Việc xác định hoạt động sản xuất theo cách này rất có ích trong phân tích quá trình ra quyết định và phân định nhiệm vụ; nhưng chúng ta cũng phải xem xét doanh nghiệp một cách tổng thể t
Trang 1PHÂN TÍCH VÀ LỰA CHỌN MỤC TIÊU CẠNH TRANH
CỦA DOANH NGHIỆP BẠN
I/ Theo anh/chị trong các mục tiêu cạnh tranh như: cạnh tranh bằng chi phí, cạnh tranh bằng chất lượng, cạnh tranh bằng tốc độ cung cấp, cạnh tranh bằng sự đa dạng, lựa chọn ưu tiên cạnh tranh nào là thích hợp cho doanh nghiệp của anh/chị nhất? Vì sao?
Trong các mục tiêu cạnh tranh như: cạnh tranh bằng chi phí, cạnh tranh bằng chất lượng, cạnh tranh bằng tốc độ cung cấp, cạnh tranh bằng sự đa dạng, … Theo tôi, lựa chọn ưu tiên cạnh tranh bằng chất lượng là thích hợp cho doanh nghiệp tôi hiện nay
Hiện nay, có rất nhiều sự phân tích khác nhau về định nghĩa của quản lý sản xuất Tuy nhiên, ta có thể tóm tắt như sau: Các hoạt động sản xuất chịu trách nhiệm cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụ của tổ chức Các nhà quản lý sản xuất đưa ra các quyết định về chức năng sản xuất và các mối quan hệ của chức năng sản xuất với các chức năng khác Các nhà quản lý sản xuất lập kế hoạch và kiểm soát hệ thống sản xuất và các mối quan hệ của hệ thống này bên trong tổ chức cũng như với môi trường bên ngoài
Định nghĩa này nhấn mạnh ba điểm chính sau đây:
1.Các quyết định Định nghĩa trên coi việc đưa ra quyết định là một
thành tố quan trọng của quản lý sản xuất Bởi vì tất cả các nhà quản lý đều phải đưa ra quyết định nên đương nhiên phải tập trung vào việc quyết định như là vấn đề cốt yếu của quản lý Đây là nền tảng để chia hoạt động sản xuất thành các nhóm khác nhau tương ứng với các loại quyết định chủ yếu
Ta có thể xác định bốn lĩnh vực ra quyết định cơ bản của quản lý sản xuất là qui trình sản xuất, chất lượng, năng lực và tồn kho Các loại quyết định này
Trang 2là căn cứ để xác định những công việc mà các nhà quản lý sản xuất cần làm Ngoài ra, việc ra quyết định trong phạm vi lĩnh vực sản xuất có những mối liên hệ chặt chẽ với các chức năng khác trong tổ chức
2 Chức năng Các hoạt động sản xuất là một trong những chức năng
chính, bên cạnh marketing và tài chính, trong tất cả các tổ chức Chức năng sản xuất chịu trách nhiệm về sản xuất và cung cấp sản phẩm và dịch vụ cho doanh nghiệp Trong một doanh nghiệp sản xuất, chức năng sản xuất thường được gọi là bộ phận chế tạo hay bộ phận sản xuất Trong doanh nghiệp dịch
vụ, chức năng sản xuất có thể được gọi là bộ phận kế hoạch hoặc một vài cái tên khác tuỳ theo từng ngành cụ thể (ví dụ, bộ phận chính sách dịch vụ trong các công ty bảo hiểm) Nói chung, thuật ngữ chung “hoạt động sản xuất” chỉ chức năng sản xuất ra hàng hoá hoặc dịch vụ Việc xác định hoạt động sản xuất theo cách này rất có ích trong phân tích quá trình ra quyết định và phân định nhiệm vụ; nhưng chúng ta cũng phải xem xét doanh nghiệp một cách tổng thể thông qua việc nhìn nhận bản chất của quá trình ra quyết định liên quan đến các chức năng khác nhau trong doanh nghiệp
3 Qui trình Như đã đề cập trên đây, các nhà quản lý sản xuất lập kế
hoạch và kiểm soát qui trình sản xuất và các giao diện của nó Quan điểm xem xét theo qui trình này trước hết là căn cứ chung cho việc xác định các hoạt động chế tạo sản phẩm và cung cấp dịch vụ như là các qui trình biến đổi các yếu tố đầu vào thành các yếu tố đầu ra; hơn nữa, đó còn là một nền tảng vững chắc để thiết kế và phân tích các hoạt động sản xuất Với việc sử dụng quan điểm xem xét theo qui trình, chúng ta coi các nhà quản lý sản xuất là những người quản lý quá trình biến đổi trong doanh nghiệp
Trong quản trị doanh nghiệp, chất lượng là một trong những phạm trù quan trọng và thường gắn với lợi thế cạnh tranh cơ bản của doanh nghiệp Thực tế cho thấy, việc hiểu đúng, đầy đủ khái niệm quản lý chất lượng và mối quan
Trang 3hệ của hoạt động này với hoạt động quản trị kinh doanh nói chung góp phần quan trọng để hoạt động quản lý chất lượng nói riêng và quản trị doanh nghiệp nói chung được triển khai một cách có hiệu quả
- Khái niệm chất lượng có một số đặc điểm sau:
Một là: Chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu Nếu một sản phầm vì
lý do nào đó mà không được nhu cầu chấp nhận thì phải bị coi là có chất lượng kém, cho dù trình độ công nghệ để chế tạo ra sản phẩm đó có thể rất hiện đại Đây là một kết luận then chốt và là cơ sở để các nhà chất lượng định ra chính sách, chiến lược kinh doanh của mình
Hai là: Do chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu, mà nhu cầu luôn luôn biến động nên chất lượng cũng luôn luôn biến động theo thời gian, không gian, điều kiện sử dụng
Ba là: Khi đánh giá chất lượng của một đối tượng, ta phi xét và chỉ xét đến mọi đặc tính của đối tượng có liên quan đến sự thỏa mãn những nhu cầu cụ thể Các nhu cầu này không chỉ từ phía khách hàng mà còn từ các bên có liên quan, ví dụ như các yêu cầu mang tính pháp chế, nhu cầu của cộng đồng
xã hội
Bốn là: Nhu cầu có thể được công bố rõ ràng dưới dạng các qui định, tiêu chuẩn nhưng cũng có những nhu cầu không thể miêu tả rõ ràng, người sử dụng chỉ có thể cảm nhận chúng, hoặc có khi chỉ phát hiện được trong chúng trong quá trình sử dụng
Năm là: Chất lượng không phi chỉ là thuộc tính của sản phẩm, hàng hóa mà
ta vẫn hiểu hàng ngày Chất lượng có thể áp dụng cho một hệ thống, một quá trình
- Khái niệm chất lượng trên đây được gọi là chất lượng theo nghĩa hẹp Rõ ràng khi nói đến chất lượng chúng ta không thể bỏ qua các yếu tố giá cả và dịch vụ sau khi bán, vấn đề giao hàng đúng lúc, đúng thời hạn đó
Trang 4là những yếu tố mà khách hàng nào cũng quan tâm sau khi thấy sản phẩm
mà họ định mua thỏa mãn nhu cầu của họ
Hiên nay, đứng trước những thách thức mới trong kinh doanh, các doanh nghiệp đã ngày càng nhận thức rõ hơn tầm quan trọng của chất lượng, đưa chất lượng vào nội dung quản lý Khái niệm sản phẩm ở đây theo đó cũng rất rộng: kết quả của một quá trình hoạt động của con người Đây cũng là hệ quả tất yếu quá trình quản lý chất lượng của thế giới trước tác động của quá trình toàn cầu hoá nói chung và tự do hoá thương mại đang ngày càng sâu rộng Các phương thức và công cụ quản lý chất lượng cơ bản bao gồm:
- Quản lý chất lượng (Quality Inspection) với mục tiêu để sàng lọc các sản phẩm không phù hợp, không đáp ứng yêu cầu, có chất lượng kém ra khỏi các sản phẩm phù hợp, đáp ứng yêu cầu, có chất lượng tốt Mục đích là chỉ có sản phẩm đảm bảo yêu cầu đến tay khách hàng
- Kiểm soát chất lượng (Quality Control – QC) với mục tiêu ngăn ngừa việc tạo ra, sản xuất ra các sản phẩm khuyết tật Để đảm bảo được điều này, phải kiểm soát các yếu tố như con người, phương pháp sản xuất, tạo ra sản phẩm (như dây truyền công nghệ), các đầu vào (nguyên, nhiên vật liệu…), công cụ sản xuất (trang thiết bị công nghệ) và yếu tố môi trường (địa điểm sản xuất)
- Kiểm soát chất lượng toàn diện (Total Quality Control – TQC) với mục tiêu kiểm soát tất cả các quá trình tác động đến chất lượng kể cả các quá trình xảy ra trước và sau quá trình sản xuất sản phẩm, như khảo sát thị trường, nghiên cứu, lập kế hoạch, phát triển, thiết kế và mua hàng; lưu kho, vận chuyển, phân phối, bán hàng và dịch vụ sau khi bán hàng
- Quản lý chất lượng toàn diện (Total Quality Management – TQM) với mục tiêu của TQM là cải tiến chất lượng sản phẩm và thỏa mãn khách hàng
ở mức tốt nhất có thể Phương pháp này cung cấp một hệ thống toàn diện
Trang 5cho hoạt động quản lý và cải tiến mọi khía cạnh có liên quan đến chất lượng
và huy động sự tham gia cảu tất cả các cấp, của mọi người nhằm đạt mục tiêu chất lượng đặt ra
Có thể khẳng định chắc chắn rằng, giờ đây Quốc gia cũng như các doanh nghiệp không thể dựa vào hàng rào thuế quan, rào cản kỹ thuật riêng như những năm trước đây để bảo vệ nền sản xuất, không thể liên tục lấy chính sách bảo hộ làm chuẩn mực.Bối cảnh toàn cầu hoá mạnh mẽ, các sản phẩm giầu chất lượng đang chinh phục thị trường toàn thế giới khiến chất lượng trở thành yếu tố cạnh tranh vô cùng quan trọng Như vậy, chất lượng ngày càng được nhận thức đúng đắn hơn, như vai trò của nó và cuộc chạy đua của các Quốc gia nói chung,các doanh nghiệp nói riêng về chất lượng cũng sôi nổi
Đối với các nước đang phát triển như nước ta, chất lượng vừa là một đòi hỏi khách quan, là mục tiêu có ý nghĩa chiến lược và cũng là phương tiện căn bản để đảm bảo cho sự phát triển kinh tế xã hội đúng hướng, vững chắc, đạt hiệu quả cao và hội nhập thị trường quốc tế Việt Nam có rất nhiều
cơ hội nhưng đồng thời cũng phải chấp nhận sự cạnh tranh gay gắt của thị trường về cơ cấu mặt hàng, về chất lượng và giá cả.Đây là một thách thức lớn đầy khó khăn cần phải vượt qua
Thực tế trong thời gian gần đây, việc áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng- môi trường theo tiêu chuẩn và quy định quốc tế trong các doanh nghiệp công nghiệp đang được đẩy mạnh bởi ngoài lợi ích về kinh tế và môi trường của chính bản thân DN, đây còn là điều cần thiết khi doanh nghiệp tham gia hội nhập kinh tế quốc tế Điều không ai phủ nhận được là việc áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng đã góp phần tạo ra sự chuyển biến về chất lượng sản phẩm hàng hoá Những số liệu thống kê cho thấy: Năm 2001 (1 năm sau khi triển khai hệ thống quản lý chất lượng trong ngành công
Trang 6nghiệp Hà nội), giá trị sản xuất công nghiệp toàn ngành tăng 19,7%, năm
2002 tăng 17,5%, và năm 2003 tăng 29,7% Riêng 5 tháng đầu năm nay tăng 24,7%, xuất khẩu bình quân tăng 8%/năm
Với vai trò là một doanh nghiệp nhà nước kinh doanh mặt hàng thiết yếu cho cuộc sống, Tổng công ty muối đã và đang đứng trước những khó khăn và thách thức to lớn trong việc chiếm lĩnh, khẳng định thị trường trong nước và hội nhập thị trường quốc tế Hiện nay sản phẩm muối của Tổng công ty được xuất khẩu sang nhiều nước như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Lào, Cămpuchia…đã tạo được uy tín và đang mở rộng thị trường sang các nước khác Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế trong vài năm tới các nước có xu hướng chỉ nhập khẩu những mặt hàng đã đạt chứng nhận quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế Bên cạnh đó nhu cầu về chất lượng ngày càng cao đối với sản phẩm muối của thị trường trong nước đòi hỏi Tổng công ty phải có một chiến lược quản lý chất lượng khoa học lâu dài Thực tế trong nhưng năm qua việc quản lý chất lượng đối với sản phẩm muối của Tổng công ty và các đơn vị thành viênđã có những cố gắng nỗ lực, các tiêu chuẩn về muối: TCVN 3973-84, TCVN 3974-84 về muối ăn, TCVN 5647-1992 về muối iốt, 10TCN 461-2001 về bột canh iốt và
10TCN572-2003 về muối công nghiệp được phổ cập rộng rãi trong cả nước Phần lớn các sản phẩm muối được xuất khẩu đều theo tiêu chuẩn Việt Nam, TCN hoặc có xem xét thêm tiêu chuẩn nước ngoài làm căn cứ Vì vậy Tổngcông
ty có chủ trương xây dựng, nâng cao một số tiêu chuẩn muối cho phù hợp với sự phát triển khoa học công nghệ tiên tiến bên cạnh việc thúc đẩy xây dưng một hệ thống quản lý chất lượng toàn diện và thống nhất, chỉ đạo cho các đơn vị thành viên xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9000…
Trang 7Ông Trần Văn Vinh - Giám đốc Trung tâm Chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn (Tổng Cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng) cho biết: Các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu càng phải cố gắng hơn nữa trong việc áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế Bởi đây là một trong những yêu cầu, gần như là rào cản cho doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập với nền kinh tế Thế giới
II/ Theo anh/chị trong quá trình triển khai chiến lược cạnh tranh này tại doanh nghiệp/đơn vị, các rào cản nào có thể gặp phải
Nếu các ngân hàng mới dễ dàng gia nhập thị trường thì mức độ cạnh tranh sẽ càng lúc càng gia tăng Nguy cơ từ các ngân hàng mới sẽ phụ thuộc vào “độ cao” của rào cản gia nhập Theo các cam kết khi gia nhập WTO, lĩnh vực ngân hàng sẽ được mở cửa dần theo lộ trình bảy năm Ngành ngân hàng đã có những thay đổi cơ bản khi các tổ chức tài chính nước ngoài có thể nắm giữ cổ phần của các ngân hàng Việt Nam và sự xuất hiện của các ngân hàng 100% vốn nước ngoài
Ngay từ năm 2006, Việt Nam đã gỡ bỏ dần các hạn chế về tỷ lệ tham gia cổ phần trong ngành ngân hàng của các định chế tài chính nước ngoài theo cam kết trong Hiệp định thương mại với Hoa Kỳ
Còn theo các cam kết trong khuôn khổ Hiệp định chung về hợp tác thương mại dịch vụ (AFAS) của Hiệp hội các nước ASEAN, Việt Nam phải gỡ bỏ hoàn toàn các quy định về khống chế tỷ lệ tham gia góp vốn, dịch vụ, giá trị giao dịch của các ngân hàng nước ngoài từ năm 2008
Đã có năm ngân hàng 100% vốn nước ngoài được cấp phép thành lập tại Việt Nam Tuy nhiên khi nhìn vào con số các ngân hàng nước ngoài có văn phòng đại diện tại Việt Nam và các ngân hàng nước ngoài có vốn cổ phần trong các ngân hàng thương mại nội địa, số ngân hàng 100% vốn nước ngoài nhất định sẽ còn tăng lên trong tương lai
Trang 8Các ngân hàng nước ngoài là vậy, rào cản cho sự xuất hiện của các ngân hàng có nguồn gốc nội địa đang được nâng cao lên sau khi Chính phủ tạm ngưng cấp phép thành lập ngân hàng mới từ tháng 8-2008 Ngoài các quy định về vốn điều lệ, quãng thời gian phải liên tục có lãi, các ngân hàng mới thành lập còn bị giám sát chặt bởi Ngân hàng Nhà nước Tuy nhiên điều
đó sẽ không thể ngăn cản những doanh nghiệp, đủ điều kiện, tham gia vào ngành ngân hàng một khi Chính phủ cho phép thành lập ngân hàng trở lại Rào cản gia nhập còn được thể hiện qua các phân khúc thị trường, thị trường mục tiêu mà các ngân hàng hiện tại đang nhắm đến, giá trị thương hiệu cũng như cơ sở khách hàng, lòng trung thành của khách hàng mà các ngân hàng
đã xây dựng được Những điều này đặc biệt quan trọng bởi vì nó sẽ quyết định khả năng tồn tại của một ngân hàng đang muốn gia nhập vào thị trường Việt Nam
Một khi các ngân hàng hiện tại đã xây dựng được cho mình một thương hiệu bền vững, với những sản phẩm, dịch vụ tài chính hiệu quả và khác biệt cộng với một cơ sở khách hàng đông đảo và trung thành, chi phí chuyển đổi (switching cost) để lôi kéo khách hàng của ngân hàng mới thành lập sẽ cực kỳ cao và do đó họ bắt buộc phải cân nhắc thật kỹ trước khi quyết định gia nhập thị trường hay không Thực tế trên thị trường ngành ngân hàng Việt Nam cho thấy chi phí chuyển đổi nhìn chung không cao do các ngân hàng chưa thật sự tạo được điểm khác biệt về chiến lược sản phẩm, dịch vụ Một yếu tố có thể làm tăng chi phí chuyển đổi lên một chút và tạo một lợi thế cạnh tranh cho các ngân hàng đang hoạt động là hệ thống phân phối Các ngân hàng thành lập sau này sẽ gặp khá nhiều rắc rối trong việc tìm một địa điểm ưng ý để đặt văn phòng chính cũng như các chi nhánh văn phòng giao dịch bởi vì các vị trí đẹp và tiện lợi đều đã bị các ngân hàng đang hoạt động dành mất Tuy vậy, các ngân hàng thành lập sau này vẫn có thể dựa vào lợi
Trang 9thế công nghệ để phát triển hệ thống kinh doanh của mình thông qua Internet banking hoặc hệ thống ATM
Nhìn vào ngành ngân hàng Việt Nam hiện tại trong bối cảnh Việt Nam cũng như thế giới đang bị bao trùm bởi cuộc khủng hoảng kinh tế, rào cản gia nhập khá cao khiến cho nguy cơ xuất hiện ngân hàng mới trong tương lai gần là khá thấp Nhưng một khi kinh tế thế giới hồi phục cộng với
sự mở cửa của ngành ngân hàng theo các cam kết với WTO và các tổ chức khác, sự xuất hiện của các ngân hàng mới là một điều gần như chắc chắn
Nguy cơ bị thay thế
Cơ bản mà nói, các sản phẩm và dịch vụ của ngành ngân hàng Việt Nam có thể xếp vào 5 loại:
- Là nơi nhận các khoản tiền (lương, trợ cấp, cấp dưỡng…)
- Là nơi giữ tiền (tiết kiệm…)
- Là nơi thực hiện các chức năng thanh toán
- Là nơi cho vay tiền
- Là nơi hoạt động kiều hối
Đối với khách hàng doanh nghiệp, nguy cơ ngân hàng bị thay thế không cao lắm do đối tượng khách hàng này cần sự rõ ràng cũng như các chứng từ, hóa đơn trong các gói sản phẩm và dịch vụ của ngân hàng Nếu có phiền hà xảy ra trong quá trình sử dụng sản phẩm, dịch vụ thì đối tượng khách hàng này thường chuyển sang sử dụng một ngân hàng khác vì những
lý do trên thay vì tìm tới các dịch vụ ngoài ngân hàng
Đối với khách hàng tiêu dùng thì lại khác, thói quen sử dụng tiền mặt khiến cho người tiêu dùng Việt Nam thường giữ tiền mặt tại nhà hoặc nếu có tài khoản thì khi có tiền lại rút hết ra để sử dụng Các cơ quan Chính phủ và doanh nghiệp trả lương qua tài khoản ngân hàng nhằm thúc đẩy các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt, góp phần làm minh bạch tài chính cho
Trang 10mỗi người dân Nhưng các địa điểm chấp nhận thanh toán bằng thẻ lại đa số
là các nhà hàng, khu mua sắm sang trọng, những nơi không phải người dân nào cũng tới mua sắm
Ngay ở các siêu thị, người tiêu dùng cũng phải chờ đợi nhân viên đi lấy máy đọc thẻ hoặc đi tới một quầy khác khi muốn sử dụng thẻ để thanh toán Chính sự bất tiện này cộng với tâm lý chuộng tiền mặt đã khiến người tiêu dùng muốn giữ và sử dụng tiền mặt hơn là thông qua ngân hàng
Ngoài hình thức gửi tiết kiệm ở ngân hàng, người tiêu dùng Việt Nam còn có khá nhiều lựa chọn khác như giữ ngoại tệ, đầu tư vào chứng khoán, các hình thức bảo hiểm, đầu tư vào kim loại quý (vàng, kim cương…) hoặc đầu tư vào nhà đất Đó là chưa kể các hình thức không hợp pháp như “chơi hụi” Không phải lúc nào lãi suất ngân hàng cũng hấp dẫn người tiêu dùng Chẳng hạn như thời điểm này, giá vàng đang sốt, tăng giảm đột biến trong ngày, trong khi đô la Mỹ ở thị trường tự do cũng biến động thì lãi suất tiết kiệm của đa số các ngân hàng chỉ ở mức 7-8% một năm
Quyền lực của khách hàng
Sự kiện nổi bật gần đây nhất liên quan đến quyền lực của khách hàng
có lẽ là việc các ngân hàng quyết định thu phí sử dụng ATM trong khi người tiêu dùng không đồng thuận Trong vụ việc này, ngân hàng và khách hàng ai cũng có lý lẽ của mình nhưng rõ ràng nó đã ảnh hưởng không ít đến mức độ hài lòng và lòng tin của khách hàng Nhưng không vì thế mà ta có thể đánh giá thấp quyền lực của khách hàng trong ngành ngân hàng tại Việt Nam Điều quan trọng nhất vẫn là: việc sống còn của ngân hàng dựa trên đồng vốn huy động được của khách hàng Nếu không còn thu hút được dòng vốn của khách hàng thì ngân hàng tất nhiên sẽ bị đào thải Trong khi đó, như đã nói ở phần trên, nguy cơ thay thế của ngân hàng ở Việt Nam, đối với khách hàng tiêu dùng, là khá cao Với chi phí chuyển đổi thấp, khách hàng gần như