵn lòng mua sản phẩm xanh của người tiêu dùng TP.HCM 84

Bảng 3.10: Điểm trung bình của từng biến nhân tố mà người tiêu dùng quan tâm đến khi thực hiện mua sắm xanh 85

Bảng 3.11: Giá trị hệ số tin cậy thang đo và cac biến nhân tố mà người tiêu dùng quan tâm đến khi thực hiện mua sắm xanh 87

Bảng 3.12: Các điều kiện loại biến để xác định nhân tố mà người tiêu dùng quan tâm đến khi thực hiện mua sắm xanh 87

Bảng 3.13: Hai nhóm nhân tố mà người tiêu dùng quan tâm đến khi mua thực hiện mua sắm xanh 88

Trang 10

Bảng 3.14: Điểm trung bình từng nhân tố ảnh hưởng đến việc mua một sản phẩm của

người tiêu dùng 89

Bảng 3.15: Giá trị hệ số tin cậy thang đo và các biến nhân tố ảnh hưởng đến việc

mua một sản phẩm của người tiêu dùng 91

Bảng 3.16: Các điều kiện loại biến để xác định nhân tố ảnh hưởng đến việc mua một

sản phẩm của người tiêu dùng 92

Bảng 3.17: Hai nhóm nhân tố ảnh hưởng đến việc mua một sản phẩm của người tiêu

dùng 93

Trang 11

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Hình A: Bản đồ hệ thống siêu thị co.op trên địa bàn TP.HCM 5

Hình 1.1: Nhãn xanh Việt Nam 31

Hình 1.2: Nhãn năng lượng xác nhận 33

Hình 1.3: Nhãn năng lượng so sánh 33

Hình 1.4: Biểu đồ mức độ hiểu biết về sản phẩm thân thiện môi trường 40

Hình 1.5: Biểu đồ thể hiện tiêu chí lựa chọn sản phẩm xanh 41

Hình 2.1: Sơ đồ phương pháp luận về tiêu dùng xanh 68

Hình 3.1: Trung bình mức độ quan trọng của việc mua sản phẩm xanh 85

Hình 3.2: Trung bình mức độ quan trọng khi quyết định mua một sản phẩm 91

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết đề tài

Trong tình hình khủng hoảng môi trường toàn cầu ngày càng nghiêm trọng Đối với các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam, đang trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tích lũy nguồn vốn quốc gia, công tác bảo vệ môi trường sẽ gặp rất nhiều khó khăn, thách thức, đỏi hỏi phải không ngừng đổi mới cách làm với những giải pháp mang tính đột phát và thân thiện với môi trường qua việc phát triển các ngành kinh tế xanh, sản xuất sạch, đặc biệt là thay đổi hành vi ứng xử thiếu văn hóa với môi trường tự nhiên, trong đó sản xuất và tiêu dùng bền vững được xem là một trong những yếu tố then chốt để giảm thiểu lượng phát thải khí nhà kính vào bầu khí quyển và khuyến khích hình thành nền kinh tế cacbon thấp.Tuy nhiên, các khía cạnh sâu sắc của sự bền vững, bao gồm tiêu dùng xanh, vẫn chưa được nghiên cứu nhiều Vì vậy, việc nghiên cứu về tiêu dùng xanh ở các mức độ sâu sắc hơn là vấn đề thiết yếu hiện nay.[6]

Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) là một trong những thành phố có số dân đông đúc và có nền kinh tế công nghiệp phát triển, nhiều ngành sản xuất đã ra đời; nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất phát triển mở rộng, đã và đang thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước, góp phần tạo nguồn vốn quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, góp phần giải quyết việc làm và tạo thu nhập cho người lao động Mặc dù đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ trong phát triển kinh tế - xã hội, nhưng nền kinh tế cũng đã bộc lộ rõ những yếu tố chưa thực sự bền vững Tăng trưởng kinh tế mới chỉ dựa vào khai thác tài nguyên ở cường độ cao; công nghệ còn lạc hậu, chậm đổi mới nên đã tiêu hao nhiều năng lượng, nước, nguyên vật liệu, dẫn đến tình trạng suy kiệt nguồn nước, các loại tài nguyên khoáng sản, và môi trường

bị xuống cấp Mặt khác, một bộ phận dân cư vẫn còn nặng về tiêu dùng truyền thống, sử dụng nguyên liệu thô chưa qua chế biến, sử dụng nhiều hàng hóa chất lượng thấp, không có lợi cho việc tiết kiệm tài nguyên và phát triển bền vững

Vấn đề này nếu cứ tiếp diễn sẽ ngày càng trầm trọng, đe doạ trực tiếp sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững và sự tồn tại, phát triển của các thế hệ hiện tại cũng

Trang 13

như tương lai Để hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường này, điều quan trọng nhất

là con người phải thay đổi được hành vi mua sắm và tiêu thụ của mình Tiêu dùng xanh hiện nay cũng đã tương đối phổ biến ở Việt Nam Tăng trưởng kinh tế Việt Nam đang gắn liền với sự sụt giảm mạnh về tài nguyên thiên nhiên và gia tăng ô nhiễm môi trường Việc tăng cường tiêu dùng và mua sắm xanh và nâng cao nhận thức về môi trường có thể giúp cải thiện tình trạng này Việc tạo ra một xu hướng tiêu dùng xanh tại Việt Nam và cụ thể ở một thành phố đang phát triển như TP Hồ Chí Minh sẽ cần có sự hỗ trợ từ các cơ quan khác của Nhà nước và quyết tâm đổi mới của các doanh nghiệp và nhất là người tiêu dùng trong việc đưa việc sử dụng các sản phẩm tiêu dụng xanh trở nên gần gũi hơn với người tiêu dùng và phổ biến rộng hơn để làm thay đổi ý thức thói quen của người tiêu dùng

Do đó, em chọn đề tài: “Đánh giá nhận thức, hành vi tiêu dùng xanh của người tiêu dùng Thành phố Hồ Chí Minh tại các siêu thị và đề xuất phương án thúc đẩy tiêu dùng xanh” nhằm làm tiền đề cho việc xem xét, giải quyết các vấn đề

môi trường liên quan đến tiêu dùng và làm cơ sở để đề ra các biện pháp hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường đô thị đang ngày càng nghiêm trọng hiện nay Từ đó đẩy mạnh tuyên truyền để thay đổi thói quen mua sắm, nâng cao nhận thức của người dân về hạn chế xả rác thải ra môi trường là việc làm hết sức cần thiết Bởi, một khi người dân coi trọng việc mua sắm và tiêu dùng các sản phẩm xanh sẽ là tiền đề quan trọng thúc đẩy hoạt động sản xuất thân thiện với môi trường

2 Mục tiêu nghiên cứu

 Đánh giá nhận thức tiêu dùng xanh của người tiêu dùng tại TP.HCM

 Đánh giá hành vi tiêu dùng xanh của người tiêu dùng tại TP.HCM

 Đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy tiêu dùng xanh tại TP.HCM

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng

Khách mua hàng ngẫu nhiên tại các hệ thống của siêu thị tại TP.HCM, các cá nhân trên 18 tuổi sống tại TP.HCM và đủ kiến thức

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Trang 14

Hiện nay, TP.HCM có rất nhiều hệ thống siêu thị lớn điển hình 5 hệ thống lớn CO.OPMART, BIGC, EMART, AEON, VINMART với rất nhiều chương trình khuyến khích tiêu dùng xanh như:

- Siêu thị EMART đưa việc quản lý thân thiện môi trường vào hệ thống quản lý như việc phát triển các cửa hàng thân thiện với môi trường, giảm thiểu sử dụng năng lượng và khí gas, mở rộng kinh doanh các loại sản phẩm thân thiện môi trường, khuyến khích tiêu dùng xanh, truyền bá văn hóa thân thiện với môi trường, đóng góp xã hội qua các chiến dịch bảo vệ môi trường

- Big C cho biết trong tương lai tất cả các đại siêu thị của Big C sẽ là các đại siêu thị xanh, góp phần cùng cộng đồng bảo vệ môi trường và hướng đến phát triển bền vững, cụ thể như cuối năm 2010, Big C đã đưa vào hoạt động thế hệ đầu tiên các đại siêu thị Big C xanh, sử dụng tất cả các công nghệ thân thiện với môi trường trong đó có bóng đèn tiết kiệm điện; trang bị hệ thống giám sát và quản lý điện năng nhưng cũng chưa có chương trình nào cụ thể để khuyến khích người tiêu dùng tiêu tiêu dùng xanh chỉ có chương trình giới thiệu túi nilon thân thiện môi trường đến người tiêu dùng

- Công ty TNHH AEON Việt Nam tổ chức Lễ trồng cây mang tên ”Cánh rừng quê hương AEON” với mong muốn đóng góp 1 phần nhỏ nỗ lực của mình, mang đến thêm nhiều mảng xanh hơn cho môi trường và xã hội, cũng như góp phần tuyên truyền bảo vệ môi trường xanh cho thế hệ tương lai

- “Tôi chọn nông sản sạch” là Chương trình do công ty TNHH Đầu tư Sản xuất Phát triển Nông nghiệp VinEco phát động, với mong muốn tạo làn sóng ủng hộ sản xuất nông nghiệp sạch từ đông đảo người tiêu dùng, thông qua đó cổ vũ, động viên, lan tỏa văn hóa làm nông nghiệp sạch cho những hộ sản xuất nông nghiệp Việt Chương trình cũng giới thiệu, đồng hành, hỗ trợ và tôn vinh các hộ sản xuất

uy tín, các sản phẩm nông nghiệp đặc sản của Việt Nam, các vùng nông nghiệp nổi tiếng, các chuỗi sản xuất sạch đang hình thành và phát triển trên tất cả các tỉnh, thành cả nước Chương trình sẽ được tổ chức thực hiện tại các vùng nông nghiệp lớn trên cả nước, được truyền thông rộng rãi tới người tiêu dùng qua các phương

Trang 15

tiện truyền thông đại chúng, qua hệ thống siêu thị VinMart, VinMart+ và trang thương mại điện tử Adayroi.com

Hệ thống SAIGON CO.OP với chuỗi siêu thị và cửa hàng tiện lợi thường xuyên có các chương trình khuyến khích tiêu dùng xanh, nổi bật nhất đó là chương trình định kỳ hằng năm vào tháng 5 Qua 7 lần tổ chức (từ năm 2010 đến nay), chiến dịch Tiêu dùng sản phẩm xanh đã đạt được những con số ấn tượng Vận động được hơn 4 triệu lượt người dân cam kết hưởng ứng tiêu dùng xanh Mức tiêu thụ sản phẩm của các doanh nghiệp xanh tăng lên từ 40% - 60% trong tháng diễn ra chiến dịch tại các hệ thống siêu thị Co.opmart Những con số trên đã phần nào thể hiện sức lan tỏa rộng khắp của chiến dịch trong cộng đồng cả nước Vai trò của cộng đồng cũng được thể hiện mạnh mẽ hơn thông qua việc kiên trì theo đuổi mục tiêu xây dựng thị trường cạnh tranh lành mạnh hơn cho những doanh nghiệp xanh

và doanh nghiệp Chính vì dẫn đầu trong các phong trào kích cầu tiêu dùng xanh nên tôi sẽ chọn hệ thống của SAIGON CO.OP để thực hiện đề tài nghiên cứu nhằm tìm hiểu nhận thức và hành vi tiêu dùng của người tiêu dùng khi siêu thị đã có rất nhiều chương trình khuyến khích tiêu dùng xanh

Chọn 10 siêu thị trên địa bàn TP.HCM trong hệ thống siêu thị SAIGON CO.OP (gồm Quận 1, Quận 10, Quận 6, Quận 12, Quận Phú Nhuận, Quận Bình Thạnh, Quận Thủ Đức, Quận Gò Vấp)

Trang 16

Danh sách cụ thể các siêu thị:

- Quận 1: Co.opmart Cống Quỳnh: 189C Cống Quỳnh - P.Nguyễn Cư Trinh, Q1, TPHCM

- Quận 10: Co.opmart Lý Thường Kiệt: 497 Hòa Hảo, P.7, Q.10, TPHCM

- Quận 6: Co.opmart Hậu Giang: 188 Hậu Giang, P.6, Q.6, TPHCM

- Quận 12: Co.opmart Nguyễn Ảnh Thủ: 167/2 Nguyễn Ảnh Thủ, P.Trung Mỹ Tây, Q.12, TP.HCM

- Quận Phú Nhuận: Co.opmart Rạch Miễu: 48 Hoa Sứ, P.7, Q Phú Nhuận TP.HCM

Co.opmart Nguyễn Kiệm : 571-573 Nguyễn Kiệm, P.9, Q.Phú Nhuận, TPHCM

- Quận Gò Vấp: Co.opmart Phan Văn Trị : 543/1 Đường Phan Văn Trị, Phường

7, Quận Gò Vấp, TP.HCM

Co.opmart Foodcosa: 304A Quang Trung, Phường 11, Quận Gò Vấp, TP.HCM

- Quận Bình Thạnh: Co.opmart Đinh Tiên Hoàng: 127 Đinh Tiên Hoàng, P.3, Q.Bình Thạnh, TPHCM

- Quận Thủ Đức: Co.opmart BìnhTriệu: Số 68/1 Quốc lộ 13, Phường Hiệp Bình Chánh, Quận Thủ Đức, TPHCM

3.3 Phạm vi về sản phẩm

Điều tra được thực hiện ở 3 ngành hàng Trong đó sản phẩm nghiên cứu hành

vi mua sản phẩm xanh là thực phẩm, hàng gia dụng và túi nilon

3.4 Tính mới của đề tài

Hình A: Bản đồ hệ thống siêu thị CO.OP trên địa bàn TP.HCM

(Nguồn: Trang thông tin điện tử hệ thống Saigon Co.op)

Trang 17

Hiện tại chưa có đề tài nào tại TP.HCM xác định nhân tố ảnh hưởng đến hành

vi tiêu dùng xanh của người tiêu dùng Đề tài này được nghiên cứu bằng cách đi khảo sát người tiêu dùng tại các siêu thị từ đó tổng hợp kết quả xác định các mối quan tâm mà người tiêu dùng chú ý đến khi mua sản phẩm xanh đồng thời tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định mua hàng của người tiêu dùng TP.HCM

3.5 Ý nghĩa đề tài

 Ý nghĩa khoa học:

Việc đánh giá, phân tích hành vi tiêu dùng xanh của khách hàng tại một số siêu thị và xác định được nhân tố ảnh hưởng đến hành vi mua sắm xanh của người tiêu dùng sẽ giúp nhà quản lý trong việc hoạch định nhu cầu tiêu dùng xanh và bảo

vệ môi trường làm thúc đẩy phát triển bền vững

 Ý nghĩa thực tiễn:

Kết quả nghiên cứu có thể làm tài liệu tham khảo đánh giá mức độ nhận thức hành vi tiêu dùng xanh của khách hàng ở các đô thị nói chung và ở Việt Nam nói riêng, đồng thời đề ra hướng giải pháp phát triển đô thị tiêu dùng xanh cho nhiều năm tới

Các nhà sản xuất và quản lý có thể dựa trên kết quả của nghiên cứu để có các

kế hoạch, chính sách phù hợp với nhu cầu và dễ dàng đưa các sản phẩm xanh đến gần với người tiêu dùng nhằm mục tiêu đẩy mạnh hành vi tiêu dùng xanh

3.6 Cấu trúc đồ án

Đồ án có 154 trang bao gồm cả danh mục bảng biểu, tài liệu tham khảo và phụ lục, trong đó có 23 bảng và 9 hình Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục đồ án được chi làm ba chương:

- Chương 1: Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu Gồm:

Các khái niệm: tiêu dùng bền vững, tiêu dùng xanh, sản phẩm thân thiện môi trường, sản phẩm xanh, nhãn sinh thái- nhãn môi trường

Tổng quan hiện trang tiêu dùng xanh ở Việt Nam, các chính sách thúc đẩy, hệ thống siêu thị và của hàng tiện lợi, các nghiên cứu liên quan

Trang 18

- Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu Gồm: nội dung nghiên cứu, sơ lược địa bàn nghiên cứu và các phương pháp sử dụng trong nghiên cứu

- Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Trang 19

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU

1.1 CÁC KHÁI NIỆM TRONG LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU

1.1.1 Tiêu dùng bền vững

1.1.1.1 Khái niệm tiêu dùng bền vững

Chủ nghĩa tiêu dùng đang đánh dấu thời đại của chúng ta Nhưng từ khi biến đổi khí hậu(BĐKH) diễn ra, con người không thể tiếp tục khai thác những nguồn tài nguyên trên Trái đất mà không nghĩ về tương lai Câu hỏi lớn đặt ra là làm thế nào

để đạt được nhiều hơn mà tổn thất ít hơn hay nói cách khác là làm thế nào để tiêu dùng bền vững?

Tiêu dùng bền vững được xây dựng trên quan điểm phát triển bền vững được

đề cập và phổ biến rộng rãi từ năm 1987 từ Báo cáo Brundtland (còn gọi là Báo cáo Tương lai chung c ủa chúng ta) của Ủy ban Môi trường và Phát triển thế giới (WCED – World Commission on Environment and Development) nay là Ủy ban Brundtland Báo cáo ghi rõ: Phát triển bền vững là “sự phát triển đáp ứng được các nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng xấu đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau”.[12] Như vậy, tư tưởng cơ bản của tiêu dùng bền vững là đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của bản thân sao cho không tước mất khả năng đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng của các thế hệ mai sau

Cần hiểu rằng “tiêu dùng bền vững” không phải là “tiêu dùng ít hơn” mà là biết tiêu dùng hiệu quả hơn, tốt hơn và bớt sử dụng tài nguyên hơn Điều này đặc biệt đúng cho người dân đang sống trong nghèo khổ thường có nhu cầu gia tăng tiêu dùng sản phẩm và dịch vụ

Tiêu dùng bền vững gắn trực tiếp với rất nhiều ưu tiên phát triển khác như giảm nghèo, tăng trưởng kinh tế, giáo dục và bảo vệ môi trường Tất cả đều nhằm vào việc nâng cao chất lượng cuộc sống Vì vậy, tiêu dùng bền vững không phải là khuyên nên tiêu dùng ít đi, mà là làm thế nào đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng một cách thông minh hơn

Tiêu dùng bền vững tạo cho người tiêu dùng cơ hội để tiêu thụ sản phẩm, sử dụng dịch vụ đáp ứng nhu cầu của họ một cách hiệu quả và có hiệu suất, giảm thiểu

Trang 20

hậu quả tiêu cực về môi trường, xã hội và kinh tế Mục đích cuối cùng của tiêu dùng bền vững là cải thiện, nâng cao chất lượng cuộc sống của cả người tiêu dùng thế hệ hiện nay và các thế hệ mai sau, đồng thời giảm thiểu tác động tới môi trường.[5]

1.1.1.2 Tầm quan trọng của tiêu dùng bền vững

Tiêu dùng là đặc điểm trung tâm của xã hội Khi nền kinh tế được cải thiện, cá nhân cũng như Chính phủ, công ty và tổ chức cũng gia tăng việc tiêu dùng sản phẩm và dịch vụ để đáp ứng nhu cầu của họ như lương thực, ăn mặc, giao thông, giáo dục, y tế và giải trí vui chơi Tiêu dùng tăng còn góp phần làm tăng trưởng kinh tế, thường là một tiêu chí mà các Chính phủ sử dụng để đánh giá sự thành công của họ Song, tiêu dùng cũng trực tiếp hoặc gián tiếp là nguồn gốc của hầu hết các vấn đề môi trường gây nên bởi hoạt động của con người cũng như tạo ra nhiều vấn

đề cho xã hội và tài chính

Tiêu dùng tăng đòi hỏi tăng sản xuất và thường dẫn đến việc sử dụng tài nguyên tăng lên, gây ô nhiễm môi trường và phát sinh chất thải Thậm chí nếu có thể kiểm soát và tăng hiệu suất các quy trình sản xuất, thì những vấn đề trên cũng không thể giải quyết một cách hiệu quả, nếu không giải quyết vấn đề tiêu dùng liên tục tăng Nhiều vấn đề điển hình về xã hội và tài chính khác cũng do việc tăng tiêu dùng gây ra Những cá nhân có mức tiêu dùng cao thường gặp phải gánh nặng chi phí như mắc nợ, thời gian và sự căng thẳng làm việc để đảm bảo tiêu dùng, thời gian cần có để bảo quản, làm sạch, nâng cấp tài sản, đó là cách tiêu dùng làm mất thời gian dành cho gia đình và bạn bè

Vì vậy, tiêu dùng bền vững là chìa khóa cho phép xã hội và cá nhân phát triển mà không nhất thiết phải hy sinh chất lượng cuộc sống hoặc các yếu tố phát triển bền vững

Thông thường, tiêu dùng bền vững hay được hiểu nhầm là công cụ nhằm vào việc giảm tiêu thụ quá mức ở các nước phát triển Mục đích thật sự của tiêu dùng bền vững là để phát triển các cơ hội tiêu dùng cho phép mọi người thỏa mãn được nhu cầu của mình, song không phát sinh những hậu quả tiêu cực với môi trường, xã hội và tài chính Nhu cầu thúc đẩy tiêu dùng bền vững đã rõ rệt từ lâu ở hầu hết các

Trang 21

nước phát triển Song, các nước đang phát triển với khuynh hướng đi theo con đường của nước phát triển vẫn có cơ hội để tránh nhiều sai lầm liên quan tới tiêu dùng bằng cách giải quyết các vấn đề tiêu dùng của họ ngay từ bây giờ

Chẳng hạn ở châu Á, dân số đông và tăng nhanh Quỹ dân số Liên Hiệp Quốc UNFPA dự tính dân số thế giới sẽ tăng 41% khoảng 8,9 tỷ người vào năm

2050, phần lớn sự gia tăng này diễn ra ở các nước đang phát triển ở châu Á Nền kinh tế châu Á cũng tăng trưởng nhanh, nhiều thị trường mở cửa chịu ảnh hưởng do buôn bán quốc tế, tỷ lệ đô thị hóa tăng cùng với tuổi thọ của người dân cũng tăng Vùng châu Á – Thái Bình Dương là nơi có 684 triệu người tiêu dùng có thu nhập trung bình trên 7000USD/đầu người Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc và Indonexia chiếm 63% nhóm người tiêu dùng này trong vùng và 25% toàn thế giới Ngày nay, chỉ 25% dân số trong khu vực được xếp vào loại mức thu nhập trung bình cá nhân cao đó[12] Như vậy, hình thái sẽ là con số này tăng nếu kinh tế tiếp tục tăng trưởng Đồng thời ở các nước phát triển vốn có mức tiêu thụ tính theo đầu người cao quá mức, đã xuất hiện yêu cầu giảm mức tiêu thụ đó xuống, đạt độ bền vững hơn

Như vậy, tiêu dùng bền vững gắn liền với các nước phát triển lẫn các nước đang phát triển, tuy họ tiếp cận vấn đề từ những hướng khác nhau Vì vậy nhu cầu đạt đến sự tiêu dùng bền vững có tầm quan trọng với tất cả các nước, mọi người dân, cả giàu lẫn nghèo

1.1.1.3 Các chính sách nhằm thực hiện phát triển bền vững ở Việt Nam

Để thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam, hàng loạt chính sách đã được ban hành trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi trường và thực hiện các cam kết quốc tế về PTBV mà Việt Nam đã ký kết

Quan điểm “Phát triển bền vững” đã được tái khẳng định trong các văn kiện của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam và trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 là: “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo

vệ môi trường” và “Phát triển kinh tế - xã hội gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môi trường, bảo đảm sự hài hòa giữa môi trường nhân tạo với môi trường thiên nhiên,

Trang 22

giữ gìn đa dạng sinh học” Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 cũng đã nhấn mạnh “Phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững, phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong Chiến lược” Phát triển bền vững đã trở thành đường lối, quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước Trong giai đoạn vừa qua, Việt Nam đã ký những công ước quốc tế có liên quan tới phát triển bền vững như Nghị định thư Montreal về các chất phá hủy tầng ô - zôn; Công ước Vienna về Bảo vệ tầng ô - zôn; Công ước của LHQ về Luật Biển; Công ước khung của LHQ

về Biến đổi khí hậu; Công ước Đa dạng sinh học (1994); Cam kết thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ [10]

Mục tiêu tổng quát của Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam là “Đạt được sự đầy đủ về vật chất, sự giàu có về tinh thần và văn hóa, sự bình đẳng của các công dân và sự đồng thuận của xã hội, sự hài hòa giữa con người và tự nhiên; phát triển phải kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa được ba mặt là phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường”

1.1.2 Tiêu dùng xanh

1.1.2.1 Khái niệm tiêu dùng xanh

Tiêu dùng xanh có thể được định nghĩa là việc mua, sử dụng và tuyên truyền các sản phẩm thân thiện với môi trường mà không gây nguy cơ cho sức khỏe con người và không đe dọa các chức năng hay sự đa dạng của các hệ sinh thái tự nhiên Tiêu dùng xanh xuất phát từ mong muốn bảo vệ các nguồn tài nguyên cho các thế

hệ tương lai và nâng cao chất lượng sống của con người Hiện nay, người tiêu dùng trên thế giới đang dần dần hướng tới các sản phẩm xanh, thân thiện với môi trường

và coi đó như một tiêu chuẩn cho các sản phẩm và dịch vụ chất lượng cao Người tiêu dùng sẵn lòng trả giá cao hơn cho những hàng hóa được gắn nhãn mác đạt tiêu chuẩn sản xuất bền vững Xuất phát từ sự gia tăng mối quan tâm đối với các sản phẩm xanh trên toàn cầu, nhiều công ty đã bắt đầu sản xuất các sản phẩm xanh thân thiện với môi trường và thể hiện nỗ lực bảo vệ môi trường Chính phủ các nước cũng đang nỗ lực đưa ra nhiều chính sách để thúc đẩy tiêu dùng xanh Hầu hết các quốc gia đang phát triển ở châu Á đã xây dựng các bộ luật bảo vệ môi trường Số

Trang 23

lượng người sẵn sàng trả nhiều tiền hơn cho các sản phẩm sinh thái thân thiện gần đây cho thấy thị trường của các sản phẩm thân thiện môi trường đang mở rộng Khái niệm tiêu dùng xanh đầu tiên xuất hiện vào những năm 1970 ở Hoa Kỳ Tiêu dùng xanh xuất hiện trong học thuật tiếp thị thông qua các tài liệu đã được đề cập đến như của Fisk (1974); Harper & Row, Henion và Kinnear (1976); Kardash

WJ (1976)… Ban đầu, các nghiên cứu tập trung vào việc sử dụng năng lượng và các vấn đề ô nhiễm có liên quan đến một phạm vi hẹp trong các ngành công nghiệp, tập trung chủ yếu vào việc tái chế và tiết kiệm năng lượng, cũng như phản ứng của người tiêu dùng trong quảng cáo và thông tin sản phẩm.Trong những năm 1980, sự quan tâm của người tiêu dùng đối với môi trường đã được chứng minh bởi cơ sở dữ liệu nghiên cứu theo thời gian, sự thành công với hướng dẫn cho người tiêu dùng xanh và sự tẩy chay của người tiêu dùng toàn cầu khi sử dụng các hợp chất Chlorofluorocarbon (CFC) gây thủng tầng ozone.[5]

Tuy nhiên, tiêu dùng xanh là một khái niệm chưa rõ ràng vì chứa đựng các nghịch lý trong định nghĩa Màu xanh lá cây có nghĩa bảo tồn các nguồn tài nguyên môi trường, trong khi tiêu thụ thường liên quan đến sự hủy diệt tài nguyên và môi trường Tiêu dùng xanh cũng là một ý tưởng được tranh luận, được đánh giá cao các bối cảnh phụ thuộc vào một chuỗi hành động cũng như sự phức tạp và đa diện trong

lý thuyết và thực hành Tiêu dùng xanh chồng lên các khái niệm khác, chẳng hạn như tiêu thụ đạo đức, bền vững hoặc chịu trách nhiệm dẫn đến sự thiếu nhất quán và

rõ ràng trong quan niệm về tiêu dùng xanh trong các tài liệu nghiên cứu Màu xanh

lá cây có thể được giả định là chỉ liên quan đến các vấn đề môi trường, nhưng đây cũng là sự đan xen tinh tế với các mặt xã hội và kinh tế phát triển bền vững Ví dụ như mua thực phẩm hữu cơ có thể được giả định để đại diện cho tiêu dùng xanh thúc đẩy cho lối sống sinh thái, nhưng người tiêu dùng cũng cảm nhận thực phẩm hữu cơ có lợi ích sức khỏe cho cá nhân đồng thời cung cấp hương vị ngon hơn.[5]

Như vậy, tiêu dùng xanh được hiểu là một phần của tiêu dùng bền vững Tiêu dùng xanh là những hành động mua hàng, sử dụng, thải loại trong đó người tiêu dùng cân nhắc trách nhiệm của bản thân đối với xã hội và môi trường bằng

Trang 24

cách giảm thiểu tối đa tác động lên môi trường, đồng thời vẫn đáp ứng các nhu cầu

và mong muốn cá nhân, bảo đảm chất lượng cuộc sống trong hoạt động sống - ăn uống – làm việc hàng ngày (Getgreen, 2012)

Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về hành vi tiêu dùng xanh Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng khái niệm của Nguyễn Hữu Thụ (2014): “Hành

vi tiêu dùng xanh là các hành động tìm kiếm, mua và sử dụng các sản phẩm, dịch vụ của cá nhân, nhóm với mục đích giảm thiểu các chất thải gây ô nhiễm môi trường, bảo đảm an toàn cho sức khỏe cộng đồng được thể hiện qua nhận thức, thái độ và hành động của họ” Điều này có nghĩa là tiêu dùng xanh bao gồm cả mua sắm lẫn tiêu thụ sản phẩm theo hướng thân thiện với môi trường

1.1.2.2 Ý định và hành vi tiêu dùng xanh

Ý định tiêu dùng: Ý định tiêu dùng phản ánh niềm tin của người tiêu dùng liên quan đến chuỗi hành vi tiêu dùng (Ajzen và Fishbein, 1980) Theo Ajzen (1985), nó được mô tả như là một động lực cá nhân trong nhận thức kế hoạch/quyết định của người tiêu dùng để phát huy nỗ lực trong việc thực hiện một hành vi cụ thể Theo Ajzen (2002), ý định hành vi được giả định là tiền đề trung gian của hành vi Ý định hành vi ngụ ý sự sẵn sàng của một cá nhân để thực hiện một hành vi cho trước.[7]

Hành vi tiêu dùng xanh: Có nhiều khái niệm về hành vi tiêu dùng xanh, cơ bản được phát triển dựa trên khái niệm hành vi tiêu dùng và khái niệm sản phẩm xanh Tổng kết lại thì hành vi tiêu dùng xanh là một chuỗi các hành vi; bao gồm: mua sản phẩm xanh, sử dụng xanh (chẳng hạn như tiết kiệm, tái sử dụng, tái chế, sử dụng bao bì xanh và xử lý rác thải).[8]

Trang 25

tiên thành lập chương trình gắn nhãn sinh thái cho các sản phẩm Đến nay, trong hệ thống chứng nhận sản phẩm xanh ở Trung Quốc đã có hàng chục chủng loại, như thực phẩm, đồ uống, hàng dệt may, vật liệu xây dựng, đồ gia dụng, đèn chiếu sáng,

ô tô và nhiều mặt hàng khác Đến năm 2005, Chính phủ đã tiến hành cải cách các chương trình ghi nhãn sinh thái, cải thiện phần nào tình hình tiêu dùng xanh ở quốc gia này, như chương trình “China Energy Label”

Chính phủ Trung Quốc đã thúc đẩy các công nghệ tiết kiệm năng lượng trong các ngành công nghiệp khai thác mỏ và xây dựng, trợ giá cho các sản phẩm chiếu sáng tiết kiệm năng lượng và các loại xe Chính phủ cung cấp mức thuế suất ưu đãi 7,5% cho việc mua bán các loại xe có động cơ dưới 1,6L Tháng 6/2009, Trung Quốc bắt đầu thực hiện dự án “Sản phẩm năng lượng hiệu quả có lợi cho cộng đồng” để quảng bá sản phẩm năng lượng hiệu quả, bao gồm điều hòa không khí, tủ lạnh, tivi màn hình phẳng, máy giặt, đèn điện và các loại xe tiết kiệm năng lượng Tính đến cuối năm 2010, Chính phủ đã chi hơn 16 tỷ nhân dân tệ để thúc đẩy hơn

340 triệu máy điều hòa không khí tiết kiệm năng lượng, 1 triệu xe tiết kiệm năng lượng và 360 triệu bóng đèn tiết kiệm năng lượng Kết quả là hàng năm, Trung Quốc tiết kiệm được 22,5 tỷ kwh điện, 300.000 tấn dầu và giảm thiểu 14 triệu tấn khí thải CO2

Trung Quốc cũng đã cố gắng để giảm lãng phí về mặt đóng gói sản phẩm Các yêu cầu đề xuất nhằm giảm thiểu lượng chất thải phát sinh bằng cách buộc các nhà sản xuất cắt giảm vật liệu đóng gói, trừng phạt không tuân thủ lên đến 50.000 nhân dân tệ (7,323 đô la Mỹ) Thêm nữa, Trung Quốc đã cấm sử dụng túi nhựa mỏng trong tất cả các cửa hàng bán lẻ trong tháng 6/2008, khuyến khích người tiêu dùng chuyển sang mua sắm túi tái sử dụng Theo ước tính của Ủy ban Cải cách và Phát triển Quốc gia Trung Quốc (NDRC), tháng 6/2009, lệnh cấm đã giảm 2/3 lượng sử dụng túi nhựa và có thể tiết kiệm 2,4 triệu tấn dầu mỗi năm.[3]

Nhật Bản

Tại châu Á, Nhật Bản là một trong những quốc gia đi đầu trong phong trào bảo vệ môi trường nói chung và tiêu dùng xanh nói riêng Các quy định liên quan

Trang 26

tới chương trình phát triển xanh lần đầu tiên được Chính phủ Nhật ban hành năm 1990; đến năm 2001, Chính phủ thông qua luật thúc đẩy mua sắm xanh, Nhật Bản trở thành quốc gia đầu tiên ban hành chính sách về mua sắm xanh Chính sách này yêu cầu tất cả các Bộ và cơ quan Chính phủ phải thực hiện chính sách mua sắm xanh Về luật mua sắm xanh công cộng, mục đích là để thúc đẩy việc mua các sản phẩm và dịch vụ xanh trong khu vực công ở cả cấp trung ương và địa phương Những thông tin về sản phẩm và dịch vụ xanh cung cấp cho khách hàng cũng được tăng cường thông qua bộ luật này Với việc mua sắm xanh, chính quyền trung ương xác định và công bố một chính sách mua sắm với các chỉ tiêu trên những loại sản phẩm và dịch vụ mỗi năm Nhật Bản cũng đã có các chính sách về tái chế bao bì và vật liệu đóng gói Năm 1995, bộ luật Tái sử dụng bao bì “Containers/Packaging Recycling Act” được thông qua nhằm thúc đẩy tái chế các loại thùng chứa và bao bì đóng gói sản phẩm, bao gồm khoảng 60% khối lượng chất thải trong các hộ gia đình ở Nhật Bản Theo bộ luật này, người tiêu dùng cần phân loại các vật liệu, sau

đó cơ quan chức năng thành phố sẽ thu thập và giao lại cho các công ty được chỉ định để thực hiện tái chế

Tháng 2/1996, Mạng lưới tiêu dùng xanh (Green Purchasing Network) được thành lập bởi Bộ Môi trường, mục đích nhằm thúc đẩy mua sắm xanh ở Nhật Bản thông qua việc cung cấp thông tin và hướng dẫn trong việc thực hành mua sắm xanh Tính đến nay, mạng lưới đã đưa ra rất nhiều hoạt động như: hội thảo, triển lãm xanh, giải thưởng “Mua sắm xanh”, dữ liệu thông tin sản phẩm… và đạt được những thành công nhất định Kết quả là, tất cả các cơ quan chính phủ trung ương đều thực hiện mua sắm xanh, 100% các cơ quan chính quyền ở 47 tỉnh và 12 thành phố được chỉ định mua sắm xanh Theo một cuộc khảo sát năm 2003, 52% trong số

722 nhà cung cấp xác nhận doanh số bán hàng sản phẩm xanh đã gia tăng trong những năm qua, quy mô thị trường trong nước của các sản phẩm xanh ước tính lên tới 50 nghìn tỷ yên, sự quan tâm của khách hàng tới sản phẩm xanh cũng tăng lên đáng kể.[3]

Trang 27

Hàn Quốc

Hàn Quốc là quốc gia thực hiện và áp dụng các chính sách về mua sắm xanh

từ rất sớm Điểm khởi đầu chính thức của chính sách về sản phẩm xanh tại Hàn Quốc là chương trình dán nhãn môi trường được triển khai từ năm 1992 Ngoài ra, Chính phủ đã có các nghiên cứu nhằm liên kết hệ thống dán nhãn môi trường với hệ thống mua sắm công cộng và đạt được những kết quả rõ rệt Không chỉ vậy, Chính phủ luôn coi các nhà sản xuất là những nhà tiêu dùng lớn Chính phủ đã thông qua các hợp đồng tự nguyện về mua sắm xanh, gắn kết việc mua các nguyên liệu xanh, góp phần thúc đẩy quá trình sản xuất và bán ra các sản phẩm thân thiện môi trường Tổng khối lượng mua sắm xanh của tất cả các tổ chức công cộng ở Hàn Quốc đạt khoảng 2 tỷ đô la Mỹ vào năm 2013, tăng 2,6 lần so với năm 2005

Ngay từ năm 2005, bộ luật khuyến khích mua các sản phẩm và dịch vụ xanh

đã được Bộ Môi trường thông qua, mục đích nhằm nuôi dưỡng thị trường sản phẩm xanh bằng cách kích thích nhu cầu tiêu dùng đối với sản phẩm xanh cũng như tạo thuận lợi trong việc tiếp cận sản phẩm xanh của người tiêu dùng Bộ luật được xem

là cơ sở để thực hiện thu mua xanh, tình nguyện trong việc thực hiện kinh doanh xanh Ngoài ra, cứ 5 năm, Bộ Môi trường được ủy thác thiết lập các kế hoạch hành động nhằm thúc đẩy mua sắm xanh Kế hoạch hành động được xây dựng với sự tham vấn của các tổ chức công cộng có liên quan để đưa ra mục tiêu và chiến lược trung hạn cho việc quảng bá các sản phẩm xanh

Chính phủ Hàn Quốc cũng đã hợp tác với các công ty thẻ tín dụng để đưa ra một hệ thống khuyến khích những người có ý thức tiêu dùng xanh: Thẻ tín dụng xanh (The Green Credit Card) Thẻ tín dụng xanh là một phương tiện để tích lũy và

sử dụng điểm sinh thái khi khách hàng chi tiêu trong cuộc sống hàng ngày, hiện đã thu hút hơn 9 triệu người sử dụng Ngoài ra, Chính phủ cho rằng nhãn sinh thái là một cách hiệu quả giúp người tiêu dùng nhận biết sản phẩm xanh, vì vậy các chính sách ghi nhãn sinh thái được ban hành khá sớm (1990), mục đích nhằm cung cấp thông tin đáng tin cậy cho người tiêu dùng Hiện nay, nhằm tăng cường thông tin về

độ thân thiện với môi trường của sản phẩm cho khách hàng, nhiều chính sách khác

Trang 28

đã được thi hành như: Dán nhãn sinh thái, Gắn nhãn “dấu chân Carbon” (Carbon Footprint), Chứng nhận công trình xanh, Chứng nhận cửa hàng xanh…

Cùng với các chính sách trên, Chính phủ đang nỗ lực giúp người tiêu dùng nói chung hiểu rõ hơn các khái niệm về cuộc sống xanh và quảng bá sản phẩm xanh bằng cách nâng cao nhận thức cộng đồng Hiện nay, 4 “Trung tâm cộng tác tiêu dùng xanh” đã được thiết lập, cung cấp các dịch vụ giáo dục về tiêu dùng xanh cho người tiêu dùng.[3]

Hoa Kỳ

Mua sắm xanh ở Hoa Kỳ được thiết lập và triển khai thực hiện trong một số chương trình mua sắm xanh của Liên bang, trong đó các cơ quan điều hành được yêu cầu cân nhắc các tác động môi trường, giá thành và các yếu tố khác của một sản phẩm trước khi đưa ra quyết định mua sắm Theo quy định mua sắm Liên bang và Sắc lệnh 13101 về xanh hóa chính phủ, tất cả các cơ quan chính phủ phải thực hiện mua sắm các sản phẩm có thành phần tái chế nhằm khuyến khích việc sử dụng các vật liệu tái sinh

Theo thống kê của cơ quan Cone Communications năm 2013, ở Hoa Kỳ có 71% người tiêu dùng quan tâm tới môi trường khi họ mua sắm, trong đó 7% quan tâm đến môi trường trong mọi lần mua sắm, 20% thường xuyên quan tâm đến môi trường và 44% quan tâm đến môi trường

Tại Hoa Kỳ, luật chính sách năng lượng năm 2005 tạo ra các ưu đãi để khuyến khích việc mua xe phát thải thấp Theo đó, các ưu đãi về thuế đã thu hút khách hàng quan tâm tới các loại phương tiện có giá cao hơn nhưng thân thiện hơn với môi trường Các khoản thuế tín dụng đã được đưa ra để giảm giá lên đến 3.400 đô la Mỹ cho xe hybrid (xe lai) và 4.000 đô la Mỹ cho xe ô tô năng lượng thay thế Ưu đãi về thuế có thể thay đổi dựa vào mức độ vận hành “xanh” của các loại xe Ví dụ, Tesla Roadster, một loại xe chạy hoàn toàn bằng điện sẽ nhận được một khoản thuế tín dụng lớn hơn nhiều so với việc mua một chiếc xe hybrid tiêu chuẩn, vì xe hybrid sẽ gây ô nhiễm nhiều hơn trong thời gian vận hành Ngoài ra, Chính phủ cũng đưa ra

Trang 29

các chính sách khuyến khích người tiêu dùng sử dụng những loại xe tiết kiệm năng lượng

Rainforest Alliance - một tổ chức phi lợi nhuận tại Hoa Kỳ đang gây ảnh hưởng tới sự lựa chọn của người tiêu dùng bằng cách ghi nhãn sản phẩm (và hoạt động) bền vững về hoạt động lâm nghiệp và khai thác gỗ, bảo tồn đa dạng sinh học

và đảm bảo sinh kế bền vững Tổ chức này cũng làm việc với các doanh nghiệp du lịch để giảm thiểu những tác động bất lợi của họ đến sinh thái và xã hội Rainforest Alliance chứng nhận sản phẩm nông nghiệp bao gồm cà phê, sô cô la, chuối, nước cam, các loại hạt và hàng trăm mặt hàng khác đến từ các trang trại thuộc các rừng nhiệt đới được bảo tồn.[3]

Các nước Liên minh châu Âu (EU)

Tại EU, Ủy ban Châu Âu đã có nhiều nỗ lực và hoạt động nhằm thúc đẩy việc thực hiện mua sắm công xanh (Green Public Procurement - GPP) trong các nước thành viên, bao gồm việc triển khai các nghiên cứu/dự án, ban hành các chính sách

và xây dựng các tiêu chuẩn Mặc dù GPP vẫn là hệ thống tự nguyện, tuy nhiên hiện nay nhiều nước thành viên đã và đang xây dựng kế hoạch hành động quốc gia và các hướng dẫn về mua sắm xanh

Tháng 7/2008, kế hoạch hành động của EU về tiêu thụ bền vững (trong đó bao gồm nội dung tiêu dùng xanh) và sản xuất (SCP), chính sách công nghiệp bền vững (SIP) được triển khai như là một nỗ lực để phát triển một chương trình, chính sách bảo trợ đặc biệt tập trung vào tiêu thụ bền vững Trong kế hoạch SCP, Ủy ban

EU khởi xướng các công cụ như gắn nhãn sinh thái, hiệu quả năng lượng EU với mục đích thông báo cho người tiêu dùng về các tác động môi trường của sản phẩm nhằm nâng cao nhận thức của người tiêu dùng Các sáng kiến khác của EU gồm có Diễn đàn bán lẻ và Bàn tròn thực phẩm châu Âu được thiết lập nhằm trao đổi cách thức thực hiện để đạt được sự bền vững trong lĩnh vực bán lẻ thực phẩm ở châu Âu Sau khi gặp phải một số rào cản trong việc quảng bá sản phẩm xanh ở các nước thành viên về phương diện phương pháp và cách thức áp dụng để chứng minh

về các tiêu chí xanh của sản phẩm, các nước Liên minh châu Âu đã đưa ra dự án

Trang 30

“Thị trường độc nhất cho sản phẩm xanh” (Single Market for Green Products) Dự

án này bao gồm một chuỗi các hoạt động: Dự án thiết lập 2 phương pháp để đo lường hiệu suất môi trường trong suốt vòng đời sản phẩm PEF (Product Environmental Footprint) và OEF (Organisation Environmental Footprint) Bên cạnh đó, dự án đưa ra các chỉ tiêu khi báo cáo hiệu quả hoạt động đối với môi trường, chẳng hạn như sự minh bạch, rõ ràng, có thể tin cậy và so sánh… Thêm nữa, sự hợp tác trong phương pháp phát triển giữa các nước trong khu vực cũng được hỗ trợ

Năm 1980, cuốn sách đầu tiên The Green Consumer Guide (Hướng dẫn tiêu dùng xanh) đã được xuất bản ở Anh với ý tưởng chủ đạo là trong xã hội hiện đại,

“mua sắm bản thân nó cũng là một thú vui”.[3]

 Tiêu dùng xanh tại Việt Nam

Việt Nam đang đứng trước thực trạng là tăng trưởng kinh tế gắn liền với sự sụt giảm mạnh về tài nguyên thiên nhiên và gia tăng ô nhiễm môi trường Tiêu dùng xanh được Chính phủ đề cập lần đầu tiên trong Chiến lược về tăng trưởng xanh vào tháng 9/2012 Chiến lược này xác định ba mục tiêu cụ thể, trong đó mục tiêu thứ ba

là nâng cao đời sống của nhân dân, xây dựng lối sống thân thiện với môi trường thông qua tạo nhiều việc làm từ các ngành công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ xanh, đầu tư vào vốn tự nhiên, phát triển hạ tầng xanh Để đạt được các mục tiêu của chiến lược, một trong ba nhiệm vụ quan trọng cần phải thực hiện gồm có xanh hóa lối sống và thúc đẩy tiêu dùng bền vững Ngoài ra, Việt Nam cũng đang xây dựng chương trình phát triển sản phẩm xanh tầm nhìn đến năm 2020.[1]

Tăng trưởng xanh là một nội dung của Chiến lược phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 nhằm đảm bảo phát triển kinh tế theo hướng hiệu quả

và bền vững, đồng thời góp phần giảm nhẹ và phòng chống tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH) trong giai đoạn hiện nay Việt Nam hiện đang xây dựng Chiến lược Tăng trưởng xanh nhằm thúc đẩy quá trình tái cơ cấu nền kinh tế, tiến tới việc

sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, giảm cường độ phát thải khí nhà kính thông qua nghiên cứu và áp dụng công nghệ xanh, hiện đại phù hợp, phát triển hệ

Trang 31

thống cơ sở hạ tầng để nâng cao hiệu quả nền kinh tế, ứng phó với BĐKH, góp phần xóa đói giảm nghèo và tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế một cách bền vững

Chiến lược Tăng trưởng xanh của Việt Nam được xây dựng trên quan điểm sau:

● Tăng trưởng xanh phải do con người và vì con người, phát triển hài hòa đời sống xã hội với môi trường tự nhiên, góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của mọi người dân

● Tăng trưởng xanh phải dựa trên việc tăng cường đầu tư vào bảo tồn, phát triển và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn tự nhiên, giảm phát thải khí nhà kính, cải thiện nâng cao chất lượng môi trường, qua đó kích thích tăng trưởng kinh tế

● Tăng trưởng xanh phải dựa trên cơ sở khoa học và công nghệ xanh, hiện đại phù hợp, nguồn nhân lực chất lượng cao, kết hợp giữa nội lực với mở rộng hợp tác quốc tế

● Tăng trưởng xanh là sự nghiệp của toàn Đảng, các cấp chính quyền, các

Bộ, ngành và địa phương; của các cơ quan, doanh nghiệp, đoàn thể xã hội, các cộng đồng dân cư và mọi người dân

Mục tiêu tổng quát của Chiến lược tăng trưởng xanh là tiến tới nền kinh tế các-bon thấp, xu hướng chủ đạo trong phát triển kinh tế bền vững; giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tăng khả năng hấp thụ khí nhà kính

Mục tiêu cụ thể của Chiến lược Tăng trưởng xanh là thay đổi mô hình tăng trưởng kinh tế theo hướng tận dụng lợi thế so sánh, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, cụ thể là:

● Tái cấu trúc và hoàn thiện thể chế theo hướng khuyến khích các ngành kinh

tế sử dụng hiệu quả năng lượng và tài nguyên thiên nhiên với giá trị gia tăng cao, hạn chế những ngành sử dụng lãng phí tài nguyên thiên nhiên, gây ô nhiễm môi trường và mất cân bằng sinh thái;

Trang 32

● Nghiên cứu, ứng dụng ngày càng rộng rãi công nghệ tiên tiến, phù hợp nhằm sử dụng hiệu quả hơn tài nguyên thiên nhiên, giảm cường độ phát thải khí nhà kính, góp phần ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu;

● Nâng cao đời sống nhân dân thông qua tạo thêm việc làm từ các ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ xanh và cải thiện chất lượng cuộc sống thông qua việc xây dựng hạ tầng xanh, lối sống thân thiện với môi trường

Những định hướng nhiệm vụ thực hiện tăng trưởng xanh ở Việt Nam:

Để đạt được mục tiêu như trên, các hoạt động tăng trưởng xanh trong thời gian sắp tới sẽ tập trung vào 3 nhiệm vụ chiến lược sau:

Xanh hóa sản xuất thông qua các giải pháp chính:

● Xanh hóa sản xuất thông qua quy hoạch, tái cơ cấu nền kinh tế, đặc biệt hạn chế phát triển những ngành kinh tế phát sinh chất thải lớn, gây ô nhiễm, suy thoái môi trường;

● Sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên nước, tài nguyên đất và tài nguyên khoáng sản;

● Thúc đẩy các ngành kinh tế xanh phát triển nhanh để làm giàu thêm nguồn vốn tự nhiên của đất nước, tạo thêm việc làm và cải thiện chất lượng cuộc sống của nhân dân;

● Phát triển kết cấu hạ tầng bền vững;

● Đổi mới công nghệ, áp dụng phổ biến sản xuất sạch hơn

Giảm cường độ phát thải khí nhà kính trên đơn vị GDP và tăng tỷ lệ sử dụng năng lượng tái tạo thông qua thực hiện những giải pháp chính sau:

● Cải thiện hiệu suất và hiệu quả sử dụng năng lượng, giảm mức tiêu hao năng lượng trong hoạt động sản xuất, vận tải, thương mại;

● Thay đổi cơ cấu sử dụng nhiên liệu trong các ngành công nghiệp và giao thông vận tải;

● Đẩy mạnh khai thác có hiệu quả các nguồn năng lượng tái tạo và năng lượng mới nhằm từng bước gia tăng tỷ trọng của các nguồn năng lượng sạch này trong sản xuất và tiêu thụ năng lượng của quốc gia, giảm dần sự phụ thuộc vào nguồn năng

Trang 33

lượng hóa thạch, tăng cường an ninh năng lượng, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững;

● Giảm phát thải khí nhà kính thông qua phát triển nông nghiệp hữu cơ bền vững, nâng cao tính cạnh tranh của sản xuất nông nghiệp

Xanh hóa lối sống và tiêu dùng bền vữngthông qua triển khai những giải pháp chính sau:

● Đô thị hóa bền vững: Để nâng cao khả năng cạnh tranh, phát triển hài hòa, nâng cao chất lượng sống cho người dân, quy hoạch phát triển đô thị và quản lý quy hoạch cần đạt được các tiêu chí về hiệu quả sinh thái và bảo đảm xã hội để:

+ Đô thị là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế xanh và cạnh tranh;

+ Tăng cơ hội việc làm;

+ Giảm nghèo;

+ Cải thiện chất lượng sống;

+ Tăng cường an ninh năng lượng;

+ Cải thiện môi trường; và

+ Tránh được các chi phí và rủi ro tương lai

● Xây dựng nông thôn mới với lối sống hòa hợp với môi trường: Thực hiện các nội dung của Chương trình mục tiêu quốc gia Xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 và trong những năm tiếp theo, kết hợp tăng trưởng kinh tế với bảo

vệ môi trường, phát triển giáo dục, y tế, văn hóa và thúc đẩy tiến bộ và công bằng

xã hội nhằm đảm bảo phát triển nông thôn bền vững

● Thúc đẩy tiêu dùng bền vững và xây dựng lối sống xanh: Thay đổi mô hình

và hành vi tiêu dùng theo hướng bền vững của cả ba khu vực tiêu dùng trong xã hội, bao gồm: khu vực nhà nước, khu vực doanh nghiệp và khu vực dân cư

Việt Nam cũng đang triển khai một số hoạt động liên quan đến sản xuất và tiêu dùng bền vững, trong đó tiêu dùng xanh đã bắt đầu được nhắc đến nhiều hơn Nhiều văn bản liên quan đã được ký kết như: Tuyên ngôn quốc tế và Kế hoạch hành động quốc gia về sản xuất và tiêu dùng bền vững (1999), các văn bản pháp luật liên quan đến bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; Luật sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu

Trang 34

quả Các hoạt động sản xuất và tiêu dùng bền vững cũng được triển khai tại Việt Nam trong hơn l0 năm qua Các chương trình liên quan đến sản phẩm xanh như chương trình cấp Nhãn sinh thái (Bộ Tài nguyên và Môi trường), Nhãn tiết kiệm năng lượng (Bộ Công Thương), Nhãn sinh thái cho ngành du lịch cũng được triển khai

Để khách hàng có thể hiểu rõ hơn và thực hiện hành vi tiêu dùng xanh, việc đẩy mạnh hoạt động kích cầu tiêu dùng xanh là hết sức quan trọng Năm 2010, Saigon Co.op (Liên hiệp Hợp tác xã Thương mại Thành phố Hồ Chí Minh) trở thành đơn vị bán lẻ tiên phong tham gia thực hiện chiến dịch “Tiêu dùng xanh”, với mong muốn đóng góp nhiều hơn cho lợi ích cộng đồng thông qua vai trò là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực phân phối Nhìn chung, dù bắt nhịp khá chậm nhưng cho đến nay, xu hướng tiêu dùng xanh đang lan tỏa và nhận được sự hưởng ứng khá tích cực từ phía người dân và các nhà sản xuất với dự án “Tôi yêu sản phẩm xanh và khu phố xanh”

1.1.3 Sản phẩm thân thiện môi trường

1.1.3.1 Khái niệm

Trước khi đi vào khái niệm sản phẩm thân thiện với môi trường, chúng ta cùng tìm hiều về sản phẩm liên quan đến môi trường, hay còn gọi là những sản phẩm nhạy cảm với môi trường (environment sensitive commodities) là những sản phẩm mà quá trình sản xuất, tiêu dùng và thải bỏ chúng có khả năng gây ra ô nhiễm môi trường, làm suy kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên hoặc gây tác hại tới sức khỏe của con người, động thực vật… và đòi hỏi tương đối nhiều nguồn lực nhằm xử lý các tác hại đó

Đánh giá mức độ liên quan của một sản phẩm đối với môi trường hay nhận biết một sản phẩm liên quan đến môi trường thường được xác định theo các tiêu chí:

 Độ nguy hại của chất thải đi kèm hoặc tồn tại trong sản phẩm

 Ảnh hưởng tiêu cực của sản phẩm hoặc quá trình sử dụng sản phẩm tới môi trường không khí

Trang 35

 Ảnh hưởng tiêu cực của sản phẩm tới đa dạng sinh học và cân bằng sinh thái

 Quy trình sản xuất sản phẩm có tác động tiêu cực tới môi trường

Cùng với khái niệm các sản phẩm nhạy cảm đối với môi trường, trong thương mại quốc tế hiện nay cũng bắt đầu xuất hiện một thuật ngữ khác là “Sản phẩm thân thiện với môi trường” Đây là nhóm sản phẩm mà quá trình sản xuất, tiêu thụ và thải

bỏ không ảnh hưởng tiêu cực đối với môi trường (hoặc nếu có thì cũng nhẹ hơn so với tác động tới môi trường của các sản phẩm tương tự cùng loại) Xét trong chừng mực nào đó, các sản phẩm thân thiện với môi trường đôi khi còn có ảnh hưởng tích cực tới môi trường Ví dụ, các nông sản hữu cơ tạo điều kiện khôi phục lại cân bằng sinh thái, hoặc khi phân hủy chúng giúp đảm bảo khả năng tái tạo độ mùn của đất, các sản phẩm và dịch vụ khắc phục sự cố môi trường, các công nghệ sạch

Cho đến nay chưa có sản phẩm nào được coi là thân thiện với môi trường một cách tuyệt đối mà chỉ tồn tại những sản phẩm thân thiện với môi trường một cách tương đối Một sản phẩm chỉ được coi là hoàn toàn thân thiện với môi trường khi và chỉ khi nó đáp ứng được tất cả các tiêu chuẩn về tính thân thiện với môi trường từ giai đoạn sản xuất (bao gồm nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, công nghệ sản xuất) cho tới giai đoạn đưa vào tiêu dùng, sử dụng và cuối cùng là giai đoạn thải bỏ sau khi sử dụng tính chất có thể tái chế được, không gây tổn hại cho môi trường tại bãi rác thải và quá trình vận chuyển lưu kho) Các tiêu chuẩn để đánh giá tính thân thiện rất khác nhau qua từng vùng lãnh thổ, từng khu vực trên thế giới, cho nên khái niệm “Sản phẩm thân thiện với môi trường” luôn luôn chỉ có thể mang tính chất tương đối

1.1.3.2 Ý nghĩa

Các sản phẩm thân thiện với môi trường có ý nghĩa vô cùng to lớn đến môi trường sống của con người (môi trường là không gian sống của con người và các loài sinh vật, nơi cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của con người, nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra trong cuộc sống

và hoạt động sản xuất của mình, nơi giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên

Trang 36

tới con người và sinh vật trên Trái đất, nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người) Việc khai thác quá mức không gian và các dạng tài nguyên thiên nhiên để gia tăng không gian sống cho con người có thể làm cho chất lượng không gian sống mất khả năng tự phục hồi

Trước thế kỷ 21, ít khi người ta để ý đến ảnh hưởng của sản phẩm đến sức khỏe, cuộc sống con người Ngày nay khi nền kinh tế phát triển, con người ngày càng quan tâm đến sức khỏe và đã bước đầu chú trọng đến sản phẩm thân thiện với môi trường Điều đó đòi hỏi các nhà sản xuất và xuất khẩu cần có nhận thức cao hơn về chất lượng hàng hóa, nâng cao năng suất kết hợp với bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường

Sản phẩm sinh thái được thiết kế dựa theo các khái niệm và nguyên tắc về thiết kế sinh thái để có được những tính năng thân thiện với môi trường Các khái niệm về vòng đời và thiết kế kỹ thuật đóng vai trò rất quan trọng trong suốt giai đoạn phát triển của sản phẩm sinh thái Sản phẩm sinh thái có thể được sản xuất từ vật liệu tái chế hoặc nguyên vật liệu sinh khối Thêm vào đó, trong suốt quá trình sản xuất giảm thiểu nguồn năng lượng và nước là đồng hành với ít rác, ít ô nhiễm hơn

Trong quá trình sử dụng, sản phẩm sinh thái có thể giúp tiết kiệm nước, năng lượng, giảm thiểu khí thải, chất thải và những nhu cầu về xử lý chất thải sau đó Sản phẩm sinh thái cũng được thiết kế nhằm bảo đảm khả năng tái chế, tái sử dụng và phục hồi Sản phẩm sinh thái thường đi kèm với nhãn hiệu sinh thái loại I, II, III theo bộ tiêu chuẩn ISO

 ISO 14024 (Nhãn loại I): là nhãn sinh thái được chứng nhận, được cấp cho sản phẩm của nhà sản xuất theo yêu cầu hoặc vì lợi ích của người tiêu dùng bởi Chính phủ hoặc tổ chức độc lập với người sản xuất hoặc người tiêu dùng

 ISO 14021 (Nhãn loại II): là nhãn sinh thái tự công bố, do các nhà sản xuất, nhà nhập khẩu và nhà phân phối đưa ra, dựa trên những chứng cứ và kết quả

Trang 37

tự đánh giá hoặc được đánh giá bởi các bên liên quan khác theo yêu cầu của

họ

 ISO 14025 (Nhãn loại III): là nhãn tự nguyện, là nhãn của các doanh nghiệp sản xuất và cung ứng cho người tiêu dùng theo chương trình tự nguyện của ngành kinh tế và các tổ chức kinh tế đề xuất

Bên cạnh đó, những sản phẩm được đưa vào cơ sở dữ liệu của Mạng lưới thu mua Xanh cũng được coi là sản phẩm sinh thái Sản phẩm sinh thái thường được phân theo nhóm sản phẩm như: thiết bị điện, điện tử gia dụng, thiết bị văn phòng, công nghệ thông tin, phương tiện vận chuyển máy móc, cơ khí, đồ nội thất trang trí, vật liệu và máy móc xây dựng, vật liệu bao bì gói, sản phẩm may mặc, các sản phẩm làng nghề, nông sản thiết bị an ninh an toàn và y tế năng lượng, dịch vụ sinh thái du lịch, các hoạt động nghiên cứu và phát triển về môi trường, công nghệ và thiết bị liên quan đến môi trường

Ngoài ra, sản phẩm sinh thái cũng có vị trí quan trọng trong thương mại quốc tế Việc xóa bỏ các hàng rào thuế quan tự do hóa thương mại làm cho các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải chú trọng đến các yếu tố môi trường Mặc dù sản phẩm sinh thái không mang tính chất bắt buộc nhưng lại hướng đến mục tiêu rộng lớn, đó là thông qua sản phẩm sinh thái sẽ làm biến đổi hành vi của toàn xã hội theo hướng thân thiện với môi trường Khi vấn đề môi trường đang có nguy cơ bị lợi dụng để làm các rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế, nhiều nước đã và đang triển khai chương trình sản phẩm sinh thái, việc cam kết thực hiện chương trình này đã dần trở thành xu hướng của các quốc gia phát triển và đang phát triển

Nhiều thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam, trên thực tế đã yêu cầu phải xét đến vấn đề sinh thái trong sản phẩm nhập khẩu Các sản phẩm sinh thái này cho phép doanh nghiệp đạt được mục tiêu về lợi nhuận và năng suất cao trong khi vẫn bảo vệ môi trường

1.1.4 Sản phẩm xanh

Sản phẩm xanh đang trở nên nổi bật vì nhu cầu của khách hàng với thái độ mới về các giá trị liên quan đến môi trường (Simon 1992) Nếu tìm kiếm một định

Trang 38

nghĩa chính xác cho Sản phẩm xanh thì chưa có một định nghĩa hoàn thiện, đầy đủ

và chính xác Tách rời “sản phẩm” và “xanh” ta được sản phẩm là vật được làm ra

để bán, “xanh” được dùng để chỉ sự liên quan hay quan tâm đến môi trường và thế giới tự nhiên Vậy sản phẩm xanh có thể hiểu nôm na là những sản phẩm được tạo

ra với sự quan tâm đến môi trường Cụ thể hơn, sản phẩm xanh được hiểu là những sản phẩm không gây hại cho môi trường và an toàn cho sức khỏe của người tiêu dùng hơn những sản phẩm truyền thống khác trong suốt quá trình sản xuất, sử dụng

và vứt bỏ Theo định nghĩa của tạp chí Marketing, thông thường, sản phẩm xanh được phát triển qua 3 bước: thiết kế, sản xuất và đóng gói; và phải đảm bảo thực hiện quy tắc 3R (reduce: giảm thiểu nguyên liệu đầu vào, reuse: tái sử dụng, recycle: tái chế)

Nimse và đồng sự định nghĩa sản phẩm xanh là sử dụng các vật liệu tái chế, giảm thiểu tối đa phế thải, giảm sử dụng nước, tiết kiệm năng lượng, tối thiểu bao bì

và ít thải các chất độc hại ra môi trường Điều này có nghĩa là sản phẩm xanh cần đảm bảo: không gây tác hại đến môi trường và bảo vệ sinh thái khi tiêu dùng và bản thân quá trình sản xuất sản phẩm xanh cũng không gây ra những tác hại

Như vậy, xuyên suốt quá trình sản xuất ra sản phẩm xanh phải ưu tiên yếu tố kiệm nguyên liệu và nhiên liệu, không gây ô nhiễm, không gây độc hại cho sức khỏe và có khả năng tái chế, tái sử dụng Theo Thạc sĩ Đỗ Hoàng Oanh, sản phẩm xanh là sản phẩm đáp ứng được bốn yếu tố: (1) sản phẩm được tạo ra từ vật liệu thân thiện với môi trường; (2) Sản phẩm đem đến những giải pháp an toàn cho môi trường và sức khỏe thay cho các sản phẩm truyền thống độc hại; (3) Sản phẩm giảm tác động đến môi trường trong quá trình sử dụng; (4) Sản phẩm tạo ra một môi trường thân thiện và an toàn với sức khỏe.[1]

 Sản phẩm được tạo ra từ các vật liệu thân thiện với môi trường: Nếu sản phẩm chứa các vật liệu tái chế thay vì sử dụng vật liệu mới, thô, nó có thể được xem

là một sản phẩm xanh Ví dụ, một sản phẩm tái chế nhanh như tre hay bần là những sản phẩm thân thiện với môi trường vì là sản phẩm đựơc tạo ra từ vật liệu phế phẩm nông nghiệp như rơm hoặc dầu nông nghiệp

Trang 39

 Sản phẩm đem đến những giải pháp an toàn đến môi trường và sức khoẻ thay cho các sản phẩm phẩm độc hại truyền thống: Ví dụ các vật liệu thay thế chất bảo quản gỗ như creosote, được biết là một hợp chất gây ung thư

 Sản phẩm giảm tác động đến môi trường trong quá trình sử dụng: ít chất thải, sử dụng năng lượng tái sinh, ít chi phí bảo trì Ví dụ như việc sử dụng chai nước thủy tinh thay vì sử dụng chai nhựa để có thể tái sử dụng lại nhiều lần, sử dụng túi nylon tự phân hủy thay vì sử dụng túi nylon thường…

 Sản phẩm tạo ra một môi trường thân thiện và an toàn đối với sức khoẻ: Vật liệu xây dựng xanh là những sản phẩm tạo ra một môi trường an toàn trong nhà bằng cách không phóng thích những chất ô nhiễm quan trọng như sơn có dung môi hữu cơ bay hơi thấp, bám chắc, loại bỏ hoặc ngăn ngừa sự lan truyền chất ô nhiễm như sản phẩm từ sự thông gió hoặc bộ lọc không khí trong máy lạnh và cải thiện chất lượng chiếu sáng

Đã được chứng nhận bởi nhãn xanh Việt Nam

Trang 40

5 Quạt điện Asia Việt Nam Đã được chứng nhận nhãn

xanh Việt Nam

6 Tủ lạnh Samsung, Panasonic, Soya Đã được chứng nhậnnhãn

xanh Việt Nam

8 Bình ắc quy GS,

Bình ắc quy

Yuasa

Công ty TNHH Ắc quy GS Việt Nam

Đã được chứng nhận bởi nhãn xanh Việt Nam

9 Máy nước nóng

năng lượng mặt

trời

SolarBK Đã được chứng nhận bởi

nhãn năng lượng Việt Nam

10 Pin năng lượng

mặt trời

Công ty Cổ phần Năng lượng Redsun

Ngày đăng: 23/10/2018, 22:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm