ĐÂY LÀ CÂU HỎI VÀ ĐÁP ÁN VỀ VĂN BẢN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CHO KÌ THI CHUYÊN VIÊN CHÍNH , THANH TRA VIÊN CHÍNH , CHUYÊN VIÊN CAO CẤP , THANH TRA VIÊN CAO CẤP . ĐỀ THI QUA CÁC NĂM ĐÁP ÁN CHI TIẾT, ĐẦY ĐỦ ĐƯỢC CHỌN LỌC . ĐÂY LÀ TÀI LIỆU MÌNH SƯU TẦM RẤT HAY VA CẦN THIẾT CHO CÁC BẠN CHUẨN BỊ CHO KÌ THI NÂNG NGẠCH. CHÚC CÁC BẠN ĐẠT KẾT QUẢ TỐT TRONG KÌ THI .
Trang 1VĂN BẢN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC PHẦN I
Câu 1 Hãy chứng minh rằng đặc điểm của văn bản quản lí nhà nước là “thể thức văn bản phải theo đúng quy định của luật pháp và được cơ quan chức năng có thẩm quyền hướng dẫn thống nhất” Lấy ví dụ minh họa bằng một văn bản quản lí nhà nước.
Đáp án:
a Nêu khái niệm văn bản quản lý Nhà nước: Văn bản quản lý nhà nước là
những quyết đinh và thông tin quản lý thành văn (được văn bản hoá) do các cơquan quản lý nhà nước soạn thảo, ban hành theo thẩm quyền , trình tự, thủ tục, thểthức nhất định phục vụ mục tiêu hoạt động của các cơ quan, đặc biệt là nhiệm vụđiều chỉnh các mối mối quan hệ xã hội, quan hệ pháp lý trong quản lý nhà nước,quan hệ giữa các cơ quan nhà nước với nhau hoặc giữa các cơ quan nhà nước với tổchức và công dân
Hay nói cách khác: Văn bản quản lý nhà nước là những thông tin quản lý
thành văn (được văn bản hoá) do các chủ thể là cơ quan quản lý nhà nước, cán bộ,công chức ban hành theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục và thể thức nhất định để thựchiện chức năng, nhiệm vụ được giao, để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, quan hệpháp lý trong quản lý nhà nước, quan hệ giữa các cơ quan nhà nước với nhau hoặcvói các tố chức và công dân
Thẩm quyền nói chung và thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật nóiriêng gắn với một chủ thể và địa vị pháp lý của chủ thể đó Thẩm quyền (quyền hạn
và nghĩa vụ) của chủ thể được xem xét trên 3 phương diện:
Một là, chủ thể đó là ai (từ việc thành lập đến hoạt động theo yêu cầu củapháp luật (Hiến pháp hay luật hoặc các quy định khác)?
Hai là, hoạt động của chủ thể đó ở phạm vi nào (ngành, lĩnh vực hay ở tất cảmặt, các phương diện của đời sống xã hội)?
Ba là, trách nhiệm trước pháp luật (hoặc với các chủ thể khác) như thế nào?
b Chứng minh đặc điểm của văn bản quản lý nhà nước
Khi nói đến văn bản quản lý nhà nước là nói đến loại văn bản của tổ chức đặcbiệt trong xã hội, đó là Nhà nước Tính đặc biệt của văn bản quản lý nhà nước thểhiện ở những đặc điểm sau:
Về chủ thể ban hành: văn bản quản lý nhà nước do các cơ quan Nhà nước,
người có thẩm quyền soạn thảo và ban hành Chỉ có những văn bản do người đúngthẩm quyền ban hành mới có ý nghĩa pháp lý
Không phải chủ thể nào cũng được ban hành mọi loại văn bản quản lý mà chỉđược ban hành những loại văn bản nhất định trong phạm vi thẩm quyền để thựchiện chức năng nhiệm vụ của mình
Trang 2Ví dụ: các cơ quan thuộc Chính phủ không có quyền ban hành văn bản quyphạm pháp luật Tổng cục, Cục, Vụ thuộc Bộ không có quyền ban hành Thông tư
mà chỉ có Bộ chủ quản mới có quyền đó
+ Về mục đích ban hành: văn bản quản lý nhà nước được ban hành nhằm
mục đích thực hiện các nhiệm vụ, chức năng của Nhà nước
+ Đối tượng áp dụng: Văn bản quản lý Nhà nước mang tính công quyền,
được ban hành để tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội, là cơ sở pháp lý quantrọng cho các hoạt động cụ thể của các cơ quan, tổ chức, cá nhân
+ Về trình tự ban hành, hình thức văn bản: Văn bản quản lý nhà nước đòi
hỏi phải được xây dựng, ban hành theo thủ tục pháp luật quy định và được trìnhbày theo hình thức luật định Mỗi loại văn bản thường được sử dụng trong nhữngtrường hợp nhất định và có cách thức trình bày riêng Sử dụng đúng hình thức vănbản sẽ góp phần tạo ra sự thống nhất cả về nội dung và hình thức của hệ thống vănbản, tạo điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu, sử dụng thực hiện văn bản
+ Về bảo đảm thi hành.
Văn bản nhà nước mang tính quyền lực Nhà nước, bắt buộc các chủ thể khácphải thực hiện và được đảm bảo thực hiện bởi Nhà nước như hoạt động tổ chứctrực tiếp hoặc cưỡng chế
+ Về văn phong.
Văn bản quản lý nhà nước nhằm mục đích truyền đạt thông tin, mệnh lệnh từchủ thể quản lý đến đối tượng quản lý một cách đầy đủ, chính xác nhất Nó khôngcần biểu cảm nên mang đặc trưng văn phong riêng, khác với văn phong nghệ thuật.Văn bản quản lý nhà nước thường mang tính phổ quát, đại chúng và không cần quáchi tiết như văn bản khoa học
- Thể thức văn bản phải theo đúng qui định pháp luật:
+ Nội dung chế định pháp luật được thể hiện trong văn bản nên thể thức vănbản phải bảo đảm tính pháp lý cao
+ Văn bản là phương tiện chứa đựng quyết định của chủ thể là nhà nước nên thểthực văn bản phải thể hiện được quan hệ pháp lý giữa chủ thể và đối tượng
+ Văn bản quản lý nhà nước được đảm bảo thực hiện bằng nhà nước, nên thểthức văn bản phải thể hiện được tư cách pháp nhân công quyền của chủ thể
+ Văn bản quản lý nhà nước được tất cả các đối tượng thực hiện nên văn bảnphải được pháp luật quy định thống nhất về thể thức
- Thể thức văn bản được cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn thống nhất (5 đ)Tùy theo tính chất của văn bản mà việc hướng dẫn thực hiện thể thức văn bảnthuộc thẩm quyền của cơ quan nào: Là văn bản qui phạm pháp luật do chủ thể hànhchính ban hành do Bộ thư pháp hướng dẫn theo Thông tư 25/2011/TT- BTP; nếu làvăn bản hành chính sẽ thực hiện theo hướng dẫn của Thông tư 01/2011/TT-BNV
- Văn bản QPPL có tính mệnh lệnh cưỡng chế thi hành Mọi đối tượng cótrách nhiệm thi hành, nếu không thi hành thì nhà nước có biện pháp cưỡng chế như
Trang 3xử phạt bằng các hình thức cho dù văn bản đó có thể không có tính khả thi nhưngvẫn phải thực hiện… do đó nó chỉ có tính một chiều, bắt buộc.
- Có hiệu lực thường xuyên và tương đối lâu dài (KN tương đối lâu dài còntuỳ thuộc vào nội dung hợp lý hay không hợp lý, nội dung đề cập rộng hay hẹp màthời gian có thể dài hay ngắn; có quy phạm khi ban hành ra tới khi có hiệu lực phảiqua một thời gian, do đó nếu thời gian tồn tại ngắn thì nó ảnh hưởng đến việc điềuchỉnh XH) Văn bản luôn luôn được áp dụng cho nhiều người, nhiều đối tượngkhác nhau, luôn luôn điều chỉnh mối quan hệ XH mà nó đề cập, chỉ khi nào có vănbản khác thay thế
- Văn bản QPPL có đối tượng thi hành rộng (thông thường thì văn bản khôngchỉ áp dụng đối với 1 đối tượng, mà là tác động tới 1 nhóm đối tượng) Mọi cánhân, cơ quan chịu sự tác động của văn bản phải có trách nhiệm thi hành
a Lấy ví dụ minh họa bằng một quyết định thành văn cụ thể
BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Số:337/QĐ-BKH Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 10 tháng 4 năm 2007
QUYẾT ĐỊNH
Về việc ban hành Quy định nội dung Hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam
BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ
Căn cứ Nghị định số 61/2003/NĐ-CP ngày 06 tháng 06 năm 2003 của Chínhphủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Kế hoạch
và Đầu tư;
Căn cứ Nghị định số 01/NĐ-CP ngày 04 tháng 01 năm 2007 của Chính phủ
về việc chuyển Tổng cục Thống kê vào Bộ Kế hoạch và đầu tư;
Căn cứ Quyết định số 10/2007/QĐ-TTG ngày 23 tháng 01 năm 2007 của thủtướng chính phủ ban hành Hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam;
Xét đề nghị của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê,
QUYẾT ĐỊNH
Trang 4Điều 1 Ban hành kèm theo Quyết định này Qui định nội dung Hệ thống ngành
kinh tề của Việt Nam đã được ban hành theo Quyết định số 10/2007/QĐ-TTg củaThủ tướng Chính Phủ
Điều 2 Giao Tổng cục thống kê phối hợp vói các đơn vị có liên quan:
Hướng dẫn các Bộ, ngành, cơ quan, tổ chức có liên quan thực hiện theo đúngQuy định nội dung Hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam;
Theo dõi tình hình thực hiện, trình Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư sửa đổi,
bổ sung quy định nội dung Hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam khi cần thiết
Điều 3 Các Ông Tổng cục trưởng Tổng cục thống kê, Chánh văn phòng Bộ,
Thủ trưởng các đơn vị thuộc Bộ Kế Hoạch và Đầu tư chịu trách nhiệm thi hànhQuyết định này
Đáp án: (Đề 5-Tuấn Anh)
Khái niệm văn bản quản lý nhà nước
Văn bản quản lý nhà nước là những quyết định và thông tin quản lý thànhvăn (được văn bản hóa) do các cơ quan quản lý nhà nước soạn thảo, ban hành theothẩm quyền, trình tự, thủ tục, thể thức nhất định phục vụ mục tiêu hoạt động củacác cơ quan, đặc biệt là nhiệm vụ điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, quan hệ pháp
lý trong quản lý nhà nước, quan hệ giữa các cơ quan nhà nước với nhau hoặc giữacác cơ quan nhà nước với tổ chức và công dân
Như vậy, có thể thấy rằng, văn bản quản lý nhà nước hình thành trong quátrình thực hiện chức năng, nhiệm vụ mà các cơ quan nhà nước là chủ thể ban hành
Chức năng pháp lý của văn bản quản lý nhà nước được thể hiện ở những phương diện dưới đây:
Ghi lại các quy phạm pháp luật và các quan hệ pháp lý tồn tại trong xã hội dopháp luật điều chỉnh Khi đã sử dụng hình thức văn bản để ghi lại và truyển tảiquyết định và thông tin quản lý, cơ quan nhà nước đã sử dụng thẩm quyền trong đó.Mệnh lệnh chứa trong văn bản có giá trị pháp lý bắt buộc mọi người phải tuân theo.Bản thân văn bản là chỗ dựa pháp lý, khung pháp lý ràng buộc mọi mối quan hệ,dựa vào đó để tổ chức hoạt động của cơ quan, cá nhân, tổ chức
- Quy phạm hóa các mối quan hệ xã hội đang tồn tại trong các lĩnh vực củađời sống xã hội;
- Là cơ sở pháp lý cho hoạt động của các cơ quan, tổ chức Văn bản là cơ sởxây dựng hệ thống pháp luật, tạo ra hành lang pháp lý cho hoạt động của các cơquan tổ chức;
Trang 5- Là sản phẩm của sự vận dụng các quy phạm pháp luật vào đời sống thực tế,vào quản lý nhà nước và quản lý xã hội; phản ánh quá trình giải quyết các côngviệc theo quy định pháp luật hiện hành;
- Là cơ sở để cơ quan, tổ chức, công dân thực hiện các quyền và nghĩa vụ củamình
- Là cầu nối tạo ra các mối quan hệ giữa các tổ chức, cơ quan Văn bản và các
hệ thống văn bản quản lý giúp xác định các quan hệ pháp lý giữa các cơ quan quản
lý và bị quản lý, tạo nên sự ràng buộc trách nhiệm giữa các cơ quan, cá nhân cóquan hệ trao đổi văn bản, theo phạm vi hoạt động của mình và quyền hạn đượcgiao
Ví dụ: quan hệ giữa Bộ với các sở, ban, ngành ; giữa UBND tỉnh với UBNDhuyện, các sở, ban, ngành
- Bản thân các văn bản trong nhiều trường hợp, là chứng cứ pháp lý để giảiquyết các nhiệm vụ cụ thể trong quản lý và điều hành công việc của các cơ quan
- Là trọng tài phân minh, phân xử khi thực hiện văn bản không thống nhất, cơ
sở để giải quyết tranh chấp và bất đồng giữa các cơ quan, đơn vị, cá nhân, giảiquyết các quan hệ pháp lý nảy sinh
Tính pháp lý của văn bản được hiểu là sự phù hợp của văn bản (về nội dung vàthể thức) với quy định pháp luật hiện hành
Như vậy, văn bản đảm bảo tính pháp lý khi được ban hành theo đúng quyđịnh pháp luật về nội dung và thể thức
Thể thức văn bản là hình thức pháp lý của văn bản, là toàn bộ những yếu tố vềhình thức có tính bố cục đã được thể chế hoá để đảm bảo giá trị pháp lý cho vănbản Như vậy thể thức là yếu tố thuộc về hình thức bên ngoài nhằm đảm bảo tínhpháp lý cho văn bản
Xét trên phương diện này, có thể thấy văn bản là phương tiện tác động củapháp luật vào các quan hệ xã hội Như vậy, có thể coi các văn bản được ban hànhtheo chức năng pháp lý là sản phẩm của quá trình áp dụng các quy phạm pháp luậttrong quản lý nhà nước và quản lý xã hội Đây là một trong những hình thức bảođảm pháp lý của các quyết định quản lý Ban hành các văn bản theo hướng này, các
cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước mong muốn thực hiện mục tiêu duy trì cácquan hệ xã hội theo quy định pháp luật và bảo vệ quyền lợi ích chính đáng củangười lao động trước pháp luật Ở đây, chức năng pháp lý của văn bản quản lý nhànước được gắn liền với mục tiêu ban hành chúng Theo chức năng này, văn bảnquản lý nhà nước cũng tham gia và tạo dựng hành lang pháp lý cho hoạt động quản
lý nhà nước
Cần nhấn mạnh thêm rằng, cho đến nay việc truyền đạt các quy phạm phápluật, các chủ trương, chính sách, v.v đều được thực hiện chủ yếu thông qua hệthống văn bản quản lý nhà nước Về phương diện pháp lý, văn bản và các hệ thốngvăn bản quản lý có tác dụng rất quan trọng trong việc xác định các quan hệ pháp lýgiữa các cơ quan nhà nước và các tổ chức bị quản lý Chúng tạo nên mối ràng buộc
về mặt trách nhiệm giữa các chủ thể có quan hệ với nhau theo phạm vi hoạt động
và theo quyền hạn được giao trong từng hệ thống
Trang 6Điều kiện để văn bản quản lý nhà nước thực hiện được chức năng pháp lý
Về chủ thể ban hành: Văn bản quản lý nhà nước do cơ quan có thẩm quyền
ban hành theo luật định để thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao
Về nội dung: Văn bản quản lý nhà nước thể hiện ý chí của chủ thể thành
mệnh lệnh (qua tên loại văn bản) và các quy tắc xử sự chung để điều chỉnh hay tácđộng vào các mối quan hệ, các đối tượng; yêu cầu các đối tượng chấp hành và cóchế tài thực hiện; nội dung phải cụ thể, phù hợp với tính chất pháp lý của mỗi loạivăn bản trong hệ thống văn bản (ngành, lĩnh vực…); phù hợp với chức năng sửdụng, phù hợp với quy định pháp luật hiện hành; các chế tài sử dụng phải đảm bảotính hợp lý
Về hình thức: Văn bản quản lý nhà nước thể hiện rõ chủ thể ban hành, tính
chất văn bản, xác nhận phạm vi không gian và thời gian, có bố cục nội dung theochương, mục, điều, khoản, điểm, có số, ký hiệu văn bản theo quy định của phápluật; Văn bản phải đảm bảo về mặt thể thức; sử dụng thuật ngữ và văn phong hợp
lý; Về trình tự, thủ tục ban hành: Văn bản quản lý nhà nước được ban hành theo
đúng trình tự, thủ tục do Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định
Điều kiện đảm bảo: Văn bản quản lý nhà nước được đảm bảo thực hiện bằng
nhà nước: do cơ quan nhà nước tổ chức thực hiện bằng quyền lực nhà nước,phương tiện, vật chất kỹ thuật và ngân sách nhà nước, do công chức có thẩm quyềnthực hiện tại trụ sở cơ quan nhà nước
Trang 7- Môi trường quản lý: …
Quyết định hành chính chứa đựng quyền lực của nhà nước dưới góc độ nhấtđịnh là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước (hoặc cá nhân, tổ chức có thẩmquyền) nhằm đưa ra các quy định chung hoặc giải quyết các vấn đề pháp lý hànhchính cụ thể đối với tập thể hay cá nhân có ý nghĩa bắt buộc tuân thủ
Quyết định hành chính cũng chứa đựng trong đó các mục tiêu mà chủ thểmong muốn đạt tới khi thi hành quyết định và phương tiện để thực hiện chúng
Quyết định hành chính là biện pháp giải quyết công việc của chủ thể quản lýhành chính trước một tình huống đang đặt ra, là sự phản ứng của chủ thể quản lýhành chính nhà nước trước một tình huống đòi hỏi phải có sự giải quyết của nhànước theo thẩm quyền do luật định
Nhìn một cách tổng quát, việc ban hành các quyết định là nhiệm vụ của cơquan nhà nước có thẩm quyền nhằm định ra chính sách, quy định, sửa đổi hoặc bãi
bỏ các quy phạm pháp luật hành chính Chúng có khả năng làm phát sinh, thay đổi,chấm dứt hoặc phục hồi các quan hệ pháp luật hành chính cụ thể Khi soạn thảo vàban hành các cơ quan nhà nước thực hiện các nhiệm vụ, chức năng, quyền hạn màpháp luật quy định cho mình
Các quyết định hành chính được hiểu như là một loại hình của quyết địnhnhà nước có những tính chất chủ yếu:
- Có tính ý chí quyền lực nhà nước, là kết quả của sự thể hiện ý chí của các
cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền thực hiện nhân danh quyền lực nhànước
- Có tính pháp lý thể hiện ở hậu quả pháp lý do chúng ta tạo ra Quyết địnhhành chính tác động vào đời sống xã hội bằng việc định ra chính sách, sửa đổi, bãi
bỏ các quy phạm pháp luật hành chính, làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt hoặcphục hồi quan hệ pháp luật hành chính
Có tính dưới luật, chấp hành luật, nghĩa là nội dung của quyết định hànhchính phải phù hợp với Hiến pháp, luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấptrên, được ban hành theo trình tự và hình thức do pháp luật quy định Chúng đượcban hành để thực hiện quyền hành pháp tức là hoạt động chấp hành và điều hànhcủa hệ thống hành chính nhà nước và người có thẩm quyền hành pháp
Với những đặc điểm như vậy, quyết định hành chính nhà nước chính là tínhiệu điều chỉnh, là thông tin quy phạm của chủ thể quản lý hành chính nhà nước tác
Trang 8động vào khách thể của quan hệ pháp luật hành chính để thực hiện mục đích củamình theo quỹ đạo và ý chí của mình.
* Yêu cầu về tính kịp thời trong soạn thảo và ban hành quyết định hành chính:
Trong hoạt động quản lý và điều hành của các ngành, các cấp thì việc soạnthảo và ban hành các quyết định hành chính là một nhu cầu tất yếu Tuy nhiên, việcsoạn thảo và ban hành quyết định hành chính chậm trễ, không kịp thời, không đúngthời điểm sẽ mang lại hiệu quả không cao
Do đó, yêu cầu về tính kịp thời trong soạn thảo và ban hành quyết định hànhchính là rất quan trọng, cần thiết bởi lẽ:
- Quyết định hành chính được soạn thảo và ban hành khi có yêu cầu giảiquyết vấn đề của chủ thể
- Quyết định hành chính được soạn thảo và ban hành khi có yêu cầu giảiquyết vấn đề của đối tượng
- Quyết định hành chính ban hành đúng thời điểm cần giải quyết vấn đềthuộc trách nhiệm của chủ thể hành chính
- Quyết định hành chính được ban hành kịp thời khi đảm bảo các điều kiện
cơ bản để giải quyết vấn đề
* Phân tích ý nghĩa của yêu cầu về tính kịp thời trong soạn thảo và ban hành quyết định hành chính
Việc thực hiện soạn thảo và ban hành văn bản hành chính kịp thời sẽ manglại ý nghĩa vô cùng quan trọng:
- Đảm bảo yêu cầu kịp thời của quyết định hành chính sẽ đáp ứng việc giảiquyết những nhu cầu của chủ thể hay đối tượng trong hoạt động quản lý nhà nước
- Đảm bảo yêu cầu kịp thời trong soạn thảo và ban hành quyết định là tráchnhiệm thực thi công vụ của công chức
- Đảm bảo yêu cầu kịp thời trong soạn thảo và ban hành quyết định hànhchính sẽ tiết kiệm chi phí hoạt động của chủ thể hành chính
- Đảm bảo yêu cầu kịp thời trong soạn thảo và ban hành quyết định hànhchính sẽ góp phần nâng cao tính khả thi của quyết định
- Đảm bảo yêu cầu kịp thời trong soạn thảo và ban hành quyết định hànhchính sẽ tạo ra sự thống nhất cao trong quản lý hành chính
- Đảm bảo yêu cầu kịp thời trong soạn thảo và ban hành quyết định hànhchính góp phần củng cố quan hệ giữa chủ thể hành chính nhà nước với đối tượnghành chính
* Minh họa bằng một quyết định cụ thể
Trong hoạt động quản lý nhà nước, rõ ràng yêu cầu khách quan của sự việc,của vấn đề cần giải quyết chỉ xảy ra ở một thời điểm lịch sử cụ thể
Do vậy, quyết định hành chính nhà nước được ban hành nhằm điều chỉnhhành vi trên phải đảm bảo kịp thời, đúng thời điểm
Trang 9Ví dụ như trường hợp theo thông báo của Đài khí tượng thủy văn ngày01/11/2013 sẽ có cơn bão cấp 13 đi qua tỉnh A Sau khi nhận được thông báo củaBan phòng chống lụt bão TW, UBND tỉnh A phải ban hành quyết định di dân, sơtán ra khỏi vùng tâm bão Do vậy, nếu không có quyết định di dời dân ra khỏi vùngtâm bão và ra quyết định không kịp thời thì hậu quả xảy ra là không lường trướcđược.
Hiện nay, hoạt động soạn thảo và ban hành quyết định hành chính của chủthể quản lý và đạt được những quyết định quan trọng rất đáng khích lệ Tất cảnhững hoạt động này đều hướng tới mục tiêu thực hiện quyền lực của nhân dân,phục vụ nhân dân, thực thi pháp luật, đưa pháp luật đi vào đời sống để đảm bảo kỷcương xã hội
Tuy nhiên, việc đảm bảo tính kịp thời trong soạn thảo và ban hành quyếtđịnh hành chính nhà nước vẫn còn những bất cập, hạn chế nhất định Do thiếu kịpthời nên những quyết định hành chính đó chưa có tính khả thi cao, hiệu quả thấp, cábiệt có trường hợp để lại hậu quả nghiêm trọng
Do vậy, cần nâng cao tinh thần trách nhiệm của công chức thực thi công vụtrong công việc, đảm bảo tính kịp thời trong soạn thảo và ban hành quyết định hànhchính nhà nước, đưa hoạt động quản lý nhà nước ngày càng đạt hiệu quả cao, gópphần vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước
Câu 4 Anh (chị) hãy cho biết, giữa văn bản quy phạm pháp luật với văn bản hành chính thông thường có gì khác nhau? Để văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực thi hành cần phải có những điều kiện đảm bảo nào Phân tích các điều kiện đó và lấy ví dụ thực tế để minh họa?
Đáp án:
Đáp án:
a) Khái niệm văn bản QPPL
Văn bản qui phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặcphối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được qui định bởiLuật ban hành văn bản QPPL hoặc luật ban hành văn bản qui phạm pháp luật củaHội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân, trong đó có qui tắc xử sự chung, có hiệu lựcbắt buộc chung, được nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xãhội
Như vậy qui phạm pháp luật có tính đặc thù riêng của mình được áp dụngtrong một phạm vi rộng và có tính bắt buộc, phản ánh thẩm quyền của cơ quan nhànước được phép ban hành Văn bản qui phạm pháp luật do cơ quan nhà nước cóthẩm quyền ban hành theo thủ tục trình tự được luật qui định, chứa đựng các quiphạm pháp luật nhằm xác định các qui tắc xử sụ chung của cộng đồng, thiết lập
Trang 10hay sửa đổi các quan hệ pháp lý trong điều hànhc, điều chỉnh các quan hệ xã hội vàđược nhà nước bảo đảm thực hiện bằng những phương thức thích hợp
Văn bản qui phạm pháp luật hướng vào cộng đồng không dành riêng cho mộtcác thể nào cả được áp dụng nhiều lần và việc thay thế chúng phải theo đúng thủtục.Theo qui định của luật ban hành văn bản qui phạm pháp luật năm 2008, hệthống văn bản qui phạm pháp luật của nước ta bao gồm các loại sau đây:
Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội
Pháp lệnh , nghị quyết của Chủ tịch nước
Nghị định của chính phu
Quyết định của Thủ tướng chính phủ
Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Thông tư củaChánh án tóa án nhân dân tối cao
Thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Thông tư của Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ
Quyết định của Tổng kiểm toán nhà nước
Nghi quyết liên tịch giữa UB thường vụ Quốc hội hoặc Chính phủ với cơquan trung ương của tổ chức chính trị xã hội
Thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởngViện kiểm sát nhân dân tối cao, giữa Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ vớiChánh án tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữacác Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ
Văn bản qui phạm pháp luật của hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân
Trong các văn bản qui phạm pháp luật nói trên, Hiến pháp được xem là đạoluật cơ bản của Nhà nước, có hiệu lực pháp lý cao nhất Cac đạo luật về ban hànhcvăn bản qui phạp pháp luật còn qui định rằng, văn bản qui phạm pháp luật do các
cơ quuan nhà nước cấp dưới ban hành phải phù hợp với van bản qui phạm phápluật của cơ quan nhà nưosc cấp trên Văn bản qui phạm pháp luật trái với Hiệnpháp, trái với van bản của cơ quan nhà nước cấp trên phải được cơ quan nhà nước
có thẩm quyền bãi bỏ, đình chỉ việc thi hành
Từ những nội dung đã trình bày ở trên, có thể nêu lên những đặc điểm cơ bảncủa văn bản qui phạm pháp luật nói chung như sau:
Được ban hành và điều chỉnh theo luật
Chứa đụng các qui tắc xử sự chung
Việc áp dụng chúng làm phát sinh hoặc thay đổi chấm dứt các quan hệ phápluật, quan hệ xã hội
Co tính chất bắt buộc thi hành
Được áp dụng nhiều lần
Vì những đặc điểm trên mà việc soạn thảo các văn bản qui phạm pháp luậtluôn có những yêu cầu rất chặt chẽ Cụ thể là:
Trang 11Các cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản qui phạm pháp luật theo luậtđịnh phải có chương trình, kế hoạch ban hành văn bản rõ ràng, phù hợp với chứcnăng nhiệm vụ của mình vf phải được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
Phải tuân thủ qui trình xây dụng và ban hành văn bản đã được pháp luật quiđịnh
Không được ban hành văn bản trái thẩm quyền cho phép hoặc trái với nhữngqui định của văn bản cấp trên
b) Văn bản hành chính thông thường:
Đặc điểm của văn bản hành chính thông thường: Trong thực tiễn hoạt độngcủa các cơ quan, tổ chức, kể cả ở chính quyền cấp xã, văn bản hành chính thôngthường là loại văn bản được soạn thảo và sư dụng nhiều nhất
Khác với văn bản qui phạm pháp luạt mà thẩm quyền ban hành phải tuântheo luật định, văn bản hành chính thông thường là loại văn bản hầu nhưn mọi cơquan , tổ chức đơn vị đề có thể ban hành Đây là loại văn bản không qui định thẩmquyền ban hành mà việc ban chúng lệ thuộc vào yêu cầu công việc và thường dothủ trưởng cácc đơn vị , cơ quan xác dịnh cụ thể cho từng văn bản gắn với yêu cầugiải quyết công việc hàng ngày.Trong nhiều trường hợp, loại văn bản này không cótính cưỡng chế, bắt buộc thực hiện
c) Qua những nội dung nêu trên cho thấy sự khác nhau giữa văn bản qui phạm pháp luật với van bẳn hành chính thông thường ở những điểm sau:
+ Về mục tiêu sử dụng:
Văn bản QPPL để điều chỉnh các quan hệ xã hội
Văn bản hành chính để hướng dẫn thực hiện hay thông tin về quản lý
+ Về chủ thể ban hành:
Văn bản QPPL do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo luật định
Văn bản hành chính do các cơ quan nhà nước ban hành
+ Về nội dung
Văn bản QPPL có chứa đựng các qui tắc xử sự chung và chế tài thực hiện
Văn bản hành chính chỉ phản ánh thông tin về hoạt động quản lý nhà nước
Văn bản hành chính không nhất thiết phải tuân theo trình tự, thủ tục luật định
+ Điều kiện đảm bảo
Văn bản QPPL được đảm bảo thực hiện bằng nhà nước (quyền lực nhà nước,
Trang 12ngân sách nhà nước, công chức nhà nước)
Văn bản hành chính do các đối tượng trong và ngoài nhà nước tự thực hiện
Căn cứ Nghị định số 136/2007/NĐ – CP ngày 17/8/2007 của Chính phủ
về việc xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam;
Căn cứ Quyết định số 676/QĐ - BKH ngày 25/5/2009 của Bộ trưởng
Bộ Kế hoách và Đầu tư về việc cung cấp quản lý cán bộ, công chức, viênchức hành chính , Sự nghiệp Bộ Kế hoạch và Đầu tư;
Căn cứ Kế hoách đào tạo, bối dưỡng cán bộ, công chức, viên chức năm
2013 của Tổng cục Thống kê về việc thành lập Đoàn cán bộ tham dự Khóađào tạo tại Hàn Quốc;
Xét đề nghị của Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1 Cử các ông , bà có tên sau đây tham dụ khóa đào tạo vè “Thống
kê kinh tế “ từ ngay 07/12/2013 tại Hàn Quốc:
1 Ông Nguyễn Văn A, (Công chức mẫ ngạch: 01002 loại A2 ), Vụ ttrưởng
Trang 13Kinh phí toàn bộ chuyến đi do Viện đào tạo Thống kê Hàn Quốc (STI) tàitrợ
Điều 2 Sau khi kết thúc chuyến công tác, trong thời gian 7 ngày làm việc.Đoàn phải có báo cáo kết quả chuyến công tác theo qui định của Tổng cụcThống kê
Điều 3 Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ, Chánh văn phòng, Vụ trưởng VụThống kê nước ngoài và Hợp tác quốc tế, Thủ trưởng các đơn vị có liên quan
và các ông bà có tên tại Điều 1 Căn cứ Quyết định thi hành /
TỔNG CỤC TRƯỞNGNơi nhận:
- Bộ Ngoại giao
- Bộ Công an
- Như điều 3
- Lưu VT,TCCB, HS Nguyễn Bích Lâm
BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨAVIỆT NAM
Kính gửi : Các cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Ngày 16 tháng 01 năm 2012, Tổng cục Thống kê đã gửi Công văn số DSLĐ trưng cầu ý kiến các Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
35/TCTK-về số liệu dân số trung bình chính thức năm 2010 và ước tính năm 2011 Hầu hếtcác Cục Thống kê thống nhất với phương pháp biên soạn và nhiều Cục Thống kêthống nhất với số liệu của Tổng cục Thống kê
Sau khi nghiên cứu thận trọng và cân nhắc gops ý của các Cục Thống kê, Tổng cục
đã tính lại các biểu số liệu dân số trung bình chính thức năm 2010 (Biểu 1) và ướctinh năm 2011( Biểu 20 chia theo tỉnh, thành phố, giới tính , thành thị và nông thôn
Trang 14Số liệu này sẽ được công bố trong niên giám Thống kê tóm tắt và đầy đủ năm 2011của Tổng cục Thống kê.
Để đảm bảo thống nhất số liệu giữa Trung ương và địa phương, Tổng cục Thống kêyêu cầucác Cục Thống kê thống nhất sử dụng số liệu do Tổng cục đã tính và gử cấcCục Thống kê ( các biểu số liệu được gửi kèm)
Nơi nhận: KT.TỔNG CỤC TRƯỞNG
- Như trên PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG
- Đồng chí Tổng cục trưởng ( để báo cáo);
- Lưu VT, DSLĐ Nguyễn Bích Lâm
Để văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực thi hành cần phải có những điềukiện đảm bảo nào Phân tích các điều kiện đó và lấy ví dụ thực tế để minh họa?Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặcphối hợp ban hành theo thủ tục, trình tự thẩm quyền luật định, trong đó có các quytắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung được nhà nước bảo đảm thực hiệnnhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội (Điều 1 Luật Ban hành văn bản quy phạm phápluật 2008)
Hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật bao gồm: hiệu lực về thời gian vàhiệu lực về không gian và đối tượng áp dụng Do vậy, để văn bản quy phạm phápluật có hiệu lực thi hành cần có các điều kiện sau:
- Điều kiện có hiệu lực về thời gian:
Theo quy định tại Điều 78 Luật Ban hành văn bản qppl 2008 thì: “Thời điểm
có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật được quy định trong văn bản nhữngkhông sớm hơn bốn mươi lăm ngày, kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành Trườnghợp văn bản qppl quy định các biện pháp thi hành trong tình trạng khẩn cấp, vănbản được ban hành để kịp đáp ứng yêu cầu phòng, chống thiên tai, dịch bệnh thì cóthể có hiệu lực kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành nhưng phải được đăng ngaytrên Trang thông tin điện tử của cơ quan ban hành và phải được đưa tin trên phươngtiện thông tin đại chúng; đăng Công báo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam(sau đây gọi chung là Công báo) chậm nhất sau hai ngày làm việc, kể từ ngày công
bố hoặc ký ban hành”
Như vậy, văn bản quy phạm pháp luật phải được đăng Công báo; văn bản quyphạm pháp luật không đăng Công báo thì không có hiệu lực thi hành, trừ trườnghợp văn bản có nội dung thuộc bí mật nhà nước và các trường hợp quy định cácbiện pháp thi hành trong tình trạng khẩn cấp,…
Trang 15Trong thời hạn chậm nhất là hai ngày làm việc, kể từ ngày công bố hoặc kýban hành, cơ quan ban hành văn ban qppl phải gửi văn bản đến cơ quan Công báo
để đăng Công báo
Cơ quan Công báo có trách nhiệm đăng toàn văn văn bản quy phạm pháp luậttrên Công báo chậm nhất là mười lăm ngày, để từ ngày nhận được văn bản
Văn bản quy phạm pháp luật đăng Công báo là văn bản chính thức và có giátrị như văn bản gốc
Trong những trường hợp thật cần thiết, văn bản quy phạm pháp luật có thể cóhiệu lực trở về trước, có nghĩa là nó được áp dụng làm căn cứ để giải quyết những
vụ việc xảy ra trước khi ban hành văn bản Tuy nhiên, không được quy định hiệulực trở về trước đối với các trường hợp như: Quy định trách nhiệm pháp lý mới đốivới hành vi mà vào thời điểm thực hiện hành vi đó pháp luật không quy định tráchnhiệm pháp lý; Quy định trách nhiệm pháp lý nặng hơn
2 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính số 44/2002/PL-UBTVQH10, Pháp lệnh
số 31/2007/PL-UBTVQH11 sửa đổi một số điều của Pháp lệnh xử lý vi phạm hànhchính năm 2002 và Pháp lệnh số 04/2008/UBTVQH12 sửa đổi, bổ sung một sốđiều của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính hết hiệu lực kể từ ngày Luật này cóhiệu lực, trừ các quy định liên quan đến việc áp dụng các biện pháp đưa vào trườnggiáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục, đưa vào cơ sở chữa bệnh tiếp tục có hiệu lựcđến hết ngày 31 tháng 12 năm 2013”
- Điều kiện có hiệu lực về không gian và đối tượng áp dụng:
Văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước ở Trung ương có hiệu lựctrong phạm vi cả nước và được áp dụng đối với mọi cơ quan, tổ chức, công dânViệt Nam, trừ trường hợp văn bản có quy định khác
Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân có hiệulực trong phạm vi địa phương
Văn bản quy phạm pháp luật cũng có hiệu lực đối với cơ quan, tổ chức, ngườinước ngoài ở Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế
mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác
Trang 16Câu 5 Ý nghĩa của yêu cầu về tính khả thi trong soạn thảo quyết định hành chính là gì? Liên hệ thực tế và minh họa bằng một văn bản cụ thể.
Đáp án:
a) Khái niệm quyết định hành chính nhà nước.
Quyết điịnh hành chính nhà nước là mệnh lệnh điều hành của chủ thể quản lýHCNN được ban hành theo một trình tự, thủ tục và thể thức nhất định nhằm giảiquyết một mục đích hay một công việc cụ thể trong quản lý hành chính nhà nước
Hay nói cách khác Quyết định hành chính là văn bản quản lý hành chính nhànước, bao gồm văn bản của các cơ quan nhà nước ( mà chủ yếu là của các cơ quanhành chính) dùng để đưa ra các quyết định và chuyển tải các thông tin trong hoạtđộng chấp hành và điều hành
b) Nêu và phân tích yêu cầu về tính khả thi trong soạn thảo quyết định hành chính nhà nước:
- Tính khả thi là hệ quả của sự kết hợp đúng đắn và hợp lý của các yêu cầu:
+ Tính mục đích: Quyết định hành chính nhà nước được ban hành nhằmphục vụ mục tiêu hoạt động của các cơ quan, đặc biệt là nhiệm vụ điều chỉnh cácmối quan hệ xã hội, quan hệ pháp lý trong quản lý nhà nước, quan hệ giữa cơ quannhà nước với nhau hoặc giữa cơ quan nhà nước với tổ chức và công dân
Hai là, nội dung triển khai phải được thể hiện trong một quyết định thíchhợp Nói cách khác, phải có sự lựa chọn cần thiết trong quá trình văn bản hóa đểvăn bản đươc soạn thảo có chức năng phù hợp và có tinh khả thi
- Để đảm bảo tính khả thi, quyết định hành chính cần:
+ Nội dung quyết định phải cụ thể:
Các thông tin được sử dụng để đưa vào văn bản phải được sử lý để bảo đảmchính xác, Không nên viết văn bản với các thông tin chung chung và lặp lại, từ cácvăn bản khác Những văn bản được viết với loại thông tin không chính xác hoặcthiếu cụ thể chính là một trong những biểu hiện của tính quan liêu trong quản lý vàchúng sữ không có ý nghĩa thiết thực trong hoạt động của bất cứ cơ quan nào
- Phải đảm bảo cho quyết định hành chính được ban hành đúng thể thứcThể thức được nói đến ở đây là toàn bộ các thành phần tạo nên quyết địnhhành chính do nhà nưosc qui định Thể thức văn bản là tập hợp các thành phần cấuthành nên văn bản, bao gồm những thành phần chung áp dụng trong quyết định và
Trang 17các thành phần bổ sung trong những trường hợp cụ thể hoặc đối với một số loạivăn bản qui định tại Nghị định 110/2004/NĐ-CP ngày 08-4-2004 của chính phủ vềcông tác văn thư và Nghị định bổ sung một số điều của Nghị định sôs110/2004/NĐ-CP và hưỡng dẫn tại thông tư 01/2011/BNV ngày 19-01-2011 của
Bộ trưởng Bộ Nội vụ hướng dẫn thể thức và kỹ thuậ trình bày văn bản hành chínhchúng bảo dảm văn bản có hiệu lực pháp lý và được sử dụng thuận lợi trưc mắtcũng như lâu dài trong hoạt động quản lý của các cơ quan
Cần chú ý rằng thể thức văn bản không chỉ đơn thuần là hình thức mà cònmang tính nội dung , liên quan đến giá trị thông tin của văn bản
Một văn bản quản lý hành chính nhà nước bảo đảm đúng thể thức cần phảicso các thành phần: Quốc hiệu; địa điểm và ngày tháng ban hành văn bản; tên cơquan; đơn vị ban hành; số và ký hiệu; tên loại và trích yếu nội dung; nội dung ; chữ
ký của người có thẩm quyền; con dấu hợp thức của cơ quan; nơii nhận văn bản, vv
Khi xem xét các yếu tố tạo nên van bẳn ( thể thức) nhiều người còn cho rằngđây chỉ là yếu tố mang tính hình thức nên thường xem nhẹ ván đề này trong quátrình saonj thảo văn bản Từ đó đã có những quan niệm sai lầm cho rằng nhữngthiếu sót về mặt thể thức của văn bản là không uqna trọng, không ành hưởnglớnđến chát lượng của việc soạn thảo và sử dụng văn bản Thạt ra , nếu thể thức khôngđảm bảo thì rất dễ nhận ra rằng ngay từ đầu giá trị pháp lý và nhiều mặt giá trịnkhác của văn bản đã bị ảnh hưởng Vấn đề này sẽ được xem xét kỹ ở phần sau
- Sử dụng thuật ngữ và văn phong phù hợp: Có nội dung cụ thể, Đối vớivăn bản quản lý nhà nước, các thuật ngữ và văn phong sử dụng trong văn bản nhấtthiết phải là thụt ngữ quản lý hành chính nhà nước và sử dụng văn viết ( khôngdùng văn nói) VD không dùng những từ ngữ biểu cảm , quá nôm la, dân dã trongvăn bản Thcự tế cho thấy , nếu thuật ngữ và văn phong lkhông được lựa chọnthích hợp cho từng loại văn bản khi soạn thảo thì việc truênf đạt thông tin qua vănbản sẽ thiếu chính xác Điều đó tát nhiên sẽ ảnh hưởng đến nội dung văn bản.Ngoài ra , cũng cần nói thêm rằng , lựa chọn thuật ngữ và sử dụng văn phong thíchhợp trong quá trình soạn thảo văn bản sẽ có ảnh hưởng tốt đơi với sự phát triển củangôn ngữ nưoc ta
- Văn bản phải phù hợp với chức năng sử dụng:
- phù hợp đối tượng thực hiện Mỗi văn bản quản lý nhà nươc đều cónhững chức năng cụ thể không dùng văn bản này thay cho chức năng của văn bảnkhác VD không dùng chỉ thị thay cho thông báo và ngược lại yêu cầu này đòi hởiphải có sự phân biệt rõ ràng chức năng của các loại văn bản trước khi lựa chọnchúng để việc văn bản hóa quyết định quản lý đưọc thực hiện chính xác
- Đảm bảo hài hòa giũa lợi ích của nhà nước, tập thể và cá nhân
- Nội dung quyết định được chuản bị ban hành phải thiết thực, đáp ứngđược tối đa yêu cầu mà thực tế đang đòi hởi phải có văn bản để điều chỉnh phù hợpvới luật pháp hiện hành Quyết định phải nhằm giải quyết những vấn đề thực tiễncủa xã hội phù hợp với điều kiện cụ thể của đời sống xã hội