1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT về QUẢNG cáo THỰC PHẨM CHỨC NĂNG ở VIỆT NAM

107 158 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 9,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phạm vi nghiên cứu Trên cơ sở các quy định của pháp luật về quảng cáo thực phẩm chức năng, tác giả tập trung đánh giá việc áp dụng pháp luật của cơ quan quản lý nhà nước, quá trình thực

Trang 1

LÊ PHƯƠNG HOA

THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ QUẢNG CÁO THỰC PHẨM CHỨC NĂNG Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – 2017

Trang 2

LÊ PHƯƠNG HOA

THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ QUẢNG CÁO THỰC PHẨM CHỨC NĂNG Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật kinh tế

Mã số: 60380107

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Vân Anh

HÀ NỘI – 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi, có sự hỗ trợ, giúp đỡ từ Giảng viên hướng dẫn là PGS.TS Nguyễn Thị Vân Anh

Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này

Hà Nội, ngày 10 tháng 8 năm 2017

Tác giả luận văn

Lê Phương Hoa

Trang 4

DANH MỤC BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT

Nghị định số 181/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng

11 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết

thi hành một số điều của Luật Quảng cáo

: Nghị định số 181/2013/NĐ-CP

Nghị định số 158/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng

11 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt

vi phạm hành chính trong lĩnh vực Văn hóa,

Thể thao, Du lịch và Quảng cáo

: Nghị định số 158/2013/NĐ-CP

Nghị định số số 38/2012/NĐ-CP ngày 25

tháng 4 năm 2012 của Chính phủ quy định chi

tiết thi hành một số điều của Luật an toàn thực

phẩm

: Nghị định số 38/2012/NĐ-CP

Nghị định số 71/2014/NĐ-CP ngày 21 tháng 7

năm 2014 của Chính phủ Quy định chi tiết

Luật Cạnh tranh về xử lý vi phạm pháp luật

trong lĩnh vực cạnh tranh

: Nghị định số 71/2014/NĐ-CP

Thông tư số 09/2015/TT-BYT ngày 25 tháng

5 năm 2015 của Bộ Y tế về xác nhận nội dung

quảng cáo đối với sản phẩm, hàng hóa dịch vụ

đặc biệt thuộc lĩnh vực quản lý của Bộ Y tế

: Thông tư số 09/2015/TT-BYT

Thông tư số 10/2013/TT- BVHTTDL ngày 06

tháng 12 năm 2013 của Bộ Văn hóa, Thể thao

và Du lịch quy định chi tiết và hướng dẫn thực

hiện một số điều của Luật Quảng cáo và Nghị

định số 181/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 11

: Thông tư số 10/2013/TT- BVHTTDL

Trang 5

năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi

hành một số điều của Luật Quảng cáo

Thông tư số 19/2012/TT-BYT ngày 09 tháng

11 năm 2012 của Bộ Y tế hướng dẫn việc

công bố hợp quy và công bố phù hợp quy định

an toàn thực phẩm

: Thông tư số 19/2012/TT-BYT

Thông tư số 43/2014/TT-BYT ngày 24 tháng

11 năm 2014 của Bộ Y tế quy định về quản lý

thực phẩm chức năng

: Thông tư số 43/2014/TT-BYT

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1: Số liệu vi phạm trong hoạt động quảng cáo thực phẩm chức

năng từ quý I/2015 đến quý I/2016

48

Bảng 2: Danh sách Công ty vi phạm về quảng cáo thực phẩm chức

năng trong 6 tháng đầu năm 2017

49

Biểu đồ 1: Tỷ lệ số người xem quảng cáo thực phẩm chức năng nghe

được khuyến cáo “Sản phẩm này không phải là thuốc và không có tác

dụng thay thế thuốc chữa bệnh”

43

Biểu đồ 2: Thái độ của người tiêu dùng khi mua phải thực phẩm chức

năng không giống với quảng cáo

60

Trang 7

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN PHÁP LUẬT VỀ QUẢNG CÁO THỰC

PHẨM CHỨC NĂNG Ở VIỆT NAM

1.2 Nội dung cơ bản của pháp luật về quảng cáo thực phẩm chức

năng ở Việt Nam

14

1.2.1 Sự hình thành và phát triển của pháp luật về quảng cáo thực phẩm

chức năng ở Việt Nam

14

1.2.2 Nội dung pháp luật hiện hành về quảng cáo thực phẩm chức năng 16

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thi hành pháp luật về quảng cáo

1.3.2 Năng lực của các cơ quan chức năng quản lý Nhà nước về quảng

cáo thực phẩm chức năng và cơ quan có liên quan

36

1.3.4 Thực tiễn xử lý vi phạm pháp luật quảng cáo thực phẩm chức năng 37 1.3.5 Sự phát triển của kinh tế - xã hội và khoa học – công nghệ 38

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ

QUẢNG CÁO THỰC PHẨM CHỨC NĂNG Ở VIỆT NAM VÀ

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH

40

2.1 Đánh giá những thành tựu và hạn chế của việc thực thi pháp luật

về quảng cáo thực phẩn chức năng ở Việt Nam

40

Trang 8

2.1.1 Những thành tựu đạt được trong việc thực thi pháp luật về quảng

cáo thực phẩm chức năng

40

2.1.2 Những hạn chế trong việc thực thi pháp luật về quảng cáo thực

phẩm chức năng và nguyên nhân của những hạn chế

48

2.2 Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật

về quảng cáo thực phẩm chức năng ở Việt Nam

Trang 9

MỞ ĐẦU

Quảng cáo ra đời là một tất yếu của quá trình vận động, phát triển của thị trường Theo các tài liệu ghi lại, cha đẻ của hình thức quảng cáo là một người Ai Cập cổ với tờ thông báo đầu tiên trên tường thành Thebes vào khoảng 3000 năm trước Công nguyên, sau đó hình thức này dần trở nên phổ biến1 Qua nhiều năm, quảng cáo ngày càng phát triển và trở thành công cụ quan trọng trong việc quảng bá sản phẩm của các công ty, doanh nghiệp

Với sự phát triển của kinh tế - xã hội, nhu cầu về các sản phẩm có tác dụng bồi bổ chất dinh dưỡng, tăng cường sức khỏe của công chúng ngày càng tăng lên

Do đó công chúng rất quan tâm tới thực phẩm chức năng, đặc biệt là những tác dụng và công dụng của chúng Đây là nguyên nhân khiến thị trường sản xuất và kinh doanh thực phẩm chức năng bùng nổ, phát triển mạnh Bằng việc sử dụng công

cụ quan trọng là quảng cáo, các công ty và doanh nghiệp kinh doanh thực phẩm chức năng đã đưa sản phẩm của mình ra thị trường và tiếp cận người tiêu dùng thuận lợi, nâng cao vị thế cạnh tranh, xây dựng chỗ đứng cho chính doanh nghiệp của mình Tuy nhiên, nắm bắt được tâm lý của người tiêu dùng và thấy được những lợi thế của quảng cáo, nhiều chủ thể kinh doanh đã lợi dụng quảng cáo để thực hiện những hành vi vi phạm pháp luật nhằm cạnh tranh không lành mạnh, thu lợi bất chính

Trước tình trạng trên, quản lí hoạt động quảng cáo thực phẩm chức năng cần đặc biệt chú trọng và pháp luật chính là công cụ hữu hiệu mà Nhà nước sử dụng Trong quá trình thực thi, mặc dù pháp luật về quảng cáo thực phẩm chức năng phát huy hiệu quả nhưng đã bộc lộ những hạn chế Để pháp luật về quảng cáo thực phẩm chức năng phát huy vai trò bảo vệ người tiêu dùng, doanh nghiệp kinh doanh, sản xuất thực phẩm chức năng và Nhà nước, cần phát huy những ưu điểm đồng thời khắc phục những hạn chế còn tồn tại trong quá trình thực thi pháp luật Với sự cấp

thiết này, tác giả đã mạnh dạn chọn đề tài: “Thực tiễn thi hành pháp luật về quảng cáo thực phẩm chức năng ở Việt Nam” để thực hiện luận văn thạc sĩ của mình

Đến thời điểm hiện tại, có rất nhiều các công trình nghiên cứu về pháp luật quảng cáo có ý nghĩa với việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật như:

1

https://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BA%A3ng_c%C3%A1ongàytruy cập 15/6/2017

Trang 10

- “Pháp luật về hoạt động quảng cáo của doanh nghiệp” do Tiến sĩ Phạm Duy Nghĩa viết trong sách tham khảo “Pháp luật về cạnh tranh và kiểm soát độc

quyền ở Việt Nam” của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội năm 1999 Đây là

công trình nghiên cứu lớn đối với các doanh nghiệp muốn thực hiện hoạt động quảng cáo nhằm quảng bá thương hiệu, thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm

- Luận văn Thạc sĩ Luật học của tác giả Đào Tuyết Vân “Pháp luật quảng

cáo với vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng” được thực hiện tại Đại học Luật

Hà Nội năm 2007 Công trình nghiên cứu về quảng cáo nhưng đi sâu vào vấn đề bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, tập trung nghiên cứu pháp luật quảng cáo có đối tượng người tiêu dùng Luận văn nêu được quy định của pháp luật về quảng cáo trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, đề xuất phương hướng, đồng thời đưa

ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật quảng cáo, bảo vệ tối đa quyền lợi người tiêu dùng

- Luận văn Thạc sĩ Luật học “Pháp luật về dịch vụ quảng cáo trên truyền

hình ở Việt Nam” do tác giả Nguyễn Thị Thùy Dung thực hiện tại Đại học Quốc gia

Hà Nội Luận văn nghiên cứu về một phương tiện quảng cáo cụ thế - truyền hình

Là phương tiện phổ biến nhất hiện nay và được nhiều doanh nghiệp lựa chọn, quảng cáo trên truyền hình khẳng định được lợi thế của mình Tác giả đã tập trung phân tích thực trạng pháp luật về quảng cáo dịch vụ trên truyền hình, các quy định về hợp đồng dịch vụ quảng cáo trên truyền hình

- Luận văn Thạc sĩ “Các yếu tố tác động đến ý định mua thực phẩm chức

năng của khách hàng: Nghiên cứu trường hợp tại thành phố Hồ Chí Minh” do

Nguyễn Nhật Hùng thực hiện tại trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh năm 2013 đã chỉ ra những yếu tố tác động đến ý định mua thực phẩm chức năng của người tiêu dùng và khẳng định quảng cáo thực phẩm chức năng là một trong những yếu tố đó Luận văn cũng đưa ra những sai phạm trong quảng cáo thực phẩm chức năng của các doanh nghiệp và một số giải pháp khắc phục

- Kỉ yếu của Hội thảo “Bảo vệ người dùng sử dụng Thực phẩm chức

năng” diễn ra ngày 29/12/2015 được tổ chức tại Hà Nội nêu ra thực trạng công tác

quản lý các vấn đề liên quan đến thực phẩm chức năng như sản xuất, kinh doanh, tiêu thụ và quảng cáo

- Luận văn Thạc sĩ Luật học “Chế tài đối với các vi phạm pháp luật trong

quảng cáo thương mại ở Việt Nam” do Dương Văn Thực thực hiện năm 2016 tại

Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội đã làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn của

Trang 11

các biện pháp chế tài đối với các hành vi vi phạm pháp luật trong quảng cáo thương mại ở nước ta, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp chế tài đối với các hành vi vi phạm pháp luật trong quảng cáo thương mại ở Việt Nam

- Luận văn thạc sĩ “Quảng cáo mỹ phẩm dưới góc độ pháp luật thương

mại ở Việt Nam” của tác giả Phạm Thị Vân Anh thực hiện năm 2012 tại trường Đại

học Luật Hà Nội là công trình nghiên cứu đầu tiên về quảng cáo một sản phẩm đặc thù chịu sự quản lý của Bộ Y tế Luận văn nêu được chi tiết pháp luật về quảng cáo

mỹ phẩm nhìn nhận dưới góc độ pháp luật thương mại, pháp luật cạnh tranh, pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Đồng thời nêu ra thực trạng thi hành pháp luật về quảng cáo mỹ phẩm qua đó đánh giá được những ưu điểm, hạn chế để đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi

Như vậy, có rất nhiều các công trình nghiên cứu về quảng cáo, cũng có những công trình nghiên cứu pháp luật quảng cáo về một sản phẩm, dịch vụ đặc thù nhưng chưa có công trình riêng biệt nghiên cứu quá trình thực thi pháp luật về quảng cáo thực phẩm chức năng ở Việt Nam - công trình nghiên cứu có tính ứng dụng với ý nghĩa nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật và thực hiện pháp luật về quảng cáo thực phẩm chức năng

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về quảng cáo thực phẩm chức năng và thực tiễn thi hành pháp luật về quảng cáo thực phẩm chức năng trên thực tế

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Trên cơ sở các quy định của pháp luật về quảng cáo thực phẩm chức năng, tác giả tập trung đánh giá việc áp dụng pháp luật của cơ quan quản lý nhà nước, quá trình thực hiện các quy định pháp luật của các doanh nghiệp, thái độ người tiêu dùng đối với việc thực thi pháp luật về quảng cáo thực phẩm chức năng trên cơ sở đối chiếu với thực tiễn trên phạm vi một vài địa phương cụ thể, một số vấn đề đối chiếu trong phạm vi cả nước trong khoảng thời gian từ 2011 đến hết tháng 6 năm

2017 tùy vào từng số liệu

4.1 Mục tiêu nghiên cứu

Trang 12

Luận văn tập trung làm rõ nội dung pháp luật về quảng cáo thực phẩm chức năng, qua đó có cơ sở để đánh giá thực tiễn thi hành và đề xuất những phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về quảng cáo thực phẩm chức năng trên thực tế, đáp ứng được các yêu cầu của hội nhập và phát triển, đặc biệt là sức mạnh của ngành thực phẩm chức năng

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu, Luận văn có các nhiệm vụ nghiên cứu sau:

- Làm sáng tỏ ở mức cơ bản những vấn đề lý luận về thực phẩm chức năng, sự khác nhau giữa thực phẩm chức năng và thuốc chữa bệnh cũng như những vấn đề cơ bản về quảng cáo thực phẩm chức năng;

- Đánh giá được tác động của quảng cáo thực phẩm chức năng tới xã hội;

- Nghiên cứu sự hình thành và phát triển của pháp luật về quảng cáo thực phẩm chức năng ở Việt Nam, các quy định của pháp luật hiện hành điều chỉnh hoạt động quảng cáo thực phẩm chức năng

- Tổng hợp, phân tích, đánh giá những yếu tố ảnh hưởng tới việc thực thi pháp luật về quảng cáo thực phẩm chức năng ở Việt Nam, qua đó đánh giá quá trình thực tiễn thi hành pháp luật về quảng cáo thực phẩm chức năng trong đời sống

- Nghiên cứu và đề xuất các phương hướng hoàn thiện pháp luật làm nền tảng để đưa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về quảng cáo thực phẩm chức năng ở Việt Nam trong thời gian tới

Để đạt được mục đích và hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu, Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin; chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước ta về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Kết hợp các phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp biện luận, phương pháp chứng minh, logic và phương pháp phân tích số liệu sơ cấp thu thập từ phương pháp điều tra sử dụng bảng hỏi Riêng phương pháp tổng hợp và phương pháp thống kê, phương pháp biện luận và phương pháp chứng minh được sử dụng trong suốt quá trình đánh giá thực tiễn thi hành các quy định của pháp luật về quảng cáo thực phẩm chức năng Phương pháp phân tích

số liệu thu được từ cuộc điều tra được sử dụng để làm rõ thêm về nhận thức của người dân về pháp luật quảng cáo thực phẩm chức năng ở Việt Nam hiện nay

Trang 13

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

6.1 Ý nghĩa khoa học

Luận văn dựa trên các vấn đề lý luận của thực phẩm chức năng và quảng cáo

để xây dựng được khái niệm thế nào là quảng cáo thực phẩm chức năng, hệ thống được những vấn đề pháp lý điều chỉnh hoạt động quảng cáo thực phẩm chức năng Quảng cáo thực phẩm chức năng là hoạt động có đóng góp lớn tới sự phát triển ngành dịch vụ quảng cáo Hoạt động này diễn ra rất phức tạp, có xu hướng biến tướng với những hành vi mà pháp luật chưa kịp điều chỉnh, dẫn tới sự lúng túng của các cơ quan nhà nước trong việc áp dụng pháp luật về quảng cáo thực phẩm chức năng trên thực tế Vì vậy, việc hiểu rõ những vấn đề cơ bản về quảng cáo thực phẩm chức năng cũng như các quy phạm pháp luật điều chỉnh sẽ có tác động lớn tới chủ thể áp dụng cũng như những thực hiện pháp luật quảng cáo thực phẩm chức năng

Ngoài các phần Lời mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn được chia làm hai chương Cụ thể:

Chương 1: Tổng quan pháp luật về quảng cáo thực phẩm chức năng ở Việt Nam

Chương 2: Thực trạng thi hành pháp luật về quảng cáo thực phẩm chức năng

ở Việt Nam và một số giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành

Trang 14

CHƯƠNG 1:

TỔNG QUAN PHÁP LUẬT VỀ QUẢNG CÁO THỰC PHẨM CHỨC NĂNG Ở VIỆT NAM

1.1.1 Khái niệm thực phẩm chức năng và các loại thực phẩn chức năng

1.1.1.1 Khái niệm thực phẩm chức năng

TPCN là kết quả nghiên cứu, tổng hợp từ các nguồn thực phẩm trong tự nhiên nhằm mang lại các công dụng cải thiện sức khỏe cho con người Khái niệm và tên gọi về TPCN bắt nguồn từ Nhật Bản Năm 1980, BYT và sức khỏe Nhật Bản bắt đầu xây dựng hệ thống tổ chức trong Bộ, có nhiệm vụ điều chỉnh và công nhận những loại thực phẩm có hiệu quả cải thiện sức khỏe của cộng đồng dân cư Tổ chức này cho phép ghi trên nhãn hiệu hàng hóa thực phẩm sử dụng cho sức khỏe con người, chữ viết tắt từ cụm từ tiếng Anh là FOSHU (Food for Specified Health Use)

Hơn 20 năm hoạt động trong lĩnh vực này, tới tháng 9 năm 2001, đã có hơn

271 sản phẩm thực phẩm mang nhãn hiệu FOSHU Sau khi xuất hiện ở Nhật Bản, TPCN đã xuất hiện ở nhiều nước trên thế giới2 Hiệp hội thực phẩm sức khỏe và dinh dưỡng Nhật Bản định nghĩa: TPCN là thực phẩm bổ sung một số thành phần

có lợi hoặc loại bỏ một số thành phần bất lợi Việc bổ sung hay loại bỏ phải được chứng minh và cân nhắc một cách khoa học và được BYT cho phép xác định hiệu quả của thực phẩm đối với sức khỏe3

Ở Mỹ quan niệm TPCN ADA (The American Dietetic Association) là thực phẩm bao gồm tất cả các thành phần có trong nó và cũng là thực phẩm được làm mạnh thêm, làm giàu thêm hoặc nâng cao thêm yếu tố nào đó, có hiệu quả tiềm năng đến sức khỏe khi tiêu thụ một phần nó trong khẩu phần một cách thường xuyên, với mức độ có tác dụng Còn Hiệp hội nghiên cứu thực phẩm Leatherhead (châu Âu) lại cho rằng khó có thể định nghĩa TPCN vì sự đa dạng phong phú của

nó Tổ chức này cho rằng: “TPCN là thực phẩm được chế biến từ thức ăn thiên

nhiên, được sử dụng như một phần của chế độ ăn hàng ngày và có khả năng cho một tác dụng sinh lý nào đó khi được sử dụng”

Trang 15

Theo Hiệp hội thông tin thực phẩm quốc tế - IFIC (The International Food Information Council), TPCN là thực phẩm mang đến những lợi ích cho sức khỏe vượt xa hơn dinh dưỡng cơ bản Viện Khoa học và đời sống quốc tế - ILSI (The International Life Sciences Institute of North America) chỉ ra rằng TPCN là loại thực phẩm có chứa hoạt chất sinh học có ích cho sức khỏe trên cơ sở các chất dinh dưỡng cơ bản

Nhìn chung, trên thế giới có rất nhiều cách hiểu khác nhau về TPCN Tại Việt Nam, từ năm 1990-1991, Viện dinh dưỡng đã xác định: TPCN là thực phẩm có chứa các chất có hoạt tính sinh học cần thiết cho sức khỏe, bao gồm cả thực phẩm chế biến cải tiến, thức ăn cổ truyền dân tộc và các thành phần không dinh dưỡng khác, có tác động đặc biệt và cần thiết cho sức khỏe (theo Bùi Minh Đức, 2004)

Tổng hợp những phân tích trên có thể định nghĩa TPCN (Functional Foods) là các

sản phẩm thực phẩm có tác dụng hỗ trợ cấu trúc chức năng của các bộ phận trong

cơ thể, tạo cho cơ thể tình trạng thoải mái, tăng sức đề kháng, giảm nguy cơ và tác

Về mặt pháp lý, lần đầu tiên khái niệm TPCN được quy định trong Thông tư

số 08/2004/TT-BYT ngày 23 tháng 8 năm 2004 của Bộ Y tế hướng dẫn việc quản lý các sản phẩm thực phẩm chức năng Theo đó, TPCN là thực phẩm dùng để hỗ trợ chức năng của các bộ phận trong cơ thể người, có tác dụng dinh dưỡng, tạo cho cơ thể tình trạng thoải mái, tăng sức đề kháng và giảm bớt nguy cơ gây bệnh Đến năm

2010, khái niệm TPCN được quy định tại khoản 23 Điều 2 Luật An toàn thực phẩm:

“Thực phẩm chức năng là thực phẩm dùng để hỗ trợ chức năng của cơ thể con người, tạo cho cơ thể tình trạng thoải mái, tăng sức đề kháng, giảm bớt nguy cơ mắc bệnh, bao gồm thực phẩm bổ sung, thực phẩm bảo vệ sức khoẻ, thực phẩm dinh dưỡng y học”

Từ định nghĩa trên có thể rút ra các đặc điểm của TPCN như sau:

Thứ nhất, TPCN là thực phẩm dùng để ăn hoặc uống nhằm hỗ trợ chức năng

của cơ thể con người Tức là TPCN có thể loại bỏ các chất bất lợi và bổ sung các chất có lợi, có tác dụng tăng cường sức khỏe, dự phòng, giảm thiểu nguy cơ gây bệnh tới một hay nhiều chức năng của cơ thể

Thứ hai, TPCN là giao thoa giữa thực phẩm và thuốc, giống thực phẩm về

bản chất nhưng khác về hình thức, giống thuốc về hình thức nhưng khác về bản

4

Trần Đáng (chủ biên, 2013), Thực phẩm chức năng - Functional Food , Nxb Y học

Trang 16

chất Đây là một trong những đặc trưng cơ bản nhất của TPCN, để phân biệt sự khác nhau giữa TPCN với các loại hàng hóa khác, đặc biệt là thuốc

Thứ ba, TPCN có nguồn gốc tự nhiên (thực vật, động vật, khoáng vật) và

được đánh giá đầy đủ về tính chất lượng, tính an toàn, tính hiệu quả

1.1.1.2 Các loại thực phẩm chức năng

Dựa trên khái niệm và những cách hiểu khác nhau của các quốc gia, TPCN bao gồm nhiều loại Tùy từng cách phân loại, TPCN được chia ra làm nhiều loại Phó giáo sư, tiến sĩ Trần Đáng - Chủ tịch Hiệp hội TPCN Việt Nam cho rằng, ở Việt Nam, dựa vào bản chất của TPCN có 5 cách phân loại: Theo phương thức chế biến; theo dạng sản phẩm; theo phương thức quản lý; theo tác dụng và phương pháp phân loại tương đối đặc biệt áp dụng theo cách của người Nhật Bản Cụ thể:

Thứ nhất, theo phương thức chế biến, TPCN được chia thành bốn loại nhỏ:

Nhóm sản phẩm bổ sung vitamin; nhóm sản phẩm bổ sung khoáng chất; nhóm sản phẩm bổ sung hoạt chất sinh học và các loại sản phẩm bào chế từ thảo dược

Thứ hai, theo dạng sản phẩm: TPCN được chia làm 2 dạng: Thực phẩm -

thuốc và thức ăn - thuốc Dạng thực phẩm - thuốc có nhiều loại: Dạng viên, dạng nước, dạng bột, dạng trà, dạng rượu, dạng cao, dạng kẹo, dạng thực phẩm cho mục đích đặc biệt Dạng thức ăn - thuốc bao gồm: Cháo thuốc, món ăn thuốc, món ăn bổ dưỡng, canh thuốc, nước uống thuốc…

Thứ ba, theo chức năng tác dụng: TPCN gồm 26 dạng khác nhau Cụ thể: các

nhóm sản phẩm hỗ trợ chống lão hóa; hỗ trợ tiêu hóa; hỗ trợ giảm huyết áp; hỗ trợ giảm đái tháo đường; tăng cường sinh lực; bổ sung chất xơ; phòng ngừa rối loạn tuần hoàn não; hỗ trợ thần kinh; bổ dưỡng; tăng cường miễn dịch; giảm béo; bổ sung calci, ngăn ngừa loãng xương; phòng ngừa thoái hóa khớp; hỗ trợ làm đẹp; bổ mắt; giảm cholesterol; hỗ trợ điều trị ung thư; phòng chống bệnh Gout; giảm mệt mỏi, stress; hỗ trợ phòng và giải độc; hỗ trợ an thần, ngăn ngừa mất ngủ; hỗ trợ phòng ngừa bệnh răng miệng; hỗ trợ phòng ngừa bệnh nội tiết; hỗ trợ tăng cường trí nhớ và khả năng tư duy; hỗ trợ phòng chống bệnh tai, mũi, họng và hỗ trợ phòng chống bệnh về da

Thứ tư, theo phương thức quản lý: TPCN được phân ra thành 3 loại: TPCN

phải đăng ký, TPCN không phải đăng ký chứng nhận và TPCN được sử dụng cho

5

Trần Đáng, tlđd chú thích 4, tr.54

Trang 17

mục đích đặc biệt TPCN phải đăng ký là loại TPCN phải đăng ký và được chứng nhận, cấp phép lưu hành của Cục ATTP

Theo cách phân loại phổ biến tại Nhật Bản, TPCN được chia thành hai nhóm

là nhóm các thực phẩm công bố về sức khỏe (gồm 2 loại: thực phẩm dùng cho mục đích đặc biệt và thực phẩm có khuyến cáo chức năng dinh dưỡng) và nhóm thực phẩm đặc biệt (gồm thực phẩm cho người ốm, sữa bột trẻ em, sữa bột cho phụ nữ có thai và cho con bú, thực phẩm cho người già nhai nuốt khó)

Dựa vào tác dụng, pháp luật Việt Nam quy định TPCN có 4 loại sau6: Thực phẩm bổ sung; thực phẩm bảo vệ sức khỏe; thực phẩm dinh dưỡng y học; thực phẩm dùng cho chế độ ăn đặc biệt

1.1.1.3 Sự khác nhau giữa thực phẩm chức năng và thuốc chữa bệnh

Là sản phẩm dễ bị nhầm lẫn với thuốc chữa bệnh về tác dụng nên người bệnh hoặc NTD rất khó có được sự lựa chọn đúng đắn để cải thiện cho sức khỏe của mình Hình vẽ dưới đây cho thấy sự khác nhau cơ bản giữa TPCN và thuốc chữa bệnh:

Hình 1 Phân biệt các loại thực phẩm và thuốc

TPCN được hiểu là các sản phẩm thực phẩm có tác dụng hỗ trợ cấu trúc chức năng của các bộ phận trong cơ thể, tạo cho cơ thể tình trạng thoải mái, tăng sức đề kháng, giảm nguy cơ và tác hại của bệnh tật Thuốc là chế phẩm có chứa dược chất hoặc dược liệu dùng cho người nhằm mục đích phòng bệnh, chẩn đoán bệnh, chữa bệnh, điều trị bệnh, giảm nhẹ bệnh, điều chỉnh chức năng sinh lý cơ thể người bao gồm thuốc hóa dược, thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền, vắc xin và sinh phẩm7 Như vật, TPCN và thuốc có những điểm khác nhau cơ bản sau:

Tiêu chí đầu tiên: Công bố trên nhãn của nhà sản xuất và công nghệ sản xuất

Công bố trên nhãn của nhà sản xuất đối với TPCN là “Thực phẩm chức năng” - tức

Trang 18

là được sản xuất theo Luật ATTP 2010 Theo đó, các nhà sản xuất TPCN được yêu cầu thực hiện 4 loại công bố trên nhãn của sản phẩm của họ (công bố về dinh dưỡng, công bố về lợi ích, công bố về sức khỏe, công bố về cấu trúc hoặc chức năng8) và TPCN được sản xuất với công nghệ chiết, nghiền nên tiêu chuẩn ít nghiêm ngặt hơn Ngược lại, công bố trên nhãn của thuốc là “Thuốc” và được sản xuất theo Luật Dược Công bố trên nhãn phải thể hiện được tên thuốc, thành phần cấu tạo của thuốc, dạng bào chế, quy cách đóng gói, chỉ định, cách dùng, chống chỉ định, số lô sản xuất, ngày sản xuất, các dấu hiệu lưu ý, xuất xứ của thuốc9… Thuốc được sản xuất với công nghệ sản xuất phức tạp hơn so với TPCN, bao gồm chiết, tách, tổng hợp cùng với những tiêu chuẩn hết sức nghiêm ngặt

Tiêu chí thứ hai: Thành phần, hàm lượng và hiệu quả Thuốc thường là hóa

chất tổng hợp tạo thành các phân tử với hàm lượng cao, hiệu quả với cơ thể mạnh

mẽ và nhanh chóng nhưng TPCN là hỗn hợp của nhiều chất, hoạt chất tự nhiên có trong chuỗi cung cấp thực phẩm, hàm lượng của nó xấp xỉ nhu cầu sinh lý hàng ngày của cơ thể nên hiệu quả sinh lý đến chậm hơn so với thuốc, tuy nhiên lại có tác dụng rất bền vững

Tiêu chí thứ ba: Điều kiện sử dụng TPCN được NTD tự mua ở siêu thị, hiệu

thuốc, các cửa hàng chuyên bán TPCN và sử dụng theo hướng dẫn từ phía nhà sản xuất Ngược lại, thông thường muốn sử dụng thuốc, người bệnh phải đến khám bệnh tại các cơ sở y tế, bác sĩ sẽ khám và kê đơn sử dụng thuốc phù hợp với từng loại bệnh

Tiêu chí thứ tư: Điều kiện phân phối Để phân phối ra thị trường thuốc phải

đáp ứng điều kiện hết sức nghiêm ngặt theo quy định của pháp luật là chỉ được bán tại các hiệu thuốc đã đăng kí với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và có dược sĩ là người trực tiếp bán Khác thuốc, TPCN được bán dưới nhiều hình thức như bán lẻ, bán tại các siêu thị, đại lý, công ty, bán hàng trực tiếp, bán hàng đa cấp… Như vậy,

ai cũng có thể phân phối TPCN, chỉ cần tuân thủ các quy định của pháp luật về tiêu chuẩn, chất lượng, đăng ký kinh doanh…

Tiêu chí thứ năm: Về cách dùng Nếu như thuốc chỉ uống theo từng đợt vì

nếu uống nhiều thuốc sẽ có nguy cơ biến chứng, tai biến hoặc có tác dụng phụ thì

8

Lê Thị Thanh Long (2016), “Hiều về những công bố trên nhãn chế phẩm bổ sung dinh dưỡng”, Thực phẩm

cộng đồng, 5-c-6.html, ngày truy cập 30/5/2017

https://thucphamcongdong.vn/hieu-ve-nhung-cong-bo-tren-nhan-che-pham-bo-sung-dinh-duong-9

Điều 7 Thông tư số 06/2016/TT-BYT ngày 08 tháng 3 năm 2016 của Bộ Y tế quy định ghi nhãn thuốc

Trang 19

TPCN có thể dùng thường xuyên, liên tục bổ sung thêm vào khẩu phần ăn hàng ngày bởi TPCN được sử dụng một cách an toàn sẽ ít tai biến và tác dụng phụ

1.1.2 Khái niệm và đặc trưng của quảng cáo thực phẩm chức năng

Dưới góc độ ngôn ngữ, quảng cáo được định nghĩa là một loại thông tin phải trả tiền, có tính đơn phương, không dành riêng cho ai, có vận dụng mọi biện pháp

và phương tiện thông tin đại chúng để hỗ trợ một sản phẩm, một nhãn hiệu, một xí nghiệp, một mục đích hoặc một tổ chức nào đó… được nêu danh trong quảng cáo10 Dưới góc độ pháp lý, quảng cáo là việc sử dụng các phương tiện nhằm giới thiệu đến công chúng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ có mục đích sinh lợi; sản phẩm, dịch

vụ không có mục đích sinh lợi; tổ chức, cá nhân kinh doanh sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ được giới thiệu, trừ tin thời sự; chính sách xã hội; thông tin cá nhân11 Riêng QCTPCN, tới thời điểm hiện tại pháp luật chưa quy định cụ thể nhưng từ định nghĩa quảng cáo và TPCN có thể định nghĩa:

Quảng cáo thực phẩm chức năng là hoạt động do thương nhân thực hiện để giới thiệu, quảng bá thông qua việc sử dụng các phương tiện nhằm giới thiệu đến công chúng những loại thực phẩm dùng để hỗ trợ chức năng của cơ thể con người nhằm thúc đẩy quá trình sản xuất, bán, tiêu thụ, sử dụng thực phẩm chức năng

TPCN là một loại hàng hóa các thương nhân, nhà sản xuất muốn kinh doanh

để kiếm lời nên QCTPCN là hoạt động nhằm thúc đẩy quá trình tiêu thụ sản phẩm

Do đó QCTPCN mang những đặc điểm pháp lí cơ bản của quảng cáo thương mại: Chủ thể hoạt động QCTPCN là thương nhân; QCTPCN có thể được thương nhân tự mình thực hiện hoặc thuê dịch vụ quảng cáo của thương nhân khác; Cách thức xúc tiến thương mại của hoạt động QCTPCN đó là sử dụng TPCN và phương tiện quảng cáo thương mại để thông tin về hàng hóa dịch vụ đến khách hàng, NTD; Mục đích của QCTPCN là giới thiệu TPCN nhằm xúc tiến kinh doanh, buôn bán của nhà sản xuất, đáp ứng nhu cầu cạnh tranh và mục tiêu lợi nhuận của thương nhân

Vì đối tượng của quảng cáo là TPCN - một sản phẩm đặc biệt nên ngoài những đặc điểm trên QCTPCN còn có những đặc điểm riêng biệt Cụ thể:

- QCTPCN là hoạt động giới thiệu hàng hóa đặc biệt – TPCN Chịu sự điều chỉnh của rất nhiều các văn bản pháp luật khác nhau bởi tính chất và tác dụng của

10

National texbook company (NTC) 1992, Hoa Kỳ, trích trong tài liệu “Nguyễn Thị Dung (2005), Khái niệm

“Quảng cáo” trong pháp luật Việt Nam và ảnh hưởng của nó đến việc hoàn thiện pháp luật về quảng cáo,

Tạp chí Nhà nước và Pháp luật (12), tr 33”

11

Khoản 1 Điều 2 Luật Quảng cáo 2012

Trang 20

TPCN ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe của NTD, do đó hướng dẫn cách thức sử dụng, truyền tải thông tin về TPCN tới khách hàng, NTD hiệu quả phải bằng nhiều cách thức và thông qua nhiều phương tiện quảng cáo

- TPCN có công dụng đặc biệt, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người

sử dụng, vì vậy pháp luật quy định nội dung QCTPCN phải tuân thủ theo quy định của LQC nói chung và Luật ATTP nói riêng Tức là ngoài việc thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm, thu lợi nhuận cho chính mình, thương nhân tiến hành quảng cáo phải đặt mục đích sử dụng TPCN an toàn và hiệu quả lên hàng đầu TPCN hướng tới nhiều NTD,

ở mọi thành phần, mọi lứa tuổi nên QCTPCN tiếp cận đến đại bộ phận đối tượng khách hàng tiềm năng, từ trẻ em, tới thanh niên, người trưởng thành hay người già

1.1.3 Tác động của quảng cáo thực phẩm chực năng đối với xã hội

Là một trong những vấn đề nổi cộm trong xã hội hiện nay, QCTPCN được Nhà nước và tất cả mọi người quan tâm Không chỉ về mặt lí luận, mặt pháp lí mà còn cả tác động của QCTPCN đối với xã hội Nhìn nhận về vấn đề này, phải thấy được những tác động tích cực, những tác động tiêu cực mà QCTPCN đã tác động tới xã hội

1.1.3.1 Tác động tích cực

Không thể phủ nhận vai trò tích cực của QCTPCN đối với xã hội Có thể thấy quảng cáo tạo công ăn việc làm cho nhiều người, thúc đẩy sự tiếp xúc giữa cung và cầu hàng hóa, qua đó kích thích nhu cầu tiêu dùng của mọi người trong nền kinh tế, đẩy mạnh sự phát triển của thị trường tiêu dùng Việt Nam Doanh thu từ hoạt động QCTPCN đã đóng góp vào cho ngân sách Nhà nước một phần không nhỏ, làm kinh tế tăng trưởng không ngừng

TPCN là một loại sản phẩm được sản xuất rộng rãi trên thị trường, đặc biệt ở Việt Nam - nơi có nền tảng về nguồn nguyên liệu và nhân công phù hợp Nhận thức được điều này, rất nhiều các doanh nghiệp đã đầu tư vào sản xuất TPCN, kể cả các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việc sản xuất nhiều loại TPCN đặt ra thách thức tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm đối các doanh nghiệp Để giải quyết vấn đề này, QCTPCN là phương thức đẩy mạnh kinh doanh, góp phần hình thành môi trường cạnh tranh lành mạnh, bảo vệ quyền lợi của nhà sản xuất và NTD, giúp công chúng biết đến thương hiệu của doanh nghiệp… và góp phần nâng cao chất lượng hàng hóa của các doanh nghiệp

Với con người, QCTPCN là phương tiện không thể thiếu trong quá trình đưa các loại TPCN ra thị trường, giúp NTD nắm bắt đầy đủ thông tin về sản phẩm, qua

Trang 21

đó có được sự lựa chọn chính xác, phù hợp với sức khỏe của mình Ngoài việc giúp người dân tiếp cận với xu hướng tiêu dùng lành mạnh, tiếp cận được với những sản phẩm có uy tín, chất lượng trên thị trường, QCTPCN còn là những căn cứ để NTD

so sánh thông tin, giá cả, dịch vụ… giữa những sản phẩm của những doanh nghiệp khác nhau Sự am hiểu của NTD về sản phẩm và thị trường TPCN như hiện nay một phần là nhờ quảng cáo

1.1.3.2 Tác động tiêu cực

Mặc dù QCTPCN có những tác động tích cực nhưng không tránh khỏi có những tác động tiêu cực đến xã hội Với xã hội, không quản lý tốt QCTPCN sẽ tác động tiêu cực vào văn hóa tinh thần, xâm phạm thuần phong mỹ tục, văn hóa truyền thống, cổ vũ lối sống vật chất thực dụng, kích động bạo lực… Điều này ảnh hưởng xấu tới sự phát triển nền văn hóa và duy trì lối sống tinh thần của đại bộ phận người dân

Với NTD, QCTPCN cung cấp nhiều thông tin về chủng loại, mẫu mã đã khiến NTD khó khăn trong việc xác định, phân biệt, lựa chọn sản phẩm phù hợp với mục đích của mình Có những QCTPCN đưa ra thông tin “thôi phồng”, gian dối, không chính xác, gây hiểu nhầm, ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe NTD Hậu quả làm cho nhận thức của NTD về TPCN bị sai lệch, nghiêm trọng hơn là ảnh hưởng tới sức khỏe do NTD sử dụng TPCN thay bữa ăn hàng ngày hoặc thay thế thuốc chữa bệnh

Với các doanh nghiệp, QCTPCN là hoạt động phức tạp bởi đối tượng của quảng cáo là sản phẩm đặc biệt, phải có sự tác động lâu dài Vì vậy, muốn QCTPCN thực sự có hiệu quả cần có sự đầu tư lớn, lâu dài khiến cho chi phí quảng cáo tăng đã ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến những hành vi vi phạm pháp luật về QCTPCN Ngoài ra, trong nhiều trường hợp QCTPCN còn có tác động tiêu cực vào đời sống xã hội của cộng đồng cư dân

Sự xuất hiện tràn lan của QCTPCN ở mọi lúc, mọi nơi với nhiều thông tin đã gây bối rối, khó phân biệt, khó lựa chọn, làm ức chế, quảng cáo khiếm nhã không hợp văn hóa gây bức xúc trong dư luận… và tạo ra môi trường cạnh tranh không lành mạnh, ảnh hưởng đến sự phát triển của thị trường TPCN, thay đổi cách suy nghĩ và hành động, cách sống của nhiều người trong cộng đồng, đặc biệt là giới trẻ dẫn tới những thay đổi trong quan hệ gia đình và xã hội khác lạ với tập quán và đạo đức vốn có

Trang 22

1.2 Nội dung cơ bản của pháp luật về quảng cáo thực phẩm chức năng ở Việt Nam

1.2.1 Sự hình thành và phát triển của pháp luật về quảng cáo thực phẩm chức năng ở Việt Nam

Trước năm 1989, hầu hết các quy định về quảng cáo chưa xuất hiện nên quy định về QCTPCN hoàn toàn chưa có Từ năm 1989 đến trước tháng 12/1994, những vấn đề pháp lí liên quan đến quảng cáo dần được đề cập Lần đầu tiên, pháp luật Việt Nam quy định về lĩnh vực quảng cáo ở Luật báo chí 1989 nhưng chỉ quy định quảng cáo trên báo chí, nêu sơ lược về quảng cáo và không quy định chi tiết, cụ thể các vấn đề liên quan đến QCTPCN Năm 1991, Uỷ ban Khoa học Nhà nước và Bộ Văn hóa - Thông tin - Thể thao và Du lịch ban hành Thông tư liên bộ số 1191-TT/LB quy định về Quản lý nhãn và quảng cáo sản phẩm hàng hóa Văn bản này mới manh nha đến vấn đề in nhãn và quảng cáo một số loại hàng hóa12

Nhận thấy sự cần thiết và quá trình phát triển mạnh mẽ của quảng cáo, Chính phủ ban hành Nghị định số 194/CP ngày 31 tháng 12 năm 1994 về hoạt động quảng cáo trên lãnh thổ Việt Nam và Bộ Văn hóa - Thông tin ban hành Thông tư số 37/VHTT-TT ngày 01 tháng 3 năm 1995 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 194/CP ngày 31 tháng 12 năm 1994 của Chính phủ về hoạt động quảng cáo trên lãnh thổ Việt Nam Đây là hai văn bản bổ sung quy định điều chỉnh các quan hệ pháp luật và những vấn đề phát sinh trong lĩnh vực quảng cáo Với QCTPCN vẫn chỉ dừng lại ở mức độ chung về hình thức, nội dung… Dù LTM 1997 có quy định về quảng cáo hàng hóa nhưng vẫn không có quy định cụ thể về QCTPCN

Trong khoảng thời gian từ năm 2000 - 2001, BYT ban hành liên tiếp hai Thông tư quản lý các sản phẩm thuốc - thực phẩm, cụ thể: Thông tư số17/2000/TT-BYT ngày 27 tháng 9 năm 2000 của Bộ Y tế hướng dẫn đăng ký các sản phẩm dưới dạng thuốc - thực phẩm và Thông tư số 20/2001/TT-BYT ngày 11 tháng 9 năm

2001 của Bộ Y tế hướng dẫn quản lý các sản phẩm thuốc - thực phẩm Hai văn bản tuy không quy định về QCTPCN nhưng là cơ sở cho việc thực hiện các hoạt động quảng cáo liên quan đến TPCN theo LTM 1997 Ngày 16/11/2001, Pháp lệnh Quảng cáo được ban hành và ngày 13/3/2003, Chính phủ ban hành Nghị định số 24/2003/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành pháp luật quảng cáo nhằm triển khai

12

Phạm Thị Vân Anh (2014), Quảng cáo mỹ phẩm dưới góc độ pháp luật thương mại, Luận văn thạc sĩ luật

học, Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr 24

Trang 23

thực hiện cụ thể Pháp lệnh Quảng cáo 2001 Như vậy, hoạt động QCTPCN phải đáp ứng những quy định nêu trên về nội dung, hình thức, phương tiện quảng cáo… Năm 2004, thấy được sự phát triển của TPCN và để thống nhất, phù hợp với thuật ngữ quốc tế, ngày 23/8/2004 Bộ Y tế ban hành Thông tư số 08/2004/TT-BYT ngày 23 tháng 8 năm 2004 của Bộ Y tế hướng dẫn việc quản lý các sản phẩm TPCN Đây là văn bản đầu tiên đề cập đến QCTPCN, yêu cầu QCTPCN phải thực hiện theo quy định của pháp luật về thông tin, quảng cáo, ghi nhãn và phải bảo đảm trung thực, chính xác, rõ ràng không gây thiệt hại cho người sản xuất, kinh doanh, NTD Luật Cạnh tranh 2004 cũng đã quy định về hành vi quảng cáo gây nhầm lẫn tại Điều 45 điều chỉnh vấn đề liên quan đến QCTPCN do TPCN rất gần với thuốc,

dễ gây nhầm lẫn cho NTD

Năm 2005, Quốc Hội thông qua LTM 2005 thay thế LTM 1997 Theo quy định của LTM 2005 và Nghị định số 37/2006/NĐ-CP ngày 04 tháng 4 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại, hoạt động QCTPCN phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật về y tế tuy nhiên vẫn chưa được quan tâm làm rõ, cụ thể Luật ATTP 2010 ra đời quy định về TPCN và những nội dung liên quan tới quảng cáo, ghi nhãn như: Đăng ký quảng cáo, nội dung quảng cáo, thẩm quyền xác nhận nội dung quảng cáo… Đánh dấu bước ngoặt là sự ra đời của Luật Quảng cáo năm 2012, quy định cụ thể chi tiết hơn

so với Pháp lệnh Quảng cáo 2001 LQC là văn bản chuyên ngành thể hiện khá đầy

đủ những nội dung cơ bản về quảng cáo nói chung và QCTPCN nói riêng

Do sự phát triển mạnh mẽ của TPCN, QCTPCN không chỉ được điều chỉnh bằng LQC mà còn được quy định trong Nghị định số 38/2012/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật An toàn thực phẩm, Nghị định số 181/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của LQC, Thông tư số 08/2013/TT-BYT ngày 13 tháng 3 năm 2013 của Bộ Y tế hướng dẫn về quảng cáo thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của Bộ Y tế (đã hết hiệu lực), Thông tư số 43/2014/TT-BYT và Thông tư số 09/2015/TT-BYT ngày 25 tháng 5 năm 2015 của

Bộ Y tế về xác nhận nội dung quảng cáo đối với sản phẩm, hàng hóa dịch vụ đặc biệt thuộc lĩnh vực quản lý của Bộ Y tế cùng hàng loạt các văn bản khác liên quan Tóm lại, hệ thống văn bản pháp luật nước ta khá đầy đủ, phù hợp với tình hình thực tế và nhu cầu sử dụng, cung cấp thông tin của NTD về TPCN, qua đó thiết lập một hành lang pháp lý điều chỉnh các hành vi trong lĩnh vực này

Trang 24

1.2.2 Nội dung pháp luật hiện hành về quảng cáo thực phẩm chức năng

Luật ATTP 2010 quy định “việc quảng cáo thực phẩm do tổ chức, cá nhân

sản xuất, kinh doanh thực phẩm hoặc người kinh doanh dịch vụ quảng cáo thực hiện theo quy định của pháp luật về quảng cáo” (khoản 1 Điều 43) và khoản 1 Điều

7 Thông tư số 43/2014/TT-BYT quy định: “Việc quảng cáo thực phẩm chức năng

phải được thực hiện theo quy định pháp luật về quảng cáo” Đây là quy định chung

nhất về QCTPCN, theo đó tất cả những vấn đề pháp lí liên quan đến hoạt động QCTPCN đều được thực hiện theo quy định của pháp luật quảng cáo, từ chủ thể, nội dung, phương tiện, điều kiện đến thẩm quyền quản lý nhà nước và xử lý vi phạm pháp luật hoạt động QCTPCN sẽ do pháp luật quảng cáo điều chỉnh Trong

đó, vấn đề đặc thù và là sự khác biệt lớn nhất của QCTPCN là nội dung QCTPCN

1.2.2.1 Chủ thể quảng cáo thực phẩm chức năng

Khi nói về chủ thể của QCTPCN, điều đầu tiên có thể nhận thấy rõ nhất là các chủ thể phải tuân thủ theo các quy định về chủ thể của quảng cáo thương mại nói riêng và pháp luật quảng cáo nói chung Theo quy định tại Mục 2 Chương IV LTM 2005 và Điều 2 và Chương II LQC 2012, chủ thể QCTPCN bao gồm: người QCTPCN; người kinh doanh dịch vụ QCTPCN; người phát hành QCTPCN; người cho thuê địa điểm, phương tiện QCTPCN và người tiếp nhận QCTPCN Những chủ thể QCTPCN này tham gia hoạt động quảng cáo ở những công đoạn hoặc những giai đoạn khác nhau và vì vậy mà quyền, nghĩa vụ của họ cũng khác nhau

- Người quảng cáo thực phẩm chức năng

Người quảng cáo là tổ chức, cá nhân có yêu cầu quảng cáo sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của mình hoặc bản thân tổ chức, cá nhân đó (khoản 5 Điều 2 LQC 2012) Vì TPCN là một dạng thực phẩm và được điều chỉnh theo Luật ATTP 2010 nên QCTPCN được thực hiện theo quy định của LQC 2012 và Luật ATTP 2010 Như vậy, người QCTPCN là tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh TPCN thỏa mãn các điều kiện quy định về thương nhân tại Điều 6 LTM 2005 và phải có đăng ký kinh doanh phù hợp ngành nghề theo quy định tại Điều 7 LTM 2005 - tức là phải đăng ký kinh doanh TPCN theo đúng quy định của pháp luật

Người QCTPCN ở Việt Nam có yếu tố nước ngoài tuân thủ quy định tại Điều 39 LQC 2012, tức là các tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động tại Việt Nam được quảng cáo về sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ và hoạt động của mình tại Việt Nam theo quy định của LQC Với tổ chức, cá nhân nước ngoài không hoạt động tại Việt Nam có nhu cầu quảng cáo sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ và hoạt động của

Trang 25

mình tại Việt Nam phải thuê người kinh doanh dịch vụ quảng cáo của Việt Nam

có thực phẩm quảng cáo chỉ được tiến hành quảng cáo khi nội dung đã được thẩm định và chỉ được quảng cáo đúng nội dung đã xác nhận Ngoài ra, Điều 7 Thông tư

số 09/2015/TT-BYT quy định người QCTPCN còn phải có giấy xác nhận công bố phù hợp quy định ATTP (đối với sản phẩm chưa có quy chuẩn kỹ thuật quốc gia) hoặc giấy tiếp nhận bản công bố hợp quy của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Như vậy, pháp luật quy định rất chặt chẽ về người QCTPCN Chỉ người sản xuất, kinh doanh đứng tên trên giấy tiếp nhận bản công bố hợp quy hoặc giấy xác nhận công bố phù hợp quy định ATTP (đối với sản phẩm chưa có quy chuẩn kỹ thuận quốc gia) mới được quảng cáo TPCN do chính mình sản xuất; chỉ đơn vị đứng tên trên giấy tiếp nhận bản công bố hợp quy (hoặc giấy xác nhận công bố phù hợp quy định ATTP) mới được phép đề nghị xác nhận nội dung QCTPCN Trong trường hợp không tự mình thực hiện thì ủy quyền cho đơn vị khác nhưng phải có văn bản ủy quyền Đơn vị được ủy quyền phải đáp ứng đầy đủ điều kiện về người quảng cáo theo LQC 2012 và chỉ được quảng cáo những nội dung đã được thẩm định, đăng ký

QCTPCN là giải pháp hữu hiệu của doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh TPCN - người quảng cáo Với tư cách là chủ thể, người QCTPCN có thể tự mình thực hiện các hoạt động QCTPCN hoặc có thể thuê thương nhân khác thực hiện quảng cáo cho mình thông qua hợp đồng dịch vụ quảng cáo Do đó pháp luật quy định cho họ - người QCTPCN quyền và nghĩa vụ nhất định theo quy định tại Điều

108, 111, Điều 112 LTM 2005, Điều 12 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

2010 và Điều 12 LQC 2012

- Người kinh doanh dịch vụ quảng cáo thực phẩm chức năng

Thay vì tự mình thực hiện tất cả các công đoạn (lên ý tưởng, thuê diễn viên, chọn địa điểm quảng cáo ), việc thuê các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ quảng

Trang 26

cáo có trình độ chuyên môn cao sẽ giúp các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh TPCN có chiến lược quảng cáo sáng tạo và những sản phẩm quảng cáo tốt nhất, chuyên nghiệp nhất, giúp tiết kiệm tối đa thời gian, bảo đảm hiệu quả quảng cáo đạt được mức độ cao

Người kinh doanh dịch vụ quảng cáo là tổ chức, cá nhân thực hiện một, một

số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình quảng cáo theo hợp đồng cung ứng dịch

vụ quảng cáo với người quảng cáo (Khoản 6 Điều 2 LQC 2012) Chưa có Điều luật nào quy định điều kiện cụ thể người kinh doanh dịch vụ quảng cáo phải đáp ứng, nhưng qua các quy định pháp luật, người kinh doanh dịch vụ quảng cáo phải đáp ứng những điều kiện nghiêm ngặt Điều 15 Nghị định số 181/2013/NĐ-CP quy định điều kiện và trách nhiệm của người kinh doanh dịch vụ quảng cáo khi thực hiện hợp đồng dịch vụ quảng cáo trên trang thông tin điện tử của tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh dịch vụ quảng cáo xuyên biên giới tại Việt Nam phải là Doanh nghiệp

có chức năng kinh doanh dịch vụ quảng cáo được thành lập và hoạt động theo pháp

luật Việt Nam (điểm a) Điều 104 LTM 2005 cũng quy định: “Kinh doanh dịch vụ

quảng cáo thương mại là hoạt động thương mại của thương nhân thực hiện việc quảng cáo thương mại cho thương nhân khác”

Như vậy, người kinh doanh dịch vụ quảng cáo phải là thương nhân và có Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật Tuy nhiên không phải tổ chức nào cũng có thể trở thành người kinh doanh dịch vụ quảng cáo bởi theo quy định tại khoản 3 Điều 41 LQC 2012, văn phòng đại diện của doanh nghiệp quảng cáo nước ngoài đã được thành lập và hoạt động khi có giấy phép của UBND cấp tỉnh nơi văn phòng hoạt động chỉ được xúc tiến quảng cáo, không được trực tiếp kinh doanh quảng cáo

Người kinh doanh dịch vụ QCTPCN chỉ được tiến hành QCTPCN nếu có hợp đồng với tổ chức, cá nhân sản xuất, đưa sản phẩm TPCN ra thị trường về việc

họ ủy quyền cho người kinh doanh dịch vụ QCTPCN tiến hành hoạt động QCTPCN hoặc phải có giấy ủy quyền theo quy định tại Khoản 4 Điều 7 Thông tư số

09/2015/TT-BYT: “Đơn vị đề nghị xác nhận nội dung quảng cáo là đơn vị đứng

tên trên giấy tiếp nhận bản công bố hợp quy hoặc giấy xác nhận công bố phù hợp quy định an toàn thực phẩm (đối với sản phẩm chưa có quy chuẩn kỹ thuật quốc gia) hoặc đơn vị có tư cách pháp nhân được đơn vị đứng tên trên giấy tiếp nhận bản công bố hợp quy hoặc giấy xác nhận công bố phù hợp quy định an toàn thực phẩm ủy quyền bằng văn bản”

Trang 27

Giống người QCTPCN, người kinh doanh dịch vụ QCTPCN có quyền, nghĩa

vụ theo Điều 13 LQC 2012, Điều 113 LTM 2005, Điều 114 LTM 2005 và Điều 15 Nghị định số 181/2013/NĐ-CP Trong trường hợp quảng cáo trên trang thông tin điện tử của tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh dịch vụ quảng cáo xuyên biên giới có phát sinh doanh thu quảng cáo tại Việt Nam, người kinh doanh dịch vụ QCTPCN còn phải: chịu trách nhiệm về sản phẩm quảng cáo khi thực hiện dịch vụ quảng cáo; thực hiện các hoạt động hỗ trợ, quảng cáo, khai thác quảng cáo trên các trang thông tin điện tử của tổ chức, cá nhân nước ngoài khi đáp ứng các quy định pháp luật của Việt Nam về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng; gửi báo cáo định kỳ 6 tháng/lần về hoạt động thực hiện dịch vụ quảng cáo cho Sở VHTT&DL nơi người kinh doanh dịch vụ quảng cáo đặt trụ sở chính theo mẫu do Bộ VHTT&DL quy định hoặc báo cáo đột xuất theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

- Người phát hành quảng cáo thực phẩm chức năng

Là chủ thể trực tiếp phát hành sản phẩm quảng cáo về TPCN (Điều 115 LTM 2005), công việc chính của họ là đưa sản phẩm quảng cáo đến được với NTD Vì vậy vai trò của người phát hành QCTPCN rất quan trọng LQC 2012 quy định:

“Người phát hành quảng cáo là tổ chức, cá nhân dùng phương tiện quảng cáo thuộc trách nhiệm quản lý của mình giới thiệu sản phẩm quảng cáo đến công chúng, bao gồm cơ quan báo chí, nhà xuất bản, chủ trang thông tin điện tử, người

tổ chức chương trình văn hóa, thể thao và tổ chức, cá nhân sử dụng phương tiện quảng cáo khác” (khoản 7 Điều 2)

Người phát hành QCTPCN không nhất thiết phải là thương nhân như người quảng cáo và kinh doanh dịch vụ QCTPCN Trên thực tế, người phát hành QCTPCN có thể đồng thời là người kinh doanh dịch vụ quảng cáo hoặc là người cho thuê phương tiện quảng cáo Đây là trường hợp người kinh doanh dịch vụ quảng cáo vừa là người có quyền sở hữu, vừa là người có quyền sử dụng phương tiện quảng cáo13 Việc phát hành quảng cáo chỉ được thực hiện khi QCTPCN đã được thẩm định nội dung và chỉ được quảng cáo đúng nội dung đã được xác nhận Với quy định người quảng cáo TPCN và người kinh doanh dịch vụ QCTPCN được phép lựa chọn người phát hành quảng cáo cho sản phẩm QCTPCN của họ, quyền và nghĩa vụ của người phát hành QCTPCN được cụ thể hóa trong các văn

13

Phạm Thị Vân Anh, tlđd chú thích 12, tr 31

Trang 28

bản pháp luật: Điều 14 LQC 2012, Điều 116, Điều 107 LTM 2005 Ngoài những quyền và nghĩa vụ theo Điều 14 LQC 2012, họ còn có các quyền và nghĩa vụ theo những quy định pháp luật đối với mỗi phương tiện quảng cáo mà họ sử dụng như pháp luật về báo chí, xuất bản, in ấn, thương mại điện tử…

- Người cho thuê địa điểm, phương tiện quảng cáo thực phẩm chức năng

Là người nắm giữ các phương tiện quảng cáo như báo in, báo hình, báo điện tử… người cho thuê địa điểm, phương tiện QCTPCN luôn sẵn sàng cho các đối tượng có nhu cầu thuê với mục đích quảng cáo Giống người phát hành QCTPCN, người cho thuê địa điểm, phương tiện QCTPCN chỉ tham gia vào một khâu trong quá trình thực hiện hoạt động quảng cáo Chính vì lẽ đó, thực tế người cho thuê địa điểm, phương tiện quảng cáo thường đồng thời là người phát hành quảng cáo Quyền và nghĩa vụ của họ được quy định tại Điều 15 LQC 2015 và nếu họ cũng là người phát hành QCTPCN thì họ còn có thêm những quyền và nghĩa vụ của người phát hành quảng cáo theo quy định của pháp luật

- Người tiếp nhận quảng cáo thực phẩm chức năng

Khoản 9 Điều 2 LQC 2012 định nghĩa người tiếp nhận quảng cáo là người tiếp nhận thông tin từ sản phẩm quảng cáo thông qua phương tiện quảng cáo Như vậy, người tiếp nhận QCTPCN là người tiếp nhận thông tin từ sản phẩm QCTPCN thông qua phương tiện quảng cáo Mặc dù người tiếp nhận quảng cáo không tham gia vào quá trình thực hiện hoạt động quảng cáo nhưng lại là chủ thể đóng vai trò quan trọng Thái độ người tiếp nhận QCTPCN sẽ là cơ sở xác định hiệu quả của hoạt động QCTPCN bởi người phát hành quảng cáo khi thực hiện hoạt động QCTPCN luôn hướng tới người tiếp nhận quảng cáo - những khách hàng tiềm năng Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010 (khoản 2, 6 Điều 8) và LQC

2012 (Điều 16) quy định về quyền và nghĩa vụ của người tiếp nhận quảng cáo như sau: Được thông tin trung thực về chất lượng, tính năng, tác dụng của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ; được từ chối tiếp nhận quảng cáo; được yêu cầu người quảng cáo hoặc người phát hành quảng cáo bồi thường thiệt hại khi sản phẩm, hàng hóa, dịch

vụ không đúng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, chất lượng, số lượng, tính năng, công dụng, giá cả hoặc nội dung khác mà tổ chức, cá nhân đã quảng cáo; khi tố cáo phải cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ về hành vi vi phạm pháp luật về quảng cáo với cơ quan quản lý nhà nước và chứng cứ chứng minh thiệt hại quảng cáo gây ra…

1.2.2.2 Nội dung quảng cáo thực phẩm chức năng

Trang 29

QCTPCN là sản phẩm bao gồm nội dung và hình thức được thể hiện bằng hình ảnh, âm thanh, tiếng nói, chữ viết, biểu tượng, màu sắc, ánh sáng hoặc các hình thức tương tự (khoản 3 Điều 2 LQC 2012) Chịu sự điều chỉnh của pháp luật thương mại và pháp luật quảng cáo, một QCTPCN phải đáp ứng các điều kiện chặt chẽ được quy định tại LQC 2012, Điều 5 Nghị định số 181/2013/NĐ-CP và Thông tư số 09/2015/TT-BYT cả về mặt nội dung và về mặt hình thức

Về mặt nội dung, QCTPCN phải đảm bảo đúng các quy định của pháp luật về

quảng cáo, không được thực hiện hành vi bị cấm theo quy định tại Điều 8 của LQC

2012 và phải bảo đảm trung thực, chính xác, rõ ràng, không gây thiệt hại cho người sản xuất, kinh doanh và người tiếp nhận quảng cáo (khoản 1 Điều 9 LQC 2012) Nội dung QCTPCN bao gồm: Tên TPCN; xuất xứ hàng hóa; tên, địa chỉ của tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm đưa sản phẩm ra thị trường; Tác dụng chính và các

tác dụng phụ (nếu có); hướng dẫn sử dụng, hướng dẫn bảo quản; khuyến cáo “Sản

phẩm này không phải là thuốc và không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh”

Trên các phương tiện thông tin đại chúng, tờ rơi, pốt-x-tơ (poster), áp phích, nội dung QCTPCN phải bảo đảm đúng tác dụng của sản phẩm đã công bố, nếu có nội dung khác thì phải có tài liệu khoa học chứng minh và trích dẫn rõ nguồn tài liệu tham khảo trong market, kịch bản quảng cáo, đối với sản phẩm có cách sử dụng, cách bảo quản đặc biệt phải được nêu cụ thể trong quảng cáo

Với QCTPCN được phát hành trên báo nói, báo hình phải tuân thủ đúng theo quy định tại khoản 4, 5 Điều 5 Nghị định 181/2013/NĐ-CP như đọc rõ ràng tên, tác dụng của TPCN Những nội dung trong QCTPCN phải đảm bảo được tính trung thực, phù hợp với Giấy tiếp nhận bản công bố hợp quy hoặc Giấy xác nhận phù hợp quy định ATTP (khoản 1 Điều 7 Thông tư số 09/2015/TT-BYT) Riêng quảng cáo trên bảng, biển, panô, kệ giá kê hàng, chạy chữ dưới chân các chương trình truyền hình, trên các vật dụng khác, vật thể trên không, dưới nước, vật thể di động không bắt buộc phải chứa đầy đủ các nội dung thông tin về cách dùng, tác dụng, bảo quản nhưng phải bảo đảm phù hợp với nội dung đã công bố hợp quy hoặc công bố phù hợp quy định ATTP, phương tiện QCTPCN

Pháp luật quy định không được QCTPCN dưới hình thức bài viết của bác sỹ, dược sỹ, nhân viên y tế, có nội dung mô tả thực phẩm có tác dụng điều trị bệnh; không được sử dụng hình ảnh, trang phục, tên, thư tín của các đơn vị, cơ sở y tế, bác

sỹ, dược sỹ, nhân viên y tế, thư cảm ơn của người bệnh để quảng cáo thực phẩm và không được QCTPCN gây hiểu nhầm sản phẩm đó là thuốc

Trang 30

Nội dung QCTPCN phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận

Khoản 4 Điều 43 Luật ATTP 2010 nêu rõ ràng rằng: “Người phát hành quảng cáo,

người kinh doanh dịch vụ quảng cáo, tổ chức, cá nhân có thực phẩm quảng cáo chỉ được tiến hành quảng cáo khi đã được thẩm định nội dung và chỉ được quảng cáo đúng nội dung đã được xác nhận” Để được cấp giấy xác nhận, người QCTPCN

hoặc người kinh doanh dịch vụ QCTPCN phải nộp hồ sơ đề nghị xác nhận nội dung quảng cáo theo quy định tại Điều 16 Thông tư số 09/2015/TT-BYT Với các trường hợp giấy xác nhận nội dung quảng cáo bị mất, bị hư hỏng, hết hiệu lực, thay đổi địa chỉ, tên của nhà sản xuất thì sẽ được cấp lại

Về mặt hình thức, theo quy định tại Điều 18 LQC 2012, tiếng nói và chữ viết

trong một sản phẩm QCTPCN phải được thể hiện bằng tiếng Việt, trừ: Nhãn hiệu hàng hóa, khẩu hiệu, thương hiệu, tên riêng bằng tiếng nước ngoài hoặc các từ ngữ

đã được quốc tế hóa không thể thay thế bằng tiếng Việt; Sách, báo, trang thông tin điện tử và các ấn phẩm được phép xuất bản bằng tiếng dân tộc thiểu số Việt Nam, tiếng nước ngoài; chương trình phát thanh, truyền hình bằng tiếng dân tộc thiểu số Việt Nam, tiếng nước ngoài

Cỡ chữ nhỏ nhất trong nội dung quảng cáo phải bảo đảm tỷ lệ đủ lớn để có thể đọc được trong điều kiện bình thường và không được nhỏ hơn tỷ lệ tương đương

cỡ chữ Vntime hoặc Times New Roman 12 trên khổ giấy A4 Nếu một QCTPCN sử dụng cả tiếng Việt và tiếng nước ngoài thì khổ chữ nước ngoài không được quá ba phần tư khổ chữ tiếng Việt và phải đặt bên dưới chữ tiếng Việt; nếu được phát trên đài phát thanh, truyền hình hoặc trên các phương tiện nghe nhìn thì phải đọc tiếng Việt trước, đọc tiếng nước ngoài sau

1.2.2.3 Điều kiện quảng cáo và đăng ký quảng cáo thực phẩm chức năng

- Điều kiện quảng cáo thực phẩm chức năng

Chịu sự điều chỉnh của pháp luật quảng cáo, pháp luật về ATTP, QCTPCN phải đáp ứng được đầy đủ các điều kiện được quy định tại Điều 20 LQC 2012 và Điều 43 Luật ATTP 2010 Khi tiến hành QCTPCN, người QCTPCN hoặc người kinh doanh dịch vụ QCTPCN phải có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận đăng ký chất lượng vệ sinh ATTP Ngoài ra phải có đầy đủ các tài liệu chứng minh về sự hợp chuẩn, hợp quy của loại TPCN mà mình muốn quảng cáo (giấy tiếp nhận hồ sơ công bố hợp quy hoặc hồ sơ công bố phù hợp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền) theo quy định của pháp luật

Trang 31

Giấy tiếp nhận hồ sơ là văn bản xác nhận cơ sở sản xuất, kinh doanh TPCN

đã tự công bố sản phẩm của mình về quy chuẩn kỹ thuật phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật tương ứng Trình tự, hồ sơ đăng ký bản công bố hợp quy và công bố phù hợp quy định ATTP đối với sản phẩm TPCN nhập khẩu và sản xuất trong nước được thực hiện theo quy định tại Điều 6, Điều 7 Nghị định số 38/2012/NĐ-CP và các Điều 4, 5, 7, 9 Thông tư số 19/2012/TT-BYT ngày 09 tháng 11 năm 2012 của Bộ Y

tế hướng dẫn việc công bố hợp quy và công bố phù hợp quy định ATTP

- Đăng ký quảng cáo thực phẩm chức năng

Người QCTPCN hoặc người kinh doanh dịch vụ QCTPCN khi đã đáp ứng được đầy đủ các điều kiện nêu trên phải nộp 01 hồ sơ đăng ký QCTPCN theo quy định hiện hành (Điều 16 Thông tư số 09/2015/TT-BYT) về Sở Y tế tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (khoản 2 Điều 7 Thông tư số 19/2012/TT-BYT) nơi đặt trụ sở chính của tổ chức, cá nhân công bố sản phẩm TPCN trước khi quảng cáo Sau khi nhận được hồ sơ đăng ký QCTPCN hợp lệ và lệ phí theo đúng quy định, Sở Y tế sẽ gửi cho đơn vị nộp hồ sơ đăng ký một Phiếu tiếp nhận hồ sơ đăng ký quảng cáo và

sẽ tiến hành xác định hồ sơ có hay không hợp lệ theo quy định của pháp luật để trả lời cũng như yêu cầu đơn vị nộp hồ sơ sửa đổi, bổ sung nếu hồ sơ thiếu, sai

Các doanh nghiệp đã được cấp giấy xác nhận nội dung quảng cáo muốn tiến hành quảng cáo TPCN phải đăng ký để được cấp giấy phép QCTPCN Thủ tục và quy trình đăng ký cấp giấy phép quảng cáo được quy định tại Thông tư liên tịch số 06/2007/TTLT-BVHTT-BYT-BNN-BXD ngày 28/02/2007 của Bộ Văn hóa - Thông tin, Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Xây dựng hướng dẫn thủ tục cấp giấy phép thực hiện quảng cáo một cửa liên thông Quy trình cấp giấy phép thực hiện quảng cáo gồm 4 bước sau14:

14

Chu Thanh Hằng (2017), Quảng cáo thực phẩm chức năng theo pháp luật Việt Nam hiện nay, Luận văn

thạc sĩ Luật học, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội, tr 45

Trang 32

Như vậy, để được thực hiện hoạt động QCTPCN, chủ thể hoạt động QCTPCN phải tuân thủ nghiêm ngặt, đầy đủ các quy định của pháp luật về điều kiện quảng cáo và trình tự, thủ tục đăng ký quảng cáo theo quy định của pháp luật

1.2.2.4 Phương tiện quảng cáo thực phẩm chức năng

Điều 106 LTM 2005 quy định: “Phương tiện quảng cáo thương mại là công

cụ được sử dụng để giới thiệu các sản phẩm quảng cáo thương mại” LQC 2012

không định nghĩa thế nào là phương tiện quảng cáo mà chỉ mang tính chất liệt kê các phương tiện, tuy nhiên dựa trên quy định của LTM và quy định của LQC thì

“Phương tiện QCTPCN là hệ thống công cụ (kênh), có chức năng truyền tải thông

Trang 33

điệp quảng cáo sản phẩm TPCN đến đối tượng nhận tin mục tiêu Phương tiện QCTPCN là yếu tố thu hẹp khoảng cách giữa đối tượng nhận tin mục tiêu với doanh nghiệp” Tuân thủ theo các quy định của pháp luật về quảng cáo, nên

phương tiện QCTPCN là những phương tiện được quy định theo LQC 2012 Điều

17 LQC 2012 liệt kê các phương tiện quảng cáo như sau:

- Báo chí: Là phương tiện tác động bằng hình ảnh và khẩu hiệu15, báo chí có rất nhiều thể loại Với báo in, diện tích QCTPCN không được vượt quá 15% tổng diện tích một ấn phẩm báo hoặc 20% tổng diện tích một ấn phẩm tạp chí, trừ báo, tạp chí chuyên quảng cáo và phải có dấu hiệu phân biệt quảng cáo với các nội dung khác Cơ quan báo chí được phép ra phụ trương QCTPCN và phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan quản lý nhà nước về báo chí trước ít nhất 30 ngày tính đến ngày phát hành đầu tiên của phụ trương quảng cáo Phụ trương QCTPCN của báo phải đánh số riêng, có cùng khuôn khổ, phát hành kèm theo số trang báo chính Trên trang một của phụ trương phải ghi rõ các thông tin như: tên tờ báo; tên, địa chỉ của cơ quan báo chí; dòng chữ “Phụ trương quảng cáo không tính vào giá bán” và không được QCTPCN trên bìa của một tạp chí, trang nhất của báo Với báo nói, báo hình, thời lượng, thời điểm phát hành QCTPCN phải tuân thủ theo quy định tại Điều 22 LQC 2012 QCTPCN trên báo điện tử không được thiết kế, bố trí phần quảng cáo lẫn vào phần nội dung tin và những quảng cáo không ở vùng cố định, phải thiết kế để độc giả có thể chủ động tắt hoặc mở quảng cáo, thời gian chờ tắt hoặc mở quảng cáo tối đa là 1,5 giây (Điều 23 LQC 2012)

- Trang thông tin điện tử, thiết bị điện tử, thiết bị đầu cuối và các thiết bị viễn thông khác: Việc QCTPCN trên trang thông tin điện tử của cơ quan nhà nước được thực hiện như đối với báo điện tử, trang thông tin điện tử của tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh dịch vụ quảng cáo xuyên biên giới có phát sinh doanh thu quảng cáo tại Việt Nam phải tuân thủ các quy định của LQC 2012 và Nghị định số 181/2013/NĐ-CP Các thiết bị điện tử, thiết bị đầu cuối và các thiết bị viễn thông khác nếu được sử dụng làm phương tiện QCTPCN phải tuân thủ Điều 24 LQC 2012

về việc gửi tin nhắn và thư điện tử, thời gian gửi, số lần gửi, bảo đảm quyền từ chối nhận thư… Đây là phương tiện được các doanh nghiệp lựa chọn nhiều nhất do chi phí, mức độ truyền tải thông tin nhanh chóng, khả năng tiếp cận công chúng tốt và tính lan rộng đạt hiệu quả

15

https://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BA%A3ng_c%C3%A1o ngày truy cập 01/6/2017

Trang 34

- Các sản phẩm in, bản ghi âm, ghi hình và các thiết bị công nghệ khác: Bao gồm các loại sách, tài liệu dưới dạng sách, tranh, ảnh, áp-phích, ca-ta-lô, tờ rời, tờ gấp có nội dung cổ động, tuyên truyền về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học, công nghệ, văn học, nghệ thuật… QCTPCN trên các phương tiện này phải tuân thủ các quy định riêng cho từng loại sản phẩm in như chỉ được quảng cáo biểu trưng, lô-gô, nhãn hiệu hàng hóa, sản phẩm hay chỉ được quảng cáo không quá 20% diện tích từng sản phẩm khi sử dụng phương tiện là tranh, ảnh, áp-phích, ca-ta-lô, tờ rời, tờ gấp có nội dung cổ động, tuyên truyền về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học, công nghệ, văn học, nghệ thuật… Không được quảng cáo trên các sản phẩm in là tiền hoặc giấy tờ có giá, văn bằng chứng chỉ và văn bản quản lý Nhà nước Trên bản ghi âm, ghi hình chương trình văn hoá, nghệ thuật, điện ảnh, bản ghi

âm, ghi hình có nội dung thay sách hoặc minh họa cho sách không được vượt quá 5% tổng thời lượng nội dung chương trình

- Bảng quảng cáo, băng-rôn, biển hiệu, hộp đèn, màn hình chuyên quảng cáo: Muốn thực hiện hoạt động QCTPCN trên các phương tiện này phải tuân thủ theo hàng loạt các quy định chặt chẽ về địa điểm, nội dung chi tiết, diện tích quảng cáo, hình thức quảng cáo, lập hồ sơ thông báo sản phẩm QCTPCN trên bảng quảng cáo, băng rôn, trình tự thông báo và cần được cấp phép xây dựng công trình quảng cáo… Tất cả những quy định này đều nằm tại Mục 4 Chương III LQC 2012

- Phương tiện giao thông: Là việc sơn hình sản phẩm và tên công ty lên thành xe, đặc biệt là xe bus để có diện tích thân xe lớn và lượng khách đi xe rất nhiều trong mỗi ngày, có tác dụng khá hiệu quả Không được thể hiện QCTPCN ở mặt trước, mặt sau và trên nóc của phương tiện giao thông Sản phẩm quảng cáo không được vượt quá 50% diện tích mỗi mặt được phép quảng cáo của phương tiện giao thông Việc thể hiện biểu trưng, lô-gô, biểu tượng của chủ phương tiện giao thông hoặc hãng xe trên phương tiện giao thông phải tuân thủ các quy định của pháp luật về giao thông

- Hội chợ, hội thảo, hội nghị, tổ chức sự kiện, triển lãm, chương trình văn hóa, thể thao: Ngoài việc tuân theo pháp luật thương mại, pháp luật quảng cáo, việc QCTPCN trên phương tiện quảng cáo là hội chợ, hội thảo, hội nghị, tổ chức sự kiện, triển lãm, chương trình văn hóa, thể thao phải tuân thủ theo quy định của pháp luật

về nghệ thuật biểu diễn, thể dục, thể thao, luật hành chính, luật an toàn giao thông…

- Người chuyển tải sản phẩm quảng cáo, vật thể quảng cáo: Để sử dụng phương tiện này làm phương tiện QCTPCN, người QCTPCN hoặc người kinh

Trang 35

doanh dịch vụ QCTPCN phải tuân thủ các quy định của LQC, các quy định của pháp luật liên quan, bảo đảm mỹ quan đô thị, cảnh quan môi trường, trật tự an toàn giao thông, trật tự an toàn xã hội

- Các phương tiện quảng cáo khác theo quy định của pháp luật: Loa phóng thanh; biển hiệu của tổ chức, cá nhân hoạt động sản xuất, kinh doanh; mạng xã hội; internet; quảng cáo qua bưu điện; bao bì sản phẩm, truyền miệng; Quảng cáo qua các chương trình giới thiệu sản phẩm tại các nơi công cộng…

1.2.2.5 Thẩm quyền quản lý Nhà nước về quảng cáo thực phẩm chức năng

Điều 5 LQC 2012 quy định Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về hoạt động quảng cáo Bộ VHTT&DL chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản

lý nhà nước về hoạt động quảng cáo Các Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ VHTT&DL thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động quảng cáo (trong đó có QCTPCN) là BYT, Bộ TT&TT và Bộ Công thương Ở địa phương có UBND các cấp thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động quảng cáo trong phạm vi địa phương theo thẩm quyền

- Thẩm quyền của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch:

Điều 26 Nghị định số 181/2013/NĐ-CP quy định Bộ VHTT&DL chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về quảng cáo trong phạm vi cả nước, có nhiệm vụ, quyền hạn với quảng cáo nói chung, áp dụng với QCTPCN nói riêng như: Hướng dẫn, đôn đốc công tác xây dựng quy hoạch quảng cáo ngoài trời tại địa phương; thành lập Hội đồng thẩm định và tổ chức thẩm định sản phẩm quảng cáo trong trường hợp quảng cáo bị cho là vi phạm về văn hóa, cạnh tranh, sở hữu trí tuệ, thương mại; thanh tra, kiểm tra và xử lý các hành vi vi phạm

về quảng cáo theo quy định của pháp luật…

Để thực hiện tốt các nhiệm vụ trên, Bộ VHTT&DL có các cơ quan chuyên môn giúp việc, trong đó có Cục Văn hóa cơ sở Là cơ quan thuộc Bộ VHTT&DL, Cục Văn hóa cơ sở có chức năng tham mưu giúp Bộ trưởng thực hiện quản lý nhà nước về lĩnh vực văn hóa cơ sở trong đó có quảng cáo Được quy định tại Điều 8 Thông tư số 10/2013/TT-BVHTTDL ngày 06 tháng 12 năm 2013 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện một số điều của Luật Quảng cáo và Điều 26 Nghị định số 181/2013/NĐ-CP, Cục Văn hóa cơ sở có trách nhiệm giúp Bộ trưởng Bộ VHTT&DL thực hiện chức năng quảng lý nhà nước về quảng cáo trong phạm vi cả nước Đồng thời chủ trì Hội đồng thẩm định sản phẩm

Trang 36

quảng cáo khi có yêu cầu của tổ chức, cá nhân và có ý kiến tham gia trong việc khen thưởng và xử lý vi phạm trong hoạt động quảng cáo

- Thẩm quyền của Bộ Thông tin và Truyền thông:

Bộ TT&TT là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước

về báo chí, xuất bản, bưu chính và chuyển phát, viễn thông và Internet, truyền dẫn phát sóng, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin, điện tử, phát thanh và truyền hình và cơ sở hạ tầng thông tin truyền thông quốc gia, quản lý nhà nước các dịch vụ công trong các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ

Trong lĩnh vực quảng cáo, Bộ TT&TT có nhiệm vụ và quyền hạn được quy định tại khoản 8 Điều 2 Nghị định số 17/2017/NĐ-CP ngày 17 tháng 02 năm 2017 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ

Thông tin và Truyền thông như sau: “a) Thực hiện các nhiệm vụ về quản lý quảng

cáo trên báo chí, trên môi trường mạng, trên xuất bản phẩm và quảng cáo tích hợp trên các sản phẩm, dịch vụ bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin theo quy định của pháp luật; b) Cấp, gia hạn, sửa đổi bổ sung, thu hồi giấy phép ra kênh, chương trình quảng cáo đối với báo nói, báo hình; thông báo ra phụ trương chuyên quảng cáo đối với báo in” Ngoài ra Bộ TT&TT còn tiếp nhận thủ tục thông báo ra

phụ trương chuyên quảng cáo đối với báo in và Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật trong hoạt động quảng cáo trên báo chí, môi trường mạng, xuất bản phẩm

và quảng cáo tích hợp trên các sản phẩm, dịch vụ bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin (điểm c, d khoản 1 Điều 27 Nghị định số 181/2013/NĐ-CP)

QCTPCN qua thư điện tử, tin nhắn quảng cáo do Bộ TT&TT quản lý theo quy định tại Nghị định số 90/2008/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2008 của Chính phủ về chống thư rác và Nghị định số 77/2012/NĐ-CP ngày 05 tháng 10 năm 2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 90/2008/NĐ-CP ngày

13 tháng 8 năm 2008 của Chính phủ về chống thư rác

- Thẩm quyền của Bộ Y tế:

TPCN thuộc lĩnh vực quản lý của BYT trên lãnh thổ Việt Nam nên QCTPCN cũng chịu sự quản lý của Bộ Y tế Bộ Y tế phối hợp với Bộ VHTT&DL quản lý nhà nước về quảng cáo đối với những sản phẩm, hàng hóa thuộc lĩnh vực mà mình quản

lý, trong đó có chức năng quản lý nhà nước về nội dung QCTPCN Những điều kiện, thẩm quyền, hồ sơ, thủ tục xác nhận nội dung quảng cáo đối với TPCN đều do BYT quy định tại Thông tư số 09/2015/TT-BYT, đồng thời BYT tiến hành Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về QCTPCN

Trang 37

Cục ATTP là cơ quan trực thuộc của BYT, có thẩm quyền quản lý đối với nội dung QCTPCN Đây là cơ quan cấp giấy xác nhận nội dung QCTPCN, xem xét điều kiện xác nhận nội dung QCTPCN Trong trường hợp nội dung quảng cáo không phù hợp, Cục ATTP yêu cầu sửa đổi, thay thế nội dung quảng cáo

- Thẩm quyền của Cục quản lý cạnh tranh – Bộ Công thương:

Hoạt động QCTPCN có thể chịu sự điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh nếu người QCTPCN hoặc người kinh doanh dịch vụ QCTPCN thực hiện các hành vi nhằm cạnh tranh không lành mạnh Điều 45 Luật cạnh tranh 2004 quy định có ba dạng hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh, đó là: Quảng cáo so sánh, quảng cáo bắt chước và quảng cáo gây nhầm lẫn

Cục quản lý cạnh tranh là cơ quan thuộc Bộ Công thương, có chức năng giúp

Bộ trưởng thực hiện quản lý nhà nước về cạnh tranh, chống bán phá giá, chống trợ cấp, tự vệ và bảo vệ quyền lợi NTD Với hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh, Cục quản lý cạnh tranh tổ chức điều tra xử lý theo quy định

- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

Điều 28 Nghị định số 181/2013/NĐ-CP quy định UBND cấp tỉnh có trách nhiệm quản lý hoạt động quảng cáo TPCN trên địa bàn theo thẩm quyền trong việc cấp, cấp lại, sửa đổi, bổ sung, thu hồi Giấy phép thành lập Văn phòng đại diện của doanh nghiệp quảng cáo nước ngoài, tổ chức xây dựng, phê duyệt và chỉ đạo thực hiện quy hoạch quảng cáo ngoài trời trên địa bàn, thanh tra, kiểm tra và xử lý vi

phạm về hoạt động quảng cáo theo thẩm quyền Giúp việc cho UBND tỉnh có:

+ Sở VHTT&DL: Có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các Sở, ngành ở địa phương xây dựng quy hoạch quảng cáo trình UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phê duyệt và tiến hành tiếp nhận, xử lý hồ sơ thông báo sản phẩm QCTPCN trên bảng quảng cáo, băng-rôn theo quy trình cụ thể được quy định tại Thông tư số 10/2013/TT-BVHTTDL

+ Sở TT&TT có chức năng tham mưu, giúp UBND tỉnh quản lý Nhà nước về quảng cáo trên báo chí, trên môi trường mạng, trên xuất bản phẩm và quảng cáo tích hợp trên các sản phẩm, dịch vụ bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin theo quy định tại khoản 1 Điều 1 Thông tư số 06/2016/TTLT-BTTTT-BNV ngày 10 tháng 3 năm 2016 của Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Nội vụ Có nhiệm vụ hướng dẫn việc thực hiện quảng cáo trên báo chí, trên môi trường mạng, trên xuất bản phẩm và quảng cáo tích hợp trên các sản phẩm, dịch vụ bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin trên địa bàn theo thẩm quyền và giám sát, thanh tra, kiểm tra, xử lý theo

Trang 38

thẩm quyền các vi phạm của các tổ chức, cá nhân trên địa bàn hoạt động quảng cáo trên báo chí, trên môi trường mạng, trên xuất bản phẩm và quảng cáo tích hợp trên các sản phẩm, dịch vụ bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin trên địa bàn theo thẩm quyền

+ Sở Y tế cấp tỉnh có thẩm quyền thanh tra, kiểm tra trong trường hợp cần thiết đối với QCTPCN thông qua hình thức hội thảo, hội nghị, tổ chức sự kiện Việc thanh tra, kiểm tra được tiến hành đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh, QCTPCN đã được cơ quan có thẩm quyền của BYT cấp giấy xác nhận nội dung quảng cáo với hình thức hội thảo, hội nghị, tổ chức sự kiện

Chi cục ATVSTP trực thuộc Sở Y tế có thẩm quyền tiếp nhận hồ sơ đăng ký xác nhận nội dung QCTPCN, cấp giấy xác nhận nội dung quảng cáo với hình thức quảng cáo thông qua hội nghị, hội thảo, sự kiện giới thiệu thực phẩm, phụ gia thực phẩm tổ chức trên địa bàn theo quy định tại Khoản 3 Điều 1 Thông tư số 09/2015/TT-BYT Chị cục ATVSTP sẽ trả lời ý kiến về nội dung QCTPCN có công

bố tác dụng tới sức khỏe khi các cơ quan có thẩm quyền được giao nhiệm vụ cấp giấy xác nhận hoặc thẩm định nội dung quảng cáo thực phẩm thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn lấy ý kiến

- Ủy ban nhân dân cấp huyện

UBND cấp huyện có quyền ban hành đề án, chương trình phát triển quảng cáo, trong đó có QCTPCN Trên cơ sở đó, Chủ tịch UBND cấp huyện ban hành các văn bản về lĩnh vực quảng cáo Phòng Văn hóa thông tin có trách nhiệm kiểm tra việc thực hiện QCTPCN trên địa bàn, tham mưu giúp UBND cấp huyện xử lý đối với các hành vi vi phạm về hoạt động QCTPCN theo quy định của pháp luật Tiến hành phối hợp với Thanh tra Sở VHTT&DL kiểm tra, xử lý vi phạm trong hoạt động quảng cáo16 Mặt khác, phòng văn hóa thông tin tham mưu, giúp UBND cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hoạt động quảng cáo nói chung và QCTPCN nói riêng17

Phòng văn hóa thông tin còn có nhiệm vụ quyền hạn về QCTPCN dựa trên quy định của Thông tư liên tịch số 07/2015/TLT-BVHTTDL-BNV như: Trình Chủ tịch UBND cấp huyện dự thảo các văn bản về QCTPCN thuộc thẩm quyền ban

Trang 39

hành của Chủ tịch UBND cấp huyện; Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, quy hoạch, kế hoạch, đề án, chương trình đã được phê duyệt về QCTPCN; Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan kiểm tra, thanh tra việc chấp hành pháp luật về hoạt động QCTPCN trên địa bàn huyện, giải quyết đơn thư, khiếu nại, tố cáo của công dân…

1.2.2.6 Xử lý vi phạm pháp luật quảng cáo thực phẩm chức năng

Trong hoạt động QCTPCN, hành vi vi phạm pháp luật là hành vi của chủ thể thực hiện quảng cáo trong quá trình kinh doanh trái với các quy định của pháp luật hiện hành về QCTPCN, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác hoặc NTD Hiện nay, chưa có văn bản cụ thể nào quy định về các hành vi cấm trong hoạt động QCTPCN Trước đây, Thông tư số 08/2013/TT-BYT ngày 13 tháng 3 năm 2013 của Bộ Y tế hướng dẫn về quảng cáo thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của Bộ Y tế có quy định các hành vi cấm trong hoạt động quảng cáo thực phẩm, tuy nhiên các quy định này không còn hiệu lực Vì vậy, theo Điều 8 LQC 2012, hành vi cấm trong hoạt động QCTPCN là:

- Làm tiết lộ bí mật nhà nước, phương hại đến độc lập, chủ quyền quốc gia,

- Quảng cáo có tính chất kỳ thị dân tộc, phân biệt chủng tộc, xâm phạm tự

do tín ngưỡng, tôn giáo, định kiến về giới, về người khuyết tật; xúc phạm uy tín, danh dự, nhân phẩm của tổ chức, cá nhân;

- Sử dụng hình ảnh, lời nói, chữ viết của cá nhân khi chưa được cá nhân đó đồng ý, trừ trường hợp được pháp luật cho phép;

- Quảng cáo không đúng hoặc gây nhầm lẫn về khả năng kinh doanh, khả năng cung cấp sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ; về số lượng, chất lượng, giá, công dụng, kiểu dáng, bao

bì, nhãn hiệu, xuất xứ, chủng loại, phương thức phục vụ, thời hạn bảo hành của sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ đã đăng ký hoặc đã được công bố;

- Quảng cáo bằng việc sử dụng phương pháp so sánh trực tiếp về giá cả, chất lượng, hiệu quả sử dụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của mình với giá cả, chất

Trang 40

lượng, hiệu quả sử dụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cùng loại của tổ chức, cá nhân khác;

- Quảng cáo có sử dụng các từ ngữ “nhất”, “duy nhất”, “tốt nhất”, “số một” hoặc từ ngữ có ý nghĩa tương tự mà không có tài liệu hợp pháp chứng minh theo quy định của Bộ VHTT&DL;

- Quảng cáo có nội dung cạnh tranh không lành mạnh theo quy định của pháp luật về cạnh tranh;

- Vi phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ;

- Tạo cho trẻ em có suy nghĩ, lời nói, hành động trái với đạo đức, thuần phong mỹ tục; gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, an toàn hoặc sự phát triển bình thường của trẻ em;

- Ép buộc cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện quảng cáo hoặc tiếp nhận quảng cáo trái ý muốn; treo, đặt, dán, vẽ các sản phẩm quảng cáo trên cột điện, trụ điện, cột tín hiệu giao thông và cây xanh nơi công cộng;

Chủ thể QCTPCN thực hiện một trong các hành vi nêu trên sẽ bị coi là vi phạm và tùy theo mức độ vi phạm mà sẽ bị xử lí theo quy định của pháp luật.Chỉ cần chủ thể QCTPCN có các hành vi quảng cáo nói chung thuộc một trong những trường hợp được quy định tại Chương 3 Nghị định số 158/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo sẽ bị xử phạt từ 1.000.000đ đến 100.000.000đ tùy từng hành vi và có thể bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả Điều 70 Nghị định số 158/2013/NĐ-CP quy định cụ thể nội dung sai phạm về QCTPCN, cụ thể : Phạt tiền từ 5.000.000đ đến 10.000.000đ nếu không đọc rõ ràng

nội dung khuyến cáo “Sản phẩm này không phải là thuốc và không có tác dụng

thay thế thuốc chữa bệnh” khi quảng cáo thực phẩm chức năng trên báo nói, báo

hình; QCTPCN không phù hợp với một trong các tài liệu theo quy định, thiếu một trong các nội dung quảng cáo, tổ chức hội chợ, hội thảo, hội nghị, triển lãm có phát tán hoặc thuyết trình các sản phẩm in, ghi âm, ghi hình, thiết bị lưu chứa dữ liệu giới thiệu sản phẩm không đúng với hồ sơ công bố hợp quy hoặc công bố phù hợp

sẽ bị phạt tiền từ 10.000.000đ dến 15.000.000đ; Phạt tiền từ 15.000.000đ đến 20.000.000đ đối với hành vi tổ chức hội chợ, hội thảo, hội nghị, triển lãm có phát tán hoặc thuyết trình các sản phẩm in, ghi âm, ghi hình, thiết bị lưu chứa dữ liệu giới thiệu sản phẩm thực phẩm, phụ gia thực phẩm không được cơ quan nhà nước

có thẩm quyền xác nhận nội dung theo quy định; Phạt tiền từ 20.000.000đ đến

Ngày đăng: 20/10/2018, 18:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w