Bên cạnh những mặt thuận lợi và đạt hiệu lực, hiệu quả quản lý đối với di tích QGĐB thì vẫn còn những hạn chế bất cập như: Tình trạng xâm hại di tích, vi phạm lấn chiếm đất đai, che lấp
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Quách Ngọc Dũng
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI TÍCH QUỐC GIA ĐẶC BIỆT
VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 9 34 04 03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 TS Lê Như Thanh
2 TS Nguyễn Danh Ngà
HÀ NỘI, 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi; các tài liệu, thông tin, số liệu trích dẫn tự điều tra, khảo sát và kết quả trình bày trong luận án là trung thực Kết quả nghiên cứu trong luận án chưa được công bố trong bất kỳ tài liệu và công trình nào khác
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận án
Quách Ngọc Dũng
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 3
DANH MỤC BẢNG BIỂU 7
DANH MỤC CHỮ VIẾT TĂT 8
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 10
1.1 Những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 10
1.1.1 Nhóm công trình nghiên cứu về di sản văn hóa, di tích quốc gia đặc biệt 10
1.1.2 Nhóm công trình nghiên cứu quản lý nhà nước về di sản văn hóa, di tích quốc gia đặc biệt 16
1.2 Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu 24
1.2.1 Những kết quả nghiên cứu luận án kế thừa 25
1.2.2 Những vấn đề nghiên cứu đặt ra cho đề tài luận án 26
Kết luận chương 1 28
Chương 2: CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI TÍCH QUỐC GIA ĐẶC BIỆT 29
2.1 Các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài luận án 29
2.1.1 Di tích quốc gia đặc biệt 29
2.1.2 Quản lý nhà nước và quản lý nhà nước về di tích quốc gia đặc biệt 32 2.1.3 Vai trò của quản lý nhà nước về di tích quốc gia đặc biệt 37
2.1.4 Các yếu tố tác động đến quản lý nhà nước về di tích quốc gia đặc biệt 41
2.2 Nội dung quản lý nhà nước về di tích quốc gia đặc biệt 46
2.2.1 Xây dựng, ban hành và thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách, pháp luật về di tích quốc gia đặc biệt 46
2.2.2 Tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ, công chức quản lý nhà nước về di tích quốc gia đặc biệt 49
2.2.3 Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị di tích quốc gia đặc biệt 51
2.2.4 Thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm pháp luật trong quản lý nhà nước về di tích quốc gia đặc biệt 52
Trang 52.3 Kinh nghiệm của một số quốc gia trong hoạt động quản lý nhà nước về di sản thế giới, di tích quốc gia đặc biệt và giá trị tham khảo
đối với Việt Nam 55
2.3.1 Kinh nghiệm của các nước Hàn Quốc, Nhật Bản, Đức 55
2.3.2 Những giá trị tham khảo đối với Việt Nam 60
Kết luận chương 2 61
Chương 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI TÍCH QUỐC GIA ĐẶC BIỆT VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG 62
3.1 Khái quát về vùng đồng bằng sông Hồng và di tích quốc gia đặc biệt vùng đồng bằng sông Hồng 62
3.1.1 Khái quát về vùng đồng bằng sông Hồng 62
3.1.2 Di tích quốc gia đặc biệt vùng đồng bằng sông Hồng 64
3.2 Phân tích thực trạng quản lý nhà nước về di tích quốc gia đặc biệt vùng đồng bằng sông Hồng 70
3.2.1 Xây dựng, ban hành và thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách, pháp luật về di tích quốc gia đặc biệt vùng đồng bằng sông Hồng 70
3.2.2 Tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ, công chức quản lý nhà nước về di tích quốc gia đặc biệt vùng đồng bằng sông Hồng 78
3.2.3 Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị di tích quốc gia đặc biệt vùng đồng bằng sông Hồng 87
3.2.4 Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật trong quản lý nhà nước về di tích quốc gia đặc biệt vùng đồng bằng sông Hồng 91
3.3 Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về di tích quốc gia đặc biệt vùng đồng bằng sông Hồng 95
3.3.1 Những kết quả đạt được 95
3.3.2 Những hạn chế trong hoạt động quản lý nhà nước về di tích quốc gia đặc biệt vùng đồng bằng sông Hồng 97
3.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 102
Kết luận chương 3 104
Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI TÍCH QUỐC GIA ĐẶC BIỆT VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG 106
4.1 Quan điểm và định hướng hoàn thiện quản lý nhà nước về di tích quốc gia đặc biệt vùng đồng bằng sông Hồng 106
Trang 64.1.1 Quan điểm hoàn thiện quản lý nhà nước về di tích quốc gia đặc biệt
vùng đồng bằng sông Hồng 106
4.1.2 Định hướng và mục tiêu 111
4.2 Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về di tích quốc gia đặc biệt ở vùng đồng bằng sông Hồng 113
4.2.1 Xây dựng và ban hành chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách về di tích quốc gia đặc biệt theo hướng liên kết phát triển theo vùng 113
4.2.2 Rà soát, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về di tích quốc gia đặc biệt 119
4.2.3 Kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về di tích quốc gia đặc biệt 123
4.2.4 Nâng cao trình độ năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức quản lý nhà nước về di tích quốc gia đặc biệt 125
4.2.5 Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị di tích quốc gia đặc biệt 127
4.2.6 Thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm vi phạm pháp luật trong quản lý nhà nước về di tích quốc gia đặc biệt 130
4.2.7 Các giải pháp khác 134
Kết luận chương 4 136
KẾT LUẬN 139
DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU, BÀI VIÊT CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ 141
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 142
PHỤ LỤC ĐỀ CƯƠNG NỘI DUNG PHỎNG VẤN SÂU CÁC CHUYÊN GIA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI TÍCH QUỐC GIA ĐẶC BIỆT 152
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Số lượng và tỷ trọng di tích quốc gia đặc biệt vùng đồng bằng sông Hồng 65Bảng 3.2 Di tích quốc gia đặc biệt vùng đồng bằng sông Hồng 65Bảng 3.3 Phân loại di tích quốc gia đặc biệt vùng đồng bằng sông Hồng 68Bảng 3.4 Thống kê phòng quản lý về di sản văn hóa tại các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng năm 2016 79Bảng 3.5 Số lượng Ban quản lý di tích quốc gia đặc biệt vùng đồng bằng sông Hồng năm 2016 83Bảng 3.6 Nguồn vốn đầu tư để bảo tồn di tích quốc gia đặc biệt vùng đồng bằng sông Hồng giai đoạn 2010 - 2016 89
Trang 8
DANH MỤC CHỮ VIẾT TĂT
5 Văn hóa, Thể thao và Du lịch VHTT&DL
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Di sản văn hóa nhân loại nói chung và di tích quốc gia đặc biệt (QGĐB) nói riêng là di sản quý báu của các thế hệ trước truyền lại cho thế hệ sau Di tích QGĐB thuộc di sản văn hoá vật thể, là những yếu tố quan trọng góp phần tạo nên bản sắc độc đáo của văn hoá dân tộc Việt Nam Trong thời gian qua, hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di tích quốc gia được Đảng, Nhà nước và xã hội quan tâm, coi trọng Với vai trò, vị trí đặc biệt của di sản văn hóa nói chung và di tích quốc gia nói riêng trong suốt quá trình phát triển của đất nước, nhất là trong giai đoạn dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đã chỉ ra nhiệm vụ cụ thể: Bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hoá: “Di sản văn hoá là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hoá” Nhà nước đã đầu tư nhiều hơn, có trọng điểm và hiệu quả hơn để bảo tồn, trùng
tu và tôn tạo các di tích quốc gia, để nâng cấp cơ sở hạ tầng nơi có di tích Nhiều di tích quốc gia đã được phục hồi và được xếp hạng di tích QGĐB, nhiều điểm tham quan du lịch mới được tạo ra xung quanh các khu di tích QGĐB Di tích QGĐB đã góp phần quan trọng để phát triển kinh tế, trở thành những điểm du lịch hấp dẫn trong đời sống văn hoá, tinh thần của nhân dân cả nước cũng như du khách quốc tế, đã và đang đóng góp thiết thực vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương
Trong các vùng trên lãnh thổ Việt Nam, đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) nằm trong vùng văn hóa Đông Sơn, văn hóa Đại Việt, Là vùng có nhiều di tích QGĐB với các công trình tín ngưỡng, tôn giáo và di tích danh lam thắng cảnh Vùng ĐBSH hiện nay, bao gồm 11 tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương là: Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Thái Bình, Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình và Quảng Ninh Với mật độ dân
Trang 10cư đông đúc nhất cả nước, cũng là nơi có số lượng lớn di tích QGĐB trong đó nổi bật là Thủ đô Hà Nội, luôn đóng vai trò trung tâm về chính trị, kinh tế và văn hoá của cả nước Di tích QGĐB vùng ĐBSH có bề dày lịch sử lâu đời, mật
độ dày đặc, đa dạng về loại hình bao gồm: di tích lịch sử văn hóa, di tích kiến trúc nghệ thuật, di tích khảo cổ, danh lam thắng cảnh
Tuy nhiên, có nhiều di tích đang bị xuống cấp và bị xâm hại nghiêm trọng Thực tế cho thấy, có nhiều nguyên nhân làm cho di tích bị xuống cấp nghiêm trọng do sự khắc nghiệt của thiên nhiên, sự khai thác di tích quá mức,
sự xâm hại của con người Trong đó, xét dưới góc độ quản lý, có nguyên nhân quan trọng cần phải xem xét, nghiên cứu về tính hiệu lực, hiệu quả của quản
lý nhà nước (QLNN) về di tích QGĐB Bên cạnh những mặt thuận lợi và đạt hiệu lực, hiệu quả quản lý đối với di tích QGĐB thì vẫn còn những hạn chế bất cập như: Tình trạng xâm hại di tích, vi phạm lấn chiếm đất đai, che lấp không gian di tích chưa được giải quyết; vấn đề xã hội hoá để bảo tồn, trùng
tu và tôn tạo di tích thiếu sự kiểm tra, kiểm soát, đã không giữ được giá trị nguyên gốc của di tích; hệ thống văn bản pháp luật chưa cụ thể, chi tiết, quy chế quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di tích QGĐB còn thiếu, chưa đồng bộ; đội ngũ cán bộ, công chức quản lý còn hạn chế về trình độ, năng lực; quy
mô, tổ chức quản lý không thống nhất, có sự chồng chéo về chức năng và nhiệm vụ tạo nên những mâu thuẫn, gây khó khăn cho hoạt động quản lý; thiếu cơ chế phối hợp giữa các cơ quan QLNN các cấp nên khi tổ chức hoạt động, phối hợp liên ngành trong công tác bảo tồn và khai thác phát huy giá trị
di tích QGĐB còn nhiều bất cập Vấn đề đặt ra là việc tích cực bảo tồn và phát huy giá trị di tích QGĐB, giữ gìn truyền thống văn hoá dân tộc sao cho phù hợp, hiệu quả Để có thể đáp ứng yêu cầu và thực hiện được mục tiêu đó đòi hỏi hoạt động QLNN phải có hiệu lực, hiệu quả mới có thể bảo tồn, giữ gìn và phát huy các giá trị của di tích QGĐB phục vụ cho công cuộc phát triển đất nước một cách bền vững Đặt biệt, trong bối cảnh hội nhập quốc tế
Trang 11và toàn cầu hóa, những thách thức trong hoạt động QLNN đối với di tích QGĐB vùng ĐBSH càng tăng Giai đoạn hiện nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường trong xu thế toàn cầu hóa, những thách thức chủ yếu trong hoạt động QLNN đối với di sản văn hóa nói chung và di tích QGĐB nói riêng bao gồm: Xu thế hội nhập quốc tế tạo cơ hội để tiếp thu những tinh hoa văn hoá của thế giới nhưng cũng đồng thời nảy sinh những nguy cơ về sự thay đổi quan niệm sống, cách sống mới thâm nhập và tác động nhiều đến giá trị văn hoá truyền thống; đời sống văn hoá - xã hội của cộng đồng dân cư nói chung trong đó có vùng ĐBSH còn có khoảng cách khác xa nhau giữa khu vực nông thôn và thành thị; hoạt động QLNN về di sản văn hoá nói chung và
về di tích QGĐB nói riêng chưa đáp ứng yêu cầu của thực tiễn Trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN),
để có thể phát huy được bản sắc văn hoá dân tộc nhất thiết phải bảo đảm giữ gìn và phát huy những nhân tố tích cực của văn hoá truyền thống mà nền tảng
cơ bản là những di sản văn hóa vật thể và phi vật thể QLNN về di tích QGĐB cần phải có những chính sách và giải pháp đúng đắn cùng với sự nỗ lực chung của toàn xã hội và cộng đồng quốc tế
Từ những lý do chính nêu trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Quản lý nhà nước về di tích quốc gia đặc biệt vùng đồng bằng sông Hồng” để nghiên
cứu triển khai thực hiện luận án tiến sĩ quản lý công là cần thiết xét dưới góc
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, đề tài xác định thực hiện các nhiệm vụ sau:
Trang 12- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài, nghiên cứu một
số công trình khoa học trong nước và ngoài nước dưới góc độ lý luận và thực tiễn để kế thừa và giải quyết những vấn đề nghiên cứu đặt ra trong đề tài
- Hệ thống hóa những lý luận cơ bản của QLNN, phân tích làm rõ cơ sở khoa học của QLNN về di tích QGĐB như: khái niệm di tích quốc gia đặc biệt, QLNN về di tích QGĐB; nội dung QLNN về di tích QGĐB; nghiên cứu kinh nghiệm QLNN về di tích, di sản văn hóa thế giới
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng QLNN về di tích QGĐB vùng ĐBSH giai đoạn 2010-20107, trên cơ sở đó chỉ ra những ưu điểm, hạn chế, tìm ra nguyên nhân của thực trạng
- Xác định quan điểm hoàn thiện QLNN về di tích QGĐB vùng ĐBSH
từ đó đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện QLNN về di tích QGĐB vùng ĐBSH
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu hoạt động QLNN về di tích QGĐB vùng ĐBSH
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Trong phạm vi đề tài nghiên cứu là hoạt động QLNN về
di tích QGĐB vùng ĐBSH với bốn nội dung cụ thể: Về xây dựng, ban hành
và thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách, pháp luật về di tích QGĐB; về tổ chức bộ máy QLNN và đội ngũ cán bộ, công chức quản lý di tích QGĐB; về huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị di tích QGĐB; và thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật trong QLNN về di tích QGĐB
- Về không gian: Đề tài nghiên cứu di tích QGĐB vùng ĐBSH gồm 11 tỉnh, thành phố (Hà Nội, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình, Quảng Ninh)
Trang 13- Về thời gian: luận án nghiên cứu tài liệu, khảo sát QLNN về di tích QGĐB vùng ĐBSH giai đoạn từ năm 2010 - 2017, từ khi có Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa số: 32/2009/QH12 ngày 18/6/2009 có hiệu lực từ ngày 01/01/2010 (Bổ sung mới về di tích QGĐB)
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp luận
Luận án được thực hiện nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của học thuyết Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh theo quan điểm duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và lý thuyết hệ thống
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nghiên cứu, luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, đối chiếu, hệ thống hóa, dự báo khoa học để đưa ra các kết quả nghiên cứu
- Phương pháp phân tích tài liệu: phương pháp này được sử dụng để phân tích cả tài liệu sơ cấp và tài liệu thứ cấp Tài liệu sơ cấp bao gồm các văn bản pháp luật và Văn kiện của Đảng có liên quan, các số liệu thống kê chính thức của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Tài liệu thứ cấp bao gồm các bài báo, tạp chí, kết luận phân tích đã được các tác giả khác thực hiện
- Phương pháp tổng hợp: phương pháp này được sử dụng để tổng hợp các số liệu, tri thức có được từ hoạt động phân tích tài liệu, phỏng vấn, hỏi chuyên gia Việc tổng hợp nhằm mục đích đưa ra những luận giải, nhận xét và
đề xuất của đề tài
- Phương pháp so sánh: phương pháp này chủ yếu được áp dụng để so sánh QLNN về di tích ở Việt Nam và một số quốc gia khác trên thế giới
- Phương pháp lịch sử: Vấn đề QLNN đối với di tích QGĐB vùng
ĐBSH đã được nhiều nhà nghiên cứu và các tổ chức trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu và ứng dụng trong lịch sử Mỗi giai đoạn, các lý thuyết
và kết quả ứng dụng lại có những bước tiến nhất định Do vậy, tác giả sử dụng
Trang 14phương pháp này để nghiên cứu lịch sử QLNN đối với di tích QGDB, phân tích những ưu điểm, nhược điểm của các giai đoạn lịch sử
- Phương pháp thu thập thông tin dữ liệu cho luận án để chứng minh cho
thực trạng QLNN về di tích QGDB vùng ĐBSH Để thu thập thông tin,
trước hết đề tài sử dụng phương pháp thống kê để đưa ra các số liệu cần thiết Phương pháp đánh giá, tổng kết thực tiễn thông qua kết quả thống kê, báo cáo cũng được thực hiện Mặt khác, xuất phát từ đối tượng nghiên cứu khá rộng, mang tính định tính vì vậy các phương pháp nghiên cứu như: phỏng vấn sâu, khảo sát bằng bảng hỏi được sử dụng để đưa ra những đánh gia đa chiều, xác thực
Liên quan đến việc đi thực địa và khảo sát, tác giả thực hiện khảo sát
ở 11 tỉnh, thành phố vùng ĐBSH (gồm: Hà Nội, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Hà Nam, Ninh Binh, Quảng Ninh)
Đối tượng khảo sát là các cơ quan QLNN cụ thể: Bộ VHTT&DL: Văn phòng Bộ, Cục Di sản Văn hóa (phòng quản lý di tích), Thanh Tra Bộ (phòng thanh tra văn hóa), Vụ Kế hoạch Tài Chính (phòng kế hoạch tổng hợp), Vụ Pháp Chế (tổ Pháp chế); UBND tỉnh, thành phố vùng ĐBSH: Sở VHTT&DL (phòng quản lý di sản văn hóa), Ban quản lý di tích QGĐB, UBND quận, huyện, thị xã (phòng văn hóa thông tin), UBND xã, phường
và thị trấn (ban văn hóa) Thực hiện khảo sát và phỏng vấn trực tiếp lãnh đạo một số cơ quan, đơn vị, cá nhân liên quan đến QLNN về di tích QGĐB Ngoài ra, có tham khảo ý kiến của Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam, Hội Di sản văn hóa Việt Nam, Viện Bảo tồn Di tích
Bên cạnh đó, đề tài cũng sử dụng một số phương pháp nghiên cứu bổ trợ khác như: phương pháp quy nạp, phương pháp diễn dịch để cung cấp thêm
các luận cứ khoa học và thực tiễn triển khai đề tài
Trang 155 Giả thuyết khoa học và câu hỏi nghiên cứu
5.1 Giả thuyết khoa học
Di tích QGĐB có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc QLNN về di tích QGĐB đóng vai trò quyết định trong việc bảo tồn và phát huy giá trị của di tích QGĐB Tuy nhiên, di tích QGĐB vùng ĐBSH vẫn bị xuống cấp và bị xâm hại do nhiều nguyên nhân khác nhau Nếu có giải pháp tốt theo hướng thống nhất quản lý và phân cấp quản lý cho chính quyền địa phương, kết hợp giữa Bộ quản lý ngành (Bộ VHTT&DL) với QLNN trên địa bàn của các địa phương và sự liên kết phát triển theo vùng, đồng thời xã hội hóa nguồn lực cho bảo tồn và phát huy giá trị di tích QGĐB và cùng với việc tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát thì mới có thể thoàn thiện QLNN về di tích QGĐB vùng ĐBSH trong thời gian tới
5.2 Câu hỏi nghiên cứu
Luận án giải quyết một số câu hỏi nghiên cứu chính như sau:
- Di tích QGĐB là gì? Nội hàm khái niệm QLNN về di tích QGĐB là gì?
- Vai trò, giá trị của di tích QGĐB như thế nào? Vai trò và sự cần thiết QLNN về di tích QGĐB trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị của di tích QGĐB như thế nào?
- Hiện trạng di tích QGĐB ở vùng ĐBSH hiện nay như thế nào?
- Thực trạng QLNN về di tích QGĐB vùng ĐBSH giai đoạn hiện nay như thế nào? Ưu điểm? Hạn chế và nguyên nhân?
- Quan điểm, định hướng và giải pháp nào để hoàn thiện QLNN về di tích QGĐB vùng ĐBSH?
6 Đóng góp mới của luận án
Những đóng góp mới của luận án được thể hiện trên các khía cạnh sau:
6.1 Đóng góp mới về lý luận
- Hệ thống hóa những vấn đề cơ bản của lý luận QLNN về di tích QGĐB; làm rõ khái niệm di sản văn hoá, di tích, di tích QGĐB, QLNN về di
Trang 16tích QGĐB, vai trò của di tích QGĐB, phân tích các yếu tố tác động QLNN
về di tích QGĐB
- Góp phần bổ sung, phát triển một số nội dung lý luận QLNN về di tích QGĐB như: tổng kết, đánh giá kinh nghiệm của một số quốc gia và địa phương trong hoạt động quản lý di sản, di tích
- Đề tài đánh giá một cách khách quan và toàn diện thực trạng QLNN
về di tích QGĐB vùng ĐBSH hiện nay; chỉ ra những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân trong hoạt động QLNN về di tích QGĐB vùng ĐBSH giai đoạn 2010-2017
- Luận án xác định quan điểm, định hướng hoàn thiện QLNN về di tích QGĐB và đề xuất các giải pháp hoàn thiện QLNN về di tích QGĐB vùng ĐBSH trong thời gian tới Luận án đề xuất giải pháp xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển các di tích QGĐB theo hướng phát triển vùng, không tách biệt theo địa phương riêng rẽ để có sự liên kết phối hợp giữa các địa phương và các
cơ quan chức năng cũng như sự phát triển đồng bộ của các di tích QGĐB trong vùng; luận án đề xuất cần phải thực hiện phân cấp quản lý di tích QGĐB theo hướng thống nhất mô hình tổ chức chung ở tất cả các tỉnh, thành phố vùng ĐBSH
6.2 Đóng góp mới về thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu góp phần nâng cao nhận thức trong hoạt động thực tiễn của các nhà quản lý, cán bộ, công chức, viên chức và các đối tượng khác có liên quan hoặc tham gia vào hoạt động QLNN về di tích QGĐB vùng ĐBSH
- Luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho việc học tập và nghiên cứu khoa học quản lý công, chính sách công Những đề xuất trong luận án là nguồn tư liệu để xây dựng và ban hành chính sách và hoàn thiện QLNN về di tích QGĐB
Trang 177 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án kết cấu thành 4 chương, bao gồm:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở khoa học quản lý nhà nước về di tích quốc gia đặc biệt Chương 3: Thực trạng quản lý nhà nước về di tích quốc gia đặc biệt vùng đồng bằng sông Hồng
Chương 4: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về di
tích quốc gia đặc biệt vùng đồng bằng sông Hồng
Trang 18Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 Những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
1.1.1 Nhóm công trình nghiên cứu về di sản văn hóa, di tích quốc gia đặc biệt
Nghiên cứu về di sản văn hoá, di tích QGĐB được rất nhiều các nhà nghiên cứu thuộc nhiều ngành khoa học khác nhau tiếp cận Có thể kể đến một số công trình khoa học tiêu biểu như:
- Luận án tiến sĩ Văn hóa học, chuyên ngành Quản lý văn hóa năm
2008: “Di sản văn hóa truyền thống với vấn đề phát triển du lịch (trên cơ sở
khảo sát địa bàn tỉnh Hưng Yên)” của tác giả Lê Hồng Hạnh [34], đã đưa ra
vấn đề nhằm tăng cường công tác quản lý, bảo vệ di sản văn hóa và hoạt động khai thác phục vụ du lịch; đề cập giải pháp phân cấp quản lý để khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực đến cảnh quan môi trường văn hóa trong quá trình phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Hưng Yên trong đó có các công trình di tích QGDB trên địa bàn Những phân tích của tác giả cung cấp những luận cứ cho luận án khi nghiên cứu đánh giá thực trạng di tích QGĐB ở vùng đồng bằng sông Hồng cũng như thực trạng QLNN về di tích QGĐB vùng ĐBSH
- Luận án tiến sĩ Văn hóa học, chuyên ngành Quản lý văn hóa năm
2015:“Quản lý di tích lịch sử - văn hoá ở Bắc Ninh trong quá trình công
nghiệp hoá, đô thị hoá” của tác giả Trần Đức Nguyên [72], đã đề cập phân
tích thực trạng hoạt động quản lý di tích lịch sử - văn hóa, những tác động của quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá đối với các di tích và hoạt động quản lý
di tích lịch sử - văn hoá ở Bắc Ninh, từ đó đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị của các
di tích lịch sử - văn hóa ở tỉnh Bắc Ninh nói chung và các di tích QGĐB trong giai đoạn hiện nay
Trang 19- Luận án tiến sĩ Văn hóa học, chuyên ngành Quản lý văn hóa năm 2015:
“Quản lý Di sản thế giới ở Việt Nam qua trường hợp cố đô Huế và đô thị cổ Hội An” của tác giả Trịnh Ngọc Chung [16] đã đề cập, đánh giá thực trạng
việc QLNN cụ thể tại Trung tâm bảo tồn di tích Cố đô Huế và Trung tâm quản lý, bảo tồn di sản văn hoá Hội An; nghiên cứu mô hình quản lý di sản thế giới ở Việt Nam, đánh giá thực trạng và đề xuất mô hình và giải pháp quản lý di sản thế giới ở Việt Nam Đây là những di tích QGĐB ở khu vực miền Trung Những phân tích của tác giả có thể giúp luận án so sánh đối chiếu với di tích QGDB ở vùng ĐBSH
- Luận án tiến sĩ kinh tế năm 2013:“Tổ chức các hoạt động du lịch tại
một số di tích lịch sử văn hoá quốc gia của Hà Nội theo hướng phát triển bền vững” của tác giả Nguyễn Văn Đức [30], đã đề cập nghiên cứu ba di tích
QGĐB ở Hà Nội gồm Văn Miếu Quốc Tử Giám, Đền Ngọc Sơn và di tích Cổ Loa, đã phân tích, đánh giá thực trạng tổ chức các hoạt động du lịch tại di tích, đề xuất giải pháp phát triển du lịch bền vững Đây cũng là một hướng nghiên cứu để luận án tham khảo Bởi mục đích của QLNN đối với di tích QGDB là phải hướng tới bảo tồn,bảo tàng và phát triển bền vững
- Bài viết của tác giả Nguyễn Thế Hùng: “Phát huy giá trị di tích phục
vụ sự nghiệp bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước [55], đề cập khái quát
hệ thống di tích lịch sử - văn hóa của Việt Nam, nhận định rằng số lượng di tích của cả nước rất lớn, đa dạng về loại hình và có giá trị to lớn về nhiều mặt
là nguồn tài nguyên vô giá của đất nước Nội dung bài viết nêu thực trạng hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh còn bộc lộ những thiếu sót cơ bản, lúng túng trong việc xử lý một cách hài hòa mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển; chưa nhận thức thật sâu sắc vị trí, vai trò của di tích trong quá trình đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế; có nơi, có lúc vẫn tồn tại xu thế thương mại hóa di tích, đặt các mục tiêu,
dự án phát triển kinh tế cao hơn các mục tiêu về bảo vệ di tích, thậm chí có
Trang 20những dự án về phát triển kinh tế được triển khai tại khu vực di tích nhưng dự
án không hề đề xuất bất cứ biện pháp nào để bảo tồn di tích Cơ sở hạ tầng tại các di tích còn nhiều yếu kém đồng thời tác giả đã đưa ra một số quan điểm, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích góp phần vào sự nghiệp bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước Bài viết góp phần giúp luận án tham chiếu, so sánh khi đánh giá thực trạng di tích QGDB ở vùng ĐBSH hiện nay
- Bài viết của tác giả Phạm Mai Hùng: “Chủ tịch Hồ Chí Minh với việc
bảo tồn di sản văn hoá dân tộc” [45], nhân kỷ niệm lần thứ 70 ngày Chủ tịch
Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 65 ngày 23/11/1945 - Sắc lệnh đầu tiên đặt nền móng pháp lý cho sự nghiệp bảo tồn di sản văn hóa dân tộc, tác giả đã phân tích, đánh giá về hoạt động bảo tồn di sản văn hóa, xây dựng bảo tàng ở Việt Nam và việc mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo tồn di sản văn hóa
- Bài viết:“Vai trò của cộng đồng trong bảo tồn và phát huy giá trị di
sản văn hoá”, của tác giả Nguyễn Quốc Hùng (Viện Văn hoá Nghệ thuật
Quốc gia Việt Nam) [54], đề cập đến việc bảo vệ các di tích của cộng đồng
dân cư ở các địa phương, đánh giá vai trò to lớn của cộng đồng đã góp phần bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa Nhà nước cần có chính sách phù hợp hỗ trợ, hướng dẫn nhằm huy động sức mạnh của cộng đồng để bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa ở nước ta ngày một tốt hơn Bài viết cùng tác
giả: “Một số kinh nghiệm quốc tế về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá
và thiên nhiên”, Tạp chí Di sản văn hoá số 3 (44), 2013, đề cập nội dung
Công ước liên quan trực tiếp đến bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên mà nước ta đã phê chuẩn hoặc tham gia Đối với công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa và thiên nhiên qua nghiên cứu một số hoạt động của UNESCO và một số nước trong khu vực Đông Nam Á, Đông Á và châu Âu
về bảo vệ di sản văn hóa, cần phải có những công cụ pháp lý hữu hiệu như là Công ước quốc tế
Trang 21- Bài viết của tác giả Nguyễn Viết Cường: “Bảo tồn di tích trong bối
cảnh hiện nay”, [21], đề cập thực tế bảo tồn di tích hiện nay, đáng chú ý trong
bài viết đưa ra đề xuất cần thiết phải có quy định cụ thể cho một tổ chức mang chức năng bảo trợ di tích để đáp ứng yêu cầu xã hội hóa hiện nay Bài viết cùng
tác giả: “Vấn đề nghiên cứu, áp dụng quy định quốc tế trong thực tiễn bảo vệ
và phát huy giá trị di tích ở nước ta”, Tạp chí Di sản văn hoá số 1 (46), 2014,
[22]đề cập mô hình quản lý các di sản văn hoá và thiên nhiên thế giới của UNESCO với đầy đủ các cơ quan, bộ phận chức năng có vai trò, vị trí và nhiệm vụ được xác định cụ thể trong quy chế hoạt động của các cơ quan đó để bảo vệ, bảo tồn và phát huy giá trị di sản ở các quốc gia thành viên trên toàn thế giới Các tổ chức xã hội nghề nghiệp có khả năng huy động các nguồn lực xã hội, tư vấn, hỗ trợ cho Nhà nước và cộng đồng trong việc bảo tồn di sản văn hóa và thiên nhiên, tư vấn về những vấn đề liên quan tới di sản văn hóa và thiên nhiên Thực tiễn bảo tồn các di sản văn hóa và thiên nhiên trong thời gian qua ở Việt Nam cho thấy nghiên cứu các vấn đề thuộc Công ước quốc tế lại càng trở lên quan trọng hơn bao giờ hết
- Bài viết: “Về công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích tại cấp cơ sở
trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh”, Tạp chí Di sản văn hoá số 1 (2015) của tác giả
Nguyễn Văn Phong [74], đề cập công tác quy hoạch chi tiết di tích QGĐB, một số di tích quốc gia tiêu biểu của tỉnh Bắc Ninh, việc quản lý, bảo vệ di tích cần thiết có sự tham gia tích cực của các ban, ngành, đoàn thể và các tổ chức chính trị xã hội đồng thời nhấn mạnh vai trò và trách nhiệm của cấp ủy Đảng, chính quyền cơ sở ở tỉnh Bắc Ninh
- Bài viết của tác giả Phạm Thị Khánh Ngân: “Xây dựng các quy chuẩn
kỹ thuật quốc gia trong ngành di sản văn hoá - thực trạng và một số giải pháp”, [69] đề cập thực tế hiện nay, chưa có những quy chuẩn kỹ thuật mang
tính quốc gia đối với lĩnh vực bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa dẫn đến việc không thống nhất khi thực thi các hoạt động tu bổ, tôn tạo, bảo vệ và phát
Trang 22huy giá trị di tích Sự phối hợp giữa cơ quan quản lý chuyên ngành di sản văn hoá với chính quyền các cấp chưa tích cực và kịp thời Để có cơ sở và hành lang pháp lý giúp cho việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa có hiệu quả, cần phải xây dựng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với lĩnh vực bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa càng trở nên cấp thiết trong thời kỳ hội nhập và phát triển đất nước hiện nay
- Bài viết của tác giả PGS.TS Đặng Văn Bài: “Bảo tồn di sản văn hoá
gắn với phát triển bền vững nhìn từ 6 tỉnh Bắc Trung Bộ”, [9], đề cập di sản
văn hóa các tỉnh Bắc Trung Bộ đã tạo nên sắc thái văn hóa độc đáo, hấp dẫn
và đa dạng, đề xuất việc bảo tồn di sản văn hoá ở các tỉnh yêu cầu gắn với phát triển du lịch bền vững
- Bài viết của tác giả PGS.TS Nguyễn Công Việt: “Bảo tồn và phát huy
giá trị di sản văn hóa đối với di tích trọng điểm vùng đồng bằng Bắc Bộ”,
Hội thảo khoa học “Di sản văn hóa với Chiến lược phát triển bền vững” (3/2017) [94], đề cập vấn đề khai thác phát huy giá trị di tích ở một số địa phương như tại đền Trần Kiếp Bạc - Hải Dương, đền Trần Bảo Lộc - Nam Định, đền Trần Thương - Hà Nam, đền Trần Tiến Đức - Thái Bình là các di tích đền Trần tiêu biểu ở đồng bằng Bắc Bộ nhưng còn không ít hạn chế, bất cập; vấn đề xã hội hóa không được kiểm soát dẫn đến những sai sót, lệch lạc không theo quy chuẩn Theo tác giả, việc bảo tồn phát huy giá trị di tích và phát triển kinh tế - xã hội là nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết, đòi hỏi sự thống nhất phối kết hợp chặt chẽ giữ các cấp, các ngành và có sự chỉ đạo sát sao của ngành Văn hóa, của chính quyền cấp tỉnh đồng thời là công tác tuyên truyền, giáo dục ý thức văn hóa trong cộng đồng
Ngoài các công trình, bài viết nghiên cứu chuyên sâu nêu trên, một số bài viết trên các phương tiện thông tin truyền thông đã đề cập những vấn đề hạn chế trong hoạt động quản lý di tích QGĐB như:
- Bài viết: “Tranh cãi lớn quanh việc quét vôi mới Văn Miếu - Quốc Tử
Giám” của tác giả Hà Tùng Long, Báo Dân trí điện tử, ngày 10/01/2017 [64]
Đề cập việc trùng tu di tích, những hạng mục được quét vôi mới tạo nên một
Trang 23hình ảnh mới lạ bị cho là phản cảm, việc quét vôi mới này đã làm mất đi nét
cổ kính vốn có của di tích, bài viết còn cho rằng, việc làm đó đã xâm phạm
nghiêm trọng đến di tích QGĐB này Bài viết cùng tác giả: “Hoàng thành
Thăng Long khác lạ trong màu áo mới”, Báo Dân trí điện tử, ngày
17/01/2017 Đề cập di tích lịch sử và khảo cổ Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội, đã được khoác lên mình màu “áo mới” Bài viết cũng đặt câu hỏi về hoạt động làm mới di tích này, công trình di tích có bị làm mất nét nguyên bản Nhà quản lý đã bỏ qua nguyên tắc bảo quản hay việc trùng tu không nhất thiết là phải tôn trọng cái cũ Đây là bài báo mang tính chất thông tin về sự việc, không phải ý kiến của các nhà chuyên môn mà là ý kiến của tác giả bài viết, cần có tiếng nói của các nhà chuyên môn trao đổi lại
- Bài viết của tác giả An Khanh: “Những hành vi bị cấm ở di sản vịnh
Hạ Long, Quảng Ninh” [61] Thông tin về việc UBND tỉnh Quảng Ninh ban
hành Quyết định số 4216/2016/QĐ-UBND ngày 15/12/2016 quyết định về việc ban hành Quy chế quản lý, bảo vệ, phát huy di sản vịnh Hạ Long Tất cả các hoạt động khai thác và phát huy giá trị vịnh Hạ Long (kể cả các dự án phát triển kinh tế - xã hội trên Vịnh) đã và đang thực hiện nếu chưa phù hợp với các quy định tại Quy chế này thì các tổ chức, cá nhân (chủ dự án) phải tiến hành xem xét, điều chỉnh lại và trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền thẩm định, phê duyệt cho phù hợp
- Bài viết của tác giả Trọng Tài: “Nhiều sai phạm tại Ban Quản lý Vịnh
Hạ Long” [77] đề cập hàng loạt sai phạm tại Ban quản lý Vịnh Hạ Long đã
được UBND thành phố Hạ Long chỉ ra qua thanh tra công tác quản lý và sử dụng tài chính, ngân sách năm 2015 Ban quản lý Vịnh Hạ Long chưa thực hiện tốt nhiệm vụ QLNN đối với các hoạt động dịch vụ trên Vịnh dẫn tới việc buông lỏng quản lý, thiếu sự kiểm soát, gây thất thu ngân sách
- Bài viết: “Xử lý nghiêm vụ di tích quốc gia Yên Tử bị xâm hại nghiêm
trọng” của tác giả Ngân Hà [33] đề cập phản ánh sự buông lỏng quản lý của các
cơ quan QLNN có thẩm quyền; đơn vị được giao quản lý, vận hành, xây dựng
Trang 24khu danh thắng Yên Tử tỉnh Quảng Ninh, chủ đầu tư đã phá dỡ chùa cũ để xây dựng công trình mới, xâm hại di tích QGĐB đã vi phạm luật di sản văn hóa
- Bài viết của tác giả Phương Thúy - Đào Yến: “Quản lý di sản ở Việt
Nam còn nhiều bất cập” [84] đề cập nhiều vấn đề bất cập trong công tác quản
lý di sản thế giới như việc đổ bê tông ở di tích Mỹ Sơn, báo động về ô nhiễm môi trường ở vịnh Hạ Long, khai thác gỗ trong rừng Phong Nha - Kẻ Bàng… Những khó khăn, bất cập trong công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị
di sản thế giới ở nước ta đã được chỉ ra như thiếu quy định, quy chế quản lý, thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong quá trình xử lý những vấn đề nảy sinh Theo tác giả bài viết cần thiết phải nâng cao năng lực quản lý, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát các di sản văn hóa
và di sản thiên nhiên thế giới
- Bài viết của tác giả Nguyễn Văn Luật - Đại biểu Quốc hội tỉnh Kiên Giang: “Trách nhiệm của Ban Quản lý di tích trong việc bảo vệ di tích lịch
sử, văn hóa”,[66] đề cập công tác QLNN về bảo vệ di tích lịch sử - văn hóa
đã được xếp hạng theo Luật Di sản văn hóa trên địa bàn cả nước còn nhiều bất cập, hạn chế, trong đó có công tác của các Ban quản lý di tích, công tác bảo tồn, tu sửa di tích, bảo đảm lợi ích người dân Nhiều di tích quốc gia bị xâm hại nghiêm trọng do hoạt động kém hiệu quả, kém năng lực của các Ban quản
lý di tích nhưng chậm được phát hiện xử lý Khi có sai phạm xảy ra lại có tình trạng đùn đẩy trách nhiệm giữa các cơ quan, gây bất bình trong nhân dân
1.1.2 Nhóm công trình nghiên cứu quản lý nhà nước về di sản văn hóa, di tích quốc gia đặc biệt
Nghiên cứu về QLNN và QLNN ở các lĩnh vực khác nhau mặc dù không trực tiếp liên quan đến đề tài nghiên cứu nhưng là cơ sở để đề tài tham chiếu những kiến thức lý luận nền tảng về QLNN
- Bhakhakanok Ratanawaraporn: “The guideline for conservation of living heritage temples in Thailand context The case study in Rattanakosin
Trang 25Island”, Silpakorn, 2011 (Tác giả Bhakhakanok Ratanawaraporn: Hướng dẫn bảo tồn các ngôi đền di sản trong hoàn cảnh của Thái Lan Nghiên cứu trường hợp các ngôi đền di sản ở Đảo Rattanakosin, Đại học Silpakorn, 2011) Luận
án tiến sĩ thuộc chương trình quản lý di sản kiến trúc và du lịch của tác giả Bhakhakanok Ratanawaraporn với đề tài “Hướng dẫn bảo tồn các ngôi đền di sản trong hoàn cảnh của Thái Lan Nghiên cứu trường hợp các ngôi đền di sản
ở Đảo Rattanakosin” [103] Trong đề tài nghiên cứu này, tác giả đã chỉ ra tầm quan trọng của việc bảo tồn các ngôi đền di sản tại Thái Lan, giới thiệu các khái niệm bảo tồn di sản văn hóa của các tổ chức quốc tế và một số quốc gia, giới thiệu Phật giáo ở Thái Lan, đánh giá giá trị văn hóa của Đảo Rattanakosin và 12 ngôi đền di sản trên Đảo Rattanakosin và cuối cùng đánh giá sự cần thiết của việc bảo tồn các ngôi đền di sản, đề ra các hướng dẫn mẫu cho việc bảo tồn các ngôi đền di sản văn hóa tại Thái Lan
- “Heritage: Management, Interpretation, Identity”, Peter Howard,
A&C Black, 2003 (Cuốn sách:“Di sản: Quản lý, diễn giải và bản sắc”, nhà
xuất bản A&C Black, 2003), của tác giả Peter Howard [120], đề cập di sản và
bảo tồn di sản là một mối quan tâm lớn trên thế giới, để thiết lập bản sắc, cũng như thu hút du khách, di sản thiên nhiên và văn hóa cần phải được bảo vệ, bảo tồn, quản lý và giải thích bởi gia đình, các thành phố, các quốc gia Tác giả cho rằng, việc quản lý di sản xuất hiện vào khoảng đầu thế kỷ XIX, ban đầu là những người say mê di sản với lòng tin rằng họ bảo tồn những thứ vì lợi ích của công chúng Về sau, sang thế kỷ XX là sự ra đời của các Hiệp hội di sản ở châu Âu, việc nghiên cứu di sản đã phát triển mạnh vào cuối thế kỷ XX Tác giả Peter Howard đã phân nhóm các lĩnh vực của di sản thành: thiên nhiên, cảnh quan, đài kỷ niệm, khu di tích, đồ tạo tác, các hoạt động và con người
- “Asean Heritage Management, context, concerns and prospects”,
2013, edited by Kapila D Silva and Neel Kamal Chapagain (Quản lý di sản Châu Á, bối cảnh, quan tâm và triển vọng) [113], sách xuất bản năm 2013 của
Trang 26hai tác giả Kapila D Silva và Neel Kamal Chapagain, biên tập các bài viết của nhiều tác giả đề cập nội dung về quản lý di sản ở Châu Á
- Neville Agnew and Martha Demas, The Getty Conservation Institute:
“Principles for the Conservation of Heritage Sites in China” Publication by the Getty Conservation Institute, 2004 (Sách của tác giả Neville Agnew và Martha Demas, Viện Bảo tồn Getty: “Những nguyên tắc về bảo tồn các khu di sản ở Trung Quốc do Viện Bảo tồn Getty xuất bản, 2004) [118] Đề cập nội dung về các nguyên tắc bảo tồn các khu di sản ở Trung Quốc Đây là một bản hướng dẫn chuyên môn trong khuôn khổ luật pháp và quy định liên quan đến việc bảo tồn các khu di sản và cung cấp những hướng dẫn cho các công tác bảo tồn đối với các khu di sản này cũng như những tiêu chí để đánh giá các công tác này Những nguyên tắc này cũng giải thích một số điều quy định của pháp luật Trung Quốc về bảo vệ di sản văn hóa và cơ sở cho việc giải quyết những vấn đề liên quan đến các khu di sản
- Sally Brockwell, Sue O’Connor & Denis Byrne “Transcending the Culture - Nature Divide in Cultural Heritage, Views from the Asia-Pacific Region”, The Australian National University, 2013 (Sách của tác giả Sally Brockwell, Sue O’Connor & Denis Byrne: “Vượt qua ranh giới Văn hoá - Thiên nhiên, Di sản Văn hoá nhìn từ Khu vực Châu Á Thái Bình Dương”, Đại học Quốc gia Úc, (2013) [122] Tác giả biên tập các bài viết của nhiều tác giả
đề cập thiên nhiên và văn hoá trong quản lý di sản thế giới nhìn từ khu vực Châu Á Thái Bình Dương; Hệ thống quản lý và phong tục của di sản thế giới
ở các đảo Thái Bình Dương; Di sản địa phương và các vấn đề với bảo tồn; thay đổi quan điểm về mối quan hệ giữa di sản, cảnh quan và cộng đồng địa phương; quản lý di sản văn hóa ở Papua New Guinea Đây là tập hợp các nghiên cứu về những cơ chế đang được thực hiện ở khu vực để bảo tồn các giá trị di sản văn hóa Cuốn sách này cung cấp một cái nhìn tổng quan về mức
độ mà các cộng đồng địa phương đã thực hiện để đánh giá giá trị của các di
Trang 27sản và bảo tồn chúng Nội dung cuốn sách tập trung vào phạm vi của các chế
độ quản lý cho phép, hỗ trợ hoặc ngăn cản mối quan hệ liên tục giữa các khu
di sản và phong cảnh thiên nhiên và đưa ra những vấn đề mà các cơ quan gặp phải trong việc bảo vệ và quản lý các khu di sản
- Ken Taylor: “Cultural Heritage Management: A Possible Role for Charters and Principles in Asia”, International Journal of Heritage Studies, Vol 10,
No 5, December 2004, p 417-433 (Tác giả Ken Taylor: “Quản lý di sản văn hoá: Vai trò khả dụng của Hiến chương và các nguyên tắc ở Châu Á”, Tạp chí Quốc tế
về nghiên cứu Di sản, tập 10, số 5, tháng 12/2004, tr 417-433) [114]
Trong bài viết này tác giả chỉ ra những vấn đề của một số quốc gia trong việc áp dụng những bản hiến chương và nguyên tắc để tăng cường các biện pháp bảo tồn và quản lý các nguồn di sản văn hóa Điều kiện then chốt của những bản hiến chương và công ước là quy trình thiết lập và đánh giá các giá trị Tại Châu Á, tình trạng nguyên vẹn của các di sản và việc liên tục xác thực tình trạng này là những mối quan tâm cơ bản, đặc biệt là quan điểm về di sản ảnh hưởng đến truyền thống và sinh hoạt hàng ngày Bài viết xem xét mối quan tâm hiện tại đối với di sản văn hóa và những bản hiến chương đang được
sử dụng để đánh giá giá trị và đưa ra những ý kiến về những bản hiến chương này để quản lý di sản ở Châu Á
- Central Public Works Department: “Handbook of Conservation of Heritage Buildings”, New Delhi, July, 2013 (Cục Công chính Trung ương Ấn Độ: “Sổ tay bảo tồn di sản công trình xây dựng”, New Delhi, tháng 7/2013 [105] Đây là một cuốn sách hướng dẫn do Cục Công chính trung ương Ấn Độ phát hành trong đó trình bày chi tiết những nội dung giới thiệu hướng dẫn về việc bảo tồn những công trình di sản của Ấn Độ, từ việc nêu tổng quan về lịch
sử công tác bảo tồn di sản, tiêu chí, phương pháp lập danh sách những hạng mục di sản cần bảo tồn, vẽ sơ đồ, xếp hạng các công trình di sản, giới thiệu những đạo luật và quy định về việc xác lập những khu vực được phép và khu
Trang 28vực cấm tại các di tích, các cơ quan có liên quan, các yếu tố xuống cấp các công trình di sản và kỹ thuật bảo tồn di sản Nội dung đề cập tất cả các di tích
cổ được bảo vệ và Ấn Độ đang cố gắng tốt nhất để phục hồi và bảo tồn chúng Cuốn Sổ này là một nỗ lực để cộng đồng chia sẻ trách nhiệm tôn trọng và bảo tồn các khu di sản và truyền lại cho thế hệ tương lai, hiểu và gìn giữ di sản và văn hóa
- Bài viết: “Một số giải pháp đẩy mạnh hợp tác quốc tế về bảo vệ và
phát huy giá trị di sản văn hoá trong thời gian tới” Tạp chí Di sản văn hoá số
2 (43) (2013) của tác giả Nguyễn Quốc Hùng [52], đề cập các hoạt động quốc
tế về di sản văn hóa và thiên nhiên ở nước ta trong thời gian gần đây, hợp tác song phương và đa phương thông qua UNESCO hỗ trợ cho việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa và thiên nhiên của Việt Nam Để đẩy mạnh hợp tác quốc tế về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa và thiên nhiên ở nước ta trong thời gian tới, tác giả đưa ra các giải pháp như tập trung đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên gia đủ năng lực chuyên môn và ngoại ngữ; quy định phù hợp với các quy chuẩn quốc tế để bảo vệ di sản văn hóa với các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã phê chuẩn và tham gia; đánh giá lại hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của nước ta về di sản văn hóa, từ đó có những điều chỉnh thích hợp
- Bài viết: “Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá trong xu thế giao
lưu hội nhập, bài học nhìn từ một số quốc gia Châu Á”, Tạp chí Di sản văn hoá
số 1 (42) (2013) của tác giả Nguyễn Toàn Thắng [81], đề cập kinh nghiệm của Nhật Bản về vai trò chủ đạo của nhà nước trong công tác bảo tồn và khai thác các di sản văn hoá là một bài học quý cho Việt Nam trong quá trình phát triển hiện nay Kinh nghiệm của Hàn Quốc, Trung Quốc về giáo dục cộng đồng, huy động lực lượng của toàn xã hội tham gia công tác bảo vệ di sản văn hoá Tác giả nhấn mạnh để bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hoá một cách hiệu quả, nước ta cần phải nhận diện và học tập những kinh nghiệm thành công của
Trang 29các quốc gia trong khu vực châu Á Thái Bình Dương mà tiêu biểu là Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, thúc đẩy giao lưu hội nhập nhằm phát triển đất nước, xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
Ngoài các công trình, bài viết có tính nghiên cứu chuyên sâu nêu trên, đáng chú ý trong một số bài viết trên các trang báo điện tử đã đề cập những nội dung liên quan đến đề tài như:
- Bài viết của tác giả An Ngọc: “Thống nhất đầu mối quản lý di tích về
các phòng di sản văn hóa”, [68] đề cập nội dung đáng chú ý tại công văn số
2946/BVHTTDL-DSVH ngày 27/8/2014 của Bộ VHTT&DL về việc kiện toàn bộ máy quản lý di tích gửi các cơ quan QLNN và UBND các tỉnh, thành phố trên cả nước, yêu cầu kiện toàn bộ máy ban quản lý di tích Các địa phương cần thống nhất đầu mối đơn vị QLNN về di tích về các phòng di sản văn hóa thuộc các sở VHTT&DL Bên cạnh đó, nội dung công văn cũng nêu
rõ, mỗi di tích chỉ có một tổ chức quản lý, tuyệt đối không để xảy ra tình trạng
di tích đã được xếp hạng mà không rõ tổ chức, cá nhân nào được giao quyền
và trách nhiệm bảo vệ, quản lý di tích Công văn được đưa ra trong điều kiện, hiện nay mô hình đơn vị quản lý di tích ở các địa phương rất đa dạng, được tổ chức từ cơ quan trung ương đến địa phương Tuy nhiên, qua kiểm tra, khảo sát và làm việc với các địa phương, Bộ VHTT&DL nhận thấy còn một số bất cập trong bộ máy quản lý di tích hiện nay
- Bài viết: “Bộ Văn hóa “siết” quản lý di tích”, của tác giả Hà An [3]
Đề cập việc không thống nhất mô hình quản lý di tích trong thời gian qua khiến nhiều vụ việc lộn xộn, tùy tiện tu bổ, trưng bày ở di tích đã diễn ra Nguyên nhân do tồn tại nhiều mô hình tổ chức quản lý di tích khác nhau dẫn đến việc quản lý, bảo vệ có nhiều bất cập, có tình trạng khai thác, phát huy giá trị di tích chưa hiệu quả Theo đánh giá của Cục Di sản văn hóa thì hiện nay việc quản lý di tích còn tồn tại 9 vấn đề lớn như: tên gọi của các đơn vị quản
lý di tích chưa thống nhất có nơi gọi là Ban quản lý di tích, danh thắng, nơi là
Trang 30trung tâm bảo tồn di tích Sự chồng chéo về chức năng QLNN và quản lý nghiệp vụ giữa phòng quản lý di sản và ban quản lý di tích trực thuộc Sở VHTT&DL Có những ban quản lý di tích trực thuộc UBND tỉnh, vừa có chức năng QLNN vừa là đơn vị sự nghiệp; một số ban quản lý di tích trực thuộc UBND tỉnh được giao quản lý nhiều di tích, nhưng trên thực tế các di tích này đã được chính quyền cấp huyện trực tiếp quản lý nên vai trò của ban này khá mờ nhạt, nhiệm vụ giữa ban và địa phương lại chồng chéo, gây khó khăn, phức tạp trong hoạt động quản lý Bên cạnh đó còn tồn tại một thực tế
là đội ngũ cán bộ ban quản lý di tích còn yếu kém về năng lực và nghiệp vụ, chuyên môn Hiện tượng tranh chấp quản lý nguồn thu giữa ban quản lý di tích với chính quyền địa phương và người trực tiếp trông nom di tích, nảy sinh nhiều phức tạp trong hoạt động quản lý
- Bài viết của tác giả Thái Thanh: “Quản lý và phát huy giá trị di tích:
Cần sự đồng bộ [78], đề cập việc quản lý, bảo vệ và phát huy có hiệu quả giá
trị di tích trong xã hội đương đại sẽ góp phần không nhỏ và trực tiếp vào công tác giáo dục truyền thống, nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân Tổng hợp đánh giá báo cáo của Bộ VHTT&DL trong công tác quản lý và phát huy giá trị các di tích vẫn tồn tại nhiều mặt hạn chế như việc chấp hành phát luật
về di sản văn hóa ở một số địa phương chưa nghiêm, tình trạng vi phạm Luật
Di sản văn hóa, việc cắm mốc giới, xây dựng mô hình quản lý di tích chưa có
sự thống nhất; người quản lý di tích và các cấp chính quyền ở một số nơi chưa tìm được tiếng nói chung Bộ máy quản lý di tích chưa được củng cố, kiện toàn để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ Công tác lập quy hoạch đầu tư, tu bổ di tích, lập kế hoạch khảo cổ, cắm mốc giới di tích ở hầu hết địa phương triển khai chậm Việc kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm chưa thường xuyên, xử lý
vi phạm chưa kiên quyết, triệt để Nguyên nhân cơ bản để dẫn đến tình trạng này là việc ban hành các văn bản luật và dưới luật về di tích chưa sát với thực
tế, cần được bổ sung, hoàn thiện Bộ máy quản lý di tích còn chồng chéo về chức năng, chưa rõ ràng trong phân cấp nên khi sai phạm xảy ra rất khó quy
Trang 31trách nhiệm Việc tìm ra biện pháp quản lý tốt các di tích, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển là những vấn đề được các nhà quản lý
văn hóa hết sức quan tâm trong thời gian tới
- Bài viết:“Tăng cường công tác quản lý nhà nước về văn hóa hiện
nay”, của tác giả Hoàng Tuấn Anh (Nguyên Bộ trưởng Bộ VHTT&DL) [4]
Đề cập việc xây dựng, hoàn thiện thể chế văn hóa theo hướng thiết thực, hiệu quả, nêu hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật khác cũng được xây dựng
và hoàn thiện, góp phần tạo cơ sở pháp lý cho công tác quản lý văn hóa Tuy nhiên, công tác QLNN về văn hóa vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém Chủ trương xã hội hóa các hoạt động văn hóa chưa phát huy hiệu quả cao Việc xây dựng và hoàn thiện thể chế văn hóa còn nhiều hạn chế, chưa đồng bộ Một số văn bản pháp luật về văn hóa chưa theo kịp sự phát triển của thực tiễn, việc tổ chức thực hiện còn chậm, một số văn bản chưa thực sự đi vào cuộc sống Trong khi quản lý văn hóa là một công việc rất phức tạp, nhạy cảm, đòi hỏi cả về kiến thức, kỹ năng lẫn tâm huyết, tinh thần trách nhiệm, thì một số cán bộ trong lĩnh vực này (nhất là cấp cơ sở) luôn biến động, còn nhiều hạn chế về chuyên môn, nghiệp vụ, chưa đáp ứng yêu cầu công tác Thực tế cho thấy, hiệu lực, hiệu quả QLNN về văn hóa ở một số địa phương và lĩnh vực
cụ thể chưa cao Sự tách bạch giữa QLNN với hoạt động tác nghiệp chưa rõ, vẫn còn sự trùng chéo, nhầm lẫn giữa chức năng QLNN với chức năng triển khai các hoạt động mang tính sự nghiệp Có lúc, có nơi còn có biểu hiện buông lỏng quản lý, nhất là trong các lĩnh vực như: di sản văn hóa… “Hệ thống luật pháp liên quan đến văn hóa chưa đồng bộ, còn nhiều khoảng trống hoặc trùng chéo Nguồn ngân sách dành cho hoạt động quản lý chưa đáp ứng yêu cầu của thực tiễn Năng lực nguồn nhân lực quản lý văn hóa của đất nước vẫn còn nhiều hạn chế…v.v.” Đồng thời tác giả đã đưa ra sáu giải pháp nhằm đạt được những bước đột phá theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 9 (khóa
XI) về văn hóa cụ thể: Thứ nhất, đẩy nhanh việc củng cố, hoàn thiện thể chế quản lý văn hóa Thứ hai, đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả QLNN về văn
Trang 32hóa trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, bùng nổ
công nghệ thông tin và truyền thông Thứ ba, hoàn thiện cơ chế quản lý đồng
bộ, thống nhất từ trung ương tới địa phương Thứ tư, tăng cường công tác kiểm
tra, giám sát, thanh tra văn hóa, gắn với trách nhiệm cá nhân và tổ chức khi để
xảy ra sai phạm Thứ năm, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý văn hóa Thứ sáu, tăng cường cơ chế phối hợp trong quản lý văn hóa với các bộ,
ban, ngành, đoàn thể
1.2 Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu
Qua nghiên cứu các công trình khoa học, bài viết có liên quan nêu trên, tác giả rút ra một số vấn đề như sau:
Nhóm công trình nghiên cứu về di sản văn hóa, di tích QGĐB đã đề
- Cần thiết phải có một mô hình quản lý tốt hơn, phù hợp hơn với đầy
đủ chức năng, nhiệm vụ cụ thể, tăng cường trách nhiệm của các cơ quan này;
- Kinh nghiệm của quốc tế về quản lý và huy động các nguồn lực để bảo tồn, tôn tạo và huy giá trị các di sản văn hóa;
- Trách nhiệm bảo tồn và phát huy giá trị di tích QGĐB thuộc các cơ quan chức năng, các tổ chức chính trị xã hội, cộng đồng dân cư
Nhóm công trình nghiên cứu QLNN về di sản văn hóa và di tích QGĐB
Trang 33- Tổ chức bộ máy quản lý di tích chưa thống nhất từ trung ương đến địa phương; việc thống nhất quản lý và phân cấp quản lý giữa Bộ quản lý ngành
và quản lý trên địa bàn của địa phương chưa chặt chẽ còn bất cập;
- Chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước chưa thực sự rõ ràng, còn chồng chéo;
- Hệ thống pháp luật chưa đầy đủ, nguồn lực hạn chế, nhân lực chưa đáp ứng nhu cầu quản lý;
- Tăng cường thanh tra, kiểm tra và giám sát việc thực hiện tu bổ, tôn tạo di tích và ngăn chặn, xử lý nghiêm các vi phạm;
- Bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị trong xu thế hội nhập quốc tế, kinh nghiệm quản lý di tích ở Châu Á (đặc biệt là mô hình của Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái lan, Trung Quốc);
- Những hạn chế, yếu kém và những giải pháp quan trọng để nâng cao hiệu lực, hiệu quả của QLNN về di sản văn hóa nói chung và về di tích QGĐB nói riêng
1.2.1 Những kết quả nghiên cứu luận án kế thừa
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nêu trên đã đề cập đến những khía cạnh khác nhau về di sản văn hóa, di tích QGĐB; những phân tích đánh giá về hiện trạng di sản văn hóa và di tích QGĐB cũng như thực tiễn về quản lý
di sản văn hóa nói chung và di tích QGĐB nói riêng ở Việt Nam hiện nay Vì vậy, luận án đã kế thừa những phân tích phong phú, đa dạng về lĩnh vực văn hóa, di sản văn hóa Đây là khách thể nghiên cứu của đề tài, là cơ sở tham chiếu để triển khai thực hiện nghiên cứu luận án Muốn hoạt động QLNN về di tích QGĐB hiệu quả đòi hỏi chủ thể quản lý phải nắm vững đặc thù của đối tượng quản lý
Ngoài ra, luận án kế thừa những đánh giá thực trạng quản lý di tích quốc gia và di tích QGĐB hiện nay cũng như một số đề xuất nâng cao hiệu quả quản lý đối với di tích QGĐB Ví dụ như Luận án tiến sĩ Văn hóa học, chuyên
ngành Quản lý văn hóa năm 2015: “Quản lý di tích lịch sử - văn hoá ở Bắc
Trang 34Ninh trong quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá” của tác giả Trần Đức
Nguyên Tác giả đã đề xuất một số giải pháp nhằm đạt hiệu quả cao hơn nữa trong công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị của các di tích lịch sử - văn hóa, tạo nguồn lực thúc đẩy phát triển kinh tế trong thời kỳ công nghiệp hoá,
đô thị hoá trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh Luận án tiến sĩ Văn hóa học tháng
5/2017: “Di sản tư liệu ở Việt Nam - vấn đề bảo vệ và phát huy giá trị
(trường hợp các di sản tư liệu thuộc Chương trình Ký ức thế giới được UNESCP ghi danh)” của tác giả Phạm Thị Khánh Ngân đã đưa ra một số ý
kiến về các vấn đề liên quan đến bảo vệ và phát huy giá trị di sản tư liệu trong tổng quan chung về di sản văn hóa nói riêng và công cuộc xây dựng, phát triển đất nước nói chung Luận án đã đánh giá thực trạng quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản tư liệu ở Việt Nam trên cơ sở các trường hợp nghiên cứu cụ thể, đã xác định những bước hoàn thiện tiếp theo cho di sản Đây là cơ
sở tham chiếu để nghiên cứu hoàn thiện nội dung luận án
Mặt khác, luận án kế thừa những nghiên cứu mang tính lý luận nền tảng của QLNN về di sản văn hóa nói chung và về di tích, trong đó có di tích QGĐB nói riêng; Kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới về quản lý di sản, di tích Những nội dung trên góp phần cung cấp những luận cứ nền tảng cho hướng nghiên cứu của luận án
1.2.2 Những vấn đề nghiên cứu đặt ra cho đề tài luận án
Đối tượng nghiên cứu trong phần lớn các công trình, tài liệu nói trên chủ yếu theo các hướng sau: nghiên cứu hoạt động QLNN về di tích QGĐB ở các địa bàn riêng lẻ khác nhau; các công trình nêu trên vẫn chưa phân tích, lý giải cơ sở khoa học những vấn đề có tính lý luận QLNN về di tích QGĐB mang tính chất vùng như vùng ĐBSH hiện nay Tuy nhiên, khía cạnh nhà nước là chủ thể quản lý với ý nghĩa quyết định hoạt động QLNN về di tích QGĐB vùng ĐBSH chưa được đề cập nhiều Một số thiếu hụt về mặt lý luận nói trên nhất thiết cần phải triển khai nghiên cứu trong khuôn khổ đề tài luận
án Vấn đề thống nhất quản lý và phân cấp phân quyền đối với di sản văn hóa,
Trang 35trong đó có di tích QGĐB và phối hợp giữa Bộ quản lý ngành và quản lý trên địa bàn, lãnh thổ, vùng chưa được đề cập, nghiên cứu Xu hướng QLNN liên kết giữa các địa phương phát triển theo vùng cũng chưa được đề cập rõ nét Các công trình nghiên cứu trong lĩnh vực được công bố còn ít, chủ yếu là các bài nghiên cứu chuyên khảo trên các tạp chí chuyên ngành, các ấn phẩm khoa học độc lập còn ít Chưa có công trình nghiên cứu nào có tính hệ thống, chuyên sâu và tập trung vào việc đưa ra những giải pháp để hoàn thiện QLNN
về di tích QGĐB vùng ĐBSH Vì vậy luận án cần tiếp tục nghiên cứu làm rõ những nội dung sau:
Thứ nhất, luận án tiếp tục nghiên cứu khái niệm, nội dung, vai trò và sự
cần thiết của QLNN về di tích QGĐB vùng ĐBSH và các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động QLNN về di tích QGĐB vùng ĐBSH
Thứ hai, luận án cần phải nghiên cứu thực trạng QLNN về di tích QGĐB
vùng ĐBSH; những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của thực trạng
Thứ ba, luận án xác định quan điểm, định hướng và đề xuất giải pháp
hoàn thiện QLNN về di tích QGĐB vùng ĐBSH đáp ứng yêu cầu phát triển
và hội nhập quốc tế trong giai đoạn hiện nay
Do vậy, đề tài: “Quản lý nhà nước về di tích quốc gia đặc biệt vùng
đồng bằng sông Hồng” là công trình nghiên cứu khoa học mới và cấp thiết
Đề tài là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu chuyên biệt QLNN về di tích QGĐB vùng ĐBSH dưới góc độ luận án tiến sĩ Quản lý công
Trang 36
Kết luận chương 1
Chương 1 của luận án đã đưa ra tổng quan tình hình các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài: Những công trình nghiên cứu ở trong nước và ngoài nước về di sản văn hóa, di tích QGĐB và QLNN về di sản văn hóa và di tích QGĐB ở các lĩnh vực, khía cạnh khác nhau, nghiên cứu tìm hiểu những những kinh nghiệm quốc tế để Việt Nam tham khảo, áp dụng
Trên cơ sở phân tích các công trình nghiên cứu trong nước và ngoài nước có liên quan đến đề tài, luận án rút ra kết luận sau:
Thứ nhất, luận án có thể kế thừa công cụ lý thuyết khi nghiên cứu về
QLNN; kế thừa và phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động QLNN về di sản văn hóa, trong đó có di tích QGĐB vùng ĐBSH, quản lý vùng một lĩnh vực còn rất mới ở Việt Nam Các kết quả nghiên cứu cũng gợi mở những định hướng và một
số giải pháp tăng cường QLNN về di sản văn hóa nói chung và di tích QGĐB nói riêng (trong đó có di tích QGĐB vùng ĐBSH)
Thứ hai, luận án tiếp tục hệ thống hóa cơ sở lý luận QLNN về di tích
QGĐB và bổ sung làm rõ một số khái niệm cơ bản có liên quan Đồng thời luận án cần đi sâu nghiên cứu các nội dung cơ bản của QLNN về di tích QGĐB Luận án cần phân tích và đánh giá thực trạng QLNN về di tích QGĐB vùng ĐBSH giai đoạn 2010-2017, phân tích đưa ra những định hướng, mục tiêu lớn của Đảng, Nhà nước, trong đó có quan điểm của tác giả và đề xuất các giải pháp hoàn thiện QLNN về di tích QGĐB vùng ĐBSH trong thời gian tới
Trang 37
Chương 2
CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ DI TÍCH QUỐC GIA ĐẶC BIỆT
2.1 Các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài luận án
2.1.1 Di tích quốc gia đặc biệt
Để tìm hiểu quan niệm di tích QGĐB, cần thiết phải làm rõ thuật ngữ
về “di sản văn hóa”, “di tích” Đây là những thuật ngữ chuyên ngành văn hoá
có nội hàm liên quan quan đến thuật ngữ di tích QGĐB; nếu không làm rõ dễ
có sự lẫn lộn trong cách hiểu
Thứ nhất, quan niệm di sản văn hóa
Trong nội dung Công ước bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới của UNESCO ban hành năm 1972, đưa ra định nghĩa, tiêu chí bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa và di sản thiên nhiên, tại Điều 1 quy định những loại hình sẽ được coi như là “di sản văn hoá” bao gồm: di tích kiến trúc (monuments), nhóm công trình xây dựng (groups of buildings) và các di chỉ (sites) Khái niệm di sản trong một số từ điển được hiểu theo một nghĩa đơn giản, đó là tính năng thuộc về nền văn hóa của một xã hội cụ thể, chẳng hạn như truyền thống, ngôn ngữ, hoặc các tòa nhà, đã được tạo ra trong quá khứ
và vẫn còn có tầm quan trọng lịch sử Đến năm 1992, Ủy ban di sản thế giới
bổ sung khái niệm di sản hỗn hợp hay còn gọi là cảnh quan văn hóa để miêu
tả các mối quan hệ tương hỗ nổi bật giữa văn hóa và thiên nhiên của một số khu di sản
Ở nước ta, Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa
năm 2009, theo đó, di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa vật thể và di sản
văn hóa phi vật thể, “là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn
hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” Theo đó: “Di sản vật thể là sản phẩm vật
Trang 38chất có giá trị lịch sử, văn hóa khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia” (từ đây khi sử dụng
đến thuật ngữ di sản có nghĩa là bao hàm cả di tích QGĐB)
Như vậy di sản văn hóa được hiểu là hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần, những sản phẩm sáng tạo của con người được lưu truyền, chọn lọc qua một quá trình lâu dài hàm chứa những giá trị quý báu về lịch sử, văn hóa
và khoa học
Thứ hai, quan niệm di tích
Trong Hiến chương Venice - Hiến chương quốc tế về Bảo tồn và trùng
tu di tích và di chỉ (năm 1964), tại Điều 1 định nghĩa: Di tích không chỉ là một công trình kiến trúc mà còn cả các khu đô thị hoặc nông thôn; trong đó được tìm thấy bằng chứng của một nền văn minh cụ thể, phát triển quan trọng hay một sự kiện lịch sử Khái niệm này không chỉ áp dụng với những công trình nghệ thuật lớn mà cả với những công trình đã hội tụ được các ý nghĩa văn hóa của quá khứ
Trong cuốn Đại từ điển Tiếng Việt, di tích được hiểu là “Tổng thể những công trình, địa điểm, đồ vật hoặc tác phẩm, tài liệu có giá trị lịch sử hay giá trị văn hóa được lưu lại” [82, tr 414]
Theo Điều 4, khoản 3, Luật Di sản văn hóa năm 2001: “Di tíc lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học" Theo Điều 29, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2009: “Di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh (gọi chung là di tích)” Như vậy, di tích bao gồm di tích lịch sử - văn hoá và danh lam thắng cảnh
Thứ ba, quan niệm di tích quốc gia đặc biệt
Di tích QGĐB là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của quốc gia, bao
gồm: Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện đánh dấu bước chuyển biến đặc biệt quan trọng của lịch sử dân tộc hoặc gắn với anh hùng dân tộc,
Trang 39danh nhân tiêu biểu có ảnh hưởng to lớn đối với tiến trình lịch sử của dân tộc; công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị đặc biệt đánh dấu các giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật Việt Nam; địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật đánh dấu các giai đoạn phát triển văn hóa khảo cổ quan trọng của Việt Nam và thế giới; cảnh quan thiên nhiên nổi tiếng hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc, nghệ thuật có giá trị đặc biệt của quốc gia hoặc khu vực thiên nhiên có giá trị về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng sinh học và
hệ sinh thái đặc thù nổi tiếng của Việt Nam và thế giới (Điều 29, khoản 3, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa năm 2009)
Hệ thống di tích Việt Nam được phân thành 4 loại hình cơ bản là di
tích lịch sử, di tích kiến trúc - nghệ thuật, di tích khảo cổ và danh lam thắng cảnh Tại Điều 11, Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật di sản văn hóa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa): Phân loại di tích gồm: Di tích lịch sử (di tích lưu niệm sự kiện, di tích lưu niệm danh nhân); Di tích kiến trúc nghệ thuật; Di tích khảo cổ; Danh lam thắng cảnh
Hệ thống di tích QGDB ở Việt Nam có một số đặc trưng như sau:
Một là, phần lớn các di tích QGDB có quy mô vừa và nhỏ, phân bố
tương đối tập trung và thường gắn kết với các khu dân cư; tập trung nhiều ở đồng bằng Bắc bộ Đây là vùng có truyền thống văn hoá, lịch sử lâu đời vì thế khối lượng di tích nhiều, phản ánh rõ nét nền văn hoá lịch sử Việt Nam qua rất nhiều thế kỷ
Hai là, các di tích QGDB mang trên mình dấu ấn đặc biệt tiêu biểu về lịch
sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, dấu ấn cội nguồn, bản sắc dân tộc, tâm hồn và lối sống Việt Nam
Trang 402.1.2 Quản lý nhà nước và quản lý nhà nước về di tích quốc gia đặc biệt
Để tìm hiểu nội hàm khái niệm QLNN về di tích QGĐB cần phải làm
rõ khái niệm một số thuật ngữ có liên quan như: QLNN, QLNN về văn hoá,
Theo nghĩa rộng, QLNN được hiểu là sự tác động của các chủ thể mang quyền lực nhà nước, chủ yếu bằng pháp luật tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện các chức năng đối nội, đối ngoại của Nhà nước hay QLNN là hoạt động của Nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp, tư pháp nhằm thực hiện các chức năng trên Nhấn mạnh điều này, PGS.TS Nguyễn Cửu Việt viết
“QLNN ở đây không phải là quản lý cái tổ chức chính trị gọi là Nhà nước mà
là sự quản lý có tính chất Nhà nước, do Nhà nước thực hiện thông qua bộ máy nhà nước, trên cơ sở quyền lực nhà nước nhằm thực hiện các nhiệm vụ và chức năng của Nhà nước” [80, tr 109]
Theo nghĩa hẹp, “QLNN là hoạt động chấp hành và điều hành của các
cơ quan nhà nước (hoặc các tổ chức xã hội nếu được Nhà nước ủy quyền) được tiến hành trên cơ sở và để thi hành luật nhằm thực hiện trong cuộc sống hàng ngày các chức năng của Nhà nước trên mọi lĩnh vực hành chính - chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội” [80, tr 136]