1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

HOÀN THIỆN cơ CHẾ PHÁP lý về xử lý VI PHẠM PHÁP LUẬT TRONG LĨNH vực bảo vệ và PHÁT TRIỂN RỪNG ở nước TA HIỆN NAY

85 224 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 694,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy, cơ chế pháp lý về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BV&PTR là sự ràng buộc có tính hệ thống được tổ chức thực hiện trên cơ sở các nguyên tắc, các quy định của pháp luật và

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ TIẾN

HOÀN THIỆN CƠ CHẾ PHÁP LÝ VỀ XỬ LÝ VI PHẠM

PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật

Mã số: 60 38 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Văn Long

HÀ NỘI - 2010

Trang 2

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả

Nguyễn Thị Tiến

Trang 3

Trang

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ PHÁP LÝ XỬ

LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ

1.1 Khái niệm cơ chế pháp lý về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh

vực bảo vệ và phát triển rừng 7 1.2 Các yếu tố cấu thành cơ chế pháp lý về xử lý vi phạm pháp luật

trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng 13 1.3 Một số nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả của cơ chế pháp lý về xử

lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng 36 1.4 Những đảm bảo của cơ chế pháp lý về xử lý vi phạm pháp luật

trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng 41

Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN

CƠ CHẾ PHÁP LÝ VỀ XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG 45 2.1 Thực trạng pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực

bảo vệ và phát triển rừng 45 2.2 Nguyên nhân làm hạn chế hiệu quả của cơ chế pháp lý về xử lý

vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng 62 2.3 Giải pháp hoàn thiện cơ chế pháp lý xử lý vi phạm pháp luật

trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng 67

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLHS : Bộ luật hình sự

BV&PTR : Bảo vệ và phát triển rừng

NN&PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn QLNN : Quản lý nhà nước

UBND : Ủy ban nhân dân

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Rừng không những là cơ sở phát triển kinh tế - xã hội mà còn giữ chức năng sinh thái cực kỳ quan trọng: rừng tham gia vào quá trình điều hòa khí hậu, đảm bảo chu chuyển ôxy và các nguyên tố cơ bản khác trên hành tinh, duy trì tính ổn định và độ màu mỡ của đất, hạn chế lũ lụt, hạn hán, ngăn chặn xói mòn đất, làm giảm nhẹ sức tàn phá khốc liệt của các thiên tai, bảo tồn nguồn nước mặt và nước ngầm và làm giảm mức ô nhiễm không khí và nước

Đất nước Việt Nam trải dài trên nhiều vĩ tuyến và đai cao, với địa hình rất đa dạng, hơn 2/3 lãnh thổ là đồi núi, lại có khí hậu thay đổi từ nhiệt đới ẩm phía Nam, đến Á nhiệt đới ở vùng cao phía Bắc, đã tạo nên sự đa dạng về hệ sinh thái tự nhiên và sự phong phú về các loài sinh vật Những

hệ sinh thái đó bao gồm nhiều loại rừng như rừng cây lá rộng thường xanh, rừng nửa rụng lá, rừng rụng lá, rừng trên núi đá vôi, rừng hỗn giao lá rộng

và lá kim, rừng lá kim, rừng tre nứa, rừng ngập mặn, rừng tràm, rừng ngập nước ngọt,

Qua quá trình quản lý chưa bền vững, độ che phủ của rừng ở Việt Nam đã giảm sút đến mức báo động Chất lượng của rừng tự nhiên còn lại

đã bị hạ thấp quá mức Sự giảm sút độ che phủ và chất lượng rừng là một vấn

đề đáng lo ngại Trước đây phần lớn đất nước Việt Nam có rừng che phủ, nhưng chỉ khoảng một thế kỷ qua, rừng bị suy thoái nặng nề Trong thời kỳ Pháp thuộc, nhiều vùng đất rộng lớn ở phía Nam đã bị khai phá để trồng cà phê, cao su, chè và một số cây công nghiệp khác Vào khoảng giữa thế kỷ

XX, hầu như các khu rừng thuộc châu thổ sông Hồng, một phần lớn châu thổ sông Cửu Long cùng với các khu rừng trên đất thấp ven biển đã bị khai phá để trồng trọt và xây dựng xóm làng Ba mươi năm chiến tranh tiếp theo là giai đoạn mà rừng Việt Nam bị thu hẹp lại khá nhanh Hơn 80 triệu lít chất diệt cỏ cùng 13 triệu tấn bom đạn với hơn 25 triệu hố bom đạn, bom cháy cùng với đội xe ủi đất khổng lồ đã tiêu hủy hơn 2 triệu ha rừng nhiệt đới các loại Sau chiến tranh, diện tích rừng chỉ còn lại khoảng 9,5 triệu ha, chiếm 29% diện

Trang 6

tích cả nước Trong những năm vừa qua, để đáp ứng nhu cầu của số dân ngày càng tăng, để hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng nền kinh tế còn yếu của mình, nhân dân Việt Nam vẫn phải tiếp tục khai thác một cách mạnh mẽ diện tích rừng còn lại Đặc biệt nghiêm trọng là những vụ phá rừng tập thể, phá rừng có sự tiếp tay của những người có thẩm quyền với quy mô lớn bất chấp pháp luật Theo kết quả của Viện Điều tra và Quy hoạch rừng (1995), thì trong thời gian 20 năm từ năm 1975 đến năm 1995, diện tích rừng tự nhiên giảm 2,8 triệu ha Đặc biệt nghiêm trọng ở một số vùng, như Tây Nguyên mất 440.000ha, vùng Đông Nam Bộ mất 308.000ha, vùng Bắc khu IV cũ mất 243.000ha, vùng Bắc Bộ mất 242.500ha Nguyên nhân là do sau thời kỳ chiến tranh, dân địa phương tranh thủ chặt gỗ làm nhà và lấy đất trồng trọt Tình trạng đó vẫn còn đang tiếp diễn cho đến ngày nay Vụ phá rừng Tánh Linh, Bình Thuận vừa bị xét

xử là một bằng chứng về sự yếu kém trong quản lý tài nguyên rừng, nạn tham nhũng và thoái hóa của một số cán bộ địa phương đã cấu kết với bọn lâm tặc phá hoại một diện tích rừng rất lớn, mà phải sau một thời gian dài mới bị trừng trị Đó là chưa nói đến nhiều vụ phá rừng nghiêm trọng trong mấy năm gần đây chưa bị pháp luật trừng trị một cách nghiêm khắc, như ở Kon Tum, Gia Lai, Bình Thuận, Nghệ An, Bắc Giang, Vườn quốc gia Phú Quốc mà báo chí đã đưa tin (2003) Gần đây nhất mới phát hiện vụ phá rừng lớn trái phép tại Vườn quốc gia Kon Ka Kinh Tại hiện trường, cơ quan điều tra đã phát hiện một số lượng lớn gỗ, hơn 2.400m3 do giám đốc lâm trường Mang Đen, giám đốc lâm trường Tân Lập cầm đầu, cùng với một

số người khác, như trưởng trạm cửa rừng lâm trường Mang Đen, giám đốc một số công ty trách nhiệm hữu hạn ở Kon Tum và Thành phố Hồ Chí Minh khai thác bất hợp pháp Một số lượng gỗ lớn bị khai thác trong thời gian dài

mà không bị phát hiện đã minh chứng sự buông lỏng quản lý của các cơ quan có trách nhiệm, đặc biệt là các cơ quan cấp phép và quản lý khai thác (Đài Truyền hình Việt Nam, VTV1, ngày 15-12-2003) Theo số liệu thống

kê chưa đầy đủ, sáu tháng đầu năm 2008, cả nước đã xảy ra khoảng 15.000

vụ vi phạm lâm luật, hàng chục vụ kiểm lâm bị lâm tặc tấn công Do giá trị mang lại từ lâm sản lớn, cho nên bọn lâm tặc không từ một thủ đoạn nào để

Trang 7

đối phó, hành hung người thi hành công vụ (Báo Nhân dân, ngày 2008)

14-12-Nguyên nhân của tình trạng trên là nhu cầu phát triển kinh tế, tốc độ

đô thị hóa cao, tình trạng du canh du cư của đồng bào dân tộc thiểu số, tình trạng đói nghèo Đặc biệt là cơ chế chính sách và tổ chức quản lý lâm nghiệp chưa phù hợp, hệ thống pháp luật về bảo vệ rừng chưa hoàn thiện và đồng bộ, rất nhiều vụ vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng chưa có cơ chế xử

lý vi phạm pháp luật một cách nghiêm minh đã dẫn đến tình trạng phá rừng

ở nhiều nơi mà không thể kiểm soát

Trên cơ sở thực trạng trên việc hoàn thiện cơ sở pháp lý về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng (BV&PTR) là hết sức cần thiết và có ý nghĩa vô cùng quan trọng cả về lý luận và thực tiễn

Chính vì lý do trên, tác giả đã tiến hành thực hiện đề tài "Hoàn thiện cơ

chế pháp lý về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng ở nước ta hiện nay" nhằm góp phần nâng cao hiệu quả trong

quản lý, BV&PTR ở nước ta

2 Tình hình nghiên cứu

Vấn đề vi phạm pháp luật và xử lý vi phạm pháp luật được nhiều nhà khoa học nghiên cứu pháp luật quan tâm Đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về vi phạm pháp luật nói chung và xử lý vi phạm pháp luật nói riêng Căn cứ vào vấn đề nghiên cứu, tác giả chia những công trình nghiên cứu khoa học ra thành hai nhóm sau:

Nhóm 1: Nghiên cứu về vi phạm pháp luật và cơ chế xử lý vi phạm

pháp luật nói chung Nhìn chung, các đề tài đó đã nêu và phân tích những vấn đề chung, những cơ sở pháp lý về vi phạm pháp luật và cơ chế xử lý vi phạm pháp luật Như luận văn thạc sĩ luật học của Nguyễn Trọng Bình

"Hoàn thiện các quy định pháp luật về các biện pháp xử phạt vi phạm hành

chính" năm 2000 tác giả đi sâu vào phân tích các quy định của pháp luật về

xử phạt vi phạm hành chính và đề xuất các biện pháp xử phạt vi phạm hành

chính; Luận văn thạc sĩ luật học "Một số vấn đề về vi phạm và xử lý vi phạm

hành chính trong lĩnh vực quản lý" của Trịnh Thị Mai Huyền, năm 2002;

Trang 8

"Vi phạm pháp luật - Lý luận và thực tiễn" của Bùi Xuân Phái, năm 2002,

tác giả nghiên cứu các khía cạnh của vi phạm pháp luật Về cơ chế điều chỉnh pháp luật có luận án tiến sĩ luật của tác giả Nguyễn Quốc Hoàn, năm

2002 trong đó tác giả đã làm khá rõ khái niệm về cơ chế điều chỉnh pháp luật, nội dung, các thành tố của cơ chế, các tiêu chuẩn và các nhân tố ảnh hưởng đến cơ chế điều chỉnh pháp luật đồng thời tác giả đề xuất được một

số giải pháp có tính khả thi đối với việc hoàn thiện cơ chế điều chỉnh pháp luật

Nhóm 2: Những nghiên cứu về pháp luật và quản lý nhà nước

(QLNN) bằng pháp luật trong lĩnh vực BV&PTR

Luận văn thạc sĩ luật học " Một số vấn đề cơ bản về pháp luật bảo

vệ rừng ở Việt Nam hiện nay" của Nguyễn Thanh Huyền, năm 2004 Tác

giả đã nghiên cứu một số vấn đề cơ bản của pháp luật về bảo vệ rừng, đề xuất các giải pháp đổi mới và hoàn thiện pháp luật về bảo vệ rừng ở Việt Nam hiện nay

Luận văn thạc sĩ luật học, luận án tiến sĩ luật học "Quản lý nhà

nước bằng pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng ở Việt Nam hiện nay" của

Hà Công Tuấn, năm 2002, 2006 tác giả đã làm rõ những yếu tố có liên quan đến lĩnh vực QLNN trong lĩnh vực bảo vệ rừng đồng thời đề cao vai trò của pháp luật trong QLNN về bảo vệ rừng để đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu lực pháp luật trong QLNN về bảo vệ rừng

Luận văn thạc sĩ luật học "Vai trò của pháp luật trong quản lý nhà

nước đối với lĩnh vực bảo vệ rừng ở Việt Nam hiện nay" của Võ Mai Anh,

năm 2006 Tác giả nhấn mạnh vai trò của pháp luật trong lĩnh vực BV&PTR ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Tuy nhiên, các đề tài này hoặc đề cập ở dạng khái quát về vi phạm pháp luật hoặc có đề cập đến lĩnh vực BV&PTR nhưng cũng mới chỉ đề cập đến vấn đề hoàn thiện pháp luật nói chung hoặc vai trò của pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng chứ chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu về cơ chế pháp lý xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BV&PTR Có thể nói đây là lần đầu tiên việc nghiên cứu các chế định về xử lý vi phạm pháp luật để

Trang 9

hoàn thiện cơ chế pháp lý về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BV&PTR được tiếp cận dưới góc độ lý luận nhà nước và pháp luật một cách sâu sắc và toàn diện

3 Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài

Thông qua việc tìm hiểu các qui định của Luật BV&PTR 2004, Bộ luật Hình sự (BLHS) 1999 (Phần các tội phạm liên quan đến bảo vệ rừng) và các văn bản hướng dẫn thi hành, giúp cho người nghiên cứu có cái nhìn hoàn chỉnh dưới lăng kính pháp luật về vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BV&PTR qua đó phục vụ tốt hơn cho công việc thực tế của bản thân Ngoài ra, qua việc nghiên cứu vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BV&PTR cũng như việc áp dụng vào thực tiễn sẽ có những kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc thực thi, sửa đổi và tuyên truyền pháp luật Đặc biệt luận văn tập trung vào việc nghiên cứu cơ chế pháp lý về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BV&PTR nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện cơ chế pháp lý về xử

lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BV&PTR Để đạt được mục đính này, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là tìm hiểu các qui định của các văn bản pháp luật hiện hành về cơ chế pháp lý xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BV&PTR, nghiên cứu những nội dung của cơ chế pháp lý về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BV&PTR, qua đó chỉ ra những bất cập trong cơ chế pháp lý về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BV&PTR và phương hướng hoàn thiện cơ chế pháp lý về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BV&PTR

4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Trong phạm vi giới hạn nghiên cứu đề tài cao học luật, tác giả chỉ nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản nhất về cơ chế pháp lý về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BV&PTR, đồng thời xem xét thực tiễn thực hiện cơ chế pháp lý về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BV&PTR Luận văn này cũng đưa ra những giải pháp nhằm tháo gỡ những vướng mắc, bất cập trong cơ chế pháp lý về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BV&PTR

Trang 10

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận nhận thức của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác như phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê cũng được sử dụng trong quá trình thực hiện đề tài

6 Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn

- Luận văn sẽ đề cập một cách có hệ thống, chi tiết qui định của pháp luật về cơ chế pháp lý xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BV&PTR

- Đánh giá thực trạng cơ chế pháp lý về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BV&PTR; những hạn chế, khó khăn trong việc áp dụng cơ chế pháp lý về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BV&PTR

- Đề xuất được một số phương hướng và giải pháp có tính khả thi nhằm hoàn thiện và áp dụng pháp luật trong cơ chế pháp lý về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BV&PTR

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 2 chương, 6 tiết

Trang 11

và đất rừng Theo đó, khái niệm về rừng được hiểu như sau: Rừng là một

hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng

từ 0,1 trở lên Rừng gồm rừng trồng, rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng (Khoản 1 Điều 3 Luật BV&PTR

2004)

Theo khái niệm trên, rừng bao gồm các yếu tố: Thực vật rừng có nguồn gốc tự nhiên hoặc do con người trồng mới hoặc khoanh nuôi tái sinh trên đất trồng rừng, động vật rừng sống hoang dã trong rừng, đất rừng, vi sinh vật rừng

Đất rừng là các loại đất có rừng, đất chưa có rừng, đất không còn rừng và thảm thực vật tự nhiên được quy hoạch cho mục đích lâm nghiệp Đất rừng bao gồm: Đất rừng phòng hộ; đất rừng đặc dụng, đất rừng sản xuất và đất trồng rừng

Theo khoản 3 Điều 3 Luật BV&PTR thì Phát triển rừng là việc trồng mới rừng, trồng lại rừng sau khai thác, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh phục hồi rừng, cải tạo rừng nghèo và việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật

Trang 12

lâm sinh khác để tăng diện tích rừng, nâng cao giá trị đa dạng sinh học, khả năng cung cấp lâm sản, khả năng phòng hộ và các giá trị khác của rừng

Đến nay chưa có một khái niệm chính thống và đầy đủ nào về bảo

vệ rừng, tuy nhiên theo quan điểm của chúng tôi thì bảo vệ rừng là tổng thể hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và mọi công dân nhằm bảo toàn, bảo vệ tài nguyên rừng trên cơ sở kết hợp hài hòa giữa lợi ích kinh tế, lợi ích xã hội và việc khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm phát triển hệ sinh thái rừng, bảo vệ đất, bảo vệ nguồn nước, bảo vệ tính đa dạng sinh học

Theo đó, bảo vệ rừng sẽ bao gồm các hoạt động sau:

- Bảo vệ hệ sinh thái rừng

- Bảo vệ thực vật rừng, động vật rừng

- Phòng cháy, chữa cháy rừng

- Phòng, trừ sinh vật gây hại rừng

- Kinh doanh, vận chuyển, xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập, quá cảnh thực vật rừng, động vật rừng

- Kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm pháp luật về BV&PTR Như vậy, hoạt động xử lý vi phạm pháp luật cũng là một trong số những hoạt động quan trọng nhằm ngăn ngừa những hành vi gây thiệt hại đến tài nguyên rừng Tuy nhiên trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ luật học tác giả chỉ đi sâu nghiên cứu cơ chế pháp lý về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BV&PTR

1.1.2 Cơ chế pháp lý về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng

1.1.2.1 Khái niệm

Trong đời sống kinh tế - xã hội, các yêu cầu của pháp luật thường được các chủ thể pháp luật: công dân, cán bộ công chức, cơ quan, tổ chức, nhà nước, xã hội… tự giác nghiêm chỉnh thực hiện Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong xã hội vẫn xảy ra nhiều hành vi vi phạm pháp luật Để đấu tranh có hiệu quả đối với các vi phạm pháp luật đó thì

Trang 13

pháp luật là cơ sở pháp lý hữu hiệu nhất, bên cạnh đó để pháp luật được thực thi một cách nghiêm minh tạo ra được sự công bằng trong xã hội thì

cơ chế pháp lý để xử lý vi phạm pháp luật là một yếu tố hết sức quan trọng

Đã có rất nhiều cách lý giải về thuật ngữ "cơ chế" và cũng có rất nhiều cách tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau về thuật ngữ này Cơ chế, xét về bản chất là sự ràng buộc có tính hệ thống nhằm xác lập một trật tự, khuôn khổ nhất định Như vậy, cơ chế pháp lý nói chung chính là sự ràng buộc có tính hệ thống được tổ chức thực hiện trên cơ sở các nguyên tắc pháp

lý, các quy định của pháp luật nhằm xác lập trật tự đối với lĩnh vực, hoạt động pháp lý nhất định

Ngoài ra cũng có thể hiểu cơ chế pháp lý về xử lý vi phạm pháp luật có thể được coi là một dạng của cơ chế điều chỉnh pháp luật Trên thực

tế, cơ chế điều chỉnh pháp luật là một khái niệm pháp lý rất phức tạp, có thể được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, ở đây chúng tôi chỉ xem xét cơ chế điều chỉnh pháp luật dưới góc độ chức năng Vì thế, cơ chế điều chỉnh pháp luật là hệ thống các phương tiện pháp lý tác động đến các quan hệ xã hội thông qua các chủ thể [21, tr 159]

Từ góc độ tâm lý, cơ chế điều chỉnh pháp luật là sự tác động đến ý chí của con người nhằm tạo ra cách xử sự phù hợp với yêu cầu của pháp luật Còn trên bình diện xã hội thì cơ chế điều chỉnh pháp luật nằm trong cơ chế điều chỉnh xã hội Theo tác giả Hoàng Thị Kim Quế thì cơ chế điều chỉnh pháp luật là hệ thống thống nhất các phương tiện pháp lý đặc thù có mối quan

hệ mật thiết, tác động lẫn nhau, nhờ đó mà thực hiện sự tác động có hiệu quả của pháp luật lên các quan hệ xã hội nhằm thiết lập trật tự pháp luật và tạo điều kiện cho các quan hệ xã hội phát triển theo những mục tiêu, yêu cầu của pháp luật [21, tr 593]

Như vậy, cơ chế pháp lý về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BV&PTR là sự ràng buộc có tính hệ thống được tổ chức thực hiện trên cơ

sở các nguyên tắc, các quy định của pháp luật và được tổ chức, đảm bảo cũng như thực hiện bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong quá trình truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BV&PTR

Trang 14

1.1.2.2 Đặc điểm

Một là, cơ chế pháp lý về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực

BV&PTR có đối tượng tác động là các quan hệ xã hội phát sinh khi các cá nhân tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BV&PTR:

Cơ chế pháp lý về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BV&PTR

có đối tượng tác động khá đặc biệt đó là các quan hệ xã hội phát sinh khi các cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến rừng và đất rừng- hai loại tài nguyên đặc biệt Trong lĩnh vực BV&PTR, thì những hành vi vi phạm đến tài nguyên rừng và đất rừng sẽ bị xử lý bằng pháp luật trong đó bao gồm: Thực vật rừng có nguồn gốc tự nhiên hoặc do con người trồng mới hoặc khoanh nuôi tái sinh trên đất trồng rừng, động vật rừng sống hoang dã trong rừng, đất rừng, vi sinh vật rừng Đây là những loại tài nguyên thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý Vì vậy để xác lập một trật tự trong lĩnh vực này nhà nước ban hành hàng loạt các nguyên tắc, các quy tắc nhất định để đảm bảo cho hoạt động BV&PTR theo đúng định hướng đã đặt ra trước đó, mục tiêu cuối cùng là bảo vệ được tài nguyên rừng vì mục tiêu phát triển bền vững Đối tượng tác động của cơ chế pháp lý về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BV&PTR là các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật về BV&PTR, trong đó bao gồm hành vi

vi phạm hành chính và tội phạm hình sự trong lĩnh vực này Trong quan hệ này một bên là những cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng pháp luật một bên là các cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật Các cơ quan

có thẩm quyền tham gia quan hệ này bao gồm: Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp, hệ thống kiểm lâm và tòa án nhân dân các cấp, trong đó UBND và kiểm lâm là những cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với các cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm hành chính mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự còn Tòa án nhân dân các cấp có thẩm quyền xét xử đối với các cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BV&PTR đã bị xử phạt hành chính hoặc vi phạm mức độ nghiêm trọng bị cơ quan kiểm lâm hoặc cơ quan điều tra khởi tố Các cá nhân, tổ chức là đối tượng tác động của cơ chế pháp lý này là những người có hành

Trang 15

vi vi phạm được quy định tại Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính hoặc tại năm điều của BLHS có liên quan đến lĩnh vực BV&PTR Theo đó, xử phạt

vi phạm hành chính đối với cá nhân, tổ chức trong nước và nước ngoài có hành vi vô ý hoặc cố ý vi phạm các quy định của Nhà nước về quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản chưa gây thiệt hại hoặc đã gây thiệt hại đến rừng, lâm sản, môi trường rừng nhưng chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự Còn truy cứu trách nhiệm hình sự được áp dụng đối với cá nhân có hành vi vi phạm đã bị xử phạt hành chính hoặc gây hậu quả nghiêm trọng đến tài nguyên rừng Các cá nhân, tổ chức là đối tượng tác động của cơ chế pháp lý về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BV&PTR phải có hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến rừng, đất rừng, môi trường rừng được Luật BV&PTR bảo vệ, chứa đựng lỗi của chủ thể hành vi đó, chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý

Hai là, cơ chế pháp lý về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BV&PTR có sự tham gia, phối hợp của nhiều loại chủ thể với vai trò khác nhau

Chính phủ là cơ quan đứng đầu của hệ thống cơ quan hành pháp, thống nhất quản lý thực hiện nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của nhà nước Trong cơ chế pháp lý về

xử lý vi phạm pháp luật về BV&PTR thì Chính phủ có vai trò rất lớn đó là ban hành các văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền nhằm xác lập các nguyên tắc pháp lý làm cơ sở cho hoạt động xử lý vi phạm pháp luật trên thực tế UBND là cơ quan có thẩm quyền chung, thông qua hoạt động chấp hành - điều hành của mình UBND thực hiện chức năng QLNN trên mọi lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội và hành chính- chính trị trong phạm vi lãnh thổ nhất định Trong phạm vi lãnh thổ được phân công, Chủ tịch UBND các cấp có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm pháp luật về BV&PTR nhằm ngăn ngừa có hiệu quả mọi vi phạm hành chính xảy ra

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện việc thống nhất QLNN về BV&PTR trong cả nước Bộ NN&PTNT là cơ quan có thẩm quyền chuyên môn ở

Trang 16

Trung ương, là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng QLNN về nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy lợi và phát triển nông thôn Chịu trách nhiệm trực tiếp trong lĩnh vực đảm bảo việc thực thi pháp luật về BV&PTR có hệ thống kiểm lâm trong đó bao gồm Cục kiểm lâm ở cấp trung ương, chi cục kiểm lâm ở cấp tỉnh, hạt kiểm lâm ở cấp huyện và kiểm lâm viên địa bàn ở cấp xã Đây là những cơ quan theo quy định của Chính phủ có thẩm quyền

xử phạt vi phạm hành chính và khởi tố hình sự đối với các hành vi vi phạm trong lĩnh vực này nhằm bảo vệ tài nguyên rừng và đất rừng

Tòa án nhân dân do Quốc hội lập ra nhằm chấp hành ý chí của Quốc hội về lĩnh vực xét xử Trong cơ chế pháp lý về xử lý vi phạm pháp luật về BV&PTR thì tòa án nhân dân có thẩm quyền xét xử các vụ án khi các cá nhân có hành vi xâm hại tới các quan hệ xã hội về BV&PTR được quy định tại các điều 175, 176, 189, 190, 240 của BLHS 1999

Bên cạnh đó, để cơ chế pháp lý về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BV&PTR được thực thi có hiệu quả thì còn cần đến sự tham gia của cộng đồng dân cư địa phương, sự tham gia của các cơ quan có liên quan như quân đội, công an và các tổ chức xã hội khác Đặc biệt, trong phát hiện và ngăn ngừa vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này thì cơ quan hải quan, cảnh sát điều tra, công an kinh tế… có vai trò rất lớn giúp cho kiểm lâm phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật

Ba là, cơ chế pháp lý về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực

BV&PTR có nội dung là đảm bảo tính hiện thực, hữu hiệu của chế độ trách nhiệm pháp lý

Trách nhiệm pháp lý là yếu tố quan trọng giúp cho cơ chế pháp lý

về xử lý vi phạm pháp luật được thực thi một cách nghiêm minh trên thực

tế Trách nhiệm pháp lý được hiểu là hậu quả bất lợi (sự trừng phạt) đối với chủ thể vi phạm pháp luật, thể hiện ở mối quan hệ đặc biệt giữa nhà nước với chủ thể vi phạm pháp luật, được các quy phạm pháp luật xác lập và điều chỉnh, trong đó chủ thể vi phạm pháp luật phải chịu những hậu quả bất lợi, những biện pháp cưỡng chế được quy định trong phần chế tài của các quy phạm pháp luật Các loại trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực này bao gồm: Trách nhiệm hình sự là loại trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất do

Trang 17

tòa án áp dụng đối với những người có hành vi phạm tội theo quy định tại BLHS 1999; trách nhiệm hành chính là loại trách nhiệm pháp lý do cơ quan quản lý hành chính nhà nước áp dụng đối với mọi chủ thể khi họ vi phạm pháp luật hành chính, xâm hại tới các trật tự quản lý hành chính trong lĩnh vực BV&PTR, được quy định tại nghị định 99/2009/NĐ-CP; trách nhiệm

kỷ luật nhà nước áp dụng đối với các cá nhân có hành vi vi phạm nội quy của các tổ chức có liên quan đến hoạt động BV&PTR

Thông qua quá trình áp dụng pháp luật của các chủ thể mang quyền lực nhà nước trên cơ sở quy định pháp luật hiện hành để đưa ra các quyết định

xử phạt vi phạm hành chính hoặc quyết định xét xử khi có hành vi vi phạm pháp luật xảy ra nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội đảm bảo mục tiêu BV&PTR Vì vậy quá trình này luôn mang tính quyền lực nhà nước, được tiến hành bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền, thể hiện ý chí nhà nước

Cơ chế pháp lý về xử lý vi phạm pháp luật có điều kiện, quy trình, thủ tục được pháp luật quy định chặt chẽ Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực này được quy định tại Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính và chương 5 của Nghị định 99/2009/NĐ-CP, thủ tục để truy cứu trách nhiệm hình sự trong lĩnh vực này được quy định chặt chẽ tại Bộ luật Tố tụng hình sự

1.2 CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH CƠ CHẾ PHÁP LÝ VỀ XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG

1.2.1 Văn bản quy phạm pháp luật với tính cách là cơ sở pháp lý cho quá trình xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng

Văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực BV&PTR là văn bản do

cơ quan nhà nước có thẩm quyền về lâm nghiệp ban hành theo thủ tục, trình tự luật định, trong đó có chứa đựng quy tắc xử sự chung, được nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội được áp dụng nhiều lần trong thực tế đời sống Hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật về cơ chế pháp lý về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BV&PTR được thực hiện trên cơ sở quy định của Hiến pháp và tuân theo

Trang 18

trình tự thủ tục được quy định trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 1997, sửa đổi bổ sung 2002, 2008 Hoạt động này được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong lĩnh vực lâm nghiệp

Quy phạm pháp luật là yếu tố cơ sở, là sự mô hình hóa, khuôn mẫu cho các hành vi xử sự của con người trong đó có hành vi liên quan đến BV&PTR Qui phạm pháp luật là qui tắc xử sự chung do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí và bảo vệ lợi ích của nhân dân lao động, để điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng, mục tiêu mà nhà nước đặt ra trước đó

Vấn đề xử lý vi phạm pháp luật và cơ chế pháp lý về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BV&PTR được quy định trong rất nhiều các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau

Trong Luật BV&PTR 2004 thì vấn đề xử lý vi phạm pháp luật được quy định tại Điều 85, theo đó người phá rừng, đốt rừng, hủy hoại tài nguyên rừng; khai thác rừng trái phép; săn, bắn, bắt, bẫy, nuôi nhốt, giết

mổ động vật rừng trái phép; mua bán, kinh doanh, vận chuyển trái phép lâm sản hoặc vi phạm các quy định khác của pháp luật về BV&PTR thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật Người lợi dụng chức vụ, quyền hạn vi phạm các quy định của pháp luật trong việc giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng, chuyển mục đích sử dụng rừng, cho phép sử dụng rừng, khai thác lâm sản; thiếu tinh thần trách nhiệm hoặc lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong việc thi hành pháp luật về BV&PTR; bao che cho người vi phạm pháp luật về BV&PTR thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị

xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật

Như vậy việc xử lý vi phạm pháp luật về BV&PTR được quy định chủ yếu tại BLHS 1999 (phần các tội phạm liên quan đến bảo vệ rừng) và Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính và các nghị định có liên quan, bao gồm hai hình thức chính là xử phạt vi phạm hành chính và truy cứu trách nhiệm hình sự

Trang 19

1.2.1.1 Các văn bản quy phạm pháp luật hành chính về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng

Các văn bản quy phạm pháp luật hành chính về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BV&PTR bao gồm: Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính 2002, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2008, Nghị định số 77/CP ngày

29/1/1996 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản

lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản; được thay thế bằng Nghị định số 139/2004/NĐ-CP ngày 25/6/2004 và được thay thế bằng Nghị định 159/2007/NĐ-CP ngày 30/10/2007 nay được thay thế bằng Nghị định 99/2009/NĐ-CP ngày 02/11/2009 về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng và quản lý lâm sản thì xử phạt vi phạm hành chính

về BV&PTR được áp dụng trong trường hợp cá nhân, tổ chức trong nước

và nước ngoài có hành vi vô ý hoặc cố ý vi phạm các quy định của Nhà nước về quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản xảy ra trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chưa gây thiệt hại hoặc đã gây thiệt hại đến rừng, lâm sản, môi trường rừng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự

Theo tinh thần của Nghị định 99/2009/NĐ-CP ngày 02/11/2009 về

xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng và quản lý lâm sản thì các hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ rừng bị xử phạt hành chính là:

- Hành vi vi phạm các quy định của nhà nước về bảo vệ rừng: Nuôi,

trồng, thả trái phép vào vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên các loài

động vật, thực vật không có nguồn gốc bản địa Mang vào rừng chất dễ

cháy, nổ; đốt lửa trong rừng đã có quy định cấm, hút thuốc lá, ném, xả tàn

lửa vào rừng Tổ chức đưa người vào nghiên cứu khoa học trái phép ở rừng đặc dụng; thu thập mẫu vật trái phép trong rừng Đưa trái phép vào rừng các phương tiện, dụng cụ cơ giới để khai thác, chế biến lâm sản Quảng cáo

kinh doanh trái phép các loại thực vật rừng, động vật rừng từ tự nhiên hay

bộ phận của chúng

- Vi phạm quy định về thiết kế khai thác gỗ: Đóng búa bài cây

không đúng đối tượng, phạm vi quy định trong thiết kế khai thác Thiết kế

Trang 20

tại thực địa không đúng vị trí đã xác định trên bản đồ hoặc sai diện tích lô

khai thác

- Vi phạm các quy định khai thác gỗ: Là hành vi khai thác gỗ không thực hiện đúng trình tự, thủ tục và các yêu cầu kỹ thuật theo thiết kế

- Vi phạm quy định về phá rừng để làm nương rẫy

- Vi phạm các quy định về phòng cháy, chữa cháy rừng: Đốt lửa,

sử dụng lửa không đúng quy định của nhà nước trong phân khu bảo vệ

nghiêm ngặt rừng đặc dụng, phân khu phòng hộ rất xung yếu Đốt lửa, sử

dụng lửa ở các khu rừng dễ cháy, thảm thực vật khô nỏ vào mùa hanh

khô Đốt lửa, sử dụng lửa gần kho, bãi gỗ khi có cấp dự báo cháy rừng từ cấp III đến cấp V Đốt lửa, sử dụng lửa để săn bắt động vật rừng, hạ cây

rừng và đốt để lấy than ở trong rừng, lấy mật ong, lấy phế liệu chiến

tranh Đốt nương, rẫy, đồng ruộng trái phép ở trong rừng, ven rừng

Không bảo đảm an toàn về phòng cháy và chữa cháy rừng khi được phép

sử dụng nguồn lửa, nguồn nhiệt, các thiết bị, dụng cụ sinh lửa, sinh nhiệt

và bảo quản, sử dụng chất cháy trong rừng và ven rừng Ở những khu

rừng tập trung mà chủ rừng không có phương án phòng cháy, chữa cháy

và công trình phòng cháy, chữa cháy rừng Tháo nước dự trữ phòng cháy trong mùa khô hanh Trong mùa khô hanh không tổ chức tuần tra, canh gác rừng để ngăn chặn cháy rừng tự nhiên do mình quản lý

- Chăn thả gia súc trong những khu rừng đã có quy định cấm: Chăn thả gia súc trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của khu rừng đặc dụng Chăn thả gia súc trong rừng trồng dặm cây con, rừng trồng mới dưới ba năm, rừng khoanh nuôi tái sinh đã có quy định cấm chăn thả gia súc

- Vi phạm quy định về phòng trừ sinh vật hại rừng: Chủ rừng không thực hiện một trong các biện pháp phòng trừ sinh vật hại rừng theo quy định của pháp luật về bảo vệ thực vật Sử dụng thuốc trừ sâu bệnh hại rừng

không được phép sử dụng tại Việt Nam hoặc không chấp hành các quy

định về kiểm dịch Chủ rừng không báo cáo kịp thời cho cơ quan bảo vệ và kiểm dịch thực vật, kiểm dịch động vật để được hướng dẫn, hỗ trợ, xử lý sâu, bệnh vì vậy mà phát dịch với diện tích từ 3 ha rừng trở lên

Trang 21

- Lấn, chiếm rừng trái phép: là hành vi dịch chuyển ranh giới chiếm giữ trái pháp luật diện tích rừng của cá nhân, tổ chức khác

- Phá hoại các công trình phục vụ việc BV&PTR: Phá hoại các

công trình phục vụ việc BV&PTR là hành vi gây thiệt các công trình phục

vụ cho công tác BV&PTR (như: nhà trạm, chòi canh lửa rừng, biển báo, bảng quy ước tuyên truyền bảo vệ rừng; bể, hồ chứa nước chữa cháy rừng; các loại phương tiện, công cụ sử dụng trong việc BV&PTR) làm thay đổi

hiện trạng hoặc hư hỏng các công trình đó

- Khai thác trái phép cảnh quan, môi trường và các dịch vụ lâm nghiệp: Khai thác trái phép cảnh quan, môi trường và các dịch vụ lâm nghiệp là hành vi sử dụng cảnh quan, môi trường rừng, các dịch vụ lâm nghiệp để sản xuất, làm dịch vụ, kinh doanh, lập nghĩa địa không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép

- Phá rừng trái phép: Phá rừng trái phép là hành vi chặt phá cây rừng, cố ý đốt phá cây rừng, đào bới, san ủi, nổ mìn, đào, đắp ngăn nước thủy triều, xả chất độc và các hành vi khác gây thiệt hại đến rừng với bất kỳ mục đích gì không được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc được phép nhưng không thực hiện đúng quy định cho phép

- Khai thác rừng trái phép: Khai thác rừng trái phép là hành vi của

cá nhân, tổ chức lấy lâm sản trong rừng không được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (nếu việc khai thác theo quy định của pháp luật là phải cấp phép) hoặc được phép nhưng đã thực hiện không đúng quy định cho phép

- Vi phạm các quy định về quản lý, bảo vệ động vật rừng: Là hành

vi săn, bắn, bẫy, bắt; nuôi; giết mổ động vật rừng không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hoặc thực hiện không đúng quy định ghi trong

giấy phép

- Vận chuyển lâm sản trái phép: Là hành vi của người điều khiển phương tiện, chủ phương tiện, chủ lâm sản sử dụng các loại phương tiện, sức người vào việc vận chuyển lâm sản không có giấy tờ hợp pháp hoặc có giấy tờ hợp pháp nhưng giữa giấy tờ và lâm sản không phù hợp với nhau

Trang 22

- Vi phạm thủ tục hành chính trong mua, bán, vận chuyển, chế biến, kinh doanh, cất giữ lâm sản: Không ghi chép vào sổ nhập, xuất lâm sản

theo quy định của pháp luật Vận chuyển, mua, bán, cất giữ gỗ rừng tự

nhiên gỗ rừng trồng, gỗ vườn có nguồn gốc hợp pháp nhưng không chấp

hành các quy định hiện hành của Nhà nước về trình tự, thủ tục quản lý

Hình thức xử phạt chủ yếu là: Phạt cảnh cáo áp dụng với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính lần đầu, chưa gây thiệt hại hoặc mức độ gây thiệt hại không đáng kể mà pháp luật quy định, được phạt cảnh cáo, có tình tiết giảm nhẹ hoặc đối với hành vi do người chưa thành niên từ đủ 14 đến dưới

16 thực hiện các hành vi do cố ý; Phạt tiền tối đa đối với mỗi hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản là 500.000.000 triệu đồng Ngoài ra người vi phạm còn có thể bị tước quyền sử dụng giấy phép; tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm; Người nước ngoài vi phạm còn có thể bị xử phạt trục xuất

Về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính được quy định như sau: Đối với hệ thống cơ quan kiểm lâm:

Kiểm lâm viên đang thi hành công vụ có quyền phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 200.000 đồng Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm có quyền phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 5.000.000 đồng; tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính có giá trị đến 20.000.000 đồng Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm cấp huyện, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm rừng phòng hộ, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng; Đội trưởng Đội Kiểm lâm cơ động (Đội trưởng Đội Kiểm lâm cơ động và phòng cháy, chữa cháy rừng),

có quyền phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 10.000.000 đồng; tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng vi phạm hành chính có giá trị đến 30.000.000 đồng; áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm, Đội trưởng Đội Kiểm lâm đặc nhiệm Cục Kiểm lâm có quyền phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 20.000.000 đồng; tước quyền sử dụng Giấy phép khai thác; tước quyền sử dụng Giấy phép sử dụng súng săn, Giấy chứng nhận đăng ký gây nuôi sinh sản động vật, Chứng chỉ hành nghề; tước quyền sử dụng Giấy phép vận chuyển đặc biệt; Giấy phép lái xe; tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng vi phạm hành

Trang 23

chính; áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả Cục trưởng Cục Kiểm lâm có quyền phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 500.000.000 đồng; tước quyền sử dụng Giấy phép khai thác; tước quyền sử dụng Giấy phép sử dụng súng săn, Giấy chứng nhận đăng ký gây nuôi sinh sản động vật, Chứng chỉ hành nghề; tước quyền sử dụng Giấy phép vận chuyển đặc biệt, Giấy phép lái xe; tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng vi phạm hành chính; áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả

Đối với chủ tịch UBND các cấp: Chủ tịch UBND cấp xã có quyền phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 2.000.000 đồng; tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng vi phạm hành chính có giá trị đến 2.000.000 đồng; áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả Chủ tịch UBND cấp huyện có quyền phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 30.000.000 đồng; tước quyền sử dụng Giấy phép; tước quyền sử dụng Giấy phép sử dụng súng săn, Giấy chứng nhận đăng ký gây nuôi sinh sản động vật, Chứng chỉ hành nghề; tước quyền sử dụng Giấy phép vận chuyển đặc biệt, Giấy phép lái xe; tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng vi phạm hành chính; áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả Chủ tịch UBND cấp tỉnh có quyền phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 500.000.000 đồng; tước quyền sử dụng Giấy phép khai thác; tước quyền sử dụng Giấy phép sử dụng súng săn, Giấy chứng nhận đăng ký gây nuôi sinh sản động vật, Chứng chỉ hành nghề; tước quyền sử dụng Giấy phép vận chuyển đặc biệt, Giấy phép lái xe; tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng vi phạm hành chính; áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả

Trên thực tế hiện nay, số lượng vụ vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BV&PTR vẫn tiếp tục gia tăng với tính chất, mức độ ngày càng nghiêm trọng hơn Các quy định hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ rừng đã tạo điều kiện cho các cán bộ kiểm lâm có quyền lực cao hơn (nâng từ mức 100.000 đồng (Nghị định 159/2004/NĐ-CP) lên mức 200.000 đồng (Nghị định 99/2009/NĐ-CP) trong việc xử lý các hành

vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này Ngoài ra, mức độ vi phạm làm căn

cứ để xử phạt vi phạm hành chính hay truy cứu trách nhiệm hình sự thường được xác định dựa trên cơ sở diện tích rừng bị phá hoặc khối lượng lâm sản, động thực vật bị xâm hại Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng như

Trang 24

cảnh sát nhân dân, hải quan thuế, quản lý thị trường, thanh tra chuyên ngành, có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với các cơ quan kiểm lâm trong việc kiểm tra, thanh tra ngăn chặn các vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản Khi phát hiện hành vi vi phạm thì lập biên bản, chuyển giao hồ sơ, tang vật cho cơ quan kiểm lâm

xử lý theo quy định của pháp luật

Kiểm lâm tiếp thu hồ sơ xử lý chịu trách nhiệm thanh toán những chi phí hợp lý trong quá trình bắt giữ, bảo quản tang vật cho cơ quan chuyển giao hồ sơ

Trường hợp một người cùng một lúc thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính thuộc lĩnh vực xử lý của các ngành khác thì chuyển toàn

bộ hồ sơ vụ vi phạm đến UBND cấp có thẩm quyền ở nơi xảy ra vi phạm

để xử lý

Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng như cảnh sát nhân dân, hải quan thuế, quản lý thị trường, thanh tra chuyên ngành, có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với các cơ quan kiểm lâm trong việc kiểm tra, thanh tra ngăn chặn các vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản Khi phát hiện hành vi vi phạm thì lập biên bản, chuyển giao hồ sơ, tang vật cho cơ quan kiểm lâm xử lý theo quy định của pháp luật

1.2.1.2 Các văn bản quy phạm pháp luật hình sự về xử lý vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng

Truy cứu nhiệm hình sự trong lĩnh vực bảo vệ rừng được áp dụng đối với các chủ thể có năng lực trách nhiệm hình sự đã mắc lỗi cố ý hoặc

vô ý vi phạm các quy định của nhà nước về quản lý, bảo vệ rừng trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam vượt quá mức xử phạt vi phạm hành chính

BLHS 1985 sau một thời gian tồn tại đã có những đóng góp quan trọng trong việc xử lý các vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng, góp phần quan trọng vào việc đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ tài nguyên, nâng cao thêm một bước ý thức trong quần chúng nhân dân đối với bảo vệ tài nguyên,

Trang 25

môi trường, ý thức tuân thủ pháp luật Đó là một thực tiễn không thể phủ nhận trong suốt 15 năm

Tuy nhiên trong điều kiện đất nước đang chuyển mình với nhiều biến động mới về kinh tế - xã hội thì BLHS năm 1985 đã bộc lộ những hạn chế cần phải sửa đổi Ngày 21/12/1999, Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 6 thông qua BLHS 1999, có hiệu lực vào ngày 1/7/2000

Trong BLHS 1985, tội "vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ rừng" được quy định tại Điều 181 nay chuyển thành Điều 175 và 176 trong BLHS 1999, Điều 175 tội "vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng", Điều 176 tội "vi phạm các quy định về quản lý rừng" Việc tách Điều 181 là hết sức cần thiết Nó quy định rõ ràng hơn, tránh trường hợp hiểu thế nào cũng được, xử thế nào cũng được Điều đó chứng tỏ pháp luật ngày càng đi vào thực tế cuộc sống, dễ nắm bắt, dễ vận dụng hơn Do vậy, việc đấu tranh phòng chống tội phạm sẽ được nâng cao một bước, đặc biệt trong lĩnh vực bảo vệ rừng hiện nay Có thể nhận thấy rằng về hình thức, việc phân định các tội danh trong lĩnh vực bảo vệ rừng ở trong BLHS năm

1999 đã bao quát hơn phạm vi các đối tượng liên quan đến rừng cần được pháp luật bảo vệ Theo đó, các hành vi vi phạm trong lĩnh vực BV&PTR bị

xử lý theo các điều luật Điều 175: Tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng; Điều 176: Tội vi phạm các quy định về quản lý rừng; Điều 189: Tội hủy hoại rừng; Điều 190: Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật hoang dã quý hiếm; Điều 240: Tội vi phạm quy định về phòng

cháy, chữa cháy; Theo đó các hành vi bị truy cứu trách nhiệm hình sự bao

gồm: Khai thác trái phép cây rừng; vận chuyển, buôn bán gỗ trái phép; giao rừng, thu hồi rừng trái pháp luật; cho phép chuyển mục đích sử dụng rừng trái pháp luật; cho phép khai thác, vận chuyển lâm sản trái pháp luật; đốt rừng trái phép; phá rừng trái phép; săn bắt, giết, vận chuyển, buôn bán trái phép động vật hoang dã quý hiếm bị cấm theo quy định của Chính phủ; ở những khu rừng tập trung mà chủ rừng không có phương án phòng cháy, chữa cháy và công trình phòng cháy, chữa cháy rừng; Đốt lửa, sử dụng lửa trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt rừng đặc dụng, phân khu phòng hộ rất xung yếu; đốt lửa, sử dụng lửa ở các khu rừng dễ cháy, thảm thực vật khô

nỏ vào mùa hanh khô; đốt lửa, sử dụng lửa gần kho, bãi gỗ khi có cấp dự

Trang 26

báo cháy rừng từ cấp III đến cấp V; đốt lửa, sử dụng lửa để săn bắt động vật rừng, hạ cây rừng và đốt để lấy than ở trong rừng, lấy mật ong, lấy phế liệu chiến tranh; đốt nương, rẫy, đồng ruộng trái phép ở trong rừng, ven rừng; không bảo đảm an toàn về phòng cháy và chữa cháy rừng khi được phép sử dụng nguồn lửa, nguồn nhiệt, các thiết bị, dụng cụ sinh lửa, sinh nhiệt và bảo quản, sử dụng chất cháy trong rừng và ven rừng

Trong quy định của Điều 189 khung hình phạt đối với tội hủy hoại rừng từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cải tạo không giam giữ đến

03 năm hoặc bị phạt từ 06 tháng đến 5 năm; Trường hợp có tình tiết tăng nặng thì bị phạt tù từ 3 năm đến 10 năm; trường hợp gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ 7 năm đến 15 năm Điều 190 quy định khung hình phạt đối với các tội phạm các quy định về bảo vệ động vật hoang dã quý hiếm là phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000đ, cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm Trường hợp có tình tiết tăng nặng thì bị phạt từ 2 năm đến 7 năm; Điều 191 tội vi phạm chế độ bảo vệ đặc biệt đối với khu bảo tồn thiên nhiên quy định khung hình phạt

cơ bản là phạt tiền từ 5.000.000 đ đến 50.000.000đ, cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm; Trường hợp gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì phạt tù từ 2 năm đến 5 năm Ngoài ra, người phạm tội trong các trường hợp nêu trên còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000đ, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 3 năm [7, tr 35]

Nhìn chung pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính, Nghị định số 99/2009/NĐ-CP xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản và BLHS 1999 cùng nhiều văn bản pháp luật khác là hành lang pháp lý cho công tác xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng trong giai đoạn hiện nay

1.2.2 Văn bản áp dụng pháp luật

Vì áp dụng pháp luật là hoạt động mang tính tổ chức, thể hiện quyền lực nhà nước, được thực hiện thông qua những cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhà chức trách hoặc các tổ chức xã hội khi được Nhà nước trao quyền nhằm cá biệt hóa những quy phạm pháp luật vào các trường hợp cụ

Trang 27

thể đối với các cá nhân, tổ chức cụ thể Để thực hiện hoạt động áp dụng pháp luật có hiệu quả thì cần có văn bản áp dụng pháp luật Ban hành văn bản áp dụng pháp luật để cá biệt hóa khuôn mẫu cho hành vi của các chủ thể, làm xuất hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể tham gia vào cơ chế pháp lý về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BV&PTR, đồng thời ban hành văn bản áp dụng pháp luật để cá biệt hóa chế tài nhằm truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với các chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BV&PTR

Văn bản áp dụng pháp luật là văn bản pháp lý cá biệt, mang tính quyền lực do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhà chức trách hoặc các

tổ chức xã hội được nhà nước ủy quyền ban hành trên cơ sở những quy phạm pháp luật, nhằm xác định các quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể hoặc xác định những biện pháp trách nhiệm pháp lý đối với các chủ thể

vi phạm pháp luật [21, tr 336] Trong cơ chế pháp lý về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BV&PTR thì văn bản áp dụng pháp luật là loại văn bản do các cơ quan nhà nước hoặc nhà chức trách có thẩm quyền trong lĩnh vực lâm nghiệp ban hành để trên cơ sở những quy phạm pháp luật về BV&PTR, nhằm xác định các quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể hoặc xác định những biện pháp trách nhiệm pháp lý đối với các chủ thể vi phạm pháp luật về BV&PTR Thiếu hoạt động này thì các quy phạm pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BV&PTR không được thực thi trên thực tế Đây thực chất là sự cá biệt hóa quy phạm pháp luật về xử lý

vi phạm pháp luật đối với các chủ thể vi phạm pháp luật, hay đó chính là sự

áp dụng các chế tài pháp luật do hành vi vi phạm pháp luật về BV&PTR

1.2.3 Các quan hệ pháp luật phát sinh trong quá trình xử lý vi

phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng

Các quan hệ pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BV&PTR chủ yếu bao gồm quan hệ nội dung và quan hệ thủ tục Trên cơ

sở các quy phạm pháp luật và các quyết định áp dụng pháp luật thì các quan hệ pháp luật cụ thể được hình thành Nội dung của quan hệ pháp luật là các quyền và nghĩa vụ pháp lý phát sinh khi chủ thể tham gia vào một quan

hệ pháp luật nhất định [21, tr 597] Các quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ

Trang 28

thể pháp luật chính là sự cụ thể hóa mô hình hành vi trong các quy phạm pháp luật Cấu thành của quan hệ pháp luật thường bao gồm: Chủ thể của quan hệ pháp luật là cá nhân, pháp nhân, nhà nước khi tham gia vào một quan hệ pháp luật cụ thể đáp ứng được những điều kiện do nhà nước quy định, có quyền và nghĩa vụ pháp lý; Khách thể quan hệ pháp luật là những lợi ích vật chất, tinh thần và những lợi ích xã hội khác có thể thỏa mãn những nhu cầu, đòi hỏi của các tổ chức hoặc cá nhân mà vì chúng các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật, nghĩa là vì chúng mà họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ chủ thể của mình; Nội dung quan hệ pháp luật là quyền

và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể tạo nên địa vị pháp lý của họ trong từng quan hệ pháp luật cụ thể Quan hệ pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BV&PTR là những quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình các cơ quan nhà nước áp dụng các chế tài để xử phạt đối với các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về BV&PTR Quan hệ pháp luật về xử

lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BV&PTR hình thành trên cơ sở quy phạm pháp luật và quyết định áp dụng pháp luật về BV&PTR Nội dung quan hệ pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BV&PTR là các quyền và nghĩa vụ pháp lý khi các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật này

Quan hệ pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BV&PTR thường bao gồm: chủ thể trong đó chủ thể là nhà nước hoặc cơ quan nhà nước là loại chủ thể đặc biệt, xuất hiện khi có hành vi vi phạm pháp luật thực hiện hoạt động ban hành văn bản áp dụng pháp luật để áp dụng các loại chế tài xử lý; khách thể của quan hệ này là rừng, đất rừng, môi trường rừng và các yếu tố khác có liên quan bị hành vi vi phạm pháp luật xâm hại; nội dung của quan hệ pháp luật này bao gồm quyền và nghĩa

vụ pháp lý của chủ thể trong đó quyền chủ thể được hiểu là khả năng của chủ thể xử sự theo cách thức nhất định trong khuôn khổ do pháp luật quy định còn nghĩa vụ pháp lý của chủ thể trong quan hệ pháp luật này là chủ thể cần phải chịu trách nhiệm pháp lý khi xử sự không đúng với những quy định của pháp luật về BV&PTR

Trang 29

1.2.4 Hành vi pháp lý của các chủ thể tham gia quá trình xử lý

vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng

Khi ban hành các loại văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh các loại quan hệ xã hội nhà nước mong muốn các văn bản đó phải được tôn trọng và thực thi có hiệu quả trên thực tế Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào thực tế cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật Có nhiều hình thức thực hiện pháp luật như tuân thủ pháp luật là hình thức mà các chủ thể pháp luật kiềm chế không tiến hành các hoạt động mà pháp luật cấm; thi hành (chấp hành) pháp luật trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình bằng hành động tích cực; sử dụng pháp luật trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện quyền chủ thể của mình; áp dụng pháp luật: là hoạt động mang tính tổ chức, thể hiện quyền lực nhà nước, được thực hiện thông qua những cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhà chức trách hoặc các tổ chức xã hội khi được Nhà nước trao quyền nhằm cá biệt hóa những quy phạm pháp luật vào các trường hợp

cụ thể đối với các cá nhân, tổ chức cụ thể

Hành vi thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BV&PTR là một trong những trường hợp cần áp dụng pháp luật Đây là trường hợp khi cần phải truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với chủ thể vi phạm pháp luật đó là trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong lĩnh vực lâm nghiệp ban hành các quyết định xử lý vi phạm hành chính đối với cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm hành chính hoặc tòa án xét xử các vụ

án có liên quan đến BV&PTR

Là một trong những bộ phận không thể thiếu của cơ chế pháp lý về

xử lý vi phạm pháp luật BV&PTR, hệ thống các cơ quan QLNN trong lĩnh vực BV&PTR được tổ chức thành hệ thống thống nhất từ trung ương đến địa phương, trong đó bao gồm hệ thống cơ quan QLNN có thẩm quyền chung và cơ quan QLNN có thẩm quyền chuyên môn trong lĩnh vực BV&PTR

Trang 30

Hệ thống cơ quan QLNN có thẩm quyền chung trong lĩnh vực bảo

vệ rừng bao gồm Chính phủ và UBND các cấp Chính phủ là cơ quan đứng đầu của hệ thống cơ quan hành pháp, thống nhất quản lý thực hiện nhiệm

vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của nhà nước Chính phủ có toàn quyền giải quyết quyết định những vấn đề liên quan tới hoạt động QLNN trên phạm vi toàn quốc trong quyền hạn của mình, trong đó có lĩnh vực bảo vệ rừng Theo Điều 109 Hiến pháp 1992 (sửa đổi bổ sung 2001) quy định: "Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính nhà nước cấp cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" [29, tr 182] Chính phủ là cơ quan đứng đầu hệ thống cơ quan hành pháp thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh

tế, văn hòa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của nhà nước; đàm bảo hiệu lực của bộ máy nhà nước từ trung ương đến địa phương, đảm bảo việc thực thi hiến pháp và pháp luật; đảm bảo quyền phát huy quyền làm chủ của nhân dân và ổn định, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân Như vậy, Chính phủ có quyền giải quyết, quyết định các vấn đề liên quan tới hoạt động QLNN trên phạm vi toàn quốc trong phạm vi quyền hạn của mình Quyền hạn và nghĩa vụ của Chính phủ được quy định trong Điều 115 Hiến pháp 1992 (sửa đổi bổ sung 2001) Theo Luật Tổ chức Chính phủ (2/12/2001- Chủ tịch nước ký lệnh công bố ngày 7/1/2002) thì Chính phủ thực hiện việc phân công, phân cấp, giao nhiệm vụ, kiểm tra giám sát mọi hoạt động hành chính của các cơ quan nhà nước nhằm đảm bảo thông suốt mọi hoạt động từ trung ương tới địa phương trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Trong lĩnh vực BV&PTR thì Chính phủ có trách nhiệm: Thống nhất việc QLNN về rừng và đất rừng trên phạm vi toàn quốc; thực hiện việc phân công, phân cấp cho các ngành có liên quan trong lĩnh vực QLNN về BV&PTR; ban hành các văn bản dưới luật để điều chỉnh các hành vi có liên quan trong lĩnh vực BV&PTR; quyết định thành lập các khu rừng quốc gia thuộc thẩm quyền; duyệt quy hoạch, kế hoạch quản lý,

sử dụng, bảo vệ tài nguyên rừng và đất rừng; giao đất, cho thuê các loại rừng thuộc thẩm quyền; cho phép sử dụng các loài động thực vật rừng quý hiếm nhóm I; II

Trang 31

UBND là cơ quan có thẩm quyền chung, thông qua hoạt động chấp hành - điều hành của mình UBND thực hiện chức năng QLNN trên mọi lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội và hành chính - chính trị trong phạm vi lãnh thổ nhất định UBND là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương nên phải chịu trách nhiệm tổ chức quản lý hành chính nhà nước ở địa phương; đảm bảo bộ máy hành chính đó hoạt động thông suốt Nghĩa vụ và quyền hạn của UBND được quy định trong Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung 2001) và Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và UBND 2002 UBND có trách nhiệm trước Chính phủ hoặc UBND cấp trên trực tiếp bảo vệ rừng ở địa phương Theo Điều 38 Luật BV&PTR (sửa đổi, bổ sung 2004) thì UBND các cấp có chức năng nhiệm vụ QLNN trong lĩnh vực bảo vệ rừng như sau:

- Lập quy hoạch và kế hoạch bảo vệ rừng trình Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua trước khi trình Chính phủ và UBND cấp trên trực tiếp

- Tổ chức phòng cháy, chữa cháy và phòng trừ sâu bệnh hại rừng ở địa phương, tổ chức việc điều tra, phân loại rừng, thống kê diện tích và trữ lượng của từng loại rừng, lập bản đồ rừng và đất trồng rừng trên địa bàn tỉnh, theo dõi diễn biến tài nguyên rừng và công tác bảo vệ rừng

- Giao, cho thuê, thu hồi đất lâm nghiệp, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật (trừ UBND xã)

- Tổ chức quản lý bảo vệ các khu rừng phòng hộ và khu rừng đặc dụng trên địa bàn

- Tổ chức mạng lưới bảo vệ rừng, huy động các lực lượng phối hợp với lực lượng kiểm lâm ngăn chặn mọi hành vi hủy hoại rừng trong phạm

vi toàn tỉnh;

- Ban hành các văn bản thuộc thẩm quyền hướng dẫn hoặc cụ thể hóa các quy định của pháp luật, chính sách, chế độ, thể lệ của nhà nước về bảo vệ rừng phù hợp với yêu cầu quản lý tại địa phương

- Kiểm tra, thanh tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ rừng trên địa bàn

Trang 32

- Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ rừng theo quan điểm của pháp luật

- Chỉ đạo, tổ chức công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo vệ rừng

- Chỉ đạo các thôn bản và đơn vị tương đương xây dựng và thực hiện quy ước bảo vệ rừng trên địa bàn phù hợp với quy định của pháp luật;

- Giải quyết các tranh chấp về quyền sử dụng rừng, đất trồng rừng theo quy định của pháp luật

- Chỉ đạo hoạt động xử lý vi phạm hành chính; khởi tố, điều tra hình sự của lực lượng kiểm lâm địa phương; quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong trường hợp vượt quá thẩm quyền của Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm theo quy định của pháp luật;

Trong cơ chế pháp lý về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BV&PTR thì UBND các cấp có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính Chủ tịch UBND cấp xã có quyền phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 500.000 đồng; tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng vi phạm hành chính có giá trị đến 500.000 đồng; áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả Chủ tịch UBND cấp huyện có quyền phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 20.000.000 đồng; tước quyền sử dụng giấy phép quy định; tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng vi phạm hành chính; áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả Chủ tịch UBND cấp tỉnh có quyền phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 500.000.000 đồng; tước quyền sử dụng giấy phép; tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng vi phạm hành chính; áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả

Cơ quan QLNN chuyên ngành về lâm nghiệp được tổ chức thống nhất từ trung ương đến cấp huyện, gồm có:

- Cơ quan thực hiện QLNN chuyên ngành về lâm nghiệp ở Trung ương là Bộ NN&PTNT

- Cơ quan giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện QLNN chuyên ngành về lâm nghiệp là Sở NN&PTNT

Trang 33

- Cơ quan giúp UBND cấp huyện thực hiện QLNN chuyên ngành

về lâm nghiệp là phòng chức năng được phân công về NN&PTNT và Hạt kiểm lâm

- Cấp xã (nơi có rừng), có cán bộ lâm nghiệp chuyên trách giúp Chủ tịch UBND cấp xã thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn về BV&PTR

Bộ NN&PTNT là cơ quan chỉ đạo chuyên ngành trong lĩnh vực bảo vệ rừng, là cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong hoạt động quản lý bảo vệ rừng, đứng đầu là Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Bộ NN&PTNT chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện việc thống nhất QLNN về BV&PTR trong cả nước Bộ NN&PTNT là cơ quan có thẩm quyền chuyên môn ở Trung ương, là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng QLNN

về nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy lợi và phát triển nông thôn Bộ

NN&PTNT giúp Chính phủ thực hiện QLNN về rừng và đất rừng trên

phạm vi cả nước trên cơ sở pháp luật hiện hành, theo quy định tại Điều 3 Nghị định 23/2006/NĐ-CP thì Bộ NN&PTNT chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện thống nhất QLNN về bảo vệ rừng trong phạm vi cả nước Hoạt động trong QLNN của Bộ NN&PTNT trong những năm qua đã đạt được nhiều thành tựu trên cơ sở quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của

Bộ NN&PTNT trong Nghị định 73/CP ngày 01/11/1995 Để đáp ứng với nhu cầu hội nhập, phát triển và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hệ thống pháp luật luôn luôn phải thay đổi để phù hợp với thực tế cuộc sống Ngày 18/07/2003 Chính phủ ban hành nghị định số 86/2003/NĐ-

CP quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ NN&PTNT

Ở địa phương có các sở NN&PTNT, có các giám đốc và phó giám đốc là người giúp việc cho Bộ trưởng Bộ NN&PTNT trong lĩnh vực bảo vệ rừng

Bên cạnh đó có một hệ thống chuyên trách phụ trách việc quản lý bảo vệ rừng, đó là lực lượng kiểm lâm, được coi là lực lượng nòng cốt giúp

Bộ trưởng Bộ NN&PTNT quản lý bảo vệ rừng, xử lý các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này Hệ thống cơ quan kiểm lâm theo quy định của Luật BV&PTR năm 1991 (sửa đổi, bổ sung năm 2004 tại các điều 79, 80, 81),

"Kiểm lâm là lực lượng chuyên trách" có chức năng QLNN về rừng và bảo

Trang 34

vệ rừng, được tổ chức thành hệ thống, đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất của

Bộ NN&PTNT và sự chỉ đạo kiểm tra của chính quyền địa phương, là cơ quan thừa hành pháp luật về bảo vệ rừng, là cơ quan tham mưu cho các cấp chính quyền địa phương thực hiện công tác bảo vệ rừng trên lãnh thổ Theo Nghị định 119/2006/NĐ-CP ngày 16 tháng 10 năm 2006 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Kiểm lâm: Ở Trung ương: Cục Kiểm lâm trực thuộc

Bộ NN&PTNT; Ở các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Chi cục Kiểm lâm trực thuộc Sở NN&PTNT tỉnh; Ở huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh Hạt Kiểm lâm huyện trực thuộc Chi cục Kiểm lâm; Ở Vườn Quốc gia

có diện tích từ 7.000 ha trở lên, Khu Bảo tồn thiên nhiên, Khu rừng đặc dụng khác có diện tích từ 15.000 ha trở lên, Khu rừng phòng hộ đầu nguồn

có diện tích từ 20.000 ha rừng trở lên và có nguy cơ bị xâm hại cao, có thể thành lập Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng, Hạt Kiểm lâm rừng phòng hộ theo quy định của pháp luật

Ở Trung ương, Cục Kiểm lâm là cơ quan trực thuộc Bộ NN&PTNT, giúp Bộ trưởng Bộ NN&PTNT QLNN chuyên ngành về bảo vệ rừng, bảo đảm chấp hành pháp luật và thi hành pháp luật về BV&PTR trong phạm vi cả nước Chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn các hoạt động xử lý vi phạm hành chính; điều tra hình sự các hành vi vi phạm pháp luật về quản lý rừng, bảo vệ rừng, quản lý lâm sản của các cơ quan kiểm lâm địa phương theo quy định của pháp luật [3]

Ở các địa phương căn cứ quy định tại Điều 7 của Nghị định 119/2006/NĐ-CP, UBND cấp tỉnh quyết định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của Chi cục Kiểm lâm phù hợp với tình hình bảo vệ, phát triển rừng và quản lý lâm sản tại địa phương Những tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có ít rừng và đất chưa sử dụng được quy hoạch cho mục đích lâm nghiệp dưới 50.000 (năm mươi ngàn) héc-ta và những Sở NN&PTNT không thành lập Chi cục Lâm nghiệp, thì giao cho Chi cục Kiểm lâm thực hiện toàn bộ nhiệm vụ quản lý lĩnh vực lâm nghiệp ở địa phương Trong cơ chế pháp lý xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BV&PTR thì cơ quan kiểm lâm các cấp có chức năng xử lý vi phạm pháp luật về BV&PTR, đồng thời có trách nhiệm khởi tố các vụ án hình sự liên quan đến lĩnh vực bảo vệ

Trang 35

rừng Theo Nghị định 99/2009/NĐ-CP ngày 02 tháng 11 năm 2009 thì thẩm quyền xử phạt hành chính của kiểm lâm được quy định: Kiểm lâm viên đang thi hành công vụ có quyền: Phạt cảnh cáo; Phạt tiền đến 200.000 đồng Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm có quyền: Phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 5.000.000 đồng; tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính có giá trị đến 20.000.000 đồng Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm, Hạt trưởng Hạt phúc kiểm lâm sản, Đội trưởng Đội Kiểm lâm cơ động có quyền: Phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 10.000.000 đồng; tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính có giá trị đến 30.000.000 đồng; buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm, Đội trưởng Đội Kiểm lâm đặc nhiệm Cục Kiểm lâm có quyền: Phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 20.000.000 đồng; tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề thuộc thẩm quyền; tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính; Cục trưởng Cục Kiểm lâm có quyền: Phạt cảnh cáo; phạt tiền đến mức tối đa đối với lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản; tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề thuộc thẩm quyền; tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính

Hơn lúc nào hết, công tác bảo vệ rừng vốn đang đứng trước những thách thức mới Trách nhiệm đó không phải của riêng ai, trong luật BV&PTR quy định: bảo vệ rừng thuộc về toàn Đảng, toàn dân, toàn quân

mà lực lượng nòng cốt chuyên trách là lực lượng kiểm lâm Đây được coi

là lực lượng nồng cốt để thực hiện có hiệu quả cơ chế xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BV&PTR Với quy định về xử phạt hành chính trong Nghị định 99/2009, thì việc tăng mức xử phạt rất lớn từ mức tối đa là 30.000.000 đồng(NĐ159) lên mức 500.000.000 đồng(NĐ 99) là một trong những thành công rất lớn, nó cho phép xử lý đúng đối với các hành vi vi phạm đồng thời có tác dụng răn đe, ngăn ngừa vi phạm hành chính xảy ra

Tòa án nhân dân là cơ quan có thẩm quyền xét xử các cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về BV&PTR trong trường hợp cá nhân phạm tội vượt quá mức xử lý hành chính thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự Tham gia vào cơ chế pháp lý xử lý vi phạm pháp luật, tòa án nhân dân có chức

Trang 36

năng xét xử nhằm ngăn ngừa, răn đe một cách có hiệu quả các hành vi xâm hại đến tài nguyên rừng Đây là một biện pháp mang tính cưỡng chế của nhà nước nhằm xử lý khi có hành vi vi phạm xảy ra Phương pháp này được áp dụng đối với người có hành vi vi phạm Trong lĩnh vực QLNN về lâm nghiệp thì phương pháp này một mặt giúp xử lý có hiệu quả mọi hành

vi xâm hại đến rừng mặt khác ngăn ngừa hành vi xâm hại khác xảy ra, có tác dụng răn đe lớn Trong QLNN về lâm nghiệp nếu không có phương pháp hình sự thì hoạt động bảo vệ rừng sẽ gặp khó khăn rất lớn vì hậu quả của nạn mất rừng xảy ra nhưng người dân thì không nhận thấy ngay tác hại của nó Vì thế, đây là một trong những biện pháp bảo đảm có hiệu quả cho công tác bảo vệ rừng

Các chủ thể khác tham gia cơ chế xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BV&PTR: Ngành Lâm nghiệp đang trong quá trình chuyển đổi từ Lâm nghiệp Nhà nước sang lâm nghiệp xã hội, chính trong quá trình chuyển đổi mang tính chiến lược này đã xuất hiện nhiều nhân tố mới trong lĩnh vực quản lý bảo vệ tài nguyên rừng Trong cơ chế pháp lý về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BV&PTR thì cần coi trọng vai trò của cộng đồng trong quản lý bảo vệ rừng Đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn

đề này, trong khu vực các nước Đông Nam Á, một tổ chức mạng lưới về lâm nghiệp xã hội đã được hình thành để tư vấn, điều phối hoạt động lâm nghiệp cộng đồng giữa các quốc gia Còn ở Việt Nam trước kia vị trí pháp

lý của cộng đồng dân cư làng bản chưa được đề cập trong các văn bản pháp luật, chỉ được đề cập ở một số văn bản dưới luật như quy định tại Nghị định 17/HĐBT ngày 17/01/1992; Quyết định 327/CT ngày 15/9/1992 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về một số chủ trương sử dụng đất trống, đồi núi trọc Đến Đại hội lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII tháng 06/1993 và Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII năm 1996

đề ra nhiệm vụ nghiên cứu hương ước, lệ làng cổ làm cơ sở ban hành các hương ước, quy ước ở làng, bản phù hợp với pháp luật của Nhà nước Cùng với nó các văn bản pháp luật ra đời như Thông tư số 56/TT ngày 30/3/1999 của Bộ NN&PTNT về việc xây dựng quy ước bảo vệ rừng trong cộng đồng dân cư làng bản; Chỉ thị số 52/CT về đẩy mạnh công tác xây dựng và thực hiện quy ước BV&PTR trong cộng đồng dân cư làng, bản; Luật BV&PTR;

Trang 37

Quyết định số 109/2006/QĐ-BNN ngày 27 tháng 11 năm 2006 về việc ban hành Bản hướng dẫn quản lý rừng cộng đồng dân cư thôn; Luật Đất đai và một số văn bản dưới luật ra đời đã khẳng định vai trò của cộng đồng dân cư làng, bản trong bảo vệ rừng, điều này đặc biệt có ý nghĩa trong cơ chế pháp

lý về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BV&PTR

Tại Điều 36 Luật BV&PTR đã ghi rõ: Trách nhiệm bảo vệ rừng của toàn dân Theo đó, Cơ quan nhà nước, tổ chức, cộng đồng dân cư thôn, hộ gia đình, cá nhân có trách nhiệm bảo vệ rừng, thực hiện nghiêm chỉnh các quy định về bảo vệ rừng, pháp luật về phòng cháy, chữa cháy, pháp luật về bảo vệ

và kiểm dịch thực vật, pháp luật về thú y và các quy định khác của pháp luật

có liên quan; Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân hoạt động trong rừng, ven rừng có trách nhiệm thực hiện các quy định về bảo vệ rừng; thông báo kịp thời cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc chủ rừng về cháy rừng, sinh vật gây hại rừng và hành vi vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ rừng; chấp hành sự huy động nhân lực, phương tiện của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi xảy ra cháy rừng

Bên cạnh đó tham gia vào quá trình xử lý vi phạm pháp luật trong BV&PTR không chỉ có các cơ quan có thẩm quyền chuyên môn như hệ thống kiểm lâm hay các cơ quan công an, quân đội mà còn có rất nhiều các loại chủ thể như các tổ chức xã hội đóng trên địa bàn, dân cư địa phương Đặc biệt các loại chủ thể này góp phần lớn vào việc phát hiện vi phạm, tham gia vào quá trình xử lý khiến cho cơ chế pháp lý xử lý vi phạm pháp luật thực sự có hiệu quả, tạo ra một trật tự nhất định đảm bảo cho pháp luật được thực thi một cách nghiêm minh

Như vậy cơ chế xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BV&PTR đạt hiệu quả thực sự thì việc nhận thức đúng đắn và đầy đủ về vai trò của cộng đồng địa phương, của các chủ thể khác là điều hết sức quan trọng

1.2.5 Sự phối hợp thực hiện pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ và phát triển rừng

Trong cơ chế pháp lý về xử lý vi phạm pháp luật về BV&PTR thì

không thể thiếu sự phối hợp đồng bộ của các cơ quan nhà nước khác mà không chỉ là hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong lĩnh

Trang 38

vực lâm nghiệp Việc phối hợp này nhằm xác định rõ hành vi vi phạm đồng thời xác định các thiệt hại xảy ra trên thực tế để có chế tài xử lý đúng

Theo quy định của Điều 126 Hiến pháp 1992, sửa đổi 2001 và Luật

Tổ chức Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân (2/4/2002 - Chủ tịch nước ký lệnh 12/4/2002) thì Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong phạm vi chức năng của mình, có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân Trong lĩnh vực xử lý vi phạm pháp luật về BV&PTR thì Tòa án nhân dân thực hiện quyền xét xử đối với các hành vi vi phạm pháp luật về BV&PTR căn cứ theo các điều luật

có liên quan trong BLHS 1999 Viện kiểm sát nhân dân có chức năng giám sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của Hiến pháp, pháp luật, góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Trên cơ sở quy định này trong lĩnh vực xử lý vi phạm pháp luật về BV&PTR thì Viện Kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố đối với các loại tội phạm liên quan đến bảo vệ rừng do cơ quan kiểm lâm đề nghị

Bộ Công an có trách nhiệm: Chỉ đạo lực lượng công an phối hợp với lực lượng kiểm lâm và lực lượng liên ngành ở địa phương truy quét, xóa bỏ các tụ điểm khai thác, buôn bán, vận chuyển trái phép lâm sản; săn bắt, buôn bán, vận chuyển trái phép động vật hoang dã Thực hiện QLNN về phòng cháy, chữa cháy rừng; xác định nguyên nhân cháy rừng và xử lý vi phạm theo thẩm quyền và theo quy định của pháp luật Trực tiếp điều tra hoặc tiếp nhận việc điều tra và xử lý theo thẩm quyền các tội phạm trong lĩnh vực quản lý, BV&PTR

Bộ Quốc phòng có trách nhiệm: Huy động lực lượng tham gia chữa cháy rừng, cứu hộ, cứu nạn, truy quét tổ chức, cá nhân phá rừng; tham gia đấu tranh phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật về BV&PTR

Bộ Văn hóa - Thông tin có trách nhiệm: Chỉ đạo và tổ chức thực hiện việc bảo tồn giá trị văn hóa, lịch sử của các công trình trong các khu rừng đặc dụng là khu bảo vệ cảnh quan

Trang 39

Thanh tra Cục Kiểm lâm là tổ chức của Cục Kiểm lâm, đồng thời thuộc hệ thống Thanh tra NN&PTNT, có chức năng thanh tra hành chính

và thanh tra chuyên ngành trong phạm vi QLNN của Cục Kiểm lâm theo quy định của pháp luật Kiến nghị Cục trưởng Cục Kiểm lâm xem xét việc tạm đình chỉ hoặc kiến nghị người có thẩm quyền đình chỉ hành vi trái pháp luật về quản

lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân khi

có đủ căn cứ xác định hành vi đó gây thiệt hại đến lợi ích nhà nước, quyền

và lợi ích hợp pháp của công dân hoặc gây trở ngại cho công tác thanh tra Phối hợp với các đơn vị thuộc Cục, với cơ quan Thanh tra các ngành và chính quyền các cấp, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong quá trình thanh tra các vụ việc và trong việc phòng ngừa, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật

1.2.6 Chế độ trách nhiệm pháp lý về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng

Chế độ trách nhiệm pháp lý là một trong những yếu tố làm nên cơ chế pháp lý xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BV&PTR Chế độ trách nhiệm pháp lý được hiểu là những yếu tố tạo nên sức mạnh cưỡng chế nhà nước, đồng thời giúp cho cơ chế vận hành một cách có trật tự, theo một khuôn khổ nhất định Trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực này bao gồm trách nhiệm pháp lý hình sự được quy định tại các điều 175, 176, 189, 240 của BLHS Trong đó áp dụng với các cá nhân có hành vi cố ý vi phạm các quy định của nhà nước về BV&PTR Mục tiêu chính là ngăn ngừa, răn đe đối với các chủ thể có hành vi vi phạm nhằm đảm bảo cho pháp luật về BVR được thực thi một cách nghiêm minh Trách nhiệm hành chính áp dụng đối với cá nhân, tổ chức có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của nhà nước về quản lý bảo vệ rừng và quản lý lâm sản xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam mà chưa tới mức truy cứu trách nhiệm hình sự, trong đó bao gồm hai loại trách nhiệm chính là phạt cảnh cáo và phạt tiền trong đó có quy định mức phạt tiền tối đa đối với mỗi hành vi vi phạm trong lĩnh vực này là 500.000.000 đồng Trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực này được quy định tại Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính và Nghị định số 99/2009/NĐ-

CP ngày 2/11/2009 Bên cạnh đó còn có trách nhiệm kỷ luật và trách nhiệm vật chất được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan

Trang 40

là những căn cứ hết sức quan trọng đảm bảo cho quá trình xử lý vi phạm pháp luật về BV&PTR được thực thi một cách nghiêm minh

1.3 MỘT SỐ NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI HIỆU QUẢ CỦA CƠ CHẾ PHÁP LÝ VỀ XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG

1.3.1 Sự tác động của nền kinh tế thị trường

Nền kinh tế thị trường, hoạt động kinh tế diễn ra hết sức phức tạp

về quan hệ kinh tế, với sự đa dạng về lợi ích trong đó có lợi ích to lớn mà rừng mang lại như: gỗ, lâm sản ngoài gỗ, động vật rừng, thực vật, rừng đặc biệt là những loài gỗ quý hiếm và các đặc sản động vật, thực vật rừng có giá trị cao, mang lại siêu lợi nhuận cho những người tham gia kinh doanh mặt hàng này Điều đó cũng là nguyên nhân thúc đẩy tình trạng khai thác, săn bắn, mua bán trái phép lâm sản gay gắt, với những thủ đoạn tinh vi, khói kiểm soát, khi bị phát hiện và xử lý thì tổ chức chống người thi hành công vụ quyết liệt, vì vậy đang gây áp lực cho công tác bảo vệ rừng

Để phát triển kinh tế thì thì kéo theo là một hệ thống cơ sở hạ tầng được xây dựng như đường giao thông, các công trình thủy lợi, các đường dây tải điện cho các khu công nghiệp, đồng thời mở rộng đô thị và xây dựng khu dân cư, nhu cầu về đất đai đáp ứng cho sự phát triển kinh tế - xã hội ngày càng tăng Để đáp ứng nhu cầu này, nhà nước cần phải chuyển đổi mục đích sử dụng đất trong đó có đất rừng ở nơi cần thiết cho mục tiêu phát triển

Trong nền kinh tế Việt Nam, nông nghiệp và nông thôn là khu vực dân cư chủ yếu chiếm 80% dân số dựa vào tài nguyên và đất đai nên luôn xảy ra sự xung đột của quá trình phát triển kinh tế - xã hội, kinh tế - bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường có nơi diễn ra rất gay gắt Thực tiễn nhiều năm qua, diện tích rừng bị tàn phá, thu hẹp nhanh chóng, có nơi bất chấp cả pháp luật ví dụ như: vụ kiểm lâm bắt tay lâm tặc để phá rừng đầu nguồn thủy điện An Điềm - Quảng Nam, vụ phỏ rừng ở Tỏnh Linh - Bình Thuận hay vụ cho phép chặt 3.000 ha rừng tràm để nuôi tôm phục vụ cho xuất khẩu ở Cà Mau Rừng bị phá hủy do nhiều lý do khác nhau trong đó có làn sóng di dân tự do, ồ ạt từ đồng bằng và miền núi phía Bắc lên Tây Nguyên

Ngày đăng: 20/10/2018, 17:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w