1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá ảnh hưởng của các cơ sở sản xuất bún đến môi trường và đề xuất giải pháp cải thiện môi trường tại huyện hóc môn, TP hồ chí minh

116 170 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 3,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được vẫn tồn tại những bất cập, đặc biệt là nguy cơ gây ô nhiễm môi trường MT, ảnh hưởng đến sức khỏe người dân từ hoạt động sản xuất của các làng

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HỒ CHÍ MINH

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC CƠ SỞ SẢN XUẤT BÚN ĐẾN MÔI TRƯỜNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CẢI THIỆN MÔI

TRƯỜNG TẠI HUYỆN HÓC MÔN, TP.HỒ CHÍ MINH

Ngành: KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG

Chuyên ngành: KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG

Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS Thái Văn Nam Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Thảo Linh

TP Hồ Chí Minh, 2018

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Kính gửi:

Viện Khoa Hoc Ứng Dụng HUTECH – Đại Học Công Nghệ Tp.HCM

Hội đồng chấm đồ án tốt nghiệp

Em tên là Nguyễn Thị Thảo Linh, sinh viên lớp 14DMT03 – Chuyên Ngành

Kỹ Thuật Môi Trường – Đại Học Công Nghệ Tp.HCM

Em xin cam đoan thực hiện khóa luận dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Thái Văn Nam một cách khoa học, chính xác và trung thực

Các kết quả nghiên cứu trong đồ án hoàn toàn có được từ quá trình điều tra, nghiên cứu chưa từng được công bố trong bắt kì tài liệu khoa học nào

Em xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện đồ án này đã được cảm

ơn và các thông tin trích dẫn trong đồ án đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

TP.HCM, ngày tháng năm 2018

Sinh viên

Nguyễn Thị Thảo Linh

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để đánh giá kết quả học tập và rèn luyện sau 4 năm học tại trường Đại học Công Nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, với mong muốn áp dụng những kiến thức đã tích lũy được khi học tập tại trường vào quá trình nghiên cứu thực tiễn Được sự nhất trí của trường và Viện Khoa Học Ứng Dụng Hutech chuyên ngành Kỹ thuật

môi trường, em đã tiến hành nghiên cứu đề tài đồ án tốt nghiệp “Đánh giá ảnh

hưởng của các cơ sở sản xuất bún đến môi trường và đề xuất giải pháp cải thiện

môi trường tại huyện Hóc Môn, Tp.Hồ Chí Minh” Để thực hiện đồ án tốt nghiệp

này, em đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của các cá nhân, đơn vị

Trước hết, em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trong Viện Khoa Học Ứng Dụng Hutech cùng các quý thầy cô trong trường Đại học Công Nghệ Tp.Hồ Chí Minh, những người đã trang bị cho em rất nhiều kiến thức trong 4 năm học tại trường

Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới thầy PGS.TS Thái Văn Nam, người đã chỉ bảo tận tình, hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè, những người đã ủng

hộ, động viên, giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập của mình Do hạn chế về thời gian cũng như kinh nghiệm của bản thân nên đồ án không tránh khỏi có những thiếu sót Em kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô để bài đồ án tốt nghiệp được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG vii

DANH MỤC HÌNH viii

TÓM TẮT ix

MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Yêu cầu của đề tài 2

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

1.1 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu 4

1.1.1 Các khái niệm liên quan 4

1.2 Tổng quan về làng nghề chế biến nông sản ở Việt Nam 7

1.2.1 Giới thiệu chung về làng nghề chế biến nông sản ở Việt Nam 7

1.2.2 Hiện trạng phát sinh chất thải sản xuất của làng nghề chế biến nông sản thực phẩm và vấn đề môi trường 9

1.2.3 Ảnh hưởng của hoạt động sản xuất chế biến nông sản thực phẩm đến sức khỏe của người dân 15

1.3 Một số giải pháp nhằm giải quyết vấn đề môi trường làng nghề 17

1.3.1 Giải pháp công nghệ 17

1.3.2 Giải pháp quản lý 18

1.4 Tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế _ xã hội huyện Hóc Môn 19

1.4.1 Điều kiện tự nhiên 19

1.4.2 Tài nguyên nước 21

1.4.3 Điều kiện kinh tế _ xã hội 22

1.4.4 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng giao thông 24

1.4.5 Vấn đề môi trường trên địa bàn huyện 25

CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 27

Trang 5

2.2 Nội dung nghiên cứu 27

2.3 Phương pháp nghiên cứu 28

2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 28

2.3.2 Phương pháp phỏng vấn 28

2.3.3 Phương pháp khảo sát thực địa 28

2.3.4 Phương pháp lấy mẫu 28

2.3.5 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu 29

2.3.6 Phương pháp phân tích SWOT 30

2.3.7 Phương pháp tính toán cân bằng vật chất 30

2.3.8 Phương pháp phân tích, đánh giá tổng hợp 31

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 32

3.1 Hiện trạng sản xuất bún tại huyện hóc môn 32

3.1.1 Quy mô sản xuất 32

3.1.2 Quy trình sản xuất 34

3.1.3 Nguyên liệu chủ yếu cung cấp cho các cơ sở sản xuất bún 37

3.1.4 Thông tin chung về các hộ dân được điều tra 39

3.2 Đánh giá môi trường của các cơ sở sản xuất bún tại huyện Hóc Môn 41

3.2.1 Hiện trạng môi trường nước 41

3.2.2 Hiện trạng môi trường không khí 45

3.2.3 Hiện trạng môi trường chất thải rắn 48

3.2.4 Đánh giá ảnh hưởng từ hoạt động sản xuất bún đến sức khỏe của người dân 50

3.2.5 Ý thức bảo vệ môi trường của người dân 52

3.2.6 Tình hình thực hiện các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm của chính quyền địa phương đối với các cơ sở sản xuất bún 55

3.3 Đánh giá hiện trạng quản lý môi trường dựa trên phân tích SWOT 55

3.4 Giải pháp về bảo vệ môi trường cho các cơ sở sản xuất bún 57

3.4.1 Biện pháp khắc phục 57

3.4.2 Công tác quản lý 58

3.4.3 Giải pháp quy hoạch 58

Trang 6

3.4.4 Giáo dục môi trường nâng cao nhận thức cộng đồng 59

3.4.5 Giải pháp về công nghệ 59

3.4.6 Các giải pháp kỹ thuật 61

3.4.7 Áp dụng chế tài kinh tế: Người gây ô nhiễm phải trả tiền 63

3.5 Đề xuất cụm mô hình làng nghề trong tương lai 63

3.5.1 Các yêu cầu đối với mô hình đề xuất 63

3.5.2 Phân tích đầu vào đầu ra và quá trình chuyển hóa, quá trình chế biến của làng nghề 64

3.5.3 Phân tích đầu vào, đầu ra và quá trính chuyển hóa của mô hình xử lý chất thải mô hình cụm 64

3.5.4 Biểu đồ hệ thống năng lượng và vật chất của mô hình 65

3.5.5 Đề xuất mô hình xử lý chất thải theo cụm 68

3.5.6 Thông số kỹ thuật các thành phần đơn vị trong mô hình 68

3.6 Thảo luận 92

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 93

1.Kết luận 93

2.Kiến nghị 94

TÀI LIỆU THAM KHẢO 96

PHỤ LỤC 1

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BOD Biological Oxygen Demand Nhu cầu oxy sinh hóa – thời gian xác

định trong 5 ngày BVMT Bảo vệ môi trường

QCCP Quy chuẩn cho phép

QCVN Quy chuẩn Việt Nam

QLMT Quản lý môi trường

SS Suspended Solids Hàm lượng chất rắn lơ lửng

TKNL Tiết kiệm năng lượng

TN&MT Tài Nguyên và Môi Trường

TNHH Trách nhiệm hữu hạn

Tp.HCM Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Đặc trưng ô nhiễm tại một số làng nghề CBNSTP trên địa bàn tỉnh Quảng

Nam và Bình Thuận 10

Bảng 1.2: Thải lượng các chất ô nhiễm môi trường nước của ngành CBNSTP đến năm 2010, 2015 và 2020 11

Bảng 1.3: Đặc trưng nước thải các làng nghề CBNSTP 12

Bảng 3.1: Sản lượng bún thành phẩm của các CSSX bún 38

Bảng 3.2: Định mức tiêu thụ nguyên nhiên liệu trong 1 ngày của các CSSX bún 38

Bảng 3.3: Định mức tiêu thụ nguyên nhiên liệu trong 1 năm của các CSSX bún 39

Bảng 3.4: Thông tin chung về hộ sản xuất bún 40

Bảng 3.5: Thông tin chung về hộ dân sống xung quanh 40

Bảng 3.6: Kết quả phân tích chất lượng nước thải của các CSSX bún 42

Bảng 3.7: Kết quả phân tích khí thải lò hơi 48

Bảng 3.8: Hiện trạng phát sinh chất thải rắn tại các CSSX bún 49

Bảng 3.9: Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức về MT và công tác QLMT tại các CSSX bún huyện Hóc Môn 56

Bảng 3.10: Các thông số đầu vào của quá trình chuyển hóa 65

Bảng 3.11 Hệ số phát sinh chất thải 69

Bảng 3.12: Bảng tổng hợp các thông số đầu vào mô hình 69

Bảng 3.13: Bảng tổng hợp các thống số kĩ thuật của hầm ủ 70

Bảng 3.14: Nguyên liệu sử dụng cho quá trình sản xuất phân compost 71

Bảng 3.15: Lượng phân bón cho cây trong 1 năm 72

Bảng 3.16: Hiệu xuất xử lý bể anoxic 72

Bảng 3.17: Các thông số thiết kế bể Anoxic 75

Bảng 3.18: Hiệu xuất xử lý của bể Aerotank và lắng sinh học 75

Bảng 3.19: các thông số thiết kế bể Aerotank 83

Bảng 3.20: Các thông số thiết kế bể lắng sinh học 87

Bảng 3.21: Tổng hợp chi phí đầu tư và nguồn thu của mô hình trong 1 năm 88

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.2: Vị trí địa lý huyện Hóc Môn 20

Hình 2.1: Vị trí 14 cơ sở sản xuất bún 27

Hình 3.1: Nước thải từ quá trình sản xuất bún tồn động (Nguồn: Tác giả chụp) 33

Hình 3.2: Quy trình sản xuất bún 34

Hình 3.3: Quy trình sản xuất bún (Nguồn: Tác giả chụp) 37

Hình 3.4: Ý kiến của các CSSX về chất lượng nước giếng 44

Hình 3.5: Hệ thống xử lý nước thải tại các CSSX bún 44

Hình 3.6: Ý kiến của người dân về việc ngửi thấy mùi khó chịu 46

Hình 3.7: Mùi hôi nước thải sản xuất bún 47

Hình 3.8: Ảnh hưởng của hoạt động sản xuất đối với sức khỏe người dân 51

Hình 3.9: Ý kiến của người dân về vấn đề xả chất thải làm bún ra công cộng 53

Hình 3.10: Ý kiến của người dân về mâu thuẫn 54

Hình 3.11: Mô hình xử lý chất thải theo cụm làng nghề sản xuất bún kết hợp với chăn nuôi heo 91

Trang 10

TÓM TẮT

Hóc Môn là một huyện ngoại thành thuộc Tp.HCM Trên địa bàn huyện có rất nhiều ngành nghề đang tồn tại và phát triển Trong đó, có ngành nghề sản xuất bún đã tồn tại từ rất lâu, có thể coi la một làng nghề nhưng chỉ tồn tại dưới hình thức cơ sở vừa và nhỏ nằm phân tán trên địa bàn huyện Hiện nay, có 14 cơ sở tham gia vào hoạt động sản xuất bún Sự phát triển của các cơ sở sản xuất bún đã mang lại thu nhập ổn định cho người dân Tuy nhiên vấn đề nước thải và chất thải rắn từ hoạt động sản xuất bún hầu như không được xử lý hoặc xử lý chưa triệt để mà xả trực tiếp ra ao, hồ, sông gây ô nhiễm môi trường phá hủy cảnh quan khu vực ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng Bằng các phương pháp điều tra, khảo sát, lấy mẫu phân tích để nghiên cứu hiện trạng môi trường, nguồn phát sinh chất thải và vấn đề quản lý môi trường của các cơ sở sản xuất bún tại huyện Kết quả phân tích mẫu cho thấy môi trường nước thải tại các cơ sở sản xuất có dấu hiệu bị ô nhiễm nặng các chất hữu cơ, các chỉ tiêu BOD vượt 8,5-9,5 lần, COD vượt 4,9-6,3 lần so với quy chuẩn cho phép Không khí bị ô nhiễm chủ yếu là do mùi hôi của nước thải, rác thải phân hủy, vấn đề quản lý chất thải rắn tại các cơ sở sản xuất vẫn còn bất cập, chủ yếu là xỉ than Từ đó đề tài đã đề xuất ra 7 biện pháp quản lý và xử lý chất thải nhầm hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường tại các cơ sở sản xuất bún, góp phần giúp cải thiện các vấn đề về môi trường tại huyện Hóc Môn

Trang 11

Mỗi nghề thực sự là một địa chỉ văn hóa, phản ánh nét văn hóa độc đáo của từng địa phương, từng vùng Nghề truyền thống từ lâu đã trở thành một bộ phận hữu cơ không thể thiếu của văn hóa dân gian Những giá trị văn hóa chứa đựng trong các nghề truyền thống ở Thành Phố Hồ Chí Minh (Tp.HCM) đã tạo nên những nét riêng độc đáo đa dạng nhưng cũng mang bản sắc chung của văn hóa dân tộc Việt Nam

Việt Nam là một trong những nước trồng và cung cấp lương thực lớn trên thế giới Sản lượng lương thực năm 2005 là 40 triệu tấn Cùng với sự phát triển chung của nền kinh tế quốc dân, nhiều khu công nghiệp được xây dựng, nhiều vùng kinh tế mới được hình thành, và tất nhiên nhu cầu tiêu thụ sản phẩm chế biến của lương thực cũng tăng lên Bên cạnh việc xây dựng những nhà máy chế biến lương thực hiện đại thì tồn tại song song là các sản phẩm được sản xuất theo phương pháp

truyền thống hoặc kết hợp cả hai phương pháp này

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được vẫn tồn tại những bất cập, đặc biệt là nguy cơ gây ô nhiễm môi trường (MT), ảnh hưởng đến sức khỏe người dân từ hoạt động sản xuất của các làng nghề Mức độ ô nhiễm MT trong các làng nghề truyền thống và các cơ sở ngành nghề nông thôn ngày nay đang ngày càng gia tăng Bởi ý thức bảo vệ môi trường (BVMT) còn thấp của con người trong quá trình sản xuất, các cơ sở sản xuất (CSSX) xả nước thải chưa qua xử lý trực tiếp ra MT dẫn đến tình trạng ô nhiễm MT đã và đang xảy ra rất nghiêm trọng ở các ngành nghề truyền thống ở Việt Nam

Hóc Môn là một huyện ngoại thành thuộc Tp.HCM Trên địa bàn huyện có nhiều ngành nghề nông thôn đang tồn tại và phát triển, trong đó có ngành nghề sản

Trang 12

xuất bún, bánh phở, hủ tiếu là những ngành nghề đã tồn tại từ rất lâu có thể coi là làng nghề, tuy nhiên chỉ tồn tại dưới hình thức cơ sở vừa và nhỏ, nằm phân tán trên địa bàn huyện Hầu hết các cơ sở chỉ chú trọng vào hoạt động sản xuất mà không quan tâm hoặc rất ít quan tâm đến việc xử lý chất thải Hiện tượng xả chất thải trực tiếp không qua xử lý đã gây ô nhiễm MT nghiêm trọng đến chất lượng nước mặt, nước ngầm tại khu vực, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp của huyện này Do đó, có rất nhiều ý kiến phản ánh của người dân về việc gây ô nhiễm MT đối với hoạt động sản xuất của các cơ sở này

Vì vậy, bên cạnh phát triển kinh tế, việc giải quyết các vấn đề MT các ngành nghề nông thôn là một trong những tiêu chí để xây dựng làng nghề truyền thống trong tương lai Vấn đề đặt ra ở đây là cần tìm hiểu ảnh hưởng của hoạt động sản xuất bún đến MT, sức khỏe của người dân hiện nay thực sự là cần thiết Xuất

phát từ vấn đề này, đề tài: “Đánh giá ảnh hưởng của các cơ sở sản xuất bún đến môi trường và đề xuất giải pháp cải thiện môi trường tại huyện Hóc Môn Tp.Hồ Chí Minh”, được thực hiện nhằm nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp đối với

công tác quản lý môi trường (QLMT) và giảm thiểu ô nhiễm MT của các CSSX bún tại huyện Hóc Môn

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Đánh giá hiện trạng MT và công tác QLMT của các CSSX bún tại huyện Hóc Môn, Tp.HCM

- Đề xuất một số giải pháp đối với công tác QLMT và giảm thiểu ô nhiễm

MT của các CSSX bún tại huyện Hóc Môn

3 Yêu cầu của đề tài

- Đánh giá hiện trạng MT của các CSSX và xác định các nhân tố ảnh hưởng tới MT

- Đánh giá hiện trạng công tác QLMT và đề xuất biện pháp quản lý phù hợp đối với các CSSX bún tại huyện Hóc Môn

- Phân tích, đánh giá hiện trạng MT và đề xuất các giải pháp bảo vệ, cải thiện

MT của các CSSX bún tại huyện

Trang 13

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

❖ Ý nghĩa khoa học

Đề tài sẽ đánh giá hiện trạng MT sản xuất bún tại huyện Hóc Môn, Tp.HCM Đề tài nhằm vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn, góp phần năng cao hiểu biết về công tác quản lý và xử lý ô nhiễm MT cho CSSX bún Đồng thời kết quả nghiên cứu còn phục vụ cho việc học tập và công tác nghiên cứu sau này

❖ Ý nghĩa thực tiễn

Góp phần giải quyết vấn đề ô nhiễm MT do hoạt động sản xuất bún gây ra,

và đề xuất những giải pháp để cải thiện MT cho các CSSX bún và năng cao chất lượng MT sống cho cộng đồng dân cư tại huyện Hóc Môn

Cung cấp thông tin cần thiết cho người dân về hiện trạng MT hiện nay tại huyện từ đấy giúp cho người dân nhận biết về vấn đề ô nhiễm MT đang xảy ra để người dân ý thức được vấn đề BVMT

Trang 14

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Các khái niệm liên quan

1.1.1.1 Khái niệm môi trường

Theo khoản 1, điều 3 Luật BVMT Việt Nam năm 2005 nêu rõ: “MT bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật”

Thuật ngữ MT có thể được dùng trong nhiều trường hợp khác nhau như MT tự nhiên, MT kinh tế, MT xã hội…, nhưng trong giới hạn bài khóa luận, đề tài tập trung vào khái niệm liên quan đến MT tự nhiên Như vậy, MT là tập hợp các điều kiện và hiện tượng bên ngoài có ảnh hưởng tới một vật thể hoặc một sự kiện nào đó Bất cứ một sự vật, hiện tượng nào cũng tồn tại và diễn biến trong MT của nó Hay nói rõ ràng hơn thì MT là tập hợp tất cả các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh con người, ảnh hưởng tới con người và tác động đến các hoạt động sống của con người như: không khí, nước, đất, độ ẩm, sinh vật, xã hội loài người và các thể chế Trong nguyên lý sinh thái học ứng dụng, các hiện tượng địa chất như khí quyển, thủy quyển, thạch quyển tồn tại trước sự sống Trải qua các giai đoạn tiến hóa, các loại thực vật, động vật và con người đã xuất hiện Khi đó có sự tương tác giữa cơ thể sống với các nhân tố đó thì chúng mới trở thành MT Có nghĩa là khi có các cơ thể sống mới có MT

MT sống của con người là tổng hợp các điều kiện vật lý, hóa học, sinh học, xã hội bao quanh con người và có ảnh hưởng đến sự sống, sự phát triển của từng cá nhân và toàn bộ cộng đồng người Nó bao gồm MT tự nhiên, MT xã hội và MT nhân tạo MT sống của con người được hiểu theo nghĩa rộng hoặc nghĩa hẹp Theo nghĩa rộng thì MT bao gồm tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sống, sản xuất của con người như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội… Theo nghĩa hẹp thì MT sống của con người chỉ bao gồm các nhân tố tự nhiên và nhân tố xã hội trực tiếp liên quan đến chất lượng cuộc sống của con người [12]

Trang 15

1.1.1.2 Khái niệm ô nhiễm môi trường

Theo tổ chức Y tế thế giới: “Ô nhiễm MT được hiểu là việc chuyển các chất thải hoặc năng lượng vào MT đến mức có khả năng gây hại đến sức khỏe con người, đến sự phát triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng MT”

Theo khoản 6, điều 3 Luật BVMT Việt Nam năm 2005: “Ô nhiễm MT là sự biến đổi của các thành phần MT không phù hợp với tiêu chuẩn MT, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật

Trên thế giới, ô nhiễm MT được hiểu là việc chuyển các chất thải hoặc năng lượng vào MT đến mức có khả năng gây hại đến sức khỏe con người, đến sự phát triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng MT Các tác nhân ô nhiễm bao gồm các chất thải dạng khí như khí thải, dạng lỏng như nước thải, dạng rắn như chất thải rắn chứa hóa chất hoặc tác nhân vật lý, sinh học và các dạng năng lượng như nhiệt độ, bức xạ

Nguyên nhân gây ô nhiễm MT có thể là do các hoạt động của quá trình tự nhiên như thiên tai, bão lũ, núi lửa… Hoặc do hoạt động của con người thực hiện trong công nghiệp, nông nghiệp, sản xuất làng nghề, giao thông, chiến tranh, trong sinh hoạt, mức độ gia tăng dân số Trong khi con người chưa có biện pháp xử lý hữu hiệu, nồng độ chất thải ngày càng vượt quá mức tự đồng hóa của MT Ngày nay, ô nhiễm MT trở thành hiểm họa đối với đời sống của sinh giới và cả con người

ở bất kỳ phạm vi nào, từ quốc gia, khu vực đến toàn cầu Đây chính là sản phẩm của quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa diễn ra trên thế giới Ô nhiễm hiện nay đã lan tràn nhiều nơi, từ đất, nước đến khí quyển, từ bề mặt đất đến lòng đất hay đại dương

Ô nhiễm MT là các yếu tố có thể định lượng được, thông qua các cách nhận biết:

- Bằng trực quan: căn cứ vào màu sắc bất thường của MT nước, bụi

- Bằng cảm quan: khó chịu

- Bằng các sinh vật chỉ thị: sự biến mất của các loài sinh vật nhạy cảm với

MT, hoặc sự thay đổi bất thường về tập tính của chúng

Trang 16

Tuy nhiên, để có cơ sở pháp lý để kết luận MT bị ô nhiễm bởi một yếu tố nào

đó phải dựa vào quy chuẩn môi trường (QCMT) mà Nhà nước ban hành MT bị ô nhiễm là sau khi đo đạc, phân tích bằng các phương pháp tiêu chuẩn nằm trong giới hạn tối đa cho phép của tiêu chuẩn quy định

Tùy theo phạm vi lãnh thổ mà có ô nhiễm MT toàn cầu, khu vực hay địa phương mà có tác động lớn đến nền kinh tế - xã hội – sinh thái của con người Đây

là vấn nạn toàn cầu không chỉ riêng quốc gia nào mà là của toàn nhân loại Hiện nay, chúng ta đang phải nỗ lực không ngừng nghỉ ngăn chặn ô nhiễm MT bằng cách khắc phục và ngăn chặn hậu quả của nó từ nâng cao ý thức, năng lực quản lý hay áp dụng công nghệ tiên tiến làm sạch chất thải trong quá trình sản xuất trước khi đưa ra

MT

1.1.1.3 Các dạng ô nhiễm môi trường

- Ô nhiễm nước: là sự thay đổi thành phần và tính chất của nước, có hại cho

hoạt động sống bình thường của sinh vật và con người, bởi sự có mặt của một hay nhiều chất lạ vượt qua ngưỡng chịu đựng của sinh vật, tác động tiêu cực đến sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, ngư nghiệp và các hoạt động thương mại, nghỉ ngơi, giải trí…, tùy vào những tiêu chí khác nhau mà ô nhiễm nước được phân loại khác nhau

Theo nguồn gốc có ô nhiễm tự nhiên: mưa, bão, gió, lũ lụt…, với tính chất không xác định nguồn gốc và ô nhiễm nhân tạo, chủ yếu do xả thải từ các vùng dân

cư, khu công nghiệp, hoạt động giao thông vận tải, thuốc trừ sâu, diệt cỏ trong nông nghiệp

Theo bản chất tác nhân gây ô nhiễm, người ta phân ra: ô nhiễm hữu cơ, vô cơ, hóa chất, sinh học, ô nhiễm bởi các tác nhân vật lý

Theo vị trí: Ô nhiễm sông, hồ, biển, mặt nước, nước ngầm

- Ô nhiễm không khí: là sự có mặt của các chất lạ độc hại trong khí quyển,

làm biến đổi thành phần và chất lượng của không khí theo chiểu hướng xấu đối với

sự sống Ô nhiễm không khí cũng có 2 nguồn: nguồn gốc tự nhiên (do núi lửa, cháy rừng, gió bụi, quá trình phân hủy các chất hữu cơ trong tự nhiên…) và nguồn gốc nhân tạo do các hoạt động sản xuất và tiêu dùng của con người gây nên như hoạt

Trang 17

động công nghiệp tại các nhà mày, làng nghề hay đốt cháy nhiên liệu hóa thạch, hoạt động giao thông

- Ô nhiễm đất: là sự biến đổi thành phần chất lượng của lớp đất ngoài cùng

của thạch quyển, dưới tác động tổng hợp nước, không khí đã bị ô nhiễm, rác thải độc hại…, theo chiều hướng tiêu cực đối với sự sống của sinh vật và con người Do các tác nhân sinh học như phân hữu cơ trong nông nghiệp chưa qua xử lý, ký sinh trùng…, tác nhân hóa học như chất thải công nghiệp, thuốc bảo vệ thực vật…, tác nhân vật lý như nhiệt, phóng xạ Sa mạc hóa là hiện tượng nguy hiểm nhất của suy thoái và ô nhiễm đất

1.2 Tổng quan về làng nghề chế biến nông sản ở Việt Nam

1.2.1 Giới thiệu chung về làng nghề chế biến nông sản ở Việt Nam

Các làng nghề chế biến nông sản thực phẩm (CBNSTP) là một trong những loại hình làng nghề cổ xưa nhất, các làng nghề thủ công truyền thống nổi tiếng như nấu rượu, làm bánh đa nem, đậu phụ, miến dong, bún, bánh gai…, với nguyên liệu chính là gạo, ngô, khoai, sắn, đậu, và thường gắn với hoạt động chăn nuôi ở quy mô gia đình, phân tán phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng hàng ngày của dân cư trong vùng Theo thống kê mới nhất, cả nước hiện có 197 làng nghề CBNSTP, chiếm 13,58% trong tổng số 1450 làng nghề trong cả nước Các làng nghề này chủ yếu tập trung ở miền Bắc (134 làng), 42 làng ở miền Trung và miền Nam có 21 làng (Bộ TN&MT, 2011) Trong các làng nghề CBNSTP tuy có thể khác nhau về quy trình sản xuất, quy trình công nghệ, loại sản phẩm nhưng đều có một số đặc điểm chung sau: Quy mô sản xuất làng nghề nhỏ (gia đình, thôn, xóm), hình thức sản xuất thủ công và gần như ít thay đổi về quy trình sản xuất so với thời điểm khi hình thành làng nghề, thiết bị còn chắp vá và lạc hậu, CSSX xen lẫn trong khu dân cư

Lực lượng lao động phần nhiều sử dụng lao động lúc nông nhàn, không yêu cầu trình độ cao, không phân biệt tuổi tác và giới tính, phần lớn có quan hệ họ hàng dòng họ, họ được đào tạo theo kiểu kinh nghiệm “ cha truyền, con nối”

Phát triển không theo quy hoạch, không ổn định, có tính thời vụ, thăng trầm

phụ thuộc vào đặc điểm sản xuất, nhu cầu thị trường trong và ngoài nước

Trang 18

Tình hình phát triển của loại hình làng nghề này tại một số tỉnh và thành phố những năm gần đây như sau:

Ở Bắc Ninh: CBNSTP là loại nghề tiểu thủ công nghiệp phổ biến ở nông thôn Bắc Ninh và chiếm tỉ trọng cao trong tổng số làng nghề của tỉnh (15 làng, chiếm 25,4%) Các làng nghề này tập chung chủ yếu ở huyện Yên Phong Làng nghề bánh bún thôn Đoài (Tam Giang) và làng rượu Đa Lâm là 2 điển hình tiêu biểu của loại hính sản xuất này Các sản phẩm chính của các làng nghề này là bánh bún khô, mỳ khô, rượu (Đặng Kim Chi, 2012)

Ở Hưng Yên: Trên địa bàn tỉnh Hưng Yên có rất nhiều làng nghề CBNSTP theo báo cáo của ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên về kế hoạch 5 năm về thực hiện Nghị định 66/2006/NĐ-CP, ngày 07/7/2006 của chính phủ về phát triển nghề nông thôn thì trên toàn tỉnh có tổng số 17 làng nghề CBNSTP tập chung chủ yếu ở huyện Tiên Lữ, huyện Yên Mỹ, Kim Động, Mỹ Hòa,Văn Lâm và thành phố Hưng Yên Bao gồm các làng nghề như say sát, làm bánh đa, bánh bún, miến dong, nấu rượu, chế biến hoa quả vải, táo, nhãn, sản xuất tương bần, đường mật Nghề say sát, làm bánh đa, bánh bún, miến dong thu hút khoảng 3000 lao động tham gia nằm rải rác tại các huyện của tỉnh Phương pháp sản xuất chỉ là thủ công truyền thống Các làng nghề điển hình gồm: làng nghề sản xuất tương bần Yên Nhân, làng nghề nấu rượu thôn Trương Xá xã Toàn Thắng, làng nghề chế biến táo khô thôn Triết Trụ xã Bình Minh…

Ở Nam Định: loại hình sản xuất này tại tỉnh có số lượng làng nghề không nhiều nhưng khá phổ biến Các sản phẩm chính là bún, bánh cuốn, bánh gai, miến Các làng nghề sản xuất bún bánh chủ yếu tập chung trong thành phố Nam Định Điển hình cho các làng nghề này là các làng nghề: Phong Lộc - Nam Phong - Thành phố Nam Định, Làng Kênh - Lộc Vượng - Thành phố Nam Định, làng nghề thôn Rỏi - Nam Dương - Nam Trực Các làng nghề này thu hút được một số lượng lao động đông đảo và đạt số lượng sản phẩm hàng năm cao, khoảng gần 1000 tấn/năm (Đặng Kim Chi, 2012)

Ở thành phố Hà Nội: ngành nghề CBNSTP có từ lâu đời như nghề làm miến dong ở Cát Quế, Dương Liễu (Hoài Đức), Hữu Hòa (Thanh Trì); tinh bột sắn

Trang 19

ở Minh Khai (Hoài Đức), Cộng Hòa, Tân Hòa (Quốc Oai); bún ở thôn Bạt (Ứng Hòa), Phú Đô (Từ Liêm), Tứ Kì (Hoàng Mai); bánh chưng, bánh giầy thôn Thanh Khúc (Duyên Hà - Thanh Trì); sản phẩm cốm ở Mễ Trì (Từ Liêm), bánh giầy Quán Gánh (Thường Tín); nem Phùng (Đan Phượng), bánh cuốn (Thanh Trì)… Toàn thành phố có 159 làng có nghề CBNSTP chiếm 11,78% các làng có nghề của Thành phố Năm 2009 Thành phố đã công nhận 43 làng đạt tiêu chuẩn làng nghề Gía trị sản xuất đạt 1.480,5 tỷ đồng, thu hút 26.594 hộ với 143.433 lao động Thu nhập bình quân 10,3 triệu đồng/người/năm [6]

1.2.2 Hiện trạng phát sinh chất thải sản xuất của làng nghề CBNSTP và vấn đề môi trường

Hoạt động của các làng nghề đã và đang gây áp lực to lớn đến chất lượng

MT tại các khu vực làng nghề Bởi phần lớn các làng nghề có quy mô sản xuất nhỏ, mặt bằng chật hẹp xen kẽ với khu dân cư; quy trình sản xuất thô sơ, lạc hậu, chủ yếu tận dụng sức lao động, ít áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, gây lãng phí tài nguyên và phát sinh nhiều chất gây ô nhiễm MT, tác động trực tiếp đến MT sống, điều kiện sinh hoạt và sức khỏe của người dân

Bên cạnh đó, kết cấu hạ tầng nông thôn như đường xá, cống, rãnh thoát nước thải không đáp ứng được nhu cầu phát triển sản xuất, chất thải không được thu gom

và xử lý, dẫn đến nhiều làng nghề bị ô nhiễm nghiêm trọng, cảnh quan thiên nhiên

bị phá vỡ để nhường chỗ cho mặt bằng sản xuất và các khu tập kết chất thải Do đó, chất lượng môi trường tại hầu hết các khu vực sản xuất trong các làng nghề đã và đang bị ô nhiễm nặng

1.2.2.1 Hiện trạng phát sinh chất thải sản xuất của làng nghề CBNSTP

Khối lượng và đặc trưng nước thải sản xuất ở các làng nghề phụ thuộc chủ yếu vào công nghệ và nguyên liệu dùng trong sản xuất CBNSTP là ngành sản xuất

có nhu cầu nước rất lớn và cũng xả thải ra khối lượng lớn nước thải với mức ô nhiễm hữu cơ cao

Trang 20

Bảng 1.1: Đặc trưng ô nhiễm tại một số làng nghề CBNSTP trên địa bàn tỉnh

Quảng Nam và Bình Thuận

Địa Phương Tên làng nghề Đặc trưng nước thải

Quảng Nam

Làng nghề sản xuất bún khô Hòa Thuận

Giá trị BOD5 , COD cao hơn giới hạn QCCP Hàm lượng BOD5 gấp 14,2 lần, hàm lượng COD gấp 8,4 lần QCCP

Làng nghề sản xuất bún bánh Cẩm Thịnh

Các thông số của mẫu nước thải vượt QCCP là: COD vượt 24,76 lần, BOD5 vượt tới 42,3 lần, SS vượt 5,48 lần so với quy chuẩn, ngoài

ra còn N tổng số, tổng P đều vượt so với quy chuẩn và Coliform vượt tới 520 lần so với quy

định

Bình Thuận

Làng nghề bánh tráng Phú Thịnh

Giá trị BOD5, COD, SS cao hơn giới hạn QCCP Hàm lượng BOD5 là 730 mg/l, cao gấp 14,6 lần QCCP Hàm lượng COD là 1237 mg/l, cao gấp 8,2 lần QCCP

Làng nghề chế biến cá cơm Mũi Né

Giá trị BOD5 cao gấp 59 lần QCCP, COD cao gấp 34 lần QCCP Các thông số tổng N và tổng P trong mẫu nước thải cũng rất cao, hàm lượng tổng N cao hơn gấp 23 lần so với QCCP

“Nguồn: Bộ tài nguyên môi trường (2014)”

Trong quá trình phát triển của cả nước, các làng nghề CBNSTP cũng nâng cao quy mô sản xuất để đáp ứng được yêu cầu của thị trường do đó thải ra lượng nước thải ngày càng lớn Như tỉnh Bắc Ninh, ngành công nghiệp chế biến thực phẩm của tỉnh hiện nay đã và đang được đầu tư rất đáng kể, nhằm tận dụng và khai thác mọi tiềm năng của ngành nông nghiệp, trong đó có các ngành sản xuất chính như: nước giải khát, bia, mì ăn liền, thực phẩm đông lạnh và đồ hộp xuất khẩu,…

Trang 21

Các nhà máy xí nghiệp của ngành chế biến thực phẩm ở Bắc Ninh được đầu tư công nghệ hiện đại nên ảnh hưởng đến MT không lớn Theo kết quả tính toán, thải lượng các chất ô nhiễm MT nước trong nước thải của ngành đến năm 2010, 2015 và 2020 được thể hiện trong bảng 1.2 sau đây:

Bảng 1.2: Thải lượng các chất ô nhiễm môi trường nước của ngành CBNSTP đến

❖ Đặc điểm ô nhiễm môi trường làng nghề

Các chất thải phát sinh tại nhiều làng nghề đã và đang gây ô nhiễm, tác động làm suy thoái MT nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người dân Ô nhiễm MT làng nghề có một số đặc diểm sau

- Ô nhiễm môi trường làng nghề là dạng phân tán trong phạm vi một khu vực (xóm, thôn, xã…) Do quy mô sản xuất nhỏ, phân tán, đan xen với khu vực sinh

hoạt nên đây là loại hình ô nhiễm khó quy hoạch và kiểm soát

- Ô nhiễm làng nghề mang đặc trưng của các hoạt động sản xuất theo ngành

nghề và loại hình sản phẩm: do mỗi loại hình sản xuất, mỗi đặc trưng sản phẩm của

các làng nghề sẽ tạo ra các loại chất ô nhiễm khác nhau và tác động đến các thành phần

MT cũng khác nhau Vì vậy ô nhiễm MT ở các làng nghề là không đồng nhất, chúng

có những nét khác biệt cụ thể phân theo từng nhóm các làng nghề chính (Viện Khoa học và Công nghệ MT, 2005)

Trang 22

Bảng 1.3: Đặc trưng nước thải các làng nghề CBNSTP

Vũ Hội – Thái Bình

Quang Minh – Kiến Xương

Thôn Đoài –

Hà Nam

Tân

Độ -

Hà Tây

Quang Bình – Kiến Xương

TCVN

5945 –

2005 (cột B)

Nhiệt độ oC 27,7 26,3 27,5 26,5 - 27,5 40

pH - 6,1 7,09 5,3 3,7 - 5,1 5,5 - 9

SS mg/l 414 198 1434 2671 266 1764 200 COD mg/l 2967 1880 1421 2993 3858 1271 400 BOD5 mg/l 1850 1040 1008 2003 1700 1080 50

∑ N mg/l 20,9 27,5 27 121 1002 67 60

∑ P mg/l 2,79 0,78 14 39 44,2 23 6

Coliform

MPN/100

ml

- - 26×104 37×104 - 21×104 104

“Viện Khoa Học & CNMT khảo sát năm, (2008)”

- Ô nhiễm làng nghề thường khá cao tại khu vực sản xuất và ảnh hưởng trực tiếp đến người lao động và người dân làng nghề: do mặt bằng sản xuất chật hẹp,

máy móc thiết bị thô sơ, lạc hậu, trình độ quản lý thấp, điều kiện sản xuất không bảo đảm nên mức độ ô nhiễm tại các CSSX làng nghề khá cao Người lao động do không được trang bị đầy đủ các dụng cụ bảo hộ lao động, lại thường xuyên tiếp xúc với các loại chất thải nên chịu tác động trực tiếp của quá trình ô nhiễm Mặt khác do khu sản xuất đan xen với khu dân cư nên việc lan truyền các chất ô nhiễm từ nơi sản xuất tới nơi sinh hoạt là rất dễ dàng điều này gây ảnh hưởng trầm trọng đến sức khỏe của người dân trong khu vực làng nghề

❖ Ô nhiễm môi trường làng nghề

Vấn đề MT mà các làng nghề đang phải đối mặt không chỉ giới hạn ở trong phạm vi các làng nghề mà còn ảnh hưởng đến người dân ở vùng lân cận Theo Báo cáo môi trường quốc gia năm 2008 với chủ đề “Môi trường làng nghề Việt Nam” Hiện nay “hầu hết các làng nghề ở Việt Nam đều bị ô nhiễm MT (trừ các làng nghề

Trang 23

không sản xuất hoặc dùng các nguyên liêu không gây ô nhiễm như thêu, may ) Chất lượng MT tại hầu hết các làng nghề đều không đạt tiêu chuẩn khiến người lao động phải tiếp xúc với các nguy cơ gây hại cho sức khỏe, trong đó 95% là từ bụi; 85,9% từ nhiệt và 59,6% từ hóa chất Kết quả khảo sát 52 làng nghề cho thấy, 46% làng nghề có MT bị ô nhiễm nặng ở cả 3 dạng; 27% ô nhiễm vừa và 27% ô nhiễm nhẹ” [1]

Tình trạng ô nhiễm môi trường ở các làng nghề xảy ra ở mấy loại phổ biến sau đây:

- Ô nhiễm nước: Qua khảo sát chất lượng nước thải của các làng nghề các năm

gần đây cho thấy mức độ ô nhiễm hầu như không giảm, thậm chí còn tăng cao hơn trước khối lượng và đă ̣c trưng nước thải sản xuất ở các làng nghề phu ̣ thuô ̣c chủ yếu vào công nghệ và nguyên liê ̣u dùng trong sản xuất CBNSTP, chăn nuôi, giết mổ gia

sú c, gia cầm, ươm tơ, dê ̣t nhuô ̣m…, là những ngành sản xuất có nhu cầu nước rất

lớ n và cũng xả thải ra khối lượng lớn nước thải với mức ô nhiễm hữu cơ cao đến rất cao Ngược la ̣i, mô ̣t số ngành như tái chế, chế tác kim loa ̣i, đúc đồng, nhôm…, nhu

cầu nước không lớn nhưng nước thải bị ô nhiễm các chất rất đô ̣c ha ̣i như các hóa chất và các kim loa ̣i nă ̣ng như Fe, Cr, Zn, Ni, dầu mỡ công nghiê ̣p…

Ngành CBNSTP là ngành có nhu cầu nước rất lớn và thải ra một lượng không nhỏ giàu chất hữu cơ gây ô nhiễm MT Tùy theo quy trình chế biến, nước thải CBNSTP có BOD5 lên tới 2500-5000mg/l, COD 13300-20000mg/l (nước tách bột đen trong sản xuất tinh bột sắn) Nước thải cống chung của các làng nghề này đều vượt quy chuẩn cho phép (QCCP) từ 5-32 lần

- Ô nhiễm không khí: Các làng nghề tại Việt Nam rất đa dạng, trong đó

một số loại hình sản xuất có đặc thù phát thải nhiều loại khí độc hại như làng nghề tái sản xuất vật liệu xây dựng, thực phẩm, chế tác đa Các khí thải điển hình như bụi, khí SO2, NO2, hơi axit và kiềm sản sinh từ các quá trình như

xử lý bề mặt, nung, sấy, tẩy trắng, đục tạo hình các sản phẩm (Bộ TN&MT, 2011)

Trang 24

Hình 1.1: Ước tính thải lượng các chất ô nhiễm trong khí thải làng nghề khu vực

đồng bằng sông Hồng (Bộ TN&MT, 2011)

Ghi chú: Tính toán dựa trên tổng số dân

Tại các làng nghề CBNSTP, nguồn gây ô nhiễm MT không khí đặc trưng là mùi hôi do sự phân hủy yếm khí các chất hữu cơ dạng rắn và chất hữu cơ tồn động trong nước thải sinh ra Các khí gây ô nhiễm gồm: H2S, CH4, NH3, đặc biệt là làng nghề sản xuất nước mắm do phơi cá ngoài trời nên mùi hôi tanh bốc lên rất khó chịu làm giảm chất lượng MT không khí và ảnh hưởng đến sức khỏe người dân làng nghề, giảm hiệu suất lao động Mặt khác tại các làng nghề CBNSTP sử dụng than

và củi làm chất đốt đã thải vào không khí bụi và các chất khí CO2, SO2, NO, NO2

tuy nhiên, do được phát tán nên các chỉ tiêu về bụi và các chất khí này trong khu vực sản xuất đều nhỏ hơn tiêu chuẩn cho phép

- Ô nhiễm chất thải rắn (CTR): Thống kê năm 2008 cho thấy các làng

nghề tại miền Bắc phát sinh nhiều chất thải nguy hại nhất, đặc biệt là các làng nghề tái chế kim loại, đúc đồng với nguồn chất thải rắn phát sinh bao gồm bavia, bụi kim loại, phôi, rỉ sắt với lượng phát sinh khoảng 1 - 7 tấn/ngày Các làng nghề tái chế nguyên liệu các loại rác thải thông thường là nhựa, túi nilon, giấy, hộp, vỏ lon, kim loại và các loại rác thải khác thường được đổ ra bất kỳ dòng nước hoặc khu đất trống nào Làm cho nước ngầm và đất bị ô nhiễm các chất hóa học độc hại, ảnh hưởng tới sức khỏe của con người [1]

Trang 25

Chất thải rắn ở hầu hết các làng nghề chưa được thu gom và xử lý triê ̣t để, nhiều làng nghề xả thải bừa bãi gây tác đô ̣ng xấu tới cảnh quan MT, gây ô nhiễm

MT không khí, nước và đất Khối lượng chất thải rắn của 225 làng nghề thuô ̣c thành phố Hà Nô ̣i (sau mở rô ̣ng) đã lên tới 207,3 tấn/ngày (tương đương với khoảng 90

tấn/ngày) chưa tính chất thải chăn nuôi gia súc, gia cầm (Sở Công thương TP Hà

Các làng nghề nấu rượu, làm tương, đậu phụ và nước mắm có nguồn chất thải rắn chủ yếu là bỗng rượu, bã đậu, bã cá là những thức ăn giàu dinh dưỡng cho gia súc, gia cầm Vì vậy, tại các làng nghề này thường phát triển chăn nuôi để tận dụng nguồn bã thải đó và chất thải chăn nuôi cũng góp phần làm tăng mức độ ô nhiễm làng nghề Còn lại là các làng nghề sản xuất bún, bánh lượng chất thải rắn không đáng kể, chủ yếu chỉ có xỉ than [1]

1.2.3 Ảnh hưởng của hoạt động sản xuất CBNSTP đến sức khỏe của người dân

Các làng nghề CBNSTP có đặc trưng là nước thải có hàm lượng chất hữu

cơ rất cao Tuy nhiên tại các làng nghề chưa có kinh phí để xây dựng các công trình

xử lý nước thải, nước thải được đổ trực tiếp ra MT, bị ứ động tại các cỗng rãnh làm nơi trú ngụ cho ruồi muỗi và các vi sinh vật gây bệnh, quá trình phân hủy yếm khí các hợp chất hữu cơ sinh ra các khí mùi khó chịu ảnh hưởng tới sức khỏe của người dân

Thống kê tình hình bệnh tật tại các làng nghề CBNSTP trên tổng số người đến khám chữa bệnh địa phương (Tổng cục môi trường tổng hợp, 2008):

- Làng nghề chế biến lương thực xã Dương Liễu, Hà Tây trước đây: Bệnh hay gặp nhất là loét chân tay, chiếm 19,7% Ngoài ra có các vấn đề về tiêu hóa

Trang 26

1,62% (chủ yếu rối loạn tiêu hóa, đau bụng), hô hấp (9,43%), mắt (0,86%) Bệnh mãn tính thường gặp bệnh tiêu hóa chiếm tỉ lệ cao nhất 4,28% (chủ yếu là loét dạ dày tá tràng, sau đó đến bệnh đại tràng)

- Làng nghề chế biến thực phẩm Tân Hòa, Hà Tây trước đây: Tỉ lệ người mắc bệnh ngoài da chiếm 30%

- Làng nghề chế biến rượu Vân Hà, Bắc Giang: Một số bệnh thường gặp gồm

có bệnh ngoài da 68,5%, bệnh đường ruột 58,8%, bệnh đường hô hấp 44,4%

- Làng bún Phú Đô, Hà Nội: Khoảng 50% mắc chứng bệnh do nghề nghiệp

và chủ yếu là bỏng nước Bên cạnh đó còn có các bệnh về mắt (12%), hô hấp (15%), tai mũi họng (45%), phụ khoa (20%), thần kinh (5%), tiêu hóa (8%)

- Làng bún Tiền Ngoài, Bắc Ninh: Tỷ lệ người dân mắc bệnh về tai mũi họng 34.7%, mắt 13,3%, ngoài da 37,3%, cơ xương khớp 5,3%

- Làng nước mắm Hải Thanh, Thanh Hóa: Tỷ lệ người dân mắc bệnh là 15%, bao gồm các loại bệnh như: tiêu hóa, bệnh phụ khoa ở phụ nữ, bệnh về đường hô hấp, cao huyết áp

- Láng bánh đa nem Vân Hà, Bắc Giang: thường sau mùa lụt, thường xuất hiện dịch sốt xuất huyết, và một số dịch sốt không rõ nguyên nhân Ngoài ra, người dân còn nhiễm một số bệnh như: đau mắt hột, đau mắt đỏ Bệnh viêm đường hô hấp

ở trẻ xảy ra thường xuyên Tỷ lệ mắc bệnh ngoài da là 68,5% và các bệnh về đường ruột là 58,8%

- Làng nghề giết mổ Phúc Lâm, Bắc Giang: Vào khoảng tháng 2-3 hàng năm sau mùa lụt, thường xuất hiện những đợt sốt xuất huyết cùng các bệnh như đau mắt hột, mắt đỏ, viêm đường ruột, phụ khoa Đặc biệt viêm đường hô hâp của trẻ xảy ra thường xuyên Từ năm 2003 đến 2005 cả thôn có 19 ca tử vong, trong đó có tới 13 trường hợp mắc bệnh hiểm nghèo chủ yếu là ung thư phổi, bệnh về máu

- Làng nghề miến, bánh đa Yên Ninh, Ninh Bình: Tỉ lệ mắc bệnh liên quan đến nghề nghiệp là 15%; các bệnh thường gặp là bệnh phụ khoa (chiếm 15% tổng

số phụ nữ đi khám), các bệnh về đường hô hấp (chiếm 18% tổng số người đi khám), bệnh đau mắt (chiếm 21%) và các bệnh khác chiếm 10%

Trang 27

- Làng nghề bún Vũ Hội, Thái Bình: Tỉ lệ tai nạn trong quá trình sản xuất là 70%, tai nạn chủ yếu là do bỏng Bệnh tiêu hóa 28%, bệnh phụ khoa 35%, đường

hô hấp 22%, bệnh mắt 9% [1]

Tóm lại: Tại các làng nghề CBNSTP, cơ sở hạ tầng còn thấp kém, mặt bằng sản xuất chật chội và tổ chức sản xuất thiếu khoa học Điều kiện và MT lao động rất đáng lo ngại, người lao động thường xuyên phải tiếp xúc với bụi, nhiệt, hóa chất; nguy cơ tai nạn lao động cao và thiếu phương tiện bảo vệ cá nhân MT sống đang có nguy cơ bị ô nhiễm do chất thải sản xuất không được xử lí mà thải trực tiếp vào MT xung quanh, gây ô nhiễm không khí, nước và đất Sức khỏe người lao động và dân

cư đang bị đe dọa do ô nhiễm MT Bệnh tật phổ biến tại các làng nghề là viêm phế quản - phổi, dị ứng ngoài da, đau mắt, đau lưng, đau cột sống, đau bụng hội chứng

❖ Áp dụng các mô hình sản xuất làng nghề gắn với sản xuất sạch hơn

Mô hình này chú trọng vào các giảp pháp công nghệ nhằm giảm thiểu lượng phát thải bằng các biện pháp cải tiến công nghệ, nhằm sử dụng tiết kiệm và hợp lý các nguồn nguyên nhiên liệu, tài nguyên; áp dụng các biện pháp quản lý và xử lý chất thải phù hợp (chú trọng tới biện pháp tái chế, tái sử dụng) nhằm BVMT hiệu quả

Trang 28

❖ Một số biện pháp kỹ thuật giảm thiểu ô nhiễm môi trường làng nghề

Để giảm thiểu ô nhiễm MT làng nghề, cần phải áp dụng tổng hợp các biện pháp kỹ thuật Một số biện pháp kỹ thuật cơ bản áp dụng cho mỗi loại hình làng nghề như sau:

Làng nghề CBNSTP: cải tiến máy rửa guồng quay, tuần hoàn, tái sử dụng lại nước lắng tinh bột cho công đoạn rửa củ, tận thu lại bã thải (trồng nấm, làm phân bón, thức ăn cho gia súc, thu năng lượng bằng hầm Bioga), (đối với công nghệ sản xuất tinh bột) Đối với CSSX bún: cải tiến thiết bị vắt bún, thay thế lò đốt kín, có bảo ôn nhiệt, có ống thải khí Nơi sản xuất đậu phụ: trang bị má li tâm tách bã, thay thế gói khuôn thủ công bằng máy, thay thế lò đốt kín, có bảo ôn nhiệt, có ống thải khí [5]

1.3.2 Giải pháp quản lý

1.3.2.1 Giải pháp quy hoạch không gian làng nghề gắn với BVMT

Kết hợp phát triển làng nghề với hoạt động du lịch Đây là mô hình được nghiên cứu và nhân rộng trong chương trình phát triển ngành du lịch ở Việt Nam

Du lịch làng nghề là loại hình du lịch văn hoá chất lượng cao Hiện nay, khách du lịch có xu hướng thiên về loại hình này ngày càng tăng Theo thống kê của ngành

du lịch, lượng khách du lịch chọn du lịch văn hoá hiện chiếm 60% trong tổng lượng khách du lịch 800 triệu người trên toàn thế giới Nếu được đầu tư đúng mức, khai thác hợp lý, đây sẽ là phương tiện giao lưu, quảng bá đất nước, con người Việt Nam mạnh mẽ và sâu rộng nhất [5]

1.3.2.2 Xây dựng các cụm công nghiệp vừa và nhỏ nông thôn

"Cụm công nghiệp làng nghề" được hiểu là địa điểm phân bố sản xuất của các doanh nghiệp vừa và nhỏ và các hộ kinh tế gia đình, kinh doanh công nghiệp và dịch vụ, nhằm khắc phục ô nhiễm MT, tạo cơ sở hạ tầng tốt hơn và tạo điều kiện tốt hơn cho sản xuất kinh doanh Mô hình này sẽ thích hợp với các làng nghề tiểu thủ công nghiệp mới Mô hình sản xuất tập trung ở khu vực gần làng xã, thuận tiện cho việc quy hoạch tổng thể mà vẫn giữ được những lợi thế đặc trưng của sản xuất tại các làng nghề

Trang 29

1.3.2.3 Giải pháp quan trắc môi trường làng nghề

Quan trắc MT nhằm theo dõi, đo đạc thường xuyên đối với một số chỉ tiêu, chỉ thị thành phần MT có tính hệ thống, để cung cấp các thông tin cần thiết về chất lượng của MT giúp cho công tác quản lý, QLMT Tuy nhiên để thực hiện công tác quan trắc thuận lợi cần đầu tư vào trang thiết bị quan trắc hiện đại Đây là yêu cầu khó khăn đối với cơ quan quản lý cấp xã, do đó cần huy động sự đầu tư của Nhà nước và các tổ chức trong và ngoài nước [5]

1.3.2.4 Giải pháp tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng

Để có thể thực hiện các biện pháp trên tốt và mang lại lợi ích cho làng nghề, góp phần BVMT làng nghề cần nâng cao dân trí cho dân làng nghề để họ hiểu được những tác hại của việc suy giảm chất lượng MT sống do hoạt động sản xuất làng nghề Trước tiên phải nói đến những thiệt hại do việc suy giảm chất lượng MT gây ra mà chính người dân tại làng nghề phải gánh chịu, và sau

đó là thiệt hại đối với toàn xã hội, qua đó họ sẽ nhận thức được và từ đó có ý thức BVMT làng nghề Cần định hướng sự tham gia của người dân làng nghề

và của toàn thể cộng đồng vào công tác BVMT

1.4 Tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Hóc Môn

1.4.1 Điều kiện tự nhiên

1.4.1.1 Vị trí địa lý

Hóc Môn là một huyện ngoại thành, nằm về cửa ngõ phía Tây Bắc của Tp.HCM, phía Bắc giáp huyện Củ Chi, phía Nam giáp Quận 12 và huyện Bình Chánh, phía Tây giáp tỉnh Long An, phía Đông giáp tỉnh Bình Dương Huyện có diện tích tự nhiên khoảng 10.943,4 ha, bao gồm 1 thị trấn và 11 xã Huyện có 87 ấp- khu phố với 1.430 tổ dân phố Toàn huyện có 89.018 hộ dân với 396.634 nhân khẩu [3] Huyện có tốc độ đô thị hóa rất nhanh và số lượng dân nhập cư đông Với những

nổ lực của toàn thể nhân dân và chính quyền trong việc xây dựng đề án Nông thôn mới, ngày 25 tháng 9 năm 2015, Thủ tướng chính phủ đã ban hành Quyết định số 1658/QĐ-TTg về việc công nhận huyện Hóc Môn đạt chuẩn nông thôn mới giai đoạn 2011 - 2015

Trang 30

Hình 1.2: Vị trí địa lý huyện Hóc Môn

sở công nghiệp, các trung tâm hạ tầng kỹ thuật

- Vùng triền có cao trình từ 2 – 8m: có diện tích 5.719ha, chiếm 53,38% diện tích tự nhiên, có nền móng tương đối vững chắc, khả năng thoát nước trung bình, hiện đang là vùng chuyên trồng cây hàng năm, thuận lợi cho việc bố trí các cơ sở công nghiệp sạch vừa và nhỏ xen cài các khu dân cư

- Vùng bưng trũng có cao trình dưới 2m: có diện tích là 4.923ha, chiếm 45,09% diện tích tự nhiên Đây là khu vực thoát nước kém và hiện nay phần lớn là

Trang 31

đất trồng lúa, màu, trồng cây hàng năm Vùng ven sông rạch đã và đang hình thành vùng cây ăn trái nhà vườn cần kết hợp loại hình sinh thái du lịch

+ Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Mùa khô mực nước ngầm xuống thấp nên dễ gây hiện tượng thiếu nước, nhất là sản xuất nông nghiệp phải khai thác nước tưới bằng giếng

- Về gió: có 2 hướng gió chính:

+ Gió hướng Tây hoặc Tây Nam: có vận tốc trung bình 1,5-3m/s thịnh hành

1.4.2 Tài nguyên nước

Nước mặt: Huyện Hóc Môn với hệ thống sông ngòi dày đặc, nguồn nước

dồi dào nhưng thường xuyên bị nhiễm phèn, do đó việc sử dụng cho sinh hoạt và trồng trọt rất hạn chế Một số khu vực thuộc xã Nhị Bình, Đông Thạnh có địa hình trũng thấp, thường xuyên bị ngập khi triều cường cần có các biện pháp cải tạo Huyện Hóc Môn có những ưu thế nhất định như sử dụng nguồn nước để nuôi trồng thủy sản, hay phát triển các loại hình sinh thái du lịch dọc theo các nhánh sông

Trang 32

Nước ngầm: Nguồn nước ngầm phân bố khá rộng, chủ yếu ở các tầng chứa

nước Pleitoxen ở độ sâu 100 - 300 m, trong đó có nơi 20 - 50 m, trữ lượng khai thác ước tính 300 - 400 m3/ngày Qua tài liệu khảo sát địa chất thủy văn của huyện cho thấy huyện có 5 tầng nước ngầm:

- Tầng 1: nằm ở độ sâu 15-20m, đây là tầng nước thủy cấp, dễ bị ô nhiễm do thấm ở tầng mặt xuống, nhất là khu vực gần bãi rác Đông Thạnh

1.4.3 Điều kiện kinh tế - xã hội

Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2015 đạt 21,05%/năm, cơ cấu kinh tế của huyện Hóc Môn là “Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, Thương mại – Dịch vụ, Nông nghiệp” Khu vực kinh tế thương mại – dịch vụ được ưu tiên, khuyến khích phát triển làm tiền đề cho việc thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang hướng

“Thương Mại - Dịch vụ, Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp, Nông nghiệp” Khu vực kinh tế nông nghiệp định hướng phát triển nâng cao chất lượng sản phẩm nông nghiệp với các định hướng chính là: nông nghiệp đô thị, nông nghiệp công nghệ cao

và nông nghiệp hữu cơ

1.4.3.1 Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp

Tăng trưởng bình quân đạt 20,90%/năm, chiếm tỷ trọng 56,67% trong cơ cấu kinh tế (tăng 2,61% so với năm 2010) Trong đó, nhóm ngành công nghiệp, chế biến lương thực, thực phẩm, chế tạo cơ khí…, tăng trưởng cao, đóng góp vào phát triển chung của ngành và góp phần giải quyết việc làm cho người lao động Triển

Trang 33

khai thực hiện cụm công nghiệp Xuân Thới Sơn A và cụm công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp Nhị Xuân

Giá trị sản xuất năm 2015 theo giá thực tế đạt 9.290 tỷ đồng, tăng 23,08% so với năm 2014 Trong đó, doangh nghiệp nhà nước là 8.960 tỷ đồng, chiếm 96,45%;

cơ sở sản xuất cá thể là 330 tỷ đồng, chiếm 3,55% Phân theo ngành kinh tế: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm tỷ trọng lớn (98,56%) với giá trị là 9.156 tỷ đồng, còn lại là các ngành khác

1.4.3.2 Thương mại, dịch vụ

Ngành thương mại dịch vụ tăng trưởng bình quân đạt 21,20%/năm, chiếm tỷ trọng 38,18% trong cơ cấu kinh tế (tăng 3,49% so với năm 2010) Trên địa bàn Huyện có 13 chợ, 2 siêu thị, nhiều cửa hàng tiện ích, nhiều loại hình kinh doanh đã giúp lưu thông hàng hóa thuận lợi, tỷ trọng ngành thương mại – dịch vụ ngày càng tăng trong cơ cấu các ngành kinh tế

- Về nội thương: doanh số bán ra ước đạt 61.920 tỷ đồng, tăng 28,03% so với năm 2014

- Về ngoại thương: Tổng kim ngạch xuất khẩu ước đạt 17.771.993 USD, tăng 9,72% so với năm 2014

1.4.3.3 Nông nghiệp

Ngành nông nghiệp tăng trưởng bình quân đạt 3,1%/năm, chiếm tỷ trọng 5,15% trong cơ cấu kinh tế (giảm 6,10% so với năm 2010) Giá trị sản xuất nông nghiệp bình quân 272 triệu đồng/ha đất sản xuất/năm (tính theo giá năm 2014) Thực hiện các chính sách hỗ trợ của Nhà nước trong chương trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp đã giúp nông dân phát triển sản xuất, chuyển đổi dần diện tích trồng lúa và cây trồng không hiệu quả sang cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao hơn, sản xuất theo tiêu chuẩn VietGap, phát triển nông nghiệp đô thị

1.4.3.4 Kết quả xây dựng nông thôn mới

Thực hiện Chương trình Chung sức xây dựng nông thôn mới của Thành ủy; các sở, ngành Thành phố, Uỷ ban nhân dân các quận (Quận 5, 6, 12 và Tân Phú) và các đơn vị khác đã hỗ trợ Huyện hoàn thành xong việc xóa nhà tạm, nhà dột nát xây dựng mới và sửa chữa 161 căn nhà cho diện chính sách và dân nghèo Hiện nay,

Trang 34

huyện Hóc Môn đã được công nhận huyện đạt chuẩn nông thôn mới theo Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 25/09/2015 của Thủ tướng Chính phủ

1.4.4 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng giao thông

Hiện nay, hệ thống đường bộ có chiều dài khoảng 450km đường các loại (tính từ đường có bề rộng từ 3m trở lên), trong đó đường giao thông nông thôn khoảng 280km, chiếm tỷ lệ 62,2% Mật độ trung bình đường giao thông là 4 km/1km2

❖ Hệ thống điện

- Huyện Hóc Môn được cung cấp điện từ hệ thống điện miền Nam, nhận điện

từ các trung tâm cung cấp điện:

+ Trạm Hóc Môn: 220/110KV-125-250 MVA và 110/15KV-1x40MVA + Trạm nhà máy nước Tân Hiệp: 110/15KV-2x16MVA (trạm chuyên dùng)

Trang 35

❖ Hệ thống cấp nước

Trên địa bàn Huyện hiện nay có công ty Cấp nước Trung An đang cung cấp nước sạch cho xã Xuân Thới Thượng (thí điểm) Đồng thời, tại thị trấn Hóc Môn cũng đang thi công các đường ống dẫn nước thủy cục cung cấp cho các hộ dân sử dụng Ngoài ra, chương trình giếng UNICEF và giếng tự khoan với tổng số giếng là 6.144 giếng, còn lại là giếng đào, đảm bảo toàn huyện có 95 % hộ sử dụng nước giếng Nhìn chung, nước sinh hoạt của người dân trên địa bàn hiện nay có trên 70%

hộ gia đình trong Huyện sử dụng nguồn nước từ giếng khoan Chỉ có 30 % dân số

sử dụng nước sinh hoạt từ các trạm cấp nước Còn một phần nhỏ các hộ dân ở vùng sâu sử dụng nước sông, nước mưa trong sinh hoạt gia đình

❖ Hệ thống thoát nước

Các hệ thống tiêu thoát nước chính:

- Hệ thống tiêu thoát nước rạch Hóc Môn phục vụ tiêu thoát cho các xã Tân Hiệp, Thới Tam Thôn, Tân Thới Nhì và thị trấn Hóc Môn

- Hệ thống thoát nước thuộc tuyến kênh Bà Điểm: phục vụ tiêu thoát cho xã

1.4.5 Vấn đề môi trường trên địa bàn huyện

Uỷ ban nhân dân huyện đã chỉ đạo các đơn vị trực thuộc tiếp tục thực hiện chỉ thị số 36- CT/TW ngày 25/6/1998 của Bộ Chính trị và các văn bản chỉ đạo của Thành phố về “tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” Huyện đã lồng ghép công tác BVMT vào các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế - xã hội huyện năm 2012 và những năm sắp tới; xây dựng kế hoạch bảo vệ TN&MT năm 2012 (tập trung quản

lý nguồn tài nguyên nước, đất đai); di dời các CSSX - xây dựng gây ô nhiễm MT; giải quyết vấn đề ô nhiễm và xử lý các loại rác thải, chất thải độc hại; duy trì các

Trang 36

buổi ra quân tổng vệ sinh MT hàng tuần tại các khu dân cư, tổ chức các hoạt động BVMT (như: “Tuần lễ nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn năm 2010”;

“chiến dịch làm cho thế giới sạch hơn”; xây dựng “thị trấn không rác”; thực hiện Giờ Trái đất; hưởng ứng ngày MT thế giới; ngày Chủ nhật Xanh; trồng được 5.000 cây xanh phân tán…); tiếp tục thực hiện thu phí vệ sinh và phí BVMT đối với chất thải rắn thông thường; tăng cường tuyên truyền thực hiện Luật MT trong cán bộ công chức và nhân dân, tăng cường trách nhiệm xử phạt ô nhiễm MT tại cấp huyện

và cấp xã – thị trấn; tổ chức kiểm tra về MT 125 đơn vị, trong đó xử phạt vi phạm hành chính 30 đơn vị, tổng số tiền phạt là 351.3 triệu đồng

Trang 37

CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: là MT (nước, không khí, chất thải rắn) tại 14 CSSX bún trên địa bàn huyện Hóc Môn, Tp.HCM

- Phạm vi nghiên cứu: 14 CSSX bún tại huyện Hóc Môn,Tp.HCM

- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 5/2018 đến tháng 7/2018

2.2 Nội dung nghiên cứu

- Tình hình sản xuất của các CSSX bún tại huyện Hóc Môn

- Đánh giá hiện trạng MT và xác định những vấn đề MT của các CSSX bún trên địa bàn huyện Hóc môn

- Đánh giá hiện trạng công tác QLMT của các CSSX bún tại huyện

- Đề xuất các giải pháp BVMT cho các CSSX bún tại huyện Hóc môn

Hình 2.1: Vị trí 14 cơ sở sản xuất bún

Chúthích:

Cơ sở sản xuất bún

Trang 38

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp

- Thu thập các tư liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tình hình sản xuất, chế biến của các CSSX bún tại huyện Hóc Môn, Tp.HCM

- Thu thập các tư liệu về thực trạng MT do hoạt động sản xuất và công tác QLMT của các CSSX bún tại huyện liên quan tới MT rác thải, MT không khí, nước , thực trạng công tác quản lý, xử lý chất thải

2.3.2 Phương pháp phỏng vấn

- Lập phiếu phỏng vấn các hộ gia đình nhằm thu thập các thông tin liên quan tới tình hình sản xuất, đặc điểm và các hình thức quản lý, xử lý chất thải của các hộ dân tại huyện Hóc Môn

- Xây dựng 2 mẫu phiếu phỏng vấn và tiến hành điều tra, phỏng vấn trực tiếp tại

44 hộ dân (bao gồm cả những hộ tham gia sản xuất và không tham gia sản xuất nhưng sống gần CSSX)

❖ Nội dung phỏng vấn (phụ lục 1):

- Đối với CSSX: Phỏng vấn trực tiếp 14 hộ tham gia sản xuất bún về các thông tin như: số nhân công trực tiếp lao động, số lượng nước sử dụng trong 1 ngày, lượng bún thành phẩm được tạo ra trong 1 ngày, nhiên liệu sử dụng trong 1 ngày (than, củi ) Phương pháp xử lý đối với từng loại CTR đang áp dụng, đối với các CSSX có chăn nuôi kết hợp, lượng chất thải tận dụng cho chăn nuôi, tình hình bệnh tật

- Đối với người dân không sản xuất: Điều tra 30 hộ dân không tham gia sản xuất bún sinh sống gần các CSSX về các thông tin như: Nhu cầu sử dụng nước, ý thức BVMT, tình hình ô nhiễm MT do quá trình sản xuất sinh ra, tình hình bệnh tật

2.3.3 Phương pháp khảo sát thực địa

Được tiến hành khi điều tra thu thập số liệu và kết hợp đi xác định kiểm chứng trực tiếp ngoài thực địa về các yếu tố và hệ thống liên quan đến MT và đánh giá ngoài thực trạng

2.3.4 Phương pháp lấy mẫu

Số liệu thu được qua việc xử lý kết quả phân tích các chỉ tiêu mẫu: Tại Phòng Thí nghiệm quản lý MT của công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) đo đạt và

Trang 39

phân tích MT Phương Nam Đây là các phòng thí nghiệm có đầy đủ trang thiết bị, hoàn toàn đáp ứng các yêu cầu phân tích các chỉ tiêu chất lượng MT và đã được cơ quan chức năng công nhận

Số lượng mẫu lấy: do hạn chế về kinh phí, số lượng mẫu lấy không nhiều; nhưng vẫn đảm bảo đại diện để đánh giá hiện trạng MT hiện nay tại các CSSX bún trên địa bàn huyện Hóc Môn

Công tác lấy mẫu luôn tuân thủ theo các nguyên tắc sau:

- Toạ độ lấy mẫu hiện trường được thực hiện dựa trên hệ thống thông tin định

vị toàn cầu GPS (Global Positionging System)

- Các điểm quan trắc phải đại diện cho vùng có tính đặc trưng, chú trọng những nơi, vùng, các hoạt động sản xuất kinh doanh có nguy cơ gây ô nhiễm MT cao

- Phản ánh đúng hiện trạng chất lượng các thành phần MT đảm bảo tính khách quan, thường xuyên, lôgic

- Đảm bảo tính khoa học, chính xác cho dự báo, diễn biến MT, đề xuất các giải pháp phòng chống, khắc phục, giảm thiểu ô nhiễm MT

- Việc lấy mẫu hiện trường và phân tích trong phòng thí nghiệm được tuân thủ theo các quy chuẩn kỹ thuật, quy chuẩn Việt Nam (QCVN) hiện hành, theo các yêu cầu của đảm bảo chất lượng và kiểm soát chất lượng trong quan trắc MT

❖ Các quy chuẩn hiện hành của Việt Nam được sử dụng trong đề tài gồm:

- QCVN 40: 2011/BTNMT, Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp, (cột B)

- QCVN 19: 2009/BTNMT, Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng không khí xung quanh, (cột B)

2.3.5 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu

Trên cơ sở các số liệu điều tra, khảo sát thu thập được về hiện trạng MT tại các CSSX bún và công tác quản lý, xử lý trên địa bàn nghiên cứu, tiến hành tổng hợp và xử lý số liệu bằng phần mềm Excel và phần mềm thống kê mô tả

Trang 40

2.3.6 Phương pháp phân tích SWOT

SWOT là từ viết tắt của các chữ S - Strengths (Điểm mạnh), W - Weakness (Điểm yếu), O - Opportunities (Cơ hội) và T - Threats (Đe dọa) Đây là phép phân

tích các hoàn cảnh MT bên trong, bên ngoài của các CSSX bún

- Điểm mạnh: Tiến hành xác định các ưu điểm, thế mạnh hiện tại mà các CSSX cần duy trì, tận dụng và phát triển

- Điểm yếu: Phân tích các điểm yếu tại khu vực nghiên cứu ảnh hưởng đến

❖ Chiến lượt quản lý môi trường

- Chiến lược S-O: là chiến lược tận dụng cơ hội để phát triển thế mạnh

- Chiến lược W-O: là chiến lược nắm bắt cơ hội để khắc phục điểm yếu

- Chiến lược S-T: là chiến lược sử dụng điểm mạnh hạn chế nguy cơ Hạn chế nguy cơ là công việc giúp tránh được các rủi ro hay làm thiệt hại

- Chiến lược W-T: là chiến lược khắc phục điểm yếu hạn chế nguy cơ

2.3.7 Phương pháp tính toán cân bằng vật chất

- Mục đích của cân bằng vật chất và năng lượng là giúp hiểu rõ về các quá trình và đặc biệt là lượng tiêu thụ nguyên nhiên liệu và sự hình thành các sản phẩm cũng như chất thải Thông qua việc tính toán cân bằng vật chất, có thể xác định và định lượng tổn thất nguyên nhiên liệu Đồng thời thể hiện số liệu nền cho tình hình sản xuất hiện tại của các CSSX bún

- Tiến hành cân bằng vật chất và năng lượng cần phải xây dựng được sơ đồ công nghệ của quá trình sản xuất Liệt kê được các thông số đầu vào và đầu ra của từng công đoạn, trên cơ sở đó để đo đạc nhầm lượng hóa các yếu tố liên quan đến quá trình

- Việc thực hiện phân tích dòng vật chất theo các nội dung như xác định các vấn đề và mục tiêu thực hiện; lựa chọn những nguyên liệu, giới hạn hệ thống, quá

Ngày đăng: 23/10/2018, 11:25

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w