Trong hoạt động QLNN đối với các QTDND trên địa bàn tỉnh thì Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh Hưng Yên là chủ thể quản lý trực tiếp, có trách nhiệm và quyền hạn chủ chốt trong việc quản
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
ĐÀM THỊ THU HƯƠNG
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HƯNG YÊN
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ KINH TẾ CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
HÀ NỘI - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
ĐÀM THỊ THU HƯƠNG
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI
CÁC QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HƯNG YÊN
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là : Đàm Thị Thu Hương
Sinh ngày: 14 tháng 01 năm 1986 Tại: Hải Dương
Quê quán: Xã Thất Hùng- Huyện Kinh Môn- Tỉnh Hải Dương
Hiện đang công tác tại: Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh tỉnh Hưng Yên
Địa chỉ cơ quan: 306 Nguyễn Văn Linh- TP Hưng Yên- Tỉnh Hưng Yên
Là học viên cao học khóa 24 của trường Đại học kinh tế - Đại học Quốc gia
Hà Nội; Ngành: Kinh tế chính trị; Chuyên ngành: Quản lý kinh tế Mã số: 60340410
Cam đoan đề tài: “Quản lý nhà nước đối với các Quỹ tín dụng nhân dân
trên địa bàn Tỉnh Hưng Yên”
Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Quang Vinh
Luận văn được thực hiện tại Trường Đại học kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, chưa được công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào của người khác Việc sử dụng kết quả, trích dẫn tài liệu của người khác đảm bảo theo đúng các quy định Các nội dung trích dẫn và tham khảo các tài liệu, sách báo, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí và trang web theo danh mục tài liệu tham khảo của luận văn
Tác giả
Đàm Thị Thu Hương
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn trường Đại học Kinh
tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, Khoa Kinh tế Chính trị trường Đại học kinh tế và các quý Thầy Cô đã giúp tôi trang bị tri thức, tạo môi trường, điều kiện thuận nhất trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn này
Với lòng kính trọng và biết ơn, tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn tới Thầy giáo hướng dẫn TS Phạm Quang Vinh đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện nghiên cứu này
Xin chân thành cảm ơn các phòng chuyên môn, các đồng nghiệp tại Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh tỉnh Hưng Yên đã cung cấp thông tin và nguồn tư liệu hữu ích cho tôi để phục vụ đề tài nghiên cứu Đặc biệt xin gửi lời cảm ơn đến Lãnh đạo NHNN đã tạo điều kiện về thời gian cho tôi trong công việc để tôi tập trung hoàn thành luận văn này
Tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc đến gia đình, những người bạn đã ủng hộ, động viên và hỗ trợ cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
Đàm Thị Thu Hương
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG ii
DANH MỤC HÌNH iii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH 4
1.1 Tình hình nghiên cứu 4
1.2 Những vấn đề cơ bản về Quỹ tín dụng Nhân dân 5
1.2.1 Khái niệm, đặc trưng, vai trò của quỹ tín dụng nhân dân 5
1.2.2 Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân 14
1.2.3 Các hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân 17
1.3 Đặc điểm, nội dung và các nhân tố tác động đến quản lý nhà nước đối với Quỹ tín dụng nhân dân 18
1.3.1 Khái niệm, đặc điểm của quản lý nhà nước đối với quỹ tín dụng nhân dân 18
1.3.2 Nội dung quản lý nhà nước đối với quỹ tín dụng nhân dân trên địa bàn tỉnh 21
1.3.3 Tiêu chí đánh giá hoạt động QLNN đối với QTDND 31
1.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động QLNN đối với các QTDND 32
1.4 Kinh nghiệm về quản lý nhà nước đối với quỹ tín dụng nhân dân ở tỉnh Hải Dương và bài học rút ra cho tỉnh Hưng Yên 34
1.4.1 Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với quỹ tín dụng nhân dân ở tỉnh Hải Dương 34
1.4.2 Một số bài học rút ra về quản lý nhà nước đối với các quỹ tín dụng nhân dân cho tỉnh Hưng Yên 37
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39
2.1 Nguồn tài liệu và dữ liệu 39
2.2 Các phương pháp nghiên cứu 41
2.2.1 Phương pháp thống kê mô tả 41
Trang 62.2.2 Phương pháp phân tích 41
2.2.3 Phương pháp đối chiếu so sánh 42
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HƯNG YÊN 44
3.1 Tổng quan về Ngân hàng Nhà nước và hệ thống QTDND tại tỉnh Hưng Yên 44
3.1.1 Cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của NHNN tỉnh Hưng Yên. 44
3.1.2 Tổng quan về hệ thống QTDND trên địa bàn tỉnh Hưng Yên 45
3.2 Thực trạng quản lý nhà nước đối với các Quỹ tín dụng Nhân dân trên địa bàn tỉnh Hưng Yên 57
3.2.1 Công tác tham mưu, triển khai văn bản quy phạm pháp luật 57
3.2.2 Công tác cấp phép và thu hồi giấy phép hoạt động của QTDND 58
3.2.3 Thực trạng về kiểm tra, giám sát các QTDND trên địa bàn 59
3.2.4 Thực hiện các chính sách hỗ trợ, ưu đãi đối với các quỹ tín dụng nhân dân trên địa bàn tỉnh 67
3.3 Đánh giá chung về quản lý nhà nước đối với Quỹ tín dụng Nhân dân trên địa bản tỉnh Hưng Yên 68
3.3.1 Một số kết quả đạt được về quản lý nhà nước đối với các quỹ tín dụng nhân dân trên địa bàn tỉnh 68
3.3.2 Những tồn tại, hạn chế trong quản lý nhà nước đối với quỹ tín dụng nhân dân trên địa bàn tỉnh và nguyên nhân chủ yếu 72
CHƯƠNG 4 MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HƯNG YÊN 79
4.1 Bối cảnh hiện nay và phương hướng tiếp tục đổi mới quản lý nhà nước đối với các Quỹ tín dụng Nhân dân trên địa bàn tỉnh Hưng Yên 79
4.1.1 Bối cảnh hiện nay tác động đến quản lý nhà nước đối với quỹ tín dụng nhân dân trên địa bàn tỉnh Hưng Yên 79
4.1.2 Phương hướng đổi mới quản lý nhà nước đối với các quỹ tín dụng nhân dân trên địa bàn tỉnh 84
4.2 Một số giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các Quỹ tín dụng Nhân dân trên địa bàn tỉnh Hưng Yên 88
Trang 74.2.1 Đổi mới tổ chức quản lý của Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh
Hưng Yên đối với các quỹ tín dụng nhân dân 89
4.2.2 Đổi mới chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển quỹ tín dụng nhân dân trên địa bàn tỉnh. 90
4.2.3 Đổi mới việc triển khai thực hiện pháp luật, chính sách của Nhà nước đối với quỹ tín dụng nhân dân trên địa bàn tỉnh 92
4.2.4 Triển khai thực hiện chính sách hỗ trợ, ưu đãi đối với các quỹ tín dụng nhân dân trên địa bàn tỉnh 93
4.2.5 Nâng cao chất lượng thu thập thông tin và tổng hợp báo cáo trên địa bàn 94
4.2.6 Đổi mới kiểm tra, giám sát các quỹ tín dụng nhân dân trên địa bàn tỉnh Hưng Yên 96
4.3 Những kiến nghị 100
4.3.1 Đối với Nhà nước, các Bộ, Ngành Trung ương. 100
4.3.2 Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 102
4.3.3 Đối với cấp uỷ, chính quyền địa phương 104
KẾT LUẬN 106
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 108
Trang 84 QTDND Quỹ tín dụng nhân dân
5 QTDTW Quỹ tín dụng trung ƣơng
Trang 9DANH MỤC BẢNG
1 Bảng 3.1 Tình hình nguồn vốn của các QTDND trên địa bàn 50
2 Bảng 3.2 Tình hình sử dụng dƣ nợ cho vay của các QTDND cơ
sở trên địa bàn tỉnh Hƣng Yên
Trang 10DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ
1 Hình 1.1 Mô hình tổ chức QLNN bằng công cụ thanh
tra, giám sát ngân hàng
26
2 Biểu đồ 3.1 Biểu đồ tăng trưởng số lượng thành viên của
QTDND cơ sở
47
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) là một loại hình kinh tế tập thể, hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ trên địa bàn cả nước Sau gần 25 năm hình thành và phát triển, quỹ TDND đã trở thành một hệ thống rộng lớn, có vai trò không nhỏ trong phát triển kinh tế - xã hội cả nước, đặc biệt là đối với nông nghiệp, nông thôn Để có được những kết quả đáng khích lệ nói trên, bên cạnh sự nỗ lực của bản thân hệ thống QTDND, vai trò quản lý của Nhà nước trong đó đặc biệt là của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có ý nghĩa hết sức quan trọng Do các quỹ TDND có vai trò quan trọng nên quản lý nhà nước (QLNN) đối với các quỹ này ngày càng được chú trọng Trên địa bàn tỉnh Hưng Yên, hiện có mô ̣t Ngân hàng Hợp tác xã và 65 quỹ TDND cơ sở hoạt động trên khắp các huyện , thành phố trong tỉnh Hê ̣ thống Quỹ tín dụng này đã
và đang góp phần hỗ trợ vốn cho kinh tế hộ gia đình, đóng góp nhất định vào phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, góp phần nâng cao mức sống của nhân dân trong tỉnh
Trong hoạt động QLNN đối với các QTDND trên địa bàn tỉnh thì Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh Hưng Yên là chủ thể quản lý trực tiếp, có trách nhiệm và quyền hạn chủ chốt trong việc quản lý, giám sát hoạt động của các Quỹ tín dụng nhân dân Với mục tiêu góp phần bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh, bền vững của hệ thống QTDND; duy trì và nâng cao lòng tin của công chúng đối với hệ thống các QTDND; bảo đảm việc chấp hành chính sách, pháp luật về tiền tệ và ngân hàng
Thời gian qua, QLNN đối với các quỹ TDND trên địa bàn tỉnh đã được đổi mới
ở tất các các khâu: từ đổi mới cơ chế quản lý, tổ chức đăng ký hoạt động, hỗ trợ hoạt động và thanh tra, kiểm soát Chính vì vậy, các quỹ TDND trên địa bàn tỉnh đã có nhiều thuận lợi và hoạt động có hiệu quả tốt hơn
Tuy vậy, bên cạnh đó, hiện còn không ít hạn chế, trở ngại trong QLNN đối với các quỹ TDND trên địa bàn tỉnh: từ việc thực thi pháp luật, chính sách, đăng ký hoạt động, thực hiện chính sách hỗ trợ đến thanh tra, kiểm tra, kiểm soát hoạt động của các quỹ này Chính vì vậy các QTDND gặp không ít khó khăn như: hiệu quả kinh
Trang 12doanh của một số quỹ còn bấp bênh, hoạt động chưa an toàn, tính bền vững không cao, một số QTDND không tuân thủ đúng theo tôn chỉ, mục đích hoạt động, điều lệ QTDND khi được cấp phép thành lập và hoạt động
Vậy, hoạt động QLNN đối với hệ thống QTDND cần phải được hoàn thiện ra sao nhằm góp phần vào việc đảm bảo cho hệ thống QTDND trên địa bàn phát triển
an toàn, hiệu quả và bền vững? Đó cũng là lý do của việc tác giả lựa chọn đề tài:
“Quản lý nhà nước đối với các Quỹ tín dụng nhân dân trên địa bàn tỉnh Hưng Yên”
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu đề tài là trên cơ sở hệ thống hóa những vấn đề lý luận và
thực tiễn có liên quan để đề xuất các giải pháp hoàn thiện QLNN đối với các QTDND trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
Để thực hiện mục tiêu đề ra, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra là:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn của QLNN đối với các QTDND trên địa bàn tỉnh
- Phân tích và đánh giá thực trạng QLNN đối với các QTDND trên địa bàn tỉnh Hưng Yên, qua đó rút ra những kết quả đạt được, hạn chế và những nguyên nhân chủ yếu
- Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện QLNN đối với các QTDND trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động QLNN của Ngân hàng Nhà nước Chi
nhánh tỉnh Hưng Yên đối với các QTDND trên địa bàn tỉnh
3.2 Phạm vi nghiên cứu: QLNN đối với các QTDND trên địa bàn tỉnh bao gồm
quản lý của cơ quan chuyên môn đó là Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Chi nhánh tỉnh Hưng Yên (sau đây gọi tắt là NHNN tỉnh) và quản lý của chính quyền địa phương Tuy vậy, việc nghiên cứu đề tài chỉ tập trung vào QLNN của Chi nhánh
NHNN tỉnh Hưng Yên đối với các QTDND hoạt động trên địa bàn Các quỹ TDND
ở đây bao gồm: Chi nhánh Quỹ TDND Trung ương (nay là Ngân hàng Hợp tác xã Chi nhánh Hưng Yên) và 65 QTDND cơ sở
Trang 13Việc nghiên cứu thực trạng QLNN đối với các QTDND chủ yếu từ năm 2008 đến năm 2016, các giải pháp hoàn thiện QLNN dự kiến đề xuất cho giai đoạn 2017 -
2020
4 Kết cấu của luận văn
Nội dung của luận văn gồm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của quản lý Nhà nước đối với Quỹ tín dụng nhân dân trên địa bàn tỉnh
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng quản lý Nhà nước đối với các Quỹ tín dụng nhân dân trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
Chương 4: Một số giải pháp hoàn thiện quản lý Nhà nước đối với các Quỹ tín dụng nhân dân trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
Trang 14CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI
QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH 1.1 Tình hình nghiên cứu
Việc thực hiện quản lý nhà nước đối với quỹ tín dụng nhân dân là chức năng
và nhiệm vụ của Ngân hàng Nhà nước Trong thực tế, các QTDND đã được thành lập và đi vào hoạt động từ năm 1993 và hiện tại có gần 1.200 QTDND đang hoạt động trên phạm vi cả nước Nhiều quỹ hoạt động rất hiệu quả, đóng góp đáng kể cho sự phát triển kinh tế xã hội, nâng cao đời sống của thành viên và đặc biệt là việc phát triển nông nghiệp nông thôn Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn có tình trạng một số QTDND hoạt động chệch hướng, vi phạm quy định dẫn đến bị rủi ro, thất thoát tài sản gây nguy cơ đổ vỡ, phá sản, hiện vẫn có xu hướng ngày càng tăng lên, làm ảnh hưởng không nhỏ đến quyền lợi của người gửi tiền tại các QTDND, và là nguyên nhân dẫn đến những bất ổn về an ninh, xã hội tại các địa bàn hoạt động của QTDND
Trước thực trạng hoạt động của một bộ phận QTDND chưa bám sát mục tiêu hoạt động, có biểu hiện chạy theo lợi nhuận, các quy chuẩn về kiểm soát nội bộ, kiểm toán nội bộ chưa được coi trọng đã tạo nhiều tiềm ẩn rủi ro trong hoạt động và gây ảnh hưởng đến sự an toàn của hệ thống Do vậy, Luật các TCTD đã quy định rất rõ nét, cụ thể về việc tuân thủ hệ thống kiểm soát nội bộ (Ðiều 40), kiểm toán nội bộ (Ðiều 41) và đặc biệt là về vấn đề kiểm toán độc lập (Ðiều 42) đối với các TCTD, trong đó bao gồm cả các QTDND Tất cả các quy định này hướng tới mục tiêu củng cố các TCTD nói chung, các QTDND nói riêng phải tăng cường công tác giám sát, kiểm soát nội bộ, qua đó tự nâng cao năng lực quản trị điều hành hoạt động, quản trị rủi ro
Cho đến nay đã có không ít công trình nghiên cứu, bài viết liên quan đến lĩnh vực quản lý nhà nước đối với hoạt động quỹ tín dụng nhân dân, như :
Bài viết: “ Hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân trong môi trường pháp lý
hợp những văn bản pháp lý hiện hành liên quan đến hoạt động quản lý đối với hệ thống QTDND, từ đó nêu ra những thách thức đặt ra trong môi trường pháp lý mới
Từ đó đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của QTDND, đặc biệt là vai trò
Trang 15quản lý của NHNN trong việc triển khai các văn bản pháp lý và đảm bảo hoạt động của các QTDND theo đúng định hướng
Bài viết: “ Mười hai năm nhìn lại quỹ tín dụng nhân dân Hải Dương” của
tác giả Văn Dương- Cán bộ Ngân hàng Hợp tác Chi nhánh Hải Dương đăng tại
http://www.co-opbank.vn Bài viết đã tổng kết chặng đường phát triển của hệ thống quỹ tín dụng nhân dân tại Hải Dương, trong đó đề cập đến vai trò quản lý của ngân hàng nhà nước
Luận văn thạc sỹ “Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động và phát triển bền vững của hệ thống quỹ TDND” của tác giả Vũ Duy Tùng, năm 2007: Trong đó, tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý luận, thực tiễn, đánh giá thực trạng hoạt động của hệ thống QTDND, từ đó mạnh dạn đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và phát triển bền vững cho hệ thống QTDND;
Luận văn thạc sỹ “Giải pháp quản lý nhà nước nhằm phát triển QTDND cơ sở trên địa bàn tỉnh Bến Tre” của tác giả Lê Công Thành, Học viện Chính trị - Quốc gia
Hồ Chí Minh: Trong đó tác giả hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng từ đó đưa ra giải pháp quản lý nhà nước nhằm phát triển QTDND cơ sở trên địa bàn tỉnh Bến Tre;
Luận văn thạc sỹ “Quản lý nhà nước đối với hoạt động quỹ tín dụng nhân dân trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh” của tác giả Vũ Như Quỳnh, Đại học quốc gia Hà Nội- Khoa Luật: Trong đó tác giả đã hệ thống hóa về QTDND và hoạt động quản lý nhà nước, đánh giá những kết quả đạt được trong công tác quản lý từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước đối với hệ thống các QTDND;
Các nghiên cứu trên đã đề cập đến việc quản lý nhà nước đối với hệ thống QTDND trên toàn quốc và từng địa bàn riêng lẻ Tại NHNN Chi nhánh tỉnh Hưng Yên chưa có đề tài nào nghiên cứu về lĩnh vực này Vì vậy, đề tài này tác giả nghiên cứu nhằm mục đích hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các QTDND
1.2 Những vấn đề cơ bản về Quỹ tín dụng Nhân dân
1.2.1 Khái niệm, đặc trưng, vai trò của quỹ tín dụng nhân dân
1.2.1.1 Khái niệm
Ngày 13 tháng 8 năm 2001, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 48 về tổ chức
và hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân, theo đó ta có thể hiểu:
Trang 16Quỹ tín dụng nhân dân là loại hình tổ chức tín dụng hợp tác hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh, thực hiện mục tiêu chủ yếu là tương trợ giữa các thành viên nhằm phát huy sức mạnh của tập thể và của từng thành viên giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống
Trong giai đoạn đầu Quỹ được thí điểm thành lập, có 3 cấp đó là Quỹ tín dụng
cơ sở, Quỹ tín dụng khu vực và Quỹ tín dụng Trung ương Mỗi Quỹ là một pháp nhân riêng, hoạt động độc lập song được liên kết chặt chẽ với nhau trong cùng một
hệ thống để điều hòa, phân phối vốn
Có giai đoạn, QTDND đã được cơ cấu lại theo mô hình gồm QTDND trung ương và các QTDND cơ sở
Từ 4/6/2013, QTDND cơ cấu theo mô hình gồm Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam, Ngân hàng hợp tác xã chi nhánh tỉnh, QTDND cơ sở
Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở là tổ chức tín dụng hợp tác do các thành viên trong địa bàn tự nguyện thành lập và hoạt động theo quy định của Nhà nước nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ giữa các thành viên Phạm vi của một quỹ cơ sở thường là địa bàn của một xã, một phường, do các thành viên là cá nhân hoặc hộ gia đình tự nguyện góp vốn Có thể nói quỹ cơ sở cũng như một ngân hàng, huy động vốn tại chỗ và cho vay các thành viên hoặc người nghèo không phải là thành viên cư trú trên địa bàn hoạt động Từ những quỹ cơ sở này mà quỹ Trung ương được thành lập với chức năng huy động vốn, đại diện cho hệ thống tiếp nhận vốn của Chính phủ, các tổ chức tài chính, các tổ chức phi chính phủ trong nước và quốc tế tài trợ cho chương trình tín dụng phát triển nông nghiệp - nông thôn, điều hòa vốn cho các QTDND thành viên và cung cấp các dịch vụ cho toàn hệ thống nhằm mục đích hỗ trợ và nâng cao hiệu quả hoạt động của cả hệ thống quỹ tín dụng nhân dân
Để hỗ trợ hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân, các tổ chức tín dụng và các đối tượng khác được tham gia góp vốn vào Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương theo hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
1.2.1.2 Đặc trưng
* Tổ chức và hoạt động theo mô hình kinh tế hợp tác:
Trang 17Nguồn gốc ra đời của QTDND là do những người nông dân, lao động sản xuất
và kinh doanh nhỏ cùng nhau góp vốn thành lập để hỗ trợ nhau được vay vốn nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh và cải thiện đời sống, xóa đói giảm nghèo Các thành viên vừa là người đồng sở hữu, vừa là hội viên và cũng đồng thời là khách hàng của QTDND Do vậy, để đảm bảo bình đẳng trong việc hỗ trợ tất cả các thành viên, QTDND phải được tổ chức và hoạt động theo mô hình kinh
tế Hợp tác xã là loại hình tổ chức kinh tế mà trong đó mọi thành viên đều được quyền tham gia quản lý, kiểm tra giám sát hoạt động và quyết định mọi vấn đề một cách dân chủ
Khác với các Ngân hàng thương mại cổ phần là tổ chức mà quyền quyết định thuộc về thiểu số các cổ đông lớn, ở QTDND mỗi thành viên chỉ được quyền đại diện cho một phiếu bầu mà không phụ thuộc vào số lượng vốn góp Vì vậy, có thể nói đây là đặc trưng riêng có của loại hình TCTD này nhằm đảm bảo cho việc thực thi được tôn chỉ, mục tiêu hoạt động đã đề ra kể từ khi khởi xướng đến nay là hỗ trợ, phục vụ cho các thành viên
* Hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân có mục tiêu chủ yếu là tương trợ giữa các thành viên
Các thành viên QTDND đều là các chủ thể hoạt động kinh tế độc lập; khi họ cùng nhau góp vốn thành lập QTDND thì mục tiêu cơ bản đối với họ là được QTDND cung cấp các dịch vụ tài chính - ngân hàng một cách thuận tiện, thường xuyên và ổn định lâu dài với mức giá cả có thể chấp nhận được, để họ có thể nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó thu được lợi nhuận cao nhất
từ những hoạt động sản xuất kinh doanh của riêng mình Vì vậy, một QTDND được đánh giá là hoạt động tốt khi QTDND đó đáp ứng được yêu cầu nói trên của các thành viên
Ở đây, chúng ta nhận thấy điểm khác biệt căn bản là trong khi các loại hình TCTD khác, nhất là các NH TMCP tiến hành hoạt động nhằm mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận ngày càng nhiều cho các chủ sở hữu của mình, thì các QTDND họat động vì mục tiêu chủ yếu là hỗ trợ các thành viên nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh, cải thiện đời sống; việc các QTDND tìm cách thu được lợi nhuận ngày càng nhiều hơn trong hoạt động không nhằm mục đích chủ yếu là chia cổ tức ngày càng
Trang 18cao cho các chủ sở hữu (là các thành viên) mà coi đó là phương tiện giúp cho các QTDND đạt được mục tiêu hỗ trợ ngày một tốt hơn cho các thành viên Bên cạnh
đó, các QTDND cũng cần phấn đấu kinh doanh đạt hiệu quả lợi nhuận cao để có thể chia cổ tức cho các thành viên góp vốn lớn với mức lợi tức hợp lý để có thể thu hút nguồn vốn góp và số thành viên ngày một nhiều hơn
* Quy mô và địa bàn hoạt động nhỏ hẹp, chủ yếu ở khu vực nông nghiệp, nông thôn
QTDND là loại hình TCTD hợp tác do các thành viên (chủ yếu là nông dân, người sản xuất, kinh doanh nhỏ) góp vốn thành lập, hoạt động chủ yếu ở khu vực nông nghiệp, nông thôn Ngoài ra các QTDND cũng có thị phần hoạt động ở một phần địa bàn thành thị nhưng chiếm tỷ lệ nhỏ vì ở địa bàn này luôn có sự cạnh tranh gay gắt của các NHTM có quy mô hoạt động lớn và công nghệ tiên tiến hiện đại Do các thành viên (là đồng chủ sở hữu, đồng thời cũng là các khách hàng) của QTDND chủ yếu là những người sản xuất kinh doanh nhỏ nên khả năng góp vốn cũng như vay vốn để phát triển sản xuất kinh doanh còn hạn chế Vì vậy, so với các loại hình TCTD khác quy mô hoạt động của QTDND thường nhỏ bé Mặt khác, với tính chất
là một tổ chức kinh tế hợp tác, khả năng kết nạp và phục vụ thành viên cũng có giới hạn tùy thuộc năng lực tài chính và trình độ của đội ngũ những người lãnh đạo, nhân viên quản lý điều hành QTDND; so với cán bộ lãnh đạo và nhân viên của các loại hình TCTD khác thì trình độ của những người này hạn chế hơn rất nhiều Vì vậy, đây cũng là một trong những lý do hạn chế quy mô hoạt động của các QTDND
* Hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân mang tính rủi ro cao và có ảnh hưởng tác động dây chuyền rất nhanh chóng
QTDND là loại hình TCTD hợp tác hoạt động chủ yếu là huy động vốn để cho vay đối với các thành viên ở các khu vực nông thôn là nơi mặt bằng kinh tế còn thấp, sản xuất, kinh doanh chứa đựng nhiều rủi ro (do phụ thuộc nhiều yếu tố khách quan như thời vụ, thiên tai, giá cả, ) Trong khi đó, quy mô hoạt động và năng lực tài chính của các QTDND thường nhỏ bé, trình độ của đội ngũ cán bộ và nhân viên còn hạn chế Vì vậy, QTDND là loại hình TCTD thường xuyên phải đối mặt với nhiều rủi ro nhất và cũng dễ xảy ra đổ vỡ nhất so với các loại hình TCTD khác
Mặt khác, tuy thị phần của các QTDND chỉ chiếm một tỷ trọng không lớn lắm
Trang 19so với toàn bộ hệ thống các TCTD nhưng về mặt số lượng khách hàng, thành viên thì lại rất đông đảo và đa số thuộc tầng lớp dân nghèo, sản xuất kinh doanh nhỏ, rất
dễ bị tổn thương bởi hậu quả do sự đổ vỡ QTDND gây ra Do đó, việc để xẩy ra đổ
vỡ (nếu có) trong hoạt động của các QTDND có ảnh hưởng rất lớn đối với ổn định,
an ninh, chính trị, xã hội và kinh tế của bất kỳ một quốc gia nào
* Quỹ tín dụng nhân dân là loại hình tổ chức tín dụng lấy Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở làm nền tảng và có tính liên kết hệ thống hết sức chặt chẽ
Quá trình hình thành và phát triển mô hình QTDND đã cho thấy trong hệ thống QTDND thì QTDND cơ sở là loại hình ra đời sớm nhất và cũng là nơi trực tiếp tiến hành các hoạt động tiền tệ - tín dụng - ngân hàng để hỗ trợ các thành viên (là các chủ thể hoạt động kinh tế riêng biệt) nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của riêng họ Đây chính là mục tiêu cơ bản và lâu dài mà các thành viên mong muốn khi cùng nhau góp vốn thành lập QTDND
Để có thể duy trì sự tồn tại và phát triển nhằm hỗ trợ lâu dài và bền vững cho các thành viên trong điều kiện kinh tế thị trường, các QTDND cơ sở (là những TCTD hoạt động độc lập có quy mô nhỏ với những yếu điểm vốn có như đã phân tích ở trên) không còn con đường nào khác là phải cùng nhau thiết lập một cơ chế liên kết hệ thống chặt chẽ nhằm vừa phát huy được các ưu điểm, lợi thế vốn có của mình lại vừa khắc phục được những nhược điểm cố hữu mà mỗi QTDND không thể
tự mình giải quyết được Hệ thống liên kết này phải được “vận hành” một cách đồng
bộ và toàn diện thông qua cơ chế liên kết kinh tế giữa các đơn vị cấu thành của bộ phận trực tiếp hoạt động kinh doanh phục vụ thành viên là QTDND cơ sở - QTDKV
- QTDTW và các tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính hỗ trợ; đồng thời thông qua bộ phận tổ chức liên kết phát triển hệ thống có chức năng đại diện bảo vệ quyền lợi, định hướng phát triển, cung cấp dịch vụ tư vấn thông tin, thực hiện kiểm toán, quản
lý quỹ và đào tạo nguồn nhân lực cho toàn hệ thống QTDND
Trong cơ chế liên kết kinh tế, QTDTW và các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ tài chính hỗ trợ hoạt động theo nguyên tắc không cạnh tranh mà hỗ trợ cho các QTDND nâng cao hiệu quả hoạt động của mình nhằm phục vụ thành viên của các QTDND cơ sở ngày một tốt hơn, qua đó nâng cao khả năng cạnh tranh và thúc đẩy
sự phát triển của từng QTDND cơ sở cũng như toàn hệ thống Các QTDND cơ sở là
Trang 20chủ sở hữu và cũng chính là khách hàng của tổ chức kinh tế nói trên; đồng thời QTDND cơ sở chính là nơi tạo ra nguồn thu nhập căn bản cho hệ thống QTDND Chính vì vậy, chỉ khi các QTDND cơ sở hoạt động tốt thì hệ thống QTDND mới phát triển tốt Trong khi đó bộ phận tổ chức liên kết phát triển hệ thống tuy không trực tiếp tiến hành các hoạt động kinh tế nhưng có chức năng hỗ trợ và bảo đảm cho các thành viên (nhất là đối với QTDND cơ sở) cũng như toàn hệ thống có khả năng phát triển an toàn và bền vững
Khi đối chiếu với quá trình hình thành và phát triển của các NHTM, ta thấy một điểm khác biệt hết sức căn bản đó là: Các NHTM đầu tiên được hình thành tại trụ sở chính, sau đó tùy theo sự phát triển trong quá trình hoạt động thì mới thành lập các Chi nhánh, Văn phòng đại diện, Công ty con trực thuộc đồng thời mọi hoạt động của NHTM đều do bộ phận đầu não ở trụ sở chính chỉ đạo điều hành; Trong khi đó, hệ thống QTDND lại được hình thành, phát triển và vận động theo xu hướng ngược lại, các QTD cơ sở là những hạt nhân đầu tiên ra đời và cũng chính họ là người chủ sở hữu góp vốn thành lập nên các TCTD hợp tác dưới hình thức liên hiệp HTX và tổ chức liên kết phát triển hệ thống nhằm mục tiêu hỗ trợ hoạt động an toàn
và phát triển bền vững; Mặt khác, các quyết định liên quan đến xu thế vận động và phát triển của hệ thống QTDND đều được thông qua từ dưới lên theo nguyên tắc dân chủ Đây chính là đặc trưng căn bản khác biệt về mô hình tổ chức của các QTDND
so với loại hình TCTD khác
1.2.1.3 Vai trò của QTDND đối với sự phát triển kinh tế - xã hội nông thôn
* QTDND phát huy khả năng khai thác và sử dụng vốn tại chỗ có hiệu quả và thúc đẩy sản xuất phát triển
QTDND là loại hình tín dụng hợp tác ở nông thôn mà các thành viên của nó vừa là chủ sở hữu vừa là khách hàng Nó quản trị theo nguyên tắc tự chủ, tự chịu trách nhiệm, dân chủ, bình đẳng, hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực kinh tế tư nhân và khu vực dân cư nông thôn bấy lâu nay còn bỏ ngỏ, trống vắng các dịch vụ ngân hàng Do đó, vị trí QTDND ngày càng trở nên quan trọng hơn khi sản xuất hàng hóa
và phát triển đòi hỏi ở nó từ hai phía: Trước hết từ sự đòi hỏi cấp thiết vốn sản xuất, kinh doanh dịch vụ và đời sống ngày một gia tăng không ngừng, sau là sự đòi hỏi của hàng triệu người nông dân có những món tiền nhỏ cần gửi tiết kiệm để sinh lời
Trang 21Từ những lợi thế của mình, QTDND sẽ phát huy khả năng huy động mọi nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong các thành phần kinh tế, các tổ chức xã hội, mọi cá nhân để tập trung cho vay phát triển sản xuất kinh doanh, phục vụ đời sống Bằng những hình thức thích hợp, những lợi ích trong các dịch vụ ngân hàng sẽ làm cho nguồn vốn nằm im trở nên sống động hơn, chu chuyển vốn linh hoạt hơn và hiệu quả lớn nhất là thúc đẩy kinh tế - xã hội nông thôn phát triển, bà con nông dân yên tâm, bởi bên cạnh mình đã có dịch vụ ngân hàng trợ giúp
QTDND không chỉ tập trung huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn nhàn rỗi tại chỗ mà còn khai thác có hiệu quả các tiềm năng to lớn từ nông thôn đó là: Các nguồn lợi thiên nhiên như đất đai, rừng biển, diện tích mặt nước, tài nguyên v.v Các nguồn nhân lực ở vùng nông thôn rộng lớn như nông dân, thợ thủ công, các nghệ nhân ở các làng nghề Trong nhiều năm qua các tiểm năng đó chưa được khai thác đáng kể Vấn đề khai thác nó còn phụ thuộc rất lớn vào các nguồn vốn đầu tư của hệ thống tín dụng nông thôn, đặc biệt sự đóng góp của QTDND sẽ khai thác triệt
để các nguồn vốn kết hợp với nguồn lực dồi dào, tác động vào các tài nguyên còn tiềm ẩn đó tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa cho nền kinh tế
* QTDND góp phần thúc đẩy nền nông nghiệp về cơ bản còn lạc hậu tự cung, tự cấp chuyển sang sản xuất hàng hóa
Quá trình chuyển hóa từ nền nông nghiệp lạc hậu tự cung tự cấp sang nền nông nghiệp hàng hóa là tính quy luật phổ biến ở hầu hết các nước kinh tế phát triển Đó
là tính quy luật chuyển nền sản xuất nhỏ phân tán manh mún lên nền sản xuất lớn hiện đại, tập trung, chuyên môn hóa trong lĩnh vực nông nghiệp Cùng với sự phát triển của đất nước, nhất định phải có sự phân công lại lao động ở nông thôn, từng bước hình thành những vùng kinh tế nông nghiệp phát triển Bước đầu tạo ra những quan hệ kinh tế hàng hóa, phát huy những khả năng vốn có về tự nhiên và con người, thay đổi bộ mặt nông thôn, nâng cao đời sống của nông dân Việc phát triển sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp sẽ thúc đẩy quá trình tiền tệ hóa nông thôn, nó sẽ làm thay đổi bộ mặt nông nghiệp Việt Nam, đặt nền móng vững chắc cho khối liên minh công - nông Trong thực tế việc chuyển nền nông nghiệp, nông thôn nước ta theo hướng sản xuất hàng hóa có tỷ suất hàng hóa cao, chất lượng hàng hóa tốt là một quá trình phức tạp, đòi hỏi phải kết hợp nhiều giải pháp đồng bộ của Nhà nước Trong đó
Trang 22đặc biệt là hoạt động của các TCTD nông thôn mà hệ thống QTDND sẽ là nhân tố có nhiều đóng góp tích cực
Nhiệm vụ của QTDND lúc này không chỉ là TCTC góp phần cung cấp đủ vốn cho các chủ thể sản xuất, mà còn phải kết hợp với Ngân hàng Nông nghiệp (NHNo) Việt Nam, các NHTM cổ phần tạo ra đủ phương tiện thanh toán để lưu thông hàng hóa được thông suốt Mặt khác thông qua các dịch vụ ngân hàng mà đặc biệt là tổ chức thanh toán với những hình thức thích hợp làm cho việc trao đổi, giao lưu hàng hóa giữa các chủ thể, các vùng kinh tế được dễ dàng nhanh chóng Qua đó thực thi được yêu cầu tiền tệ hóa nông thôn, góp phần đưa cả nước chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa
* Quỹ tín dụng nhân dân góp phần đẩy lùi tín dụng nặng lãi, đa dạng hóa mô hình các Tổ chức tín dụng, từng bước hình thành và phát triển thị trường tài chính nông thôn
Sau năm 1990 hệ thống HTXTD nông thôn đã bị tan rã, NHNo Việt Nam, các NHTM cổ phần mới ra đời, phạm vi hoạt động còn rất hạn hẹp Lúc này thị trường vốn ở nông thôn gần như bị bỏ ngỏ Trong khi đó nền kinh tế nước ta đang chuyển đổi từ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, kinh tế hàng hóa nhiều thành phần phát triển, nhu cầu vốn cho sản xuất ở nông thôn trở nên vô cùng cấp thiết Đây là mảnh đất tốt để các hình thức cho vay nặng lãi, hụi họ hoành hành, cột chặt người nông dân vào cảnh nợ nần, nó cũng chính là nhân tố kìm hãm sản xuất ở nông thôn, người nông dân vốn đã nghèo lại càng trở lên kiệt quệ hơn
Trước tình hình đó, trong nông nghiệp, nông thôn đòi hỏi phải hình thành các TCTD dân cư phù hợp với nền kinh tế thị trường TCTD này vừa đáp ứng nhu cầu
về vốn cho sản xuất, thực hiện một số dịch vụ ngân hàng đồng thời phải có tính tương trợ, tương hỗ để giúp cho người nông dân thoát khỏi vòng cương tỏa của tín dụng nặng lãi
QTDND ra đời bước đầu đã đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân và phát huy vai trò trung gian tài chính ở nông thôn Bất cứ nơi nào có QTDND đi vào hoạt động thì ở đó hình thức tín dụng nặng lãi bị thu hẹp, lãi suất thị trường tín dụng không chính thức được kéo xuống Luật NHNN, Luật Các TCTD, Luật HTX ra đời
Trang 23là cơ sở pháp lý quan trọng, là những định hướng cơ bản cho việc thiết lập cơ chế mới về quản lý kinh doanh tiền tệ
Hệ thống các tổ chức kinh doanh tiền tệ - tín dụng - ngân hàng ở nông thôn nước ta hiện nay, có các NHTM Nhà nước, các NHTM cổ phần, QTDND Hệ thống tín dụng này gồm các hình thức sở hữu khác nhau như: Nhà nước, tập thể, tư nhân, hỗn hợp các thành phần Mỗi loại có thế mạnh riêng, chúng đan xen lẫn nhau trong quá trình hoạt động QTDND là loại hình HTXTD mới được xây dựng thí điểm đi vào hoạt động chưa lâu nhưng nó có thể mở rộng xuống hầu hết các thôn, xã phục vụ việc huy động, cho vay rất thuận tiện, hoạt động đảm bảo an toàn nhưng bản thân
nó không phải là không có những hạn chế và những hạn chế đó có thể khắc phục bằng những ưu điểm của NHNo Việt Nam hoặc các NHTM cổ phần
Bởi vậy, việc tham gia của QTDND vào thị trường vốn ở nông thôn đã góp phần hoàn thiện thêm những ưu điểm vốn có và khắc phục các mặt hạn chế của mỗi
tổ chức tín dụng, tạo nên một hệ thống tổ chức tín dụng được cấu trúc bởi nhiều mô hình khác nhau về chế độ sở hữu, về quy mô và phạm vi hoạt động, về trình độ công nghệ sẽ góp phần tạo ra một thị trường tài chính thật sự sống động và thông suốt ở khu vực nông thôn rộng lớn
* Hoạt động của các Quỹ tín dụng nhân dân góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông nghiệp nông thôn
Chúng ta đều biết nông nghiệp, nông thôn là một lĩnh vực rộng lớn và là một ngành sản xuất vật chất quan trọng của nền kinh tế quốc dân Sự phát triển của nông nghiệp không thể tách rời sự phát triển của ngành kinh tế khác trước hết là công nghiệp Nhưng lâu nay khu vực này chưa được quan tâm đúng mức, do đó từ khi đất nước bước vào cải cách mở cửa phát triển kinh tế đến nay, nông nghiệp nông thôn biến đổi rất chậm: Hạ tầng cơ sở nghèo nàn, lạc hậu, kinh tế chủ yếu mang tính tự cung, tự cấp Đối với phát triển nông nghiệp nông thôn nước ta hiện nay đòi hỏi rất nhiều yếu tố, trong đó vốn sản xuất là vấn đề vô cùng quan trọng Sự ra đời của QTDND cũng ví như chính sách khoán 10 của Đảng thời kỳ bao cấp, thổi một luồng gió mới các dịch vụ ngân hàng, vào nông nghiệp nông thôn TCTD này kết hợp với NHNo, NHTM cổ phần tạo ra một mạng lưới tín dụng rộng lớn, đáp ứng những đòi hỏi dịch vụ ngân hàng cho phát triển sản xuất, kinh doanh ở nông thôn mà lâu nay
Trang 24vẫn bị bỏ ngỏ Mô hình QTDND do chính người nông dân tham gia thành lập và xây dựng lên, nó sẽ tích cực phục vụ trở lại đối với những người nông dân, những nhu cầu cần thiết cho sản xuất, đồng thời khai thác triệt để những tiềm năng của nông nghiệp, nông thôn lâu nay còn ẩn chứa trong mình Có đủ vốn cho sản xuất nông nghiệp, nông thôn sẽ tạo ra khối lượng sản phẩm hàng hóa, lương thực, thực phẩm phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Khi nhu cầu vốn cho nông nghiệp, nông thôn được đáp ứng sẽ thúc đẩy việc mở rộng các hoạt động phi nông nghiệp, nông thôn bao gồm: các ngành nghề (nung gạch, xây dựng, dệt thảm, nghề mộc, cơ khí sửa chữa ) và HTX thủ công (dệt khăn, sơn mài, trạm khắc, làm giấy ) cũng như hoạt động của công nghiệp chế biến (sơ chế sản phẩm nông nghiệp, xây sát gạo, chế biến thức ăn gia súc, chế biến các mặt hàng nông sản, hoa quả ) Kết quả là tạo sự di chuyển lao động từ khu vực nông thôn sang khu vực công nghiệp và dịch
vụ, trong khi vẫn thay đổi địa bàn lao động cũ là nông thôn, không tạo ra sự di chuyển lao động theo địa lý
* Thông qua hoạt động của QTDND để giúp các hộ nông dân không ngừng nâng cao trình độ hạch toán kinh tế
Mục đích hoạt động của QTDND là giúp đỡ nhau trên tinh thần tương thân, tương ái trong tình làng nghĩa xóm Song nguyên tắc hoạt động của QTDND lại phải
“tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi” Do vậy, mọi quan hệ vay, gửi vốn giữa khách hàng (thường là những thành viên) với QTDND đều phải hoàn trả cả gốc và lãi đầy
đủ theo thời hạn nhất định, điều đó đòi hỏi phải sử dụng vốn vay có hiệu quả Nghĩa
là thông qua các hoạt động vay vốn và trả nợ của QTDND, các hộ nông dân phải suy nghĩ, cân nhắc, hạch toán, tiết kiệm chi phí để với vốn đầu tư nhỏ nhất, chi phí ít nhất, nhưng thu được lãi lớn nhất và thực sự đứng vững trong cơ chế thị trường Đồng thời, trong quá trình giúp đỡ hộ nông dân về vốn, thông qua công tác thẩm định cho vay, kiểm tra sử dụng vốn, chăm sóc thành viên của các QTDND đã có tác dụng kiểm soát tính hiệu quả của sản xuất kinh doanh, tư vấn thêm cách quản lý, hạch toán kinh doanh cho từng hộ thành viên
1.2.2 Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân
1.2.2.1 Tự nguyện gia nhập và ra khỏi Quỹ tín dụng nhân dân
Cũng như các loại hình HTX khác, QTDND là một tổ chức kinh tế hợp tác do
Trang 25các thành viên tự nguyện thành lập để hỗ trợ cho các thành viên được tiếp cận với các dịch vụ tài chính - ngân hàng một cách thuận tiện với giá cả có thể chấp nhận được nhằm nâng cao hiệu quả cho các hoạt động kinh doanh, sản xuất của chính bản thân họ Vì vậy, các thành viên đều có thể tự nguyện gia nhập hoặc ra khỏi QTDND theo quy định tại Điều lệ của QTDND; khi thành viên xét thấy QTDND là tổ chức
có thể giúp họ nâng cao hiệu quả hoạt động của bản thân họ thì tự nguyện tham gia; khi không còn muốn tham gia hoặc xét thấy QTDND không tạo điều kiện thuận lợi cho mình thì được quyền ra khỏi QTDND Chỉ khi quán triệt tốt nguyên tắc này thì QTDND mới có thể thu hút được đông đảo thành viên tham gia
1.2.2.2 Quản lý dân chủ và bình đẳng
Với mục tiêu hoạt động là phát huy sức mạnh của tập thể và của từng thành viên nhằm hỗ trợ các thành viên nâng cao hiệu quả các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ và cải thiện đời sống, QTDND là một laoij hình tổ chức kinh tế dân chủ rất đặc thù so với các TCTD khác Trong các loại hình TCTD khác, những người chủ sở hữu và khách hàng là các chủ thể khác nhau; trong khi đó tại các QTDND thì các thành viên vừa là những người đồng chủ sở hữu lại vừa là khách hàng của TCTD do chính họ thành lập Vì vậy, để đảm bảo việc quán triệt mục tiêu tương trợ đối với mọi thành viên thông qua các hoạt động kinh tế chung của QTDND thì QTDND phải được quản lý dân chủ và bình đẳng Với nguyên tắc này mọi thành viên đều có quyền tham gia quản lý kiểm tra giám sát QTDND và có quyền ngang nhau trong biểu quyết các vấn đề của QTDND mà không phụ thuộc vào số vốn góp nhiều hay ít Đây chính là khác biệt căn bản nhất của loại hình QTDND với các loại hình TCTD khác
1.1.2.3 Tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi
QTDND là một tổ chức kinh tế tập thể do các thành viên tự nguyện góp vốn thành lập nhằm mục tiêu hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh của các thành viên
Vì vậy, cũng như bất kỳ các loại hình tổ chức kinh tế khác, QTDND cũng phải tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động kinh doanh, dịch vụ Lịch sử phát triển loại hình kinh tế hợp tác nói chung và QTDND nói riêng ở các nước trên thế giới đều chứng minh một điều hết sức rõ ràng là chỉ có các tổ chức kinh tế hợp tác được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tự chủ tự chịu trách nhiệm (không hưởng sự bao
Trang 26cấp từ bất kỳ một tổ chức nào), đồng thời đảm bảo được lợi ích của cả tổ chức hợp tác của thành viên thì mới có khả năng đứng vững trong cơ chế thị trường
1.2.2.4 Chia lãi bảo đảm kết hợp lợi ích của thành viên và sự phát triển của Quỹ tín dụng nhân dân
Như đã nêu ở trên, QTDND là một TCTD hợp tác hoạt động với mục tiêu chủ yếu là tương trợ thành viên nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh Trong khi đó mỗi thành viên của QTDND lại là một chủ thể kinh tế độc lập Vì vậy, nguyện vọng lớn nhất của họ là thu được hiệu quả kinh tế ngày càng cao, đồng thời
có tính lâu dài và ổn định từ các hoạt động sản cuất kinh doanh của bản thân chứ không phải là việc được hưởng cổ tức cao nhất thông qua hoạt động của QTDND Tuy nhiên, để thực hiện được điều đó thì họ cần được hỗ trợ một cách thuận tiện, thường xuyên và lâu dài thông qua việc vay vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh hoặc gửi các khoản tiền nhàn rỗi vào QTDND do họ thành lập (ta biết họ có điều kiện làm khách hàng của các NHTM) Vì vậy, trong quá trình hoạt động, các QTDND phải đảm bảo trang trải chi phí để có thể tích lũy và phát triển hỗ trợ thành viên được lâu dài với hiệu quả ngày càng cao Mặt khác, để ổn định và phát triển lâu dài QTDND cũng cần phải xử lý hài hòa giữa lợi ích của từng thành viên và lợi ích tập thể của tất cả các thành viên
Từ lý do trên, sau khi có lợi nhuận và làm xong nghĩa vụ nộp thuế với Nhà nước, lãi còn lại được trích lập một phần vào Quỹ nhằm nâng cao năng lực tài chính của QTDND, một phần được chia theo vốn góp của các thành viên và phần còn lại được chia cho các thành viên theo mức độ sử dụng dịch vụ của QTDND Đó cũng chính là một trong những điểm khác biệt căn bản so với các loại hình TCTD khác
1.2.2.5 Hợp tác và phát triển cộng đồng
Lịch sử phát triển phong trào HTX nói chung và QTDND nói riêng trên toàn thế giới đã rút ra một chân lý là chỉ có loại hình kinh tế hợp tác là mô hình tổ chức kinh tế tập thể do những người nghèo và người sản xuất nhỏ tự nguyện hợp tác với nhau thành lập và cùng quản lý mới có thể hỗ trợ nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm giúp họ thoát khỏi nghèo đói và cải thiện đời sống một cách thường xuyên và lâu dài Vì vậy, các thành viên HTX (hoặc QTDND) không còn con đường nào khác phải luôn nêu cao tinh thần hợp tác và phát triển cộng đồng, duy
Trang 27trì sự phát triển bền vững của HTX và phong trào HTX nhằm thúc đẩy sự phát triển của mỗi thành viên Cùng với ý nghĩa trên, để có thể duy trì sự phát triển bền vững của hệ thống QTDND, mỗi thành viên luôn phải phát huy tinh thần tập thể, nâng cao
ý thức hợp tác giữa các thành viên trong QTDND và trong cộng đồng xã hội, hợp tác giữa các QTDND với nhau ở trong nước và nước ngoài theo quy định của pháp luật
1.2.3 Các hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân
1.2.3.2 Hoạt động tín dụng
- Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở cho vay đối với thành viên và các hộ nghèo không phải là thành viên trong địa bàn hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở Việc cho vay hộ nghèo thực hiện theo Điều lệ của Quỹ tín dụng nhân dân, nhưng tỷ
lệ dư nợ cho vay đối với hộ nghèo so với tổng dư nợ không được vượt quá tỷ lệ do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở được cho vay những khách hàng có gửi tiền tại Quỹ tín dụng nhân dân dưới hình thức cầm cố
sổ tiền gửi do chính Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở đó phát hành
- Việc lập hồ sơ và thủ tục cho vay, xét duyệt cho vay, kiểm tra việc sử dụng tiền vay, chấm dứt cho vay, xử lý nợ, điều chỉnh lãi suất và lưu giữ hồ sơ Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở phải thực hiện theo quy định của Ngân hàng Nhà nước
- Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở thực hiện các hoạt động tín dụng khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước
1.2.3.3 Dịch vụ thanh toán và ngân quỹ
- Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở được mở tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước, Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương và các tổ chức tín dụng khác (trừ các Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở khác)
- Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở được thực hiện các dịch vụ thanh toán và ngân
Trang 28quỹ, chủ yếu phục vụ các thành viên
ổn định và phát triển của đối tượng theo những mục tiêu đã định
Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật nhà nước để điều chỉnh hành vi hoạt động của con người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội Trong hoạt động quản lý nhà nước, vấn đề kết hợp các yếu tố của hoạt động quản lý là rất phức tạp, đòi hỏi các nhà quản lý phải có năng lực cao với sự hỗ trợ của các phương tiện công nghệ hiện đại
Khái niệm quản lý nhà nước theo nghĩa rộng: Là hoạt động tổ chức, điều hành của cả bộ máy nhà nước, nghĩa là bao hàm cả sự tác động, tổ chức của quyền lực nhà nước trên các phương diện lập pháp hành pháp và tư pháp Theo cách hiểu này, quản
lý nhà nước được đặt trong cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân lao động làm chủ"
Theo nghĩa hẹp, Quản lý nhà nước chủ yếu là quá trình tổ chức, điều hành của
Trang 29hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người theo pháp luật nhằm đạt được những mục tiêu yêu cầu nhiệm vụ quản lý nhà nước Đồng thời, các cơ quan nhà nước nói chung còn thực hiện các hoạt động có tính chất chấp hành, điều hành, tính chất hành chính nhà nước nhằm xây dựng tổ chức bộ máy và củng cố chế độ công tác nội bộ của mình Chẳng hạn ra quyết định thành lập, chia tách, sát nhập các đơn vị tổ chức thuộc bộ máy của mình;
đề bạt, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức, ban hành quy chế làm việc nội bộ Cũng như hoạt động quản lý nhà nước nói chung, hoạt động quản lý Nhà nước đối với Quỹ tín dụng nhân dân là một quá trình tác động liên tục, có định hướng, có
tổ chức của Ngân hàng Nhà nước tới các hoạt động tiền tệ và ngân hàng của các QTDND để đạt được mục tiêu cuối cùng là ổn định tiền tệ, góp phần tăng trưởng kinh tế và giải quyết việc làm
Trong mối quan hệ này, chủ thể quản lý là Ngân hàng Nhà nước, với vai trò là ngân hàng trung ương và cơ quan thuộc Chính phủ, có thể tác động tới đối tượng bị quản lý thông qua những kế hoạch, chương trình, chính sách, biện pháp và những quyết định hành chính khác
1.3.1.2 Đặc điểm của quản lý nhà nước đối với Quỹ tín dụng nhân dân
* Đặc điểm về đối tượng (các QTDND)
+ Thành viên tham gia quỹ tín dụng có quyền sở hữu và quản lý mọi tài sản và hoạt động của quỹ theo tỷ lệ vốn góp
+ Phạm vi hoạt động của quỹ tín dụng hẹp
+ Thế mạnh của quỹ tín dụng là bám sát khách hàng: cung cấp các dịch vụ của quỹ một cách nhanh chóng và có hiệu quả
+ Mỗi quỹ tín dụng là một đơn vị kinh tế độc lập nhưng lại có mối quan hệ mật thiết với nhau thông qua hoạt động điều hòa vốn, thông tin, cơ chế phân tán rủi ro nhằm đảm bảo cho hệ thống quỹ phát triển bền vững
Trang 30cao lòng tin của công chúng đối với hệ thống các QTDND; bảo đảm việc chấp hành chính sách, pháp luật về tiền tệ và ngân hàng
* Đặc điểm về cơ chế (cơ chế quản lý đối với đơn vị kinh tế tập thể)
Nhà nước thống nhất quản lý hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân, xây dựng
hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân đủ sức đáp ứng nhu cầu vốn và dịch vụ cho các thành viên của Quỹ tín dụng nhân dân, góp phần thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân, bảo vệ lợi ích hợp pháp của người gửi tiền
Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu, quyền và lợi ích hợp pháp khác trong hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân nhằm tạo điều kiện cho các thành viên tương trợ nhau trong sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống
Nói chung Nhà nước quản lý QTDND thông qua một cơ chế chặt chẽ, cơ chế
đó được tạo thành bởi các yếu tố như: Hệ thống các nguyên tắc quản lý; hệ thống các công cụ quản lý
* Đặc điểm về môi trường hoạt động
Đối với từng loại hình doanh nghiệp thì không có cái khó khăn của đơn vị nào giống với đơn vị nào, nhưng trong một lĩnh vực hoạt động nào đó nó có những khó khăn cũng gần tương tự nhau Cụ thể trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng thì đó là các khó khăn về huy động vốn, lãi suất, chất lượng tín dụng suy giảm, khả năng thanh khoản Đối với Quỹ tín dụng nhân dân, là một đơn vị thuộc thành phần kinh tế tập thể, hợp tác xã, hoạt động trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng thì chắc chắn các khó khăn trên cũng không thể tránh khỏi Cùng hoạt động trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng, nhưng so với các ngân hàng thương mại thì Quỹ TDND có quy mô nhỏ hơn nhiều, trong đó điểm khác nhau cơ bản là Đơn vị chỉ hoạt động trong một địa bàn nhất định và hoạt động có tính chất trong nội bộ thành viên mà thôi
Do hoạt động trong một môi trường cùng là thành viên với nhau nên những người có vốn lúc chưa sử dụng thì gửi vào Quỹ tín dụng với hình thức tiền gửi tiết kiệm hoặc góp vốn cổ phần và những thành viên cần vốn cho sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng thì vay lại với lãi suất hợp lý để đầu tư phát triển tránh các trường hợp phải vay tín dụng đen Như vậy Quỹ đã thể hiện được vai trò sự kết nối giữa các
Trang 31thành viên trong cộng đồng Chính điều này làm cho hoạt động của Quỹ luôn ổn định, trừ những lúc có biến động lớn như lãi suất tăng nhanh, biến động thị trường vàng làm cho nhu cầu vốn tại thời điểm tăng, Quỹ mới vay lại của Quỹ trợ vốn thuộc liên minh HTX hoặc của Quỹ tín dụng Trung ương để đáp ứng nhu cầu vốn của thành viên và khi ổn định thì Quỹ hoàn trả lại, thậm chí hiện nay Quỹ còn gửi vốn lại Quỹ tín dụng Trung ương
1.3.2 Nội dung quản lý nhà nước đối với quỹ tín dụng nhân dân trên địa bàn tỉnh
Về mặt quản lý Nhà nước, Chính Phủ đã ban hành Nghị định số
69/2005/NĐ-CP ngày 26/5/2005 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 48/2001/NĐ-69/2005/NĐ-CP, trong đó quy định nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm quản lý của các Bộ, cơ quan ngang Bộ và UBND các cấp đối với hệ thống QTDND, cụ thể như sau:
- Nghiên cứu, xây dựng mục tiêu chiến lược, quy hoạch, kế hoạch định hướng phát triển Quỹ tín dụng nhân dân trong phạm vi cả nước; chỉ đạo và hướng dẫn các
Quỹ tín dụng nhân dân thực hiện
- Ban hành và hướng dẫn việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về tổ
chức và hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân
- Cấp, thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân
- Nghiên cứu, xây dựng, tổng kết việc thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với Quỹ tín dụng nhân dân; trình Chính phủ sửa đổi, bổ sung
các chính sách nhằm thúc đẩy hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân phát triển
- Xây dựng và trình Chính phủ thông qua hoặc thông qua theo thẩm quyền các chương trình, dự án do các nước, các tổ chức quốc tế trợ giúp để phát triển hệ thống
Quỹ tín dụng nhân dân; chỉ đạo và kiểm tra việc thực hiện các chương trình dự án đó
- Thanh tra, kiểm tra các Quỹ tín dụng nhân dân theo quy định của pháp luật
Mặt khác, căn cứ Nghị định số 156/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013 của Chính phủ về quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của NHNN Việt Nam; Quyết định số 290/QĐ-NHNN ngày 25/02/2014 về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Theo đó, tại cấp tỉnh NHNN Chi nhánh tỉnh là cơ quan thực hiện
Trang 32chức năng QLNN về chuyên môn, nghiệp vụ đối với các QTDND trên địa bàn tỉnh,
mà hiện nay chức năng này do Phòng thanh tra, giám sát tại 63 Chi nhánh tỉnh, thành phố đảm nhận Công tác QLNN đối với hệ thống QTDND được thể hiện ở một số nội dung sau:
* Về công tác xây dựng, phổ biến văn bản quy phạm pháp luật
Đối với ngành Ngân hàng luôn có cơ chế, chính sách và hướng dẫn riêng rất cụ thể phù hợp với quy mô hoạt động và từng giai đoạn phát triển của hệ thống
QTDND
Thực hiện nhiệm vụ được giao, các Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố chịu trách nhiệm tổ chức phổ biến và kiểm tra việc thực hiện văn bản quy phạm pháp luật tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Thông qua nhiều hình thức như sao chụp văn bản, tổ chức tập huấn, truyền tin…hệ thống văn bản pháp luật của ngành, của nhà nước đã được truyền tải một cách rõ ràng và đầy đủ tới các QTDND trong cả nước, qua đó giúp cán bộ tại các QTDND hiểu và nâng cao có ý thức chấp hành pháp luật, đưa hoạt động của quỹ đi đúng hành lang pháp lý, hoạt động an toàn, lành mạnh và hiệu quả Đồng thời, Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố cũng
là đơn vị làm đầu mối tham mưu cho Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố xây dựng, ban hành các văn bản về hoạt động của QTDND
* Giám sát tổ chức và cấp, thu hồi giấy phép hoạt động của các QTDND
Theo quy định tại Quyết định số 24/2006/QĐ-NHNN ngày 06/6/2006 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã quy định rõ vai trò quản lý Nhà nước đối với các Quỹ tín dụng nhân dân, Ngân hàng Nhà nước có thẩm quyền cấp, thu hồi giấy phép, chấp thuận việc mở, chấm dứt hoạt động của Sở giao dịch, chi nhánh, văn phòng đại diện, phòng giao dịch, điểm giao dịch của QTDND và việc chia, tách, hợp nhất, sáp nhập các QTDND dưới sự giám sát của NHNN
Theo đó, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ra quyết định cấp giấy phép đối với Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương; chấp thuận việc mở, chấm dứt hoạt động của Sở giao dịch, chi nhánh, văn phòng đại diện của Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương Giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ra quyết định cấp, thu hồi giấy phép và chấp thuận việc mở, chấm dứt hoạt động phòng giao dịch, điểm giao dịch và việc chia, tách, hợp nhất, sáp nhập của
Trang 33các Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở trên địa bàn
Thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao, công tác cấp giấy phép luôn được tiến hành thận trọng, đi sâu vào chất lượng chứ không đơn thuần chỉ chạy theo số lượng Theo đó, chỉ tiến hành cấp giấy phép sau khi đã điều tra kỹ lưỡng những điều kiện về năng lực, trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ lãnh đạo Quỹ, năng lực tài chính cũng như điều kiện phù hợp với thực tế tại địa bàn Trong đó, đặc biệt quan tâm đến năng lực của bộ máy điều hành quỹ Người quản tri ̣ điều hành có vai trò quyết đi ̣nh, chọn người có trí tuệ , có đạo đức nghề ng hiê ̣p để dẫn dắt hoạt động của
Ngoài các kiến thức cơ bản về nghiệp vụ giỏi, cần thêm các yêu cầu khác, đó là: nắm chắc pháp luâ ̣t về kinh tế , về ngân hàng , về hê ̣ thống QTDND , hiểu biết các quy
đi ̣nh, thể chế của ngành Có khả năng phân tích tình huống trước khi đưa ra quyết
đi ̣nh, đảm bảo quyết đi ̣nh có chất lượng cao nhất nhằm ha ̣n chế những thiếu sót , sai lầm của cấp dưới
Song song với việc cấp giấy phép thành lập QTDND, Ngân hàng Nhà nước luôn đặc biệt quan tâm đến việc kiện toàn tổ chức các QTDND, công tác củng cố nhân sự, cán bộ điều hành tại các Quỹ tín dụng nhân dân cũng được tăng cường trên
cơ sở bảo đảm các tiêu chuẩn cả về chuyên môn, nghiệp vụ, cả về năng lực điều hành và phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, có ý thức tuân thủ pháp luật, có uy tín, tận tuỵ gắn bó với sự nghiệp phát triển của QTDND Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước cũng đề xuất, kiến nghị các QTDND thực hiện thay thế những cán bộ có phẩm chất, năng lực yếu kém, từng bước hạn chế tình trạng kiêm nhiệm của đội ngũ cán bộ chủ chốt Tại nhiều địa phương, Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố đã chỉ đạo các Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở xây dựng quy hoạch cán bộ trình cấp uỷ, chính quyền địa phương, tạo điều kiện cho cán bộ đang làm việc tại QTDND được học tập, bồi dưỡng, nâng cao trình độ, chuyên môn nghiệp vụ cũng như cho các cán bộ tại các QTDND chuẩn bị thành lập đáp ứng đủ tiêu chuẩn chuyên môn theo quy định Trong quá trình hoạt động, Ngân hàng Nhà nước luôn giám sát chặt chẽ về tổ chức và hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân, theo đó phối hợp chặt chẽ với các Bộ Ngành có liên quan và Uỷ ban nhân dân các cấp trong việc xử lý, kiên quyết thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động của các quỹ tín dụng nhân dân có những biểu hiện
Trang 34vi phạm như: hoạt động sai mục đích đã được ghi trong điều lệ và các nội dung hoạt động đã được ghi trong giấy phép; hoặc có những biểu hiện vi phạm pháp luật mà Ngân hàng Nhà nước xét thấy không thể tiếp tục duy trì hoạt động; hoặc một số quỹ hoạt động yếu kém, có nguy cơ mất khả năng chi trả, mất khả năng thanh toán không thể củng cố vươn lên được…
* Về công tác thanh tra, giám sát hoạt động của các QTDND
Là một loại hình tổ chức tín dụng nên trong quá trình hoạt động Quỹ tín dụng nhân dân cũng sẽ gặp phải những rủi ro phổ biến của một tổ chức tín dụng như: rủi
ro thanh toán, rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro đạo đức, tài sản,… Tuy nhiên, so với các loại hình tổ chức tín dụng khác, Quỹ tín dụng nhân dân thường xuyên phải đối mặt với nhiều rủi ro, đổ vỡ hơn bởi những đặc thù riêng biệt của hệ thống này,
đó là:
- Các QTDND hoạt động chủ yếu là huy động vốn để cho vay đối với các thành viên ở các khu vực nông nghiệp, nông thôn là nơi mặt bằng kinh tế, trình độ còn thấp, sản xuất, kinh doanh chứa đựng nhiều rủi ro (do phụ thuộc nhiều yếu tố khách quan như thời vụ, thiên tai, giá cả…)
- Quy mô hoạt động, năng lực tài chính của các QTDND thường nhỏ bé, trình
độ quản lý, nhận thức của đội ngũ cán bộ, nhân viên còn hạn chế, bất cập
- Cơ sở vật chất nhìn chung còn nghèo nàn, thiếu đồng bộ khó đảm bảo các điều kiện về an toàn kho quỹ, giao thông, liên lạc không thuận lợi gây khó khăn cho hoạt động
- Các QTDND là các pháp nhân độc lập về kinh tế, hoạt động riêng lẻ trên địa bàn nhiều vùng khác nhau nhưng lại có cùng một tên gọi, chung một biểu tượng,
mô hình tổ chức và phương thức hoạt động kinh doanh, đồng thời khả năng “miễn dịch”, tự bảo vệ của mỗi QTDND còn rất hạn chế Vì vậy khi một QTDND gặp khó khăn thì khả năng lây lan sang các QTDND khác trong hệ thống là rất cao, nếu không có giải pháp xử lý kịp thời thì nguy cơ đổ vỡ dây truyền trong hệ thống là khó tránh khỏi
Trước thực tiễn phát triển của hệ thống QTDND cũng như thách thức, khó khăn mà hệ thống này phải đối mặt trong quá trình hoạt động, việc tạo lập ra môi
Trang 35trường hoạt động an toàn và ổn định cho các QTDND là hết sức cần thiết Do đó, hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng của Ngân hàng Nhà nước đối với hệ thống QTDND đóng vai trò đặc biệt quan trọng, góp phần đảm bảo an toàn cho từng QTDND và cả hệ thống QTDND đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân
Luật ngân hàng quy định thanh tra ngân hàng là thanh tra chuyên ngành về ngân hàng, thuộc bộ máy của Ngân hàng nhà nước, đây là một công cụ quan trọng
để Ngân hàng Nhà nước thực hiện vai trò quản lý nhà nước của mình đối với hoạt động của các tổ chức tín dụng và hoạt động ngân hàng của các tổ chức khác 5 năm sau ngày thành lập Ngân hàng quốc gia Việt Nam, Ban thanh tra ngân hàng trực thuộc ngân hàng quốc gia (tiền thân của Thanh tra Ngân hàng Nhà nước ngày nay) cũng đã được thành lập bởi một Nghị định của Chính phủ - Nghị định số 169/NĐ-CP ngày 12/5/1956 của Thủ tướng Chính phủ Trải qua hơn 5 thập kỷ xây dựng và trưởng thành, hệ thống Thanh tra ngân hàng nhà nước đã lớn mạnh không ngừng cả
về tổ chức bộ máy, nhân sự, quy mô và chất lượng hoạt động Đây là một cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng có bộ máy hoàn chỉnh nhất (từ Trung ương tới các chi nhánh tỉnh, thành phố), quy mô biên chế lớn nhất (khoảng 700 người) và nguồn lực hoạt động đồ sộ nhất, với phương thức, quy trình, các công cụ, kỹ năng, năng lực thanh tra giám sát ngày càng phát triển
Mô hình tổ chức quản lý bằng công cụ thanh tra, giám sát ngân hàng được thể hiện tổng quát qua sơ đồ sau:
Trang 36
Hình 1.1: Mô hình tổ chức QLNN bằng công cụ thanh tra, giám sát ngân hàng
Ghi chú:
* Thanh tra: Thanh tra, giám sát hoạt động các TCTD
Chịu sự chỉ đạo của cấp trên và báo cáo kết quả thanh tra lên cấp trên
* Chính phủ, NHNN VN và các TCTD:
Chịu sự giám sát, thanh tra của thanh tra, giám sát NHNN
Nhận sự điều hành CSTT và có trách nhiệm báo cáo cấp trên
Hiện nay theo quy định của Chính phủ, Thanh tra, giám sát Ngân hàng được tổ chức hệ thống từ Trung ương đến địa phương Tại Trung ương có Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng; tại 63 tỉnh, thành phố có Thanh tra chi nhánh Ngân hàng Nhà nước, trực thuộc chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố
Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng là cơ quan trực thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, thực hiện chức năng thanh tra hành chính, thanh tra chuyên ngành
và giám sát chuyên ngành về ngân hàng Theo đó, việc giám sát, thanh tra trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Ngân hàng Nhà nước; tham mưu, giúp
Các chi nhánh NHTM tỉnh, TP
Thanh tra, giám sát chi nhánh NHNN
Các NHTM
Cơ sở
Trang 37Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quản lý nhà nước đối với các tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính quy mô nhỏ, hoạt động ngân hàng của các tổ chức khác Ngoài ra, cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng còn thực hiện chức năng thanh tra việc chấp hành pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng, việc thực hiện các quy định trong giấy phép thành lập và hoạt động của các tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính quy mô nhỏ và giấy phép hoạt động ngân hàng của các tổ chức khác
Đối với các tổ chức tín dụng nói chung và các QTDND nói riêng tại mỗi địa phương chịu sự thanh tra, giám sát trực tiếp của thanh tra, giám sát ngân hàng (TTGSNH) thuộc bộ máy Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố Thanh tra chi nhánh Ngân hàng Nhà nước chịu trách nhiệm quản lý, chỉ đạo hoạt động thanh tra của Giám đốc chi nhánh NHNN trên địa bàn, đồng thời chịu sự chỉ đạo về mặt nghiệp vụ của Cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng
Theo đó, đối với các QTDND nói riêng, thanh tra, giám sát chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố có trách nhiệm:
- Thực hiện việc thanh tra, kiểm tra trực tiếp (thanh tra tại chỗ) đối với các QTDND trên địa bàn theo định kỳ, đột xuất Công tác thanh tra hiện nay chủ yếu là đánh giá sự tuân thủ của các QTDND đối với các quy định của Luật và các văn bản quy phạm pháp luật Theo đó hoạt động của thanh tra ngân hàng đã hướng vào các vấn đề trọng tâm: quản trị điều hành, kiểm tra, kiểm toán nội bộ, đảm bảo an toàn vốn, tài sản, an toàn kho quỹ, xử lý nợ quá hạn, quản lý tài chính, Qua đó có thể thấy được toàn bộ những ưu nhược điểm và tồn tại trong công tác chấp hành những
cơ chế, quy chế, luật pháp, đánh giá tình trạng của QTDND trong một thời gian nhất định Trên cơ sở kết quả thanh tra, kiểm tra đã yêu cầu các QTDND kịp thời chỉnh sửa, khắc phục các tồn tại, vi phạm và phải tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, kiểm soát nội bộ để ngăn chặn và giảm thiểu rủi ro trong quá trình hoạt động
- Công tác thanh tra, giám sát đã bắt đầu chuyển từ chỉ thực hiện “thanh tra tuân thủ” sang kết hợp với “thanh tra rủi ro”, “thanh tra tổng hợp”; giám sát từ xa và cảnh báo sớm đang được coi trọng và nâng cao chất lượng
- TTGSNH chi nhánh tỉnh, thành phố cũng thực hiện việc giám sát hoạt động của các QTDND thông qua hệ thống thông tin báo cáo, chương trình giám sát từ xa Nội dung giám sát chủ yếu là việc thực hiện các quy định về đảm bảo an toàn trong
Trang 38hoạt động ngân hàng của QTDND, chất lượng tài sản, khả năng sinh lợi của QTDND Thông qua giám sát, yêu cầu các QTDND có biện pháp đảm bảo duy trì các tỷ lệ an toàn trong hoạt động, nâng cao chất lượng tài sản Có Hiện nay hoạt động giám sát từ xa được tiến hành hàng tháng và được thực hiện qua mạng máy tính, kết quả hoạt động giám sát từ xa còn có tác dụng hỗ trợ tốt để Thanh tra Ngân hàng thực hiện công tác thanh tra tại chỗ
- Công tác kiểm soát đặc biệt đối với quỹ tín dụng được thực hiện nghiêm túc, tạo điều kiện để Ngân hàng Nhà nước xử lý nghiêm các vi phạm và các cá nhân có liên quan nhằm tăng cường tính pháp chế xã hội chủ nghĩa
* Về công tác định hướng, hỗ trợ hoạt động cho các QTDND
Ngân hàng Nhà nước giữ vai trò quan trọng trong việc tạo điều kiện, định hướng và hỗ trợ hoạt động cho các QTDND Dưới sự chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước, cuối năm 2005 đã thành lập Hiệp hội QTDND, nhằm liên kết, đại diện và bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) hội viên, hỗ trợ nhau hoạt động hiệu quả, góp phần đảm bảo cho hệ thống QTDND hoạt động an toàn và phát triển bền vững
Nhằm củng cố nhiệm vụ của QTDTW trong việc điều hòa vốn trong hệ thống, cho vay đối với các QTDND cơ sở trên địa bàn đồng thời đảm bảo khả năng chi trả cho các QTDND gặp khó khăn, Ngân hàng Nhà nước quy định về sử dụng vốn của QTDTW như sau: bảo đảm ưu tiên đáp ứng nhu cầu vay vốn hợp lý của các QTDND
cơ sở thành viên; việc cho vay đối tượng khác, tức ngoài hệ thống không được vượt quá 50% tổng nguồn vốn hoạt động
Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước còn thực hiện hỗ trợ QTDNDTW thông qua hình thức tái cấp vốn với thời hạn phù hợp để Quỹ trung ương hỗ trợ thanh khoản cho Quỹ cơ sở Trong trường hợp đặc biệt, khi QTDTW không có khả năng đáp ứng nhu cầu về vốn cho các QTDND cơ sở trên địa bàn, thực hiện ủy quyền của Thống đốc, Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố trực tiếp thực hiện nghiệp vụ cho vay tái cấp vốn đối với QTDND cơ sở, nhằm hỗ trợ các quỹ đảm bảo khả năng thanh toán, đưa hoạt động của quỹ an toàn và ổn định Hoạt động tái cấp vốn của Ngân hàng Nhà nước đối với các QTDND nhằm mục đích đảm bảo vốn khả dụng,
sự vận hành trôi chảy, hiệu quả của hệ thống và để thực hiện trách nhiệm của mình
Trang 39với tư cách là “Người cho vay cuối cùng”
* Về công tác đào tạo, hướng dẫn nghiệp vụ
Năng lực và trình độ cán bộ thấp sẽ không thể giúp QTDND một mặt hoạt động đúng theo quy định của pháp luật và mặt khác vươn lên cạnh tranh so với các ngân hàng thương mại khác được Con người là yếu tố quyết định mọi thành công, vì thế QTDND sẽ bị tụt hậu nhanh chóng nếu không có được đội ngũ cán bộ có năng lực, trình độ Bởi vậy, Ngân hàng Nhà nước luôn quan tâm đến việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ QTDND Việc hướng dẫn nghiệp vụ, đào tạo cán bộ QTDND được thực hiện một cách bài bản và có hệ thống
- Thông qua Hiệp hội QTDND, hỗ trợ tư vấn và cung cấp các phần mềm về công nghệ thông tin cho các QTDND, thông qua hoạt động tín dụng, đã tư vấn về quản lý rủi ro tín dụng, rủi ro về vốn, rủi ro thanh khoản…
- Trong những năm qua, nhiệm vụ đào tạo chuẩn hóa cán bộ của hệ thống QTDND theo Quyết định số 31/2006/QĐ-NHNN ngày 18/7/2006 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước do Ngân hàng Nhà nước (Vụ Các TCTD Hợp tác) lên kế hoạch triển khai thực hiện đó, Hiệp hội QTDND chịu trách nhiệm phối hợp với các, đến đầu quý 3/2009 đã chính thức được chuyển giao cho Hiệp hội QTDND Việt Nam Theo đơn vị chức năng thuộc Ngân hàng Nhà nước thực hiện xây dựng chương trình cụ thể về công tác hướng dẫn nghiệp vụ, đào tạo, đào tạo lại cán bộ làm việc trong hệ thống QTDND nhằm nâng cao kiến thức về nghiệp vụ ngân hàng, thường xuyên bổ túc các nghiệp vụ mới về chuyên môn, nghiệp vụ, công nghệ, đối ngoại…để đội ngũ cán bộ đủ trình độ triển khai các nghiệp vụ mới, đáp ứng yêu cầu phát triển của khoa học công nghệ và hội nhập Từ năm 1999 đến nay, công tác đào tạo nghiệp vụ QTDND được tiến hành một cách thường xuyên, liên tục với hình thức Nhà nước hỗ trợ hoàn toàn kinh phí đào tạo (giai đoạn từ 1999 đến 2002) và hỗ trợ một phần kinh phí (giai đoạn từ 2003 đến 2007) Đội ngũ cán bộ QTDND được đào tạo đã phát huy tốt kiến thức chuyên môn được trang bị, góp phần tích cực vào việc nâng cao chất lượng hoạt động, đáp ứng yêu cầu của Chỉ thị 57/CT-TW ngày 10/10/2000 của Bộ Chính trị về củng cố, hoàn thiện và phát triển hệ thống QTDND
Từ năm 2008, để các QTDND dần dần độc lập và tiếp cận thị trường, không ỷ lại vào Ngân hàng Nhà nước, công tác hướng dẫn, đào tạo nghiệp vụ QTDND được
Trang 40thực hiện căn cứ vào yêu cầu đào tạo nghiệp vụ mà các QTDND đăng ký, Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố làm đầu mối tổng hợp nhu cầu gửi Vụ Các
Tổ chức tín dụng Hợp tác (hiện nay là Hiệp hội Quỹ tín dụng nhân dân) để có kế hoạch tổ chức các lớp đào tạo Theo đó, các Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố chịu trách nhiệm phối hợp với Hiệp hội Quỹ tín dụng nhân dân, Học viện ngân hàng (phía Bắc), Đại học Ngân hàng thành phố Hồ Chí Minh (phía Nam) tổ chức các lớp đào tạo cán bộ cho QTDND theo kế hoạch được giao
- Các Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố làm đầu mối tham mưu cho UBND các tỉnh, thành phố xây dựng chiến lược quy hoạch, đào tạo, sử dụng và quản lý cán bộ QTDND nhằm thực hiện tiêu chuẩn hóa các chức danh chủ chốt như Chủ tịch Hội đồng quản trị, Giám đốc điều hành, Kế toán trưởng, Trưởng ban kiểm soát và cán bộ nghiệp vụ của QTDND, bảo đảm tuân thủ các tiêu chuẩn về phẩm chất, trình độ chuyên môn, năng lực quản lý, điều hành theo quy định của Ngân hàng Nhà nước
* Về công tác thông tin báo cáo
Qua nhiều giai đoạn đổi mới, cải tiến, hệ thống mẫu biểu báo cáo đã có xu hướng gọn nhẹ hơn, đã loại bỏ được nhiều chỉ tiêu báo cáo thống kê trùng lặp, vì vậy giảm được số lượng chỉ tiêu báo cáo mà các QTDND phải gửi đến Ngân hàng Nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi cho việc cung cấp thông tin của các đơn vị Nếu như trước đây, số lượng chỉ tiêu báo cáo mà các đơn vị phải gửi cho Ngân hàng Nhà nước các cấp là hơn 32.000 chỉ tiêu, thì theo chế độ thông tin báo cáo hiện hành (thực hiện theo Thông tư 35/2015/TT-NHNN ngày 31/12/2015, Ngân hàng Nhà nước chỉ còn quy định khoảng 1.000 mã chỉ tiêu báo cáo Tuy số lượng chỉ tiêu báo cáo giảm nhiều nhưng vẫn đảm bảo thu thập được các thông tin cơ bản, phản ánh khá đầy đủ các mặt hoạt động của các QTDND, đáp ứng yêu cầu về chỉ đạo, điều hành của Ngân hàng Nhà nước
Với sự nỗ lực và chủ động khắc phục khó khăn về tổ chức cơ sở dữ liệu, ứng dụng công nghệ tin học của Ngân hàng Nhà nước và các QTDND, công tác thống kê
đã có bước đổi mới cơ bản, giảm tải phần lớn các thao tác thủ công trong công tác báo cáo thống kê, đồng thời có tính bảo mật cao
Các quy định về báo cáo công tác định kỳ được quy định rõ ràng về nội dung