1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận Chức năng của Viện kiểm sát nhân dân

37 3,3K 42

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 243 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạng của Viện kiểm sát nhân dân qua các thời kỳ, đánh giá tình hình, tổ chức, hoạt động qua các thời kỳ và phương hướng phát triển Viện kiểm sát nhân dân trong tương lai ...........................................................................................................................................................................

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 2 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN 2

1.1 K HÁI QUÁT CHUNG VỀ VKSND

3

1.1.1 Khái niệm VKSND 3 1.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của VKSND 3

1.2 C HỨC NĂNG CỦA VKSND QUA CÁC THỜI KỲ

4

CHƯƠNG 2 9 CHỨC NĂNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN 9

2.1 C HỨC NĂNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ

3.1 T HỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHỨC NĂNG CỦA V IỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

23

3.1.1 Thực trạng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong lĩnh vực hình sự 24 3.1.2 Thực trạng kiểm sát giải quyết các vụ án dân sự, kinh doanh thương mại, lao động, hành chính và những việc khác theo quy định của pháp luật 28 3.1.3 Thực trạng kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự 29 3.1.4 Thực trạng kiểm sát thi hành án dân sự 30 3.1.5 Thực tiễn kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về các hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp

và giải quyết khiếu nại tố cáo thuộc thẩm quyền viện kiểm sát nhân dân 32

3.2 P HƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN VỀ CHỨC NĂNG CỦA V IỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

32

KẾT LUẬN 35 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 36

MỞ ĐẦU

Trong những năm gần đây, trong phạm vi chức năng nhiệm vụ của mình, Việnkiểm sát nhân dân (VKSND) các cấp đã góp phần hạn chế, khắc phục các vi phạm củacác cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, bảo vệ pháp chế xã hội chủnghĩa tôn trọng và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, quyền và lợi ích hợp

Trang 2

pháp của Nhà nước, các tổ chức xã hội, đạt được những thành tựu to lớn, đáng khích lệ,nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Đất nước ta đang trong quá trình hội nhập quốc tế song song với việc phát triểnkinh tế, xã hội là tình hình tội phạm ngày một gia tăng, diễn biến phức tạp, thủ đoạnngày càng tinh vi, nguy hiểm hơn Vì vậy, việc nâng cao chất lượng của các cơ quanbảo vệ pháp luật là việc làm cần thiết Với lí do đó, Đảng và Nhà nước ta từ khi hộinhập đã có sự quan tâm đặc biệt đến việc đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan

tư pháp, trong đó có VKSND

Sau khi có Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24/03/2005 về chiến lược xây dựng

và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng 2020 và Nghịquyết số 49/NQ-TW ngày 02/06/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020của bộ Chính trị, đã có nhiều ý kiến cho rằng chức năng thực hành quyền công tố vàkiểm sát các hoạt động tư pháp tuy là chức năng hiến định nhưng Viện kiểm sát chỉ nênthực hiện chức năng thực hành quyền công tố tức là nên chuyển đổi VKSND thành môhình viện công tố như ở một số nước trên thế giới Việc chuyển đổi này cần phải đượcsuy xét thấu đáo về những lợi ích tích cực cũng như những khó khăn tiêu cực mà nóđem lại, nếu tiến hành cần phải có lộ trình và tính toán hợp lí Để làm được điều đó tacần đánh giá đúng chức năng của VKSND cả về lí luận lẫn thực tiễn

Cải cách VKSND là một trong những nội dung quan trọng của cải cách tư pháp nhằmmục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việc tìm hiểu rõ hơn vềchức năng của VKSND về lý luận và thực tiễn góp phần bảo đảm Viện kiểm sát thựchiện tốt chức năng được giao và kiến nghị giải pháp tích cực nhằm khắc phục phần nàonhững khó khăn, vướng mắc trong quá trình cải cách VKSND là rất cần thiết và quantrọng

CHƯƠNG 1

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

Trang 3

1.1 Khái quát chung về VKSND

1.1.1 Khái niệm VKSND

- Viện kiểm sát Nhân Dân (cùng với Tòa án) là cơ quan thuộc nhánh Tư pháptrong bộ máy Nhà nước do Quốc hội – Cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất lập ranhằm kiểm soát quyền lực Vị trí của Viện kiểm sát nhân dân được xác lập trong Hiếnpháp, được thể hiện thông qua các nguyên tắc tổ chức hoạt động của Bộ máy nhà nướcnói chung, nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân nói riêng

- Theo quy định của luật tổ chức VKSND 2014 vị trí, vai trò của VKSND trongmối quan hệ phân công, phối hợp và kiểm sát quyền lực nhà nước đã được xác định rõràng, với chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, VKSNDđược xác định là thiết chế kiểm sát hoạt động tư pháp, có trách nhiệm phối hợp, đồngthời, kiểm sát chặt chẽ, thường xuyên đối với cơ quan điều tra, tòa án, cơ quan thi hành

án và các cơ quan khác trong việc thực hiện hoạt động tư pháp

- Hệ thống VKSND gồm có:

+ Viện kiểm sát nhân dân tối cao

+ Viện kiểm sát nhân dân cấp cao

+ Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đâygọi là Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh)

+ Viện kiểm sát nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh vàtương đương (sau đây gọi là Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện)

+ Viện kiểm sát quân sự các cấp

1.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của VKSND

- Chức năng: VKSND có chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tưpháp của nước Cộng hòa xà hội chủ nghĩa Việt Nam

- Nhiệm vụ: VKSND có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyềncông dân, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp

Trang 4

pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh

và thống nhất

Đây là nhiệm vụ phù hợp với chức năng VKSND vì trong hoạt động của mình ngoàivai trò buộc tội, VKSND bảo đảm các hoạt động Tư pháp được thực hiện đúng quyđịnh của pháp luật, không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vôtội, đảm bảo quyền con người, quyền công dân và các quyền, lợi ích hợp pháp củangười bị bắt, tạm giữ, tạm giam, người chấp hành án phạt tù không bị luật hạn chế phảiđược tôn trọng và bảo vệ

1.2 Chức năng của VKSND qua các thời kỳ

1.2.1 Giai đoạn từ 1945 đến 1959

- Từ tháng 9/1945 đến trước năm 1958 sự hình thành và phát triển của ngànhcông tố gắn với quá trình xây dựng và phát triển của ngành Tòa án, cơ quan công tốđược tổ chức bên trong hệ thống Tòa án Ngày 29/4/1958, Quốc hội thông qua Đề áncủa Hội đồng chính phủ nhằm tăng cường thêm một bước cho chính phủ và bộ máyNhà nước ở cấp trung ương trong đó có việc thành lập Viện công tố độc lập, tách khỏi

sự quản lý của Bộ tư pháp Viện công tố có nhiệm vụ giám sát việc tuân thủ và chấphành pháp luật của nhà nước, thực hành chức năng công tố

Theo Nghị quyết số 256 – TTg ngày 01/7/1959 của Thủ tướng chính phủ quyđịnh về tổ chức, nhiệm vụ và quyền hạn của ngành công tố thì chức năng của Việncông tố thời gian này vẫn thực hiện chức năng công tố, thẩm quyền của Viện công tốđược tăng lên thông qua thẩm quyền kháng cáo các vụ án dân sự

1.2.2 Giai đoạn từ 1960 đến 1980

- Chức năng VKSND được quy định trong Hiến pháp năm 1959: “Viện kiểm sátnhân dân tối cao nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa kiểm sát việc tuân theo pháp luậtcủa các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ, cơ quan nhà nước địa phương, các nhânviên cơ quan nhà nước và công dân” (Điều 105, Hiến pháp 1959)

Trang 5

- VKSND kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các nghị quyết, quyết định,thông tư, chỉ thị và biện pháp của các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ và cơ quanNhà nước địa phương; kiểm sát việc tuân theo pháp luật của nhân viên cơ quan Nhànước và của công dân; Điều tra những việc phạm pháp về hình sự và truy tố trước Toà

án nhân dân những người phạm pháp về hình sự; Kiểm sát việc tuân theo pháp luậttrong việc điều tra của cơ quan Công an và của cơ quan điều tra khác; Kiểm sát việctuân theo pháp luật trong việc xét xử của các Toà án nhân dân và trong việc chấp hànhcác bản án; Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giam giữ của các trại giam;Khởi tố, hoặc tham gia tố tụng trong những vụ án dân sự quan trọng liên quan đến lợiích của Nhà nước và của nhân dân (Điều 3 Luật tổ chức VKSND năm 1960)

Như vậy, chức năng của Viện kiểm sát trong giai đoạn này chỉ là kiểm sát việctuân theo pháp luật, đảm bảo cho sự thực thi đúng đắn của pháp luật

1.2.3 Giai đoạn từ 1980 đến 1992

- Chuyển sang thời kỳ mới, ngành Kiểm sát nhân dân có bước phát triển mới cả

về tổ chức và hoạt động Hiến pháp 1980 xác định nguyên tắc pháp chế xã hội chủnghĩa là một trong những nguyên tắc cơ bản trong hoạt động quản lý Nhà nước Luật tổchức Viện kiểm sát nhân dân 1981 một lần nữa đã khẳng định vị trí, vai trò, tráchnhiệm của ngành kiểm sát nhân dân trong việc bảo đảm pháp chế thống nhất trong cảnước

- Trên cơ sở Hiến pháp và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, chức năng,nhiệm vụ công tác kiểm sát của ngành Kiểm sát nhân dân đã được xác định rõ hơn.Theo Điều 3 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân sửa đổi năm 1981 Các Viện kiểm sátnhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố bằng những côngtác dưới đây: Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các văn bản pháp quy và biệnpháp của các Bộ và cơ quan khác thuộc Hội đồng bộ trưởng, các cơ quan chính quyềnđịa phương, tổ chức xã hội và đơn vị vũ trang nhân dân; kiểm sát việc tuân theo phápluật trong hành vi của các nhân viên Nhà nước và công dân; Kiểm sát việc tuân theopháp luật trong việc điều tra của cơ quan Công an và các cơ quan điều tra khác; Kiểmsát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử của Toà án nhân dân; Kiểm sát việc tuân

Trang 6

theo pháp luật trong việc chấp hành các bản án và quyết định của Toà án nhân dân đã

có hiệu lực pháp luật; Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giam, giữ và cải tạo

Quán triệt quan điểm đổi mới của Đảng được đề cập trong các văn kiện Đại hộilần thứ VI và các Nghị quyết khác của Trung ương, Nghị quyết của Quốc hội, ngànhKiểm sát nhân dân đã có sự đổi mới về tổ chức và hoạt động nhằm thực hiện tốt chứcnăng, nhiệm vụ của ngành trong giai đoạn mới Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dânđược sửa đổi, bổ sung năm 1988 bổ sung VKSND: Kiểm sát việc tuân theo pháp luậttrong việc điều tra của các cơ quan điều tra, của Bộ đội biên phòng, Hải quan và Kiểmlâm

Bổ sung điểm 6 và Điều tra tội phạm trong những trường hợp quy định tại khoản 3,Điều 92 Bộ luật tố tụng hình sự; Khởi tố hoặc tham gia tố tụng những vụ án dân sự khixét thấy cần thiết

Đến giai đoạn này, VKSND đã có quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật vàthực hành quyền công tố

1.2.4 Giai đoạn từ 1992 đến 2013

Ngày 15/4/1992, Quốc hội khoá VIII, kỳ họp thứ 11 đã nhất trí thông qua Hiến

pháp 1992 Điều 137 Hiến pháp 1992 quy định: Viện kiểm sát nhân dân tối cao kiểm

sát việc tuân theo pháp luật của các Bộ, các cơ quan ngang Bộ, các cơ quan khác thuộc Chính phủ, các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân, thực hành quyền công tố, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.

Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương, các Viện kiểm sát quân sự kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố trong phạm vi trách nhiệm do luật định.

Hiến pháp năm 1992 tiếp tục khẳng định vai trò, nhiệm vụ của Viện kiểm sátnhân dân, nhằm góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ chế độ xã hội chủnghĩa và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể; bảo vệtính mạng, sức khoẻ, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân; bảo đảm để

Trang 7

mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích hợp phápcủa công dân đều phải được xử lý theo pháp luật.

Trên cơ sở đó, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân được sửa đổi và Quốc hội

đã thông qua vào ngày 07/10/1992, quy định: Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chứcnăng kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố bằng những công tácsau đây: Kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với các văn bản pháp quy của các Bộ,các cơ quan ngang Bộ, các cơ quan khác thuộc Chính phủ và các cơ quan chính quyềnđịa phương; kiểm sát việc chấp hành pháp luật của các cơ quan Nhà nước nói trên, tổchức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang và công dân; Kiểm sát việc tuân theo phápluật trong việc điều tra của các cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao nhiệm

vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét

xử của Toà án nhân dân; Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành bản án,quyết định đó có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân; Kiểm sát việc tuân theo phápluật trong việc giam, giữ và cải tạo; Điều tra tội phạm trong những trường hợp do phápluật tố tụng hình sự quy định

Ngày 25/12/2001, Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10 đã thông qua Hiến pháp 1992 (sửađổi) Năm 2002 đánh dấu bước điều chỉnh quan trọng về chức năng, nhiệm vụ và hoạtđộng của Viện kiểm sát nhân dân theo yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp vànhững quy định mới của Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi), Luật tổ chức Viện kiểm sátnhân dân năm 2002, Viện kiểm sát nhân dân không thực hiện chức năng kiểm sát việctuân theo pháp luật trong lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội nữa mà sẽ thực hiện chứcnăng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp (theo Điều 137 Hiếnpháp và Điều 1 Luật Tổ chức VKSND năm 2002

Các lĩnh vực công tác của Viện kiểm sát nhân dân các cấp đã có những tiến bộđáng kể, nhất là công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháptrong lĩnh vực hình sự

Trang 8

1.2.5 Giai đoạn từ 2013 đến nay

Năm 2013, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳhọp thứ 6 đã thông qua Hiến pháp mới vào ngày 28/11/2013 và có hiệu lực thi hành từngày 01/01/2014 Hiến pháp 2013 đã có những nội dung mới quan trọng về chế địnhViện kiểm sát nhân dân, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân đã được Quốc hội khóaXIII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 24/11/2014

Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 có nhiều quy định mới, trong

đó, có những quy định như: Đã xác định rõ vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dântrong mối quan hệ phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước Với chứcnăng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, Viện kiểm sát nhân dânđược xác định là thiết chế kiểm sát hoạt động tư pháp, có trách nhiệm phối hợp, đồngthời kiểm sát chặt chẽ, thường xuyên đối với Cơ quan điều tra, Tòa án, Cơ quan thihành án và các cơ quan khác trong việc thực hiện hoạt động tư pháp

“Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tưpháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (Khoản 1 Điều 2 Luật tổ chứcVKSND 2014)

“VKSND thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp” (Khoản 1 Điều 107Hiến Pháp 2013)

Viện kiểm sát vẫn duy trì chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạtđộng tư pháp Trong phạm vi quyền hạn của mình VKSND có nhiệm vụ bảo vệ Hiếnpháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủnghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, gópphần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất

Trang 9

CHƯƠNG 2

CHỨC NĂNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

2.1 Chức năng thực hành quyền công tố

2.1.1 Định nghĩa thực hành quyền công tố

Quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện quyền truy cứu tráchnhiệm hình sự đối với người phạm tội Quyền năng này thuộc về Nhà nước, được Nhànước giao cho một cơ quan thực hiện (ở nước ta là cơ quan Viện kiểm sát) để phát hiện

Ở nước ta hiện nay vẫn quan niệm quyền công tố thuộc nhánh quyền tư phápnên VKSND thực hiện chức năng thực hành quyền công tố dưới góc độ thực hiện chức

Pháp luật đã quy định các quyền hạn pháp lý khác nhau để VKSND áp dụngtrong từng giai đoạn khác nhau để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tộitrong lĩnh vực tố tụng hình sự

Trên cơ sở đó, có thể nói thực hành quyền công tố là hoạt động của VKSND

trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự 3

2.1.2 Phạm vi thực hành quyền công tố của VKSND

Việc xác định đúng phạm vi thực hành quyền công tố có ý nghĩa quan trọng, vì

có xác định đúng đắn phạm vi thực hành quyền công tố thì mới nâng cao chất lượng

1 Lê Hữu Thể, Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra, Nxb tư pháp

2 Chức năng của VKSND trong bộ máy nhà nước - Võ Phước Long - Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 12 (173)

3 Khoản 1 Điều 3 Luật tổ chức VKSND 2014

Trang 10

thực hành quyền công tố Để có thể xác định phạm vi thực hành quyền công tố thì không thể không xem xét đến phạm vi của quyền công tố.

Về mặt nguyên tắc thì chúng đồng nhất với nhau, nhưng trên thực tế thì giữa haiphạm vi này còn có một khoảng cách Phạm vi quyền công tố bắt đầu từ khi có tộiphạm xảy ra và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật (trừ trường hợp có căn cứ dopháp luật quy định làm quyền công tố bị triệt tiêu trước khi bản án có hiệu lực phápluật: căn cứ đình chỉ điều tra (Điều 164 BLTTHS 2003); đình chỉ vụ án (Điều 169BLTTHS 2003)…) Vì vậy, khi có tội phạm xảy ra đòi hỏi quyền công tố phải đượcphát động Nhưng không phải lúc nào tội phạm xảy ra thì việc khởi tố vụ án hình sựluôn được tiến hành cho nên còn rất nhiều hành vi phạm tội còn tồn tại trong đời sống

xã hội Thế nhưng quyền công tố luôn tồn tại đối với tất cả những người đã thực hiệntội phạm nhưng chưa bị phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử Nên có thể nóiphạm vi quyền công tố rộng hơn so với phạm vi thực hành quyền công tố

Để đảm bảo thực hiện quyền công tố một cách có hiệu quả trong thực tế đấutranh phòng, chống tội phạm, pháp luật đã có các quy định trao cho VKSND các quyền

năng pháp lý thuộc về quyền công tố Phạm vi thực hành quyền công tố bắt đầu từ khi

khởi tố vụ án và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị hoặc

vụ án được đình chỉ khi có một trong những căn cứ do Luật tố tụng hính sự quy định 4

2.1.3 Nội dung chức năng thực hành quyền công tố của VKSND

VKSND sử dụng tổng hợp các quyền năng tố tụng để thực hiện chức năng thựchành quyền công tố của mình nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tộiphải được phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúngngười, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không để lọt tội phạm vàngười phạm tội, không để người nào bị khởi tố, bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chếquyền con người, quyền công dân trái luật

4Lê Tuyết Hoa, Quyền công tố ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ Luật học, 2002 tr.45

Trang 11

Thực hành quyền công tố trong việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về

tội phạm và kiến nghị khởi tố

VKSND phê chuẩn, không phê chuẩn việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp,gia hạn tạm giữ và các biện pháp khác hạn chế quyền con người, quyền công dân trongviệc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố

Hủy bỏ quyết định tạm giam, các quyết định tố tụng khác trái pháp luật của cơquan có thẩm quyền trong việc giải quyết tố giác

Khi cần thiết VKSND đề ra yêu cầu kiểm tra, xác minh và yêu cầu cơ quan cóthẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố thực hiện

Trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố trongtrường hợp phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tộiphạm mà VKSND đã yêu cầu nhưng không được khắc phục

Thực hành quyền công tố trong điều tra vụ án hình sự

Khởi tố vụ án là việc nhà nước (thông qua các cơ quan có thẩm quyền) ra quyếtđịnh khởi tố vụ án hình sự được biểu hiện bằng một văn bản tố tụng hình sự, chínhthức công khai vấn đề có tội phạm xảy ra, bắt đầu truy cứu trách nhiệm hình sự đối vớingười đã thực hiện tội phạm

Khởi tố bị can: Khi có đủ căn cứ để xác định một người đã thực hiện hành viphạm tội thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định bằng văn bản để khởi tố bịcan Về mặt pháp lý, cơ quan nhà nước có thẩm quyền chính thức công khai một ngườinào đó có dấu hiệu phạm tội và tiến hành truy cứu trách nhiệm hình sự người đó

Khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự, tuỳ từngtrường hợp mà Viện kiểm sát thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn tự mình khởi tố vụ ánhình sự, khởi tố bị can hoặc yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố hoặc thay đổi quyết địnhkhởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can theo qui định của Bộ luật tố tụng hình sự Việnkiểm sát chỉ trực tiếp khởi tố vụ án hình sự trong trường hợp Viện kiểm sát huỷ bỏ

Trang 12

quyết định không khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra và trong trường hợp Hộiđồng xét xử yêu cầu khởi tố vụ án Đối với việc khởi tố bị can thì Viện kiểm sát chỉtrực tiếp khởi tố bị can trong trường hợp sau khi nhận hồ sơ vụ án và kết luận điều tra

mà Viện kiểm sát phát hiện có người khác đã thực hiện hành vi phạm tội trong vụ ánnhưng chưa bị khởi tố, trong các trường hợp khác, việc khởi tố bị can do Cơ quan điềutra thực hiện và Viện kiểm sát có trách nhiệm phê chuẩn việc khởi tố

Một trong những nhiệm vụ, quyền hạn quan trọng của Viện kiểm sát khi thực hànhquyền công tố trong giai đoạn điều tra là đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quanđiều tra tiến hành điều tra Để bảo đảm hoạt động điều tra có kết quả thì Viện kiểm sátvới vai trò là cơ quan được giao nhiệm vụ thực hành quyền công tố phải đề ra yêu cầuđiều tra ngay từ khi có quyết định khởi tố vụ án và trong từng giai đoạn của quá trìnhđiều tra, Kiểm sát viên được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát điều traphải bám sát việc điều tra vụ án của Cơ quan điều tra để kịp thời đề ra các yêu cầu điềutra một cách cụ thể, toàn diện nhằm bảo đảm việc giải quyết vụ án đúng người, đúngtội, đúng pháp luật Trong một số trường hợp cần thiết, để thực hiện nhiệm vụ, quyềnhạn của mình khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra, Viện kiểm sát cóthể trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra theo qui định của Bộ luật tố tụng hìnhsự

Để bảo đảm việc giải quyết vụ án được khách quan, chính xác, bảo đảm sự vô tưcủa những người tiến hành tố tụng, đồng thời để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn củaViện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra tội phạm, khi pháthiện Điều tra viên được phân công giải quyết vụ án hình sự thuộc trường hợp phải thayđổi theo qui định tại Điều 43 và Điều 44 Bộ luật tố tụng hình sự thì Viện kiểm sát phảikịp thời yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra thay đổi Điều tra viên Trong trường hợpxét thấy hành vi của Điều tra viên có dấu hiệu tội phạm thì yêu cầu Cơ quan điều tra cóthẩm quyền xem xét để khởi tố về hình sự

Khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra, Viện kiểm sát có quyềnquyết định áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ các biện pháp ngăn chặn như bắt, tạm giữ,tạm giam, cấm đi khỏi nới cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm.Đối với những biện pháp tố tụng, hành vi tố tụng mà Bộ luật tố tụng hình sự qui định

Trang 13

phải có sự phê chuẩn của Viện kiểm sát như: Phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp; phê chuẩnquyết định tạm giữ; phê chuẩn quyết định khởi tố bị can; phê chuẩn lệnh bắt bị can đểtạm giam; phê chuẩn lệnh tạm giam… thì Viện kiểm sát có trách nhiệm xem xét, quyếtđịnh việc phê chuẩn hoặc không phê chuẩn Mọi trường hợp từ chối phê chuẩn củaViện kiểm sát đều phải nêu rõ lý do của việc không phê chuẩn.

Để thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, bảo đảmviệc điều tra khách quan, toàn diện, đúng pháp luật khi phát hiện các quyết định tố tụngcủa Cơ quan điều tra không có căn cứ và trái pháp luật thì Viện kiểm sát có quyền raquyết định huỷ bỏ các quyết định đó như: Quyết định tạm giữ; quyết định khởi tố bịcan; quyết định khởi tố vụ án hình sự; quyết định về việc bảo lĩnh; quyết định đình chỉđiều tra vụ án của Cơ quan điều tra… thì Viện kiểm sát ra quyết định huỷ bỏ các quyếtđịnh đó theo đúng qui định của Bộ luật tố tụng hình sự; trong trường hợp bị can trốnhoặc không biết bị can đang ở đâu mà Cơ quan điều tra không ra quyết định truy nã thìViện kiểm sát phải kịp thời yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định truy nã bị can theoqui định tại Điều 161 Bộ luật tố tụng hình sự

Sau khi việc điều tra kết thúc, Cơ quan điều tra ra bản kết luận điều tra đề nghịtruy tố hoặc quyết định đình chỉ điều tra và nhiệm vụ, quyền hạn quan trọng của Việnkiểm sát trong giai đoạn này mà không cơ quan nào khác có thể thay thế được là quyếtđịnh việc có truy tố bị can ra trước Toà án để xét xử hay không Qua nghiên cứu hồ sơ

vụ án, nếu xét thấy có đủ căn cứ để truy tố bị can thì Viện kiểm sát thực hiện việc truy

tố bị can ra trước Toà án bằng bản cáo trạng Trong những trường hợp qui định tại Điều

168 Bộ luật tố tụng hình sự thì Viện kiểm sát ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổsung Trong những trường hợp qui định tại Điều 169 Bộ luật tố tụng hình sự thì Việnkiểm sát ra quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án

Viện kiểm sát là cơ quan duy nhất thực hành quyền công tố của nước ta do vậycác quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can của các cơ quan tiến hành tố tụng kháckhông hoàn toàn độc lập mà chỉ thực sự có hiệu lực sau khi được kiểm sát tính có căn

cứ, hợp pháp bởi Viện kiểm sát

Trang 14

Thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố

Truy tố bị can: khi xác định có đầy đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sựđối với một người nào đó thì Viện kiểm sát quyết định truy tố bị can bằng bản cáotrạng buộc tội bị can với một tội danh cụ thể nhất định để đề nghị Tòa án xét xử

VKSND thực hành quyền công tố thông qua:

Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam, các biệnpháp khác hạn chế quyền con người, quyền công dân theo quy định của luật; yêu cầu

Cơ quan điều tra truy nã bị can

Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu liên quan đến vụ án trongtrường hợp cần thiết

Trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra nhằm kiểm tra, bổ sung tài liệu,chứng cứ để quyết định việc truy tố hoặc khi Tòa án yêu cầu điều tra bổ sung mà xétthấy không cần phải trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra

Quyết định khởi tố, thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can.Viện kiểm sát ra quyết định trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để điều tra bổ sung khinghiên cứu hồ sơ vụ án phát hiện thấy còn thiếu những chứng cứ quan trọng đối với vụ

án mà Viện kiểm sát không thể tự mình bổ sung được, có căn cứ để khởi tố bị can vềmột tội phạm khác hoặc có người đồng phạm khác hoặc có vi phạm nghiêm trọng thủtục tố tụng (Điều 168 BLTTHS 2003)

Quyết định việc tách, nhập vụ án, chuyển vụ án để truy tố theo thẩm quyền, ápdụng thủ tục rút gọn, áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh

Quyết định gia hạn, không gia hạn thời hạn truy tố, thời hạn áp dụng các biệnpháp ngăn chặn

Quyết định truy tố, không truy tố bị can

Trang 15

Quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án, bị can; quyết định phục hồi vụ án, bịcan: Viện kiểm sát ra quyết định đình chỉ vụ án khi có một trong những căn cứ quyđịnh tại khoản 2 Điều 105 và Điều 107 BLTTHS 2003 hoặc tại Điều 19, Điều 25 vàkhoản 2 Điều 69 của Bộ luật Hình sự; Viện kiểm sát quyết định tạm đình chỉ vụ án khi

bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo khác mà có chứng nhận của Hội đồnggiám định pháp y, khi bị can bỏ trốn mà không biết rõ bị can đang ở đâu (trong trườnghợp này phải yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can)

Viện kiểm sát thực hành quyền công tố xuyên suốt từ khi khởi tố vụ án hình sựđến khi quyết định truy tố bị can ra Tòa hoặc khi có quyết định đình chỉ vụ án Tronggiai đoạn này tuy Cơ quan điều tra trực tiếp tiến hành các hoạt động điều tra (trừ một

số trường hợp Viện kiểm sát là cơ quan trực tiếp tiến hành điều tra), nhìn chung Việnkiểm sát giữ vai trò chủ đạo bảo đảm cho việc truy tố đúng người, đúng tội

Thực hành quyền công tố trong xét xử vụ án hình sự

Sự có mặt của kiểm sát viên Viện kiểm sát là bắt buộc tại phiên tòa (Điều 189BLTTHS 2003), VKSND thực hành quyền công tố trong xét xử vụ án hình sự thôngqua:

Công bố cáo trạng hoặc quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn, quyết định khác

về việc buộc tội đối với bị cáo tại phiên tòa

Xét hỏi, luận tội, tranh luận, phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án tạiphiên tòa: Kiểm sát viên hỏi về những tình tiết của vụ án liên quan đến việc buộc tội,

gỡ tội bị cáo Sau khi kết thúc việc xét hỏi tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày lờiluận tội, đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung cáo trạng hoặc kếtluận về tội nhẹ hơn (nếu thấy không có căn cứ để kết tội thì rút toàn bộ quyết định truy

tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo không có tội)

Kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án trong trường hợp phát hiện oan sai,

bỏ lọt tội phạm, người phạm tội: Viện kiểm sát cùng cấp và Viện kiểm sát cấp trên trựctiếp có quyền kháng nghị những bản án hoặc quyết định sơ thẩm (Điều 232 BLTTHS2003)

Trang 16

2.2 Chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp

2.2.1 Khái niệm kiểm sát hoạt động tư pháp

Hoạt động tư pháp là tổng thể những công việc cụ thể do cơ quan tư pháp thựchiện trong tố tụng theo quy định của pháp luật, trực tiếp liên quan và hướng tới mụcđích giải quyết các vụ án một cách công minh, có căn cứ và đúng pháp luật, góp phầnđấu tranh phòng, chống tội phạm

Kiểm sát hoạt động tư pháp là sự giám sát trực tiếp các hoạt động cụ thể của các

cơ quan tư pháp và các cơ quan được giao một số thẩm quyền tư pháp trong quá trình

tố tụng Có thể nói:

Kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của VKSND để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ

án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động

; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp, các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật

2.2.2 Nội dung chức năng kiểm sát các hoạt động Tư pháp

Kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị

khởi tố

Viện kiểm sát có trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết của cơ quan điều tra đốivới tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố Về nguyên tắc sau khi tiến hànhkiểm tra, xác minh nguồn tố giác, tin báo về tội phạm thì cơ quan điều tra phải ra quyếtđịnh khởi tố vụ án hoặc quyết định không khởi tố vụ án và trong vòng 24 giờ kể từ khi

ra quyết định, cơ quan điều tra phải gửi đến Viện kiểm sát để xem xét

VKSND có chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp thông qua:

Trang 17

Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan điều tra, cơ quan đượcgiao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong việc tiếp nhận tố giác,tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố: Kết quả giải quyết tố giác, tin báo vềtội phạm hoặc kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước phải được gửi choVKSND cùng cấp.

Trực tiếp kiểm sát; kiểm sát việc kiểm tra, xác minh, lập hồ sơ và kết quả, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của cơ quan điềutra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra

Kiểm sát điều tra vụ án hình sự

Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc khởi tố, điều tra và lập hồ sơ vụ áncủa cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra

Kiểm sát hoạt động tố tụng hình sự của người tham gia tố tụng, yêu cầu, kiếnnghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý nghiêm minh người thamgia tố tụng vi phạm pháp luật

Giải quyết tranh chấp về thẩm quyền điều tra

Yêu cầu cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạtđộng điều tra cung cấp tài liệu liên quan để kiểm sát việc tuân theo pháp luậttrong việc khởi tố, điều tra khi cần thiết

Kiến nghị, yêu cầu cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một

số hoạt động điều tra khắc phục vi phạm trong việc khởi tố, điều tra

Yêu cầu thủ trưởng cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hànhmột số hoạt động điều tra thay đổi điều tra viên, cán bộ điều tra vi phạm phápluật trong hoạt động tố tụng

Trang 18

Kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng biện pháp phòng ngừa tội phạm

và vi phạm pháp luật

Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân được thể hiện xuyên suốt quá trình điều tra,điều này giúp cho pháp luật được thi hành nghiêm chỉnh, thống nhất, bảo vệđược quyền và lợi ích của công dân, phát hiện kịp thời, khắc phục những viphạm mà trong quá trình điều tra cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụtiến hành một số hoạt động điều tra có thể vi phạm, đóng góp vào việc đấu tranhphòng, chống tội phạm

Kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn truy tố

Viện kiểm sát kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn truy tố bằng cách:

Kiểm sát hoạt động tố tụng hình sự của người tham gia tố tụng, yêu cầu, kiếnnghị cơ quan tổ chức cá nhân có thẩm quyền xử lý nghiêm minh người tham gia

Ngày đăng: 22/10/2018, 21:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992 (sửa đổi bổ sung 2001), 2013 Khác
4. Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014 Khác
5. Nghị quyết 08/NQTW ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm trong công tác tư pháp trong thời gian tới Khác
6. Nghị quyết số 49/NQTW ngày 02/06/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.Sách, báo, tạp chí Khác
1. Võ Phước Long - Chức năng Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà nước – Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 12 (173) Khác
2. Phạm Hồng Quân - Về chức năng và nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự – Tạp chí khoa học đại học quốc gia Hà Nội , Luật học 28 (2012) 186-198 Khác
3. Lê Tuyết Hoa- Quyền công tố ở Việt Nam, luận án tiến sĩ Luật học 2002 Khác
4. Lê Hữu Thể - Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w