1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế việt nam dưới tác động của các yếu tố chất lượng thể chế và môi trường kinh tế vĩ mô

105 208 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều này một phần là do nền kinh tế đã sử dụng được tổng hoà nhiều nguồn lực như huy động vốn từ thuế, từ trái phiếu chính phủ, từ vay nợ nước ngoài,… Trong đó, không thể không kể đến ng

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THANH NAM

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THANH NAM

Đề tài:

TÁC ĐỘNG CỦA FDI ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ CHẤT LƯỢNG THỂ CHẾ VÀ MÔI TRƯỜNG

KINH TẾ VĨ MÔ

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Chuyên ngành: Tài chính – ngân hàng

Mã số : 60 34 02 01

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS.ĐẶNG VĂN DÂN

TP.HỒ CHÍ MINH-NĂM 2018

Trang 3

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Trải qua hơn 30 năm đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã có được những kết quả rất tích cực khi kinh tế vĩ mô luôn ổn định và nằm trong số các quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh trên thế giới Điều này một phần là do nền kinh tế đã sử dụng được tổng hoà nhiều nguồn lực như huy động vốn từ thuế, từ trái phiếu chính phủ, từ vay nợ nước ngoài,… Trong đó, không thể không kể đến nguồn lực từ khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Có thể nói, nền kinh tế Việt Nam chịu rất nhiều ảnh hưởng

từ nguồn vốn này khi mà nguồn vốn FDI có tác động lan toả rất lớn đến nền kinh tế Việt Nam, từ tác động tổng thể, gián tiếp tới trực tiếp, tạo ra công nghệ, năng suất lao động, việc làm, xuất khẩu, thu ngân sách, GDP,… Cụ thể doanh nghiệp FDI theo thống

kê gần nhất năm 2017 của tổng cục thống kê, chiếm tới 70% kim ngạch xuất khẩu, đóng góp 18% thu ngân sách, và 20% GDP Tuy nhiên, liệu nền kinh tế Việt Nam đã hấp thụ được những điểm tích cực từ nguồn vốn này hay chưa? Nguồn vốn này liệu có mang đến những rủi ro hay những mặt tiêu cực gì cho nền kinh tế hay không? Và nền kinh tế vĩ mô cùng với thể chế của Việt Nam có tác động gì tới mối quan hệ giữa nguồn vốn FDI và tang trưởng kinh tế? Những thắc mắc trên hiện vẫn đang là vấn đề gây nhiều tranh cãi của các chuyên gia

Bằng sự kết hợp giữa phương pháp định tính và phương pháp định lượng bao gồm kiểm định sự phù hợp của mô hình nghiên cứu bằng phương pháp bình phương tối thiểu tổng quát để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề nghiên cứu, nghiên cứu mong muốn mang đến nhận định cá nhân về đề tài nghiên cứu Từ đó đề tài cũng mong muốn mang đến những ý kiến đóng góp thêm cơ sở để Việt Nam cải thiện hơn nữa chất lượng thể chế và ổn định hơn nữa kinh tế vĩ mô để phục vụ tăng trưởng kinh tế

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này chưa từng được trình nộp để lấy học vị thạc sĩ tại bất cứ một trường đại học nào Luận văn này là công trình nghiên cứu riêng của tác giả, kết quả nghiên cứu là trung thực, trong đó không có các nội dung đã được công bố trước đây hoặc các nội dung do người khác thực hiện ngoại trừ các trích dẫn được dẫn nguồn đầy đủ trong luận văn

Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2018

Tác giả luận văn

NGUYỄN THANH NAM

Trang 5

Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ từ các nguồn dữ liệu từ World Bank, các tạp chí và các nghiên cứu của các học giả đã giúp tôi thu thập số liệu, nghiên cứu hoàn thiện luận văn

Bên cạnh sự hợp tác giúp đỡ trong công việc tôi không thể quên sự động viên của gia đình và bạn bè trong quá trình học tập và nghiên cứu thực tế

Dù đã cố gắng nhưng trình độ bản thân còn hạn chế, trong báo cáo của tôi sẽ không tránh khỏi thiếu sót, kính mong các thầy, cô giáo, các bạn sinh viên đóng góp ý kiến để nội dung nghiên cứu này hoàn thiện hơn

Xin trân trọng cảm ơn!

Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2018

Tác giả luận văn

NGUYỄN THANH NAM

Trang 6

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

PHẦN MỞ ĐẦU i

1 Giới thiệu i

1.1 Đặt vấn đề i

1.2 Tính cấp thiết của đề tài: iii

2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI iv

2.1 Mục tiêu tổng quát: iv

2.2 Mục tiêu cụ thể: v

3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU v

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU vi

5 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU vi

6 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI vii

7 BỐ CỤC DỰ KIẾN CỦA LUẬN VĂN vii

CHƯƠNG 1: MỐI QUAN HỆ GIỮA DÒNG VỐN FDI VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM 1

1.1 Các khái niệm 1

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài 1

1.1.1.1 Khái niệm đầu tư (Investment) 1

1.1.1.2 Đầu tư nước ngoài 2

1.1.1.4 Các hình thức của đầu tư trực tiếp nước ngoài 5

1.1.2 Tăng trưởng kinh tế 12

Trang 7

1.1.2.1 Khái niệm về Tăng trưởng kinh tế 12

1.1.3 Tác động của FDI đối với sự phát triển kinh tế -xã hội 14

1.1.3.1 Tác động đối với nước đi đầu tư 14

1.1.3.2 Đối với các nước tiếp nhận đầu tư 14

1.2 Các lý thuyết về tăng trưởng kinh tế 23

1.2.1 Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của K.Marx 24

1.2.2 Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của phái tân cổ điển 25

1.2.3 Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của Solow 25

1.2.4 Lý thuyết cổ điển của Adam Smith và Malthus 26

1.2.5 Lý thuyết tăng trưởng của trường phái Keynes (Mô hình Harrod-Domar) 27

1.2.6 Các mô hình tăng trưởng nội sinh 27

1.3 Các nghiên cứu trước đây về đề tài nghiên cứu 29

CHƯƠNG 2: DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

2.1 Quy trình nghiên cứu 33

2.2 Mô hình và các biến nghiên cứu 33

CHƯƠNG 3: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 37

3.1 Thực trạng thu hút và sử dụng FDI tại việt nam giai đoạn 2005 – 2016 37

3.1.1 Quy mô vốn đăng ký 37

3.1.2 Quy mô vốn FDI thực hiện 38

3.1.3 Quy mô vốn dự án FDI 40

3.1.4 Cơ cấu FDI 41

3.1.4.1 Cơ cấu FDI theo địa phương, vùng kinh tế 41

Trang 8

3.1.4.2 Về cơ cấu FDI theo ngành, lĩnh vực 43

3.1.5 Tác động của FDI vào tăng trưởng kinh tế 47

3.3 Kết quả nghiên cứu 47

3.3.1 Mô tả mô hình 47

3.3.2 Kiểm định tính dừng, xác định độ trễ tối ưu 48

3.3.3 Kiểm định quan hệ nhân quả Granger 50

3.3.4 Ước lượng mô hình VAR 51

3.3.5 Phân tích phân rã phương sai 53

CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 57

4.1 Kết luận 60

4.2 Kiến nghị 62

4.2.1 Tiếp tục đổi mới tư duy và đổi mới cách tiếp cận trong xây dựng chính sách đầu tư nước ngoài 62

4.2.2 Cải thiện môi trường đầu tư, tăng sự hấp dẫn 62

4.2.3 Tận dụng ưu thế của nguồn vốn FDI cho các doanh nghiệp trong nước 64

4.2.4 Tận dụng tối đa thế mạnh về R&D 66

TÀI LIỆU THAM KHẢO 68

PHỤ LỤC 1 70

Trang 9

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài

UNCTAD Uỷ ban về thương mại và phát triển của Liên Hợp Quốc ODF Tài trợ phát triển chính thức

ODA Viện trợ phát triển chính thức

IMF Quỹ tiền tệ quốc tế

GDP Tổng sản phẩm quốc nội

GNP Tổng sản phẩm quốc dân

DNNN Doanh nghiệp nhà nước

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.2 Tỷ trọng vốn đăng ký của 10 địa phương đứng đầu

Bảng 3.3 So sánh cơ cấu FDI theo lĩnh vực năm 2005, 2010,

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1 Diễn biến nguồn vốn FDI qua các năm 30 Hình 3.2 Tỷ lệ giải ngân vốn FDI qua các năm 31 Hình 3.3 Quy mô vốn dự án đăng ký, thực hiện, và tỷ lệ vốn

Hình 3.4 Đóng góp của khu vực FDI trong tổng GDP cả

Trang 12

từ phát hành trái phiếu chính phủ, từ vay mượn nước ngoài,… Trong đó, có một nguồn vốn ngày càng trở nên quan trọng mà nó luôn là đề tài tranh cãi của các chuyên gia về tính hiệu quả của nó cũng như những tác động có lợi và bất lợi của

nó đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia Đó là nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài hay còn gọi là nguồn vốn FDI

Mặc cho các quan điểm trái chiều, nguồn vốn FDI toàn cầu đã có nhiều biến động trong các năm trở lại đây Cụ thể, dòng vốn FDI toàn cầu đạt đỉnh năm

2007, sau đó sụt giảm mạnh mẽ trong cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính năm 2008-2009 Trải qua các giai đoạn tăng giảm, dòng vốn FDI đã tăng trưởng mạnh

mẽ trở lại trong năm 2015 và giảm nhẹ trong năm 2016 Theo dự đoán của UNCTAD, dòng vốn FDI toàn cầu sẽ tăng trưởng trở lại trong năm 2017 và vượt ngưỡng 1,8 nghìn tỷ USD trong năm 2018

Ngoài ra, dòng vốn FDI có sự tăng trưởng khác nhau giữa các khu vực kinh tế Cụ thể, từ năm 2013 đến năm 2015, dòng vốn FDI liên tục chạy mạnh vào các quốc gia châu Á, châu Âu và bắc Mỹ trong khi giảm ở các khu vực còn lại Trong đó, đến năm 2015, Châu Á vẫn là điểm đến của dòng vốn FDI toàn cầu (chiếm đến 31%), châu Âu chiếm 29% và Bắc Mỹ chiếm 25% Cụ thể hơn, ta cùng xem xét danh sách các quốc gia có nguồn vốn FDI chảy vào nhiều nhất thế giới, cụ thể:

Trang 14

iii

Về lý thuyết, nhiều chuyên gia ủng hộ quan điểm này là do khác với các dòng vốn khác, dòng vốn FDI không những mang đến nguồn vốn dồi dào mà còn tác động tích cực đến năng suất thông qua chuyển giao công nghệ và kinh nghiệm quản lý Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu lại cho rằng bên cạnh các yếu tố có lợi, dòng vốn FDI vẫn mang lại các yếu tố bất lợi cho nền kinh tế, trong khi nhiều nghiên cứu khác lại cho rằng không có mối quan hệ rõ ràng giữa nguồn vốn này với nền kinh tế

Sự mẫu thuẫn của nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã khiến các học giả thận trọng hơn khi đưa ra các kết luận về mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam khi Việt Nam là một trong những quốc gia châu Á điển hình mà tăng trưởng kinh tế từ khi giành độc lập chịu nhiều ảnh hưởng từ nguồn vốn FDI Vậy nguồn vốn FDI đã mang lại cho Việt Nam những lợi ích gì và liệu chúng ta đã xây dựng được thể chế và môi trường kinh tế vĩ mô phù hợp để hấp thụ được tốt nhất những gì mà nguồn vốn này mang lại hay chưa?

Để làm rõ hơn vấn đề này cũng như đưa ra nhận định cá nhân, tôi đã chọn

đề tài “Tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam dưới tác động của các yếu tố chất lượng thể chế và môi trường kinh tế vĩ mô”

1.2 Tính cấp thiết của đề tài:

Hiện vẫn chưa có nghiên cứu nào có thể đưa ra kết luận cuối cùng về ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực của dòng vốn FDI đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia Các kết quả nghiên cứu cho các nước khác nhau thường không giống nhau cho dù sử dụng cùng một kỹ thuật ước lượng trên dữ liệu tương tự trong một khoảng thời gian tương tự Do đó, tồn tại các điểm khác nhau về tình hình kinh tế và chính trị giữa các nước làm ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu

Ngày nay, khi toàn cầu hóa đã, đang và sẽ là xu hướng của nền kinh tế thế giới, các dòng vốn của nền kinh tế được tự do chuyển dịch hơn mang lại tiềm năng tăng trưởng to lớn cho các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam Việc nhìn nhận ảnh hưởng của dòng vốn FDI này sẽ mang tính quyết định trong việc thay đổi chất lượng thể chế và môi trường kinh

tế vĩ mô để có thể nhận được các tác động tích cực của dòng vốn này đến nền

Trang 15

iv

kinh tế, phục vụ cho tăng trưởng Việt Nam hiện nay là quốc gia đang có tốc độ tăng trưởng khá, điều này là nhờ công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Chính phủ Từ sau giải phóng đến nay, Chính phủ Việt Nam đã có nhiều thay đổi

về thể chế, chính sách và cải cách kinh tế vĩ mô, trong đó luôn thể hiện quan điểm thu hút thật nhiều các nguồn vốn FDI phục vụ cho tăng trưởng kinh tế, chuyển giao công nghệ Do đó, việc xem xét mối quan hệ giữa dòng vốn FDI và tăng trưởng kinh tế dưới tác động của các yếu tố chất lượng thể chế và môi trường kinh tế vĩ mô là một nghiên cứu cần thiết để có những nhìn nhận cụ thể hơn về một yếu tố quan trọng luôn ảnh hưởng trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam

2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

2.1 Mục tiêu tổng quát:

Mục tiêu tổng quát của đề tài là nhằm mang đến nhận định cá nhân về quan điểm liệu nguồn vốn FDI có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam hay không và các yếu tố chất lượng thể chế và môi trường kinh tế vĩ

mô có ảnh hưởng như thế nào để việc nền kinh tế Việt Nam có thể hấp thụ được những lợi ích từ nguồn vốn FDI mang lại Từ đó, đề tài cũng đưa ra những gợi ý

về giải pháp cải thiện chất lượng thể chế và môi trường kinh tế vĩ mô của Việt Nam để có thể thu hút nhiều hơn nữa các nguồn vốn FDI nhằm phát triển kinh tế

Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế là một trong những vấn đề đáng chú ý nhất đối với Việt Nam trong năm 2016 vừa qua và cả năm 2017 này Năm 2016, kinh tế Việt Nam đạt mức tăng trưởng 6,21% (thấp hơn mục tiêu là 6,7%) là do những hậu quả của thiên tai hạn mặn và thảm họa môi trường Đến năm 2017, kinh tế Việt Nam tăng trưởng vượt mọi dự báo, đạt 6,81% Trong đó, kinh tế Việt Nam năm 2017 tiếp tục chủ yếu dựa vào dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng xuất khẩu dựa trên năng lực sản xuất của khu vực FDI Lĩnh vực ngành nghề đóng góp lớn cho tăng trưởng sẽ là sản xuất công nghiệp và chế biến chế tạo, mà cả hai ngành này đều do khối FDI nắm giữ phần lớn

Do đó, chúng ta dễ dàng nhận thấy tầm quan trọng to lớn mà nguồn vốn FDI ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam Nó cho thấy, mô hình tăng

Trang 16

v

trưởng chủ yếu dựa vào đầu tư, xuất khẩu và thâm dụng lao động giá thành rẻ đã

ăn quá sâu vào nền kinh tế Việt Nam khiến cho chúng ta vẫn chưa tận dụng hết được những lợi ích mà nguồn vốn FDI mang lại Điều đó được thể hiện trong nhiều nghiên cứu của các chuyên gia về tái cơ cấu nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam Trong đó, một trong các yếu tố quan trọng nhất cần cải thiện đó là chất lượng thể chế và môi trường kinh tế vĩ mô 2.2 Mục tiêu cụ thể:

Để làm rõ được mục tiêu tổng quát, đề tài sẽ thực hiện chọn mẫu và nghiên cứu tại Việt Nam trong thời gian từ năm 1997 - 2016 Đề tài cũng phân tích chất lượng thể chế và môi trường kinh tế vĩ mô của Việt Nam qua các giai đoạn khác nhau nhằm tìm hiểu sự khác biệt về tăng trưởng kinh tế dưới tác động của nguồn vốn FDI

Việt Nam bắt đầu thu hút nguồn vốn FDI từ năm 1988 với xuất phát điểm thấp, có nguồn lực nhỏ bé và yếu kém Thu hút FDI không chỉ nhằm bổ sung nguồn vốn cho đầu tư phát triển, mà còn nhằm mục đích tiếp nhận, chuyển giao công nghệ, kinh nghiệm quản lý tiên tiến, kỹ năng kinh doanh quốc tế, mở rộng thị trường, tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người lao động Khi xem xét FDI dưới các góc độ khác nhau, các nhà kinh tế và quản lý có những ý kiến trái chiều khi nhận định về giá trị của nó đối với sự phát triển của Việt Nam Do đó, kết quả của nghiên cứu có thể mang đến một vài gợi ý cho bài toán tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong thời gian tới

3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

Trên cơ sở mục tiêu nghiên cứu nêu trên, nghiên cứu hướng đến trả lời 3 câu hỏi cụ thể sau:

- Nguồn vốn FDI có ảnh hưởng như thế nào đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam?

- Các nhân tố điều kiện về chất lượng thể chế và môi trường kinh tế vĩ mô

có ảnh hưởng như thế nào đến tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam?

Trang 17

vi

- Liên hệ và rút ra bài học kinh nghiệm đối với nền kinh tế Việt Nam như thế nào?

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Để có những nhận định đầy đủ nhất về những ảnh hưởng của nguồn vốn FDI đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam, tôi đã chọn mẫu các yếu tố kinh tế tại Việt Nam Thời gian nghiên cứu là từ năm 1997-2016, là giai đoạn mà Việt Nam

đã trải qua những cải tiến về chất lượng thể chế và ổn định kinh tế vĩ mô nhưng dẫn đến những kết quả tăng trưởng khác nhau Hơn nữa, với việc tỷ trọng thu hút FDI của Việt Nam liên tục tăng và hiện là một trong những nước dẫn đầu trong việc thu hút nguồn vốn FDI, tôi mong muốn mang đến một kết quả xác thực và đầy đủ nhất về đề tài nghiên cứu

5 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Đầu tiên, nghiên cứu sẽ làm rõ các khái niệm về tăng trưởng kinh tế, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), thể chế và môi trường kinh tế vĩ mô Tiếp đó, nghiên cứu sẽ phân tích các lý thuyết về tăng trưởng kinh tế của các nghiên cứu trước đây để làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia Đồng thời, nghiên cứu cũng phân tích và so sánh các kết quả của các nghiên cứu trước đây của cùng chủ đề nghiên cứu, từ đó tìm ra được hướng đi của nghiên cứu lần này

Đi sâu hơn về đề tài, nghiên cứu sẽ tập trung phân tích tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam Thời gian nghiên cứu là từ năm 1997-2016 Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng phân tích sự khác biệt và những ảnh hưởng của dòng vốn này đến tăng trưởng kinh tế qua các thời kỳ Hơn thế nữa, nghiên cứu cũng phân tích

sự khác nhau giữa chất lượng thể chế và môi trường kinh tế vĩ mô của Việt Nam qua các giai đoạn, từ đó tìm ra tác động của chúng đến mối quan hệ giữa dòng vốn FDI và tăng trưởng kinh tế

Cuối cùng, nghiên cứu rút ra kết luận của đề tài nghiên cứu, chỉ ra những

ưu điểm và nhược điểm của đề tài trên cơ sở so sánh với các nghiên cứu trước

đó, từ đó gợi mở cho các nghiên cứu tiếp theo

Trang 18

vii

6 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI

Luận văn sẽ làm rõ hơn tầm quan trọng của các nguồn vốn FDI đối với tăng trưởng kinh tế của Việt Nam cùng những nhân tố tác động tới nguồn vốn này Đồng thời, đề tài cũng đóng góp thêm các dữ liệu thực tế về khả năng hấp thụ nguồn vốn FDI của Việt Nam trên các tiêu chí về chất lượng thể chế và môi trường kinh tế vĩ mô khác nhau trong khoảng thời gian nghiên cứu Từ đó, đóng góp thêm luận điểm cá nhân về đề tài nghiên cứu để từ đó cung cấp thêm cơ sở

để Việt Nam có thêm động lực để cải thiện hơn nữa chất lượng thể chế và môi trường kinh tế vĩ mô của mình để từ đó nâng cao năng lực thu hút nguồn vốn FDI cũng như tăng khả năng hấp thụ những lợi ích của nguồn vốn này để tăng trưởng vượt bậc về kinh tế

7 BỐ CỤC DỰ KIẾN CỦA LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu và kết luận thì đề tài gồm các chương sau:

- Chương 1: Mối quan hệ giữa dòng vốn FDI và tăng trưởng kinh tế Việt Nam

- Chương 2: Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu

- Chương 3: Nội dung và kết quả nghiên cứu

- Chương 4: Kết luận về đề tài nghiên cứu

Trang 19

CHƯƠNG 1: MỐI QUAN HỆ GIỮA DÒNG VỐN FDI VÀ

TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM

1.1 Các khái niệm

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.1.1.1 Khái niệm đầu tư (Investment)

Đầu tư nói chung là sự hi sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó Như vậy, mục tiêu của mọi công cuộc đầu tư là đạt được kết quả lớn hơn so với những hi sinh về nguồn lực mà người đầu tư phải gánh chịu khi tiến hành đầu tư Các nguồn lực phải hi sinh đó

có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động trí tuệ Những kết quả sẽ đạt được có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính (tiền vốn), tài sản vật chất (nhà máy, đường sá, bệnh viện, trường học…), tài sản trí tuệ (trình độ văn hóa, chuyên môn, quản lí, khoa học kĩ thuật ) và nguồn nhân lực có đủ điều kiện làm việc với năng suất lao động cao hơn trong nền sản xuất xã hội

Người bỏ vốn đầu tư được gọi là nhà đầu tư hay chủ đầu tư, chủ đầu tư có thể là cá nhân, tổ chức hay nhà nước Nếu phân loại đầu tư theo quan hệ quản lý của chủ đầu tư, thì có thể chia làm hai loại đầu tư:

“Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư” (Luật Đầu tư số 67/2014/QH13 của Việt Nam)

“Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư” (Luật Đầu tư số 67/2014/QH13 của Việt Nam)

Đứng trên góc độ của toàn nền kinh tế, vốn đầu tư bao gồm nguồn vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn đầu tư nước ngoài

Trang 20

* Đầu tư trong nước là việc nhà đầu tư trong nước bỏ vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư tại Việt Nam (Luật Đầu

tư số 67/2014/QH13 của Việt Nam)

* Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư (Luật Đầu tư số 67/2014/QH13 của Việt Nam)

1.1.1.2 Cơ sở lý luận về đầu tư nước ngoài

 Khái niệm đầu tư nước ngoài

Đầu tư nước ngoài là hình thức di chuyển vốn từ nước này sang nước khác nhằm mục đích kiếm lời Đầu tư nước ngoài có một số đặc điểm khác với đầu tư nội địa đó là:

Chủ đầu tư có quốc tịch nước ngoài, điều này sẽ có liên quan đến các quy định về xuất nhập cảnh, về phong tục tập quán, ngôn ngữ ;

Các yếu tố đầu tư được di chuyển ra khỏi biên giới, đặc điểm này liên quan đến các chính sách, pháp luật về hải quan và cước phí vận chuyển;

Vốn đầu tư có thể là tiền tệ, vật tư hàng hóa, tư liệu sản xuất, tài nguyên thiên nhiên nhưng được tính bằng ngoại tệ, đặc điểm này liên quan đến chính sách tài chính và tỷ giá hối đoái của các nước tham gia đầu tư

 Hình thức biểu hiện của đầu tư nước ngoài

- Tài trợ phát triển chính thức (ODF- Official Development Finance) Nguồn vốn này bao gồm Viện trợ phát triển chính thức (ODA) và các hình thức viện trợ khác, trong đó ODA chiếm tỉ trọng chủ yếu Vốn ODA là nguồn vốn phát triển dưới dạng viện trợ không hoàn lại hay lãi suất ưu đãi và thường đi kèm theo điều kiện về chính trị

- Nguồn tín dụng từ các ngân hàng thương mại quốc tế

Trang 21

- Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment) là nguồn vốn đầu tư khá phổ biến hiện nay mà nước ngoài (có thể là tư nhân, tổ chức, hay nhà nước hoặc là sự phối hợp) đầu tư vào một quốc gia nào đó nhằm mục đích kiếm lợi nhuận là chủ yếu, thông qua hoạt động sản xuất kinh doanh ngay tại nước nhận đầu tư

- Nguồn huy động qua thị trường vốn quốc tế

1.1.1.3 Cơ sở lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)

 Khái niệm

Có nhiều khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài Theo Quỹ Tiền tệ quốc

tế (IMF): “FDI là đầu tư có lợi ích lâu dài của một doanh nghiệp tại một nước khác (nước nhận đầu tư), không phải nước mà doanh nghiệp đang hoạt động (nước đi đầu tư) với mục đích quản lý một cách có hiệu quả doanh nghiệp”

Theo Uỷ ban Thương mại và Phát triển của Liên hiệp quốc (UNCTAD) thì: “FDI là đầu tư có mối liên hệ lợi ích và sự kiểm soát lâu dài của một pháp nhân hoặc thể nhân (nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài hoặc công ty mẹ) đối với một doanh nghiệp ở một nền kinh tế khác (doanh nghiệp FDI, hoặc chi nhánh nước ngoài hoặc chi nhánh doanh nghiệp)”

FDI là một loại hình đầu tư quốc tế, trong đó chủ đầu tư của một nền kinh

tế đóng góp một số vốn hoặc tài sản đủ lớn vào một nền kinh tế khác để sở hữu hoặc điều hành, kiểm soát đối tượng họ bỏ vốn đầu tư nhằm mục đích lợi nhuận hoặc các lợi ích kinh tế khác

FDI là sự di chuyển vốn, tài sản, công nghệ hoặc bất kỳ tài sản nào từ nước đi đầu tư sang nước tiếp nhận đầu tư để thành lập hoặc kiểm soát doanh nghiệp nhằm mục đích kinh doanh có lãi

Luật Đầu tư 2005 của Việt Nam cũng có định nghĩa về FDI như sau: Đầu

tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền

Trang 22

hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư Như vậy, FDI xét theo định nghĩa pháp lý của Việt Nam, là hoạt động bỏ vốn đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài vào lãnh thổ Việt Nam với điều kiện họ phải tham gia quản lý hoạt động đầu tư đó

Tiêu thức phân biệt FDI với hoạt động đầu tư nội địa thường tập trung vào các đặc trưng sau:

- Về vốn góp, các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng một lượng vốn tối thiểu theo quy định của mỗi nước nhận đầu tư để có quyền trực tiếp tham gia điều phối, quản lý quá trình sản xuất kinh doanh;

- Về quyền điều hành quản lý, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phụ thuộc vào mức vốn góp, nếu nhà đầu tư nước ngoài đầu tư 100% vốn thì quyền hành hoàn toàn thuộc về nhà đầu tư nước ngoài, có thể trực tiếp hoặc thuê người quản lý;

- Về phần chia lợi nhuận, dựa trên kết quả sản xuất kinh doanh, lãi lỗ, đều được phân chia theo tỷ lệ vốn góp trong vốn pháp định sau khi đã trừ các khoản đóng góp

Từ những quan niệm trên có thể hiểu FDI là sự di chuyển vốn quốc tế dưới hình thức vốn sản xuất thông qua việc nhà đầu tư ở một nước đưa vốn vào một nước khác để đầu tư, đồng thời trực tiếp tham gia quản lý, điều hành, tổ chức sản xuất, tận dụng ưu thế về vốn, trình độ công nghệ, kinh nghiệm quản lý nhằm mục đích thu lợi nhuận

 Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài

Đầu tư trực tiếp nước ngoài có những đặc điểm chủ yếu sau:

- Gắn liền với việc di chuyển vốn đầu tư, tức là tiền và các loại tài sản khác giữa các quốc gia, hệ quả là làm tăng lượng tiền và tài sản của nền kinh tế nước tiếp nhận đầu tư và làm giảm lượng tiền và tài sản nước đi đầu tư

Trang 23

- Được tiến hành thông qua việc bỏ vốn thành lập các doanh nghiệp mới (liên doanh hoặc sở hữu 100% vốn), hợp đồng hợp tác kinh doanh, mua lại các chi nhánh hoặc doanh nghiệp hiện có, mua cổ phiếu ở mức khống chế hoặc tiến hành các hoạt động hợp nhất và chuyển nhượng doanh nghiệp

- Nhà đầu tư nước ngoài là chủ sở hữu hoàn toàn vốn đầu tư hoặc cùng sở hữu vốn đầu tư với một tỷ lệ nhất định đủ mức tham gia quản lý trực tiếp hoạt động của doanh nghiệp

- Là hoạt động đầu tư của tư nhân, chịu sự điều tiết của các quan hệ thị trường trên quy mô toàn cầu, ít bị ảnh hưởng của các mối quan hệ chính trị giữa các nước, các chính phủ và mục tiêu cơ bản luôn là đạt lợi nhuận cao

- Nhà đầu tư trực tiếp kiểm soát và điều hành quá trình vận động của dòng vốn đầu tư

- FDI bao gồm hoạt động đầu tư từ nước ngoài vào trong nước và đầu tư

từ trong nước ra nước ngoài, do vậy bao gồm cả vốn di chuyển vào một nước và dòng vốn di chuyển ra khỏi nền kinh tế của nước đó

- FDI chủ yếu là do các công ty xuyên quốc gia thực hiện

Các đặc điểm nêu trên mang tính chất chung cho tất cả các hoạt động FDI trên toàn thế giới Đối với Việt Nam, quá trình tiếp nhận FDI diễn ra đã được 20 năm và những đặc điểm nêu trên cũng đã thể hiện rõ nét Chính những đặc điểm này đòi hỏi thể chế pháp lý, môi trường và chính sách thu hút FDI phải chú ý để vừa thực hiện mục tiêu thu hút đầu tư, vừa bảo đảm mối quan hệ cân đối giữa các kênh đầu tư

1.1.1.4 Các hình thức của đầu tư trực tiếp nước ngoài

Có nhiều tiêu thức để xác định hình thức FDI, về cơ bản là:

Thứ nhất, xét theo mục đích đầu tư, FDI được phân làm hai hoặc đầu tư theo chiều ngang và đầu tư theo chiều dọc

Trang 24

- Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo chiều ngang: là việc một công ty tiến hành đầu tư trực tiếp nước ngoài vào chính ngành sản xuất mà họ đang có lợi thế cạnh tranh một loại sản phẩm nào đó Với lợi thế này họ muốn tìm kiếm lợi nhuận cao hơn ở nước ngoài nên đã mở rộng và thôn tính thị trường nước ngoài Hình thức này thường dẫn đến cạnh tranh độc quyền mà Mỹ, Nhật Bản đang dẫn đầu việc đầu tư này ở các nước phát triển

- Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo chiều dọc: Với mục đích khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên và các yếu tố đầu vào rẻ như lao động, đất đai của các nước nhận đầu tư Các nhà đầu tư thường khai thác các lợi thế cạnh tranh đó

để hoàn thiện qua lắp ráp ở nước chủ nhà Sau đó các sản phẩm được bán trên thị trường quốc tế Đây là hình thức khá phổ biến của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại các nước đang phát triển

Thứ hai, xét về hình thức sở hữu, đầu tư trực tiếp nước ngoài thường có các hình thức sau:

Luật Đầu tư 2014 đã quy định 5 hình thức FDI cơ bản ở Việt Nam , các hình thức này cũng đã được thừa nhận rộng rãi trên thế giới Sau đây sẽ trình bày 5 hình thức này

a Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài

Hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là hình thức truyền thống

và phổ biến của FDI Với hình thức này, các nhà đầu tư, cùng với việc chú trọng khai thác những lợi thế của địa điểm đầu tư mới, đã nỗ lực tìm cách áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ, kinh nghiệm quản lý trong hoạt động kinh doanh để đạt hiệu quả cao nhất Hình thức này phổ biến ở quy mô đầu tư nhỏ nhưng cũng rất được các nhà đầu tư ưa thích đối với các dự án quy mô lớn Hiện nay, các công ty xuyên quốc gia thường đầu tư theo hình thức doanh nghiệp 100% vốn

Trang 25

nước ngoài và họ thường thành lập một công ty con của công ty mẹ xuyên quốc gia

Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài nhưng phải chịu sự kiểm soát của pháp luật nước sở tại (nước nhận đầu tư) Là một pháp nhân kinh tế của nước sở tại, doanh nghiệp phải được đầu

tư, thành lập và chịu sự quản lý nhà nước của nước sở tại Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tại nước chủ nhà, nhà đầu tư phải tự quản lý, tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh Về hình thức pháp lý, dưới hình thức này, theo Luật Doanh nghiệp 2005,

có các loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần…

Hình thức 100% vốn đầu tư nước ngoài có ưu điểm là nước chủ nhà không cần bỏ vốn, tránh được những rủi ro trong kinh doanh, thu ngay được tiền thuê đất, thuế, giải quyết việc làm cho người lao động Mặt khác, do độc lập về quyền sở hữu nên các nhà đầu tư nước ngoài chủ động đầu tư và để cạnh tranh,

họ thường đầu tư công nghệ mới, phương tiện kỹ thuật tiên tiến nhằm đạt hiệu quả kinh doanh cao, góp phần nâng cao trình độ tay nghề người lao động Tuy nhiên, nó có nhược điểm là nước chủ nhà khó tiếp nhận được kinh nghiệm quản

lý và công nghệ, khó kiểm soát được đối tác đầu tư nước ngoài và không có lợi nhuận

b Thành lập doanh nghiệp liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài

Đây là hình thức được sử dụng rộng rãi trên thế giới từ trước tới nay Hình thức này cũng rất phát triển ở Việt Nam, nhất là giai đoạn đầu thu hút FDI Doanh nghiệp liên doanh: đây là hình thức FDI, qua đó pháp nhân mới được thành lập gọi là doanh nghiệp liên doanh Doanh nghiệp mới này do hai hoặc

Trang 26

nhiều bên hợp tác thành lập tại nước chủ nhà trên cơ sở hợp đồng liên doanh Hình thức này có các đặc trưng: pháp nhân mới được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, có tư cách pháp nhân theo pháp luật của nước chủ nhà Mỗi bên tham gia vào doanh nghiệp liên doanh là một pháp nhân riêng Nhưng doanh nghiệp liên doanh là một pháp nhân độc lập với các bên tham gia Khi các bên đã đóng góp đủ số vốn đã quy định vào liên doanh thì dù một bên có phá sản, doanh nghiệp liên doanh vẫn tồn tại Mỗi bên liên doanh chịu trách nhiệm với bên kia, với doanh nghiệp liên doanh trong phạm vi phần vốn góp của mình vào vốn pháp định

Như vậy, hình thức doanh nghiệp liên doanh tạo nên pháp nhân đồng sở hữu nhưng địa điểm đầu tư phải ở nước sở tại Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp liên doanh phụ thuộc rất lớn vào môi trường kinh doanh của nước sở tại, bao gồm các yếu tố kinh tế, chính trị, mức độ hoàn thiện pháp luật, trình độ của các đối tác liên doanh của nước sở tại Hình thức doanh nghiệp liên doanh có những ưu điểm là góp phần giải quyết tình trạng thiếu vốn, nước sở tại tranh thủ được nguồn vốn lớn để phát triển kinh tế nhưng lại được chia sẻ rủi ro; có cơ hội

để đổi mới công nghệ, đa dạng hóa sản phẩm; tạo cơ hội cho người lao động có việc làm và học tập kinh nghiệm quản lý của nước ngoài; Nhà nước của nước sở tại dễ dàng hơn trong việc kiểm soát được đối tác nước ngoài Về phía nhà đầu

tư, hình thức này là công cụ để thâm nhập vào thị trường nước ngoài một cách hợp pháp và hiệu quả, tạo thị trường mới, góp phần tạo điều kiện cho nước sở tại tham gia hội nhập vào nền kinh tế quốc tế Tuy nhiên, hình thức này có nhược điểm là thường dễ xuất hiện mâu thuẫn trong điều hành, quản lý doanh nghiệp do các bên có thể có sự khác nhau về chế độ chính trị, phong tục tập quán, truyền thống, văn hóa, ngôn ngữ, luật pháp Nước sở tại thường rơi vào thế bất lợi do tỷ

Trang 27

lệ góp vốn thấp, năng lực, trình độ quản lý của cán bộ tham gia trong doanh nghiệp liên doanh yếu

c Đầu tư theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC)

Hợp đồng hợp tác kinh doanh là hình thức đầu tư được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập pháp nhân [luật đầu tư]

Hình thức đầu tư này có ưu điểm là giúp giải quyết tình trạng thiếu vốn, công nghệ; tạo thị trường mới, bảo đảm được quyền điều hành dự án của nước sở tại, thu lợi nhuận tương đối ổn định Tuy nhiên, nó có nhược điểm là nước sở tại không tiếp nhận được kinh nghiệm quản lý; công nghệ thường lạc hậu; chỉ thực hiện được đối với một số ít lĩnh vực dễ sinh lời như thăm dò dầu khí

Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh không thành lập pháp nhân riêng

và mọi hoạt động BCC phải dựa vào pháp nhân của nước sở tại Do đó, về phía nhà đầu tư, họ rất khó kiểm soát hiệu quả các hoạt động BCC Tuy nhiên, đây là hình thức đơn giản nhất, không đòi hỏi thủ tục pháp lý rườm rà nên thường được lựa chọn trong giai đoạn đầu khi các nước đang phát triển bắt đầu có chính sách thu hút FDI Khi các hình thức 100% vốn hoặc liên doanh phát triển, hình thức BCC có xu hướng giảm mạnh

d Hình thức hợp đồng BOT, BTO, BT

“ Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (gọi tắt là hợp đồng BOT) là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời hạn nhất định; hết thời hạn, nhà đầu tư chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho Nhà nước Việt Nam

“Hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh (gọi tắt là hợp đồng BTO) là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà

Trang 28

đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt Nam; Chính phủ dành cho nhà đầu

tư quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận”

“ Hợp đồng xây dựng - chuyển giao (sau đây gọi tắt là hợp đồng BT) là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt Nam; Chính phủ tạo điều kiện cho nhà đầu

tư thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hoặc thanh toán cho nhà đầu tư theo thoả thuận trong hợp đồng BT” (luật đầu tư 2005)

BTO và BT là các hình thức phái sinh của BOT, theo đó quy trình đầu tư, khai thác, chuyển giao được đảo lộn trật tự

Hình thức BOT, BTO, BT có các đặc điểm cơ bản: một bên ký kết phải là Nhà nước; lĩnh vực đầu tư là các công trình kết cấu hạ tầng như đường sá, cầu, cảng, sân bay, bệnh viện, nhà máy sản xuất, điện, nước ; bắt buộc đến thời hạn phải chuyển giao không bồi hoàn cho Nhà nước

Ưu điểm của hình thức này là thu hút vốn đầu tư vào những dự án kết cấu

hạ tầng, đòi hỏi lượng vốn lớn, thu hồi vốn trong thời gian dài, làm giảm áp lực vốn cho ngân sách nhà nước Đồng thời, nước sở tại sau khi chuyển giao có được những công trình hoàn chỉnh, tạo điều kiện phát huy các nguồn lực khác để phát triển kinh tế Tuy nhiên, hình thức BOT có nhược điểm là độ rủi ro cao, đặc biệt

là rủi ro chính sách; nước chủ nhà khó tiếp nhận kinh nghiệm quản lý, công nghệ

e Đầu tư mua cổ phần hoặc sáp nhập, mua lại doanh nghiệp

Đây là hình thức thể hiện kênh đầu tư Cross - border M & As Khi thị trường chứng khoán phát triển, các kênh đầu tư gián tiếp (FPI) được khai thông, nhà đầu tư nước ngoài được phép mua cổ phần, mua lại các doanh nghiệp ở nước

Trang 29

sở tại, nhiều nhà đầu tư rất ưa thích hình thức đầu tư này Cross-border M & As

là kênh đầu tư mà các chủ đầu tư tiến hành đầu tư thông qua việc mua lại và sáp nhập các doanh nghiệp hiện có ở nước ngoài hoặc mua cổ phần của các công ty

cổ phần Hình thức này chủ yếu là chuyển sở hữu của các doanh nghiệp đang tồn tại ở nước chủ nhà sang sở hữu của các nhà đầu tư nước ngoài Về lâu dài, hình thức M & As sẽ thu hút được nguồn vốn từ bên ngoài do mở rộng qui mô hoạt động của doanh nghiệp Kênh đầu tư này chủ yếu được thực hiện ở các nước phát triển, các nước mới công nghiệp hóa, đặc biệt là trong những lĩnh vực công nghệ cao và có xu hướng tăng mạnh trong những năm gần đây Luật Đầu tư 2005 của Việt Nam cũng đã thừa nhận và pháp lý hoá kênh đầu tư này ở Việt Nam Tuy nhiên, hình thức đầu tư này vẫn chưa phổ biến ở nước ta do đây là kênh đầu tư FDI mới, nhà đầu tư còn dè chừng Hơn nữa, Nhà nước vẫn hạn chế về tỷ lệ cổ phần của người nước ngoài trong các công ty cổ phần trong nước

Ở đây, về mặt khái niệm, có vấn đề ranh giới tỷ lệ cổ phần mà nhà đầu tư nước ngoài mua - ranh giới giúp phân định FDI với FPI Khi nhà đầu tư nước ngoài tham gia mua cổ phiếu, trái phiếu trên thị trường chứng khoán nước sở tại,

họ tạo nên kênh đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI) Tuy nhiên, khi tỷ lệ sở hữu cổ phiếu vượt quá giới hạn nào đó cho phép họ có quyền tham gia quản lý doanh nghiệp thì họ trở thành nhà đầu tư FDI Luật pháp Hoa Kỳ và nhiều nước phát triển quy định tỷ lệ ranh giới này là 10% Đối với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, tỷ lệ này được quy định là 30%

Hình thức mua cổ phần hoặc mua lại toàn bộ doanh nghiệp có ưu điểm cơ bản là để thu hút vốn và có thể thu hút vốn nhanh, giúp phục hồi hoạt động của những doanh nghiệp bên bờ vực phá sản Nhược điểm cơ bản là dễ gây tác động đến sự ổn định của thị trường tài chính Về phía nhà đầu tư, đây là hình thức giúp

họ đa dạng hoá hoạt động đầu tư tài chính, san sẻ rủi ro nhưng cũng là hình thức

Trang 30

đòi hỏi thủ tục pháp lý rắc rối hơn và thường bị ràng buộc, hạn chế từ phía nước chủ nhà

1.1.2 Cơ sở lý luận về tăng trưởng kinh tế

1.1.2.1 Khái niệm về Tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế là vấn đề trung tâm của kinh tế vĩ mô bởi nó là điều kiện tiên quyết để phát triển kinh tế, vì vậy có rất nhiều khái niệm tăng trưởng được phát biểu như sau:

- Theo Douglass C.North và Robert paul Thomas (1973) đã kết luận rằng “tăng trưởng kinh tế xảy ra nếu sản lượng tăng nhanh hơn dân số” Trong khi đó Hendrik Van den Berg cho rằng “Tăng trưởng kinh tế là tăng phúc lợi cả con người”

- Theo Simon Kuznets (1966) cho rằng “Tăng trưởng kinh tế của một nước là sự tăng lâu dài về khả năng cung cấp ngày càng tăng các mặt hàng kinh

tế đa dạng cho số dân của mình, khả năng ngày càng tăng này dựa trên công nghệ tiên tiến và những điều chỉnh về thể chế và hệ tư tưởng mà nó đòi hỏi ….” Ông cũng cho rằng “Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng bền vững về sản phẩm tính theo đầu người”

- Theo Paul Athony Samuelson cho rằng “Tăng trưởng kinh tế là sự mở rộng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hay sản lượng tiềm năng của một nước Nói cách khác, tăng trưởng diễn ra khi đường giới hạn khả năng sản xuất (PPF) của một nước dịch chuyển ra phía ngoài”

Nhìn chung, các khái niệm đều thống nhất cho là “Tăng trưởng kinh tế là

sự gia tăng về quy mô sản lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định”

Như vậy, tăng trưởng kinh tế của một quốc gia thường được xét ở các phương diện sau:

Trang 31

- Tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng và tăng trưởng theo chiều sâu: tăng trưởng theo chiều rộng phản ánh tăng sản lượng do tăng qui mô nguồn vốn,

số lượng lao động và tài nguyên thiên nhiên được khai thác còn tăng trưởng theo chiều sâu thể hiện sự gia tăng sản lượng do tác động của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP)

TFP phản ảnh hiệu quả sử dụng các nguồn lực, sự thay đổi công nghệ, trình độ lành nghề của công nhân, trình độ quản lý… Đây là bộ phận quan trọng nhất quyết định đến chất lượng tăng trưởng cho nên muốn tăng trưởng theo chiều sâu thì phải dựa vào khoa học công nghệ, vào nguồn nhân lực chất lượng cao và vào những thể chế kinh tế và các giải pháp mà các nhà khoa học đưa ra

- Tăng trưởng trong ngắn hạn và tăng trưởng trong dài hạn: với tiêu chí đo lường không phải là thời gian mà là sự điều chỉnh về mặt kinh tế Nhìn từ góc độ các nhân tố đóng góp vào tăng trưởng thì ngắn hạn và dài hạn có mối liên

hệ với nhau thông qua tiết kiệm và đầu tư nghĩa là việc hy sinh tiêu dùng trong hiện tại có thể tạo ra mức sản lượng cao hơn trong tương lai

1.1.2.2 Chỉ tiêu đo lường tăng trưởng

Quy mô của một nền kinh tế được thể hiện bởi:

- Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là giá trị của toàn bộ lượng hàng hoá

và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trên phạm vi lãnh thổ một nước, trong một thời gian nhất định thường là một năm

- Tổng sản phẩm quốc dân (GNP) là giá trị của toàn bộ lượng hàng hoá

và dịch vụ cuối cùng do công dân một nước tạo ra trong một khoảng thời gian nhất định thường là một năm

- GDP/người hay GNP/người hoặc thu nhập bình quân đầu người (PCI): phản ánh tăng trưởng kinh tế có tính đến sự thay đổi dân số, được tính bằng cách lấy GDP hoặc GNP chia cho tổng số dân

Trang 32

1.1.3 Tác động của FDI đối với sự phát triển kinh tế -xã hội

1.1.3.1 Tác động đối với nước đi đầu tư

- Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư Thông qua đầu tư FDI các nước

đi đầu tư tận dụng được những lợi thế về chi phí sản xuất thấp của các nước nhận đầu tư (giá nhân công rẻ, chi phí khai thác nguyên nhiên vật liệu tại chỗ thấp) để

hạ giá thành sản phẩm, giảm chi phí vận chuyển đối với việc sản xuất hàng thay thế nhập khẩu ở các nước tiếp nhận đầu tư

- Đầu tư trực tiếp nước ngoài cho phép các công ty có thể kéo dài chu kì sống của sản phẩm đã được sản xuất và tiêu thụ ở thị trường trong nước Thông qua FDI các công ty cùa các nước phát triển chuyển được một phần các sản phẩm công nghiệp ở giai đoạn cuối của chu kì sống sản phẩm sang các nước nhận đầu

tư để tiếp tục sử dụng chúng như những sản phẩm mới ở các nước này, tạo thêm lợi nhuận cho nhà đầu tư

- Giúp các công ty ở chính quốc tạo dựng được thị trường cung cấp nguyên vật liệu dồi dào, ổn định với giá rẻ

- Cho phép chủ đầu tư bành trướng sức mạnh về kinh tế tăng cường khả năng ảnh hưởng của mình trên thị trường quốc tế, nhờ mở rộng được thị trường tiêu thụ sản phẩm, lại tránh được hàng rào bảo hộ mậu dịch của các nước tiếp nhận đầu tư, giảm giá thành sản phẩm, tăng sức cạnh tranh với các hàng hóa nhập từ các nước khác

1.1.3.2 Tác động đối với các nước tiếp nhận đầu tư

 Những tác động tích cực

1 FDI thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, bổ sung nguồn vốn cho phát triển kinh tế - xã hội

tế Vốn đầu tư cho phát triển kinh tế được huy động từ hai nguồn chủ yếu là vốn

Trang 33

trong nước và vốn ngoài nước Vốn trong nước được hình thành thông qua tiết kiệm và đầu tư Vốn nước ngoài được hình thành thông qua vay thương mại, đầu

tư gián tiếp và hoạt động FDI Với các nước nghèo và đang phát triển, vốn là một yếu tố đặc biệt quan trọng đối với phát triển kinh tế Những quốc gia này luôn lâm vào tình trạng thiếu vốn đầu tư, hoạt động sản xuất và đầu tư ở những nước này như là một “vòng đói nghèo luẩn quẩn” (theo Paul A Samuelson) Để phá vỡ vòng luẩn quẩn ấy, các nước nghèo và đang phát triển phải tạo ra “một cú huých lớn”, mà biện pháp hữu hiệu là tăng vốn cho đầu tư, huy động các nguồn lực để phát triển nền kinh tế để tạo ra tăng trưởng kinh tế dẫn đến thu nhập tăng

So với những hình thức đầu tư nước ngoài khác, đầu tư trực tiếp nước ngoài có những ưu điểm cơ bản sau đây:

- FDI không để lại gánh nợ cho chính phủ nước tiếp nhận đầu tư về chính trị, kinh tế như hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) hoặc các hình thức đầu tư nước ngoài khác như vay thương mại, phát hành trái phiếu ra nước ngoài Do vậy, FDI là hình thức thu hút và sử dụng vốn đầu tư nước ngoài tương đối ít rủi

ro cho nước tiếp nhận đầu tư

- Nhà đầu tư không dễ dàng rút vốn ra khỏi nước sở tại như đầu tư gián tiếp Kinh nghiệm rút ra từ cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ khu vực 1997 đã cho thấy, những nước chịu tác động nặng nề của khủng hoảng thường là những nước nhận nhiều vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài Nên FDI mang tính ổn định hơn so với những khoản đầu tư khác

- Thực tiễn cho thấy các nước NIC tang trưởng mạnh mẽ gần 30 năm qua nhờ nhận được trên 50 tỉ USD đầu tư nước ngoài cùng với chính sách kinh tế năng động, hiệu quả và đã trở thành những con rồng châu Á

2 Tăng cường chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa

Trang 34

Phần lớn vốn FDI đầu tư cho lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ, trong đó có những ngành chủ chốt như xây dựng cơ sở hạ tầng, khai thác chế biến dầu khí, hóa chất và sản xuất thiết bị và hàng tiêu dùng …

FDI góp phần làm tăng tỉ trọng của những ngành này trong nền kinh tế đồng thời tạo điều kiện để hiện đại hóa nền sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn Khu vực có vốn FDI còn giúp hình thành các ngành công nghiệp và dịch vụ hiện đại như điện tử, tin học, viễn thông, lắp ráp ô tô và xe máy, giúp chuyển giao công nghệ và kĩ năng quản lý tiên tiến, nâng cao hiệu quả

và sức cạnh tranh của nền kinh tế Đầu tư trực tiếp nước ngoài có tác động mạnh đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nước tiếp nhận theo nhiều phương diện: chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu vùng lãnh thổ, cơ cấu theo nguồn vốn, cơ cấu vốn đầu tư…

3 Góp phần vào sự phát triển công nghệ, kĩ thuật mới, cải thiện đáng kể kết cấu hạ tầng

Các nước đang phát triển có đặc điểm là trình độ khoa học và công nghệ thấp, sử dụng công nghệ lạc hậu, do đó năng suất lao động thấp, hiệu quả và sức cạnh tranh sản phẩm yếu Trong khi phần lớn những kỹ thuật mới được phát minh trên thế giới vẫn xuất phát chủ yếu từ các nước công nghiệp phát triển Xét

về nhu cầu, cần có quá trình chuyển giao công nghệ từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển Có hai hình thức chuyển giao công nghệ là trực tiếp và gián tiếp, trong đó FDI là hình thức chuyển giao công nghệ trực tiếp và có hiệu quả nhất Có nhiều phương thức chuyển giao công nghệ khác nhau như nhập khẩu thiết bị, kỹ thuật, mua hoặc hợp đồng sử dụng bản quyền, sáng chế, tự thiết

kế và sản xuất theo bản thiết kế tổng thể do bên nước ngoài cung cấp Bằng hình thức này, công nghệ được các công ty nước ngoài chuyển giao trực tiếp cả phần cứng (máy móc, thiết bị) lẫn phần mềm là bí quyết công nghệ Đây là ưu

Trang 35

điểm của chuyển giao công nghệ bằng con đường FDI so với các hình thức chuyển giao công nghệ khác Việc tiếp nhận công nghệ từ chủ đầu tư sẽ giúp các doanh nghiệp FDI trong nước tiếp cận với công nghệ từ công ty mẹ, đồng thời rút ngắn khoảng cách công nghệ

Các doanh nghiệp FDI còn có tác dụng phổ biến những công nghệ hiện đại, công nghệ sạch, giữ gìn môi trường theo các tiêu chuẩn tiên tiến cho các doanh nghiệp trong nước, nhờ thế mà thúc đẩy khoa học – công nghệ phát triển Ngoài ra, do áp lực cạnh tranh từ doanh nghiệp FDI, buộc các doanh nghiệp trong nước phải nhanh chóng học hỏi, vươn lên, đổi mới kỹ thuật, công nghệ, cải tiến quản lý, tăng cường đào tạo cán bộ làm cho tốc độ hiện đại hóa được nâng lên rõ rệt

Tuy nhiên, không chỉ có các nước đang phát triển quan tâm đến yếu tố chuyển giao công nghệ của FDI, mà các nước công nghiệp phát triển cũng đang tìm cách tận dụng ưu điểm này của FDI nhằm hợp lý hóa sản xuất, tận dụng lợi thế so sánh để nâng cao sức cạnh tranh, năng suất và hiệu quả tổng thể của nền kinh tế Những ngành có khả năng cạnh tranh cao thì mở rộng đầu tư ra nước ngoài, những ngành trong nước kém sức cạnh tranh thì có thể cho doanh nghiệp nước ngoài vào đầu tư, thậm chí thôn tính hoặc xóa bỏ những doanh nghiệp làm

ăn kém hiệu quả trong nước Đây cũng là kết quả tất yếu của quá trình phân công, hợp tác lao động quốc tế, chuyên môn hóa và hợp lý hóa sự phân bổ các nguồn lực thông qua FDI

4 FDI góp phần giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, xóa đói giảm nghèo và phát triển nguồn nhân lực

Các dự án FDI mới tạo ra nhiều việc làm mới cho người lao động, và thông qua việc thực hiện các dự án đó, làm thay đổi cơ cấu lao động, nâng cao

Trang 36

năng lực, kỹ năng lao động, năng lực quản lý doanh nghiệp, tác phong công nghiệp, phù hợp với nền sản xuất hiện đại

Như trên đã nói, FDI luôn gắn liền với chuyển giao công nghệ mới so với công nghệ trong nước, cho nên lao động của nước tiếp nhận đầu tư được đào tạo

để sử dụng và quản lý công nghệ, tiếp cận với phương pháp quản lý chất lượng,

tổ chức và quản lý công nghệ, biện pháp tiếp thị, tiếp cận với các tiêu chuẩn chất lượng quốc tế Thông qua đó, trình độ và kỹ năng của người lao động trong nước được nâng lên rõ rệt

Ngoài việc tạo ra việc làm trực tiếp, FDI còn gián tiếp tạo ra nhiều việc làm thông qua những ngành công nghiệp phụ trợ như cung cấp nhiên, nguyên, vật liệu, dịch vụ phục vụ cho các doanh nghiệp FDI và các nhà đầu tư nước ngoài Các hoạt động công nghiệp phụ trợ này cũng đòi hỏi chất lượng cao, tổ chức tốt, do đó có tác dụng nâng cao trình độ của người dân nước sở tại

Cùng với việc phát triển của khu vực FDI, nhiều lĩnh vực, ngành nghề sản xuất, cung ứng dịch vụ cho khu vực này cũng phát triển theo Như vậy, sẽ nâng cao khả năng tạo việc làm, giảm bớt tỉ lệ thất nghiệp Hiện nay, với chính sách tăng dần tỉ lệ nội địa hóa trong sản phẩm của các doanh nghiệp FDI các ngành sản xuất ô tô, xe máy, giày da, may mặc… đã xuất hiện thêm nhiều doanh nghiệp vệ tinh cung cấp sản phẩm dịch vụ cho doanh nghiệp FDI, tạo ra nhiều việc làm Tùy theo lĩnh vực sản xuất, số việc làm do doanh nghiệp FDI gián tiếp tạo ra tương đối lớn

FDI tác động đến vấn đề lao động của nước tiếp nhận đầu tư liên quan đến

cả số lượng và chất lượng lao động FDI đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao năng lực, kỹ năng lao động và quản trị doanh nghiệp Nhiều doanh nghiệp FDI tạo điều kiện cho lao động nâng cao tay nghề, tiếp cận kỹ năng, công nghệ

Trang 37

và kinh nghiệm quản lý tiên tiến, rèn luyện kỷ luật, tác phong lao động công nghiệp tại doanh nghiệp hoặc gửi đi đào tạo ở nước ngoài

Như vậy việc cạnh tranh với các doanh nghiệp FDI, thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước đổi mới công nghệ, cải tiến quản lý, tăng cường cán bộ, thu hút nhân tài, nâng cao trình độ, năng lực của lao động cũng góp phần rất lớn trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam

5 Thúc đẩy cải cách kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế

Cạnh tranh ngày một gay gắt của khu vực FDI buộc nền sản xuất trong nước phải kiện toàn, tăng cường hiệu quả và nâng cao năng lực cạnh tranh Đồng thời khu vực FDI còn tạo ra sức ép đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế theo hướng tự do hóa thương mại và đầu tư Một mặt các nhà đầu tư yêu cầu nước nhận đầu tư phải mở cửa thị trường hơn nữa và tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động đầu tư Mặt khác, khả năng cạnh tranh và tính chất hướng ngoại cao, đặc biệt là xuất khẩu của khu vực FDI là cơ sở tốt để cho kinh tế nước nhận đầu tư tăng cường mở cửa với bên ngoài, thâm nhập thị trường quốc tế, mở rộng thị trường xuất khẩu, làm quen với tập quán thương mại quốc tế, thích nghi nhanh hơn với những thay đổi trên thị trường thế giới Đó là vai trò làm cầu nối

và thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế rất quan trọng của FDI, một nhân

tố đẩy nhanh quá trình toàn cầu hóa kinh tế

6 Phát triển quan hệ đối ngoại theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa

vì lợi ích chung, nâng cao vị thế trên trường quốc tế

Hoạt động FDI là chiếc cầu nối ràng buộc lợi ích kinh tế giữa các nước đầu tư và nước tiếp nhận đầu tư Hoạt động FDI góp phần quan trọng đối với đẩy mạnh xuất khẩu và cải thiện cán cân thanh toán Trong đó, xuất khẩu là một trong những giải pháp tăng trưởng kinh tế, góp phần tăng thêm thu nhập cho nền kinh tế, từ đó tạo điều kiện để giải quyết các vấn đề xã hội Thông qua thặng dư

Trang 38

xuất khẩu và chuyển vốn đầu tư về, hoạt động FDI góp phần vào việc hạn chế thâm hụt của cán cân thanh toán

Ngoài ra, FDI còn góp phần tích cực hoàn thiện, nâng cao nghiệp vụ quản

lý xuất nhập khẩu theo tiến trình hội nhập quốc tế: như hải quan, thực hiện lộ trình cắt giảm thuế; nâng cao hệ thống kinh tế - kỹ thuật xuất nhập khẩu như: thương mại điện tử, ngân hàng điện tử, vận tải (cảng container, hệ thống vận tải bồn dầu theo tiêu chuẩn quốc tế, cầu cảng, hàng không )

Hoạt động của FDI nâng cao năng lưc sản xuất của doanh nghiệp trong nước, góp phần cải thiện môi trường đầu tư, biến những tiềm năng về nguồn lực thành hiện thực, tạo sự hấp dẫn đầu tư, sự quan tâm của các nước trên thế giới Thông qua việc hội nhập với các tổ chức, các diễn đàn kinh tế, các liên kết, , từ

đó góp phần nâng cao vị thế trên trường quốc tế

 Những tác động tiêu cực

Bên cạnh những tác động tích cực nêu trên, FDI còn có những tác động tiêu cực đến nước tiếp nhận đầu tư Sau đây là những tác động tiêu cực mang tính phổ biến:

1 Mất cân đối trong đầu tư

thể dẫn đến việc thiếu chú trọng huy động và sử dụng tối đa vốn trong nước Từ

đó, gây ra sự mất cân đối trong cơ cấu đầu tư (giữa vốn trong nước và vốn nước ngoài), có thể gây nên sự phụ thuộc của nền kinh tế vào vốn nước ngoài, vào nhà đầu tư nước ngoài (kể cả bí quyết kỹ thuật, công nghệ, đầu mối cung cấp vật tư, nguyên liệu, thị trường sản phẩm ) Lợi nhuận của các doanh nghiệp FDI có xu hướng chuyển ra nước ngoài, do vậy FDI tuy tác động đẩy mạnh tăng trưởng ngắn hạn và trung hạn nhưng có khả năng làm giảm tiềm lực tăng trưởng dài hạn Nếu tỷ trọng FDI chiếm quá lớn trong tổng vốn đầu tư phát triển thì tính độc lập tự

Trang 39

chủ có thể bị ảnh hưởng, nền kinh tế phát triển có tính lệ thuộc bên ngoài, thiếu vững chắc Đồng thời, các hoạt động FDI chỉ tập trung tại một số địa phương có nhiều lợi thế nên đã tạo ra khoảng cách phát triển giữa các địa phương làm mất cân đối đầu tư giữa các địa phương

2 Lợi dụng biện pháp chuyển giá để trốn thuế gây thiệt hại cho ngân sách

và người tiêu dùng, gây sức ép cạnh tranh đến các doanh nghiệp trong nước

Các nhà đầu tư nước ngoài thường sử dụng lợi thế của mình đối với doanh nghiệp ở nước tiếp nhận, nhất là trong trường hợp liên doanh, để thực hiện biện pháp “chuyển giá” (transfer pricing) thông qua cung ứng nguyên vật liệu, chi tiết, linh kiện, bộ phận, sản phẩm dở dang với giá cao, thu lợi ngay từ khâu này, làm cho giá thành sản phẩm cao một cách giả tạo, giảm lợi nhuận, thậm chí gây ra “lỗ giả, lãi thật”, gây thiệt hại cho người tiêu dùng, trốn thuế làm giảm thu ngân sách của nước sở tại

Ngoài việc lợi dụng “chuyển giá”, gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước, doanh nghiệp FDI còn gây sức ép cạnh tranh cho doanh nghiệp trong nước Thông qua sức mạnh hơn hẳn về tiềm lực tài chính, công nghệ, các doanh FDI tạo ra sự cạnh tranh khốc liệt đến các doanh nghiệp trong nước Các doanh nghiệp trong nước nếu không đủ mạnh dễ bị mất thị phần, làm ăn thua lỗ, thậm chí phá sản Đôi khi, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài thực hiện chính sách cạnh tranh bằng con đường bán phá giá, chịu lỗ trong giai đoạn đầu và các hình thức cạnh tranh không bình đẳng khác để loại trừ đối thủ cạnh tranh độc chiếm hoặc khống chế thị trường, lấn át các doanh nghiệp trong nước, làm cho một ngành hoặc một số ngành sản xuất trong nước không phát triển được

3 Nguy cơ trở thành bãi thải công nghệ

Lợi dụng trình độ công nghệ thấp và quản lý yếu kém của nước chủ nhà, một số nhà đầu tư nước ngoài thông qua con đường FDI để tiêu thụ những máy

Trang 40

móc, thiết bị lạc hậu, thậm chí đã thải loại sang nước tiếp nhận FDI Thực tế ở nhiều nước cho thấy khi thực hiện các dự án liên doanh, các đối tác nước ngoài

đã tranh thủ góp vốn bằng các thiết bị và vật tư đã lạc hậu, đã qua sử dụng (được tân trang) hoặc nhiều khi đã đến thời hạn thanh lý Nếu không có những quy định

và sự kiểm soát chặt chẽ, nước nhận FDI dễ trở thành “bãi thải công nghệ” của các công ty xuyên quốc gia, gây thiệt hại to lớn cho nền kinh tế, đồng thời làm gia tăng vấn đề ô nhiễm môi trường, đã và đang là vấn đề nan giải của toàn cầu

Do vậy, công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực thu hút và quản lý nguồn vốn FDI cần có các biện pháp hữu hiệu để có thể giảm thiểu tình trạng tiếp nhận công nghệ lạc hậu, thiết bị, máy móc cũ, năng suất thấp gây thiệt hại cho nền kinh tế

4 Tác động tiêu cực đến vấn đề xã hội

Sự có mặt của các doanh nghiệp có vốn nước ngoài, các công ty xuyên quốc gia có khả năng gây ra một số ảnh hưởng bất lợi về kinh tế-xã hội như làm tăng chênh lệch về thu nhập, gây ra hiện tượng chảy máu chất xám, làm gia tăng

sự phân hóa trong các tầng lớp nhân dân, tăng mức độ chênh lệch phát triển trong một vùng hoặc giữa các vùng Đặc biệt, sự gia tăng số lượng dự án FDI, bao giờ cũng kèm theo sức ép về các chính sách an sinh xã hội, trật tự an toàn cho nước chủ nhà Việc đầu tư cho an sinh xã hội cũng đòi hỏi chi phí ngân sách không nhỏ, như: xây dựng nhà ở, trường học, y tế, công trình văn hóa – xã hội, vệ sinh môi trường, các dịch vụ công khác…

Đặc biệt, hiện tượng các chủ doanh nghiệp FDI lợi dụng sự thiếu hiểu biết của các cơ quan, cán bộ quản lý và người lao động, kẽ hở của chính sách, pháp luật Việt Nam để khai thác triệt để sức lao động của công nhân; ở nhiều nơi còn

có hành động đối xử bất công, xúc phạm nhân phẩm người lao động, gây mâu thuẫn, phản kháng của công nhân như xô xát, đình công,…

Ngày đăng: 21/10/2018, 08:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Nguyễn Mại 2004, Chính sách thu hút đầu tư nước ngoài FDI của Việt Nam: Thành quả và việc hoàn thiện chính sách, Tài liệu Hội thảo quốc tế về: “Việt Nam gia nhập WTO: Cơ hội và Thách thức”, tháng 3/2004, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách thu hút đầu tư nước ngoài FDI của Việt Nam: Thành quả và việc hoàn thiện chính sách
Tác giả: Nguyễn Mại
Nhà XB: Tài liệu Hội thảo quốc tế về: “Việt Nam gia nhập WTO: Cơ hội và Thách thức”
Năm: 2004
4. Nguyễn Thi Phuong Hoa 2004, Foreign Direct Investment and its Contributions to Economic Growth and Poverty Reduction in Vietnam (1986-2001), Peter Lang, Frankfurt am Main, Germany Sách, tạp chí
Tiêu đề: Foreign Direct Investment and its Contributions to Economic Growth and Poverty Reduction in Vietnam (1986-2001)
Tác giả: Nguyễn Thi Phuong Hoa
Nhà XB: Peter Lang
Năm: 2004
7. Mayer,E.Klaus 2003, FDI spillovers in emerging markets: A literature Review and New Perspectives, DRC working papers No.15, Center for New and Emerging Markets London Business School Sách, tạp chí
Tiêu đề: FDI spillovers in emerging markets: A literature Review and New Perspectives
Tác giả: E.Klaus Mayer
Nhà XB: Center for New and Emerging Markets London Business School
Năm: 2003
9. Kumar N. &Pradhan J.P. 2002, Foreign Direct Investment, Externalities and Economic Growth in Developing Countries: Some Empirical Explorations and Implications for WTO Negotiations on Investment, Research and Information System for Developing Countries, New Delhi, India Sách, tạp chí
Tiêu đề: Foreign Direct Investment, Externalities and Economic Growth in Developing Countries: Some Empirical Explorations and Implications for WTO Negotiations on Investment
Tác giả: Kumar N., Pradhan J.P
Nhà XB: Research and Information System for Developing Countries
Năm: 2002
15. Brian Aitken, Gordon H. Hanson and Ann E.Harrison 1997, Spillovers, foreign investment, and export behavior, Journal of International Economics Sách, tạp chí
Tiêu đề: Spillovers, foreign investment, and export behavior
Tác giả: Brian Aitken, Gordon H. Hanson, Ann E.Harrison
Nhà XB: Journal of International Economics
Năm: 1997
16. Beule, D., Van, F., Bulcke,D., and Daniel, Foreign Invested Enterprises and Economic Development: the Case of China, Institute of Development Policy and Management, University of Antwerp, Middelheimlaan 1 2020 Antwerpen Sách, tạp chí
Tiêu đề: Foreign Invested Enterprises and Economic Development: the Case of China
Tác giả: Beule, D., Van, F., Bulcke, D., Daniel
Nhà XB: Institute of Development Policy and Management, University of Antwerp
Năm: 2020
1. Đoàn Ngọc Phúc 2004, Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam – Thực trạng, những vấn đề đặt ra và triển vọng, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 315/2004, Hà nội, Việt Nam Khác
2. Nguyễn Mại 2003, FDI và tăng trưởng kinh tế Việt Nam, Báo Đầu tư, 24- 12-2003 Khác
5. Sachwald, F., 2004, Foreign Direct Investment And Technology Transfer: Experience Of Asian Countries, National Economics University, Hanoi Khác
8. Laura Alfaro & Areendam Chanda 2001, FDI and Economic Growth: The role of local financial markets, Harvard Business School, USA Khác
10. Freeman Nick J 2000, Foreign Direct Investment in Vietnam: An Overview, Paper presented for the DFID workshop on Globalisation and Poverty in Vietnam, Hanoi 23-24 September, 2000 Khác
11. Frédérique Sachwald, April 2004, Foreign direct investment and technology transfer: the experience of Asian countries, National Economics University Khác
12. Fan E.X. 2003, Technological spillovers from foreign direct investment – A Survey, Asian Development Review, Volume 20, No.1, 2003 Khác
13. Đoàn Ngọc Phúc 2004, Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam – Thực trạng, những vấn đề đặt ra và triển vọng, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 315/2004, Hà Nội, Việt Nam Khác
14. CIEM and UNDP 2003, Economic Development Policy: Experience and Lesson from China Khác
17. Xiaoying Li, Xiaming Liu, Parker, D. 2001, Foreign Direct Investment And Productivity Spillovers In The Chinese Manufacturing Sector, Economic Systems 25 (2001) Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w