1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Khảo sát một số đặc điểm sinh học của cá chạch lấu (mastacembelus armatus)

74 212 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 2,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thí nghiệm 3: Ảnh hưởng của cường độ ánh sáng đến khả năng bắt mồi của cá chạch Lấu 14 ngày tuổi .... Ảnh hưởng của cường độ ánh sáng đến hoạt động phân bố của cá chạch lấu 14 ngày tuổi

Trang 1

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

KHẢO SÁT MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC

CỦA CÁ CHẠCH LẤU (Mastacembelus armatus)

GIAI ĐOẠN BỘT LÊN GIỐNG

Giảng viên hướng dẫn: TS NGUYỄN NHỨT Sinh viên thực hiện: NGUYỄN LÊ BÍCH TUYỀN

Trang 2

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

KHẢO SÁT MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC

CỦA CÁ CHẠCH LẤU (Mastacembelus armatus)

GIAI ĐOẠN BỘT LÊN GIỐNG

Giảng viên hướng dẫn : TS NGUYỄN NHỨT Sinh viên thực hiện : NGUYỄN LÊ BÍCH TUYỀN MSSV: 1311100848 Lớp: 13DSH03

TP Hồ Chí Minh, 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan kết quả này là một phần trong kết quả nghiên cứu của học viên cao học Nguyễn Hồng Nhựt (Mã số học viên: 1541880007 – Lớp: 15SSH21) , do tôi

và học viên Nguyễn Hồng Nhựt cùng thực hiện Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực, chưa được công bố dưới bất kì hình thức nào Những số liệu phục vụ cho phân tích, nhận xét, đánh giá do chính người thực hiện thu thập từ nhiều nguồn khác nhau và được ghi cụ thể trong phần tài liệu tham khảo

Nếu phát hiện có bất kì gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung nghiên cứu của mình

TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm

Sinh viên

Nguyễn Lê Bích Tuyền

Trang 4

Tôi xin trân trọng cảm ơn TS Nguyễn Nhứt, người thầy đã hướng dẫn tận tình cho tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài

Trân trọng cảm ơn đến các thầy cô giáo và các anh chị tại Trung tâm quốc gia Giống hải sản Nam Bộ đã tạo những điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành đồ án tốt nghiệp

Ngoài ra cũng xin gửi lời cảm ơn các thầy cô Khoa Công Nghệ Sinh Học – Thực Phẩm – Môi Trường đã tận tình giảng dạy truyền đạt kiến thức làm nền tảng cho tôi thực hiện đề tài

Do kiến thức và thời gian có hạn, không thể tránh khỏi những sai sót về nội dung

và trình bày Kính mong sự thông cảm và góp ý từ quý thầy cô để tôi có thể củng cố lại kiến thức và rút kinh nghiệm cho bản thân

Tôi xin chân thành cảm ơn

Sinh viên

Nguyễn Lê Bích Tuyền

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC HÌNH viii

MỞ ĐẦU 1

1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1

2 MỤC TIÊU 2

3 NỘI DUNG THỰC HIỆN 2

CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Một số đặc điểm của cá chạch Lấu (Mastacembelus armatus) 3

1.1.1 Hệ thống phân loại 3

1.1.2 Đặc điểm phân bố 3

1.1.3 Đặc điểm môi trường sống 4

1.1.4 Đặc điểm hình thái 5

1.1.5 Đặc điểm sinh sản 5

1.1.6 Đặc điểm sinh trưởng 6

1.1.7 Đặc điểm dinh dưỡng 9

1.2 Chất lượng nước ảnh hưởng đến động vật thủy sản 10

1.2.1 Nhiệt độ nước 10

1.2.2 Độ đục 11

1.2.3 pH 11

1.2.4 Độ mặn 12

1.2.5 Oxy hòa tan 13

1.2.6 Nitrogen 14

Trang 6

CHƯƠNG II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17

2.1 Thời gian và địa điểm thực hiện 17

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu: 17

2.2 Đối tượng nghiên cứu: 17

2.3 Nguyên vật liệu 17

2.4 Phương pháp nghiên cứu 18

2.4.10 Nội dung 1: Khảo sát khả năng tiêu thụ artemia của cá chạch Lấu sau khi hết noãn hoàn 1 ngày 22

2.4.11 Nội dung 2: Xác định một số chỉ tiêu tăng trưởng của cá chạch Lấu sau khi hết noãn hoàn (giai đoạn 11 – 75 ngày tuổi) 25

2.4.12 Nội dung 3: Ảnh hưởng của độ mặn, ammonia tổng, nitrite lên tỷ lệ chết của cá chạch Lấu 26

2.4.13 Phương pháp tính toán và xử lý số liệu 28

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ THÍ NGHIỆM 31

3.1 Nội dung 1: Khảo sát khả năng tiêu thụ Artemia của cá chạch Lấu sau khi hết noãn hoàn 1 ngày 31

3.1.1 Thí nghiệm 1: Xác định loại thức ăn thích hợp cho cá chạch Lấu sau khi hết noãn hoàn 1 ngày 31

3.1.2 Thí nghiệm 2: So sánh khả năng tiêu thụ Artemia sống và Artemia chết của cá chạch Lấu giai đoạn 14 ngày tuổi 32

3.1.3 Thí nghiệm 3: Ảnh hưởng của cường độ ánh sáng đến khả năng bắt mồi của cá chạch Lấu 14 ngày tuổi 34

3.1.4 Thí nghiệm 4: Số lượng Artemia tiêu thụ sau 2 giờ và 24 giờ của cá chạch lấu 34 Bảng 3 2 Số lượng Artemia tiêu thụ sau 2 giờ và 24 giờ của cá chạch lấu 35

3.1.5 Ảnh hưởng của cường độ ánh sáng đến hoạt động phân bố của cá chạch lấu 14 ngày tuổi và 57 ngày tuổi 36

3.2 Nội dung 2: Kết quả của sự phát triển một số đặc điểm hình thái cá chạch lấu (giai đoạn 14 đến 68 ngày tuổi) 37

Trang 7

3.2.1 Biến động chiều dài, khối lượng và độ rộng miệng cá chạch lấu 37

3.3 Nội dung 3: Ảnh hưởng của độ mặn, ammonia tổng, nitrite lên tỷ lệ chết của cá chạch lấu 40

CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 42

4.1 Kết luận 42

4.2 Kiến nghị 43

TÀI LIỆU THAM KHẢO 44

PHỤ LỤC 50

Trang 8

CO2 Carbondioxide

Ctv Cộng tác viên

D.O Dissolved Oxygen (Oxy hòa tan)

ITIS Integrated Taxonomic Information System (Hệ thống

Thông tin phân loại tích hợp)

LC50 50% Lethal Concentration (Nồng độ gây chết 50%)

NaCl Natri chlorua (Sodium Chloride)

NaNO2 Natri nitrite

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 1 1 Các quốc gia châu Á có sự phân bố của cá chạch Lấu trong tự nhiên (Fishbase, 2014) 4

Bảng 2 1 Chuyển đổi tỷ lệ phần trăm sang Probit 29

Bảng 3 1 Khả năng nuốt và tiêu hóa trứng Artemia tẩy vỏ, bùng dù và artemia mới nở sau 6h 31 Bảng 3 2 Số lượng Artemia tiêu thụ sau 2 giờ và 24 giờ của cá chạch lấu 35 Bảng 3.3 Nồng độ NH4+, NO2- và NaCl ảnh hưởng lên LC10, LC50 và LC90của cá chạch lấu giai đoạn cá 10 ngày tuổi Mean: giá trị trung bình; S.D: độ lệch chuẩn 40

Trang 10

Trang

Hình 1.1 Hình thái cá chạch Lấu trưởng thành (Nguyễn Văn Triều, 2010) 5 Hình 1.2 Lỗ sinh dục cá chạch Lấu cái (A) và cá chạch Lấu đực (B) Hình chụp trong quá trình nghiên cứu đề tài 6 Hình 1.3 Các giai đoạn phát triển của phôi cá chạch Lấu (Phan Phương Loan, 2010): (A) buồn trứng; (B) hai phôi bào; (C) bốn phôi bào; (D) tám phôi bào; (E) nhiều phôi bào; (F) phôi nang cao; (G) phôi nang thấp; (H) phôi muộn; (I) phôi vị; (J) hình thành cơ quan; (K) phôi hoàn chỉnh; (L) cá mới nở 9 Hình 1.4 Tỷ lệ thành phần thức ăn tự nhiên trong dạ dày cá chạch Lấu (Nguyễn Văn Triều, 2010) 10

Hình 2 1 Phương pháp đo độ rộng miệng cá theo Shirota (1970) 21 Hình 2 2 Phương pháp đo chiều dài tổng của cá 21 Hình 2.3 Bố trí thí nghiệm với cường độ ánh sáng khác nhau: (a) bố trí cường độ ánh sáng cho cá chạch lấu 14 ngày tuổi; (b) bố trí cường độ ánh sáng cho thí nghiệm ánh sáng cá chạch lấu 57 ngày tuổi 24 Hình 2 4 Chuẩn bị thau thí nghiệm ảnh hưởng của cường độ ánh sáng đến hoạt động phân bố cá chạch lấu 14 ngày tuổi và 65 ngày tuổi 24 Hình 2.5 Thí nghiệm ảnh hưởng của nồng độ muốn đến tỷ lệ chết của cá chạch Lấu 10 ngày tuổi 27

Hình 3.1 Khả năng tiêu thụ Artemia sống và Artemia chết của cá chạch lấu giai đoạn

14 ngày tuổi 33 Hình 3.2 Ảnh hưởng của cường độ ánh sáng đến khả năng bắt mồi của cá chạch Lấu giai đoạn 14 ngày tuổi 34 Hình 3.3 Ảnh hưởng của cường độ ánh sáng đến hoạt động phân bố của cá chạch lấu: (A) 14 ngày tuổi (vùng 1: 581,7 Lux, vùng 2: 761,4 Lux, vùng 3: 792,7 Lux, vùng 4: 721,8 Lux, vùng 5: 27,8 Lux, vùng 6: 41,2 Lux) (B) 57 ngày tuổi (vùng 1: 816,8 Lux, vùng 2: 748,3 Lux, vùng 3: 32,4 Lux, vùng 4: 48,5 Lux, vùng 5: 78,3 Lux, vùng 6: 694,7 Lux) 36 Hình 3.4 Tỷ lệ phân bố của cá chạch lấu theo cường độ ánh sáng (A) 14 ngày tuổi, (B)

57 ngày tuổi 37

Trang 11

Hình 3.5 Sự phát triển chiều dài (a); khối lượng (b); độ rộng của miệng (c) và mối tương quan giữa chiều dài và khối lượng (d) của cá chạch lấu (14 – 68 ngày tuổi) 38 Hình 3.6 Mối tương quan giữa chiều dài và khối lượng với độ rộng miệng của cá chạch lấu (14 và 75 ngày) 39

Trang 12

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Thủy sản là một trong những ngành kinh tế quan trọng của Việt Nam đang dần tạo được uy tín và vị trí trên thị trường quốc tế (Giáng Hương, 2016) Ước tính trong năm 2016 sản lượng thủy sản khai thác khoảng 3,121 triệu tấn, sản lượng nuôi trồng 3,603 triệu tấn, giá trị xuất khẩu khoảng 6,99 tỷ USD (Ngô Thế Hiên, 2016) Các mặt hàng thủy sản của Việt Nam được xuất sang các thị trường lớn như Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Canada và các nước ASEAN (Lê Hằng, 2017)

Cá chạch Lấu (Mastacembelus armatus) là loài thủy sản có nhiều tiềm năng phát

triển Giá bán cá chạch Lấu trên thị trường khoảng 450 – 500.000 đồng/kg (Lê Huy Hải, 2013) Cá chạch Lấu có hàm lượng protein cao (Ali và ctv, 2013) Nguồn cung cấp cá chủ yếu ngoài tự nhiên không đủ đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng (Nguyễn Văn Triều, 2010) Ở Ấn Độ, cá chạch Lấu đã được xuất khẩu sang nhiều nước trên thế giới (Gupta và ctv, 2015)

Các nghiên cứu về cá chạch Lấu trên thế giới còn hạn chế và nhiều thiếu sót (Gupta và Banerjee, 2016) Đặc điểm hình thái của cá chạch Lấu trưởng thành được nghiên cứu cùng lúc các tác giả: Shashi Kant Nagar và Wali Mohd Khan (1957), Day

F (1878), Talwar PK và Jhingran AG (1991) Về đặc điểm sinh sản có các nghiên cứu của Narejo và ctv(2002), Sushant Kumar Verma và Abdul Alim (2014), Uthayakumar

và ctv (2013) Ở Việt Nam có các nghiên cứu của Nguyễn Văn Triều (2010) về sự phát triển tuyến sinh dục, Phan Phương Loan (2010) xây dựng quy trình sản xuất giống nhân tạo cá chạch Lấu, Nguyễn Thành Trung và ctv nghiên cứu thử nghiệm sản xuất giống cá chạch Lấu Tuy nhiên, chưa nghiên cứu chi tiết về khả năng tiêu thụ thức ăn

tự nhiên và chất lượng nước ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của cá bột để làm cơ sở ương nuôi

Trang 13

Thực hiện đề tài “Khảo sát một số đặc điểm sinh học của cá chạch Lấu

(Mastacembelus armatus) giai đoạn bột lên giống” làm cơ sở để xây dựng các hệ thống

ương nuôi cá chạch Lấu đạt hiệu quả cao Phạm vi đề tài bao gồm xác định một số giới hạn chỉ tiêu chất lượng nước nuôi, loại thức ăn thích hợp cho cá chạch Lấu trong giai đoạn bột lên giống

cá bột chạch Lấu

Nội dung 1: Khảo sát khả năng tiêu thụ Artemia của cá chạch Lấu sau khi hết noãn hoàn 1 ngày

Nội dung 2: Xác định một số chỉ tiêu tăng trưởng của cá chạch Lấu sau khi hết noãn hoàn (10 – 75 ngày tuổi)

Nội dung 3: Ảnh hưởng của độ mặn, ammonia tổng, nitrite lên tỷ lệ chết của cá chạch Lấu

Trang 14

1.1 Một số đặc điểm của cá chạch Lấu (Mastacembelus armatus)

Loài (Species): Mastacembelus armatus (Lacepède, 1800)

1.1.1.2 Tên gọi

Tên gọi theo tiếng Việt: cá chạch Lấu

Tên gọi theo tiếng Anh: zigzag eel, tiretrack eel, spiny eel

1.1.2 Đặc điểm phân bố

Cá chạch Lấu phân bố ở một số nước châu Á được ghi nhận và thể hiện ở Bảng 1 1 Ở Việt Nam, cá chạch Lấu phân bố ở Lai Châu, Vũ Quang (Hà Tĩnh), ở lưu vực sông Mekông, sông Đăkrông và sông Đà (Fishbase, 2014)

Trang 15

Bảng 1 1 Các quốc gia châu Á có sự phân bố của cá chạch Lấu trong tự nhiên (Fishbase, 2014)

Bangladesh môi trường nước ngọt hoặc nước lợ

Trung Quốc môi trường nước ngọt hoặc nước lợ

Thái Lan môi trường nước ngọt hoặc nước lợ

Campuchia môi trường nước ngọt

Indonesia môi trường nước ngọt

Lào môi trường nước ngọt hoặc nước lợ

Việt Nam môi trường nước ngọt

Pakistan môi trường nước ngọt

Myanma môi trường nước ngọt hoặc nước lợ

1.1.3 Đặc điểm môi trường sống

Cá chạch Lấu sống trong môi trường nước ngọt, ở những đầm lầy, ao, hồ, sông, suối, nơi nước tĩnh, nền đáy sỏi đá (Roberts, 1993) Nhiệt độ thích hợp trong khoảng

22 – 28oC (tốt nhất ở 27oC), pH từ 6,5 – 7,5 (tốt nhất pH = 7) (Fishbase, 2007; Klaus Riede, 2004)

Trang 16

Hình 1.1 Hình thái cá chạch Lấu trưởng thành (Nguyễn Văn Triều, 2010)

Kích thước của cá chạch Lấu trưởng thành tương đối lớn, tổng chiều dài thân có thể đạt 90cm, nặng 500g (Anders F Poulsen và John Valbo-Jørgensen, 2000; Fishbase, 2007) Theo Mai Đình Yên và ctv (1992), cá chạch Lấu có phần đầu nhỏ và nhọn Dọc theo đỉnh đầu là vân màu nâu xám Mắt cá có kích thước nhỏ, nằm ở hai bên vân Miệng của cá chạch Lấu nhỏ, trước miệng có nếp da hoạt động được Nếp da gồm ba thùy, mũi trước của cá nằm ở hai thùy bên, có dạng hình ống Mũi sau nằm ở góc miệng Màng mang và eo mang tách rời Phần thân cá chạch Lấu thon dài, có các vân màu nâu đậm bao quanh các đốm màu nâu nhạt tạo thành mạng lưới Vây ngực tròn, ngắn Phần vây lưng, vây hậu môn và vây đuôi của cá chạch Lấu nối liền nhau

1.1.5 Đặc điểm sinh sản

Mùa sinh sản của cá chạch Lấu kéo dài từ tháng 5 đến tháng 8, chủ yếu ở tháng

6 và tháng 7 (Nguyễn Văn Triều, 2010), số trứng dao động từ 580 – 10.980 trứng/cá cái (Narejo và ctv, 2002) Ở Thái Lan, cá chạch Lấu đẻ trứng ở khu vực có xoáy nước, trứng cá bám lên các sợi rong và thủy sinh vật (Anders F Poulsen và John Valbo-

Trang 17

Jørgensen, 2000) Sau khi đẻ trứng, cá đực làm nhiệm vụ bảo vệ trứng, cá cái bơi ra những khu vực gần ổ trứng (Bhargava, 1958)

Theo Nguyễn Văn Triều (2010) cá chạch Lấu đực và cái phân biệt rõ nhất khi vào giai đoạn thành thục và trong thời gian sinh sản Cá chạch Lấu cái có phần thân to và ngắn hơn, màu nâu nhạt, lỗ sinh dục hơi hồng, tròn và lồi (Hình 1.2A) Ngược lại, cá chạch Lấu đực có phần thân thon và dài, màu nâu sậm, lỗ sinh dục tròn, lõm và sẫm màu (Hình 1.2B)

Hình 1.2 Lỗ sinh dục cá chạch Lấu cái (A) và cá chạch Lấu đực (B) Hình chụp

trong quá trình nghiên cứu đề tài

1.1.6 Đặc điểm sinh trưởng

Cá chạch Lấu thành thục lần đầu khi chiều dài cơ thể đạt 29  8,42 cm (Nguyễn Văn Triều, 2010) Trứng cá chạch Lấu có đường kính trung bình khoảng 0,9 – 2,47

mm (Uthayakumar và ctv, 2013), trứng nở sau khi thụ tinh 24 – 36 giờ, kích thước phôi khoảng 5 mm (Bhargava, 1958) Từ khi thụ tinh đến khi nở, phôi cá chạch Lấu phát triển qua các giai đoạn được thể hiện trong Hình 1.3

Trang 20

Hình 1.3 Các giai đoạn phát triển của phôi cá chạch Lấu (Phan Phương Loan, 2010): (A) buồn trứng; (B) hai phôi bào; (C) bốn phôi bào; (D) tám phôi bào; (E)

nhiều phôi bào; (F) phôi nang cao; (G) phôi nang thấp; (H) phôi muộn; (I) phôi vị; (J) hình thành cơ quan; (K) phôi hoàn chỉnh; (L) cá mới nở

Mùa khô, cá chạch Lấu có thể sống ở các khe nứt hoặc hóc đá trong lòng sông chứa nước và sau đó chúng di chuyển tìm đến các kênh rạch, ao, hồ, vùng ngập trũng Nhưng ở mừa lũ cá chạch Lấu thường thấy ở kênh rạch, sông, suối và đồng nước (Anders F Poulsen và John Valbo-Jørgensen, 2000)

1.1.7 Đặc điểm dinh dưỡng

Theo Nguyễn Văn Triều (2010), cá chạch Lấu có tính chủ động bắt mồi thức ăn trong tự nhiên là các loài động vật nhỏ Thức ăn chủ yếu khi giải phẫu dạ dày của cá chạch Lấu sống ngoài tự nhiên bao gồm các loài cá nhỏ (27,5%), côn trùng (26,2%), mùn bã hữu cơ (14,2%), giáp xác (13,7%) và các thành phần khác (Hình 1.4)

(L)

Trang 21

Hình 1.4 Tỷ lệ thành phần thức ăn tự nhiên trong dạ dày cá chạch Lấu (Nguyễn

Văn Triều, 2010)

1.2 Chất lượng nước ảnh hưởng đến động vật thủy sản

Chất lượng nước nuôi thủy sản bao gồm các yếu tố vật lý, sinh học và sinh hóa Mọi hoạt động của thủy sản đều diễn ra trong môi trường nước Tình trạng sức khỏe của động vật thủy sản chịu ảnh hưởng của chất lượng nước

là khi nhiệt độ nước 30oC động vật thủy sinh sử dụng oxy hòa tan gấp đôi và trao đổi chất nhanh hơn so với nhiệt độ nước 20oC Khi nhiệt độ nước dao động khoảng 3 –

5oC/ngày cũng đã tác động đến thay đổi sinh lý tôm cá Đặc biệt là dao động đột ngột

Trang 22

làm động vật thủy sinh không kịp thích nghi Nhiệt độ nước trong ao nuôi đao động theo chu kì ngày – đêm và theo mùa; có sự phân tầng nhiệt độ (Claude E.Boyd, 1998; Trương Quốc Phú và Vũ Ngọc Út, 2012) Ban ngày, nhiệt độ nước ở tầng mặt cao hơn

và có thể cao hơn 35oC Ban đêm chênh lệch nhiệt độ ở tầng mặt và tầng đáy không đáng kể với điều kiện ao nuôi có sự xáo trộn nước mạnh thông qua gió và máy quạt nước (Claude E.Boyd, 1998) Ở cá chạch Lấu, nhiệt độ môi trường thích hợp cho ương

cá bột và cá giống dao động khoảng 27,5 – 30,9oC (Phan Phương Loan, 2010)

1.2.2 Độ đục

Các hạt vật chất lơ lửng, động vật phù du và tảo là những tác nhân tạo độ đục trong ao nuôi Độ đục tăng do các hạt lơ lửng, bùn, đất làm cản trở sự truyền ánh sáng trong ao nuôi, làm giảm quá trình quang hợp của thực vật và tảo đồng thời cản trở khả năng quan sát và bắt mồi của động vật trong ao (Trương Quốc Phú và Vũ Ngọc Út, 2012; Claude E.Boyd, 1998) Nếu như độ đục tăng do mật độ sinh vật phù du tăng là đặc điểm có lợi cho ao nuôi thủy sản về nguồn thức ăn tự nhiên (Claude E.Boyd, 1998)

1.2.3 pH

pH đánh giá nồng độ ion H+ trong nước nuôi thủy sản pH bằng 7 nước trung tính, pH thấp hơn 7 nước có tính acid và pH cao hơn 7 nước có tính ba-giờ (Trương Quốc Phú và Vũ Ngọc Út, 2012) Trong ao nuôi nước ngọt, pH dao động trong khoảng

6 – 9 (Claude E.Boyd, 1998)

Theo Claude E.Boyd (1998) pH phụ thuộc vào hàm lượng CO2 có trong ao nuôi

và thay đổi theo thời gian chiếu sáng trong ngày CO2 kết hợp với nước tạo thành acid yếu, phân ly thành ion H+ và HCO3- Ban ngày, quá trình quang hợp xảy ra mạnh làm giảm hàm lượng CO2 và ion H+ dẫn đến pH tăng Ngược lại, thực vật và tảo thực hiện

Trang 23

quá trình hô hấp xảy ra mạnh, hàm lượng CO2 tăng, ion H+ tăng làm pH giảm mạnh vào ban đêm

Theo Fernando Kubitza (2017) thay đổi pH đột ngột làm thay đổi mức độ thẩm thấu dẫn đến rối loạn quá trình trao đổi muối của cơ thể với môi trường pH nước ảnh hưởng tỷ lệ thuận với độc tính của ammonia tổng: khi pH cao tỷ lệ % của NH3-N tăng

và khi pH giảm thì tỷ lệ % của NH3-N giảm vì chuyển dịch sang ammonium Trường hợp pH nước cao hơn pH máu của cá thì ammonia khuếch tán từ máu ra môi trường nước giảm dẫn đến lượng ammonia tích tụ trong máu tăng Nếu hiện tượng này kéo dài

sẽ gây chết cá Đối với cá chạch Lấu chưa được nghiên cứu chi tiết nhưng vài nghiên cứu ương nuôi đã thực hiện ở ngưỡng pH từ 7,2 đến 8,1 (Phan Phương Loan, 2010)

1.2.4 Độ mặn

Tổng nồng độ các muối hòa tan trong nước, chủ yếu là NaCl tạo nên độ mặn của nước tự nhiên (Maysa và Shahla, 2015) Độ mặn ảnh hưởng đến tất cả các loài sinh vật nước ngọt Nồng độ muối tăng kéo theo sự gia tăng của áp xuất thẩm thấu làm mất cân bằng trao đổi ion trong cơ thể động vật thủy sản (Claude E.Boy và Frank Lichtkoppler, 1979) Theo Bacher và Garmham (1992) (được trích dẫn bởi Kimberley R James và ctv, 2003) hầu hết các loài cá nước ngọt có nồng độ muối trong máu dao động từ 7000 đến 13000 mg/L

Theo James và ctv (2003) khi nồng độ muối trong môi trường tăng đột ngột từ

100 – 200% so với ban đầu sẽ làm thay đổi áp suất thẩm thấu giữa môi trường và bên trong cơ thể cá Các phân tử nước bên trong tế bào thoát ra môi trường qua màng bán thấm Cơ thể cá đột ngột mất lượng nước lớn rơi vào tình trạng căng thẳng và làm chết

cá Khi nồng độ muối ngoài môi trường tăng 10 – 50% so với nồng độ muối ban đầu thì độ chênh lệch áp suất thẩm thấu thấp, một số loài cá có thể tự điều chỉnh cân bằng

áp suất thẩm thấu để thích nghi và sống sót

Trang 24

Các loài động vật thủy sản khác nhau thì khả năng chịu độ mặn khác nhau (Claude E.Boy và Frank Lichtkoppler, 1979) Ở tôm sú (Penaeus monodon) chu kì lột xác của tôm ngắn khi độ mặn môi trường là 25‰ và tốc độ tăng trưởng chậm khi môi trường có độ mặn 35‰ (Đoàn Xuân Diệp và ctv, 2009) Ở cá tra nghệ ở giai đoạn 30 đến 60 ngày tuổi có khả năng thích nghi với môi trường có độ mặn 27‰ Môi trường ương cá tra nghệ từ bột lên giống ở độ mặn 6‰ cho thấy cá tăng trưởng nhanh và tỷ lệ sống cao (Vương Học Vinh và ctv, 2011)

1.2.5 Oxy hòa tan

Oxy hòa tan (Dissolved Oxygen – D.O) trong nước được khuếch tán từ không khí, sục khí, qua quá trình quang hợp ở thực vật và tảo Hàm lượng D.O trong nước bị tiêu thụ do hô hấp của sinh vật và các quá trình oxy hóa các vật chất hữu cơ (Claude E.Boyd, 1998; Trương Quốc Phú và Vũ Ngọc Út, 2012) D.O trong ao nuôi thủy sản thường dao động từ 3,0 – 8,0 mg/L (Trương Quốc Phú và Vũ Ngọc Út, 2012) Những loài thủy sản khác nhau có ngưỡng oxy chịu dựng và sinh trưởng khác nhau (Bùi Lai

và ctv, 1985) Đối với tôm sú (Penaeus monodon) ngưỡng oxy thích hợp là 4 – 8

mgO2/L Trong khi đó cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) có thể chịu đựng oxy

hòa tan thấp hơn vì có cơ quan hô hấp phụ thông qua da và bóng hơi Đặc biệt, cá có khả năng lấy oxy trong không khí bằng cách bơi lên mặt nước đớp khí (Nhut, 2016) Đối với cá chạch Lấu chưa được nghiên cứu rõ Tuy nhiên, người nuôi có thể nuôi trong điều kiện oxy hòa tan dao động từ 4,17 đến 5,06 mg/L (Phan Phương Loan, 2010)

Trang 25

1.2.6 Nitrogen

Nitrogen trong ao nuôi thủy sản tồn tại ở dạng N2, NH3, NH4

+

, NO2 -

và NO3

- Trong đó NH3-N và NO2-N trong ao gây độc đối với sinh vật thủy sinh (Trương Quốc

Phú và Vũ Ngọc Út, 2012; Claude E.Boyd, 1998) Các dạng tồn tại của nitrogen có

trong ao nuôi thủy sản qua quá trình phân giải của vi sinh vật các hợp chất hữu cơ, xác

động vật, xác thực vật, chất thải động vật và thức ăn dư thừa (Lê Văn Cát và ctv,

+

Trong tự nhiên, nồng độ NH4

+

chỉ khoảng 0,5mg/L (Trương Quốc Phú và Vũ Ngọc Út, 2012) Hàm lượng NH3 và NH4+ thay đổi theo

nhiệt độ và pH Trong cùng nhiệt độ, tăng pH lên 1 đơn vị làm tăng NH3 lên 10 lần

Nồng độ NH3 tăng lên gấp đôi khi nhiệt độ tăng thêm 10oC so với ban đầu (Eddy,

2005)

Theo Lê Văn Cát và ctv (2006), sự khuếch tán NH3 từ máu ra môi trường ảnh

hưởng đến khả năng gây độc của NH3 Khi nồng độ NH3 ngoài môi trường thấp hơn

nồng độ NH3 trong máu cơ thể sẽ đào thải liên tục NH3 ra môi trường ngoài Nhưng khi

NH3 môi trường cao làm xuất hiện hiện tượng khuếch tán ngược NH3 từ môi trường

vào máu, làm tăng nồng độ NH3 trong cơ thể và gây ức chế quá trình tạo năng lượng ở

hệ thần kinh trung ương Nếu nuôi trong điều kiện NH3 cao và kéo dài có thể làm chết

cá Mức độ gây độc của NH3 đối với động vật thủy sinh phụ thuộc vào nhiều yếu tố:

loài, độ tuổi của động vật thủy sinh, tình trạng sức khỏe, nồng độ oxy và độ pH trong

môi trường

Trong ao nuôi, nồng độ NH4+ chỉ khoảng 0,5 mg/L Môi trường được coi là giàu

dinh dưỡng khi nồng độ NH4+ ở mức 3,0 mg/L, nhưng nếu vượt quá 4,0mg/L sẽ gây

độc đối với động vật thủy sinh (Trương Quốc Phú và Vũ Ngọc Út, 2012)

Trang 26

Nitrite (NO2

-) là chất trung gian của quá trình oxy hóa giữa ammonium và nitrate tồn tại tự nhiên trong ao nuôi (Lewis và Morris, 1986) Nồng độ NO2- trong huyết tương của hầu hết các loài cá nước ngọt cao hơn nồng độ NO2- ngoài môi trường khoảng 10 lần (Eddy và ctv, 1983)

NO2- tác động lên Hemoglobin trong máu và gây độc cho cá (Lewis và Morris, 1986) Theo Kiese (1974) (được trích dẫn bởi Lewis và Morris, 1986) khi pH ngoài môi trường cao hơn pH trong cơ thể cá sẽ xảy ra hiện tượng khuếch tán NO2

từ huyết tương đến hồng cầu Phân tử sắt (II) trên Hemoglobin bị NO2

1.3 Nồng độ gây chết 50% cá thể

Lethal Concentration 50 – LC50 là chỉ số biểu thị nồng độ gây chết 50% cá thể thí nghiệm của một tác nhân trong thời gian nhất định (Lewis và Morris, 1986) Trong những nghiên cứu về thủy sản, thử nghiệm LC50 nhằm đánh giá khả năng gây độc của các tác nhân môi trường đến tỷ lệ sống của động vật thủy sinh và thường được tiến hành trong khoảng 48 đến 96 giờ (Karen J.Clingerman, 1990)

Trang 27

LC50 của một số tác nhân môi trường được nghiên cứu trên nhiều loài động vật

thủy sản Ở cá ngựa vằn (Danio rerio) 2 – 3 tháng tuổi thì LC50 (96h) của NO2

ở mức 242,41  13,67 mg/L (E Voslárová và ctv, 2006), LC50 (96h) của NO2

tác động đến

cá lóc là 238,8mg/L (Đỗ Thị Thanh Hương và Trần Tường Vi, 2013) và giá trị LC50(24h) của NO2 tác động đến cá chình lớn Ấn Độ là 1484,08mg/L (trong điều kiện nước tĩnh) (Tilak và ctv, 2002)

Trang 28

2.1 Thời gian và địa điểm thực hiện

2.1.1 Thời gian thực hiện đề tài: từ tháng 2 đến tháng 5 năm 2017

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu:

Trung tâm Quốc gia Giống hải sản Nam Bộ, thuộc Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản II Địa chỉ: 167 Thùy Vân, phường Thắng Tam, Tp Vũng Tàu

2.2 Đối tượng nghiên cứu:

Cá chạch Lấu bột (10 ngày tuổi) và cá giống (75 ngày tuổi)

2.3 Nguyên vật liệu

Cá dùng thí nghiệm: Cá chạch Lấu bột (chưa hết noãn hoàn – 7 ngày tuổi) mua

tại trại cá Trần Thanh Hùng, ấp Thuận Hưng, thị trấn Ngã Sáu, huyện Châu Thành, Hậu Giang

Nước nuôi cá: Nước lấy từ hệ thống nước sinh hoạt của thành phố Vũng Tàu

Nước được loại bỏ chlorine dư bằng cách sục khí mạnh 24h

Thức ăn: Thức ăn dùng trong thí nghiệm là Artemia ở các giai đoạn: tẩy vỏ,

bung dù và Artemia giai đoạn Instar I (giai đoạn 1) Trứng Artemia bào xác (Artemia

cyst) của công ty Vĩnh Châu – Việt Nam

Thức ăn viên: Thức ăn NRD 2/3 của Công ty INVE (Thái Lan).

Trang 29

- Nước biển đã qua xử lý bằng Chlorine

- Dung dịch Sodium thiosulfate (Na2S2O3) bão hòa

- Formalin 37% (HCHO)

2.3.2 Dụng cụ thí nghiệm

- Kính hiển vi điện tử CH20 - Olympus, Nhật Bản

- Cân phân tích thể hiện 4 chữ số thập phân XB – 220A Presica, Thụy Sỹ

- Máy đo cường độ ánh sáng 840020 Sper Scientific, Đài Loan

- Máy đo Oxy hòa tan Handy Polaris – OxyGuard, Đan Mạch

- Khúc xạ kế đo độ mặn Lamotte, Mỹ

- Cốc thủy tinh loại 100mL, 500mL, 1000mL của hãng Duran, Đức

- Bình định mức 250mL, 500mL, 1000mL của hãng Duran, Đức

- Bể nhựa tròn của hãng Duy Tân, Việt Nam có thể tích 120L

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp tẩy vỏ Artemia

Thực hiện theo các bước sau:

Bước 1 Pha dung dịch Sodium thiosulfate: Cho 200mL nước vào cốc thủy tinh

1000mL, từ từ cho Sodium thiosulfate vào Khuấy đều đến khi Sodium thiosulfate

không tan được nữa ta thu được dung dịch Sodium thiosulfate bão hòa dùng để dừng

phản ứng của nước Javel ở bước 3 Làm lạnh dung dịch trong 4 giờ

Trang 30

cất Sục khí liên tục trong 2 giờ Dùng vợt có kích thước 10µm lọc lấy trứng Artemia cyst ra

Bước 3 Tẩy vỏ trứng Artemia cyst: Chuẩn bị thau chứa nước lạnh, đặt cốc thủy

tinh 1000mL vào, cho vào cốc thủy tinh 20mL dung dịch Javel đã được làm lạnh 4 giờ Cho trứng Artemia cyst đã ngâm vào cốc, sục khí và khuấy điều liên tục Lấy mẫu trứng quan sát dưới kính hiển vi đến khi trứng được tẩy vỏ hoàn toàn chỉ còn noãn hoàn thì cho dung dịch Sodium thiosulfate vào

2.4.2 Phương pháp ấp trứng Artemia bung dù:

Cho 0,5g trứng Artemia cyst vào cốc chứa 1000mL nước biển Sục khí và chiếu sáng liên tục trong khoảng 12 giờ Quan sát dưới kính hiển vi thấy trứng bắt đầu bung

2.4.3 Phương pháp ấp Artemia giai đoạn Instar I:

0,5g trứng Artemia cyst cho vào cốc chứa 1000mL nước biển Sục khí và chiếu sáng liên tục trong 24 giờ Dùng mắt thường và kính hiển vi kiểm tra Artemia đã nở hoàn toàn

2.4.4 Phương pháp pha dung dịch NH 4

+

gốc để thí nghiệm LC 10, LC 50 và LC 90 :

Dung dịch NH4+ 200ppm: Cân 594,44mg NH4Cl (đã được sấy ở nhiệt độ 105o

C trong 2 giờ) hòa tan bằng máy khuấy từ và định mức thành 1000mL bằng nước cất Điều chỉnh pH = 7 để sử dụng cho các thí nghiệm LC10, LC50 và LC90 pha loãng thành

các nồng độ khác nhau

2.4.5 Phương pháp pha dung dịch NO 2 - gốc để thí nghiệm LC 10 , LC 50 và LC 90

Dung dịch NO2- 200ppm: Cân 300mg NaNO2 (đã được sấy ở nhiệt độ 105oC trong 2 giờ) hòa tan bằng máy khuấy từ và định mức thành 1000mL bằng nước cất

Trang 31

Điều chỉnh về pH = 7, để sử dụng cho các thí nghiệm LC10, LC50 và LC90 pha loãng

thành các nồng độ khác nhau

2.4.6 Phương pháp pha dung dịch NaCl gốc để thử nghiệm LC 10 , LC 50 và LC 90

Pha dung dịch NaCl 30‰: Cân 30g muối ăn (NaCl) hòa tan bằng máy khuấy từ

và định mức thành 1000mL bằng nước cất Sử dụng máy đo độ mặn khúc xạ kế (Lamotte – Mỹ) để điều chỉnh

2.4.7 Phương pháp chuẩn bị nước nuôi:

Sử dụng nước sinh hoạt của thành phố Vũng Tàu, sục khí liên tục trong 24 giờ để hết chlorine dư sử dụng cho thay nước nuôi cá suốt quá trình thí nghiệm

2.4.8 Phương pháp xác định kích thước miệng cá

Đặt cá lên lam kính, dùng kim tách miệng cá sao cho hàm trên và hàm dưới tạo thành góc 900 Quan sát dưới kính hiển vi, điều chỉnh vật kính và vị trí của lam kính để

đo chính xác kích thước hàm trên của cá (Hình 2 1)

Tính độ rộng của miệng cá bằng phương pháp Shirota (1970) theo công thức:

MH (90o) = AB × 2

Trong đó: AB: chiều dài hàm trên (mm)

MH (90o): độ rộng của miệng khi mở 900

Trang 32

Hình 2 1 Phương pháp đo độ rộng miệng cá theo Shirota (1970)

2.4.9 Phương pháp xác định chiều dài và khối lượng cá

Đo chiều dài tổng của cá: Dùng thước thẳng có chia đến mm đo từ chóp mũi đến

phần cuối của vây đuôi

Hình 2 2 Phương pháp đo chiều dài tổng của cá

Khối lượng cá: Mỗi cá thể cá chạch Lấu được cân bằng cân phân tích (thể hiện 4

chữ số thập phân) hiệu Precisa XB 220A – Thụy Sỹ

Trang 33

2.4.10 Nội dung 1: Khảo sát khả năng tiêu thụ artemia của cá chạch Lấu sau khi hết noãn hoàn 1 ngày

2.4.1.1 Xác định loại thức ăn thích hợp cho cá chạch Lấu sau khi hết noãn hoàn 1 ngày

Cho 100 con cá chạch Lấu (sau khi hết noãn hoàn 1 ngày) vào cốc thủy tinh chứa 600mL nước cất Thức ăn cho cá là Artemia nauphilus ở 3 giai đoạn khác nhau: Artemia tẩy vỏ, Artemia bung dù và Artemia Instar I Mật độ Artemia mỗi cốc là 5 con/mL Sục khí liên tục trong 2 giờ

Xác định quá trình tiêu hóa thức ăn của cá bằng phương pháp: Tách riêng 100 con

cá cho vào cốc chỉ có 600mL nước và không có Artemia Lấy ngẫu nhiên 10 con cá ở mỗi cốc, quan sát dưới kính hiển vi và ghi nhận kết quả quá trình tiêu hóa thức ăn của

cá So sánh chọn ra giai đoạn Artemia thích hợp cho cá Lặp lại thí nghiệm 3 lần

2.4.1.2 So sánh khả năng tiêu thụ Artemia ở 2 trạng thái sống và chết của cá chạch Lấu

Cho 30 con cá chạch Lấu (giai đoạn 14 ngày tuổi) và 3000 con Artemia Instar I

ở trạng thái sống vào cốc thủy tinh chứa 600mL nước Sau 2 giờ, đếm số Artemia

Instar I còn lại trong cốc Lặp lại thí nghiệm 3 lần

Bố trí thí nghiệm tương tự như trên thay Artemia Instar I ở trạng thái sống thành Artemia ở trạng thái chết Lặp lại thí nghiệm 3 lần So sánh số lượng Artemia tiêu thụ ở trạng thái sống và chết

Trang 34

của cá chạch Lấu 14 ngày tuổi và 57 ngày tuổi

2.4.1.3.1 Khảo sát ảnh hưởng của cường độ ánh sáng đến khả năng bắt mồi của cá chạch Lấu 14

Cho 30 con cá chạch Lấu và 2500 con Artemia Instar I vào cốc thủy tinh có chứa 500mL nước cất Đặt cốc lần lượt ở 6 cường độ ánh sáng: 0, 50, 100, 300, 500 và 1400Lux Sau 2 giờ, xác định số lượng Artemia tiêu thụ của cá bằng 2 phương pháp:

Phương pháp 1: Bắt ngẫu nhiên 30 con cá ở mỗi cường độ ánh sáng và tiến hành

giải phẫu xác định số lượng Artemia có trong ống tiêu hóa Mỗi cường độ ánh sáng lặp lại 3 lần

Phương pháp 2: Tách riêng 30 con cá sang 1 cốc thủy tinh khác không có

Artemia Sau đó, tiến hành đếm số Artemia còn lại trong mỗi cốc ban đầu Mỗi cường

đo bằng máy đo cường độ và chia thành 6 cấp độ cường độ ánh sáng khác nhau (Hình 2.3 và Hình 2 4) Để yên trong 2 giờ Sau đó mở ra nhanh và chụp hình cá phân bố trong vòng 30 giây sao cho cá không kịp di chuyển Tính số lượng cá phân bố (% quần

Trang 35

đàn) thông qua hình chụp tại mỗi vùng cường độ ánh sáng trên máy tính phóng đại Ghi nhận và so sánh sự phân bố của cá ở các cường độ ánh sáng khác nhau

Hình 2.3 Bố trí thí nghiệm với cường độ ánh sáng khác nhau: (a) bố trí cường độ ánh sáng cho cá chạch lấu 14 ngày tuổi; (b) bố trí cường độ ánh sáng cho thí

nghiệm ánh sáng cá chạch lấu 57 ngày tuổi

Hình 2 4 Chuẩn bị thau thí nghiệm ảnh hưởng của cường độ ánh sáng đến hoạt

động phân bố cá chạch lấu 14 ngày tuổi và 65 ngày tuổi

48,5 lux

78,3 lux 32,4 lux

694,7 lux

748,3 lux 816,8 lux

728,1lux

792,7 lux 41,2 lux

581,7 lux

761,4 lux

27,8 lux

Trang 36

tuổi) sau 2 giờ và 24 giờ

Chuẩn bị 30 cốc chứa nước, cho vào mỗi cốc 1 con cá và Artemia để đạt mật độ

5 con Armitea/mL Nhiệt độ nước 27,73oC ± 0,12, pH = 7,63 ± 0,15, cường độ ánh sáng = 308 Lux ± 6,24, độ rộng của miệng cá = 730,49µm ± 15,48 và kích thước của Artemia = 422,74µm ± 16,01 Sục khí liên tục, sau 2 giờ mổ cá và đếm số lượng Artemia có trong mỗi con cá

Chuẩn bị 5 cốc có chứa 6000 con Artemia mật độ 5 con/mL Cho vào mỗi cốc 5 con cá Nhiệt độ nước 27,73oC ± 0,12, pH = 7,63 ± 0,15, cường độ ánh sáng = 308 Lux

± 6,24, độ rộng của miệng cá = 730,49µm ± 15,48 và kích thước của Artemia = 422,74µm ± 16,01 Sục khí liên tục, sau 24 giờ tách riêng 5 con cá ra cốc mới và đếm

số lượng Artemia còn lại trong cốc ban đầu

2.4.11 Nội dung 2: Xác định một số chỉ tiêu tăng trưởng của cá chạch Lấu sau khi hết noãn hoàn (giai đoạn 11 – 75 ngày tuổi)

Cho 400 con cá (11 ngày tuổi) vào bể nuôi, sục khí liên tục đảm bảo oxy hòa tan lớn hơn 4mg/L Khối lượng thức ăn hàng ngày bằng 2% trọng lượng cơ thể cá Giai đoạn từ 11 đến 21 ngày tuổi cho cá ăn bằng Artemia Instar I Giai đoạn từ 21 ngày tuổi đến 75 ngày tuổi cho cá ăn bằng thức ăn công nghiệp NRD 2/3 kích thước 200 – 300µm Cho cá ăn 2 lần/ngày vào lúc 8 giờ và 17 giờ Chất lượng nước được kiểm tra

và duy trì tối ưu cho cá sinh trưởng và phát triển: pH dao động 7,5 – 8,5; nhiệt độ nước

27 – 32oC; ammonia tổng <0,5 mg/L và nitrite <0,5 mg/L Mỗi ngày, thay nước 50% tổng thể tích bể nuôi Cá được lấy mẫu ngẫu nhiên 10 con với tần suất 2 ngày/lần giai đoạn từ 11 ngày tuổi đến 20 ngày tuổi, tần suất 3 ngày/lần giai đoạn 21 ngày tuổi đến

68 ngày tuổi để đo chiều rộng miệng, chiều dài tổng và khối lượng thân

Trang 37

2.4.12 Nội dung 3: Ảnh hưởng của độ mặn, ammonia tổng, nitrite lên tỷ lệ chết của

cá chạch Lấu

2.4.3.1 Thí nghiệm tìm dãy nồng độ NH 4 + và NO 2

-Từ dung dịch gốc NH4+ 200ppm pha loãng thành dãy nồng độ 5, 10, 30, 50, 100ppm có pH = 7,233 ± 0,153 và nhiệt độ 27,6oC ± 0,173 Mẫu đối chứng chứa nước cất tương ứng với nồng độ NH4+ 0ppm Đong 50mL dung dịch NH4+ từ dãy nồng độ trên cho lần lượt vào từng cốc Cho 10 con cá vào mỗi cốc Theo dõi số lượng cá chết trong 48 giờ 1 giờ đầu theo dõi ghi nhận số cá chết 15 phút/lần; 1 giờ tiếp theo theo dõi 30 phút/lần; 6 giờ tiếp theo theo dõi 3 giờ/lần; sau đó cứ 6 giờ theo dõi 1 lần đến khi kết thúc thí nghiệm Mỗi nồng độ lặp lại 3 lần

Bố trí thí nghiệm tương tự như trên nhưng thay dung dịch NH4+ bằng dung dịch

= 28oC Mẫu đối chứng chứa nước cất tương ứng nồng độ NH4

+

0ppm Đong 100mL dung dịch NH4+ từ dãy nồng độ trên cho lần lượt vào từng cốc Cho 30 con cá vào mỗi cốc Để yên theo dõi số lượng cá chết trong 96 giờ Trong 1 giờ đầu, quan sát và ghi nhận số cá chết 15 phút/lần Trong 2 giờ tiếp theo, cứ 30 phút ghi nhận số cá chết một lần Trong 3 giờ tiếp theo, ghi nhận số cá chết 60 phút/lần Trong 6 giờ tiếp theo, ghi nhận số cá chết 3 giờ một lần Sau đó, cứ 6 giờ ghi nhận số cá chết một lần đến khi kết

thúc thí nghiệm Mỗi nồng độ lặp lại 3 lần

Ngày đăng: 22/10/2018, 22:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm